Quách Bốc Lạc – Đường dây tư vấn tâm lý Trung Quốc
http://www.zgxl.net
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ nữ trung niên và cao tuổi nếu đột nhiên xuất hiện những “đốm tàn nhang”, hoặc những đốm “tàn nhang” vốn có trở nên đậm màu hơn, không nên cho rằng tuổi đã cao, có thêm vài đốm tàn nhang cũng không đáng ngại nên không đi điều trị. Trên thực tế, đây có thể là tín hiệu cảnh báo của một tổn thương tiền ung thư, cần được người bệnh chú ý và điều trị. Tổn thương đó chính là nốt ruồi dạng tàn nhang ác tính.
U hắc tố ác tính có thể phát triển từ những tổn thương tiền ung thư như nốt ruồi dạng tàn nhang ác tính. Quá trình phát triển từ tổn thương này thường chậm hơn so với u hắc tố phát sinh trên vùng da có bề ngoài bình thường. Nếu được phát hiện sớm, có thể điều trị bằng đốt điện làm khô, đông điện, laser và các phương pháp khác, nhờ đó có thể tránh tiến triển thành ung thư.
U HẮC TỐ ÁC TÍNH
Khái quát
U hắc tố ác tính, tiếng Anh là malignant melanoma, gọi tắt là u hắc tố ác tính, là một khối u ác tính bắt nguồn từ tế bào hắc tố. Bệnh phần lớn phát sinh ở da và đứng hàng thứ ba trong số các khối u ác tính của da.
Chẩn đoán
Đối với tất cả tổn thương màu đen đáng nghi, cũng như các nốt ruồi sắc tố vốn có nhưng đột nhiên to lên, đậm màu hơn, đỏ, chảy máu hoặc loét, cần cắt bỏ toàn bộ để xét nghiệm mô bệnh học.
Khi tổn thương có khả năng gây lan tràn, không nên chỉ lấy một phần mô để sinh thiết vì có thể làm tăng nguy cơ di căn sớm. Khi có điều kiện, tốt nhất nên thực hiện xét nghiệm cắt lạnh nhanh. Sau khi xác định chẩn đoán, cần tiến hành cắt bỏ rộng.
Đôi khi bệnh cần được phân biệt với ung thư biểu mô tế bào đáy có sắc tố, nốt ruồi sắc tố, u hắc tố lành tính ở người trẻ hay nốt ruồi Spitz, dày sừng tiết bã, ung thư biểu mô tế bào vảy, u hạt sinh mủ và các bệnh khác.
Khi cần thiết, có thể thực hiện xét nghiệm hóa mô miễn dịch như protein S-100, HMB-45 và các dấu ấn khác để xác định thêm.
Biện pháp điều trị
Đối với tổn thương dạng nốt hoặc dạng dát ở giai đoạn sớm, chưa có di căn, cần tiến hành phẫu thuật cắt bỏ. Phạm vi cắt nên bao gồm vùng mô bình thường rộng khoảng 1–3 cm xung quanh tổn thương.
Nếu u hắc tố ác tính phát sinh ở ngón tay hoặc ngón chân, có thể cần phải cắt cụt ngón.
Những hạch bạch huyết đã được xác định là có tổn thương cần được cắt bỏ. Tuy nhiên, việc nạo vét hạch bạch huyết dự phòng khi chưa xác định hạch bị xâm phạm vẫn còn gây tranh luận.
Truyền thuốc chống phân bào qua động mạch chi cũng có thể đạt hiệu quả nhất định trong điều trị u hắc tố ở các chi.
Đối với trường hợp đã di căn rộng theo đường máu, cần sử dụng hóa trị phối hợp lấy dacarbazin làm nền tảng, kết hợp với xạ trị.
Bệnh nguyên
Nguyên nhân của bệnh chưa hoàn toàn rõ ràng.
Ánh nắng mặt trời là một yếu tố nguy cơ. Đặc biệt, người da trắng sau khi tiếp xúc quá mức với ánh nắng dễ mắc bệnh hơn.
Chấn thương hoặc kích thích tại chỗ cũng là một nguyên nhân thường gặp.
Ngoài ra, bệnh còn liên quan đến sự chuyển thành ác tính của nốt ruồi sắc tố. Có thống kê cho rằng khoảng 10% trường hợp có liên quan đến yếu tố này.
Những nguyên nhân khác có thể liên quan gồm di truyền, khả năng đáp ứng miễn dịch suy giảm và nhiễm virus.
Biến đổi bệnh lý
Đặc điểm mô bệnh học điển hình của u hắc tố ác tính là sự tăng sinh của các tế bào hắc tố không điển hình tại vùng tiếp giáp giữa biểu bì và chân bì, đồng thời tế bào u xâm nhập vào cả biểu bì và chân bì.
Tế bào u có hai dạng biệt hóa chủ yếu là dạng tế bào biểu mô và dạng tế bào hình thoi.
Nhân tế bào biến dạng rõ rệt, hình thái bất thường. Có thể thấy tế bào một nhân, hai nhân hoặc nhiều nhân; hình ảnh phân bào thường gặp.
Hình thái mô bệnh học của u hắc tố ác tính không hoàn toàn giống nhau giữa các thể bệnh.
Biểu bì teo mỏng. Lớp đáy có nhiều tế bào hắc tố không điển hình, đồng thời các tế bào này xâm nhập xuống chân bì.
Trong tế bào u hoặc trong các đại thực bào ăn sắc tố ở mô đệm có chứa một lượng melanin tương đối nhiều.
Các nhú biểu bì tăng sinh xuống dưới không đều.
Tại vùng tiếp giáp giữa biểu bì và chân bì, cũng như trong chân bì, có thể thấy các ổ tế bào nốt ruồi không điển hình.
Ngoài tế bào hắc tố dạng biểu mô và dạng hình thoi, đôi khi tại phần trên biểu bì còn có một số ít tế bào hắc tố dạng Paget.
Sự thâm nhiễm tế bào viêm trong chân bì tương đối rõ.
Các tế bào hắc tố không điển hình tăng sinh theo chiều thẳng đứng xuống dưới và xâm nhập vào chân bì, nhưng không lan vào biểu bì theo chiều ngang.
Các tế bào hắc tố dạng biểu mô thường sắp xếp thành những cấu trúc giống nang tuyến. Tế bào dạng hình thoi giống nguyên bào sợi, đôi khi sắp xếp thành từng bó.
Biểu bì dày lên. Các ổ tế bào hắc tố không điển hình chứa nhiều sắc tố nằm ở phần dưới biểu bì; thường thấy tế bào hắc tố hình thoi.
Ở phần trên biểu bì cũng có thể thấy các tế bào hắc tố dạng Paget. Trong nhú chân bì có thể thấy các đại thực bào ăn sắc tố.
U hắc tố ác tính không sắc tố có hình thái và cấu trúc tế bào mang đặc điểm của u hắc tố ác tính, nhưng khi nhuộm hematoxylin–eosin không thấy rõ melanin. Nghiệm pháp Dopa có thể cho phản ứng dương tính và nhuộm bạc có thể phát hiện một lượng nhỏ melanin.
Khi chẩn đoán mô học u hắc tố ác tính, ngoài việc xác định bệnh và phân loại, còn cần quan sát mức độ xâm lấn. Tế bào u xâm nhập càng sâu thì tiên lượng càng xấu.
Thông thường sử dụng hai thông số chính là mức độ Clark và độ dày Breslow.
Độ I: Tế bào u chỉ giới hạn trong biểu bì.
Độ II: Tế bào u xâm nhập vào lớp nhú chân bì.
Độ III: Tế bào u lấp đầy lớp nhú chân bì.
Độ IV: Tế bào u xâm nhập vào lớp lưới chân bì.
Độ V: Tế bào u xâm nhập vào lớp mỡ dưới da.
Tỷ lệ sống sau 5 năm từ độ I đến độ V lần lượt là 99%, 95%, 90%, 65% và 25%.
Phương pháp Breslow sử dụng thước vi trắc trong thị kính để đo độ dày khối u.
Mối liên hệ giữa độ dày khối u và tỷ lệ sống sau 5 năm được trình bày như sau:
Độ dày dưới 0,85 mm: 98%.
Độ dày 0,8–1,69 mm: 90%.
Độ dày 1,7–3,59 mm: 70%.
Độ dày trên 3,6 mm: 45%.
Biểu hiện lâm sàng
Bệnh phát triển từ nốt ruồi dạng tàn nhang ác tính.
Thông thường, sau khi nốt ruồi dạng tàn nhang ác tính tồn tại nhiều năm, tổn thương da dần lan rộng, xuất hiện nốt màu xanh đen và loét.
Bệnh thường gặp ở vùng mặt của người cao tuổi.
Bệnh thường gặp ở người da trắng.
Tổn thương là các dát sắc tố không đều màu đỏ, trắng hoặc xanh, bờ không đều, bề mặt gồ ghề; khi sờ có thể phát hiện những nốt nhỏ nhô cao.
Tổn thương có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào và phát triển nhanh.
Ngay từ đầu, bệnh biểu hiện thành nốt dưới da màu đỏ nâu, xanh hoặc đen, có thể kèm loét và chảy máu.
Biểu hiện đặc trưng là những tổn thương vệ tinh xung quanh hoặc hiện tượng sắc tố lan tràn ra ngoài.
Bệnh dễ di căn hạch bạch huyết và lan theo đường máu ngay từ giai đoạn sớm.
Thể này chiếm khoảng 5% tổng số u hắc tố, nhưng thường gặp hơn ở người da đen và người châu Á. Các báo cáo tại Trung Quốc cũng cho thấy đây là một thể thường gặp.
Ban đầu, tổn thương là những dát sắc tố không đều, lan rộng chậm, màu sắc đa dạng, giống nốt ruồi dạng tàn nhang ác tính.
Cuối cùng, tổn thương phát triển thành nốt và loét. Phần lớn xuất hiện ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đặc biệt là lòng bàn chân.
Vùng dưới móng và quanh móng tay, móng chân cũng dễ bị tổn thương.
Ngoài các thể nói trên, còn có thể gặp u hắc tố ác tính không sắc tố.
Ngày công bố: 26 tháng 3 năm 2003
U HẮC TỐ ÁC TÍNH
Khái quát về bệnh
U hắc tố ác tính là một khối u ác tính phát sinh từ hệ thống tế bào hắc tố của da và các cơ quan khác, chiếm khoảng 1–3% tổng số khối u ác tính.
Trong vài thập niên gần đây, tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng tăng rõ rệt.
Chẩn đoán phân biệt
Trên lâm sàng, u hắc tố có thể giống nhiều loại tổn thương da khác, trong đó giống nhất với nốt ruồi tiếp giáp và nốt ruồi hỗn hợp.
Do hai loại nốt ruồi này đều có thể phát triển thành u hắc tố ác tính, việc phân biệt chúng đã chuyển thành ác tính hay chưa có ý nghĩa rất quan trọng.
Trên lâm sàng, nếu một nốt ruồi đen có những biểu hiện như nhanh chóng to lên, màu sắc đậm hơn, vùng xung quanh đỏ; đau hoặc ngứa; bề mặt loét, đóng vảy hoặc chảy máu; xuất hiện tổn thương vệ tinh xung quanh thì đều phải nghi ngờ đã chuyển thành ác tính.
Về mô học, những dấu hiệu gợi ý chuyển thành ác tính gồm:
Ở phần trên biểu bì xuất hiện các tế bào hắc tố đơn lẻ hoặc tụ thành nhóm.
Tế bào nốt ruồi tại vùng tiếp giáp biểu bì – chân bì tăng sinh không điển hình. Ngoài các ổ tế bào hắc tố sắp xếp thành tổ, còn thấy tế bào hắc tố phân bố không đều trong lớp tế bào đáy.
Thông thường, tế bào nốt ruồi trong chân bì từ lớp nông xuống lớp sâu sẽ dần nhỏ và dài hơn, trở thành những tế bào hình thoi nhỏ. Khi chuyển thành ác tính, tế bào ở lớp sâu của chân bì không nhỏ dần, tức thiếu hiện tượng trưởng thành.
Dấu hiệu tuyệt đối của chuyển thành ác tính là nhân tế bào thoái sản và không điển hình, chủ yếu biểu hiện bằng nhân to, hình dạng không đều, bắt màu đậm và xuất hiện hình ảnh phân bào không điển hình.
Ngoài ra, u hắc tố ác tính còn cần được phân biệt với ung thư biểu mô tế bào đáy có sắc tố, dày sừng tiết bã, u hạt sinh mủ, sarcoma Kaposi và tụ máu do chấn thương dưới móng.
Mô tả bệnh lý
Cả bốn thể u hắc tố ác tính đều bắt nguồn từ vùng tiếp giáp giữa biểu bì và chân bì.
Trong u hắc tố ác tính điển hình có thể thấy hoạt động vùng tiếp giáp rõ và không đều. Các tế bào u có nhân thoái sản từ biểu bì xâm nhập xuống chân bì.
Các nhú biểu bì tại vùng tiếp giáp với khối u đang xâm nhập xuống dưới có thể tăng sinh xuống sâu một cách không đều rõ rệt, giống như bị khối u đang xâm nhập kéo xuống.
Một hiện tượng thường gặp là tế bào u lan lên trên, xâm nhập biểu bì phủ trên u hắc tố ác tính, làm biểu bì bị phá hủy và hình thành vết loét.
Trong u hắc tố ác tính dạng nốt, sự xâm nhập của tế bào u vào biểu bì chỉ giới hạn ở phần biểu bì nằm ngay phía trên khối u trong chân bì.
Ngược lại, trong u hắc tố phát triển từ nốt ruồi dạng tàn nhang ác tính, u hắc tố lan rộng nông và u hắc tố dạng tàn nhang ở đầu chi, thường thấy tế bào u vượt khỏi phạm vi biểu bì nằm phía trên khối u trong chân bì và lan sang hai bên trong biểu bì. Hiện tượng này có giá trị hỗ trợ phân biệt ba thể bệnh trên về mô học.
Tế bào u trong chân bì rất khác nhau về kích thước và hình thái. Có hai dạng tế bào lớn là tế bào dạng biểu mô và tế bào hình thoi.
Phần lớn khối u có cả hai dạng tế bào, nhưng thường một dạng chiếm ưu thế.
Tế bào dạng biểu mô thường gặp hơn nhiều so với tế bào hình thoi.
U hắc tố lan rộng nông và u hắc tố dạng nốt thường chủ yếu được cấu tạo bởi tế bào dạng biểu mô.
U hắc tố phát triển từ nốt ruồi dạng tàn nhang ác tính và u hắc tố dạng tàn nhang ở đầu chi thường có tế bào hình thoi chiếm ưu thế.
Tế bào dạng biểu mô có khuynh hướng sắp xếp thành những ổ không đều, còn tế bào hình thoi tạo thành những nhánh không đều.
Kích thước và hình thái tế bào u không đồng nhất. Có thể thấy hình ảnh phân bào, nhưng số lượng thường không nhiều. Đôi khi thấy các tế bào u khổng lồ một nhân hoặc nhiều nhân có hình thái kỳ dị.
Lượng sắc tố thay đổi không cố định và phản ứng viêm cũng có mức độ khác nhau.
Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh có sự khác biệt giữa các chủng tộc và thường gặp ở người da trắng.
Tỷ lệ mắc bệnh ở người da trắng cao gấp 6–7 lần so với người da đen sống trong cùng khu vực, cho thấy việc tiếp xúc lâu dài với ánh nắng có quan hệ mật thiết với sự phát sinh và phát triển của bệnh.
Một tỷ lệ đáng kể u hắc tố phát sinh trên nốt ruồi bẩm sinh hoặc nốt ruồi loạn sản đã tồn tại từ trước.
Khoảng 10% người mắc u hắc tố ác tính có yếu tố di truyền gia đình.
Điều trị
Chẩn đoán sớm và phẫu thuật cắt bỏ là phương pháp điều trị lý tưởng đối với u hắc tố ác tính nguyên phát.
Đối với u hắc tố ác tính tại chỗ, phạm vi cắt bỏ nên cách bờ tổn thương khoảng 0,5–1 cm.
Theo nguyên văn, đối với tổn thương có độ sâu khoảng 0,85 mm, phạm vi cắt có thể cách bờ ngoài tổn thương 1,5 cm; các tổn thương khác nên được cắt cách bờ ngoài khoảng 3 cm.
Nếu các hạch bạch huyết lân cận to lên thì cần cắt bỏ đồng thời.
Hiệu quả của hóa trị nhìn chung không rõ rệt. Thuốc thường dùng nhất là dacarbazin.
Liệu pháp miễn dịch vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu. Có thể sử dụng tế bào diệt được hoạt hóa bởi lymphokin phối hợp interleukin-2, hoặc dùng riêng interleukin-2 liều cao. Cũng có thể tiêm vaccine BCG trực tiếp vào trong tổn thương.
Đối với u hắc tố ở các chi, có thể sử dụng hóa trị tưới máu khu vực.
Hiệu quả của xạ trị chưa thật sự khả quan.
Ngoài ra, nguyên văn còn đề cập có thể sử dụng một thuốc mới có tên được ghi là “hydroxyterinine” theo đường uống.
Một số tên thuốc và số liệu trong tài liệu gốc có dấu hiệu cũ hoặc bị lỗi ký tự; bản dịch trên giữ theo nội dung nguyên văn và không nên dùng làm hướng dẫn điều trị hiện nay.