Việc điều trị các bệnh phụ khoa, cũng như các chuyên khoa lâm sàng khác, nhấn mạnh vào việc điều chỉnh chức năng toàn thân. Khi lâm sàng cần vận dụng tứ chẩn bát cương để tiến hành phân tích biện chứng một cách nghiêm túc, làm rõ tạng, phủ, khí, huyết, hàn, nhiệt, hư, thực, từ đó xác định nguyên tắc điều trị. Phụ nữ chủ về huyết, huyết nhờ khí vận hành, tạng phủ là nguồn sinh hóa của khí huyết. Do sinh lý phụ nữ thường bị tổn thương huyết, dẫn đến khí phần thiên thịnh, tính tình dễ dao động, thường ảnh hưởng đến can; ăn uống thất thường, ưu tư lao lực dễ tổn thương tỳ vị; tiên thiên bất túc, kết hôn sớm, sinh nở nhiều, phòng sự không điều độ thường gây tổn thương thận khí. Vì vậy, chức năng tạng phủ rối loạn, khí huyết mất điều hòa, dẫn đến xung nhâm tổn thương, sinh ra các bệnh về kinh, đới, thai, sản, tạp bệnh. Thường dùng các phép bổ thận tư thận, sơ can dưỡng can, kiện tỳ hòa vị, điều lý khí huyết để điều bổ xung nhâm, đây là nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh phụ khoa. Đồng thời, do đường sinh dục nữ thông với bên ngoài, dễ trực tiếp cảm nhiễm ngoại tà, nên ngoài phép nội trị, có thể phối hợp ngoại trị để thuốc đến thẳng nơi có bệnh, nâng cao hiệu quả điều trị.
Mục 1: Bổ thận tư thận
Thận là gốc của tiên thiên, chủ tàng tinh khí, là nền tảng cho sự sinh trưởng, phát dục và sinh sản của cơ thể con người. Phụ nữ khi phát triển đến một giai đoạn nhất định, thận khí thịnh vượng, thiên quý thành thục, xung nhâm thông suốt thì mới có kinh nguyệt và khả năng mang thai; nếu thận khí bất túc, xung nhâm suy tổn, sẽ phát sinh các bệnh lý liên quan đến kinh, đới, thai, sản và các chứng tạp bệnh khác. Do đó, bổ thận tư thận là một nguyên tắc quan trọng trong điều trị bệnh phụ khoa. Cũng là trường hợp kết hôn sớm, sinh đẻ nhiều, phòng sự không điều độ, nhưng do thể chất khác nhau, có người tổn thương thận khí, có người tổn thương thận dương, có người tổn thương thận âm, vì vậy khi áp dụng phép bổ thận cũng phân thành bình bổ, ôn bổ và tư bổ.
Chủ trị: Thận khí hư, xung nhâm bất cố, gây ra kinh nguyệt đến sớm, kinh nguyệt không đều, băng lậu, thai động bất an, sa tử cung, vô sinh.
Phép trị: Bình bổ thận khí.
Bài thuốc thường dùng: Đại bổ nguyên tiễn, Cố âm tiễn.
2.Tư thận ích âm
Chủ trị: Thận âm hư, xung nhâm huyết thiểu, hoặc nhiệt ẩn xung nhâm, gây ra kinh nguyệt đến sớm, băng lậu, bế kinh, vô sinh.
Phép trị: Tư thận ích âm.
Bài thuốc thường dùng: Tả quy hoàn, Lục vị địa hoàng hoàn, Bổ thận địa hoàng hoàn.
Chủ trị: Thận dương hư, xung nhâm thất ôn, gây ra các bệnh về kinh, đới, thai, sản, tạp bệnh.
Phép trị: Ôn thận trợ dương.
Bài thuốc thường dùng: Kim quỹ thận khí hoàn, Hữu quy hoàn.
Chủ trị: Thận dương hư phát triển thêm, khí hóa thất thường, thủy thấp ứ đọng, thủy thấp hạ chú xung nhâm hoặc tràn ra bì phu, gây bệnh đới hạ, phù nề khi mang thai.
Phép trị: Ôn thận trợ dương, hóa khí hành thủy.
Bài thuốc thường dùng: Chân vũ thang, Ngũ linh tán.
Can và thận cùng chủ hạ tiêu, can tàng huyết, thận tàng tinh, tinh và huyết sinh hóa lẫn nhau, can thận đồng nguyên. Can thận lại là gốc của xung nhâm, vì vậy can thận bất túc có thể ảnh hưởng đến xung nhâm; xung nhâm bị tổn thương cũng có thể liên quan đến can thận. Các chứng thường gặp như băng lậu, kinh bế, thai động bất an, sảy thai, vô sinh phần lớn đều do can thận bất túc gây nên. Do đó, đối với các bệnh phụ khoa do can thận bất túc, xung nhâm tổn thương, nên lấy tư thận dưỡng can làm chủ. Các phương thuốc đại diện thường dùng như Tả Quy Hoàn, Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn, đồng thời tùy theo tình hình cụ thể mà gia thêm các dược liệu có nguồn gốc động vật để bổ huyết sinh tinh. Tư thận dưỡng can tức là bổ gốc cho xung nhâm, gốc đầy đủ thì khí huyết lưu thông, bệnh tự khỏi.
Chủ trị: Tỳ chủ thấp, thận chủ thủy, thủy thấp đồng căn, căn tại mệnh hỏa suy thoái. Tỳ thận dương hư, thủy thấp ứ đọng hoặc lâu ngày hóa đàm trọc, gây ra kinh nguyệt đi lỏng, phù thai, đới hạ, kinh nguyệt trễ, bế kinh, vô sinh.
Phép trị: Ôn thận kiện tỳ, kiêm táo thấp, lợi thủy, hóa đàm theo tình hình bệnh.
Bài thuốc thường dùng: Tứ thần hoàn hợp Kiện cố thang, Ôn bào ẩm.
Tổng kết: Phép bổ thận tư thận trong điều trị các bệnh phụ khoa giữ vai trò vô cùng quan trọng, cần phải vận dụng thuần thục. Đặc biệt với nữ giới tuổi dậy thì, thận khí chưa đầy đủ, việc bổ thận tư thận lại càng cần thiết.
Mục 2: Sơ can dưỡng can
Can tàng huyết, chủ sơ tiết, tính ưa điều đạt. Can lại chủ huyết hải, xung là huyết hải. Nếu phụ nữ can khí điều hòa thì kinh mạch thông suốt, huyết hải yên ổn, kinh nguyệt, thai nghén, sinh nở, cho con bú đều bình thường. Nhưng vì phụ nữ thường bị tổn thương huyết, khí phần thiên thịnh, tình chí dễ dao động, nên dễ khiến can mất điều đạt, sơ tiết thất thường, xung nhâm mất điều hòa, phát sinh các bệnh về kinh, đới, thai, sản và các chứng tạp bệnh. Việc điều trị cần lấy sơ can dưỡng can làm chủ. Do đó, sơ can dưỡng can trở thành một nguyên tắc quan trọng khác trong điều trị các bệnh phụ khoa.
Nguyên nhân: Uất ức, tức giận khiến can khí uất kết, xung nhâm không thông, gây ra kinh nguyệt đến muộn, thống kinh, bế kinh, vô sinh.
Phép trị: Sơ can giải uất.
Bài thuốc thường dùng: Gia vị ô dược thang, Bát vật thang.
Nguyên nhân: Can uất hóa hỏa, nhiệt thương xung nhâm, hoặc khí hỏa thượng nghịch, gây kinh nguyệt đến sớm, băng lậu, hành kinh kèm nôn ra máu cam.
Phép trị: Sơ can tả hỏa.
Bài thuốc thường dùng: Đan chi tiêu dao tán, Thanh can chỉ lâm thang.
Nguyên nhân: Can uất hóa nhiệt, can khí phạm tỳ, tỳ hư thấp thịnh, thấp nhiệt kết hợp hạ chú xung nhâm, gây ra đới hạ, ngứa âm hộ.Phép trị: Tả can thanh nhiệt trừ thấp.Bài thuốc thường dùng: Long đởm tả can thang.
Nguyên nhân: Can khí phạm tỳ, can tỳ bất hòa, xung nhâm mất điều tiết, gây rối loạn kinh nguyệt, vô sinh.
Phép trị: Sơ can lý tỳ.
Bài thuốc thường dùng: Tiêu dao tán, Khai uất chủng ngọc thang.
Nguyên nhân: Can uất kiêm thận hư, xung nhâm mất điều hòa, gây rối loạn kinh nguyệt, thống kinh, vô sinh.
Phép trị: Điều can bổ thận.
Bài thuốc thường dùng: Điều can thang, Định kinh thang.
Nguyên nhân: Do kinh nguyệt, thai nghén, sinh nở, cho con bú nhiều lần làm tổn thương huyết, can huyết bất túc, xung nhâm huyết hư, gây kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, bế kinh, thai động bất an, vô sinh.
Phép trị: Dưỡng huyết nhu can.
Bài thuốc thường dùng: Tứ vật thang, Tư huyết thang, Dưỡng tinh chủng ngọc thang.
Nguyên nhân: Hư tổn lâu ngày khiến huyết can ngày càng hư, can âm bất túc, hoặc vốn can huyết hư, thai huyết nuôi thai, làm can huyết càng suy, can âm không đủ, khiến can dương thiên thịnh, gây ra chóng mặt khi mang thai, chứng kinh giản sau sinh.
Phép trị: Bình can tiềm dương.
Bài thuốc thường dùng: Nhất quán tiễn, Tam giáp phục mạch thang.
Nguyên nhân: Âm hư hỏa vượng, can phong nội động, gây chứng kinh giật khi mang thai.
Phép trị: Trấn can tức phong.
Bài thuốc thường dùng: Linh giác câu đằng thang. Phụ nữ trung niên do thai sản, cho con bú nhiều lần làm tổn thương huyết, can mất sự nuôi dưỡng, dễ phát sinh các bệnh về kinh, đới, thai, sản. Vì vậy, điều trị thường lấy điều can làm chủ, nhưng do can thận đồng nguyên nên cũng thường phối hợp bổ thận.
Mục 3: Kiện tỳ hòa vị
Tỳ vị là gốc của hậu thiên, là nguồn sinh hóa khí huyết. Xung nhâm lại thuộc về Dương minh. Nếu tỳ vị của phụ nữ kiện vận, khí huyết sung mãn thì huyết hải đầy đủ, kinh nguyệt đúng kỳ, thai nghén bình thường. Nếu tỳ vị mất điều hòa, nguồn sinh hóa không đủ, ảnh hưởng đến xung nhâm, dễ sinh các bệnh về kinh, đới, thai, sản, nhũ. Nguyên tắc điều trị cần là kiện tỳ hòa vị, giúp nguồn sinh hóa sung mãn.
Phương pháp kiện tỳ hòa vị cần căn cứ vào tình hình bệnh cụ thể mà biện chứng thi trị, theo nguyên tắc: hư thì bổ, thực thì tả, hàn thì ôn, nhiệt thì thanh.
Nguyên nhân: Do thể chất vốn tỳ vị hư nhược, hoặc do ăn uống, lao lực gây tổn thương tỳ vị, khiến xung nhâm mất điều hòa, hoặc trong thai kỳ xung khí thượng nghịch, dẫn đến các bệnh về thai sản.
Phép trị: Kiện tỳ hòa vị, phối hợp với tiêu đạo.
Bài thuốc thường dùng: Hương sa lục quân tử thang.
Nguyên nhân: Tỳ vị hư nhược, trung khí bất túc, xung nhâm bất cố, huyết không được thống nhiếp, gây ra các bệnh tổn thương thai sản, băng huyết.
Phép trị: Kiện tỳ ích khí.
Bài thuốc thường dùng: Cử nguyên tiễn, Bổ trung ích khí thang.
Nguyên nhân: Tỳ vị hư yếu, ảnh hưởng đến nguồn sinh hóa, gây tỳ hư huyết thiểu, xung nhâm huyết hư, phát sinh các bệnh về kinh, đới, thai, sản.Phép trị: Kiện tỳ dưỡng huyết.
Bài thuốc thường dùng: Quy tỳ thang, Bát trân thang.
Nguyên nhân: Tỳ vị khí hư nghiêm trọng, tỳ dương bất chấn, vận hóa thất chức, dẫn đến kinh nguyệt kèm tiêu chảy, phù thũng.
Phép trị: Kiện tỳ phù dương.
Bài thuốc thường dùng: Sâm linh bạch truật tán, Kiện cố thang.
Nguyên nhân: Tỳ dương bất chấn, thủy thấp ứ đọng bên trong, hoặc hạ chú xung nhâm, gây phù nề khi mang thai, đới hạ bệnh.
Phép trị: Kiện tỳ lợi thấp.
Bài thuốc thường dùng: Toàn sinh bạch truật tán, Hoàn đới thang.
Nguyên nhân: Tỳ dương bất chấn, thủy thấp tích tụ, hóa đàm trọc, bế tắc bào mạch, gây kinh nguyệt đến muộn, bế kinh, vô sinh.
Phép trị: Kiện tỳ hóa đàm trừ thấp.
Bài thuốc thường dùng: Đan khê trị thấp đàm phương, Thương phụ đạo đàm hoàn.
Nguyên nhân: Tích hàn tại vị, tỳ vị mất quyền nạp, gây tiêu chảy khi hành kinh, nôn khi mang thai.
Phép trị: Ôn trung hòa vị.
Bài thuốc thường dùng: Lý trung thang, Bán hạ phục linh thang.
Dược thường dùng: Sa nhân, Đậu khấu, Hoắc hương, Đinh hương, Bào khương, Ngô thù du.
Nguyên nhân: Vị nhiệt uất kết, hoặc tà nhiệt nhập lý, gây nôn khi mang thai, táo bón sau sinh, sốt sau sinh.
Phép trị: Thanh nhiệt hòa vị hoặc tả nhiệt hòa vị.
Bài thuốc thường dùng: Bạch hổ thang, Ma tử nhân hoàn.
Dược thường dùng: Trúc nhự, Hoàng cầm, Hoàng liên, Đại hoàng.
Nguyên nhân: Ác trở thai nghén, nôn lâu ngày làm tổn thương vị âm, hoặc tà nhiệt làm tổn thương vị âm.
Phép trị: Dưỡng âm hòa vị.
Bài thuốc thường dùng: Cận hiệu phương. Dược thường dùng: Thạch hộc, Mạch môn, Thiên hoa phấn, Hồ ma nhân.
Lưu ý: Trong quá trình điều trị, dù tà chưa tổn thương đến tỳ vị, khi dùng thuốc cũng cần cân nhắc đến tỳ vị, tránh lạm dụng các thuốc vị ngấy hoặc công phá mạnh để khỏi làm tổn thương tỳ vị, ảnh hưởng đến chức năng vận hóa. Phụ nữ lớn tuổi sau khi kinh nguyệt đã đoạn, thận khí tiên thiên đã suy, khí huyết đều hư, hoàn toàn dựa vào thủy cốc của hậu thiên để nuôi dưỡng, lúc này kiện tỳ hòa vị để giúp sinh hóa lại càng quan trọng hơn.
Mục 4: Điều lý khí huyết
Khí huyết bắt nguồn từ tạng phủ, vận hành trong kinh lạc, là cơ sở vật chất cho kinh nguyệt, thai nghén, sinh nở và cho con bú của phụ nữ. Khí là soái của huyết, huyết là mẫu của khí, hai thứ hỗ tương điều hòa, cùng phát huy tác dụng. Nếu khí huyết điều hòa thì ngũ tạng an hòa, xung nhâm thông suốt, kinh nguyệt và thai nghén bình thường. Tuy nhiên, phụ nữ chủ về huyết, huyết nhờ khí vận hành, do kinh, thai, sản, nhũ dễ làm hao huyết tổn khí, dẫn đến khí huyết mất điều hòa, ảnh hưởng đến xung nhâm và phát sinh các bệnh phụ khoa. Khí huyết mất điều hòa không chỉ là nguyên nhân mà còn là kết quả của các bệnh phụ sản, do đó điều lý khí huyết trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng trong điều trị bệnh phụ khoa.
Tình chí biến động thường gây tổn thương khí phần, hàn, nhiệt, thấp tà chủ yếu gây tổn thương huyết phần, vì vậy khi điều lý khí huyết cần căn cứ vào lâm sàng để phân biệt bệnh thuộc khí hay huyết, xác định hư, thực, hàn, nhiệt rồi quyết định phương pháp điều trị cụ thể.
Chủ trị: Khí hư, trung khí bất túc, xung nhâm không vững, gây kinh nguyệt sớm, lượng nhiều, băng lậu, thai động bất an, sảy thai, đẻ non, sản hậu sản dịch không dứt, sa tử cung.
Phép trị: Lấy bổ khí làm chính.
Dược thường dùng: Nhân sâm, Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Sơn dược.
Chủ trị: Khí hư hạ hãm, thanh dương không thăng, gây kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu, đới hạ, sa tử cung.
Phép trị: Trong phép bổ khí, kiêm dùng thuốc thăng đề.
Dược thường dùng: Thăng ma, Sài hồ, Kinh giới tuệ.
Chủ trị: Khí trệ do uất ức, giận dữ, khiến khí cơ bế tắc, khí trệ huyết ứ, xung nhâm không thông, gây kinh đến muộn, lượng ít, thống kinh, bế kinh, thiếu sữa, chứng hòn cục.
Phép trị: Lấy hành khí làm chính.
Dược thường dùng: Hương phụ, Mộc hương, Ô dược, Chỉ xác, Trần bì, Sa nhân, Xuyện liên tử, Lệ chi hạch.
Chủ trị: Khí nghịch do uất giận mạnh làm khí cơ nghịch loạn, gây nôn ra máu trong kỳ kinh, nôn nghén khi mang thai.
Phép trị: Hành khí kiêm dùng thuốc giáng khí.
Dược thường dùng: Trầm hương, Chỉ thực, Hậu phác, Bán hạ, Tô tử.
Chủ trị: Khí hàn do hàn tà xâm nhập làm tổn thương dương khí, hoặc do thể chất dương hư sinh hàn từ bên trong, gây các bệnh về kinh, đới, thai, sản.
Phép trị: Ôn kinh phù dương.
Dược thường dùng: Phụ tử, Nhục quế, Ngô thù du, Bào khương, Hồi hương, Quế chi, Ngải diệp, Dâm dương hoắc, Bổ cốt chỉ, Ba kích thiên, Tiên mao.
Chủ trị: Khí nhiệt do cảm nhiệt tà nhập lý hóa nhiệt hoặc ngũ chí quá cực hóa hỏa, gây các bệnh về kinh, đới, thai, sản.
Phép trị: Thanh khí tiết nhiệt.
Dược thường dùng: Thạch cao, Tri mẫu, Chi tử, Hoàng cầm, Hoàng liên, Hoàng bá, Đại hoàng, Mang tiêu.
Trong các phép điều lý khí phận nêu trên, thường phối hợp với thuốc bổ huyết, lý huyết, hoạt huyết để hỗ trợ.
II/ Bệnh tại huyết phận, trị huyết là chính, trị khí là phụ.
Chủ trị: Huyết hư do kinh nguyệt, thai nghén, sinh nở, cho con bú đều hao tổn huyết, dễ gây xung nhâm huyết hư, dẫn đến kinh đến muộn, lượng ít, bế kinh, thai động bất an, đau bụng sau sinh.
Phép trị: Bổ huyết dưỡng huyết, trường hợp nặng cần ích tinh bổ huyết.
Dược thường dùng: Thục địa, Bạch thược, Đương quy, A giao, Long nhãn nhục, Sơn thù du, Kỷ tử.
Chủ trị: Huyết ứ do hàn ngưng, nhiệt kết, khí trệ, khí hư gây xung nhâm không thông, dẫn đến kinh đến muộn, lượng ít, kỳ kinh kéo dài, xuất huyết giữa kỳ, thống kinh, băng lậu, nhau không ra, đau bụng sau sinh, chứng hòn cục.
Phép trị: Hoạt huyết hóa ứ, trường hợp nặng dùng các thuốc huyết nhục hữu tình để khai thông kinh lạc.
Dược thường dùng: Xích thược, Đan sâm, Hồng hoa, Đào nhân, Đan bì, Ích mẫu thảo, Đương quy, Xuyên khung, Xuyên ngưu tất, Vương bất lưu hành, Ngũ linh chi, Bồ hoàng, Trạch lan, Sơn tra, Tam lăng, Nga truật, Diên hồ sách, Thổ miết trùng, Thủy điệt, Manh trùng.
Chủ trị: Huyết ứ lâu ngày kết thành hòn khối, cần hoạt huyết hóa ứ đồng thời kiêm dùng thuốc nhuyễn kiên tán kết.
Dược thường dùng: Hải tảo, Côn bố, Miết giáp, Mẫu lệ, Xuyên sơn giáp.
Chủ trị: Xuất huyết không ngừng do khí hư, huyết nhiệt, huyết ứ… làm tổn thương xung nhâm, phát sinh các chứng xuất huyết phụ khoa như kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu, thai lậu, thai động bất an, sản hậu sản dịch không dứt.
Phép trị: Căn cứ nguyên nhân gây xuất huyết mà chỉ huyết, chia làm các loại: Cố nhiếp chỉ huyết, sáp huyết chỉ huyết, ôn kinh chỉ huyết, lương huyết chỉ huyết, hoạt huyết chỉ huyết.
Dược thường dùng: Long cốt, Mẫu lệ, Ô tặc cốt, Trần tông thán, Tiên hạc thảo, Huyết dư thán, Ngẫu tiết, Ngải diệp thán, Bào khương thán, Sao địa du, Quán chúng thán, Hắc hoàng bá, Tiêu chi tử, Trắc bách diệp, Trữ ma căn, Tam thất, Thiến thảo, Sao bồ hoàng, Đan bì thán.
(5) Thanh nhiệt lương huyết
Chủ trị: Huyết nhiệt. Tà nhiệt kết hợp với huyết, làm tổn thương xung nhâm, khiến huyết bị bức thoát ra ngoài gây kinh nguyệt đến sớm, lượng nhiều, băng lậu, sốt khi hành kinh, sản hậu sản dịch không dứt, sốt sau sinh.
Phép trị: Thanh nhiệt lương huyết.
Dược thường dùng: Thủy ngưu giác, Sinh địa hoàng, Mẫu đơn bì, Huyền sâm, Bạch thược – phối hợp với thuốc thanh khí tả nhiệt và lương huyết.
(6) Thanh doanh khử ứ
Chủ trị: Nhiệt độc kết hợp với huyết, tà nhiễm hóa nhiệt nhập lý hoặc nhiệt cực hóa độc, kết hợp với huyết gây chứng nhiệt nhập huyết thất, đau bụng sản phụ, sốt sau sinh.
Phép trị: Thanh doanh khử ứ – tức là thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ.
Dược thường dùng: Kim ngân hoa, Liên kiều, Bồ công anh, Tử hoa địa đinh, Bại tương thảo, Ngư tinh thảo, Thổ phục linh – phối hợp với thuốc hoạt huyết hóa ứ.
(7) Ôn kinh hành trệ
Chủ trị: Huyết hàn. Hàn tà nhập lý kết hợp với huyết làm huyết ngưng kết, xung nhâm trở trệ, gây kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, thống kinh, bế kinh, vô sinh, hòn cục, nhau không ra.
Phép trị: Ôn kinh hành trệ.
Dược thường dùng: Phối hợp thuốc ôn kinh phù dương và thuốc hoạt huyết hóa ứ.
(8) Ôn kinh dưỡng huyết
Chủ trị: Hư hàn. Dương khí tiên thiên bất túc, hàn sinh từ trong, tạng phủ không đủ khả năng sinh huyết hành huyết, xung nhâm huyết hư gây kinh đến muộn, lượng ít, thống kinh.
Phép trị: Ôn kinh dưỡng huyết.
Dược thường dùng: Phối hợp thuốc ôn kinh phù dương và thuốc bổ huyết dưỡng huyết.
(9) Tán hàn khử thấp
Chủ trị: Hàn thấp. Do tỳ thận dương hư hoặc cảm thụ hàn thấp, hàn thấp kết hợp với huyết gây huyết hành không thông, xung nhâm trở trệ, sinh thống kinh, bế kinh, hòn cục.
Phép trị: Tán hàn khử thấp.
Dược thường dùng: Phối hợp thuốc ôn kinh phù dương và thuốc táo thấp lợi thấp như Thương truật, Bạch truật, Phục linh, Trư linh, Trạch tả, Ý dĩ nhân, Xa tiền tử, Đại phúc bì, Nhân trần, Mộc thông. Vì hàn thấp ngưng trệ khiến huyết hành không thông, nên thường phối hợp thêm thuốc hoạt huyết hóa ứ.
(10) Thanh nhiệt trừ thấp
Chủ trị: Thấp nhiệt. Thấp trọc hóa nhiệt, hoặc cảm nhiễm thấp nhiệt tà, thấp nhiệt hạ chú làm tổn thương xung nhâm, gây thống kinh, đới hạ, ngứa âm hộ.
Phép trị: Thanh nhiệt trừ thấp.
Dược thường dùng: Phối hợp thuốc thanh khí tả nhiệt và thuốc táo thấp lợi thấp. Nếu thấp nhiệt hóa độc hoặc cảm nhiễm thấp độc thì kiêm dùng thuốc giải độc trừ thấp như Kim ngân hoa, Bồ công anh, Thổ phục linh, Ngư tinh thảo, Bại tương thảo, Bạch hoa xà thiệt thảo… Do thấp tà cản trở khí cơ, huyết hành không thuận nên cũng thường phối hợp thêm thuốc hoạt huyết hóa ứ.
(11) Giải độc sát trùng
Chủ trị: Nhiễm bệnh trùng, phép trị chi tiết xem phần “Phương pháp ngoại trị”.
Các phép điều lý huyết phần kể trên thường phối hợp với thuốc bổ khí, lý khí, hành khí để hỗ trợ.
Ngoài ra, nếu xuất huyết quá nhiều, tay chân lạnh, có nguy cơ thoát chứng thì cần cấp cứu bằng phép bổ khí cố thoát. Đồng thời, khi sử dụng các phép ôn bổ, thanh bổ, tư bổ, phá khí, trục ứ, đều phải quan tâm đến tình trạng khí huyết, tránh dùng thuốc quá bổ béo, hao tán, hoặc công phá mạnh để không gây trở trệ khí huyết hoặc làm tổn hao khí huyết. Tóm lại, nguyên tắc điều lý khí huyết là điều hòa khí huyết, làm xung nhâm thông suốt thì các chứng về kinh, đới, thai, sản đều có thể điều trị khỏi.
[Phụ] Phương pháp ngoại trị
Phương pháp ngoại trị trong phụ khoa chủ yếu dùng cho các bệnh ở tiền âm (âm hộ, âm đạo). Tổn thương chủ yếu biểu hiện tại chỗ vùng tiền âm, nhưng phản ứng và ảnh hưởng có thể liên quan toàn thân; đồng thời, một số bệnh ở tiền âm cũng có thể là phản ứng của bệnh toàn thân biểu hiện tại vùng này. Do đó, điều trị cần kết hợp cả thuốc dùng tại chỗ và phép nội trị để điều chỉnh toàn thể.
Bệnh ở tiền âm đa phần do tà độc, trùng bệnh gây nên, thường xuất hiện sưng đau, tụ mủ, loét, rỉ nước… Trong phương pháp ngoại trị thường chọn các loại thuốc có công năng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, thu liễm.
Thuốc thanh nhiệt: Hoàng bá, Hoàng liên, Tri mẫu.
Thuốc giải độc: Kim ngân hoa, Bồ công anh, Thổ phục linh, Ngư tinh thảo, Bại tương thảo, Bạch hoa xà thiệt thảo.
Thuốc sát trùng: Khổ sâm, Hạc thi, Xà sàng tử, Bách bộ, Hùng hoàng, Bạch đầu ông.
Thuốc thu liễm: Ô mai, Ngũ bội tử, Xích thạch chi, Ô tặc cốt, Hải hà phấn, Khô phàn. Các phương pháp ngoại trị phụ khoa chính sẽ được trình bày chi tiết ở phần tiếp theo.
Phương pháp xông rửa là dùng nước thuốc để xông hơi và rửa vùng tiền âm (âm hộ), chủ yếu áp dụng cho các bệnh ở âm hộ như ngứa, chàm, sưng đau, loét da…
Cách dùng: Dược liệu đem gói lại, sắc với nước, phải đun sôi 20–30 phút mới được dùng ngoài. Khi dùng, đổ nước thuốc vào chậu chuyên dụng, nhân lúc nước còn nóng thì xông phần bị bệnh, sau đó rửa. Xông trước rồi mới rửa. Khi nước nguội bớt đến mức phù hợp, có thể rửa âm hộ hoặc ngồi vào chậu. Mỗi lần xông rửa khoảng 10 phút. Trường hợp có loét thì không ngâm rửa. Mỗi liệu trình kéo dài 7 ngày, mỗi ngày dùng 1 thang thuốc, sắc 2 lần, chia sáng và tối để xông rửa.
Phương pháp thụt rửa là dùng nước thuốc để rửa âm hộ và âm đạo, chủ yếu áp dụng cho các bệnh ở âm đạo và cổ tử cung như: viêm âm đạo do trùng roi, viêm âm đạo do nấm, viêm âm đạo không đặc hiệu, viêm cổ tử cung cấp/mạn tính (lở loét)…
Cách dùng: Dược liệu đem gói, sắc nước, đun sôi 20–30 phút. Khi nước thuốc nguội đến nhiệt độ phù hợp (gần bằng nhiệt độ cơ thể), đổ vào dụng cụ thụt rửa (loại Rando) để tiến hành thụt rửa. Do trong âm đạo có nhiều nếp gấp, dịch tiết và mầm bệnh khó loại bỏ hoàn toàn chỉ bằng thụt, nên hiệu quả sẽ cao hơn nếu dùng phương pháp lau rửa: ngồi vào chậu nước thuốc, người đã kết hôn có thể dùng bông gòn kẹp lại, nhúng thuốc rồi lau rửa âm đạo. Rửa càng kỹ, hiệu quả càng cao. Mỗi liệu trình kéo dài 7 ngày, mỗi ngày dùng 1 thang thuốc, sắc 2 lần, chia sáng và tối để dùng. Nếu dùng chậu ngồi thì mỗi lần 5–10 phút.
Phương pháp đặt thuốc là đưa thuốc ngoài da vào vị trí vòm âm đạo hoặc cổ tử cung, chủ yếu dùng cho các bệnh ở âm đạo và cổ tử cung như: viêm cổ tử cung mạn tính (lở loét), ung thư cổ tử cung, viêm âm đạo do trùng roi, do nấm, viêm âm đạo không đặc hiệu, viêm âm đạo ở người cao tuổi…
Cách dùng: Dược liệu bào chế thành dạng thuốc đặt, thuốc mỡ, bột… sau khi tiệt trùng để dùng. Sau khi vệ sinh âm hộ/âm đạo sạch sẽ, thuốc đặt có thể đưa vào vòm âm đạo phía sau (bệnh nhân có thể tự thực hiện theo hướng dẫn). Thuốc mỡ có thể bôi lên gạc vô khuẩn, bột thuốc có thể tẩm vào bông có dây, do nhân viên y tế đặt vào vùng tổn thương theo quy trình. Mỗi liệu trình 7–10 lần, mỗi ngày hoặc cách ngày đặt một lần.
Phương pháp đắp thuốc là dùng nước thuốc, thuốc bột hoặc thuốc mỡ ngâm tẩm vào gạc vô khuẩn rồi đắp lên vùng tổn thương, chủ yếu áp dụng cho các bệnh ở âm hộ hoặc tuyến vú như: sưng âm hộ, loét âm hộ, rạch áp xe âm hộ, viêm tuyến vú cấp tính hoặc cần tiêu sữa…
Cách dùng:
Nước thuốc: dùng gạc vô khuẩn ngâm thuốc rồi đắp lên chỗ đau.
Thuốc bột: rắc trực tiếp lên vùng tổn thương đã loét.
Thuốc mỡ: bôi lên gạc vô khuẩn rồi đắp lên vùng bị bệnh, sau đó dùng gạc sạch phủ ngoài để cố định.
Mỗi ngày hoặc cách ngày thay thuốc một lần, dùng đến khi khỏi.
Các nguyên tắc cần tuân thủ khi áp dụng phương pháp ngoại trị trong lâm sàng phụ khoa:
[Phụ lục] Bài ca thuốc cấm dùng khi mang thai
蚯斑水蛭及虻虫,乌头附子配天雄,野葛水银并巴豆,
牛膝薏苡与蜈蚣,三棱芫花代赭麝,大戟蝉蜕黄雌雄,
牙硝芒硝牡丹桂,槐花牵牛皂角同,半夏南星与通草,
瞿麦干姜桃仁通,硇砂干漆蟹爪甲,地胆茅根都失中。
Dịch nghĩa:
Giun đất, thủy đỉa với bọ ngựa, Ô đầu, phụ tử lại thêm thiên hùng,
Dã cát, thủy ngân cùng ba đậu,
Ngưu tất, ý dĩ với Ngô công,
Tam lăng, Nguyên hoa, đới xà, xạ,
Đại kích, thuyền thoái, hoàng thư hùng,
Nha tiêu, mang tiêu, mẫu đơn, quế,
Hoè hoa, khiên ngưu, tạo giác đồng,
Bán hạ, nam tinh cùng thông thảo,
Thùy mạch, can khương, đào nhân thông,
Não sa, Can tất, giải trảo giáp
Địa đảm, mao căn… đều bất trung.
> Ghi chú: Đây là danh sách những vị thuốc bị cấm hoặc cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ mang thai, vì có thể gây sẩy thai hoặc ảnh hưởng đến thai nhi.
Ly Trường Xuân dịch