Nguyên nhân phổ biến gây viêm nội mạc tử cung mạn tính là gì?
Viêm nội mạc tử cung mạn tính rất hiếm gặp trong thực hành lâm sàng. Điều này là do mặc dù viêm nội mạc tử cung cấp tính xảy ra, khoang tử cung được kết nối với thế giới bên ngoài thông qua lỗ cổ tử cung và dẫn lưu trơn tru, có thể thải ra dịch tiết gây viêm kịp thời; ngoài ra, nội mạc tử cung được bong tróc định kỳ theo kinh nguyệt và nội mạc tử cung bị bệnh có thể được thải ra khỏi cơ thể theo kinh nguyệt, làm cho các tổn thương biến mất.
Tuy nhiên, nếu tình trạng viêm nội mạc tử cung liên quan đến lớp đáy, nó sẽ trở thành nguồn nhiễm trùng lâu dài trong khoang tử cung, liên tục lây nhiễm lớp chức năng của nội mạc tử cung, khiến tình trạng viêm khó chữa khỏi. Khi có nhau thai hoặc màng thai còn sót lại trong khoang tử cung sau khi sinh hoặc phá thai, quá trình phục hồi của nội mạc tử cung sẽ bị ảnh hưởng, hoặc vị trí bám của nhau thai không được phục hồi tốt, có thể dẫn đến nhiễm khuẩn và gây ra viêm nội mạc tử cung mạn tính. Viêm ống dẫn trứng mạn tính hoặc viêm cổ tử cung nặng cũng có thể gây ra viêm nội mạc tử cung mạn tính. Các dụng cụ tử cung có thể gây tổn thương cơ học cho nội mạc tử cung. Nội mạc tử cung được bao phủ bởi u xơ tử cung hoặc polyp dưới niêm mạc thường bị hoại tử và bong ra, tạo cơ hội cho vi khuẩn xâm nhập. Hơn nữa, do nồng độ estrogen ở phụ nữ sau mãn kinh giảm đáng kể, nội mạc tử cung và niêm mạc âm đạo teo và mỏng, nút nhầy cổ tử cung biến mất, khả năng phòng vệ tự nhiên của hệ thống sinh sản bị giảm. Dễ bị vi khuẩn xâm nhập và phát triển thành viêm nội mạc tử cung mạn tính, thường tồn tại cùng với viêm âm đạo. Trên đây là những nguyên nhân phổ biến gây viêm nội mạc tử cung mạn tính. Tuy nhiên, cũng có một số bệnh nhân không tìm thấy nguyên nhân trên lâm sàng. Biểu hiện lâm sàng của viêm nội mạc tử cung mạn tính là gì? Phụ nữ bị viêm nội mạc tử cung mạn tính thường có những thay đổi về kinh nguyệt như kinh nguyệt ra nhiều, chu kỳ kinh nguyệt không đều, kinh nguyệt kéo dài hoặc liên tục, kèm theo các triệu chứng như đau bụng dưới, đau lưng, mệt mỏi, khí hư tăng. Khí hư có màu vàng, loãng và đôi khi có máu. Đau bụng kinh và sốt là những triệu chứng hiếm gặp. Khám phụ khoa thường thấy tử cung hơi to và đau nhẹ. Khoảng 20% bệnh nhân bị viêm nội mạc tử cung mạn tính không có triệu chứng, nhưng được phát hiện qua khám bệnh lý khi nạo buồng tử cung để chẩn đoán các bệnh phụ khoa khác.
Phụ nữ lớn tuổi bị viêm nội mạc tử cung mạn tính thường bị chảy máu sau mãn kinh hoặc khí hư có máu. Lúc này, cần phải nạo buồng tử cung để chẩn đoán phân biệt giữa u nội mạc tử cung và u cổ tử cung.
Y học cổ truyền hiểu viêm nội mạc tử cung mạn tính như thế nào?
Theo các triệu chứng rối loạn kinh nguyệt, đau bụng dưới và khí hư nhiều trong viêm nội mạc tử cung mạn tính, có thể phân loại thành “rau kinh”, “kéo dài thời gian hành kinh” và “khí hư”. Cơ chế xuất hiện của nó chủ yếu là do mạch máu tử cung rỗng trong thời kỳ kinh nguyệt hoặc sau khi sinh con, tà thấp nhiệt lợi dụng sự rỗng để xâm nhập, chống lại huyết âm, chặn mạch tử cung và khiến máu lưu thông kém trong mạch tử cung; hoặc do cả khí và âm đều suy yếu ở tuổi già, tà thấp nhiệt xâm nhập vào cơ thể và tiêu hao dịch âm. Có thể chia thành ba hội chứng để điều trị: nội nhiệt ứ trệ, huyết ứ trệ và nội nhiệt do âm hư.
Loại nội nhiệt ứ trệ: máu kinh nhỏ giọt, đặc và sẫm màu, có mùi hôi. Thông thường, lượng khí hư nhiều hay ít, màu vàng như mủ và có mùi hôi. Đau bụng dưới, miệng dính, nước tiểu vàng. Lưỡi đỏ, rêu vàng và nhờn, trơn và mủ thường xuyên.
Loại huyết ứ: máu kinh nhỏ giọt trong thời gian dài, lúc nhiều lúc ít, màu sẫm có cục, đau bụng dưới và không chịu ấn. Hoặc kèm theo sốt nhẹ, miệng khô và không muốn uống. Lưỡi đỏ sẫm, có chấm xuất huyết hoặc bầm máu, rêu trắng mỏng, mạch tế mỏng.
Thể âm hư nhiệt: triệu chứng kinh nguyệt của người cao tuổi bị gián đoạn và tái phát, màu đỏ nhạt hoặc sẫm, hoặc có dịch vàng, lượng ít và hôi, đau bụng âm ỉ. Hoặc kèm theo khô họng, khát nước, đau lưng gối, chóng mặt, ù tai và sốt nhẹ. Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế mỏng.
Điều trị viêm nội mạc tử cung mạn tính như thế nào?
Phương pháp điều trị viêm nội mạc tử cung mạn tính cũng có thể chia thành hai loại: Tây y và Đông y.
Phương pháp điều trị chính của Tây y là loại bỏ nguyên nhân gây bệnh: nếu do nhau thai hoặc màng thai còn sót lại, có thể nạo bỏ tổn thương bằng cách nạo; nếu do polyp nội mạc tử cung hoặc u xơ dưới niêm mạc gây ra, cần phẫu thuật cắt bỏ polyp và u xơ; nếu do đeo vòng tránh thai, cần tháo vòng tránh thai kịp thời; Khi người cao tuổi bị viêm nội mạc tử cung mạn tính, nên nạo vét chẩn đoán và nong cổ tử cung để dẫn lưu. Trong quá trình điều trị, nên uống kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng tái phát.
Trung y điều trị lấy biện chứng luận trị làm chủ, có thể kết hợp liệu pháp ăn uống, cụ thể như sau:
(1) Thấp nhiệt nội trở: Trị pháp thanh nhiệt lợi thấp kiêm hoạt huyết hóa ứ. Phương dùng Tứ diệu hoàn (《Thành phương tiện độc》) hợp Đào nhân hồng hoa tiễn (《Tố am y án》) gia giảm.
Thành phần: Hoàng bá 10g, Sinh ý dĩ nhân 20g, Thương truật 10g, Ngưu tất 10g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 10g, Xích thược 10g, Đương quy 12g, Xuyên khung 10g, Bại tương thảo 12g, Hồng đằng 12g, Sinh cam thảo 10g.
→ Nếu kinh nguyệt rỉ rả không dứt, sắc đỏ: thêm Ích mẫu thảo 10g, Thiến thảo 15g, Trắc bá diệp 12g để hoạt huyết hóa ứ, lương huyết chỉ huyết.
→ Nếu khí hư ra nhiều, sắc vàng: thêm Xa tiền tử (bọc sắc) 20g, Trạch tả 15g để thanh lợi thấp nhiệt.
(2) Ứ huyết trở trệ: Trị pháp hoạt huyết hóa ứ, hành khí chỉ thống. Phương dùng Huyết phủ trục ứ thang (《Y lâm cải thác》) gia giảm.
Thành phần: Đương quy 10g, Xuyên khung 10g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 6g, Xích thược 12g, Sài hồ 10g, Xuyên ngưu tất 12g, Chỉ xác 10g, Sinh địa 12g.
→ Nếu đau bụng dưới rõ rệt: thêm Phổ hoàng 10g, Ngũ linh chi 10g, Hương phụ 10g để hoạt huyết hành khí chỉ thống.
(3) Âm hư nội nhiệt: Trị pháp tư âm thanh nhiệt. Phương dùng Tri bá địa hoàng hoàn (《Y tông kim giám》) gia giảm.
Thành phần: Tri mẫu 10g, Hoàng bá 10g, Sinh địa 10g, Sơn dược 10g, Sơn thù nhục 10g, Đan bì 10g, Trạch tả 10g, Phục linh 12g, Nữ trinh tử 12g, Hán liên thảo 10g.
→ Nếu khí hư ra vàng, mùi hôi: thêm Bại tương thảo 12g, Sinh ý dĩ nhân 15g, Xa tiền tử 15g để thanh nhiệt lợi thấp chỉ đới.
→ Nếu tâm phiền bức bối: thêm Sao Sơn chi 12g, Uất kim 10g, Sài hồ 10g để sơ can lý khí kiêm thanh nhiệt.
Giới thiệu một số phương ăn uống hỗ trợ điều trị:
Phương ① – Cháo hoè hoa ý mễ (《Chúc phổ》)
Thành phần: Hoè hoa 10g, Ý mễ 30g, Đông qua nhân 20g, Gạo tẻ vừa đủ.
→ Sắc Hoè hoa, Đông qua nhân lấy nước bỏ bã, sau đó thêm Ý mễ và Gạo tẻ nấu thành cháo ăn.
Công hiệu: Ích khí trừ thấp.
Phương ② – Gà hấp Sinh địa hoàng (《Ẩm thiện chính yếu》)
Thành phần: Sinh địa hoàng 250g, Gà ác 1 con, Di đường 150g.
→ Gà làm sạch, bỏ ruột, cắt nhỏ; Sinh địa trộn với Di đường nhét vào bụng gà, chưng cách thủy đến chín, không nêm muối giấm.
Công hiệu: Tư âm thanh nhiệt.
Làm thế nào để phòng ngừa và điều dưỡng viêm nội mạc tử cung mạn tính?
Viêm nội mạc tử cung mạn tính tuy tỷ lệ mắc không cao, nhưng khi đã mắc sẽ ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và công việc, gây đau khổ cho người bệnh. Do đó cần chủ động phòng ngừa.
Ly Trường Xuân dịch