Đới hạ có lượng tăng rõ rệt, sắc, chất và mùi phát sinh bất thường, hoặc kèm theo triệu chứng toàn thân và triệu chứng cục bộ, gọi là bệnh đới hạ. Bệnh này còn gọi là hạ bạch vật, lưu uế vật. Trong y học hiện đại, bệnh đới hạ tương ứng với tình trạng đới hạ tăng nhiều do các bệnh như viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm vùng chậu, u bướu phụ khoa và một số bệnh khác gây nên.
Tên gọi đới hạ xuất hiện sớm trong Nội Kinh. Tố Vấn, thiên Cốt Không Luận, nói: “Nhâm mạch làm bệnh… phụ nữ đới hạ, hà tụ.” Từ đới hạ có nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, đới hạ chỉ chung các bệnh phụ sản khoa. Vì các bệnh này đều phát sinh ở vùng dưới Đới mạch, nên gọi là đới hạ. Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển nói: “Đới hạ là dưới Đới mạch. Người xưa liệt các bệnh của kinh mạch, gồm ba mươi sáu loại, đều gọi là bệnh đới hạ, không phải chỉ là xích bạch đới hạ như người đời nay thường nói.” Sử Ký, thiên Biển Thước Thương Công Liệt Truyện, cũng chép: “Biển Thước nổi danh khắp thiên hạ, đi qua Hàm Đan, nghe nói người nước Triệu quý phụ nữ, bèn làm thầy thuốc đới hạ.” Ở đây, đới hạ y chính là thầy thuốc chuyên về nữ khoa.
Theo nghĩa hẹp, đới hạ lại chia thành đới hạ sinh lý và đới hạ bệnh lý.
Nữ giới bình thường từ tuổi dậy thì trở đi, Thận khí sung thịnh, Tỳ khí kiện vận, Nhâm mạch thông điều, Đới mạch bền chắc, trong âm đạo sẽ có một lượng nhỏ dịch dính, màu trắng hoặc trong suốt không màu, không mùi. Đặc biệt trước sau kỳ kinh, giữa chu kỳ kinh và trong thai kỳ, lượng dịch này có thể tăng hơn, có tác dụng làm nhuận âm hộ và phòng ngự ngoại tà. Đây là đới hạ sinh lý.
Thẩm Thị Nữ Khoa Tập Yếu dẫn lời Vương Mạnh Anh nói: “Đới hạ, phụ nữ sinh ra đã có, thường nhuận mà không khô, vốn không phải là bệnh.” Ý này cho thấy trong cơ thể nữ giới, một lượng dịch âm đạo trong sạch, không hôi, không gây khó chịu là hiện tượng sinh lý bình thường, không nên xem là bệnh.
Nếu đới hạ tăng nhiều rõ rệt, hoặc sắc, chất, mùi phát sinh bất thường, thì gọi là bệnh đới hạ. Nữ Khoa Chứng Trị Ước Chỉ nói: “Nếu ngoại cảm lục dâm, nội thương thất tình, uẩn kết thành bệnh, khiến Đới mạch buông lỏng, không thể ước thúc các kinh mạch, bấy giờ trong âm có vật chảy xuống rỉ rả, liên miên không dứt, đó gọi là đới hạ.” Trong Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận còn có ghi chép về ngũ sắc đới hạ, gồm xanh, đỏ, vàng, trắng, đen. Sách cho rằng nếu ngũ tạng đều hư tổn thì năm sắc đới đều cùng chảy xuống. Trên lâm sàng, thường gặp nhất là bạch đới, hoàng đới và xích bạch đới.
Cũng có trường hợp đới hạ quá ít. Đới hạ và kinh nguyệt đều có tính chu kỳ. Đới hạ quá ít thường tương ứng với một số bệnh chứng kinh nguyệt lượng ít hoặc bế kinh, vì vậy trong chương này không bàn thêm.
Bệnh đới hạ lấy đới hạ tăng nhiều làm triệu chứng chủ yếu. Khi lâm sàng, bắt buộc phải kết hợp biện chứng và biện bệnh để chẩn đoán, điều trị. Các bệnh phụ khoa theo y học hiện đại như viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm vùng chậu và u bướu đều có thể thấy đới hạ lượng nhiều. Vì vậy cần xác định chẩn đoán rõ ràng rồi mới căn cứ vào bệnh đới hạ mà biện chứng luận trị. Khi cần, nên làm thăm khám phụ khoa và kiểm tra loại trừ ung thư, tránh để chậm trễ bệnh tình.
Bệnh đới hạ lấy thấp tà làm mối họa, nên bệnh thường kéo dài dai dẳng, dễ tái phát, không dễ khỏi nhanh. Bệnh này lại thường kèm kinh nguyệt không đều, bế kinh, vô sinh, trưng hà và các bệnh khác. Trong phụ khoa, đây là bệnh thường gặp chỉ sau bệnh kinh nguyệt, cần được coi trọng.
Nguyên nhân bệnh cơ
Nguyên nhân chủ yếu của bệnh đới hạ là thấp tà. Phó Thanh Chủ Nữ Khoa nói: “Đới hạ đều là chứng thấp.” Thấp có phân biệt nội thấp và ngoại thấp.
Ngoại thấp là thấp tà từ bên ngoài xâm nhập. Ví dụ, trong kỳ kinh lội nước, dầm mưa, cảm thụ hàn thấp; hoặc sau sinh, Bào mạch trống rỗng, giữ gìn không sạch, thấp độc tà khí thừa hư xâm nhập Bào cung, làm Nhâm mạch bị tổn thương, Đới mạch mất sự ước thúc, từ đó gây bệnh đới hạ.
Nội thấp phát sinh có quan hệ mật thiết với rối loạn chức năng tạng phủ, khí huyết. Tỳ hư thì vận hóa thất chức, thủy thấp đình lại bên trong, hạ chú Nhâm Đới. Thận Dương bất túc thì khí hóa thất thường, thủy thấp đình lại, lại thêm cửa đóng không vững, tinh dịch trượt xuống. Cơ thể vốn Âm hư, lại cảm thụ thấp nhiệt, làm tổn thương Nhâm Đới, cũng có thể phát thành bệnh đới hạ.
Nói tóm lại, bệnh đới hạ do thấp tà gây bệnh, nhưng chức năng Tỳ Thận thất thường là điều kiện bên trong của bệnh. Vị trí bệnh chủ yếu ở tiền âm và Bào cung. Nhâm mạch bị tổn thương, Đới mạch mất ước thúc là cơ chế cốt lõi của bệnh đới hạ.
Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương nói: “Người có Đới mạch, đi ngang ở khoảng thắt lưng, hình như dây đai buộc quanh thân; bệnh sinh ở đây nên gọi là đới.” Câu này nói rõ quan hệ giữa Đới mạch và bệnh đới hạ.
Trên lâm sàng, các thể thường gặp gồm Tỳ Dương hư, Thận Dương hư, Âm hư kiêm thấp, thấp nhiệt hạ chú và thấp độc uẩn kết.
Ăn uống không điều độ, lao nhọc quá mức, hoặc ưu tư làm khí kết, tổn thương Tỳ khí. Tỳ mất chức năng vận hóa, thấp trọc đình tụ, chảy xuống hạ tiêu, làm tổn thương Nhâm Đới. Nhâm mạch không cố, Đới mạch mất ước thúc, từ đó phát sinh bệnh đới hạ.
Cơ thể vốn Thận hư, hoặc phóng túng tình dục, khiến Thận Dương hư tổn, khí hóa thất thường, thủy thấp đình lại bên trong, hạ chú Xung Nhâm, làm tổn thương Nhâm Đới, từ đó phát sinh bệnh đới hạ.
Nếu Thận Dương hư tổn, tinh quan không vững, tinh dịch trượt xuống, cũng có thể gây bệnh đới hạ.
Cơ thể vốn Âm hư, Tướng hỏa thiên vượng. Âm hư không giữ được phần dưới, hạ tiêu lại cảm thụ thấp nhiệt tà, làm tổn thương Nhâm Đới. Nhâm mạch và Đới mạch ước thúc vô lực, từ đó thành bệnh đới hạ.
Tỳ hư, thấp thịnh, uất lâu hóa nhiệt; hoặc tình chí không thư, Can uất hóa hỏa, Can nhiệt phối hợp với Tỳ thấp, thấp nhiệt kết lại, chảy xuống hạ tiêu, làm tổn thương Nhâm Đới. Nhâm Đới ước thúc vô lực, vì vậy thành bệnh đới hạ.
Trong kỳ kinh hoặc sau sinh, Bào mạch trống rỗng, không chú ý vệ sinh, hoặc phòng sự không kiêng, hoặc thủ thuật làm tổn thương, khiến thấp độc nhiễm vào, làm tổn thương Nhâm Đới. Nhâm Đới ước thúc vô lực, vì vậy thành bệnh đới hạ.
Biện chứng luận trị
Biện chứng bệnh đới hạ chủ yếu căn cứ vào lượng, sắc, chất và mùi của đới hạ. Tiếp đó kết hợp các triệu chứng đi kèm, lưỡi và mạch để phân biệt hàn nhiệt, hư thực.
Nếu đới hạ lượng nhiều, sắc trắng hoặc vàng nhạt, chất trong loãng, phần nhiều thuộc Tỳ Dương hư.
Nếu sắc trắng, chất trong loãng như nước, kèm cảm giác lạnh, phần nhiều thuộc Thận Dương hư.
Nếu lượng không nhiều, sắc vàng hoặc đỏ trắng lẫn nhau, chất đặc, hoặc có mùi hôi, phần nhiều thuộc Âm hư kiêm thấp.
Nếu đới hạ lượng nhiều, sắc vàng, chất dính đặc, có mùi hôi, hoặc dạng bọt, hoặc sắc trắng như bã đậu, phần nhiều thuộc thấp nhiệt hạ chú.
Nếu đới hạ lượng nhiều, sắc vàng xanh như mủ, hoặc đục như nước vo gạo, chất đặc, mùi hôi thối khó chịu, phần nhiều thuộc thấp độc nặng.
Khi lâm chứng, còn cần kết hợp chứng trạng toàn thân và bệnh sử để phân tích tổng hợp, mới có thể biện chứng chính xác.
Nguyên tắc điều trị bệnh đới hạ lấy kiện Tỳ, thăng Dương, trừ thấp làm chủ, phụ thêm thư Can, cố Thận. Tuy nhiên, thấp trọc có thể theo Dương hóa nhiệt mà thành thấp nhiệt, cũng có thể theo Âm hóa hàn mà thành hàn thấp. Vì vậy, tùy chứng phải phối hợp các phép thanh nhiệt trừ thấp, thanh nhiệt giải độc, tán hàn trừ thấp.
Chứng trạng chủ yếu
Đới hạ lượng nhiều, sắc trắng hoặc vàng nhạt, chất loãng mỏng, không có mùi hôi, chảy liên miên không dứt. Thần mệt, uể oải, tay chân không ấm, ăn ít, đại tiện lỏng, mu bàn chân phù, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn. Mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng
Tỳ Dương hư yếu, vận hóa thất chức, thủy thấp đình lại bên trong, thấp trọc hạ chú, làm tổn thương hai mạch Nhâm Đới. Nhâm Đới ước thúc vô lực, nên đới hạ lượng nhiều, sắc trắng hoặc vàng nhạt, chất loãng mỏng, không hôi, chảy liên miên không dứt.
Tỳ hư, trung Dương không phấn chấn, nên thần mệt, uể oải, tay chân không ấm. Tỳ hư, vận hóa thất chức, nên ăn ít, đại tiện lỏng. Thấp trọc thịnh ở trong, nên mu bàn chân phù. Tỳ hư, thanh Dương không thăng, nên sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn, mạch hoãn nhược là dấu hiệu của Tỳ Dương bất túc.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, thăng Dương trừ thấp.
Phương thang
Hoàn đới thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Bạch truật, Sơn dược, Nhân sâm, Bạch thược, Thương truật, Cam thảo, Trần bì, Hắc giới tuệ, Sài hồ, Xa tiền tử.
Trong phương, Nhân sâm, Sơn dược, Cam thảo kiện Tỳ ích khí. Thương truật, Bạch truật kiện Tỳ táo thấp. Sài hồ, Bạch thược, Trần bì thư Can giải uất, lý khí thăng Dương. Xa tiền tử vào Thận, tiết giáng, lợi thủy trừ thấp. Hắc giới tuệ vào huyết phận, khứ phong thắng thấp. Toàn phương gửi ý bổ trong tán, gửi ý tiêu trong thăng, cùng trị ba kinh Can, Tỳ, Thận, có công năng kiện Tỳ ích khí, thăng Dương trừ thấp.
Gia giảm
Nếu Tỳ hư liên lụy đến Thận, kèm đau lưng, tùy chứng thêm Tục đoạn, Đỗ trọng, Thỏ ty tử để ôn bổ Thận Dương, cố Nhâm chỉ đới.
Nếu hàn ngưng gây đau bụng, tùy chứng thêm Hương phụ, Ngải diệp để ôn kinh lý khí chỉ thống.
Nếu đới hạ lâu ngày, trượt thoát không dứt, tùy chứng thêm Khiếm thực, Long cốt, Mẫu lệ, Ô tặc cốt, Kim anh tử và các vị cố sáp chỉ đới.
Nếu Tỳ hư, thấp uất hóa nhiệt, biểu hiện đới hạ sắc vàng, dính đặc, có mùi hôi, nên kiện Tỳ trừ thấp, thanh nhiệt chỉ đới. Dùng Dị hoàng thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Dị hoàng thang
Sơn dược, Khiếm thực, Xa tiền tử, Bạch quả, Hoàng bá.
Trong phương, Sơn dược, Xa tiền tử kiện Tỳ hóa thấp. Bạch quả, Khiếm thực cố sáp chỉ đới. Hoàng bá thanh nhiệt táo thấp. Các vị hợp dùng, khiến nhiệt đi, thấp hóa, thì đới tự dứt.
Chứng trạng chủ yếu
Đới hạ lượng nhiều, sắc trắng trong lạnh, loãng mỏng như nước, chảy rỉ rả không dứt. Đầu choáng, tai ù, lưng đau như gãy, sợ lạnh, tay chân lạnh, bụng dưới có cảm giác lạnh, tiểu tiện nhiều lần, ban đêm càng rõ, đại tiện lỏng. Sắc mặt tối sạm. Lưỡi nhạt nhuận, rêu mỏng trắng. Mạch trầm tế mà trì.
Phân tích chứng trạng
Thận Dương bất túc, Mệnh môn hỏa suy, khí hóa thất thường, hàn thấp thịnh ở trong, khiến Đới mạch mất ước thúc, Nhâm mạch không cố, nên đới hạ lượng nhiều, sắc trắng trong lạnh, loãng như nước, chảy rỉ rả không dứt.
Thận Dương hư, Bào lạc mất sự ôn ấm, nên bụng dưới có cảm giác lạnh. Bàng quang mất sự ôn hóa, khí hóa thất thường, nên tiểu tiện nhiều lần, ban đêm càng rõ. Hỏa không ôn Thổ, nên đại tiện lỏng. Dương hư, hàn từ trong sinh, nên sợ lạnh, tay chân lạnh. Thận Dương hư, ngoại phủ mất nuôi dưỡng, nên lưng đau như gãy. Thận hư, tủy hải bất túc, nên đầu choáng, tai ù, sắc mặt tối sạm. Lưỡi nhạt nhuận, rêu mỏng trắng, mạch trầm tế mà trì là dấu hiệu của Thận Dương bất túc, hư hàn thịnh ở trong.
Pháp trị
Ôn Thận trợ Dương, sáp tinh chỉ đới.
Phương thang
Nội bổ hoàn, trích từ Nữ Khoa Thiết Yếu.
Lộc nhung, Thỏ ty tử, Đồng tật lê, Hoàng kỳ, Bạch tật lê, Tử uyển nhung, Nhục quế, Tang phiêu tiêu, Nhục thung dung, Chế phụ tử.
Trong phương, Lộc nhung, Nhục thung dung, Thỏ ty tử ôn Thận, điền tinh, ích tủy. Đồng tật lê, Tang phiêu tiêu bổ Thận, sáp tinh, chỉ đới. Phụ tử, Nhục quế ôn Thận tráng Dương, bổ hỏa. Hoàng kỳ ích khí cố nhiếp. Bạch tật lê dưỡng Can Thận mà sơ phong. Tử uyển nhung ôn Phế ích Thận. Toàn phương có công năng ôn Thận trợ Dương, sáp tinh chỉ đới.
Gia giảm
Nếu tiêu chảy, đại tiện lỏng, bỏ Nhục thung dung, tùy chứng thêm Bổ cốt chi, Nhục đậu khấu.
Nếu tinh quan không vững, tinh dịch trượt xuống, đới hạ chảy như băng, gọi là bạch băng, phép trị nên bổ Tỳ Thận, cố Kỳ kinh, tá thêm các vị sáp tinh chỉ đới. Dùng Cố tinh hoàn, trích từ Tế Âm Cương Mục.
Cố tinh hoàn
Mẫu lệ, Tang phiêu tiêu, Long cốt, Bạch thạch chi, Bạch phục linh, Ngũ vị tử, Thỏ ty tử, Cửu tử.
Phương này lấy Long cốt, Mẫu lệ, Bạch thạch chi để cố sáp; Tang phiêu tiêu, Thỏ ty tử, Cửu tử để bổ Thận, cố tinh; Bạch phục linh kiện Tỳ thấm thấp; Ngũ vị tử liễm sáp. Toàn phương nhằm bổ Tỳ Thận, cố nhiếp Kỳ kinh, sáp tinh chỉ đới.
Chứng trạng chủ yếu
Đới hạ lượng không quá nhiều, sắc vàng hoặc đỏ trắng lẫn nhau, chất đặc, hoặc có mùi hôi. Âm bộ khô sáp khó chịu, hoặc có cảm giác nóng rát. Lưng gối đau mỏi, đầu choáng, tai ù, gò má đỏ, môi đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, mất ngủ, nhiều mộng. Lưỡi đỏ, rêu ít hoặc vàng nhờn. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Thận Âm bất túc, Tướng hỏa thiên vượng, làm tổn thương huyết lạc; lại cảm thụ thấp tà, làm tổn thương hai mạch Nhâm Đới, nên đới hạ có thể lượng nhiều, sắc vàng hoặc đỏ trắng lẫn nhau, chất đặc, có mùi hôi, âm bộ có cảm giác nóng rát.
Âm tinh hao hư, âm bộ mất sự nuôi dưỡng, nên khô sáp khó chịu. Thận Âm hao tổn, tủy hải bất túc, nên lưng gối đau mỏi, đầu choáng, tai ù. Âm hư nội nhiệt, nhiệt quấy nhiễu Tâm thần, nên ngũ tâm phiền nhiệt, mất ngủ, nhiều mộng. Lưỡi đỏ, rêu ít hoặc vàng nhờn, mạch tế sác là dấu hiệu của Âm hư kiêm thấp.
Pháp trị
Tư Âm ích Thận, thanh nhiệt khứ thấp.
Phương thang
Tri bá địa hoàng hoàn gia Khiếm thực, Kim anh tử.
Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Trạch tả, Phục linh, Đan bì, Tri mẫu, Hoàng bá, Khiếm thực, Kim anh tử.
Trong phương, Thục địa, Sơn thù du tư bổ Thận Âm, nuôi nguồn tinh huyết. Sơn dược bổ Tỳ Thận. Tri mẫu, Hoàng bá tư Âm thanh nhiệt, tả hư hỏa. Đan bì thanh huyết nhiệt. Trạch tả, Phục linh thấm thấp, giúp thuốc tư Âm không quá trệ. Khiếm thực, Kim anh tử cố sáp chỉ đới. Toàn phương có công năng tư Âm ích Thận, thanh nhiệt khứ thấp, cố sáp chỉ đới.
Gia giảm
Nếu đỏ trắng lẫn nhau nhiều, tùy chứng thêm Sinh địa, Bạch thược, A giao để dưỡng Âm lương huyết.
Nếu âm bộ nóng rát, ngứa nhiều, tùy chứng thêm Khổ sâm, Xà sàng tử, Bạch tiên bì để thanh nhiệt trừ thấp, chỉ ngứa.
Nếu mất ngủ nhiều, tùy chứng thêm Toan táo nhân, Dạ giao đằng.
Chứng trạng chủ yếu
Đới hạ lượng nhiều, sắc vàng, dính đặc, có mùi hôi, hoặc kèm âm bộ ngứa. Ngực bức, tâm phiền, miệng đắng, họng khô, ăn uống kém, bụng dưới hoặc thiếu phúc đau, tiểu tiện ngắn đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn. Mạch nhu sác.
Phân tích chứng trạng
Thấp nhiệt tích tụ ở hạ tiêu, làm tổn thương hai mạch Nhâm Đới, nên đới hạ lượng nhiều, sắc vàng, dính đặc, hôi uế. Thấp nhiệt hun bốc, nên ngực bức, tâm phiền, miệng đắng, họng khô. Thấp nhiệt ngăn trở bên trong, nên ăn uống kém. Thấp nhiệt uẩn kết, ứ trở Bào mạch, nên bụng dưới hoặc thiếu phúc đau. Thấp nhiệt làm tổn thương tân dịch, nên tiểu tiện ngắn đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch nhu sác là dấu hiệu của thấp nhiệt.
Pháp trị
Thanh nhiệt lợi thấp chỉ đới.
Phương thang
Chỉ đới phương, trích từ Thế Bổ Trai Bất Tạ Phương.
Trư linh, Phục linh, Xa tiền tử, Trạch tả, Nhân trần, Xích thược, Đan bì, Hoàng bá, Chi tử, Ngưu tất.
Trong phương, Trư linh, Phục linh, Xa tiền tử, Trạch tả lợi thủy trừ thấp. Nhân trần, Hoàng bá, Chi tử thanh nhiệt, tả hỏa, giải độc. Xích thược, Đan bì lương huyết hóa ứ. Ngưu tất hoạt huyết, đồng thời dẫn thuốc đi xuống, đi thẳng đến nơi bệnh ở hạ tiêu để trừ thấp nhiệt.
Nếu thấp nhiệt hạ chú ở Can kinh, biểu hiện đới hạ lượng nhiều, sắc vàng hoặc vàng xanh như mủ, chất dính đặc hoặc dạng bọt, có mùi hôi, kèm âm bộ ngứa đau, đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô, phiền táo dễ giận, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch huyền hoạt mà sác, phép trị nên tả Can, thanh nhiệt, trừ thấp. Dùng Long đởm tả Can thang, trích từ Y Tông Kim Giám, gia Khổ sâm, Hoàng liên.
Long đởm tả Can thang
Long đởm thảo, Sài hồ, Chi tử, Hoàng cầm, Xa tiền tử, Mộc thông, Trạch tả, Sinh địa, Đương quy, Cam thảo, Khổ sâm, Hoàng liên.
Trong phương, Long đởm thảo, Chi tử, Hoàng cầm, Hoàng liên thanh tả Can kinh thấp nhiệt. Xa tiền tử, Mộc thông, Trạch tả lợi thấp theo đường tiểu tiện. Sinh địa lương huyết dưỡng Âm. Đương quy dưỡng huyết, khiến thanh nhiệt mà không quá thương huyết. Sài hồ sơ Can, dẫn thuốc vào Can kinh. Khổ sâm thanh nhiệt táo thấp, chỉ ngứa. Cam thảo điều hòa các vị thuốc.
Nếu thấp trọc thiên thịnh, biểu hiện đới hạ lượng nhiều, sắc trắng, như bã đậu hoặc như sữa đông, âm bộ ngứa, Vị quản đầy tức, ăn uống kém, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác, phép trị nên thanh nhiệt lợi thấp, sơ phong hóa trọc. Dùng Tỳ giải thấm thấp thang, trích từ Dương Khoa Tâm Đắc Tập, gia Thương truật, Hoắc hương.
Tỳ giải thấm thấp thang
Tỳ giải, Ý dĩ nhân, Hoàng bá, Xích phục linh, Đan bì, Trạch tả, Hoạt thạch, Thông thảo, Thương truật, Hoắc hương.
Trong phương, Tỳ giải, Ý dĩ nhân, Xích phục linh, Trạch tả, Hoạt thạch, Thông thảo thanh nhiệt lợi thấp để hóa trọc. Hoàng bá, Đan bì thanh nhiệt lương huyết. Thương truật, Hoắc hương sơ phong hóa trọc để chỉ ngứa.
Gia giảm
Nếu âm bộ ngứa nhiều, tùy chứng thêm Xà sàng tử, Bạch tiên bì.
Nếu tiểu tiện rát đau, tùy chứng thêm Xa tiền thảo, Biển súc, Cù mạch.
Nếu đới hạ hôi rõ, bụng dưới đau, hoặc bệnh kéo dài không khỏi, cần chú ý thấp nhiệt lâu ngày hóa độc, nên phối hợp thanh nhiệt giải độc và thăm khám nguyên nhân.
Chứng trạng chủ yếu
Đới hạ lượng nhiều, vàng xanh như mủ, hoặc đỏ trắng lẫn nhau, hoặc năm sắc tạp hạ, trạng như nước vo gạo, mùi hôi thối khó chịu. Bụng dưới đau, vùng thắt lưng cùng đau mỏi, miệng đắng, họng khô, tiểu tiện ngắn đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn. Mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Thấp độc xâm nhập bên trong, làm tổn thương hai mạch Nhâm Đới, uế trọc chảy xuống, nên đới hạ lượng nhiều. Nhiệt độc hun nấu, làm tổn thương mạch lạc, nên sắc vàng xanh như mủ, hoặc đỏ trắng lẫn nhau, thậm chí năm sắc tạp hạ, trạng như nước vo gạo, mùi hôi thối khó chịu. Thấp độc uẩn kết, ứ trở Bào mạch, nên bụng dưới đau, vùng thắt lưng cùng đau mỏi. Thấp trọc độc nhiệt bốc lên, nên miệng đắng, họng khô. Thấp nhiệt làm tổn thương tân dịch, nên tiểu tiện ngắn đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác là dấu hiệu của thấp độc uẩn kết.
Pháp trị
Thanh nhiệt giải độc trừ thấp.
Phương thang
Ngũ vị tiêu độc ẩm, trích từ Y Tông Kim Giám, gia Thổ phục linh, Ý dĩ nhân.
Bồ công anh, Kim ngân hoa, Dã cúc hoa, Tử hoa địa đinh, Thiên quỳ tử, Thổ phục linh, Ý dĩ nhân.
Trong phương, Bồ công anh, Kim ngân hoa, Dã cúc hoa, Tử hoa địa đinh thanh nhiệt giải độc. Thiên quỳ tử, Thổ phục linh, Ý dĩ nhân thanh nhiệt giải độc, lợi thủy trừ thấp. Toàn phương có công năng thanh nhiệt giải độc trừ thấp.
Gia giảm
Nếu vùng thắt lưng cùng đau mỏi, đới hạ hôi thối khó chịu, tùy chứng thêm Bán chi liên, Xuyên tâm liên, Ngư tinh thảo, Xú căn bì để thanh nhiệt giải độc, trừ uế.
Nếu tiểu tiện lâm thống, kèm bạch trọc, tùy chứng thêm Thổ ngưu tất, Hổ trượng, Cam thảo sao.
Chú ý
Thể thấp độc uẩn kết thường biểu hiện tà độc khá nặng. Nếu đới hạ hôi thối kéo dài, đỏ trắng lẫn nhau, năm sắc tạp hạ, hoặc sau mãn kinh xuất hiện đới hạ bất thường, cần đặc biệt chú ý thăm khám phụ khoa và kiểm tra loại trừ bệnh biến ác tính, không nên chỉ điều trị như bệnh đới hạ thông thường.
Điều dưỡng và phòng hộ
Bệnh đới hạ ngoài điều trị bằng thuốc còn cần chú ý điều dưỡng. Vùng tiền âm nên giữ sạch, khô thoáng. Trong kỳ kinh và sau sinh càng cần giữ vệ sinh, tránh dầm mưa lội nước, tránh lạnh ẩm xâm nhập, tránh giao hợp không đúng lúc. Nếu có đới hạ hôi, ngứa, đau rát, nên tạm tránh phòng sự và thăm khám để xác định nguyên nhân.
Ăn uống nên thanh đạm, điều độ. Người Tỳ hư cần tránh sống lạnh, béo ngọt quá mức để khỏi sinh thấp. Người thấp nhiệt, thấp độc nên kiêng rượu, cay nóng, thức ăn chiên nướng và các thứ dễ trợ thấp sinh nhiệt. Người Thận Dương hư cần giữ ấm hạ tiêu, tránh lạnh ẩm. Người Âm hư kiêm thấp không nên dùng thuốc quá táo thấp làm hao Âm thêm.
Ngoại trị như xông rửa, tọa dục, thuốc đặt, thuốc bôi có thể dùng khi phù hợp, nhưng cần giữ sạch và đúng chỉ định. Không nên tự ý thụt rửa sâu hoặc dùng thuốc đặt kéo dài khi chưa rõ bệnh, vì có thể làm rối loạn môi trường âm đạo hoặc che lấp bệnh tình.
Nói tóm lại
Bệnh đới hạ lấy đới hạ tăng nhiều, sắc, chất, mùi bất thường làm đặc điểm chính. Tuy biểu hiện ở âm đạo, nhưng bệnh cơ không chỉ ở cục bộ. Gốc bệnh thường liên quan đến Tỳ, Thận, Can, Nhâm mạch và Đới mạch. Thấp tà là yếu tố chủ yếu, nhưng Tỳ Thận thất thường là điều kiện bên trong làm bệnh dễ phát sinh và kéo dài.
Tỳ Dương hư thì vận hóa thất chức, thấp trọc hạ chú, trị bằng kiện Tỳ ích khí, thăng Dương trừ thấp. Thận Dương hư thì Mệnh môn hỏa suy, khí hóa bất lợi, trị bằng ôn Thận trợ Dương, sáp tinh chỉ đới. Âm hư kiêm thấp thì hư nhiệt và thấp cùng quấy nhiễu Nhâm Đới, trị bằng tư Âm ích Thận, thanh nhiệt khứ thấp. Thấp nhiệt hạ chú thì thanh nhiệt lợi thấp chỉ đới. Thấp độc uẩn kết thì thanh nhiệt giải độc trừ thấp.
Điều trị bệnh đới hạ cần nắm một chữ thấp, nhưng không được chỉ biết trừ thấp. Hư thì phải bổ để hóa thấp, thực thì phải thanh lợi để trừ tà; hàn thì ôn, nhiệt thì thanh, độc thì giải, trượt thoát thì cố sáp. Khi Tỳ vận hóa được, Thận khí hóa được, Nhâm mạch điều hòa, Đới mạch ước thúc vững, thấp trọc không còn hạ chú, đới hạ sẽ dần trở về trạng thái bình thường.