Tiết 1
Tiểu luận về bệnh khi lâm sản
Thai nghén đủ tháng, trong quá trình sinh nở và trong vòng bốn giờ sau sinh, nếu phát sinh những bệnh có liên quan đến cuộc sinh, thì gọi là bệnh khi lâm sản.
Các bệnh thường gặp khi lâm sản gồm khó sinh do khí huyết mất điều hòa, khó sinh do khớp vệ không mở, khó sinh do ngôi thai bất thường, khó sinh do thai nhi bất thường, nhau không xuống, v.v. Chương này chủ yếu bàn về biện chứng luận trị của khó sinh do khí huyết mất điều hòa và nhau không xuống.
Bệnh cơ của bệnh khi lâm sản tương đối phức tạp. Nguyên nhân chính thường gồm tiên thiên bất túc, phòng sự không điều độ làm tổn thương Thận khí; ăn uống thất thường, lao nhàn quá độ làm tổn thương Tỳ khí, trung khí bất túc; hoặc người vốn nhiều uất ức, tình chí không thông, khí trệ huyết ứ. Những yếu tố này ảnh hưởng đến công năng của Xung Nhâm và Bào cung, từ đó dẫn đến các bệnh khi lâm sản.
Nếu tiên thiên bất túc, hoặc phòng sự không điều độ làm tổn thương Thận khí, Đan điền khí yếu, Bào cung co bóp vô lực, có thể dẫn đến khó sinh do khí huyết mất điều hòa.
Nếu người mẹ vốn có khung chậu hẹp bẩm sinh, có thể dẫn đến khó sinh do khớp vệ không mở hoặc khó sinh do ngôi thai bất thường.
Nếu thai nhi vốn có dị dạng bẩm sinh, não úng thủy, thai quá lớn, v.v., có thể dẫn đến khó sinh do thai nhi bất thường.
Nếu ăn uống thất thường, lao nhàn quá độ làm tổn thương Tỳ khí, trung khí bất túc, có thể dẫn đến khó sinh do khí huyết mất điều hòa.
Nếu thấp trọc đình lại bên trong, thai nhi quá lớn, cũng có thể gây khó sinh.
Nếu người vốn nhiều uất ức, tình chí không thông, khí trệ huyết ứ, cũng có thể dẫn đến khó sinh do khí huyết mất điều hòa.
Đặc điểm của bệnh khi lâm sản
Bệnh khi lâm sản có hai đặc điểm nổi bật.
Một là phát sinh đột ngột, thế bệnh cấp.
Hai là nếu xử lý không đúng, có thể nguy hiểm đến tính mạng của cả mẹ và con.
Trên lâm sàng, nhờ kiểm tra trước sinh, một số bệnh khi lâm sản có thể được phát hiện trước khi chuyển dạ, như khớp vệ không mở do khung chậu hẹp, ngôi thai bất thường, thai nhi bất thường, v.v. Cần tổng hợp tuổi của thai phụ, số lần sinh, tình trạng sức khỏe và các bất thường đã phát hiện để xác định phương thức sinh nở phù hợp.
Tuy nhiên, cũng có khá nhiều bệnh khi lâm sản chỉ phát sinh trong quá trình sinh, chẳng hạn như nhau không xuống. Vì vậy, trong lúc lâm sản phải theo dõi chặt chẽ tiến trình sinh. Khi phát hiện bất thường cần kịp thời có biện pháp ứng biến. Muốn điều trị và phòng ngừa bệnh khi lâm sản một cách chính xác, càng cần chú ý khám thai trước sinh.
Nguyên tắc điều trị
Điều trị bệnh khi lâm sản lấy bổ Thận cố Xung, kiện Tỳ ích khí, sơ Can lý huyết làm chủ. Khi cần thiết, phải phối hợp thủ pháp hoặc phẫu thuật để xử lý.
Bệnh khi lâm sản liên quan trực tiếp đến an nguy của mẹ và thai. Vì vậy, biện chứng Trung y phải đi cùng quan sát sản khoa. Khi có chỉ định thủ thuật hoặc phẫu thuật, không nên chần chừ vì muốn chỉ dùng thuốc. Ngược lại, trong những trường hợp còn có thể điều chỉnh bằng thuốc và thủ pháp, cũng cần căn cứ vào hư thực, khí huyết, tình trạng Bào cung và thai để lựa chọn phép trị thích hợp.
Nói tóm lại
Bệnh khi lâm sản là những bệnh phát sinh trong quá trình sinh và ngay sau khi sinh, có liên quan mật thiết đến sản trình. Bệnh cơ tuy có thể quy về Thận hư, Tỳ hư, khí trệ, huyết ứ, thấp trọc, nhưng trên lâm sàng cần đặc biệt chú ý tính cấp bách và nguy hiểm của bệnh.
Điều trị phải vừa xét khí huyết, Xung Nhâm, Bào cung, vừa xét tình trạng sản khoa cụ thể. Những trường hợp có thể dự phòng nhờ khám thai cần phát hiện sớm. Những trường hợp phát sinh trong lúc sinh cần theo dõi sát và xử lý kịp thời. Đây là điểm then chốt trong phòng trị bệnh khi lâm sản.
Tiết 2
Khó sinh
Khi thai nghén đủ tháng, đến lúc lâm sản mà thai nhi không thể sinh ra thuận lợi, gọi là khó sinh. Xưa gọi là sản nan.
Những luận thuật của Trung y về khó sinh tương ứng với các loại khó sinh trong y học hiện đại như bất thường sản lực, bất thường sản đạo, ngôi thai bất thường và thai nhi bất thường. Tiết này bàn về khó sinh do khí huyết mất điều hòa, về cơ bản gần với khó sinh do bất thường sản lực trong y học hiện đại.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế của khó sinh do khí huyết mất điều hòa chủ yếu có hai mặt: hư và thực. Hư là khí hư không đủ sức vận chuyển thai mà khó sinh. Thực là thấp và ứ ngăn trở, làm thai không thể ra thuận lợi.
Các thể thường gặp gồm Thận khí hư yếu, khí huyết hư yếu, khí trệ huyết ứ và khí trệ thấp uất.
Thai phụ tiên thiên bất túc, kết hôn sớm, sinh nhiều, hoặc phòng sự không điều độ làm tổn thương Thận khí. Thận khí hư khiến Xung Nhâm bất túc, Bào cung không đủ sức vận thai, vì vậy phát sinh khó sinh.
Trong lâm sản, thai muốn ra cần nhờ sức co bóp của Bào cung và sức vận hành của khí huyết. Thận là gốc của sinh sản, Đan điền khí đầy thì Bào cung mới có lực. Nếu Thận khí hư yếu, lực co bóp không đủ, cơn đau yếu, rặn không có sức, sản trình kéo dài.
Thai phụ vốn cơ thể hư yếu, khí huyết bất túc. Khi sinh, do dùng sức, ra mồ hôi, hoặc rặn quá sớm, làm hao khí, tổn tân dịch, khí huyết bị thương nặng. Khí huyết hư thì Xung Nhâm bất túc, Bào cung không đủ sức vận thai, từ đó khó sinh.
Thể này thường gặp ở người sản trình kéo dài, thể lực giảm, cơn co yếu dần, người mệt, hơi ngắn, hồi hộp. Khí không đủ để đẩy thai, huyết không đủ để nhuận thai, nên thai khó xuống.
Thai phụ vốn nhiều uất ức, hoặc an nhàn quá độ khiến khí huyết vận hành không thông; hoặc khi lâm sản lo lắng, căng thẳng, làm khí kết huyết trệ; hoặc trong lúc sinh cảm hàn, hàn ngưng huyết trệ, khí cơ bất lợi. Những nguyên nhân này đều làm Xung Nhâm mất thông suốt, Bào cung ứ trệ, không thể vận thai, vì vậy khó sinh.
Thể này thuộc thực chứng. Cơn co có thể mạnh nhưng không điều hòa, đau dữ dội mà không có sức đẩy thai xuống. Khí bị kết, huyết bị ứ, Bào cung tuy động nhưng không thuận, nên sản trình kéo dài mà thai không ra.
Thai phụ vốn nhiều uất ức, khí cơ không thông. Hoặc sau khi có thai, thai thể dần lớn, trở ngại sự thăng giáng của khí cơ, dễ dẫn đến khí trệ thấp uất. Thấp đình ở Xung Nhâm, ủng tắc Bào cung, làm Bào cung không thể vận thai, từ đó phát sinh khó sinh.
Thể này vừa có khí trệ, vừa có thấp trọc. Khí không thông thì thai không xuống; thấp trọc ủng tắc thì Bào cung bị nặng trệ. Vì vậy thường thấy đau trướng kéo dài, phù mặt, phù chi, ngực cách đầy tức, buồn nôn, nôn, rêu lưỡi trắng nhờn.
Biện chứng luận trị
Nguyên tắc xử lý bệnh này là thúc đẩy và điều hòa sự co bóp của tử cung, làm cho sản trình tiến triển, cố gắng giảm tổn thương, dùng phương thức thích hợp và an toàn để kết thúc cuộc sinh.
Trong biện chứng điều trị, cần phân biệt nghiêm ngặt với khó sinh do khớp vệ không mở, khó sinh do ngôi thai bất thường và khó sinh do thai nhi bất thường. Nếu nguyên nhân thuộc bất thường sản đạo, ngôi thai hoặc thai nhi, thì không thể chỉ dùng phép điều khí huyết để thúc sinh.
Đại pháp điều trị là: hư yếu thì bổ khí hành huyết để vận thai; thấp ứ thì hành khí hoạt huyết để hoạt thai. Tuy nhiên, bổ hư không được dùng quá nhiều vị tư nhuận nê trệ, để tránh làm đình sản. Hóa ứ cũng không được dùng quá nhiều vị phá huyết, hao khí, để tránh làm tổn thương mẹ và thai.
Chứng trạng chủ yếu
Khi sinh, cơn đau từng cơn yếu, co bóp Bào cung không mạnh, sản trình kéo dài. Lưng đau mỏi nặng, đầu choáng, tai ù, rặn không có sức. Lưỡi nhạt, rêu mỏng nhuận. Mạch tế hoạt.
Phân tích chứng trạng
Thận khí hư yếu, Xung Nhâm bất túc, nên cơn đau yếu, rặn không có sức. Bào cung không đủ sức vận thai, nên co bóp không mạnh, sản trình kéo dài. Thận chủ xương, sinh tủy, não là biển của tủy, lưng là phủ của Thận. Thận hư nên lưng đau mỏi nặng, đầu choáng, tai ù. Lưỡi nhạt, rêu mỏng nhuận, mạch tế hoạt là dấu hiệu của Thận khí hư yếu.
Pháp trị
Bổ Thận giáng khí, khai khiếu thúc sinh.
Phương thang
Thần hiệu thôi sinh đan, trích từ Vệ Sinh Gia Bảo Sản Khoa Bị Yếu.
Não tủy thỏ tháng chạp 1 cái, bỏ màng da, nghiền như bùn; Băng phiến 5g, nghiền riêng, dùng thay Xạ hương; bột Nhũ hương 12,5g, nghiền riêng; Mẫu đinh hương 5g, tán bột thật mịn.
Các vị thuốc tán mịn, dùng não tủy thỏ làm hoàn, to bằng hạt khiếm thực, phơi âm can, cất kín trong bình sứ để dùng. Khi lâm sản, dùng nước sắc Đinh hương ấm để uống 1 hoàn.
Trong phương, não tủy thỏ bổ Thận ích tinh, thúc sinh, hoạt thai. Công đinh hương và Mẫu đinh hương ôn Thận, giáng nghịch, khai khiếu, thúc sinh. Nhũ hương, Băng phiến hoạt huyết tán kết, khai khiếu, thúc sinh. Toàn phương có công năng bổ Thận giáng khí, khai khiếu thúc sinh.
Chú ý
Phương này là phương cổ, trong đó có các vị khai khiếu, hoạt huyết, thúc sinh. Khi vận dụng hiện nay cần hết sức thận trọng, chỉ dùng trong bối cảnh lâm sản phù hợp, có theo dõi sản khoa, không dùng tùy tiện trong thai kỳ khi chưa đến lúc sinh.
Chứng trạng chủ yếu
Khi sinh, cơn đau từng cơn yếu, co bóp Bào cung không mạnh, sản trình kéo dài. Thần mệt, không sức, hồi hộp, hơi ngắn. Hoặc do dùng sức quá sớm mà rặn không có lực. Sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch hư đại hoặc tế nhược.
Phân tích chứng trạng
Khí huyết hư yếu, lại do rặn quá sớm, Xung Nhâm bất túc, nên cơn đau yếu, rặn không có sức. Bào cung không đủ sức vận thai, nên co bóp không mạnh, sản trình kéo dài. Khí huyết đều hư, không thể vinh nhuận lên mặt, nên sắc mặt trắng nhợt. Khí hư, trung Dương không phấn chấn, nên thần mệt, không sức, hơi ngắn. Huyết hư, Tâm mất sự nuôi dưỡng, nên hồi hộp. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hư đại hoặc tế nhược là dấu hiệu của khí huyết hư yếu.
Pháp trị
Bổ khí dưỡng huyết, nhuận thai thúc sinh.
Phương thang
Tống tử đan, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Sinh Hoàng kỳ, Đương quy, Mạch môn, Thục địa, Xuyên khung.
Trong phương, Sinh Hoàng kỳ bổ ích trung khí. Khí đủ thì có sức đẩy Bào thai ra ngoài. Thục địa, Mạch môn, Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết ích Âm. Huyết đầy thì có thể nhuận trạch Bào thai. Huyết vượng thì khí có nơi được nuôi; khí đầy thì huyết có chỗ nương. Khí huyết đều vượng thì có thể đạt tác dụng nhuận thai thúc sinh.
Gia giảm
Nếu khí hư rõ, rặn rất yếu, mồ hôi nhiều, có thể tùy chứng tăng Hoàng kỳ, thêm Đảng sâm để ích khí.
Nếu tân dịch hao, miệng khô, môi khô, có thể thêm Ngọc trúc, Sa sâm để dưỡng Âm sinh tân, nhưng không nên quá nê trệ.
Nếu đau kéo dài, sản phụ mệt lả, cần đánh giá sản trình, tim thai và tình trạng mẹ, không nên chỉ kéo dài dùng thuốc bổ.
Chứng trạng chủ yếu
Khi sinh, lưng bụng trướng đau liên tục, đau dữ dội. Co bóp Bào cung tuy mạnh, nhưng không có quy luật, không có sức đẩy, sinh lâu không xuống. Tinh thần căng thẳng, phiền táo, bất an, ngực bức, Vị quản trướng, thỉnh thoảng muốn nôn. Sắc mặt tím tối. Lưỡi đỏ tối, rêu mỏng trắng. Mạch huyền đại hoặc nhịp đến không đều.
Phân tích chứng trạng
Khí cơ bất lợi, Xung Nhâm mất thông suốt, ứ trệ ở Bào cung, nên khi sinh lưng bụng trướng đau liên tục, đau dữ dội. Bào cung ứ trệ, nên co bóp tuy mạnh nhưng không có quy luật, không có lực đẩy, sinh lâu không xuống. Người vốn nhiều uất ức, khí cơ không lợi, nên tinh thần căng thẳng, phiền táo, bất an, ngực bức, Vị quản trướng. Khí cơ nghịch loạn, thăng giáng mất điều hòa, nên thỉnh thoảng muốn nôn. Sắc mặt tím tối, lưỡi đỏ tối, rêu mỏng trắng, mạch huyền đại hoặc nhịp đến không đều là dấu hiệu của khí cơ nghịch loạn, khí trệ huyết ứ.
Pháp trị
Hành khí hóa ứ, hoạt thai thúc sinh.
Phương thang
Thôi sinh lập ứng tán, trích từ Tế Âm Cương Mục.
Xa tiền tử, Đương quy, Đông quỳ tử, Bạch chỉ, Ngưu tất, Đại phúc bì, Chỉ xác, Xuyên khung, Bạch thược dược.
Trong phương, Đương quy, Xuyên khung, Ngưu tất hoạt huyết hóa ứ, nhuận thai thúc sinh, làm quân. Đại phúc bì, Chỉ xác khoan trung hạ khí, hành trệ thúc sinh, làm thần. Xa tiền tử, Đông quỳ tử lợi thủy, hoạt thai. Bạch chỉ, Bạch thược dưỡng huyết tiêu sưng, hoãn cấp chỉ thống. Toàn phương có công năng hành khí hóa ứ, hoạt thai thúc sinh.
Gia giảm theo huyết ứ nặng
Nếu huyết ứ nặng, biểu hiện khi lâm sản lưng bụng đau liên tục không dứt, kêu la không ngừng, đau dữ dội khó chịu, sắc mặt tím tối, mạch hoạt đại, phép trị nên lấy hoạt huyết hóa ứ, hoạt thai thúc sinh làm chủ. Dùng Trần thị Thất thánh tán, trích từ Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương.
Trần thị Thất thánh tán
Diên hồ sách, Một dược, Bạch phàn, Bạch chỉ, Khương hoàng, Đương quy, Quế tâm, các vị lượng bằng nhau.
Các vị tán bột, dùng rượu đã tôi thuốc để điều uống 10g. Uống một đến hai chén thì sinh.
Trong phương, Diên hồ sách, Một dược, Khương hoàng, Đương quy, Quế tâm ôn kinh hóa ứ, hành khí chỉ thống, hoạt thai thúc sinh. Bạch chỉ tiêu sưng chỉ thống. Bạch phàn tiêu sưng chỉ huyết. Toàn phương có công năng hoạt huyết hóa ứ, hoạt thai thúc sinh.
Chú ý
Các phương hoạt huyết thúc sinh chỉ dùng khi đã lâm sản và có chỉ định phù hợp. Nếu chưa đến lúc sinh hoặc chưa xác định rõ nguyên nhân khó sinh, không được dùng tùy tiện. Nếu nghi có bất thường ngôi thai, sản đạo hoặc thai nhi, phải kiểm tra và xử lý theo sản khoa.
Chứng trạng chủ yếu
Khi sinh, lưng bụng trướng đau liên tục, đau khó chịu. Co bóp Bào cung tuy mạnh, nhưng không có quy luật, không có sức đẩy, sinh lâu không xuống. Mặt phù, chi phù, đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, hơi ngắn, ngực cách đầy tức, buồn nôn, nôn. Lưỡi tối, rêu trắng nhờn. Mạch huyền hoạt hoặc hoạt đại.
Phân tích chứng trạng
Khí trệ thấp uất, thấp đình ở Xung Nhâm, ủng tắc Bào cung, nên lưng bụng trướng đau liên tục, đau khó chịu. Thấp trọc ủng tắc Bào cung, nên co bóp tuy mạnh nhưng không có quy luật, không có lực đẩy, sinh lâu không xuống. Thấp trọc đình lại bên trong, tràn ra da cơ, nên mặt phù, chi phù. Trong cơ hoành có thủy khí, nên hồi hộp, hơi ngắn, ngực cách đầy tức, buồn nôn, nôn. Thấp trọc ngăn trở trung tiêu, thanh Dương không thăng, nên đầu choáng, mắt hoa. Lưỡi tối, rêu trắng nhờn, mạch huyền hoạt hoặc hoạt đại là dấu hiệu của khí trệ thấp uất.
Pháp trị
Lý khí hóa thấp, hoạt thai thúc sinh.
Phương thang
Thần hiệu đạt sinh tán, trích từ Đạt Sinh Thiên.
Tô ngạnh, Đương quy, Bạch thược, Cam thảo, Xuyên khung, Chỉ xác, Bạch truật, Trần bì, Bối mẫu, Đại phúc bì, Đông quỳ tử, Thông bạch.
Trong phương, Bạch truật, Trần bì, Bối mẫu kiện Tỳ hóa thấp, lý khí điều trung, hóa đàm tán kết. Tô ngạnh, Chỉ xác lợi cách khoan trung, thuận khí thúc sinh. Đại phúc bì, Đông quỳ tử hạ khí lợi thủy, tiêu sưng hoạt thai. Thông bạch thông Dương tán kết. Đương quy, Xuyên khung, Bạch thược dưỡng huyết, hoạt huyết, hoãn cấp chỉ thống. Cam thảo điều hòa các vị. Toàn phương có công năng lý khí hóa thấp, hoạt thai thúc sinh.
Gia giảm
Nếu phù rõ, tiểu ít, có thể gia Phục linh bì, Xa tiền tử lượng thích hợp để lợi thủy hóa thấp.
Nếu đàm nhiều, ngực tức, buồn nôn nhiều, có thể gia Bán hạ, Trúc nhự để hóa đàm, hòa Vị.
Nếu khí trệ rõ, bụng trướng nhiều, có thể gia Mộc hương, Hương phụ lượng nhỏ để hành khí, nhưng không nên phá khí quá mức trong lúc sản phụ đã mệt.
Nếu sản trình kéo dài, sức mẹ giảm, phải kịp thời đánh giá sản khoa, không nên cố dùng thuốc kéo dài.
Chú ý lâm sàng
Khó sinh là tình trạng có thể nguy hiểm cho cả mẹ và thai. Khi xử lý, trước hết phải phân biệt khó sinh do sản lực, do sản đạo, do ngôi thai hay do thai nhi. Tiết này chỉ bàn về khó sinh do khí huyết mất điều hòa, tương ứng nhiều với bất thường sản lực. Nếu là khung chậu hẹp, ngôi thai bất thường, thai nhi bất thường hoặc thai quá lớn, thì phải xử lý theo sản khoa, có khi cần thủ thuật hoặc phẫu thuật.
Trong lúc sinh, cần theo dõi cơn co, độ mở cổ tử cung, ngôi thai, tiến triển của đầu thai, tim thai, huyết áp, mạch, thể lực và tinh thần của sản phụ. Nếu sản trình không tiến triển, tim thai bất thường, mẹ kiệt sức, ra huyết bất thường, hoặc có dấu hiệu nguy hiểm, cần chuyển hướng xử lý kịp thời.
Các phương thúc sinh, hoạt thai, hóa ứ, lý khí trong cổ phương chỉ nên vận dụng khi đã đúng thời điểm lâm sản và có đánh giá sản khoa rõ ràng. Không được dùng để “giục sinh” tùy tiện khi chưa đủ điều kiện.
Nói tóm lại
Khó sinh là khi thai đủ tháng, đến lúc lâm sản mà thai nhi không thể sinh ra thuận lợi. Trong phạm vi khí huyết mất điều hòa, bệnh cơ có hư và thực. Hư là Thận khí hoặc khí huyết hư yếu, Bào cung không đủ sức vận thai. Thực là khí trệ, huyết ứ, thấp uất ngăn trở, khiến Bào cung co bóp không điều hòa, thai không xuống.
Thận khí hư yếu thì bổ Thận giáng khí, khai khiếu thúc sinh. Khí huyết hư yếu thì bổ khí dưỡng huyết, nhuận thai thúc sinh. Khí trệ huyết ứ thì hành khí hóa ứ, hoạt thai thúc sinh. Khí trệ thấp uất thì lý khí hóa thấp, hoạt thai thúc sinh.
Điều trị phải nhằm giúp sản trình tiến triển an toàn, giảm tổn thương, bảo toàn mẹ và thai. Nếu nguyên nhân không thuộc khí huyết mất điều hòa, hoặc có dấu hiệu nguy hiểm, cần phối hợp thủ pháp, thủ thuật hoặc phẫu thuật kịp thời, không nên chỉ dựa vào thuốc.
Tiết 3
Nhau không xuống
Sau khi thai nhi đã sinh ra, quá nửa giờ mà nhau thai không tự nhiên ra ngoài, gọi là nhau không xuống, cũng gọi là tức bào.
Bệnh này tương đương với tình trạng sót nhau hoặc nhau thai lưu lại trong y học hiện đại. Bào y tức là tên gọi chung của nhau thai và màng thai.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế gây bệnh có thể chia thành hư và thực. Thuộc hư là do khí hư, không đủ sức truyền tống nhau thai ra ngoài. Thuộc thực là do huyết ứ ngăn trở, hoặc hàn ngưng huyết trệ, khiến nhau thai không xuống.
Các thể thường gặp gồm khí hư, huyết ứ và hàn ngưng.
Sản phụ vốn cơ thể hư yếu, trung khí bất túc; hoặc khi sinh dùng sức quá độ; hoặc sản trình kéo dài làm hao tổn khí huyết. Khí hư thì Bào cung không đủ sức co hồi và truyền tống, vì vậy không thể đưa nhau thai ra ngoài.
Sau khi thai nhi đã ra, Bào cung cần tiếp tục co bóp để bong nhau và đẩy nhau ra ngoài. Nếu khí lực của sản phụ suy yếu, trung khí không đủ, Bào cung vận động vô lực, thì nhau thai dễ lưu lại không xuống. Thể này thường kèm ra huyết nhiều, sắc nhạt, người mệt, hơi ngắn, mặt trắng.
Sản phụ vốn cơ thể hư yếu, khí không nhiếp huyết; hoặc vốn nhiều uất ức, kinh mạch mất thông suốt, huyết không quy kinh. Những yếu tố này đều có thể khiến vết thương sau sinh ra huyết, huyết ứ kết lại trong Bào cung, làm nhau thai bị ngăn trở không xuống.
Huyết ứ làm Bào cung không thông. Khi ứ huyết đình lại, nhau thai không có đường ra thuận lợi. Vì vậy thường thấy bụng dưới đau, có khối, cự án, âm đạo ra huyết lượng nhiều, sắc tối, có cục. Khi cục huyết xuống thì đau có thể giảm.
Sản phụ vốn Dương khí bất túc, Âm hàn thịnh bên trong; hoặc sản phòng điều hòa nóng lạnh không thích hợp, hàn tà xâm vào Bào cung. Hàn làm khí huyết ngưng trệ, Bào mạch không thông, vì vậy nhau thai không xuống.
Hàn có tính co rút và ngưng trệ. Sau sinh, huyết thất đang mở, nếu hàn tà xâm nhập, huyết bị hàn làm đông trệ, Bào cung co hồi không thuận, nhau thai khó ra. Thể này thường thấy bụng dưới lạnh đau, được ấm thì đau giảm, huyết ra ít, sắc đỏ tối, người sợ lạnh, tay chân lạnh.
Biện chứng luận trị
Bệnh này phát sinh vào lúc mới sinh. Khi biện chứng, ngoài chứng trạng toàn thân, cần đặc biệt chú ý lượng huyết âm đạo, sắc huyết, có huyết khối hay không, bụng dưới có khối hay không, ấn đau hay không, cùng mạch tượng và tình trạng toàn thân của sản phụ.
Nhau không xuống thường kèm ra huyết âm đạo ở mức độ khác nhau. Nếu kèm ra huyết lượng nhiều, có thể dẫn đến huyết hư khí thoát mà ngất. Có khi huyết âm đạo chảy ra ngoài không nhiều, nhưng trong Bào cung tích huyết rất nhiều; khi ấn bụng hoặc ấn Bào cung, có thể có lượng lớn huyết khối và huyết tươi trào ra. Khi đó sản phụ cũng có thể vì mất huyết, khí thoát mà ngất.
Hơn nữa, do mất huyết quá nhiều, huyết thất đang mở, nếu xử lý không đúng, tà độc có thể nhân cơ hội xâm nhập, gây sốt sau sinh, đau bụng sau sinh và các biến chứng khác. Vì vậy, xử lý nhau không xuống phải kịp thời và thích đáng.
Nguyên tắc xử lý
Nếu ra huyết nhiều, phải tích cực dùng phương pháp ít gây tổn thương nhất để làm nhau thai ra ngoài, bao gồm xoa bóp tử cung, bóc nhau bằng tay, thậm chí cắt tử cung khi cần thiết.
Nếu đã có choáng do mất máu, nên truyền máu trước rồi xử lý tiếp.
Nếu ra huyết ít hoặc không ra huyết, có thể chờ đợi, quan sát, hoặc điều trị bảo tồn trong điều kiện nằm viện và theo dõi chặt chẽ.
Phương pháp điều trị
Hư chứng nên bổ khí để truyền tống nhau thai và nhiếp huyết.
Thực chứng nên hóa ứ, ôn kinh, giúp nhau thai ra ngoài, đồng thời dẫn huyết quy kinh.
Chứng trạng chủ yếu
Sau khi sinh con, nhau thai lâu không xuống. Bụng dưới sa trướng, có khối, ấn vào không cứng. Âm đạo ra huyết lượng nhiều, sắc nhạt, hoặc có huyết khối. Thần mệt, không sức, đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, hơi ngắn, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng
Sản phụ vốn cơ thể hư yếu, sau sinh trung khí càng hư, không đủ sức vận chuyển nhau thai ra ngoài, vì vậy nhau không xuống. Khí hư hạ hãm, nên bụng dưới sa trướng. Khí hư khiến Bào cung co hồi vô lực, nên bụng dưới có khối, ấn vào không cứng. Khí hư không nhiếp huyết, nên âm đạo ra huyết lượng nhiều. Huyết mất sự khí hóa, nên sắc nhạt. Khí hư vận huyết vô lực, nên có huyết khối. Khí hư, trung Dương không phấn chấn, nên thần mệt, không sức, hơi ngắn. Thanh Dương không thăng, nên đầu choáng, sắc mặt trắng nhợt. Khí hư lại mất huyết quá nhiều, nên mắt hoa, hồi hộp. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược là dấu hiệu của khí hư.
Pháp trị
Bổ khí dưỡng huyết, lý khí hạ bào.
Phương thang
Sinh hóa gia sâm thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Nhân sâm, Đương quy, Xuyên khung, Bạch truật, Hương phụ.
Trong phương, Nhân sâm, Bạch truật đại bổ nguyên khí, giúp nhiếp huyết và đưa nhau thai xuống. Đương quy, Xuyên khung, Hương phụ dưỡng huyết, hoạt huyết, lý khí, hạ bào. Toàn phương có công năng bổ khí dưỡng huyết, lý khí hạ bào.
Gia giảm
Nếu khí hư nặng, mệt lả, mồ hôi nhiều, hơi thở ngắn, có thể gia Hoàng kỳ để ích khí cố thoát.
Nếu ra huyết nhiều, sắc nhạt, có thể gia A giao, Ngải diệp thán, Bào khương thán tùy chứng để dưỡng huyết, ôn kinh, chỉ huyết.
Nếu bụng dưới sa trướng rõ, có thể phối Chỉ xác lượng nhỏ để lý khí, giúp khí hành mà nhau xuống.
Chú ý
Thể khí hư tuy cần bổ, nhưng không nên dùng quá nhiều vị nê trệ. Mục tiêu không phải chỉ là bổ khí huyết, mà là giúp Bào cung có sức co hồi và đưa nhau thai ra ngoài. Nếu ra huyết nhiều hoặc có dấu hiệu choáng, phải xử lý cấp cứu, không chờ thuốc phát huy tác dụng.
Chứng trạng chủ yếu
Sau khi sinh con, nhau thai lâu không xuống. Bụng dưới đau, có khối, cự án. Âm đạo ra huyết lượng nhiều, sắc tối, có cục. Sau khi huyết khối xuống thì đau giảm. Lưỡi tím tối, hoặc có ban ứ, điểm tím. Rêu mỏng. Mạch huyền sáp có lực.
Phân tích chứng trạng
Huyết ứ ngăn trở, nên nhau thai không xuống. Ứ huyết đình lại bên trong, nên bụng dưới đau, có khối, cự án. Ứ huyết nội đình, huyết không quy kinh, nên âm đạo ra huyết lượng nhiều, sắc tối, có cục. Khi huyết khối xuống, ứ trệ hơi thông, nên đau giảm. Lưỡi tím tối, hoặc có ban ứ, điểm tím, mạch huyền sáp có lực là dấu hiệu của huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông lợi hạ bào.
Phương thang
Ngưu tất thang, trích từ Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương.
Ngưu tất, Cù mạch, Đương quy, Thông thảo, Hoạt thạch, Quỳ tử.
Trong phương, Đương quy, Ngưu tất hoạt huyết hóa ứ, đưa nhau thai xuống. Cù mạch, Thông thảo, Hoạt thạch, Quỳ tử thông lợi hành thủy, hoạt nhuận hạ bào. Các vị hợp dùng có công năng hoạt huyết hóa ứ, thông lợi hạ bào.
Gia giảm
Nếu bụng đau dữ dội, huyết khối nhiều, có thể gia Đào nhân, Hồng hoa, Ích mẫu thảo để tăng sức hoạt huyết hóa ứ.
Nếu ra huyết nhiều mà ứ chưa xuống, có thể gia Tam thất, Bồ hoàng thán để hóa ứ chỉ huyết, giúp huyết đi đúng đường mà không ứ lại.
Nếu sản phụ khí hư kèm theo, người mệt, hơi ngắn, mạch yếu, cần phối thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ để ích khí hành huyết, tránh chỉ công ứ mà làm tổn chính khí.
Chú ý
Thể huyết ứ cần hoạt huyết hóa ứ, nhưng nếu ra huyết quá nhiều, phải xử lý cấp cứu. Không nên vì muốn đợi nhau tự xuống mà để mất máu kéo dài. Khi Bào cung có tích huyết nhiều, cần kết hợp thăm khám, xoa bóp tử cung hoặc thủ thuật sản khoa khi có chỉ định.
Chứng trạng chủ yếu
Sau khi sinh con, nhau thai lâu không xuống. Bụng dưới lạnh đau, có khối, cự án, được ấm thì đau giảm. Âm đạo ra huyết lượng ít, huyết sắc đỏ tối. Sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng. Lưỡi tối, rêu trắng. Mạch trầm khẩn.
Phân tích chứng trạng
Hàn tà khách ở Bào mạch, khí huyết ngưng trệ, nên nhau thai không xuống, bụng dưới lạnh đau, có khối, cự án. Được ấm thì ứ trệ hơi thông, nên đau giảm. Huyết bị hàn làm ngưng, nên âm đạo ra huyết lượng ít, sắc đỏ tối. Hàn làm tổn thương Dương khí, nên sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng. Lưỡi tối, rêu trắng, mạch trầm khẩn là dấu hiệu của huyết hàn.
Pháp trị
Ôn kinh hành trệ, hoạt huyết hạ bào.
Phương thang
Bát vị Hắc thần tán, trích từ Vệ Sinh Gia Bảo Sản Khoa Bị Yếu.
Thục địa hoàng, Bạch thược dược, Đương quy, Can khương, Nhục quế, Bồ hoàng, Hắc đại đậu, Chích cam thảo.
Trong phương, Can khương, Nhục quế ôn kinh tán hàn để thông huyết mạch. Đương quy, Bồ hoàng, Hắc đại đậu dưỡng huyết, hoạt huyết, lợi thủy, hạ bào. Thục địa hoàng, Bạch thược dược bổ huyết, hoãn cấp, chỉ thống. Chích cam thảo ích khí hòa trung. Toàn phương có công năng ôn kinh hành trệ, hoạt huyết hạ bào.
Gia giảm
Nếu nhau lâu không xuống, thần mệt, không sức, tùy chứng thêm Nhân sâm, Hoàng kỳ. Khi khí vượng thì tà dễ đi, huyết dễ hành, nhau thai có thể xuống.
Nếu lạnh đau rõ, có thể thêm Ngải diệp, Tiểu hồi hương để ôn kinh tán hàn.
Nếu ra huyết lượng ít mà bụng dưới cự án, có thể phối Ích mẫu thảo để hoạt huyết hạ bào.
Chú ý lâm sàng
Nhau không xuống là bệnh sau sinh cần xử lý kịp thời. Trọng điểm không chỉ là “nhau chưa ra”, mà là phải xem sản phụ có ra huyết nhiều không, Bào cung co hồi thế nào, có tích huyết trong tử cung không, dấu hiệu sinh tồn có ổn định không.
Nếu ra huyết nhiều, mạch yếu, mặt trắng, mồ hôi lạnh, chóng mặt, muốn ngất, phải nghĩ đến mất máu và khí thoát, cần cấp cứu ngay. Nếu nhau thai bám chặt, bong không hoàn toàn, hoặc nghi nhau cài răng lược, cần xử lý theo sản khoa, không nên chỉ dùng thuốc.
Sau khi nhau đã ra, cần kiểm tra nhau và màng thai có đầy đủ không. Nếu sót nhau, sót màng, có thể gây ra huyết kéo dài, nhiễm trùng, sốt sau sinh, đau bụng sau sinh. Vì vậy, xử lý nhau không xuống không chỉ là làm nhau ra, mà còn phải bảo đảm Bào cung sạch, huyết được cầm, chính khí không thoát, tà độc không xâm nhập.
Điều dưỡng sau xử lý
Sau khi nhau xuống, sản phụ cần nghỉ ngơi, giữ ấm, tránh gió lạnh, theo dõi lượng huyết ra, màu sắc huyết, đau bụng và thân nhiệt. Ăn uống nên dễ tiêu, ấm, vừa đủ để phục hồi khí huyết, không nên ăn sống lạnh quá sớm.
Nếu mất huyết nhiều, cần chú trọng bổ khí dưỡng huyết theo tình trạng thực tế. Nếu có dấu hiệu sốt, đau bụng tăng, huyết hôi, sản dịch bất thường, cần thăm khám kịp thời để phòng nhiễm trùng sau sinh.
Nói tóm lại
Nhau không xuống là tình trạng sau khi thai nhi đã sinh, quá nửa giờ mà nhau thai không tự nhiên ra ngoài. Bệnh cơ có hư và thực. Hư là khí hư, Bào cung không đủ sức truyền tống nhau thai. Thực là huyết ứ ngăn trở hoặc hàn ngưng huyết trệ, khiến nhau thai lưu lại không xuống.
Khí hư thì bổ khí dưỡng huyết, lý khí hạ bào. Huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ, thông lợi hạ bào. Hàn ngưng thì ôn kinh hành trệ, hoạt huyết hạ bào.
Bệnh này dễ kèm ra huyết, mất máu, khí thoát và nhiễm trùng sau sinh. Khi ra huyết nhiều hoặc có dấu hiệu choáng, phải cấp cứu và dùng thủ pháp, thủ thuật hoặc phẫu thuật khi cần. Trong mọi trường hợp, mục tiêu là làm nhau xuống an toàn, cầm huyết, bảo vệ chính khí và phòng biến chứng sau sinh.