Tiết 1
Tiểu luận về bệnh kinh nguyệt
Phàm chu kỳ kinh nguyệt, thời gian hành kinh và lượng kinh phát sinh bất thường, hoặc những bệnh xuất hiện triệu chứng khó chịu rõ rệt theo chu kỳ kinh nguyệt, đều gọi là bệnh kinh nguyệt. Đây là nhóm bệnh thường gặp trong lâm sàng phụ khoa.
Các bệnh kinh nguyệt thường gặp gồm: kinh nguyệt đến sớm, kinh nguyệt đến muộn, kinh nguyệt trước sau không định kỳ, kinh nguyệt quá nhiều, kinh nguyệt quá ít, kinh kỳ kéo dài, xuất huyết giữa kỳ kinh, băng lậu, bế kinh, thống kinh, sốt theo kỳ kinh, đau đầu theo kỳ kinh, thổ nục theo kỳ kinh, tiêu chảy theo kỳ kinh, vú căng đau theo kỳ kinh, tình chí bất thường theo kỳ kinh, các chứng trước sau kinh đoạn, kinh đoạn rồi lại hành kinh.
Cơ chế phát sinh chủ yếu của bệnh kinh nguyệt là chức năng tạng phủ rối loạn, khí huyết không hòa, dẫn đến hai mạch Xung Nhâm bị tổn thương. Nguyên nhân gây bệnh ngoài ngoại cảm tà khí, nội thương thất tình, phòng lao, sinh đẻ nhiều, ăn uống không điều độ, còn cần chú ý đến ảnh hưởng của thể chất đối với sự phát sinh bệnh kinh nguyệt.
Biện chứng bệnh kinh nguyệt cần chú trọng kỳ kinh, lượng kinh, sắc kinh, chất kinh và các triệu chứng xuất hiện kèm theo chu kỳ kinh nguyệt. Đồng thời phải kết hợp với chứng trạng toàn thân, vận dụng Tứ chẩn và Bát cương để phân tích tổng hợp.
Nguyên tắc điều trị bệnh kinh nguyệt trọng ở trị bản để điều kinh. Trong quá trình luận trị, trước hết cần phân biệt bệnh khác gây rối loạn kinh nguyệt hay kinh nguyệt rối loạn gây ra bệnh khác. Nếu do bệnh khác làm kinh nguyệt không điều hòa, nên trị bệnh khác trước; khi bệnh kia khỏi thì kinh nguyệt tự điều. Nếu do kinh nguyệt không điều hòa mà sinh ra bệnh khác, cần điều kinh; kinh điều thì bệnh kia cũng tự khỏi.
Tiếp theo cần phân biệt tiêu bản, hoãn cấp. Cấp thì trị tiêu, hoãn thì trị bản. Ví dụ, thống kinh dữ dội thì trước hết lấy giảm đau làm chủ. Nếu kinh băng ra nhiều đột ngột, cần lấy cầm máu làm trước. Khi tình thế đã hoãn, phải xét chứng tìm nguyên nhân, trị vào gốc bệnh, mới có thể khiến bệnh kinh nguyệt được điều trị triệt để hơn.
Lại cần phân biệt các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh nguyệt. Trong kỳ kinh, Huyết thất đang mở, khi dùng thuốc đại hàn, đại nhiệt cần thận trọng. Trước kỳ kinh, huyết hải sung thịnh, không nên lạm bổ, nên chú trọng sơ đạo. Sau kỳ kinh, huyết hải trống rỗng, không nên công phá mạnh, nên thiên về điều bổ. Tuy vậy, rốt cuộc vẫn phải căn cứ hư thực của chứng mà cân nhắc công hay bổ. Đây là quy luật chung trong luận trị bệnh kinh nguyệt.
Các đại pháp trị bản của bệnh kinh nguyệt gồm bổ Thận, phù Tỳ, sơ Can, điều lý khí huyết.
“Kinh thủy xuất ư Thận”, vì vậy gốc của điều kinh nằm ở Thận. Bổ Thận là ích chân Âm tiên thiên, lấy điền tinh dưỡng huyết làm chủ, tá thêm các vị trợ Dương ích khí, khiến Dương sinh Âm trưởng, tinh huyết đều vượng, thì kinh nguyệt tự điều. Ngay cả trong trường hợp bệnh do tà khí lục dâm gây ra, sau khi đã khử tà, vẫn nên chú ý bổ Thận.
Phù Tỳ là ích nguồn khí huyết, lấy kiện Tỳ thăng Dương làm chủ. Tỳ Vị kiện vận, khí huyết sung thịnh, thì nguồn thịnh mà dòng chảy tự thông. Tuy nhiên dùng thuốc không nên quá nhiều vị ngọt nhuận hoặc cay ấm, để tránh làm trở ngại Tỳ Dương hoặc hao thương Vị Âm.
Sơ Can là thông điều khí cơ, lấy khai uất hành khí làm chủ, kiêm thêm dưỡng Can, khiến Can khí được sơ thông, khí huyết điều đạt, thì bệnh kinh nguyệt có thể khỏi.
Điều lý khí huyết cần phân biệt bệnh ở khí hay ở huyết. Bệnh ở khí thì trị khí làm chủ, trị huyết làm phụ. Bệnh ở huyết thì trị huyết làm chủ, trị khí làm phụ. Khí huyết bắt nguồn từ tạng phủ; trong các phép bổ Thận, phù Tỳ, sơ Can cũng đã hàm chứa ý điều lý khí huyết.
Trong các phép nói trên, thường lấy bổ Thận và phù Tỳ làm trọng yếu. Cảnh Nhạc Toàn Thư nói: yếu điểm của điều kinh quý ở chỗ bổ Tỳ Vị để giúp nguồn của huyết, dưỡng Thận khí để yên Huyết thất; biết hai điều ấy thì gần như trọn vẹn. Ngoài ra, phụ nữ ở các độ tuổi khác nhau có đặc điểm sinh lý khác nhau, trọng điểm điều trị cũng khác nhau, cần được cân nhắc khi lâm chứng.
Nói tóm lại, bệnh kinh nguyệt là nhóm bệnh thường gặp, bệnh biến đa dạng, hư thực hàn nhiệt thường xen lẫn phức tạp. Người học cần hiểu đầy đủ vai trò của Thận trong việc chủ trì kinh nguyệt, đồng thời chú ý ảnh hưởng của Tỳ, Can và khí huyết đối với kinh nguyệt. Có như vậy mới có thể nắm vững các phép trị và vận dụng linh hoạt trong lâm sàng.
Tiết 2
Kinh nguyệt đến sớm
Kinh nguyệt đến trước chu kỳ bình thường một đến hai tuần gọi là kinh nguyệt đến sớm, cũng gọi là kinh kỳ vượt trước hoặc kinh sớm.
Bệnh này tương đương với một số trường hợp trong y học hiện đại như xuất huyết tử cung do rối loạn chức năng có phóng noãn, đặc biệt là hoàng thể không kiện toàn, hoặc xuất huyết tử cung do viêm nhiễm vùng chậu. Kinh nguyệt đến sớm nếu kèm kinh nguyệt quá nhiều có thể phát triển thành băng lậu, cần được điều trị kịp thời.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu của bệnh này là Xung Nhâm không vững, kinh huyết mất sự chế ước, nên kinh nguyệt đến trước kỳ. Các chứng hình thường gặp gồm khí hư và huyết nhiệt.
Khí hư có thể chia thành Tỳ khí hư và Thận khí hư.
1.1. Tỳ khí hư
Cơ thể vốn hư yếu, hoặc lao lực quá độ, ưu tư không giải, ăn uống thất điều, làm tổn thương Tỳ khí. Tỳ bị tổn thì trung khí hư yếu, Xung Nhâm không cố, không thể thống nhiếp kinh huyết, cho nên kinh nguyệt đến sớm.
1.2. Thận khí hư
Phòng lao, sinh đẻ nhiều, hoặc bệnh lâu ngày làm tổn thương Thận, khiến Thận khí hư yếu. Thận hư thì Xung Nhâm không vững, không thể chế ước kinh huyết, vì vậy kinh nguyệt đến trước kỳ.
Huyết nhiệt có thể chia thành Âm hư huyết nhiệt, Dương thịnh huyết nhiệt và Can uất hóa nhiệt.
2.1. Âm hư huyết nhiệt
Cơ thể vốn Âm hư, hoặc mất máu làm tổn thương Âm, sinh đẻ nhiều, nuôi con nhiều làm hao tổn tinh huyết, hoặc suy nghĩ quá độ khiến Doanh Âm âm thầm hao tổn. Âm huyết hư ít thì hư nhiệt sinh bên trong, nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, Xung Nhâm không cố, không thể chế ước kinh huyết, nên kinh nguyệt đến trước kỳ.
2.2. Dương thịnh huyết nhiệt
Cơ thể vốn Dương thịnh, hoặc ăn quá nhiều thức ăn ôn táo, cay nóng, hoặc cảm thụ nhiệt tà, khiến nhiệt làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết đi càn, nên kinh nguyệt đến trước kỳ.
2.3. Can uất hóa nhiệt
Tính tình vốn uất ức, hoặc tình chí nội thương, uất ức không vui, Can khí uất kết. Uất lâu hóa nhiệt, nhiệt làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, vì vậy kinh nguyệt đến sớm.
Biện chứng luận trị
Biện chứng chủ yếu là phân biệt thuộc khí hư hay huyết nhiệt. Phép trị lấy an Xung làm đại pháp. Tùy chứng mà bổ Tỳ, cố Thận, ích khí; hoặc thanh nhiệt tả hỏa; hoặc tư Âm thanh nhiệt.
1.1. Chứng Tỳ khí hư
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ đến sớm, hoặc kèm lượng kinh nhiều, sắc nhạt, chất loãng. Người mệt, tay chân mỏi, hơi ngắn, lười nói, bụng dưới trống sa, ăn ít, đại tiện lỏng. Lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng trắng. Mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng
Tỳ khí hư yếu, thống huyết không có quyền, Xung Nhâm không vững, nên kinh nguyệt đến sớm, lượng nhiều. Khí hư, huyết mất sự ôn hóa, nên kinh sắc nhạt, chất loãng. Tỳ hư, trung khí bất túc, nên người mệt, tay chân mỏi, hơi ngắn, lười nói, bụng dưới trống sa. Vận hóa thất chức nên ăn ít, đại tiện lỏng. Lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng trắng, mạch hoãn nhược đều là biểu hiện của Tỳ hư.
Pháp trị
Bổ Tỳ ích khí, cố Xung điều kinh.
Phương thang
Thang Bổ trung ích khí, trích từ Tỳ Vị Luận.
Nhân sâm, Hoàng kỳ, Cam thảo, Đương quy, Trần bì, Thăng ma, Sài hồ, Bạch truật.
Gia giảm
Nếu kinh nguyệt quá nhiều, bỏ Đương quy, dùng nặng Hoàng kỳ, Đảng sâm để ích khí nhiếp huyết.
Trong kỳ hành kinh, bỏ Đương quy, tùy chứng thêm Ngải diệp, A giao, Ô tặc cốt để chỉ huyết và cố nhiếp.
Nếu đại tiện lỏng, tùy chứng thêm Sơn dược, Sa nhân, Ý dĩ nhân để phù Tỳ chỉ tả.
Nếu thuộc Tâm Tỳ lưỡng hư, biểu hiện kinh nguyệt đến sớm, hồi hộp, chính xung, mất ngủ nhiều mộng, tay chân mệt mỏi, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược, phép trị nên dưỡng Tâm kiện Tỳ, cố Xung điều kinh. Dùng thang Quy Tỳ, trích từ Hiệu Chú Phụ Nhân Lương Phương.
Thang Quy Tỳ
Bạch truật, Phục thần, Hoàng kỳ, Long nhãn nhục, Toan táo nhân, Nhân sâm, Mộc hương, Đương quy, Viễn chí, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo.
Trong phương, Nhân sâm, Bạch truật, Hoàng kỳ, Cam thảo kiện Tỳ bổ khí, cố Xung. Đương quy, Long nhãn nhục, Đại táo kiện Tỳ dưỡng huyết. Toan táo nhân, Phục thần, Viễn chí dưỡng Tâm an thần. Sinh khương, Mộc hương hành khí tỉnh Tỳ. Toàn phương có công năng bổ Tỳ dưỡng Tâm, cố Xung điều kinh.
1.2. Chứng Thận khí hư
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ đến sớm, lượng ít, sắc nhạt tối, chất trong loãng. Lưng đau, chân mềm, đầu choáng, tai ù, tiểu tiện nhiều lần, sắc mặt tối sạm hoặc có vết sạm. Lưỡi nhạt tối, rêu mỏng trắng. Mạch trầm tế.
Phân tích chứng trạng
“Gốc của Xung Nhâm ở Thận.” Thận khí bất túc, Xung Nhâm không cố, nên kinh nguyệt đến sớm. Thận hư, tinh huyết không đủ, nên lượng kinh ít, kinh sắc nhạt tối, chất loãng. Lưng là phủ bên ngoài của Thận, Thận chủ cốt, Thận hư nên lưng đau, chân mềm. Thận hư, tinh huyết không đủ, tủy hải mất nuôi dưỡng, nên đầu choáng, tai ù. Thận hư thì khí hóa thất thường, nên tiểu tiện nhiều lần. Thận hư khiến sắc của Thận thủy hiện lên trên, nên sắc mặt tối sạm hoặc có vết sạm. Lưỡi nhạt tối, mạch trầm tế cũng là dấu hiệu của Thận hư.
Pháp trị
Bổ Thận ích khí, cố Xung điều kinh.
Phương thang
Thang Cố âm tiễn, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư.
Nhân sâm, Thục địa, Sơn dược, Sơn thù du, Viễn chí, Chích cam thảo, Ngũ vị tử, Thỏ ty tử.
Trong phương, Thỏ ty tử bổ Thận mà ích tinh khí. Thục địa, Sơn thù du tư Thận ích tinh. Nhân sâm, Sơn dược, Chích cam thảo kiện Tỳ ích khí, lấy hậu thiên nuôi tiên thiên để cố Mệnh môn. Ngũ vị tử, Viễn chí giao thông Tâm Thận, khiến Tâm khí thông xuống, tăng cường sức cố nhiếp của Thận khí. Toàn phương có công năng bổ Thận ích khí, cố Xung điều kinh.
Gia giảm
Nếu đau lưng nhiều, tùy chứng thêm Tục đoạn, Đỗ trọng để bổ Thận, giảm đau lưng.
Nếu tiểu đêm nhiều lần, tùy chứng thêm Ích trí nhân, Kim anh tử để cố Thận, rút ngắn tiểu tiện.
2.1. Chứng Âm hư huyết nhiệt
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ đến sớm, lượng ít, sắc đỏ, chất đặc. Gò má đỏ, môi đỏ, lòng bàn tay bàn chân nóng, họng khô, miệng khô. Lưỡi đỏ, ít rêu. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Âm hư nội nhiệt, nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, Xung Nhâm không cố, nên kinh nguyệt đến sớm. Âm hư huyết ít, Xung Nhâm bất túc, huyết hải đầy tràn không nhiều, nên lượng kinh ít. Huyết bị nhiệt nung đốt, nên kinh sắc đỏ, chất đặc. Hư nhiệt bốc lên, nên gò má đỏ, môi đỏ. Âm hư nội nhiệt nên lòng bàn tay bàn chân nóng. Âm hư, tân dịch ít nên họng khô, miệng khô. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác cũng là dấu hiệu của Âm hư huyết nhiệt.
Pháp trị
Dưỡng Âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Phương thang
Thang Lưỡng địa, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Sinh địa, Huyền sâm, Địa cốt bì, Mạch môn, A giao, Bạch thược.
Trong phương, Địa cốt bì, Huyền sâm, Mạch môn dưỡng Âm thanh nhiệt. Sinh địa tư Âm, thanh nhiệt, lương huyết. Bạch thược hòa huyết liễm Âm. A giao tư Âm chỉ huyết. Toàn phương có công năng tư Âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Gia giảm
Nếu kinh nguyệt lượng ít, tùy chứng thêm Sơn dược, Câu kỷ tử, Hà thủ ô để tư Thận, sinh tinh huyết.
Nếu lòng bàn tay bàn chân nóng nhiều, tùy chứng thêm Bạch vi, Sinh quy bản để dưỡng Âm tiềm Dương, thanh hư nhiệt.
2.2. Chứng Dương thịnh huyết nhiệt
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ đến sớm, lượng nhiều, sắc tím đỏ, chất đặc. Tâm hung phiền muộn, khát thích uống lạnh, đại tiện táo kết, tiểu tiện ngắn đỏ, sắc mặt đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Nhiệt làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết đi càn, nên kinh nguyệt đến sớm, lượng nhiều. Huyết bị nhiệt nung đốt, nên kinh sắc tím đỏ, chất đặc. Nhiệt quấy nhiễu hai kinh Tâm Can, nên tâm hung phiền muộn. Nhiệt tà làm tổn thương tân dịch, nên khát thích uống lạnh. Tân dịch ở đại trường thiếu, nên đại tiện táo kết. Nhiệt nung đốt Bàng quang, nên tiểu tiện ngắn đỏ. Sắc mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác là biểu hiện của nhiệt thịnh.
Pháp trị
Thanh nhiệt giáng hỏa, lương huyết điều kinh.
Phương thang
Thanh kinh tán, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Đan bì, Địa cốt bì, Bạch thược, Thục địa, Thanh hao, Hoàng bá, Phục linh.
Trong phương, Hoàng bá, Thanh hao, Đan bì thanh nhiệt giáng hỏa, lương huyết. Thục địa, Địa cốt bì thanh huyết nhiệt mà sinh thủy. Bạch thược dưỡng huyết liễm Âm. Phục linh hành thủy, tiết nhiệt. Toàn phương thanh nhiệt giáng hỏa, lương huyết dưỡng Âm, khiến nhiệt lui mà Âm không bị thương, huyết yên thì kinh tự điều.
Gia giảm
Nếu kinh nguyệt quá nhiều, bỏ Phục linh, tùy chứng thêm Địa du, Thiến thảo căn để lương huyết chỉ huyết.
Nếu kinh hành đau bụng, kinh huyết có lẫn huyết khối, tùy chứng thêm sao Bồ hoàng, Tam thất để hóa ứ chỉ huyết.
2.3. Chứng Can uất hóa nhiệt
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ đến sớm, lượng nhiều hoặc ít, kinh sắc tím đỏ, chất đặc, có huyết khối. Trước kỳ kinh vú, ngực sườn và bụng dưới căng đau. Phiền táo, dễ giận, miệng đắng, họng khô. Lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch huyền sác.
Phân tích chứng trạng
Can uất hóa nhiệt, nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, bức huyết đi càn, nên kinh nguyệt đến sớm. Can uất khiến huyết hải mất sự điều khiển, nên kinh lượng có thể nhiều hoặc ít. Huyết bị nhiệt nung đốt, nên kinh sắc tím đỏ, chất đặc, có khối. Khí trệ ở kinh Can, nên trước kỳ kinh vú, ngực sườn và bụng dưới căng đau. Khí cơ không thông nên phiền táo, dễ giận. Can kinh uất nhiệt nên miệng đắng, họng khô. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác là biểu hiện của Can uất hóa nhiệt.
Pháp trị
Thanh Can giải uất, lương huyết điều kinh.
Phương thang
Đan chi tiêu dao tán, trích từ Nữ Khoa Toát Yếu.
Đan bì, sao Chi tử, Đương quy, Bạch thược, Sài hồ, Phục linh, Chích cam thảo.
Trong phương, Sài hồ, Chi tử, Đan bì sơ Can giải uất, thanh nhiệt lương huyết. Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết nhu Can. Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo bồi Tỳ hòa trung. Toàn phương có công năng thanh Can giải uất, lương huyết điều kinh.
Gia giảm
Nếu kinh nguyệt quá nhiều, trong kỳ kinh bỏ Đương quy, tùy chứng thêm Mẫu lệ, Thiến thảo, sao Địa du để cố Xung chỉ huyết.
Nếu kinh hành không thông, có lẫn huyết khối, tùy chứng thêm Trạch lan, Ích mẫu thảo để hoạt huyết hóa ứ.
Nếu vú căng đau nhiều trong kỳ kinh, tùy chứng thêm Qua lâu, Vương bất lưu hành, Uất kim để giải uất, hành trệ, chỉ thống.
Nói tóm lại
Kinh nguyệt đến sớm lấy kinh kỳ vượt trước một đến hai tuần làm đặc điểm chính. Bệnh cơ trọng yếu là Xung Nhâm không cố, kinh huyết mất sự chế ước. Khi thuộc khí hư, cần xét Tỳ khí hư hay Thận khí hư; khi thuộc huyết nhiệt, cần phân biệt Âm hư huyết nhiệt, Dương thịnh huyết nhiệt hay Can uất hóa nhiệt.
Điều trị không chỉ nhằm làm kinh đến đúng kỳ, mà phải an Xung, cố Nhâm, điều hòa khí huyết và chỉnh lại căn nguyên. Tỳ hư thì bổ Tỳ ích khí, Thận hư thì bổ Thận cố Xung, Âm hư thì tư Âm thanh nhiệt, Dương thịnh thì thanh nhiệt lương huyết, Can uất hóa nhiệt thì thanh Can giải uất. Khi chứng cơ được điều hòa, Xung Nhâm vững, huyết hải có sự chế ước, kinh nguyệt sẽ dần trở lại đúng kỳ.
Tiết 3
Kinh nguyệt đến muộn
Chu kỳ kinh nguyệt chậm hơn bình thường từ bảy ngày trở lên, thậm chí chậm ba đến năm tháng mới hành kinh một lần, nhưng thời gian hành kinh vẫn tương đối bình thường, gọi là kinh nguyệt đến muộn. Bệnh này cũng gọi là kinh kỳ sai hậu hoặc kinh trì.
Bệnh này tương đương với chứng kinh nguyệt thưa trong y học hiện đại. Kinh nguyệt đến muộn nếu kèm kinh lượng quá ít, lâu ngày có thể phát triển thành bế kinh.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là tinh huyết bất túc hoặc tà khí trở trệ, khiến huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, từ đó kinh nguyệt đến muộn. Các thể thường gặp gồm Thận hư, huyết hư, huyết hàn, khí trệ và đàm thấp.
Tiên thiên Thận khí bất túc, hoặc phòng sự không điều độ, phòng lao, sinh đẻ nhiều làm tổn thương Thận khí. Thận hư thì Xung Nhâm bất túc, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, vì vậy kinh hành sai hậu.
Nhiều lần tổn thương huyết, hoặc sinh đẻ nhiều, nuôi con nhiều, sau bệnh cơ thể hư yếu, ăn uống kém, nguồn sinh hóa bất túc, Doanh huyết suy ít, Xung Nhâm không đủ, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, vì vậy kinh hành sai hậu.
3.1. Hư hàn
Cơ thể vốn Dương hư, hoặc bệnh lâu ngày làm tổn thương Dương, Dương hư sinh nội hàn, tạng phủ mất sự ôn dưỡng, sinh hóa không đúng kỳ, khí hư huyết ít, Xung Nhâm bất túc, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, vì vậy kinh hành sai hậu.
3.2. Thực hàn
Trong thời kỳ kinh nguyệt hoặc sau sinh cảm thụ hàn tà, hoặc dùng quá nhiều thuốc hay thức ăn hàn lương, hàn tà tương bác với Xung Nhâm, huyết bị hàn làm ngưng, Bào mạch không thông, huyết hành chậm trệ, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, vì vậy kinh hành sai hậu.
Tính tình vốn uất ức, tình chí không được như ý, khí không tuyên đạt, huyết bị khí làm trệ, Xung Nhâm không thông, khí huyết vận hành chậm trễ, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, vì vậy kinh hành sai hậu.
Cơ thể vốn béo, đàm thấp thịnh ở trong; hoặc lao nhàn quá mức, ăn uống thất điều làm tổn thương Tỳ khí, Tỳ mất kiện vận, đàm thấp nội sinh. Đàm thấp hạ chú Xung Nhâm, bế tắc Bào mạch, khí huyết vận hành chậm, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, vì vậy kinh hành sai hậu.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng là kinh nguyệt đến muộn, nhưng thời gian hành kinh cơ bản bình thường. Điều trị cần phân biệt hư thực. Hư chứng trị bằng ôn kinh dưỡng huyết. Thực chứng trị bằng hoạt huyết hành trệ.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ sai hậu, lượng ít, sắc nhạt tối, chất trong loãng. Lưng đau, chân mềm, đầu choáng, tai ù, đới hạ trong loãng, sắc mặt tối sạm hoặc có vết sạm ở mặt. Lưỡi nhạt tối, rêu mỏng trắng. Mạch trầm tế.
Phân tích chứng trạng
Thận hư, tinh huyết hao ít, Xung Nhâm bất túc, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, nên kinh hành sai hậu, lượng ít, sắc nhạt tối, chất trong loãng. Thận chủ cốt, sinh tủy; não là biển của tủy; lưng là phủ bên ngoài của Thận. Thận hư nên lưng đau, chân mềm, đầu choáng, tai ù. Thận khí hư, thủy mất khí hóa, thấp trọc hạ chú, Đới mạch mất ước thúc, nên đới hạ trong loãng. Thận chủ sắc đen, Thận hư khiến Thận sắc hiện lên trên, nên sắc mặt tối sạm hoặc mặt có vết sạm. Lưỡi nhạt tối, rêu mỏng trắng, mạch trầm tế là dấu hiệu của Thận hư.
Pháp trị
Bổ Thận ích khí, dưỡng huyết điều kinh.
Phương thang
Đại bổ nguyên tiễn, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư.
Nhân sâm, Sơn dược, Thục địa, Đỗ trọng, Đương quy, Sơn thù du, Câu kỷ tử, Chích cam thảo.
Trong phương, Nhân sâm, Sơn dược, Đỗ trọng bổ Thận khí để củng cố Mệnh môn. Sơn thù du, Câu kỷ tử bổ Thận, điền tinh mà sinh huyết. Đương quy, Thục địa dưỡng huyết ích Âm. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có công năng bổ Thận ích khí, dưỡng huyết điều kinh.
Gia giảm
Nếu kinh lượng ít, tùy chứng thêm Tử hà xa, Nhục thung dung, Đan sâm để dưỡng tinh huyết mà hành kinh.
Nếu đới hạ lượng nhiều, tùy chứng thêm Lộc giác sương, Kim anh tử, Khiếm thực để cố sáp chỉ đới.
Nếu kinh nguyệt sai hậu quá lâu, tùy chứng thêm Nhục quế, Ngưu tất để ôn kinh hoạt huyết, dẫn huyết đi xuống.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ sai hậu, lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Bụng dưới đau trống rỗng, đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, mất ngủ, da không nhuận, sắc mặt trắng nhợt hoặc vàng úa. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch tế vô lực.
Phân tích chứng trạng
Doanh huyết hư ít, Xung Nhâm không thể đúng kỳ thông thịnh, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, nên kinh nguyệt sai hậu, lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Huyết hư, Bào mạch mất nuôi dưỡng, nên bụng dưới đau trống rỗng. Huyết hư không thể đi lên nuôi thanh khiếu, nên đầu choáng, mắt hoa. Huyết hư không thể ra ngoài nuôi da cơ, nên da không nhuận, sắc mặt trắng nhợt hoặc vàng úa. Huyết hư không nuôi Tâm, nên hồi hộp, mất ngủ. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế vô lực cũng là dấu hiệu của huyết hư.
Pháp trị
Bổ huyết dưỡng Doanh, ích khí điều kinh.
Phương thang
Nhân sâm dưỡng vinh thang, trích từ Hòa Tễ Cục Phương.
Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Đương quy, Bạch thược, Thục địa, Nhục quế, Hoàng kỳ, Ngũ vị tử, Viễn chí, Trần bì, Sinh khương, Đại táo.
Gia giảm
Nếu kinh nguyệt quá ít, bỏ Ngũ vị tử, tùy chứng thêm Đan sâm, Kê huyết đằng.
Nếu khi hành kinh bụng dưới đau âm ỉ, dùng nặng Bạch thược, tùy chứng thêm A giao, Hương phụ.
3.1. Chứng hư hàn
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ sai hậu, lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Bụng dưới đau âm ỉ, thích ấm, thích ấn. Lưng đau mỏi không sức, tiểu tiện trong dài, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu trắng. Mạch trầm trì vô lực.
Phân tích chứng trạng
Dương khí bất túc, Âm hàn thịnh ở trong, tạng phủ hư hàn, khí huyết sinh hóa không đủ, khí hư huyết ít, Xung Nhâm không thể đúng kỳ thông thịnh, huyết hải đầy tràn chậm, nên kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Bào trung hư hàn, Bào mạch mất sự ôn dưỡng, nên khi hành kinh bụng dưới đau âm ỉ, thích ấm, thích ấn. Dương hư, Thận khí bất túc, ngoại phủ mất nuôi dưỡng, nên lưng đau mỏi không sức. Dương khí không phân bố, nên sắc mặt trắng nhợt. Bàng quang hư hàn, mất sự ôn hóa, nên tiểu tiện trong dài. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm trì vô lực là dấu hiệu của hư hàn.
Pháp trị
Ôn kinh phù Dương, dưỡng huyết điều kinh.
Phương thang
Đại doanh tiễn, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư.
Đương quy, Thục địa, Câu kỷ tử, Chích cam thảo, Đỗ trọng, Ngưu tất, Nhục quế.
Trong phương, Nhục quế ôn kinh phù Dương, thông hành huyết mạch. Thục địa, Đương quy, Câu kỷ tử, Đỗ trọng bổ Thận, điền tinh, dưỡng huyết. Ngưu tất hoạt huyết thông kinh, dẫn huyết đi xuống. Toàn phương có công năng ôn kinh phù Dương, dưỡng huyết điều kinh.
Gia giảm
Nếu khi hành kinh đau bụng dưới, tùy chứng thêm Ba kích thiên, Tiểu hồi hương, Hương phụ.
Nếu hư nhiều, thêm Nhân sâm.
3.2. Chứng thực hàn
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ sai hậu, lượng ít, kinh sắc tím tối có cục. Bụng dưới lạnh đau, cự án, gặp ấm thì đau giảm. Sợ lạnh, tay chân lạnh. Lưỡi tối, rêu trắng. Mạch trầm khẩn hoặc trầm trì.
Phân tích chứng trạng
Hàn tà khách ở Xung Nhâm, huyết bị hàn làm ngưng, vận hành không thông, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, nên kinh nguyệt đến muộn, lượng ít. Hàn ngưng huyết trệ, nên kinh sắc tím tối có cục. Hàn tà khách ở Bào trung, khí huyết vận hành không thông, không thông thì đau, nên bụng dưới lạnh đau; gặp ấm thì khí huyết hơi thông, nên đau giảm. Hàn là Âm tà, dễ làm tổn thương Dương khí, Dương khí không đạt ra ngoài, nên sợ lạnh, tay chân lạnh. Lưỡi tối, rêu trắng, mạch trầm khẩn hoặc trầm trì cũng là dấu hiệu của thực hàn.
Pháp trị
Ôn kinh tán hàn, hoạt huyết điều kinh.
Phương thang
Ôn kinh thang, trích từ Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương.
Nhân sâm, Đương quy, Xuyên khung, Bạch thược, Nhục quế, Nga truật, Đan bì, Cam thảo, Ngưu tất.
Trong phương, Nhục quế ôn kinh tán hàn, thông mạch điều kinh. Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết, hoạt huyết, điều kinh. Nhân sâm vị ngọt ấm bổ khí, lại cùng Nhục quế thông Dương tán hàn. Nga truật, Đan bì, Ngưu tất hoạt huyết khứ ứ, giúp Đương quy, Xuyên khung thông hành huyết trệ. Bạch thược, Cam thảo hoãn cấp chỉ thống. Toàn phương có công năng ôn kinh tán hàn, hoạt huyết điều kinh.
Gia giảm
Nếu hành kinh đau bụng, thêm Tiểu hồi hương, Hương phụ, Diên hồ sách để tán hàn trệ, chỉ thống.
Nếu kinh nguyệt quá ít, tùy chứng thêm Đan sâm, Ích mẫu thảo, Kê huyết đằng để dưỡng huyết, hoạt huyết, điều kinh.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ sai hậu, lượng ít, kinh sắc đỏ tối hoặc có huyết khối. Bụng dưới trướng đau, tinh thần uất ức, ngực bức không thư. Lưỡi bình thường. Mạch huyền.
Phân tích chứng trạng
Huyết bị khí làm trệ, khí huyết Xung Nhâm vận hành không thông, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, nên kinh nguyệt sai hậu, lượng ít. Khí trệ huyết ứ, nên kinh sắc đỏ tối hoặc có huyết khối nhỏ. Khí cơ không thông, kinh mạch uất trệ, nên bụng dưới trướng đau, tinh thần uất ức, ngực bức không thư. Mạch huyền cũng là dấu hiệu của khí trệ.
Pháp trị
Lý khí hành trệ, hoạt huyết điều kinh.
Phương thang
Ô dược thang, trích từ Lan Thất Bí Tàng.
Ô dược, Hương phụ, Mộc hương, Đương quy, Cam thảo.
Trong phương, Ô dược lý khí hành trệ. Hương phụ lý khí điều kinh. Mộc hương hành khí chỉ thống. Đương quy hoạt huyết, hành trệ, điều kinh. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có công năng hành khí hoạt huyết điều kinh.
Gia giảm
Nếu bụng dưới trướng đau nhiều, tùy chứng thêm Nga truật, Diên hồ sách.
Nếu vú căng đau rõ, tùy chứng thêm Sài hồ, Xuyên luyện tử, Vương bất lưu hành.
Nếu kinh nguyệt quá ít, tùy chứng thêm Kê huyết đằng, Xuyên khung, Đan sâm.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh kỳ sai hậu, lượng ít, sắc nhạt, chất dính. Đầu choáng, thân thể béo, hồi hộp, hơi ngắn, vùng Vị quản đầy tức, buồn nôn, đới hạ lượng nhiều. Lưỡi nhạt, to bệu, rêu trắng nhờn. Mạch hoạt.
Phân tích chứng trạng
Đàm thấp thịnh ở trong, trệ ở Xung Nhâm, khí huyết vận hành không thông, huyết hải không thể đúng kỳ đầy tràn, nên kinh kỳ sai hậu, lượng ít, sắc nhạt, chất dính. Đàm thấp đình ở dưới Tâm, khí cơ thăng giáng thất thường, nên đầu choáng, hồi hộp, hơi ngắn, Vị quản đầy tức, buồn nôn. Đàm thấp chảy xuống hạ tiêu, làm tổn thương Đới mạch, Đới mạch mất sự ước thúc, nên đới hạ lượng nhiều. Lưỡi nhạt, to bệu, rêu trắng nhờn, mạch hoạt cũng là dấu hiệu của đàm thấp.
Pháp trị
Táo thấp hóa đàm, hoạt huyết điều kinh.
Phương thang
Khung quy nhị trần thang, trích từ Đan Khê Tâm Pháp.
Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Cam thảo, Sinh khương, Xuyên khung, Đương quy.
Trong phương, Bán hạ, Trần bì, Cam thảo táo thấp hóa đàm, lý khí hòa trung. Phục linh, Sinh khương thấm thấp hóa đàm. Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết hoạt huyết. Toàn phương khiến đàm thấp được trừ, kinh mạch không còn bị trở ngại, kinh nguyệt tự điều.
Gia giảm
Nếu Tỳ hư, ăn ít, thần mệt không sức, tùy chứng thêm Nhân sâm, Bạch truật.
Nếu Vị quản đầy tức, nôn buồn, tùy chứng thêm Sa nhân, Chỉ xác.
Nếu bạch đới lượng nhiều, tùy chứng thêm Thương truật, Xa tiền tử.
Nói tóm lại
Kinh nguyệt đến muộn lấy chu kỳ kinh chậm trên bảy ngày làm đặc điểm chính, thời gian hành kinh thường vẫn tương đối bình thường. Bệnh cơ có hai nhóm lớn: một là hư, tức tinh huyết bất túc, huyết hải không đầy; hai là thực, tức hàn, khí trệ hoặc đàm thấp làm trở ngại Xung Nhâm, khiến huyết hành chậm.
Khi trị, Thận hư thì bổ Thận ích khí, dưỡng huyết điều kinh; huyết hư thì bổ huyết dưỡng Doanh, ích khí điều kinh; hư hàn thì ôn kinh phù Dương, dưỡng huyết điều kinh; thực hàn thì ôn kinh tán hàn, hoạt huyết điều kinh; khí trệ thì lý khí hành trệ, hoạt huyết điều kinh; đàm thấp thì táo thấp hóa đàm, hoạt huyết điều kinh. Mục tiêu chung là làm cho huyết hải đúng kỳ đầy tràn, Xung Nhâm thông thuận, kinh nguyệt trở lại đúng kỳ.
Tiết 4
Kinh nguyệt trước sau không định kỳ
Chu kỳ kinh nguyệt lúc đến trước, lúc đến sau một đến hai tuần, gọi là kinh nguyệt trước sau không định kỳ. Bệnh này cũng gọi là kinh thủy trước sau không định kỳ, nguyệt kinh khiên kỳ, hoặc kinh loạn.
Bệnh này tương đương với rối loạn kinh nguyệt không đều thuộc xuất huyết tử cung do rối loạn chức năng có phóng noãn trong y học hiện đại. Ở tuổi dậy thì, trong vòng một năm sau sơ triều, hoặc ở thời kỳ mãn kinh, nếu kinh nguyệt trước sau không định kỳ mà không có chứng trạng khác, có thể không cần điều trị. Nếu kinh nguyệt trước sau không định kỳ kèm kinh lượng tăng nhiều và kinh kỳ rối loạn, thường có thể phát triển thành băng lậu.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu là khí huyết Xung Nhâm không điều hòa, huyết hải chứa và tràn thất thường. Các thể thường gặp gồm Thận hư, Tỳ hư và Can uất.
Thiếu nữ Thận khí chưa đầy đủ, phụ nữ thời kỳ mãn kinh Thận khí dần suy, hoặc cơ thể vốn Thận khí bất túc, phòng lao, sinh đẻ nhiều, bệnh lâu ngày, bệnh nặng làm tổn thương Thận khí. Thận khí không sung, khai hợp bất lợi, Xung Nhâm thất điều, huyết hải chứa và tràn thất thường, vì vậy kinh hành trước sau không định kỳ.
Cơ thể vốn Tỳ hư, ăn uống không điều độ, hoặc suy nghĩ quá mức làm tổn thương Tỳ khí. Tỳ hư thì thống nhiếp không có quyền và nguồn sinh hóa bất túc, khiến khí huyết Xung Nhâm thất điều, huyết hải chứa và tràn thất thường, vì vậy kinh hành trước sau không định kỳ.
Tính tình vốn uất ức, hoặc phẫn nộ quá mức, khiến Can khí nghịch loạn. Khí loạn thì huyết cũng loạn, Xung Nhâm mất sự điều khiển, huyết hải chứa và tràn thất thường, vì vậy kinh nguyệt trước sau không định kỳ.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng là chu kỳ kinh nguyệt lúc dài lúc ngắn nhưng thời gian hành kinh vẫn bình thường. Điều trị lấy điều lý khí huyết Xung Nhâm làm nguyên tắc. Tùy chứng mà sơ Can giải uất, hoặc điều bổ Tỳ Thận.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh hành lúc trước lúc sau, lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Đầu choáng, tai ù, lưng đau, chân mềm, tiểu tiện nhiều lần. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch trầm tế.
Phân tích chứng trạng
Thận hư, phong tàng thất chức, khai hợp bất lợi, Xung Nhâm thất điều, huyết hải chứa và tràn thất thường, nên kinh hành trước sau không định kỳ. Thận hư thì tủy hải bất túc, nên đầu choáng, tai ù. Lưng là phủ bên ngoài của Thận, Thận chủ cốt, Thận hư nên lưng đau, chân mềm. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm tế là dấu hiệu của Thận hư.
Pháp trị
Bổ Thận ích khí, dưỡng huyết điều kinh.
Phương thang
Cố âm tiễn.
Gia giảm
Nếu đau vùng thắt lưng cùng nhiều, tùy chứng thêm Đỗ trọng, Ba kích thiên.
Nếu đới hạ lượng nhiều, tùy chứng thêm Lộc giác sương, Sa uyển tử, Kim anh tử.
Nếu Can uất kèm Thận hư, biểu hiện kinh nguyệt trước sau không định kỳ, kinh lượng hoặc nhiều hoặc ít, bình thường lưng đau gối mỏi, trước kỳ kinh vú căng đau, tâm phiền dễ giận, lưỡi đỏ tối, rêu trắng, mạch huyền tế, phép trị nên bổ Thận thư Can. Dùng Định kinh thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Định kinh thang
Đương quy, Bạch thược, Thục địa, Sài hồ, Sơn dược, Phục linh, Thỏ ty tử, sao Kinh giới.
Trong phương, Sài hồ, sao Kinh giới sơ Can giải uất. Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết nhu Can. Thục địa, Thỏ ty tử bổ Thận mà ích tinh huyết. Sơn dược, Phục linh kiện Tỳ sinh huyết. Toàn phương thư uất khí của Can Thận, bổ tinh huyết của Can Thận. Can khí được thư, Thận tinh được vượng, khí huyết sơ tiết có chừng mực, huyết hải chứa và tràn bình thường, kinh nguyệt tự không còn loạn trước sau.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh hành lúc trước lúc sau, lượng nhiều, sắc nhạt, chất loãng. Thần mệt không sức, vùng Vị quản và bụng đầy trướng, ăn kém. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch hoãn.
Phân tích chứng trạng
Tỳ hư, thống nhiếp không có quyền, khí huyết Xung Nhâm thất điều, huyết hải chứa và tràn thất thường, nên kinh nguyệt trước sau không định kỳ. Tỳ hư, nguồn sinh hóa khí huyết bất túc, nên kinh sắc đỏ nhạt, chất loãng. Tỳ chủ tứ chi và cơ nhục, Tỳ hư nên thần mệt không sức. Tỳ hư vận hóa thất chức, nên Vị quản và bụng đầy trướng, ăn kém. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn cũng là dấu hiệu của Tỳ hư.
Pháp trị
Bổ Tỳ ích khí, dưỡng huyết điều kinh.
Phương thang
Quy Tỳ thang.
Gia giảm
Nếu ăn ít, bụng trướng, tùy chứng thêm Mạch nha, Sa nhân, Trần bì.
Nếu kinh lượng nhiều, bỏ Sinh khương, Đương quy, tùy chứng thêm Ô tặc cốt, Trần tông thán.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh hành lúc trước lúc sau, kinh lượng hoặc nhiều hoặc ít, sắc đỏ tối, có huyết khối, hoặc kinh hành không thông. Ngực sườn, vú, bụng dưới căng đau. Tinh thần uất muộn, thường muốn thở dài, ợ hơi, ăn ít. Chất lưỡi bình thường, rêu mỏng. Mạch huyền.
Phân tích chứng trạng
Can uất khí kết, khí cơ nghịch loạn, Xung Nhâm mất sự điều khiển, huyết hải chứa và tràn thất thường, nên kinh nguyệt lúc trước lúc sau, kinh huyết lúc nhiều lúc ít. Can khí uất trệ, kinh mạch không lợi, nên kinh hành không thông, sắc tối, có huyết khối. Can uất làm kinh mạch sáp trệ, nên ngực sườn, vú, bụng dưới căng đau. Khí cơ bất lợi, nên tinh thần uất muộn, thường muốn thở dài. Can mạnh lấn Tỳ, Tỳ khí không thư, nên ợ hơi, ăn ít. Chứng thuộc khí trệ, bên trong không có hàn nhiệt rõ rệt, nên lưỡi có thể bình thường. Mạch huyền là dấu hiệu của Can uất.
Pháp trị
Sơ Can giải uất, hòa huyết điều kinh.
Phương thang
Tiêu dao tán, trích từ Hòa Tễ Cục Phương.
Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Bạc hà, ổi Khương.
Gia giảm
Nếu khi kinh đến đau bụng, tùy chứng thêm Hương phụ, Diên hồ sách.
Nếu có huyết khối, tùy chứng thêm Trạch lan, Ích mẫu thảo.
Nếu có nhiệt, thêm Mẫu đơn bì, Chi tử.
Nếu Vị quản đầy tức, ăn kém, tùy chứng thêm Chỉ xác, Hậu phác, Trần bì.
Nếu kiêm Thận hư, tùy chứng thêm Thỏ ty tử, Thục địa, Tục đoạn.
Nói tóm lại
Kinh nguyệt trước sau không định kỳ lấy chu kỳ kinh lúc sớm lúc muộn làm đặc điểm chính. Bệnh cơ là khí huyết Xung Nhâm không điều, huyết hải chứa và tràn thất thường. Thận hư thì khai hợp bất lợi, Tỳ hư thì thống nhiếp và sinh hóa bất túc, Can uất thì khí cơ nghịch loạn.
Điều trị cần điều hòa Xung Nhâm và khí huyết. Thận hư thì bổ Thận ích khí, dưỡng huyết điều kinh; Tỳ hư thì bổ Tỳ ích khí, dưỡng huyết điều kinh; Can uất thì sơ Can giải uất, hòa huyết điều kinh. Nếu Can uất kèm Thận hư, cần thư Can bổ Thận cùng dùng. Khi Thận có gốc, Tỳ có nguồn, Can khí điều đạt, huyết hải chứa và tràn đúng mức, kinh nguyệt sẽ dần ổn định.
Tiết 5
Kinh nguyệt quá nhiều
Chu kỳ kinh nguyệt bình thường, nhưng lượng kinh rõ ràng nhiều hơn trước, gọi là kinh nguyệt quá nhiều, cũng gọi là kinh thủy quá nhiều hoặc nguyệt kinh quá nhiều.
Bệnh này tương đương với một số trường hợp trong y học hiện đại như kinh nguyệt quá nhiều do xuất huyết tử cung rối loạn chức năng có phóng noãn, hoặc do u xơ tử cung, viêm vùng chậu, lạc nội mạc tử cung gây ra. Kinh nguyệt quá nhiều do đặt vòng tránh thai trong tử cung cũng có thể tham khảo cách biện chứng và điều trị của bệnh này.
Nguyên nhân bệnh cơ
Bệnh cơ chủ yếu là Xung Nhâm không vững, kinh huyết mất sự chế ước nên lượng huyết ra nhiều. Các thể thường gặp gồm khí hư, huyết nhiệt và huyết ứ.
Cơ thể vốn hư yếu, hoặc ăn uống thất điều, lao nhọc quá độ, bệnh nặng bệnh lâu ngày làm tổn thương Tỳ khí. Trung khí bất túc, Xung Nhâm không cố, huyết mất thống nhiếp, vì vậy khi hành kinh lượng huyết ra nhiều.
Cơ thể vốn Dương thịnh, hoặc ăn nhiều đồ cay táo, cảm thụ nhiệt tà, thất tình quá cực, uất mà hóa nhiệt. Nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, bức huyết đi càn, vì vậy khi hành kinh lượng huyết ra nhiều.
Tính tình vốn uất ức, hoặc phẫn nộ quá mức khiến khí trệ mà thành huyết ứ; hoặc trong kỳ kinh, sau sinh, huyết dư chưa hết lại cảm thụ ngoại tà; hoặc phòng sự không kiêng, khiến ứ huyết đình lại bên trong. Ứ huyết trở ngại Xung Nhâm, huyết không quy kinh, vì vậy khi hành kinh lượng huyết ra nhiều.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng là kinh lượng nhiều nhưng chu kỳ và kinh kỳ vẫn bình thường. Cần kết hợp sự thay đổi về sắc kinh, chất kinh và chứng trạng toàn thân để phân biệt hư thực, hàn nhiệt.
Điều trị cần chú ý sự khác nhau giữa lúc đang hành kinh và lúc bình thường. Khi bình thường, trị bản là điều kinh; khi đang hành kinh, cần cố Xung chỉ huyết, tiêu bản cùng trị.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh hành lượng nhiều, sắc đỏ nhạt, chất trong loãng. Thần mệt, thân thể mỏi, hơi ngắn, lười nói, bụng dưới trống sa, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng
Khí hư thì Xung Nhâm không cố, kinh huyết mất sự chế ước, nên khi hành kinh lượng huyết nhiều. Khí hư, hỏa suy, không thể hóa huyết thành sắc đỏ tươi, nên kinh sắc đỏ nhạt, chất trong loãng. Khí hư, trung Dương không phấn chấn, nên thần mệt, thân thể mỏi, hơi ngắn, lười nói. Khí hư mất sức thăng đề, nên bụng dưới trống sa. Khí hư, Dương khí không phân bố, nên sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược cũng là biểu hiện của khí hư.
Pháp trị
Bổ khí thăng đề, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
An Xung thang, trích từ Y Học Trung Trung Tham Tây Lục, gia Thăng ma.
Bạch truật, Hoàng kỳ, Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ, Sinh địa, Bạch thược, Hải phiêu tiêu, Thiến thảo căn, Tục đoạn, Thăng ma.
Trong phương, Hoàng kỳ, Bạch truật, Thăng ma bổ khí thăng đề, cố Xung nhiếp huyết. Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ, Hải phiêu tiêu, Tục đoạn cố Xung, thu liễm, chỉ huyết. Sinh địa, Bạch thược lương huyết, liễm Âm. Thiến thảo căn chỉ huyết mà không lưu ứ. Toàn phương có công năng bổ khí thăng đề, cố Xung chỉ huyết.
Gia giảm
Nếu kinh hành có huyết khối hoặc kèm đau bụng, tùy chứng thêm Trạch lan, Tam thất, Ích mẫu thảo.
Nếu kèm đau mỏi vùng thắt lưng cùng, tùy chứng thêm Lộc giác sương, Bổ cốt chi, Tang ký sinh.
Nếu kèm đầu choáng, hồi hộp, đổi Sinh địa thành Thục địa, tùy chứng thêm Chế thủ ô, Ngũ vị tử.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh hành lượng nhiều, sắc đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, chất dính đặc. Miệng khát thích uống lạnh, tâm phiền nhiều mộng, tiểu vàng, đại tiện bí. Lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Dương nhiệt thịnh ở trong, ẩn phục ở Xung Nhâm. Khi hành kinh, nhiệt bức huyết đi, nên kinh hành lượng nhiều. Huyết bị nhiệt nung đốt, nên kinh sắc đỏ, chất đặc. Nhiệt tà làm thương tân, nên miệng khát thích uống lạnh, tiểu vàng, đại tiện bí. Nhiệt quấy nhiễu Tâm thần, nên tâm phiền, nhiều mộng. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác là dấu hiệu của huyết nhiệt.
Pháp trị
Thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Bảo Âm tiễn, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư, gia sao Địa du, Hòe hoa.
Sinh địa, Thục địa, Hoàng cầm, Hoàng bá, Bạch thược, Sơn dược, Tục đoạn, Cam thảo, sao Địa du, Hòe hoa.
Trong phương, Hoàng cầm, Hoàng bá, Sinh địa thanh nhiệt lương huyết. Thục địa, Bạch thược dưỡng huyết liễm Âm. Sơn dược, Tục đoạn bổ Thận cố Xung. Sao Địa du, Hòe hoa lương huyết chỉ huyết. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có công năng thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết.
Gia giảm
Nếu kinh huyết dính đặc có mùi hôi, hoặc bình thường có đới hạ vàng rỉ rả, bụng dưới trĩu đau, dùng nặng Hoàng cầm, Hoàng bá, tùy chứng thêm Mã xỉ hiện, Bại tương thảo, Ý dĩ nhân.
Nếu nhiệt nặng làm thương tân, miệng khô khát, tùy chứng thêm Thiên hoa phấn, Huyền sâm, Mạch môn để sinh tân chỉ khát.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh hành lượng nhiều, sắc tím tối, chất đặc, có huyết khối. Khi hành kinh đau bụng, hoặc bình thường bụng dưới trướng đau. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ. Mạch sáp hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Ứ huyết ngăn trở Xung Nhâm, huyết mới khó yên, nên khi hành kinh lượng huyết nhiều. Ứ huyết kết lại bên trong, nên kinh sắc tím tối, có huyết khối. Ứ trở Bào mạch, không thông thì đau, nên khi hành kinh đau bụng, hoặc bình thường bụng dưới trướng đau. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, mạch sáp hữu lực là dấu hiệu của huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Đào hồng Tứ vật thang, trích từ Y Tông Kim Giám, gia Tam thất, Thiến thảo.
Đương quy, Thục địa, Bạch thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Tam thất, Thiến thảo.
Trong phương, Đào nhân, Hồng hoa hoạt huyết hóa ứ. Đương quy, Xuyên khung hoạt huyết dưỡng huyết, điều kinh. Thục địa, Bạch thược bổ huyết dưỡng Âm để yên Huyết thất. Ứ đi thì Xung Nhâm thông, huyết tự theo đường thường. Gia Tam thất, Thiến thảo để tăng tác dụng khứ ứ chỉ huyết.
Gia giảm
Nếu khi hành kinh đau bụng nhiều, tùy chứng thêm Diên hồ sách, Hương phụ.
Nếu huyết ứ kèm nhiệt, có miệng khát, tâm phiền, tùy chứng thêm Hoàng cầm, Hoàng bá, sao Địa du.
Nói tóm lại
Kinh nguyệt quá nhiều lấy chu kỳ bình thường nhưng kinh lượng tăng rõ làm đặc điểm chính. Bệnh cơ phần nhiều là Xung Nhâm không cố, huyết mất chế ước. Khí hư thì khí không nhiếp huyết; huyết nhiệt thì nhiệt bức huyết đi càn; huyết ứ thì ứ trở Xung Nhâm, huyết không quy kinh.
Điều trị khi đang hành kinh cần chú trọng cố Xung chỉ huyết, nhưng không được quên gốc bệnh. Khí hư thì bổ khí thăng đề; huyết nhiệt thì thanh nhiệt lương huyết; huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ, khiến huyết theo đường thường mà lượng kinh tự giảm.
Tiết 6
Kinh nguyệt quá ít
Chu kỳ kinh nguyệt bình thường, nhưng lượng kinh rõ ràng ít hơn trước, kinh kỳ chưa đến hai ngày, thậm chí chỉ ra nhỏ giọt rồi sạch, gọi là kinh nguyệt quá ít, cũng gọi là kinh thủy sáp thiểu hoặc kinh lượng quá ít.
Bệnh này tương đương với một số trường hợp trong y học hiện đại như kinh nguyệt quá ít do chức năng tuyến sinh dục thấp, lao nội mạc tử cung, viêm nhiễm hoặc nạo tử cung quá sâu gây ra.
Kinh nguyệt quá ít nếu kèm kinh nguyệt đến muộn, lâu ngày có thể phát triển thành bế kinh. Nếu thuộc bệnh biến thực thể, bệnh trình thường dài và hiệu quả điều trị thường kém hơn.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế chủ yếu là tinh hao huyết ít, khí huyết Xung Nhâm bất túc; hoặc hàn ngưng, ứ trở, khí huyết Xung Nhâm không thông, huyết hải đầy tràn không nhiều mà thành bệnh. Các thể thường gặp gồm Thận hư, huyết hư, huyết hàn và huyết ứ.
Tiên thiên bẩm phú bất túc, hoặc phòng lao, bệnh lâu làm tổn thương Thận khí, hoặc nhiều lần đọa thai làm thương tinh hao khí. Thận tinh hao tổn, Thận khí bất túc, Xung Nhâm hư thiếu, huyết hải đầy tràn không nhiều, vì vậy kinh nguyệt lượng ít.
Nhiều lần tổn thương huyết, bệnh nặng bệnh lâu làm Doanh huyết hao hư; hoặc ăn uống lao nhọc, suy nghĩ quá mức làm tổn thương Tỳ khí, Tỳ hư khiến nguồn hóa sinh bất túc, khí huyết Xung Nhâm hao hư, huyết hải đầy tràn không nhiều, vì vậy kinh hành lượng ít.
Trong kỳ kinh hoặc sau sinh cảm thụ hàn tà, hoặc ăn quá nhiều đồ sống lạnh, hàn tà ẩn phục ở Xung Nhâm, huyết bị hàn làm trệ, vận hành không thông, huyết hải đầy tràn không nhiều, khiến kinh hành lượng ít.
Trong kỳ kinh hoặc sau sinh, khi huyết dư chưa sạch, lại nội thương thất tình khiến khí trệ huyết ứ; hoặc cảm thụ tà khí, tà cùng huyết kết, ứ trệ Xung Nhâm, khí huyết vận hành không thông, huyết hải đầy tràn không nhiều, khiến kinh hành lượng ít.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng là kinh lượng giảm rõ nhưng chu kỳ kinh vẫn bình thường, cũng có thể kèm kinh kỳ rút ngắn. Điều trị cần phân biệt hư thực. Hư chứng trọng ở bổ Thận ích tinh, hoặc bổ huyết ích khí để nuôi nguồn của kinh huyết. Thực chứng trọng ở ôn kinh hành trệ, hoặc khứ ứ hành huyết để thông điều Xung Nhâm.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh đến lượng ít, chưa hết ngày đã sạch, hoặc nhỏ giọt rồi ngừng, huyết sắc nhạt tối, chất loãng. Lưng đau, chân mềm, đầu choáng, tai ù, tiểu tiện nhiều lần. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch trầm tế.
Phân tích chứng trạng
Thận khí bất túc, tinh huyết hao hư, khí huyết Xung Nhâm suy ít, huyết hải đầy tràn không nhiều, nên kinh lượng giảm rõ, hoặc nhỏ giọt rồi sạch, sắc nhạt tối, chất loãng. Tinh huyết suy ít, não tủy không đầy, nên đầu choáng, tai ù. Thận hư, lưng chân mất nuôi dưỡng, nên lưng đau, chân mềm. Thận hư, Bàng quang mất sự ôn cố, nên tiểu tiện nhiều lần. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm tế cũng là dấu hiệu của Thận hư.
Pháp trị
Bổ Thận ích tinh, dưỡng huyết điều kinh.
Phương thang
Đương quy địa hoàng ẩm, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư, gia Tử hà xa, Đan sâm.
Đương quy, Thục địa, Sơn thù du, Đỗ trọng, Sơn dược, Ngưu tất, Cam thảo, Tử hà xa, Đan sâm.
Trong phương, Thục địa, Sơn thù du, Đương quy, Tử hà xa bổ Thận ích tinh, dưỡng huyết. Đương quy, Đan sâm dưỡng huyết, hoạt huyết, điều kinh. Đỗ trọng, Ngưu tất bổ Thận, mạnh lưng gối. Sơn dược bổ Tỳ, giúp nguồn sinh hóa. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có công năng bổ Thận điền tinh, dưỡng huyết điều kinh.
Gia giảm
Nếu hình hàn, tay chân lạnh, tùy chứng thêm Nhục quế, Dâm dương hoắc, Nhân sâm.
Nếu tiểu đêm nhiều lần, tùy chứng thêm Ích trí nhân, Tang phiêu tiêu.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh đến lượng ít, chưa hết ngày đã sạch, hoặc nhỏ giọt rồi ngừng, kinh sắc đỏ nhạt, chất loãng. Đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, mất ngủ, da không nhuận, sắc mặt vàng úa. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch tế vô lực.
Phân tích chứng trạng
Doanh huyết suy ít, khí huyết Xung Nhâm bất túc, huyết hải đầy tràn không nhiều, nên kinh lượng ít, chưa hết ngày đã sạch, hoặc nhỏ giọt rồi ngừng, kinh sắc đỏ nhạt, chất loãng. Huyết hư không thể đi lên nuôi thanh khiếu, nên đầu choáng, mắt hoa. Huyết ít, bên trong không nuôi Tâm, nên hồi hộp, mất ngủ. Huyết hư không nuôi da cơ bên ngoài, nên sắc mặt vàng úa, da không nhuận. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế vô lực cũng là dấu hiệu của huyết hư.
Pháp trị
Bổ huyết ích khí điều kinh.
Phương thang
Tư huyết thang, trích từ Chứng Trị Chuẩn Thằng, Nữ Khoa.
Nhân sâm, Sơn dược, Hoàng kỳ, Bạch phục linh, Xuyên khung, Đương quy, Bạch thược, Thục địa.
Trong phương, Thục địa, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung bổ huyết điều kinh. Nhân sâm, Hoàng kỳ, Sơn dược, Phục linh bổ khí kiện Tỳ, ích nguồn sinh hóa khí huyết. Phối hợp lại có tác dụng tư huyết điều kinh.
Gia giảm
Nếu hồi hộp mất ngủ, tùy chứng thêm sao Táo nhân, Ngũ vị tử.
Nếu Tỳ hư ăn ít, thêm Kê nội kim, Sa nhân.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh hành lượng ít, sắc đỏ tối. Bụng dưới lạnh đau, gặp ấm thì đau giảm. Sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng. Lưỡi tối, rêu trắng. Mạch trầm khẩn.
Phân tích chứng trạng
Huyết bị hàn làm ngưng, Xung Nhâm trở trệ, huyết hành không thông, nên kinh hành lượng ít, sắc đỏ tối. Hàn khách ở Bào mạch, nên bụng dưới lạnh đau, gặp ấm thì đau giảm. Hàn làm tổn thương Dương khí, nên sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng. Lưỡi tối, rêu trắng, mạch trầm khẩn là dấu hiệu hàn tà ở lý.
Pháp trị
Ôn kinh tán hàn, hoạt huyết điều kinh.
Phương thang
Ôn kinh thang.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh hành sáp ít, sắc tím đen, có huyết khối. Bụng dưới đau như kim châm, cự án, huyết khối xuống rồi đau giảm, hoặc ngực sườn trướng đau. Lưỡi tím tối, hoặc có ban ứ, điểm tím. Mạch sáp hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Ứ huyết đình lại bên trong, Xung Nhâm trở trệ, nên kinh hành sáp ít, sắc tím đen, có huyết khối. Ứ huyết trở ngại Bào mạch, nên bụng dưới đau như kim châm, cự án. Sau khi huyết khối xuống, ứ trệ hơi thông nên đau giảm. Ứ huyết trở trệ, khí cơ không thông, nên ngực sườn trướng đau. Lưỡi tím tối, hoặc có ban ứ, điểm tím, mạch sáp hữu lực là dấu hiệu của huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, lý khí điều kinh.
Phương thang
Thông ứ tiễn, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư.
Đương quy vĩ, Sơn tra, Hương phụ, Hồng hoa, Ô dược, Thanh bì, Mộc hương, Trạch tả.
Trong phương, Quy vĩ, Sơn tra, Hồng hoa hoạt huyết hóa ứ. Hương phụ lý khí giải uất điều kinh. Ô dược, Thanh bì, Mộc hương hành khí chỉ thống. Trạch tả lợi thủy để hành trệ. Toàn phương có công năng hoạt huyết hóa ứ, lý khí điều kinh.
Gia giảm
Nếu kiêm bụng dưới lạnh đau, mạch trầm trì, tùy chứng thêm Nhục quế, Ngô thù du.
Nếu bình thường bụng dưới đau, hoặc kèm sốt nhẹ không lui, lưỡi tím tối, rêu vàng khô, mạch sác, tùy chứng thêm Đan bì, Chi tử, Trạch lan.
Nói tóm lại
Kinh nguyệt quá ít lấy chu kỳ bình thường nhưng lượng kinh giảm rõ, kinh kỳ ngắn hoặc nhỏ giọt rồi sạch làm đặc điểm chính. Bệnh cơ có thể là hư, tức Thận tinh bất túc, huyết hư không đủ nguồn; cũng có thể là thực, tức huyết bị hàn ngưng hoặc ứ trở, Xung Nhâm không thông.
Điều trị cần xét hư thực. Thận hư thì bổ Thận ích tinh, dưỡng huyết điều kinh; huyết hư thì bổ huyết ích khí; huyết hàn thì ôn kinh tán hàn; huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ, lý khí điều kinh. Dù hư hay thực, mục tiêu đều là làm cho huyết hải có nguồn, Xung Nhâm thông thuận, kinh huyết có thể đến đúng mức.
Tiết 7
Kinh kỳ kéo dài
Chu kỳ kinh nguyệt bình thường, nhưng thời gian hành kinh kéo dài trên bảy ngày, thậm chí hai tuần mới sạch, gọi là kinh kỳ kéo dài, cũng gọi là kinh sự kéo dài.
Bệnh này tương đương với một số trường hợp trong y học hiện đại như kinh kỳ kéo dài do xuất huyết tử cung rối loạn chức năng có phóng noãn, đặc biệt là hoàng thể teo không hoàn toàn, hoặc do viêm vùng chậu, viêm nội mạc tử cung gây ra. Kinh kỳ kéo dài do đặt vòng tránh thai trong tử cung hoặc sau thắt ống dẫn trứng cũng có thể tham khảo cách điều trị của bệnh này.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là Xung Nhâm không vững, kinh huyết mất sự chế ước. Các thể thường gặp gồm khí hư, hư nhiệt và huyết ứ.
Cơ thể vốn hư yếu, hoặc lao nhọc quá độ làm tổn thương Tỳ khí. Trung khí bất túc, Xung Nhâm không cố, không thể chế ước kinh huyết, nên kinh kỳ kéo dài.
Cơ thể vốn Âm hư, hoặc bệnh lâu ngày làm tổn thương Âm, sinh đẻ nhiều, nuôi con nhiều, hoặc ưu tư tích niệm làm Âm huyết hao tổn. Âm hư nội nhiệt, nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, Xung Nhâm không cố, không thể chế ước kinh huyết, khiến kinh kỳ kéo dài.
Tính tình vốn uất ức, hoặc đại nộ làm tổn thương Can, khiến Can khí uất kết, khí trệ huyết ứ. Hoặc trong kỳ kinh giao hợp, khiến ngoại tà khách ở trong Bào, tà cùng huyết tương bác mà thành ứ. Ứ trở Xung Nhâm, kinh huyết đi càn, vì vậy kinh kỳ kéo dài.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng là kinh kỳ kéo dài nhưng chu kỳ kinh bình thường. Điều trị lấy cố Xung điều kinh làm đại pháp. Khí hư thì trọng ở bổ khí thăng đề. Âm hư huyết nhiệt thì trọng ở dưỡng Âm thanh nhiệt. Ứ huyết trở trệ thì lấy thông làm chỉ, không thể nhất loạt dùng thuốc cố sáp, để tránh phạm lỗi hư thì càng hư, thực thì càng thực.
Chứng trạng chủ yếu
Thời gian hành kinh kéo dài, lượng nhiều, kinh sắc đỏ nhạt, chất loãng. Tay chân mệt mỏi, thần mệt, hơi ngắn, lười nói, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng
Khí hư, Xung Nhâm không cố, kinh huyết mất sự chế ước, nên thời gian hành kinh kéo dài, lượng nhiều. Khí hư, hỏa suy, không thể hóa huyết thành sắc đỏ, nên kinh sắc nhạt, chất loãng. Trung khí bất túc nên tay chân mệt mỏi, thần mệt, hơi ngắn, lười nói. Khí hư, Dương khí không phân bố, nên sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược cũng là dấu hiệu của khí hư.
Pháp trị
Bổ khí thăng đề, cố Xung điều kinh.
Phương thang
Cử nguyên tiễn, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư, gia A giao, Ngải diệp, Ô tặc cốt.
Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Chích cam thảo, Thăng ma, A giao, Ngải diệp, Ô tặc cốt.
Trong phương, Nhân sâm, Bạch truật, Hoàng kỳ, Chích cam thảo bổ khí kiện Tỳ, nhiếp huyết. Thăng ma thăng cử trung khí. A giao dưỡng huyết chỉ huyết. Ngải diệp làm ấm Bào cung, chỉ huyết. Ô tặc cốt cố Xung chỉ huyết. Toàn phương có công năng bổ khí thăng đề, cố Xung chỉ huyết.
Gia giảm
Nếu kinh lượng nhiều, tùy chứng thêm Sinh mẫu lệ, Ngũ vị tử, Tông lư thán.
Nếu kèm đau bụng khi hành kinh, kinh huyết có cục, tùy chứng thêm Tam thất, Thiến thảo căn, Huyết dư thán.
Nếu kiêm huyết hư, biểu hiện đầu choáng, hồi hộp, mất ngủ nhiều mộng, tùy chứng thêm Chế thủ ô, Long nhãn nhục, Thục địa.
Chứng trạng chủ yếu
Thời gian hành kinh kéo dài, lượng ít, kinh sắc đỏ tươi, chất đặc. Họng khô, miệng khô, triều nhiệt, gò má đỏ, lòng bàn tay bàn chân nóng, đại tiện táo. Lưỡi đỏ, ít rêu. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Âm hư nội nhiệt, nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, Xung Nhâm không cố, kinh huyết mất sự ước thúc, nên thời gian hành kinh kéo dài. Huyết bị nhiệt nung đốt, nên lượng ít, sắc đỏ, chất đặc. Âm hư nội nhiệt nên gò má đỏ, triều nhiệt, lòng bàn tay bàn chân nóng. Nhiệt làm hao tân dịch, nên họng khô, miệng khô. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác cũng là dấu hiệu của hư nhiệt.
Pháp trị
Dưỡng Âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Phương thang
Thanh huyết dưỡng Âm thang, trích từ Phụ Khoa Lâm Sàng Thủ Sách.
Sinh địa, Đan bì, Bạch thược, Huyền sâm, Hoàng bá, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo.
Trong phương, Hoàng bá, Đan bì thanh nhiệt lương huyết. Sinh địa, Huyền sâm, Hạn liên thảo tư Âm, lương huyết, chỉ huyết. Nữ trinh tử tư Thận Âm. Bạch thược liễm Can Âm. Toàn phương có công năng tư Âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Gia giảm
Nếu kinh lượng ít, tùy chứng thêm Thục địa, Đan sâm.
Nếu triều nhiệt không lui, tùy chứng thêm Bạch vi, Địa cốt bì.
Chứng trạng chủ yếu
Thời gian hành kinh kéo dài, lượng hoặc nhiều hoặc ít, kinh sắc tím tối, có huyết khối. Khi hành kinh bụng dưới đau, cự án. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ nhỏ. Mạch sáp hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Ứ huyết trở ở Xung Nhâm, ứ huyết không đi thì huyết mới khó yên, nên thời gian hành kinh kéo dài, lượng có thể nhiều hoặc ít. Ứ huyết trở trệ, khí huyết vận hành không thông, không thông thì đau, nên khi hành kinh bụng dưới đau, cự án, kinh huyết có khối. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ nhỏ, mạch sáp hữu lực cũng là dấu hiệu của huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết khứ ứ, cố Xung điều kinh.
Phương thang
Tông bồ tán, trích từ Trần Tố Am Phụ Khoa Bổ Giải.
Tông lư thán, Bồ hoàng, thán Quy thân, sao Bạch thược, Xuyên khung, Sinh địa, Đan bì, Tần giao, Trạch lan, Đỗ trọng.
Trong phương, Quy thân, Xuyên khung, Trạch lan hoạt huyết khứ ứ. Đan bì, Sinh địa, Bạch thược lương huyết hòa Âm, thanh tiết huyết phận chi nhiệt. Tần giao, Đỗ trọng mạnh lưng, bổ Thận, cố nhiếp Xung Nhâm. Bồ hoàng thán, Tông lư thán hoạt huyết chỉ huyết. Toàn phương hoạt huyết khứ ứ, lương huyết chỉ huyết, vì vậy kinh nguyệt có thể được điều hòa.
Nói tóm lại
Kinh kỳ kéo dài lấy chu kỳ kinh bình thường nhưng ngày hành kinh quá bảy ngày làm đặc điểm chính. Bệnh cơ chủ yếu là Xung Nhâm không cố, kinh huyết mất ước thúc. Khí hư thì khí không nhiếp huyết; hư nhiệt thì nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm; huyết ứ thì ứ không đi, huyết mới khó yên.
Điều trị cần đặc biệt thận trọng. Khí hư dùng bổ khí thăng đề, cố Xung; hư nhiệt dùng dưỡng Âm thanh nhiệt, lương huyết; huyết ứ dùng hoạt huyết khứ ứ, lấy thông làm chỉ. Không nên thấy kinh kéo dài mà chỉ dùng thuốc cố sáp, vì nếu có ứ mà cố sáp thì ứ càng lưu lại, bệnh càng khó khỏi.
Tiết 8
Xuất huyết giữa kỳ kinh
Chu kỳ kinh nguyệt về cơ bản vẫn bình thường, nhưng vào khoảng giữa hai kỳ kinh, tức lúc Âm Dương đang chuyển hóa, lại phát sinh xuất huyết có tính chu kỳ, gọi là xuất huyết giữa kỳ kinh.
Bệnh này tương đương với xuất huyết thời kỳ rụng trứng trong y học hiện đại. Nếu thời gian xuất huyết kéo dài, lượng huyết tăng nhiều, không được điều trị kịp thời, bệnh có thể phát triển thêm thành băng lậu.
Nguyên nhân bệnh cơ
Giữa chu kỳ kinh nguyệt còn gọi là thời kỳ “cương nhu” chuyển hóa. Đây là giai đoạn Âm tinh của Xung Nhâm sung thực, Âm khí dần trưởng, từ Âm thịnh chuyển sang Dương thịnh. Nếu Thận Âm bất túc, Tỳ khí hư yếu, thấp nhiệt quấy động, hoặc huyết ứ ngăn trở, khiến Âm Dương chuyển hóa không điều hòa, thì có thể phát sinh xuất huyết giữa kỳ kinh.
Các thể thường gặp gồm Thận Âm hư, Tỳ khí hư, thấp nhiệt và huyết ứ.
Cơ thể vốn Âm hư, phòng lao, sinh đẻ nhiều, khiến tinh huyết trong Thận hao tổn. Âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt ẩn phục ở Xung Nhâm. Đến thời kỳ giữa chu kỳ, Dương khí động bên trong, Dương khí thừa Âm mà bức huyết vọng hành, vì vậy phát sinh xuất huyết. Sau khi huyết đã ra, Dương khí cũng theo đó tiết ra ngoài, Âm Dương lại tạm thời trở về cân bằng, nên xuất huyết ngừng. Đến chu kỳ sau, bệnh lại tái phát.
Ưu tư, lao nhọc, hoặc ăn uống không điều độ làm tổn thương Tỳ khí. Tỳ khí hư yếu, Xung Nhâm không vững. Đến thời kỳ giữa chu kỳ, Dương khí động bên trong, nhưng Dương khí bất túc, huyết mất sự thống nhiếp, nên phát sinh xuất huyết. Sau khi huyết ra, Âm theo huyết mà tiết, Âm Dương lại tạm thời trở về cân bằng, nên xuất huyết ngừng. Đến chu kỳ sau, bệnh lại phát.
Ngoại cảm tà thấp nhiệt, hoặc tình chí làm tổn thương, Can uất phạm Tỳ, thủy thấp sinh bên trong, thấp nhiệt kết nhau, uẩn ở Xung Nhâm. Đến thời kỳ giữa chu kỳ, Dương khí động bên trong, kéo theo thấp nhiệt quấy động, bức huyết vọng hành, vì vậy phát sinh xuất huyết. Khi thấp nhiệt theo kinh huyết tiết ra ngoài, Xung Nhâm tạm thời yên ổn, xuất huyết ngừng. Đến chu kỳ sau, bệnh lại tái phát.
Trong kỳ kinh hoặc sau sinh, huyết dư lưu lại bên trong; huyết đã rời khỏi kinh mạch mà tích lại thì thành ứ. Hoặc nội thương tình chí khiến khí uất, huyết kết, lâu ngày thành ứ. Ứ huyết ngăn trở Xung Nhâm. Đến thời kỳ giữa chu kỳ, Dương khí động bên trong, dẫn động ứ huyết, huyết không theo kinh mạch bình thường mà đi, nên phát sinh xuất huyết. Khi ứ theo huyết tiết ra ngoài, Xung Nhâm tạm thời yên, xuất huyết ngừng. Đến chu kỳ sau, bệnh lại phát.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng của bệnh này là xuất huyết tử cung lượng ít, có tính chu kỳ, xảy ra vào thời kỳ giữa chu kỳ kinh nguyệt. Nếu xác định được đúng thời điểm xuất huyết thì việc phân tích càng chính xác.
Điều trị lấy điều hòa sự cân bằng Âm Dương của Xung Nhâm làm đại pháp. Tùy chứng mà dùng pháp tư Thận Âm, bổ Tỳ khí, lợi thấp nhiệt hoặc tiêu ứ huyết.
Chứng trạng chủ yếu
Giữa kỳ kinh xuất huyết, lượng ít, sắc đỏ tươi, chất đặc. Đầu choáng, tai ù, lưng gối đau mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng, ngủ đêm không yên. Lưỡi đỏ, ít rêu. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Thận Âm bất túc, nhiệt ẩn phục ở Xung Nhâm. Đến thời kỳ giữa chu kỳ, Dương khí động bên trong, Dương thừa Âm mà bức huyết vọng hành, nên phát sinh xuất huyết. Âm hư nội nhiệt, nên lượng huyết ít, sắc đỏ tươi, chất đặc. Thận chủ cốt, sinh tủy; Thận Âm hư thì não tủy mất sự nuôi dưỡng, nên đầu choáng, tai ù. Thận hư, lưng gối mất nuôi dưỡng, nên lưng gối đau mỏi. Âm hư nội nhiệt, nên lòng bàn tay bàn chân nóng. Thận thủy hao tổn, không thể đi lên giúp Tâm, nên ngủ đêm không yên. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác cũng là dấu hiệu của Thận Âm hư.
Pháp trị
Tư Thận ích Âm, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Gia giảm Nhất quán tiễn, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư.
Sinh địa, Bạch thược, Mạch môn, Thục địa, Cam thảo, Tri mẫu, Địa cốt bì.
Trong phương, Sinh địa, Thục địa, Tri mẫu tư Thận ích Âm. Địa cốt bì tả Âm hỏa. Bạch thược hòa huyết liễm Âm. Mạch môn dưỡng Âm thanh Tâm. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương hợp lại có công năng tư Thận ích Âm, cố Xung điều kinh, vì vậy có thể làm ngừng xuất huyết.
Gia giảm
Nếu đầu choáng, tai ù, tùy chứng thêm Trân châu mẫu, Sinh mẫu lệ.
Nếu ngủ đêm không yên, tùy chứng thêm Viễn chí, Dạ giao đằng.
Trong thời gian xuất huyết, tùy chứng thêm Hạn liên thảo, sao Địa du, Tam thất.
Chứng trạng chủ yếu
Giữa kỳ kinh xuất huyết, lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Thần mệt, thân thể mỏi, hơi ngắn, lười nói, ăn ít, bụng trướng. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng
Tỳ khí hư yếu, Xung Nhâm không cố. Đến thời kỳ giữa chu kỳ, Dương khí không đủ, không thể thống nhiếp khí huyết, vì vậy xuất huyết. Tỳ hư, nguồn hóa sinh bất túc, nên lượng huyết ít, sắc nhạt, chất loãng. Tỳ khí hư yếu, trung Dương không phấn chấn, nên thần mệt, thân thể mỏi, hơi ngắn, lười nói. Vận hóa thất chức nên ăn ít, bụng trướng. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược cũng là dấu hiệu của Tỳ khí hư.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, cố Xung nhiếp huyết.
Phương thang
Quy Tỳ thang.
Phương này lấy kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần làm nền. Khi Tỳ khí được phục hồi, khí có thể thống huyết, Xung Nhâm được cố, thì xuất huyết giữa kỳ tự giảm. Nếu đang xuất huyết, có thể tùy chứng gia thêm các vị cố Xung chỉ huyết như Ô tặc cốt, Tiên hạc thảo, sao Địa du, Tam thất.
Chứng trạng chủ yếu
Giữa kỳ kinh xuất huyết, huyết sắc đỏ sẫm, chất đặc. Bình thường đới hạ lượng nhiều, màu vàng. Bụng dưới thỉnh thoảng đau, tâm phiền, miệng khát, miệng đắng, họng khô. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn. Mạch hoạt sác.
Phân tích chứng trạng
Thấp nhiệt uẩn ở trong. Đến thời kỳ giữa chu kỳ, Dương khí động bên trong, dẫn động thấp nhiệt, làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, vì vậy xuất huyết. Thấp nhiệt cùng huyết tương bác, nên huyết sắc đỏ sẫm, chất đặc. Thấp nhiệt kết nhau, ứ trệ không thông, nên bụng dưới đau. Thấp nhiệt chảy xuống hạ tiêu, Đới mạch mất ước thúc, nên đới hạ lượng nhiều, màu vàng. Thấp nhiệt hun bốc, nên miệng đắng, họng khô, tâm phiền, miệng khát. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác cũng là biểu hiện của thấp nhiệt.
Pháp trị
Thanh nhiệt trừ thấp, lương huyết chỉ huyết.
Phương thang
Thanh Can chỉ lâm thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa, bỏ A giao, Hồng táo, gia Phục linh, sao Địa du.
Bạch thược, Sinh địa, Đương quy, A giao, Đan bì, Hoàng bá, Ngưu tất, Hương phụ, Hồng táo, Hắc đậu nhỏ, Phục linh, sao Địa du.
Trong phương, Hoàng bá, Hắc đậu, Phục linh thanh nhiệt giải độc, lợi thủy trừ thấp. Hương phụ, Đan bì, Ngưu tất lý khí hoạt huyết chỉ thống. Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết nhu Can, hoãn cấp chỉ thống. Sinh địa, sao Địa du lương huyết chỉ huyết. Toàn phương có công năng thanh nhiệt trừ thấp, lương huyết chỉ huyết.
Gia giảm
Trong thời gian xuất huyết, bỏ Đương quy, Hương phụ, Ngưu tất, tùy chứng thêm Thiến thảo căn, Ô tặc cốt.
Nếu đới hạ lượng nhiều, tùy chứng thêm Mã xỉ hiện, Thổ phục linh.
Nếu ăn kém hoặc sau ăn bụng trướng, bỏ Sinh địa, Bạch thược, tùy chứng thêm Hậu phác, Mạch nha.
Nếu đại tiện không sảng khoái, bỏ Đương quy, Sinh địa, tùy chứng thêm Ý dĩ nhân, Bạch biển đậu.
Chứng trạng chủ yếu
Giữa kỳ kinh xuất huyết, huyết sắc tím tối, có huyết khối. Bụng dưới đau, cự án. Tình chí uất ức. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ. Mạch sáp hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Ứ huyết ngăn trở Xung Nhâm. Đến thời kỳ giữa chu kỳ, Dương khí động bên trong, dẫn động ứ huyết, huyết không theo kinh mạch bình thường mà đi, nên xuất huyết. Huyết sắc tím tối, có huyết khối là dấu hiệu ứ huyết. Ứ trở Bào mạch, nên bụng dưới đau và cự án. Ứ huyết bên trong làm trở ngại khí cơ, nên tình chí uất ức. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, mạch sáp hữu lực cũng là dấu hiệu của huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, lý huyết quy kinh.
Phương thang
Trục ứ chỉ huyết thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Đại hoàng, Sinh địa, Đương quy vĩ, Xích thược, Đan bì, Chỉ xác, Quy bản, Đào nhân.
Trong phương, Đào nhân, Đại hoàng, Xích thược, Đan bì, Quy vĩ hoạt huyết hóa ứ, dẫn huyết quy kinh. Chỉ xác lý khí hành trệ. Sinh địa, Quy bản dưỡng Âm ích Thận, cố Xung chỉ huyết. Toàn phương có công năng hoạt huyết hóa ứ, lý khí quy kinh.
Gia giảm
Trong thời gian xuất huyết, bỏ Xích thược, Đương quy vĩ, tùy chứng thêm Tam thất, sao Bồ hoàng.
Nếu bụng đau khá dữ, tùy chứng thêm Diên hồ sách, Hương phụ.
Nếu kèm nhiệt, tùy chứng thêm Hoàng bá, Tri mẫu.
Nói tóm lại
Xuất huyết giữa kỳ kinh lấy việc xuất huyết lượng ít, có chu kỳ, xảy ra vào khoảng giữa hai kỳ kinh làm đặc điểm chính. Bệnh cơ không chỉ là huyết không được giữ, mà quan trọng hơn là sự chuyển hóa Âm Dương của Xung Nhâm không điều hòa trong thời kỳ giữa chu kỳ.
Thận Âm hư thì tư Thận ích Âm, cố Xung chỉ huyết. Tỳ khí hư thì kiện Tỳ ích khí, cố Xung nhiếp huyết. Thấp nhiệt thì thanh nhiệt trừ thấp, lương huyết chỉ huyết. Huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ, lý huyết quy kinh. Khi Âm Dương Xung Nhâm được điều hòa, huyết có nơi quy về, xuất huyết giữa kỳ sẽ dần ổn định.
Tiết 9
Băng lậu
Phụ nữ không ở trong thời kỳ hành kinh mà âm đạo đột nhiên ra huyết rất nhiều, hoặc huyết chảy rỉ rả không dứt, gọi là băng lậu. Trường hợp trước gọi là băng trung; trường hợp sau gọi là lậu hạ. Nếu kinh kỳ kéo dài đến trên hai tuần, cũng nên thuộc phạm vi băng lậu, gọi là kinh băng hoặc kinh lậu.
Nói chung, đột nhiên xuất huyết, thế bệnh gấp, lượng huyết nhiều gọi là băng. Huyết chảy rỉ rả, thế bệnh chậm, lượng huyết ít gọi là lậu. Tình trạng xuất huyết của băng và lậu tuy không giống nhau, nhưng cơ chế phát bệnh là một. Trong quá trình bệnh, băng và lậu thường có thể chuyển hóa lẫn nhau. Huyết băng lâu ngày, khí huyết hao tổn, có thể chuyển thành lậu. Lậu kéo dài không dứt, bệnh thế tiến triển, cũng có thể chuyển thành băng. Vì vậy, lâm sàng thường gọi chung là băng lậu.
Tế Sinh Phương nói: bệnh băng lậu vốn là một chứng; nhẹ thì gọi là lậu hạ, nặng thì gọi là băng trung. Đây là bệnh thường gặp trong phụ khoa. Do băng và lậu thường thay đổi xen kẽ, nhân quả liên hệ với nhau, nên bệnh dễ kéo dài, khó khỏi, trở thành một chứng nghi nan và nặng trong phụ khoa.
Bệnh này tương đương với xuất huyết tử cung do rối loạn chức năng không phóng noãn trong y học hiện đại. Những trường hợp âm đạo xuất huyết không theo quy luật do viêm nhiễm cơ quan sinh dục hoặc một số khối u sinh dục cũng có thể tham khảo phép biện chứng điều trị của bệnh này.
Nguyên nhân bệnh cơ
Bệnh cơ chủ yếu của băng lậu là Xung Nhâm bị tổn thương, không thể chế ước kinh huyết. Những nguyên nhân thường gặp làm Xung Nhâm không vững gồm Thận hư, Tỳ hư, huyết nhiệt và huyết ứ.
Tiên thiên Thận khí bất túc, thiếu nữ Thận khí còn non yếu, phụ nữ thời kỳ mãn kinh Thận khí dần suy; hoặc kết hôn quá sớm, sinh đẻ nhiều, phòng sự không điều độ làm tổn thương Thận khí.
Nếu hao tổn tinh huyết, sẽ thành Thận Âm hư tổn. Âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt ẩn phục ở Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, khiến kinh huyết không theo thời mà xuống, phát thành băng lậu.
Nếu Mệnh môn hỏa suy, Thận Dương hư tổn, chức năng phong tàng thất thường, Xung Nhâm không cố, không thể chế ước kinh huyết, cũng khiến kinh huyết không theo thời mà xuống, phát thành băng lậu.
Ưu tư quá mức, ăn uống thất điều, lao nhọc làm tổn thương Tỳ khí. Trung khí hạ hãm, Xung Nhâm không cố, huyết mất sự thống nhiếp, không đúng thời mà xuống, vì vậy phát thành băng lậu.
Cơ thể vốn Dương thịnh, hoặc tình chí không thư, Can uất hóa hỏa, hoặc cảm thụ nhiệt tà, hoặc ăn quá nhiều thức cay nóng trợ Dương, khiến hỏa nhiệt thịnh ở trong. Nhiệt làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, huyết không đúng thời mà xuống, vì vậy phát thành băng lậu.
Thất tình nội thương, khí trệ huyết ứ; hoặc cảm thụ hàn tà, nhiệt tà, khiến hàn ngưng hoặc nhiệt nung đốt mà thành ứ. Ứ huyết trở ở Xung Nhâm, huyết không theo kinh mạch bình thường, không đúng thời mà xuống, phát thành băng lậu.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng của băng lậu là âm đạo xuất huyết không có chu kỳ. Khi lâm chứng, cần kết hợp lượng, sắc, chất của huyết và chứng trạng toàn thân để phân rõ hàn, nhiệt, hư, thực.
Điều trị cần căn cứ bệnh tình cấp hay hoãn, nhẹ hay nặng, xuất huyết mới hay lâu, mà vận dụng nguyên tắc “cấp thì trị tiêu, hoãn thì trị bản”. Trong băng lậu, ba pháp “tắc lưu, trừng nguyên, phục cựu” cần được vận dụng linh hoạt.
Tắc lưu là cầm máu. Băng lậu lấy mất huyết làm chủ, vì vậy cầm máu là việc cấp thiết trước mắt. Khi dùng phép cầm máu, còn cần chú ý khác biệt giữa băng và lậu. Trị băng nên cố nhiếp, thăng đề, không nên dùng quá nhiều thuốc cay ấm hành huyết, để tránh mất huyết quá nhiều dẫn đến Âm kiệt Dương thoát. Trị lậu nên dưỡng huyết, hành khí, không nên thiên về cố sáp, để tránh huyết ngừng mà thành ứ. Thuốc tắc lưu có thể tùy chứng dùng Thập hôi tán, Vân Nam bạch dược, Tử địa ninh huyết tán.
Trừng nguyên là tìm nguyên nhân để trị gốc. Băng lậu do nhiều nguyên nhân gây ra, cần căn cứ nguyên nhân cụ thể mà dùng các phép bổ Thận, kiện Tỳ, thanh nhiệt, lý khí, hóa ứ, khiến băng lậu được điều trị từ căn nguyên. Trên lâm sàng, tắc lưu và trừng nguyên thường phải tiến hành song song.
Phục cựu là điều lý sau khi huyết đã ngừng. Sau khi băng lậu đã cầm, cần điều lý Tỳ và ích Thận để thiện hậu. Các y gia qua nhiều đời đều cho rằng sau băng lậu cần điều lý Tỳ Vị, sinh hóa khí huyết, giúp cơ thể phục hồi. Theo nhận thức gần đây, cần bổ ích Thận khí, tái lập chu kỳ kinh nguyệt, như vậy băng lậu mới được điều trị triệt để. “Kinh thủy xuất ư Thận”; Thận khí thịnh thì nguyệt sự mới theo thời mà xuống. Đối với bệnh nhân tuổi dậy thì và tuổi sinh sản thuộc hư chứng, bổ Thận điều kinh càng quan trọng. Dĩ nhiên, phục cựu cũng phải kiêm chiếu đến trừng nguyên.
Nói tóm lại, tắc lưu, trừng nguyên và phục cựu tuy có phân biệt, nhưng có liên hệ nội tại với nhau, cần căn cứ bệnh tình cụ thể mà vận dụng linh hoạt.
1.1. Chứng Thận Âm hư
Chứng trạng chủ yếu
Kinh huyết không đúng thời mà xuống, lượng xuất huyết ít hoặc nhiều, rỉ rả không dứt, huyết sắc đỏ tươi, chất đặc. Đầu choáng, tai ù, lưng gối đau mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng, gò má đỏ, môi đỏ. Lưỡi đỏ, ít rêu. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Thận Âm bất túc, hư hỏa thịnh ở trong, nhiệt ẩn phục ở Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, nên kinh huyết không đúng thời mà xuống, lượng huyết có thể ít hoặc nhiều, rỉ rả không dứt. Âm hư nội nhiệt, nên huyết sắc đỏ tươi, chất đặc. Thận Âm bất túc, tinh huyết suy ít, không thể đi lên nuôi dưỡng các khiếu rỗng, nên đầu choáng, tai ù. Tinh hao huyết ít, không thể nhu dưỡng ngoại phủ, nên lưng gối đau mỏi. Âm hư nội nhiệt nên lòng bàn tay bàn chân nóng. Hư nhiệt bốc lên nên gò má đỏ, môi đỏ. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác cũng là dấu hiệu của Thận Âm hư.
Pháp trị
Tư Thận ích Âm, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Tả quy hoàn, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư, bỏ Xuyên ngưu tất, gia Hạn liên thảo, sao Địa du.
Thục địa, Sơn dược, Câu kỷ tử, Sơn thù du, Thỏ ty tử, Lộc giác giao, Quy bản giao, Hạn liên thảo, sao Địa du.
Trong phương, Thục địa, Câu kỷ tử, Sơn thù du tư Thận Âm mà điền tinh huyết. Sơn dược, Thỏ ty tử bổ Thận khí mà ích tinh, hàm ý Dương sinh thì Âm trưởng. Quy bản giao, Hạn liên thảo, sao Địa du dưỡng Âm, lương huyết, chỉ huyết. Toàn phương có công năng tư Thận ích Âm, cố Xung chỉ huyết.
Gia giảm
Nếu Âm hư có nhiệt rõ, tùy chứng thêm Sinh địa, Mạch môn, Địa cốt bì.
Phương khác có thể dùng
Dục Âm thang, trích từ Bách Linh Phụ Khoa.
Thục địa, Sơn dược, Tục đoạn, Tang ký sinh, Sơn thù du, Hải phiêu tiêu, Quy bản, Mẫu lệ, Bạch thược, A giao, sao Địa du.
Trong phương, Thục địa, Sơn thù du, Tục đoạn, Tang ký sinh bổ Thận ích tinh. Quy bản, Mẫu lệ, Hải phiêu tiêu dưỡng Thận Âm, cố Xung Nhâm, sáp tinh chỉ huyết. Sơn dược bổ Tỳ Âm. Bạch thược liễm Can Âm. A giao dưỡng huyết tư Âm, cũng có tác dụng chỉ huyết. Địa du lương huyết chỉ huyết. Toàn phương vừa tư Thận ích Âm, vừa cố Xung chỉ huyết.
1.2. Chứng Thận Dương hư
Chứng trạng chủ yếu
Kinh huyết không đúng thời mà xuống, lượng huyết nhiều, rỉ rả không dứt, sắc nhạt, chất loãng. Đau lưng như gãy, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng. Sắc mặt tối sạm. Lưỡi nhạt tối, rêu mỏng trắng. Mạch trầm nhược.
Phân tích chứng trạng
Thận Dương hư suy, Xung Nhâm không cố, huyết mất sự phong tàng, nên kinh loạn không kỳ, lượng huyết nhiều, rỉ rả không dứt. Thận Dương bất túc, kinh huyết mất sự ôn hóa, nên sắc nhạt, chất loãng. Thận Dương hư suy, ngoại phủ mất nuôi dưỡng, nên đau lưng như gãy, sợ lạnh, tay chân lạnh. Bàng quang mất sự ôn hóa, nên tiểu tiện trong dài. Thận Dương hư không thể đi lên ôn Tỳ thổ, nên đại tiện lỏng. Sắc mặt tối sạm, lưỡi nhạt tối, rêu mỏng trắng, mạch trầm nhược cũng là dấu hiệu của Thận Dương bất túc.
Pháp trị
Ôn Thận trợ Dương, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Đại bổ nguyên tiễn, tùy chứng gia Bổ cốt chi, Lộc giác giao, Ngải diệp thán.
Đại bổ nguyên tiễn lấy bổ Thận ích khí, dưỡng huyết làm nền. Gia Bổ cốt chi để ôn Thận trợ Dương; Lộc giác giao để bổ tinh huyết, trợ Dương khí; Ngải diệp thán để ôn kinh, chỉ huyết. Toàn phương nhằm ôn phục Thận Dương, củng cố Xung Nhâm, khiến huyết có nơi phong tàng.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh huyết không đúng thời mà xuống, lượng nhiều như băng, hoặc rỉ rả không dứt, sắc nhạt, chất loãng. Thần mệt, thân thể mỏi, hơi ngắn, lười nói, không muốn ăn, tay chân không ấm, hoặc mặt phù, tay chân phù, sắc mặt vàng nhạt. Lưỡi nhạt to bệu, rêu mỏng trắng. Mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng
Tỳ khí hư hãm, Xung Nhâm không cố, huyết mất sự thống nhiếp, nên kinh huyết không đúng thời mà xuống, lượng nhiều như băng, hoặc rỉ rả không dứt. Tỳ hư, nguồn sinh hóa khí huyết bất túc, nên huyết sắc nhạt, chất loãng. Tỳ hư, trung khí bất túc, nên thần mệt, thân thể mỏi, hơi ngắn, lười nói. Tỳ chủ tứ chi, Tỳ hư thì tứ chi mất sự ôn dưỡng, nên tay chân không ấm. Tỳ hư, trung Dương không phấn chấn, vận hóa thất chức, nên không muốn ăn. Tỳ mất vận hóa, thủy thấp đình lại trong cơ thể, tràn ra da cơ, nên mặt phù, tay chân phù. Sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt to bệu, rêu mỏng trắng, mạch hoãn nhược cũng là biểu hiện của Tỳ hư.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Cố Xung thang, trích từ Y Học Trung Trung Tham Tây Lục.
Bạch truật, Hoàng kỳ, nung Long cốt, nung Mẫu lệ, Sơn thù du, Bạch thược, Hải phiêu tiêu, Thiến thảo căn, Tông thán, Ngũ bội tử.
Trong phương, Hoàng kỳ, Bạch truật kiện Tỳ ích khí để nhiếp huyết. Long cốt, Mẫu lệ, Hải phiêu tiêu cố nhiếp Xung Nhâm. Sơn thù du, Bạch thược ích Thận dưỡng huyết, vị chua thu liễm để chỉ huyết. Ngũ bội tử, Tông thán sáp huyết chỉ huyết. Thiến thảo căn hoạt huyết chỉ huyết, cầm huyết mà không lưu ứ. Toàn phương có công năng kiện Tỳ ích khí, cố Xung chỉ huyết.
Gia giảm
Nếu lượng xuất huyết nhiều, tùy chứng thêm Nhân sâm, Thăng ma.
Nếu lậu kéo dài không dứt, tùy chứng thêm Ngẫu tiết, sao Bồ hoàng.
Nếu âm đạo xuất huyết rất nhiều, kèm tay chân lạnh, mồ hôi ra, ngất xỉu không biết người, mạch vi tế muốn tuyệt, đó là nguy chứng khí theo huyết mà thoát. Cần gấp bổ khí cố thoát, có thể dùng Độc sâm thang, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư.
Độc sâm thang
Nhân sâm 25g, sắc lấy nước đặc, uống một lần; bã thuốc sắc lại rồi uống tiếp.
Hoặc dùng Sinh mạch tán, trích từ Nội Ngoại Thương Biện Hoặc Luận, để ích khí sinh tân, liễm Âm chỉ hãn mà cố thoát.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh huyết không đúng thời mà xuống, lượng huyết nhiều, sắc đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, chất dính đặc. Tâm phiền, miệng khát, thích uống lạnh, mặt đỏ, tiểu tiện vàng đỏ, đại tiện táo. Có thể kèm bứt rứt, ngủ không yên. Lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch hoạt sác hoặc hồng sác.
Phân tích chứng trạng
Hỏa nhiệt thịnh ở trong, nhiệt làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, nên kinh huyết không đúng thời mà xuống, lượng nhiều. Huyết bị nhiệt nung đốt, nên sắc đỏ tươi hoặc đỏ sẫm, chất dính đặc. Nhiệt nhiễu Tâm thần, nên tâm phiền, ngủ không yên. Nhiệt làm thương tân dịch, nên miệng khát, thích uống lạnh, tiểu tiện vàng đỏ, đại tiện táo. Mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác hoặc hồng sác đều là biểu hiện của nhiệt thịnh.
Pháp trị
Thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Bảo Âm tiễn, tùy chứng gia sao Địa du, Hòe hoa, hoặc dùng các phương thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết theo chứng.
Sinh địa, Thục địa, Hoàng cầm, Hoàng bá, Bạch thược, Sơn dược, Tục đoạn, Cam thảo, sao Địa du, Hòe hoa.
Trong phương, Hoàng cầm, Hoàng bá, Sinh địa thanh nhiệt lương huyết. Thục địa, Bạch thược dưỡng huyết liễm Âm. Sơn dược, Tục đoạn bổ Thận cố Xung. Sao Địa du, Hòe hoa lương huyết chỉ huyết. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có công năng thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết.
Gia giảm
Nếu huyết nhiệt rất mạnh, sắc đỏ tươi, miệng khát, đại tiện bí, có thể tùy chứng gia Đan bì, Chi tử, Huyền sâm.
Nếu xuất huyết lâu ngày làm tổn Âm, kèm họng khô, triều nhiệt, lòng bàn tay bàn chân nóng, nên phối hợp tư Âm thanh nhiệt, như thêm Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Địa cốt bì.
Nếu huyết ra nhiều mà có dấu hiệu khí hư, nên kiêm ích khí nhiếp huyết, không nên chỉ dùng thuốc hàn lương quá mức.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh huyết không đúng thời mà xuống, lượng huyết lúc nhiều lúc ít, rỉ rả không dứt, sắc tím tối, có huyết khối. Bụng dưới đau, cự án, huyết khối xuống rồi đau giảm. Có thể kèm ngực sườn trướng đau, sắc mặt tối, môi tím. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, ban ứ. Mạch sáp hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Ứ huyết trở ở Xung Nhâm, huyết không theo kinh mạch bình thường, nên kinh huyết không đúng thời mà xuống, lượng lúc nhiều lúc ít, rỉ rả không dứt. Ứ huyết nội kết, nên sắc tím tối, có huyết khối. Ứ trở Bào mạch, không thông thì đau, nên bụng dưới đau, cự án. Huyết khối xuống thì ứ trệ tạm thông, nên đau giảm. Nếu khí trệ kèm theo, có thể ngực sườn trướng đau. Sắc mặt tối, môi tím, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, mạch sáp hữu lực đều là biểu hiện huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Có thể tham khảo Đào hồng Tứ vật thang gia Tam thất, Thiến thảo, hoặc Trục ứ chỉ huyết thang, tùy chứng gia giảm.
Đào hồng Tứ vật thang gia giảm
Đương quy, Thục địa, Bạch thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Tam thất, Thiến thảo.
Trong phương, Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên khung, Đương quy hoạt huyết hóa ứ. Thục địa, Bạch thược dưỡng huyết liễm Âm, giúp Huyết thất được yên. Tam thất, Thiến thảo hóa ứ chỉ huyết, cầm huyết mà không lưu ứ. Khi ứ đi, Xung Nhâm thông, huyết trở về đường thường, thì băng lậu có thể dứt.
Gia giảm
Nếu bụng dưới đau nhiều, tùy chứng thêm Diên hồ sách, Hương phụ.
Nếu ứ kèm nhiệt, huyết sắc đỏ sẫm, chất đặc, miệng khô, tâm phiền, tùy chứng thêm Đan bì, Chi tử, Hoàng bá.
Nếu lậu kéo dài, huyết ra ít mà sắc tím tối, có cục, không nên vội dùng thuốc sáp mạnh; cần hoạt huyết để ứ đi, huyết mới yên.
Nói tóm lại
Băng lậu lấy xuất huyết âm đạo không theo chu kỳ làm đặc điểm chính. Băng là huyết ra nhiều, thế gấp; lậu là huyết rỉ rả, thế chậm. Hai hình thái tuy khác nhau nhưng cùng chung bệnh cơ là Xung Nhâm bị tổn thương, không thể chế ước huyết.
Điều trị cần nắm ba pháp: tắc lưu, trừng nguyên, phục cựu. Khi huyết ra nhiều, trước hết phải tắc lưu để cầm máu, bảo hộ khí huyết. Sau đó phải trừng nguyên, tìm đúng nguyên nhân là Thận hư, Tỳ hư, huyết nhiệt hay huyết ứ để trị vào gốc. Khi huyết đã ngừng, cần phục cựu, điều lý Tỳ Thận, dưỡng khí huyết, giúp chu kỳ kinh nguyệt dần được tái lập.
Thận Âm hư thì tư Thận ích Âm, cố Xung chỉ huyết. Thận Dương hư thì ôn Thận trợ Dương, cố Xung chỉ huyết. Tỳ hư thì kiện Tỳ ích khí, cố Xung chỉ huyết. Huyết nhiệt thì thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết. Huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ, cố Xung chỉ huyết. Trong đó, cần đặc biệt tránh hai sai lầm: thấy xuất huyết thì chỉ biết cố sáp, khiến ứ huyết lưu lại; hoặc thấy huyết ứ thì công phá quá mức, làm chính khí càng hư. Điều trị băng lậu phải vừa chặn dòng, vừa tìm nguồn, vừa giúp cơ thể trở lại trật tự sinh lý bình thường.
Tiết 10
Bế kinh
Nữ giới đã quá mười tám tuổi mà kinh nguyệt vẫn chưa hành, hoặc sau khi đã có kinh rồi lại ngừng trên sáu tháng, gọi là bế kinh. Trường hợp trước gọi là bế kinh nguyên phát; trường hợp sau gọi là bế kinh thứ phát. Trong y thư cổ, bệnh này còn được gọi là nữ tử bất nguyệt, nguyệt sự bất lai, kinh thủy bất thông, kinh bế.
Kinh nguyệt ngừng trong thời kỳ thai nghén, thời kỳ cho con bú hoặc thời kỳ mãn kinh thuộc hiện tượng sinh lý, không luận là bế kinh. Một số thiếu nữ trong vòng hai năm đầu sau sơ triều thỉnh thoảng có hiện tượng kinh nguyệt tạm ngừng, nếu không kèm chứng trạng khác, cũng có thể chưa cần điều trị.
Bế kinh là một chứng khó trị, bệnh trình thường dài, hiệu quả điều trị thường chậm. Vì vậy, khi cần thiết nên phối hợp nhiều phương pháp điều trị để nâng cao hiệu quả. Nếu do bẩm sinh không có cơ quan sinh sản, hoặc do tổn thương thực thể mắc phải khiến không có kinh nguyệt, thuốc thường khó đạt hiệu quả, không thuộc phạm vi bàn luận chính của tiết này.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là khí huyết Xung Nhâm mất điều hòa, có hai phương diện hư và thực.
Hư chứng là do Xung Nhâm hao bại, nguồn đã đứt thì dòng không thể chảy. Thực chứng là do tà khí ngăn trở Xung Nhâm, kinh huyết không thông.
Nguyên nhân dẫn đến bế kinh khá phức tạp, có thể do yếu tố tiên thiên, cũng có thể do hậu thiên mắc phải; có thể phát triển từ kinh nguyệt không điều hòa, cũng có thể do bệnh khác dẫn đến bế kinh. Các thể thường gặp gồm Thận hư, Tỳ hư, huyết hư, khí trệ huyết ứ, hàn ngưng huyết ứ và đàm thấp trở trệ.
Tiên thiên bất túc, thiếu nữ Thận khí chưa đầy, tinh khí chưa thịnh; hoặc phòng lao, sinh đẻ nhiều, bệnh lâu ngày làm tổn thương Thận, khiến Thận tinh hao tổn, khí huyết Xung Nhâm bất túc, huyết hải không thể đầy tràn, vì vậy kinh nguyệt ngừng lại.
Ăn uống không điều độ, lao nhọc quá mức, ưu tư làm tổn thương Tỳ, hoặc cơ thể vốn Tỳ Vị hư yếu, khiến nguồn sinh hóa khí huyết bất túc. Khí huyết không sinh, Xung Nhâm không được nuôi, huyết hải không đầy, lâu dần có thể dẫn đến bế kinh.
Nhiều lần mất huyết, sinh đẻ nhiều, nuôi con nhiều, hoặc bệnh lâu ngày làm hao tổn Doanh huyết; hoặc ăn uống kém, Tỳ Vị không đủ sức sinh hóa, khiến huyết hư ngày càng nặng. Huyết hải không đầy, Xung Nhâm không đủ, kinh nguyệt dần ít rồi ngừng.
Tình chí uất ức, Can khí không thư, khí cơ uất trệ, khí trệ thì huyết ứ. Hoặc sau kinh, sau sinh, huyết dư chưa sạch mà lại bị tình chí làm tổn thương, khí huyết kết lại thành ứ, ứ trở Xung Nhâm, huyết hải không thể đầy và tràn, vì vậy kinh nguyệt ngừng lại.
Trong kỳ kinh hoặc sau sinh cảm thụ hàn tà, hoặc ăn quá nhiều đồ sống lạnh, hàn tà ẩn phục ở Xung Nhâm, huyết gặp hàn thì ngưng, Bào mạch không thông. Huyết hành bị trở ngại, Xung Nhâm bế tắc, lâu ngày có thể thành bế kinh.
Cơ thể vốn béo, đàm thấp thịnh ở trong; hoặc ăn uống thất điều, lao nhọc làm tổn thương Tỳ, Tỳ mất kiện vận, thủy thấp không hóa, tụ lại thành đàm. Đàm thấp hạ chú Xung Nhâm, chiếm giữ huyết hải, làm bế tắc Bào mạch, kinh huyết không thể thông hành, vì vậy kinh nguyệt ngừng lại.
Biện chứng luận trị
Sau khi xác định là bế kinh, còn cần phân biệt rõ đó là bệnh kinh nguyệt tự thân hay do bệnh khác gây nên. Nếu do bệnh khác dẫn đến bế kinh, trước hết cần điều trị bệnh kia, sau đó mới điều kinh.
Biện chứng trọng ở phân biệt hư, thực, hoặc hư thực xen lẫn. Khi điều trị, hư chứng thì dùng bổ Thận tư Thận, hoặc bổ Tỳ ích khí, hoặc bổ huyết ích Âm để nuôi nguồn của kinh huyết. Thực chứng thì dùng hành khí hoạt huyết, ôn kinh thông mạch, hoặc khứ tà hành trệ để khai thông kinh mạch Xung Nhâm. Bệnh này hư chứng nhiều, thực chứng ít, rất kỵ dùng phép công phá bừa bãi, để tránh phạm lỗi hư thì làm hư thêm, thực thì làm thực thêm.
1.1. Chứng Thận khí hư
Chứng trạng chủ yếu
Kinh nguyệt sơ triều đến muộn, hoặc kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, dần dần thành bế kinh. Đầu choáng, tai ù, lưng đau, chân mềm, tiểu tiện nhiều lần, ham muốn tình dục giảm. Lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng trắng. Mạch trầm tế.
Phân tích chứng trạng
Thận khí bất túc, tinh huyết suy ít, khí huyết Xung Nhâm không đủ, huyết hải không thể đầy tràn, nên kinh nguyệt sơ triều đến muộn, hoặc kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, dần dần ngừng hẳn. Thận hư không thể hóa sinh tinh huyết, tủy hải và lưng mất nuôi dưỡng, nên đầu choáng, tai ù, lưng đau, chân mềm. Thận khí hư, Dương khí bất túc, nên ham muốn giảm. Thận hư không thể ôn hóa Bàng quang, nên tiểu tiện nhiều lần. Lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng trắng, mạch trầm tế cũng là dấu hiệu của Thận khí hư.
Pháp trị
Bổ Thận ích khí, dưỡng huyết điều kinh.
Phương thang
Đại bổ nguyên tiễn gia Đan sâm, Ngưu tất.
Gia giảm
Nếu bế kinh lâu ngày, sợ lạnh, tay chân lạnh rõ, tùy chứng thêm Thỏ ty tử, Nhục quế, Tử hà xa.
Nếu tiểu đêm nhiều lần, tùy chứng thêm Kim anh tử, Phúc bồn tử.
1.2. Chứng Thận Âm hư
Chứng trạng chủ yếu
Kinh nguyệt sơ triều đến muộn, hoặc kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, dần dần thành bế kinh. Đầu choáng, tai ù, lưng gối đau mỏi, hoặc đau gót chân, lòng bàn tay bàn chân nóng, nặng thì triều nhiệt, ra mồ hôi trộm, tâm phiền, ngủ ít, gò má đỏ, môi đỏ. Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không rêu. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Thận Âm bất túc, tinh huyết hao hư, khí huyết Xung Nhâm suy ít, huyết hải không thể đầy tràn, nên kinh nguyệt sơ triều đến muộn, hoặc kinh muộn lượng ít, dần dần ngừng lại. Tinh hao huyết ít, trên không thể nhu dưỡng thanh khiếu, nên đầu choáng, tai ù; dưới không thể nhu dưỡng lưng gối, nên lưng gối đau mỏi, hoặc đau gót chân. Âm hư nội nhiệt nên lòng bàn tay bàn chân nóng; nhiệt bức Âm dịch tiết ra ngoài nên triều nhiệt, mồ hôi trộm. Hư nhiệt quấy nhiễu Tâm thần nên tâm phiền, ngủ ít. Hư nhiệt bốc lên nên gò má đỏ, môi đỏ. Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không rêu, mạch tế sác cũng là dấu hiệu của Thận Âm hư.
Pháp trị
Tư Thận ích Âm, dưỡng huyết điều kinh.
Phương thang
Tả quy hoàn.
Gia giảm
Nếu triều nhiệt, mồ hôi trộm, tùy chứng thêm Thanh hao, Miết giáp, Địa cốt bì.
Nếu tâm phiền, mất ngủ, tùy chứng thêm Bá tử nhân, Đan sâm, Trân châu mẫu.
Nếu Âm hư Phế táo, ho khạc ra máu, tùy chứng thêm Bạch cập, Tiên hạc thảo.
1.3. Chứng Thận Dương hư
Chứng trạng chủ yếu
Kinh nguyệt sơ triều đến muộn, hoặc kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, dần dần thành bế kinh. Đầu choáng, tai ù, đau lưng như gãy, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài, tiểu đêm nhiều, đại tiện lỏng, sắc mặt tối sạm, hoặc hốc mắt thâm đen. Lưỡi nhạt, rêu trắng. Mạch trầm nhược.
Phân tích chứng trạng
Thận Dương bất túc, Mệnh môn hỏa suy, khí hóa không đủ, tinh huyết không được ôn hóa và sinh trưởng, Xung Nhâm không đầy, huyết hải không thể đầy tràn, nên kinh nguyệt đến muộn, lượng ít rồi dần dần bế. Thận Dương hư, lưng mất sự ôn dưỡng, nên đau lưng như gãy. Dương hư không ôn ấm toàn thân nên sợ lạnh, tay chân lạnh. Khí hóa Bàng quang bất lợi nên tiểu tiện trong dài, tiểu đêm nhiều. Thận Dương không ôn Tỳ thổ, nên đại tiện lỏng. Sắc mặt tối sạm, hốc mắt thâm đen, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược đều là dấu hiệu của Thận Dương hư.
Pháp trị
Ôn Thận trợ Dương, dưỡng huyết điều kinh.
Phương thang
Có thể dùng Hữu quy hoàn hoặc Đại bổ nguyên tiễn gia Nhục quế, Thỏ ty tử, Tử hà xa, tùy chứng mà vận dụng.
Trị pháp cần ôn Thận, trợ Dương, làm ấm Bào cung, giúp tinh huyết được sinh hóa, Xung Nhâm có nguồn. Tuy vậy, nếu có hư nhiệt hoặc huyết khô, không nên ôn táo quá mức.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh nguyệt dần ít rồi ngừng, sắc mặt vàng nhạt, thân thể mệt mỏi, tay chân không sức, ăn ít, bụng đầy, đại tiện lỏng. Có thể kèm phù nhẹ hoặc đới hạ nhiều. Lưỡi nhạt, rêu mỏng hoặc trắng nhờn. Mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng
Tỳ là nguồn sinh hóa khí huyết. Tỳ hư thì khí huyết sinh hóa bất túc, Xung Nhâm không được nuôi, huyết hải không đầy, nên kinh nguyệt ít dần rồi bế. Tỳ chủ tứ chi và cơ nhục, Tỳ hư nên thần mệt, tay chân không sức. Tỳ hư vận hóa thất thường nên ăn ít, bụng đầy, đại tiện lỏng. Tỳ hư thấp trệ có thể sinh đới hạ nhiều, hoặc phù nhẹ. Lưỡi nhạt, rêu mỏng hoặc trắng nhờn, mạch hoãn nhược là dấu hiệu của Tỳ hư.
Pháp trị
Bổ Tỳ ích khí, dưỡng huyết điều kinh.
Phương thang
Sâm linh bạch truật tán gia Đương quy, Ngưu tất.
Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Bạch biển đậu, Cam thảo, Sơn dược, Liên tử nhục, Cát cánh, Ý dĩ nhân, Sa nhân, Đương quy, Ngưu tất.
Trong phương, Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Sơn dược, Liên tử nhục kiện Tỳ ích khí. Ý dĩ nhân, Bạch biển đậu giúp Tỳ hóa thấp. Sa nhân tỉnh Tỳ, hành khí. Đương quy dưỡng huyết; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống, thông điều kinh mạch. Toàn phương kiện Tỳ để sinh nguồn khí huyết, giúp Xung Nhâm được nuôi mà kinh nguyệt có thể phục hồi.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh nguyệt ngừng nhiều tháng. Đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, chính xung, ngủ ít, nhiều mộng, da không nhuận, sắc mặt vàng úa. Lưỡi nhạt, ít rêu. Mạch tế.
Phân tích chứng trạng
Doanh huyết hao hư, khí huyết Xung Nhâm suy ít, huyết hải không thể đầy tràn, nên kinh nguyệt ngừng lại. Huyết hư không thể đi lên nhu dưỡng não tủy và thanh khiếu, nên đầu choáng, mắt hoa. Huyết hư không nuôi Tâm thần, nên hồi hộp, chính xung, ngủ ít, nhiều mộng. Huyết hư không nuôi da cơ, nên da không nhuận, sắc mặt vàng úa. Lưỡi nhạt, ít rêu, mạch tế cũng là dấu hiệu của huyết hư.
Pháp trị
Bổ huyết dưỡng huyết, hoạt huyết điều kinh.
Phương thang
Tiểu doanh tiễn, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư, gia Kê nội kim, Kê huyết đằng.
Đương quy, Thục địa, Bạch thược, Sơn dược, Câu kỷ tử, Chích cam thảo, Kê nội kim, Kê huyết đằng.
Trong phương, Thục địa, Câu kỷ tử, Bạch thược điền tinh dưỡng huyết. Sơn dược, Kê nội kim, Chích cam thảo kiện Tỳ để sinh huyết. Đương quy, Kê huyết đằng bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh. Toàn phương lấy dưỡng huyết làm chủ, đồng thời có thể hoạt huyết thông lạc.
Nếu huyết hư lâu ngày, dần thành Âm hư huyết khô kinh bế, biểu hiện kinh nguyệt ngừng, thân thể gầy yếu, cốt chưng triều nhiệt, hoặc ho khạc ra máu, hai gò má đỏ, lưỡi đỏ sẫm, ít rêu, thậm chí không rêu, mạch tế sác, phép trị nên tư Thận dưỡng huyết, tráng thủy chế hỏa. Dùng Bổ Thận địa hoàng thang, trích từ Trần Tố Am Phụ Khoa Bổ Giải.
Bổ Thận địa hoàng thang
Thục địa, Mạch môn, Tri mẫu, Hoàng bá, Trạch tả, Sơn dược, Viễn chí, Phục thần, Đan bì, Táo nhân, Huyền sâm, Tang phiêu tiêu, Trúc diệp, Quy bản, Sơn thù du.
Trong phương, ý của Tri bá địa hoàng hoàn là tư Thận Âm, tả Tướng hỏa. Phối Huyền sâm, Quy bản, Tang phiêu tiêu để tư Âm tiềm Dương. Trúc diệp, Mạch môn thanh Tâm hỏa. Viễn chí, Táo nhân ninh Tâm thần, khiến Tâm khí thông xuống, Bào mạch lưu thông, nguyệt sự có thể trở lại.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh nguyệt ngừng nhiều tháng, bụng dưới trướng đau, cự án. Tinh thần uất ức, phiền táo, dễ giận, ngực sườn đầy trướng, ợ hơi, hay thở dài. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ. Mạch trầm huyền hoặc sáp mà hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Khí cơ uất trệ, khí trệ thì huyết ứ. Ứ huyết ngăn trở Xung Nhâm, huyết hải không thể đầy tràn, nên kinh nguyệt ngừng lại. Ứ trở Bào mạch nên bụng dưới trướng đau, cự án. Khí cơ không thông nên tinh thần uất ức, phiền táo, dễ giận, ngực sườn đầy trướng, ợ hơi, hay thở dài. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, mạch trầm huyền hoặc sáp hữu lực là dấu hiệu của khí trệ huyết ứ.
Pháp trị
Lý khí hoạt huyết, khứ ứ thông kinh.
Phương thang
Có thể dùng Huyết phủ trục ứ thang hoặc Cách hạ trục ứ thang tùy vị trí và chứng trạng mà gia giảm.
Trị pháp cần làm cho khí hành thì huyết hành, ứ đi thì Xung Nhâm thông. Nếu khí uất rõ, cần trọng dụng sơ Can lý khí; nếu huyết ứ rõ, cần tăng hoạt huyết hóa ứ; nếu đau bụng nhiều, có thể kiêm hành khí chỉ thống.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh nguyệt ngừng nhiều tháng, bụng dưới lạnh đau, cự án, gặp ấm thì đau giảm. Sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng, kinh trước khi bế thường sắc tím tối, có huyết khối. Lưỡi tối, rêu trắng. Mạch trầm khẩn hoặc trầm trì.
Phân tích chứng trạng
Hàn tà khách ở Xung Nhâm, huyết bị hàn làm ngưng, Bào mạch không thông, huyết hải không thể đầy và tràn, nên kinh nguyệt ngừng lại. Hàn ngưng huyết trệ, không thông thì đau, nên bụng dưới lạnh đau, cự án; gặp ấm thì khí huyết hơi thông, đau giảm. Hàn là Âm tà, dễ thương Dương khí, nên sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng. Lưỡi tối, rêu trắng, mạch trầm khẩn hoặc trầm trì là dấu hiệu hàn ngưng huyết ứ.
Pháp trị
Ôn kinh tán hàn, hoạt huyết thông kinh.
Phương thang
Có thể dùng Ôn kinh thang hoặc Thiếu phúc trục ứ thang tùy chứng gia giảm.
Trị pháp cần ôn để tán hàn, thông để hành huyết. Nếu hàn nặng, đau lạnh rõ, trọng ở ôn kinh tán hàn. Nếu ứ nặng, có huyết khối, đau cố định, trọng ở hoạt huyết khứ ứ. Không nên chỉ dùng thuốc bổ huyết khi hàn ứ chưa thông, vì bổ mà không thông thì kinh vẫn khó hành.
Chứng trạng chủ yếu
Kinh nguyệt ngừng nhiều tháng, đới hạ lượng nhiều, màu trắng, chất đặc. Thân thể béo, hoặc mặt phù, tay chân phù, thần mệt, tay chân mỏi, đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, hơi ngắn, ngực và Vị quản đầy tức. Lưỡi nhạt to bệu, rêu trắng nhờn. Mạch hoạt.
Phân tích chứng trạng
Đàm thấp trở ở Xung Nhâm, chiếm giữ huyết hải, kinh huyết không thể đầy tràn, nên kinh nguyệt nhiều tháng không hành. Đàm thấp hạ chú, làm tổn thương Đới mạch, nên đới hạ lượng nhiều, màu trắng, chất đặc. Đàm thấp thịnh ở trong, nên thân thể béo. Đàm thấp vây khốn Tỳ Dương, vận hóa bất lợi, thủy thấp tràn ra da cơ, nên mặt phù, tay chân phù, thần mệt, tay chân mỏi. Đàm thấp đình ở dưới Tâm, thanh Dương không thăng, nên đầu choáng, mắt hoa, hồi hộp, hơi ngắn, ngực và Vị quản đầy tức. Lưỡi nhạt to bệu, rêu trắng nhờn, mạch hoạt cũng là dấu hiệu của đàm thấp.
Pháp trị
Khoát đàm trừ thấp, hoạt huyết thông kinh.
Phương thang
Phương trị thấp đàm của Đan Khê, trích từ Đan Khê Tâm Pháp.
Thương truật, Bạch truật, Bán hạ, Phục linh, Hoạt thạch, Hương phụ, Xuyên khung, Đương quy.
Trong phương, Thương truật, Bán hạ táo thấp hóa đàm. Bạch truật, Phục linh kiện Tỳ khứ thấp. Hoạt thạch thấm lợi thủy thấp. Đương quy, Xuyên khung, Hương phụ hành khí hoạt huyết. Đàm thấp đi thì Xung Nhâm và huyết hải không còn bị ngăn cách, từ đó đạt hiệu quả thông kinh.
Gia giảm
Nếu ngực và Vị quản đầy tức, tùy chứng thêm Qua lâu, Chỉ xác.
Nếu chi thể phù rõ, tùy chứng thêm Ích mẫu thảo, Trạch tả, Trạch lan.
Nói tóm lại
Bế kinh lấy kinh nguyệt chưa từng hành sau tuổi trưởng thành, hoặc đã hành rồi lại ngừng trên sáu tháng làm đặc điểm chính. Trước khi luận trị cần phân biệt bế kinh sinh lý trong thai kỳ, cho con bú, mãn kinh; cũng cần phân biệt bế kinh do bệnh khác hay do chính bệnh kinh nguyệt.
Bệnh cơ của bế kinh có hư và thực. Hư là nguồn không đủ, huyết hải không đầy; thường gặp Thận hư, Tỳ hư, huyết hư. Thực là đường bị nghẽn, huyết không thông; thường gặp khí trệ huyết ứ, hàn ngưng huyết ứ, đàm thấp trở trệ.
Điều trị phải rất thận trọng. Hư chứng cần bổ Thận, kiện Tỳ, dưỡng huyết để làm đầy nguồn kinh huyết. Thực chứng cần hành khí, hoạt huyết, ôn kinh, hóa đàm, trừ thấp để thông Xung Nhâm. Do bế kinh phần nhiều hư nhiều thực ít, không nên vội công phá mạnh. Khi nguồn kinh huyết được phục hồi, Xung Nhâm thông, huyết hải đầy và tràn đúng thời, kinh nguyệt mới có thể dần trở lại.
Tiết 11
Thống kinh
Phàm trong kỳ kinh, trước kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh xuất hiện đau bụng dưới có tính chu kỳ, hoặc đau lan đến vùng thắt lưng cùng, thậm chí đau dữ dội đến ngất, đều gọi là thống kinh. Bệnh này cũng gọi là kinh hành phúc thống.
Y học hiện đại chia thống kinh thành thống kinh nguyên phát và thống kinh thứ phát. Thống kinh nguyên phát còn gọi là thống kinh chức năng, chỉ trường hợp cơ quan sinh dục không có bệnh biến thực thể rõ ràng. Thống kinh thứ phát phần nhiều kế phát sau một số bệnh biến thực thể của cơ quan sinh dục như lạc nội mạc tử cung vùng chậu, bệnh tuyến cơ tử cung, viêm vùng chậu mạn tính. Tiết này bàn về thống kinh, bao gồm cả thống kinh nguyên phát và thống kinh thứ phát theo cách nhìn hiện đại. Thống kinh chức năng thường dễ khỏi hơn; thống kinh do bệnh biến thực thể thường bệnh trình dài, dai dẳng và khó khỏi hơn.
Nguyên nhân bệnh cơ
Sự phát sinh thống kinh có quan hệ mật thiết với biến hóa sinh lý có tính chu kỳ của Xung Nhâm và Bào cung. Bệnh cơ chủ yếu là tà khí ẩn phục bên trong, hoặc tinh huyết vốn hao thiếu; đến trước, trong hoặc sau kỳ kinh, khí huyết hai mạch Xung Nhâm biến hóa nhanh, khiến khí huyết của Bào cung vận hành không thông, “không thông thì đau”; hoặc Bào cung mất sự nhu dưỡng, “không được nuôi dưỡng thì đau”, vì vậy thống kinh phát sinh.
Các thể thường gặp gồm Thận khí hao tổn, khí huyết hư yếu, khí trệ huyết ứ, hàn ngưng huyết ứ và thấp nhiệt uẩn kết.
Thận là gốc của Xung Nhâm, lại chủ tinh và sinh殖. Nếu tiên thiên bất túc, hoặc phòng lao, sinh đẻ nhiều, bệnh lâu làm tổn thương Thận, khiến Thận khí suy, tinh huyết không đủ, Xung Nhâm thiếu nguồn, Bào cung và Bào mạch mất sự nhu dưỡng. Đến kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh, tinh huyết càng hư, không thể nuôi dưỡng Bào cung, nên phát sinh đau âm ỉ.
Cơ thể vốn hư yếu, khí huyết bất túc; hoặc bệnh lâu ngày, lao nhọc, ăn uống kém làm nguồn sinh hóa khí huyết không đủ. Khi hành kinh, huyết xuống Xung Nhâm, khí huyết càng hư, Bào cung và Bào mạch mất sự nhu dưỡng, nên đau bụng dưới. Đây là chứng thuộc “không được nuôi dưỡng thì đau”.
Tình chí không thư, Can khí uất kết, khí cơ không thông. Khí trệ thì huyết ứ, ứ trở Xung Nhâm và Bào mạch. Đến trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, khí huyết dồn xuống Xung Nhâm, ứ trệ càng rõ, kinh huyết vận hành không thông, nên đau. Đây là chứng thuộc “không thông thì đau”.
Trong kỳ kinh hoặc sau sinh, Bào mạch hư rỗng, nếu cảm thụ hàn tà, dầm mưa lội nước, ăn uống lạnh sống, hoặc ở lâu nơi hàn thấp, hàn tà khách ở Xung Nhâm và Bào cung. Huyết gặp hàn thì ngưng, khí huyết vận hành không thông, nên phát sinh thống kinh.
Vốn có thấp nhiệt ở trong, hoặc sau kỳ kinh, sau sinh, huyết dư chưa sạch mà cảm thụ thấp nhiệt, thấp nhiệt cùng huyết tương bác, uẩn kết ở Xung Nhâm, Bào mạch bị trở, khí huyết vận hành không thông. Đến kỳ kinh, huyết hải đầy, thấp nhiệt và ứ huyết càng bị dẫn động, không thông thì đau.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng của thống kinh là đau bụng dưới có tính chu kỳ, đi kèm với kỳ kinh. Cần căn cứ thời điểm đau, vị trí đau, tính chất đau, mức độ đau, thích ấn hay cự án, đồng thời kết hợp với toàn thân, kinh sắc, kinh lượng, kinh chất, đới hạ, lưỡi mạch để phân biệt hàn, nhiệt, hư, thực, bệnh ở khí hay ở huyết.
Nói chung, đau trước kỳ hoặc trong kỳ kinh phần nhiều thuộc thực. Đau sau kỳ kinh hoặc đau kéo dài sau khi kinh đã sạch phần nhiều thuộc hư. Đau trướng đều nặng, cự án, phần nhiều thuộc thực. Đau âm ỉ, thích xoa, thích ấn, phần nhiều thuộc hư.
Gặp ấm thì đau giảm, phần nhiều thuộc hàn. Gặp ấm mà đau tăng, phần nhiều thuộc nhiệt. Đau nhiều hơn trướng, phần nhiều thuộc huyết ứ. Trướng nhiều hơn đau, phần nhiều thuộc khí trệ. Đau ở hai bên bụng dưới, bệnh phần nhiều ở Can. Đau lan đến vùng thắt lưng, bệnh phần nhiều ở Thận. Đại pháp điều trị lấy thông điều khí huyết làm chủ.
Chứng trạng chủ yếu
Trong kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh, bụng dưới đau âm ỉ, thích ấn. Kinh lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Đầu choáng, tai ù, lưng đau, chân mềm, tiểu tiện trong dài, sắc mặt tối sạm. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch trầm tế.
Phân tích chứng trạng
Thận khí vốn hư, tinh huyết không đủ. Đến kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh, tinh huyết càng hư, Bào cung và Bào mạch mất sự nhu dưỡng, nên bụng dưới đau âm ỉ, thích ấn. Thận hư, Xung Nhâm bất túc, huyết hải đầy tràn không nhiều, nên kinh lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Thận tinh bất túc không thể đi lên nuôi thanh khiếu, nên đầu choáng, tai ù. Thận hao thì lưng chân mất nuôi dưỡng, nên lưng đau, chân mềm. Thận khí hư, khí hóa Bàng quang thất thường, nên tiểu tiện trong dài. Sắc mặt tối sạm, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm tế cũng là dấu hiệu của Thận khí hao tổn.
Pháp trị
Bổ Thận điền tinh, dưỡng huyết chỉ thống.
Phương thang
Điều Can thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Đương quy, Bạch thược, Sơn thù du, Ba kích thiên, Cam thảo, Sơn dược, A giao.
Trong phương, Ba kích thiên, Sơn thù du bổ Thận khí, điền Thận tinh. Đương quy, Bạch thược, A giao dưỡng huyết, hoãn cấp, chỉ thống. Sơn dược, Cam thảo bổ Tỳ Thận, sinh tinh huyết. Toàn phương có công năng bổ Thận điền tinh, dưỡng huyết, hoãn cấp chỉ thống.
Gia giảm
Nếu kinh lượng ít, tùy chứng thêm Lộc giác giao, Thục địa, Câu kỷ tử.
Nếu đau vùng thắt lưng cùng nhiều, tùy chứng thêm Tang ký sinh, Đỗ trọng, Cẩu tích.
Chứng trạng chủ yếu
Trong kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh, bụng dưới đau âm ỉ, thích ấn. Kinh lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Thần mệt, không sức, đầu choáng, hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng
Khí huyết vốn hư, khi kinh huyết bài xuất ra ngoài, khí huyết càng hư. Bào cung và Bào mạch mất sự nhu dưỡng, nên trong kỳ hoặc sau kỳ kinh bụng dưới đau âm ỉ, thích ấn. Khí huyết hư, Xung Nhâm bất túc, huyết hải đầy tràn không nhiều, nên kinh lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Khí hư, trung Dương không phấn chấn, nên thần mệt, không sức. Huyết hư không nuôi Tâm thần, nên hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng. Khí huyết hư không làm vinh nhuận đầu mặt, nên đầu choáng, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược cũng là dấu hiệu của khí huyết hư yếu.
Pháp trị
Bổ khí dưỡng huyết, hòa trung chỉ thống.
Phương thang
Hoàng kỳ kiến trung thang, trích từ Kim Quỹ Yếu Lược, gia Đương quy, Đảng sâm.
Hoàng kỳ, Bạch thược, Quế chi, Chích cam thảo, Sinh khương, Đại táo, Di đường, Đương quy, Đảng sâm.
Trong phương, Hoàng kỳ, Đảng sâm, Quế chi bổ khí ôn trung, thông lạc chỉ thống. Đương quy, Bạch thược, Di đường dưỡng huyết hòa trung, hoãn cấp chỉ thống. Chích cam thảo, Sinh khương, Đại táo kiện Tỳ Vị để sinh khí huyết. Muốn bổ khí huyết, trước hết phải xây dựng trung châu. Toàn phương có công năng bổ khí dưỡng huyết, hòa trung chỉ thống.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, bụng dưới trướng đau, cự án. Ngực sườn, vú căng đau. Kinh hành không thông, kinh sắc tím tối, có huyết khối, khối xuống rồi đau giảm. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ. Mạch huyền hoặc huyền sáp hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Can uất khí trệ, ứ trệ ở Xung Nhâm, khí huyết vận hành không thông. Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, khí huyết dồn xuống Xung Nhâm, khí huyết Bào mạch càng uất trệ, không thông thì đau, nên bụng dưới trướng đau, cự án. Can khí uất trệ, nên ngực sườn và vú căng đau. Xung Nhâm khí trệ huyết ứ, nên kinh hành không thông, kinh sắc tím tối, có huyết khối. Sau khi huyết khối được bài xuất, khí huyết Bào cung hơi thông, nên đau giảm. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, mạch huyền hoặc huyền sáp hữu lực cũng là dấu hiệu của khí trệ huyết ứ.
Pháp trị
Hành khí hoạt huyết, khứ ứ chỉ thống.
Phương thang
Cách hạ trục ứ thang.
Đương quy, Xích thược, Đào nhân, Xuyên khung, Chỉ xác, Hồng hoa, Diên hồ sách, Ngũ linh chi, Đan bì, Ô dược, Hương phụ, Cam thảo.
Trong phương, Chỉ xác, Ô dược, Hương phụ, Diên hồ sách hành khí hoạt huyết chỉ thống. Xích thược, Đào nhân, Đan bì, Ngũ linh chi hoạt huyết khứ ứ chỉ thống. Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết, hoạt huyết, điều kinh. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có công năng hành khí hoạt huyết, khứ ứ hành trệ, vì vậy có thể giảm đau và điều kinh.
Gia giảm
Nếu thống kinh dữ dội kèm buồn nôn, nôn mửa, tùy chứng thêm Ngô thù du, Bán hạ, Nga truật.
Nếu kèm bụng dưới trướng sa hoặc đau lan đến hậu môn, tùy chứng thêm Khương hoàng, Xuyên luyện tử.
Nếu kiêm hàn, bụng dưới lạnh đau, tùy chứng thêm Ngải diệp, Tiểu hồi hương.
Nếu kèm nhiệt, miệng khát, lưỡi đỏ, mạch sác, tùy chứng thêm Chi tử, Liên kiều, Hoàng bá.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, bụng dưới lạnh đau, cự án, gặp ấm thì đau giảm. Kinh lượng ít, kinh sắc tím tối, có huyết khối. Sợ lạnh, tay chân lạnh. Lưỡi tím tối, rêu trắng. Mạch trầm khẩn.
Phân tích chứng trạng
Hàn tà khách ở Xung Nhâm và Bào cung, huyết gặp hàn thì ngưng, kinh mạch không thông, không thông thì đau, nên trước kỳ hoặc trong kỳ kinh bụng dưới lạnh đau, cự án. Gặp ấm thì hàn tạm tán, khí huyết hơi thông, nên đau giảm. Hàn ngưng huyết trệ, nên kinh lượng ít, sắc tím tối, có huyết khối. Hàn là Âm tà, làm Dương khí không thông đạt ra ngoài, nên sợ lạnh, tay chân lạnh. Lưỡi tím tối, rêu trắng, mạch trầm khẩn là biểu hiện của hàn ngưng huyết ứ.
Pháp trị
Ôn kinh tán hàn, hóa ứ chỉ thống.
Phương thang
Thiếu phúc trục ứ thang hoặc Ôn kinh thang, tùy chứng gia giảm.
Thiếu phúc trục ứ thang thường dùng khi hàn ứ ngưng ở hạ tiêu, đau lạnh rõ, kinh sắc tím tối có cục. Ôn kinh thang thích hợp khi hàn ngưng kèm huyết hư hoặc Xung Nhâm mất sự ôn dưỡng. Khi dùng cần căn cứ mức độ hàn, ứ, hư để chọn phương.
Gia giảm
Nếu đau lạnh rất rõ, có thể gia Tiểu hồi hương, Ngải diệp, Ngô thù du để ôn kinh tán hàn.
Nếu huyết khối nhiều, đau giảm sau khi khối xuống, có thể gia Đan sâm, Ích mẫu thảo, Diên hồ sách để hoạt huyết hóa ứ chỉ thống.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh bụng dưới đau, cự án, có cảm giác nóng trướng hoặc đau rát. Kinh sắc đỏ sẫm hoặc tím đỏ, chất đặc, có thể có huyết khối. Bình thường đới hạ nhiều, màu vàng, chất đặc, mùi hôi. Có thể kèm sốt nhẹ, miệng đắng, miệng khô, tiểu vàng, đại tiện không sảng khoái. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn. Mạch hoạt sác hoặc huyền sác.
Phân tích chứng trạng
Thấp nhiệt uẩn kết ở hạ tiêu, cùng huyết tương bác, làm khí huyết Xung Nhâm không thông. Đến trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, huyết hải đầy, khí huyết dồn xuống, thấp nhiệt và ứ trệ càng bị dẫn động, không thông thì đau, nên bụng dưới đau, cự án, có cảm giác nóng trướng. Thấp nhiệt nung đốt huyết, nên kinh sắc đỏ sẫm hoặc tím đỏ, chất đặc. Thấp nhiệt hạ chú, Đới mạch mất ước thúc, nên đới hạ nhiều, vàng, đặc, hôi. Thấp nhiệt hun bốc, nên miệng đắng, miệng khô, tiểu vàng, đại tiện không sảng khoái. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác hoặc huyền sác là dấu hiệu của thấp nhiệt uẩn kết.
Pháp trị
Thanh nhiệt trừ thấp, hóa ứ chỉ thống.
Phương thang
Thanh nhiệt điều huyết thang, tùy chứng gia giảm.
Phương ý là thanh thấp nhiệt ở hạ tiêu, điều huyết, hóa ứ, thông Xung Nhâm. Khi thấp nhiệt được trừ, huyết ứ được hóa, Bào mạch thông thì đau giảm.
Gia giảm
Nếu đới hạ vàng đặc, mùi hôi rõ, tùy chứng thêm Hoàng bá, Khổ sâm, Thổ phục linh, Bại tương thảo.
Nếu đau bụng rõ và kinh có huyết khối, tùy chứng thêm Đan sâm, Xích thược, Diên hồ sách, Ích mẫu thảo.
Nếu nhiệt nặng, miệng khát, tiểu vàng, tùy chứng thêm Chi tử, Hoàng cầm.
Nói tóm lại
Thống kinh lấy đau bụng dưới theo chu kỳ kinh làm đặc điểm chính. Bệnh cơ có thể quy về hai câu: không thông thì đau, không được nuôi dưỡng thì đau. Thực chứng phần nhiều đau trước kỳ hoặc trong kỳ, đau trướng, cự án, kèm huyết khối, thường gặp khí trệ huyết ứ, hàn ngưng huyết ứ, thấp nhiệt uẩn kết. Hư chứng phần nhiều đau trong hoặc sau kỳ, đau âm ỉ, thích xoa ấn, kèm kinh ít, sắc nhạt, thường gặp Thận khí hao tổn hoặc khí huyết hư yếu.
Điều trị lấy thông điều khí huyết làm chủ. Hư thì bổ mà thông, thực thì thông mà không làm tổn chính khí. Thận hư thì bổ Thận điền tinh, dưỡng huyết chỉ thống; khí huyết hư thì bổ khí dưỡng huyết, hòa trung chỉ thống; khí trệ huyết ứ thì hành khí hoạt huyết, khứ ứ chỉ thống; hàn ngưng huyết ứ thì ôn kinh tán hàn, hóa ứ chỉ thống; thấp nhiệt uẩn kết thì thanh nhiệt trừ thấp, hóa ứ chỉ thống. Khi Xung Nhâm thông, Bào mạch được nuôi, khí huyết điều hòa, thống kinh sẽ dần giảm.
Tiết 12
Sốt theo kỳ kinh
Mỗi khi đến kỳ kinh, hoặc trước sau kỳ kinh, xuất hiện bệnh chứng lấy phát sốt làm chủ, gọi là sốt theo kỳ kinh, cũng gọi là kinh đến phát sốt.
Bệnh này có liên quan với một số bệnh trong y học hiện đại như viêm vùng chậu mạn tính, lao cơ quan sinh dục, lạc nội mạc tử cung và những tình trạng nhiễm trùng có triệu chứng lâm sàng không rõ rệt.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là khí huyết, Doanh Vệ mất điều hòa, gặp lúc cơ thể phát sinh biến hóa sinh lý của kinh nguyệt mà phát bệnh. Các thể thường gặp gồm Âm hư, Can uất và huyết ứ.
Cơ thể vốn Âm hư, hoặc bệnh lâu ngày, bệnh nhiệt làm hao tổn Âm huyết, hoặc suy nghĩ quá độ khiến Doanh Âm âm thầm hao tổn. Sau kỳ kinh, Âm huyết càng hư, Âm không giữ được Dương, Dương khí vượt ra ngoài, Doanh Vệ mất điều hòa, vì vậy phát sốt.
Tính tình vốn uất ức, hoặc tình chí bị tổn thương, Can khí uất kết. Trước kỳ kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, huyết đầy, khí thịnh, khí huyết càng uất trệ. Uất lâu hóa nhiệt, Doanh Vệ không hòa, vì vậy phát sốt.
Vốn có thấp nhiệt uẩn ở trong, cùng huyết kết lại thành ứ; hoặc sau kỳ kinh, sau sinh, sau nạo phá thai, ứ huyết lưu lại bên trong, lâu ngày hóa nhiệt. Đến lúc hành kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, khí huyết càng bị ủng trở, ứ nhiệt thịnh ở trong, Doanh Vệ mất điều hòa, vì vậy phát sốt.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng là phát sốt có tính chu kỳ, đi kèm với kinh nguyệt. Điều trị lấy điều khí huyết, hòa Doanh Vệ làm nguyên tắc.
Chứng trạng chủ yếu
Trong kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh, buổi chiều phát sốt, ngũ tâm phiền nhiệt, họng khô, miệng khô, hai gò má đỏ từng cơn. Kinh lượng ít, sắc đỏ tươi. Lưỡi đỏ, ít rêu. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Cơ thể vốn Âm hư. Trong kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh, kinh huyết tiết ra ngoài, Âm huyết càng hư. Âm hư không thể liễm Dương, hư Dương vượt ra ngoài, Doanh Vệ mất điều hòa, nên phát sốt vào buổi chiều, hai gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt. Âm hư, tân dịch hao ít, nên họng khô, miệng khô. Âm hư nội nhiệt, huyết bị nhiệt nung đốt, nên kinh lượng ít, sắc đỏ tươi. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác cũng là biểu hiện của Âm hư.
Pháp trị
Tư Âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Phương thang
Hao cầm địa đan Tứ vật thang, phương kinh nghiệm, bỏ Xuyên khung, gia Ngân sài hồ, Bạch vi.
Thanh hao, Hoàng cầm, Địa cốt bì, Mẫu đơn bì, Sinh địa, Đương quy, Bạch thược, Ngân sài hồ, Bạch vi.
Trong phương, Hoàng cầm, Thanh hao, Địa cốt bì, Mẫu đơn bì thanh nhiệt, dưỡng Âm, lương huyết. Ngân sài hồ, Bạch vi lui hư nhiệt. Sinh địa, Bạch thược tư Âm lương huyết. Đương quy dưỡng huyết điều kinh. Toàn phương có công năng tư Âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh phát sốt, đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô, phiền táo, dễ giận. Vú, ngực sườn, bụng dưới căng đau. Kinh lượng có thể nhiều hoặc ít, kinh sắc đỏ sẫm. Lưỡi đỏ, rêu hơi nhờn. Mạch huyền sác.
Phân tích chứng trạng
Can uất khí trệ, khí cơ không thông. Trước kỳ kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, khí huyết Xung Nhâm càng uất trệ. Uất lâu hóa nhiệt, Doanh Vệ mất điều hòa, nên phát sốt theo kỳ kinh. Can uất hóa nhiệt, theo Xung khí thượng nghịch, quấy nhiễu thanh khiếu, nên đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô. Kinh Can đi qua vùng vú, phân bố ở sườn và bụng dưới; Can mất điều đạt, nên trước hoặc trong kỳ kinh vú, ngực sườn, bụng dưới căng đau. Can uất không thư, nên phiền táo, dễ giận. Can uất khiến sơ tiết thất thường, huyết hải chứa và tràn không ổn định, nên kinh lượng có thể nhiều hoặc ít, sắc đỏ sẫm. Lưỡi đỏ, rêu hơi nhờn, mạch huyền sác cũng là dấu hiệu của Can uất phát nhiệt.
Pháp trị
Sơ Can giải uất, thanh nhiệt điều kinh.
Phương thang
Đan chi tiêu dao tán.
Phương này lấy Sài hồ để sơ Can giải uất, Chi tử và Đan bì để thanh nhiệt, Đương quy và Bạch thược để dưỡng huyết nhu Can, Bạch truật, Phục linh và Cam thảo để kiện Tỳ hòa trung. Khi Can khí được thư, uất nhiệt được thanh, khí huyết Xung Nhâm điều hòa, thì sốt theo kỳ kinh có thể giảm.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh phát sốt, lúc lạnh lúc nóng, bụng dưới đau và cự án. Kinh sắc tím tối, có huyết khối. Lưỡi tím tối hoặc rìa lưỡi có điểm ứ. Mạch trầm huyền hoặc trầm sáp hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Ứ huyết ngăn trở Xung Nhâm. Khi hành kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, khí huyết ở Xung Nhâm bị ủng trở mà hóa nhiệt, Doanh Vệ mất điều hòa, nên phát sốt theo kỳ kinh, lúc lạnh lúc nóng. Bào mạch ứ trệ, không thông thì đau, nên bụng dưới đau và cự án. Ứ trở Xung Nhâm, huyết hành không thông, nên kinh sắc tím tối, có huyết khối. Lưỡi tím tối hoặc rìa lưỡi có điểm ứ, mạch trầm huyền hoặc trầm sáp hữu lực cũng là dấu hiệu của huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt điều kinh.
Phương thang
Huyết phủ trục ứ thang, trích từ Y Lâm Cải Thác, gia Chi tử.
Xích thược, Đào nhân, Đương quy, Sinh địa, Xuyên khung, Cam thảo, Hồng hoa, Chỉ xác, Sài hồ, Cát cánh, Ngưu tất, Chi tử.
Trong phương, Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết, hoạt huyết, khứ ứ. Chi tử, Sài hồ, Sinh địa thanh nhiệt lương huyết, sơ Can giải uất, trừ uất nhiệt trong huyết. Cát cánh, Chỉ xác một vị thăng một vị giáng, sơ lý khí cơ. Ngưu tất dẫn huyết đi xuống. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Các vị phối hợp có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt điều kinh.
Nói tóm lại
Sốt theo kỳ kinh lấy phát sốt có tính chu kỳ, thường xuất hiện trong kỳ kinh hoặc trước sau kỳ kinh làm đặc điểm chính. Bệnh cơ không phải chỉ là ngoại cảm phát sốt, mà chủ yếu liên quan đến khí huyết, Doanh Vệ mất điều hòa trong sự biến hóa của kinh nguyệt.
Âm hư thì sau khi kinh huyết tiết ra, Âm càng hư, Dương vượt ra ngoài mà sốt. Can uất thì trước kỳ khí huyết tụ về Xung Nhâm, uất trệ hóa nhiệt mà sốt. Huyết ứ thì kinh hành làm khí huyết dồn xuống, ứ trở hóa nhiệt mà sốt. Điều trị lấy điều khí huyết, hòa Doanh Vệ làm trục chính; tùy chứng mà tư Âm thanh nhiệt, sơ Can giải uất, hoặc hoạt huyết hóa ứ.
Tiết 13
Đau đầu theo kỳ kinh
Mỗi khi đến kỳ kinh, hoặc trước sau kỳ kinh, xuất hiện bệnh chứng lấy đau đầu làm chủ, gọi là đau đầu theo kỳ kinh.
Bệnh này thuộc phạm vi hội chứng căng thẳng trước kỳ kinh trong y học hiện đại. Người bệnh viêm vùng chậu mạn tính nếu phát sinh đau đầu theo kỳ kinh cũng có thể tham khảo cách luận trị của bệnh này.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là khí huyết, Âm tinh bất túc. Sau khi hành kinh, khí huyết và Âm tinh càng hư, thanh khiếu mất sự nuôi dưỡng mà đau. Hoặc do đàm, ứ làm tà, đến kỳ kinh theo Xung khí thượng nghịch, tà khí quấy nhiễu thanh khiếu mà gây đau.
Các thể thường gặp gồm khí huyết hư yếu, Âm hư Dương cang, ứ huyết trở trệ và đàm thấp trung trở.
Cơ thể vốn hư yếu, hoặc bệnh nặng bệnh lâu ngày làm hao thương khí huyết, hoặc lao nhọc làm tổn thương Tỳ, khiến nguồn sinh hóa khí huyết không đủ. Đến lúc hành kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, khí huyết càng hư, không đủ để nhu dưỡng thanh khiếu, vì vậy đau đầu.
Cơ thể vốn Âm hư, hoặc phòng lao, sinh đẻ nhiều làm hao tổn tinh huyết. Khi hành kinh, Âm huyết của Xung Nhâm tiết ra ngoài, Thận Âm càng hư, Can Dương càng cang, phong Dương quấy nhiễu thanh khiếu, vì vậy đau đầu.
Tình chí không thư, khí trệ mà huyết ứ; hoặc trong kỳ kinh, sau sinh cảm thụ hàn nhiệt tà, khiến huyết dư lưu lại bên trong. Trước kỳ kinh, Xung khí thiên thịnh, Xung khí kèm ứ huyết thượng nghịch, trở trệ não lạc, không thông thì đau, vì vậy đau đầu.
Người thân thể béo, đàm thấp thịnh ở trong; hoặc ăn uống lao nhọc làm tổn thương Tỳ, đàm thấp sinh bên trong. Đàm thấp trệ ở Xung Nhâm. Đến kỳ kinh, Xung mạch khí thịnh, Xung khí kèm đàm thấp thượng nghịch, ngăn trở não lạc, không thông thì đau, vì vậy đau đầu.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng là đau đầu phát tác theo chu kỳ kinh nguyệt. Điều trị lấy điều lý khí huyết làm đại pháp. Thực chứng thì hành khí hoạt huyết để chỉ thống. Hư chứng thì bổ khí dưỡng huyết để chỉ thống.
Chứng trạng chủ yếu
Trong kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh đau đầu âm ỉ, đầu choáng, mắt hoa. Kinh lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Hồi hộp, mất ngủ, thần mệt, không sức, sắc mặt trắng nhợt hoặc vàng úa. Lưỡi nhạt, rêu mỏng. Mạch tế nhược.
Phân tích chứng trạng
Khí huyết hư yếu, khi hành kinh khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, khí huyết càng hư, thanh khiếu không được nuôi dưỡng, nên trong kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh đau đầu âm ỉ, đầu choáng, mắt hoa. Khí huyết bất túc, huyết hải không đầy, nên kinh lượng ít, sắc nhạt, chất loãng. Huyết hư không nuôi Tâm thần, nên hồi hộp, mất ngủ. Khí huyết hư không nuôi thân thể, nên thần mệt, không sức, sắc mặt trắng nhợt hoặc vàng úa. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược cũng là dấu hiệu của khí huyết hư.
Pháp trị
Bổ khí dưỡng huyết, điều kinh chỉ thống.
Phương thang
Bát trân thang, tùy chứng gia Cảo bản, Mạn kinh tử.
Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Đương quy, Bạch thược, Thục địa, Xuyên khung, Cảo bản, Mạn kinh tử.
Trong phương, Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo kiện Tỳ ích khí. Đương quy, Bạch thược, Thục địa, Xuyên khung bổ huyết điều kinh. Cảo bản, Mạn kinh tử sơ phong, chỉ thống vùng đầu. Khí huyết được bổ, thanh khiếu được nuôi, đau đầu sẽ giảm.
Gia giảm
Nếu mất ngủ nhiều, tùy chứng thêm Toan táo nhân, Dạ giao đằng.
Nếu đầu choáng rõ, tùy chứng thêm Thiên ma, Câu đằng.
Nếu kinh lượng quá ít, tùy chứng thêm Kê huyết đằng, Đan sâm.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh đau đầu, đầu choáng, mắt hoa, đau thiên về vùng đỉnh đầu hoặc hai bên thái dương. Tâm phiền, dễ giận, mất ngủ, nhiều mộng, lưng gối đau mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng. Kinh lượng ít, sắc đỏ. Lưỡi đỏ, ít rêu. Mạch huyền tế sác.
Phân tích chứng trạng
Âm tinh bất túc, Thận Âm không đủ để nuôi Can. Đến kỳ kinh, Âm huyết tiết ra ngoài, Thận Âm càng hư, Can Dương càng cang, phong Dương thượng nhiễu thanh khiếu, nên đau đầu, đầu choáng, mắt hoa. Can Dương thượng cang thường gây đau vùng đỉnh đầu hoặc hai bên thái dương. Âm hư nội nhiệt, Tâm thần không yên, nên tâm phiền, mất ngủ, nhiều mộng. Thận hư, lưng gối mất nuôi dưỡng, nên lưng gối đau mỏi. Âm hư sinh nhiệt, nên lòng bàn tay bàn chân nóng. Kinh lượng ít, sắc đỏ, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền tế sác đều là biểu hiện Âm hư Dương cang.
Pháp trị
Tư Âm tiềm Dương, tức phong chỉ thống.
Phương thang
Kỷ cúc địa hoàng hoàn gia Câu đằng, Thạch quyết minh.
Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Trạch tả, Đan bì, Phục linh, Câu kỷ tử, Cúc hoa, Câu đằng, Thạch quyết minh.
Trong phương, Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược tư bổ Can Thận. Trạch tả, Đan bì, Phục linh thanh tiết hư nhiệt, thấm thấp để bổ mà không trệ. Câu kỷ tử, Cúc hoa dưỡng Can minh mục. Câu đằng, Thạch quyết minh bình Can tiềm Dương, tức phong chỉ thống. Toàn phương có công năng tư Âm tiềm Dương, điều kinh chỉ thống.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh đau đầu dữ, đau như kim châm, vị trí đau cố định. Kinh hành không thông, sắc tím tối, có huyết khối, bụng dưới đau, cự án, huyết khối xuống rồi đau giảm. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ. Mạch sáp hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Ứ huyết trở trệ, kinh lạc không thông. Trước kỳ kinh, Xung khí thiên thịnh, kèm ứ huyết thượng nghịch, trở ngại não lạc, không thông thì đau, nên đau đầu dữ, đau như kim châm, vị trí cố định. Ứ huyết trở ở Xung Nhâm và Bào mạch, nên kinh hành không thông, sắc tím tối, có huyết khối, bụng dưới đau và cự án. Huyết khối xuống rồi ứ trệ tạm thông, nên đau giảm. Lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, mạch sáp hữu lực là dấu hiệu của huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Thông khiếu hoạt huyết thang, hoặc Huyết phủ trục ứ thang, tùy chứng gia giảm.
Trị pháp cần hoạt huyết để thông lạc, hành khí để dẫn huyết, khiến ứ huyết không theo Xung khí thượng nghịch quấy nhiễu thanh khiếu. Nếu đau đầu dữ, có thể gia Toàn yết, Bạch chỉ, Cảo bản tùy chứng. Nếu kinh có huyết khối nhiều, bụng dưới đau rõ, gia Ích mẫu thảo, Trạch lan, Diên hồ sách.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh đau đầu, đầu choáng, mắt hoa. Thân thể béo, ngực bức, buồn nôn. Bình thường đới hạ nhiều, chất đặc dính. Kinh lượng ít, sắc nhạt. Sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt to bệu, rêu trắng nhờn. Mạch hoạt.
Phân tích chứng trạng
Đàm thấp đình lại bên trong, trệ ở Xung Nhâm. Khi hành kinh, Xung mạch khí thịnh, Xung khí kèm đàm thấp thượng nghịch, ngăn trở não lạc, nên trước kỳ hoặc trong kỳ kinh đau đầu. Đàm thấp trung trở, thanh Dương không thăng, nên đầu choáng, mắt hoa, sắc mặt trắng nhợt. Đàm thấp khốn Tỳ, nên ngực bức, buồn nôn, thân thể béo. Đàm thấp trệ ở Xung Nhâm, nên kinh lượng ít, sắc nhạt. Đàm thấp hạ chú làm tổn thương Đới mạch, nên đới hạ lượng nhiều, chất đặc dính. Lưỡi nhạt to bệu, rêu trắng nhờn, mạch hoạt cũng là dấu hiệu của đàm thấp.
Pháp trị
Táo thấp hóa đàm, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Bán hạ bạch truật thiên ma thang, trích từ Y Học Tâm Ngộ, gia Cát căn, Đan sâm.
Bán hạ, Bạch truật, Thiên ma, Phục linh, Quất hồng, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo, Mạn kinh tử, Cát căn, Đan sâm.
Trong phương, Bán hạ, Quất hồng táo thấp hóa đàm, giáng nghịch hòa trung. Bạch truật, Phục linh kiện Tỳ thấm thấp. Thiên ma tức phong, chỉ thống. Mạn kinh tử, Cát căn sơ thông thanh khiếu, giảm đau đầu. Đan sâm hoạt huyết thông lạc. Sinh khương, Đại táo, Cam thảo điều hòa Tỳ Vị. Toàn phương có công năng táo thấp hóa đàm, thông lạc chỉ thống.
Nói tóm lại
Đau đầu theo kỳ kinh lấy đau đầu phát tác theo chu kỳ kinh làm đặc điểm chính. Bệnh có hai nhóm lớn: hư chứng do khí huyết, Âm tinh bất túc, thanh khiếu mất nuôi dưỡng; thực chứng do đàm, ứ theo Xung khí thượng nghịch, ngăn trở não lạc.
Khí huyết hư yếu thì bổ khí dưỡng huyết, điều kinh chỉ thống. Âm hư Dương cang thì tư Âm tiềm Dương, tức phong chỉ thống. Ứ huyết trở trệ thì hoạt huyết hóa ứ, thông lạc chỉ thống. Đàm thấp trung trở thì táo thấp hóa đàm, thông lạc chỉ thống. Khi trị, cần xét thời điểm đau trước kỳ, trong kỳ hay sau kỳ; xét đau âm ỉ hay đau dữ, đau cố định hay đau lan; đồng thời phối hợp kinh lượng, kinh sắc, lưỡi mạch và toàn thân để phân biệt hư thực.
Tiết 14
Thổ nục theo kỳ kinh
Mỗi khi trước kỳ kinh hoặc trong kỳ kinh xuất hiện thổ huyết hoặc nục huyết có quy luật, gọi là thổ nục theo kỳ kinh. Bệnh này cũng gọi là đảo kinh hoặc nghịch kinh.
Bệnh này tương đương với chứng kinh nguyệt thay thế trong y học hiện đại.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là hỏa nhiệt bốc lên. Đến kỳ kinh, Xung mạch khí thịnh mà thượng nghịch, làm tổn thương Dương lạc, từ đó phát sinh thổ huyết hoặc nục huyết. Kinh huyết đi ngược lên trên, theo miệng hoặc mũi mà ra, tất nhiên lượng huyết đi xuống Xung Nhâm sẽ ít đi, thậm chí hoàn toàn không có. Vì vậy khi phát sinh thổ nục theo kỳ kinh, kinh nguyệt thường giảm lượng, thậm chí không hành kinh.
Các thể thường gặp gồm Âm hư Phế táo và Can kinh uất hỏa.
Cơ thể vốn Âm hư, hoặc bệnh nặng, bệnh lâu ngày làm hao tổn tinh huyết, Âm hư nội nhiệt; hoặc ưu tư không giải, ý nghĩ tích tụ trong Tâm, Tâm hỏa thiên cang. Đến kỳ kinh, Xung mạch khí thịnh, khí hỏa thượng nghịch, đốt Phế, làm thương tân dịch, tổn thương Phế lạc, phát thành thổ nục theo kỳ kinh.
Tính tình vốn uất ức, hoặc phẫn nộ làm tổn thương Can, Can uất hóa hỏa. Đến kỳ kinh, Xung mạch khí thịnh, khí hỏa thượng nghịch, Can mạch đi lên vùng họng, khí hỏa theo kinh đi lên xâm phạm, làm tổn thương Dương lạc, phát thành thổ nục theo kỳ kinh.
Biện chứng luận trị
Bệnh này có phân biệt hư chứng và thực chứng. Điều trị lấy thanh giáng nghịch hỏa, dẫn huyết đi xuống làm đại pháp. Tùy chứng mà tư Âm giáng hỏa hoặc thanh tiết Can hỏa.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ kinh hoặc trong kỳ kinh thổ huyết, nục huyết, lượng ít, sắc đỏ tươi. Đầu choáng, tai ù, lòng bàn tay bàn chân nóng, triều nhiệt, ho khan, họng khô, miệng khát. Kinh nguyệt lượng ít hoặc không hành kinh. Gò má đỏ, môi đỏ. Lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm, rêu bong từng mảng hoặc không rêu. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Âm hư Phế táo, hư hỏa bốc lên. Đến trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, Xung khí thịnh mà đi ngược lên, khí hỏa thượng nghịch, làm thương Phế lạc, nên thổ huyết, nục huyết. Âm hư nội nhiệt nên huyết sắc đỏ tươi, lượng thường không nhiều. Âm tinh bất túc không nuôi được thanh khiếu, nên đầu choáng, tai ù. Âm hư sinh nội nhiệt, nên lòng bàn tay bàn chân nóng, triều nhiệt, gò má đỏ, môi đỏ. Phế táo, tân dịch bị thương, nên ho khan, họng khô, miệng khát. Kinh huyết không đi xuống mà lại đi lên, Xung Nhâm không được sung đầy, nên kinh lượng ít, thậm chí không hành kinh. Lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm, rêu bong từng mảng hoặc không rêu, mạch tế sác cũng là dấu hiệu của Âm hư Phế táo.
Pháp trị
Tư Âm nhuận Phế, giáng hỏa chỉ huyết.
Phương thang
Thuận kinh thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa, gia Tri mẫu, Mạch môn, Hạn liên thảo.
Đương quy, Thục địa, Sa sâm, Bạch thược, Phục linh, Hắc kinh giới tuệ, Đan bì, Tri mẫu, Mạch môn, Hạn liên thảo.
Trong phương, Sa sâm, Mạch môn dưỡng Âm nhuận Phế. Thục địa, Bạch thược, Đương quy dưỡng huyết điều kinh. Tri mẫu, Đan bì, Hạn liên thảo, Hắc kinh giới tuệ tư Âm giáng hỏa, lương huyết chỉ huyết. Phục linh kiện Tỳ ích Phế. Toàn phương khiến Âm dịch đầy đủ, hư hỏa được thanh, Phế táo được trừ, thì thổ nục tự dứt.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ kinh hoặc trong kỳ kinh thổ huyết, nục huyết, lượng tương đối nhiều, sắc đỏ sẫm. Đầu choáng, mắt hoa, phiền táo, dễ giận, hai sườn trướng đau, miệng đắng, họng khô, tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện bí kết. Kinh lượng giảm, thậm chí không hành kinh. Lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch huyền sác.
Phân tích chứng trạng
Can kinh uất hỏa, ẩn phục ở Xung Nhâm. Đến trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, Xung khí thiên thịnh, Xung khí kèm Can hỏa theo kinh thượng nghịch, Can mạch đi qua vùng họng, làm tổn thương Dương lạc, nên phát sinh thổ huyết, nục huyết. Huyết sắc đỏ sẫm, lượng tương đối nhiều là dấu hiệu của hỏa nhiệt thịnh. Kinh huyết không đi xuống mà tràn ra miệng mũi, khí huyết Xung Nhâm vì vậy bất túc, huyết hải đầy tràn không nhiều, thậm chí không còn huyết để hạ xuống, nên kinh lượng giảm hoặc không hành kinh. Can khí uất kết nên phiền táo, dễ giận, hai sườn trướng đau. Uất hỏa quấy nhiễu thanh khiếu, nên đầu choáng, mắt hoa. Can và Đởm biểu lý với nhau, Can hỏa thịnh thì Đởm cũng nhiệt, Đởm nhiệt khiến dịch tiết ra, nên miệng đắng, họng khô. Hỏa nhiệt làm thương tân dịch, nên tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện bí kết. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác cũng là dấu hiệu của uất hỏa.
Pháp trị
Sơ Can tả hỏa, giáng nghịch chỉ huyết.
Phương thang
Đan chi tiêu dao tán gia Ngưu tất, Đại giả thạch, Hắc kinh giới tuệ.
Đan chi tiêu dao tán có tác dụng sơ Can giải uất, thanh nhiệt lương huyết, dưỡng huyết nhu Can. Gia Ngưu tất để dẫn huyết đi xuống, khiến huyết trở về Xung Nhâm. Gia Đại giả thạch để trọng trấn giáng nghịch. Gia Hắc kinh giới tuệ để lương huyết chỉ huyết, giúp huyết không tiếp tục nghịch lên. Toàn phương vừa thanh Can hỏa, vừa giáng nghịch, vừa dẫn huyết quy kinh.
Nói tóm lại
Thổ nục theo kỳ kinh lấy thổ huyết hoặc chảy máu mũi xuất hiện có quy luật trước kỳ hoặc trong kỳ kinh làm đặc điểm chính. Bệnh cơ trọng yếu là Xung khí thượng nghịch, hỏa nhiệt bốc lên, làm tổn thương lạc mạch phía trên, khiến kinh huyết không đi xuống mà đi ngược lên trên.
Âm hư Phế táo là hư chứng, trị bằng tư Âm nhuận Phế, giáng hỏa chỉ huyết. Can kinh uất hỏa là thực chứng, trị bằng sơ Can tả hỏa, giáng nghịch chỉ huyết. Dù thuộc thể nào, ý trị đều cần vừa thanh giáng phần nghịch hỏa, vừa dẫn huyết đi xuống, khiến kinh huyết trở về đường thường của Xung Nhâm.
Tiết 15
Tiêu chảy theo kỳ kinh
Mỗi khi trước kỳ kinh hoặc trong kỳ kinh xuất hiện đại tiện tiêu chảy, kinh sạch thì tiêu chảy tự ngừng, gọi là tiêu chảy theo kỳ kinh, cũng gọi là kinh đến tiêu chảy.
Bệnh này thuộc phạm vi hội chứng căng thẳng trước kỳ kinh trong y học hiện đại.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là Dương khí của Tỳ Thận bất túc, vận hóa thất thường. Đến kỳ kinh, huyết khí hạ xuống Xung Nhâm, Tỳ Thận càng hư, vì vậy phát sinh tiêu chảy. Các thể thường gặp gồm Tỳ khí hư và Thận Dương hư.
Cơ thể vốn Tỳ hư, hoặc ưu tư, lao nhọc, ăn uống không điều độ làm tổn thương Tỳ khí. Đến lúc hành kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, Tỳ khí càng hư, vận hóa thất thường, thủy thấp đình lại bên trong rồi đi xuống đại trường, vì vậy phát sinh tiêu chảy.
Cơ thể vốn Thận hư, hoặc phòng lao, sinh đẻ nhiều, Mệnh môn hỏa suy. Đến kỳ kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, Mệnh hỏa càng suy, không thể đi lên ôn ấm Tỳ thổ, Tỳ mất kiện vận, vì vậy phát sinh tiêu chảy.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng của bệnh này là mỗi khi kinh nguyệt sắp đến hoặc đang hành kinh thì phát sinh tiêu chảy. Bệnh này phần nhiều thuộc hư chứng. Tiêu chảy kèm đầy trướng vùng Vị quản và bụng thường thuộc Tỳ hư. Tiêu chảy kèm lưng đau, tay chân lạnh thường thuộc Thận hư. Cũng có trường hợp Can vượng thừa Tỳ, biểu hiện hư thực xen lẫn. Điều trị lấy ôn Thận kiện Tỳ làm đại pháp.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh đại tiện tiêu chảy, Vị quản và bụng đầy trướng. Thần mệt, tay chân mỏi. Kinh lượng nhiều, sắc nhạt, chất loãng. Bình thường đới hạ lượng nhiều, màu trắng, chất dính, không có mùi hôi. Hoặc mặt phù, tay chân phù. Lưỡi nhạt, to bệu, rêu trắng nhờn. Mạch nhu hoãn.
Phân tích chứng trạng
Tỳ khí hư yếu. Đến kỳ kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, Tỳ khí càng hư. Tỳ mất kiện vận, thủy thấp đình lại bên trong, đi xuống đại trường, nên trước kỳ hoặc trong kỳ kinh đại tiện tiêu chảy. Tỳ hư vận hóa thất thường, nên Vị quản và bụng đầy trướng. Tỳ chủ tứ chi, Tỳ hư nên thần mệt, tay chân mỏi. Tỳ khí hư không thống nhiếp huyết, nên kinh lượng nhiều, sắc nhạt, chất loãng. Tỳ hư thấp thịnh, thấp trọc hạ chú Đới mạch, nên bình thường đới hạ lượng nhiều, màu trắng, chất dính, không có mùi hôi. Tỳ hư không vận hóa thủy thấp, thủy thấp tràn ra cơ phu, nên mặt phù, tay chân phù. Lưỡi nhạt to bệu, rêu trắng nhờn, mạch nhu hoãn cũng là dấu hiệu của Tỳ khí hư, thấp thịnh.
Pháp trị
Bổ Tỳ ích khí, trừ thấp chỉ tả.
Phương thang
Sâm linh bạch truật tán.
Phương này lấy kiện Tỳ ích khí, thấm thấp chỉ tả làm chủ. Khi Tỳ khí được phục hồi, thủy thấp được vận hóa, đại trường không còn bị thủy thấp đi xuống, thì tiêu chảy theo kỳ kinh sẽ giảm.
Gia giảm
Nếu Can vượng thừa Tỳ, biểu hiện trong kỳ kinh bụng đau rồi tiêu chảy, tiêu chảy xong thì đau giảm, hoặc ngực sườn trướng đau, phiền táo, dễ giận, phép trị nên nhu Can phù Tỳ, lý khí chỉ tả. Dùng Thống tả yếu phương, trích từ Đan Khê Tâm Pháp.
Thống tả yếu phương
Bạch truật, Bạch thược, Trần bì, Phòng phong.
Trong phương, Bạch truật kiện Tỳ trừ thấp. Trần bì lý khí hòa trung. Bạch thược nhu Can, hoãn cấp, chỉ thống. Phòng phong thư Tỳ, thăng thanh, chỉ tả. Toàn phương có tác dụng nhu Can thực Tỳ, chỉ tả.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh đại tiện tiêu chảy, sáng sớm càng nặng. Lưng đau, chân mềm, sợ lạnh, tay chân lạnh, đầu choáng, tai ù. Kinh lượng ít, sắc nhạt. Bình thường đới hạ lượng nhiều, chất loãng. Sắc mặt tối sạm. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn. Mạch trầm trì vô lực.
Phân tích chứng trạng
Cơ thể vốn Thận Dương bất túc. Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, khí huyết hạ xuống, Thận Dương càng hư. Mệnh hỏa không ôn ấm Tỳ thổ, vận hóa thất chức, thủy thấp cùng đi xuống đại trường, nên phát sinh tiêu chảy theo kỳ kinh, sáng sớm càng nặng. Thận Dương hư không ôn dưỡng ngoại phủ, nên lưng gối đau mỏi. Thận Dương hư, Dương khí không phân bố, nên sợ lạnh, tay chân lạnh. Tủy hải mất nuôi dưỡng, nên đầu choáng, tai ù. Thận Dương hư, thấp trọc hạ chú Xung Nhâm, nên đới hạ nhiều và loãng. Thận hư, Xung Nhâm bất túc, huyết mất sự ôn hóa, nên kinh lượng ít, sắc nhạt. Sắc mặt tối sạm, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm trì vô lực đều là dấu hiệu của Thận Dương hư suy.
Pháp trị
Ôn Thận kiện Tỳ, trừ thấp chỉ tả.
Phương thang
Kiện cố thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa, hợp Tứ thần hoàn, trích từ Hiệu Chú Phụ Nhân Lương Phương.
Kiện cố thang
Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Ý dĩ nhân, Ba kích thiên.
Tứ thần hoàn
Bổ cốt chi, Ngô thù du, Nhục đậu khấu, Ngũ vị tử, Sinh khương, Đại táo.
Trong phương, Ba kích thiên, Bổ cốt chi ôn Thận trợ Dương. Ngô thù du ôn trung hòa Vị. Nhân sâm, Bạch truật kiện Tỳ ích khí, chỉ tả. Phục linh, Ý dĩ nhân kiện Tỳ thấm thấp. Nhục đậu khấu, Ngũ vị tử cố sáp chỉ tả. Toàn phương khiến Thận khí được ôn cố, Tỳ khí được kiện vận, thấp trọc được hóa, tiêu chảy tự ngừng.
Nói tóm lại
Tiêu chảy theo kỳ kinh lấy đại tiện tiêu chảy xuất hiện trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, kinh sạch thì tiêu chảy ngừng làm đặc điểm chính. Bệnh cơ trọng yếu là Tỳ Thận hư, vận hóa thất thường; đến kỳ kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, Tỳ Thận càng hư, thủy thấp đi xuống đại trường mà thành tiêu chảy.
Tỳ khí hư thì bổ Tỳ ích khí, trừ thấp chỉ tả. Thận Dương hư thì ôn Thận kiện Tỳ, trừ thấp chỉ tả. Nếu Can vượng thừa Tỳ, cần nhu Can phù Tỳ, lý khí chỉ tả. Điều trị không chỉ nhằm cầm tiêu chảy, mà phải làm cho Tỳ vận hóa được, Thận Dương ôn ấm được, Xung Nhâm và trung tiêu cùng điều hòa, bệnh mới bền vững mà khỏi.
Tiết 16
Vú căng đau theo kỳ kinh
Mỗi khi trước kỳ kinh hoặc trong kỳ kinh, vú xuất hiện cảm giác căng, thậm chí căng đầy đau, hoặc núm vú ngứa đau, gọi là vú căng đau theo kỳ kinh, cũng gọi là kinh hành nhũ phòng thống.
Bệnh này thuộc phạm vi hội chứng căng thẳng trước kỳ kinh trong y học hiện đại, thường gặp ở phụ nữ trẻ và trung niên, là bệnh thường thấy trong lâm sàng. Chứng đau vú, nhất là một số biến đổi nhẹ thường gặp trong bệnh lý cấu trúc tuyến vú, cũng có thể tham khảo cách luận trị của bệnh này.
Nguyên nhân bệnh cơ
Vú thuộc Vị, núm vú thuộc Can. Xung mạch do Can quản, lại lệ thuộc kinh Túc Dương minh Vị. Vì vậy, Xung mạch có quan hệ mật thiết với vú và núm vú.
Nếu Can khí uất kết hoặc đàm thấp trở trệ, đến trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, khí huyết Xung mạch sung thịnh, sự uất trệ càng tăng, khiến nhũ lạc không thông, có thể phát sinh vú căng đau hoặc núm vú ngứa đau.
Các thể thường gặp gồm Can uất khí trệ và Vị hư đàm trệ.
Tính tình vốn uất ức, hoặc phẫn nộ làm tổn thương Can, khiến sơ tiết mất điều khiển. Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, khí huyết Xung mạch sung thịnh. Can quản Xung mạch, Can mạch khí huyết uất đầy, mà Can mạch lại đi qua vùng vú, nhũ lạc không thông, vì vậy vú căng đau hoặc núm vú ngứa đau.
Tỳ là nguồn sinh đàm, Vị là nơi chứa đàm. Ăn uống không điều độ, lao nhọc, suy nghĩ làm tổn thương Tỳ Vị; hoặc uất giận làm tổn thương Can, Can vượng thừa Tỳ, Tỳ hư mất kiện vận, thủy thấp tụ lại thành đàm. Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, Xung khí thiên thịnh. Xung mạch lệ thuộc Dương minh, Vị mạch đi qua vú. Xung khí kèm đàm thấp trở ngại lạc mạch, nhũ lạc không thông, vì vậy vú căng đau hoặc núm vú ngứa đau.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng của bệnh này là vú căng đau phát tác theo chu kỳ kinh nguyệt. Điều trị lấy hành khí, khoát đàm, sơ thông nhũ lạc làm đại pháp.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ kinh vú căng đau hoặc núm vú ngứa đau, đau nhiều đến mức áo chạm cũng khó chịu, đau và cự án. Khi hành kinh bụng dưới trướng đau, ngực sườn đầy trướng, phiền táo, dễ giận, kinh hành không thông, kinh sắc đỏ tối. Lưỡi đỏ, rêu mỏng. Mạch huyền.
Phân tích chứng trạng
Can khí uất kết, sơ tiết mất điều khiển, khí huyết không thông. Can quản Xung mạch; trước kỳ kinh Xung khí thiên thịnh, Xung khí theo Can mạch thượng nghịch, khí huyết Can kinh ủng thịnh, nhũ lạc không thông. Không thông thì đau, nên vú căng đau hoặc núm vú đau ngứa, đau và cự án. Can khí không thư, khí cơ không thông, nên phiền táo dễ giận, ngực sườn đầy trướng, khi hành kinh bụng dưới trướng đau. Can uất khí trệ, Xung Nhâm bị trở, nên kinh hành không thông, kinh sắc đỏ tối. Lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch huyền cũng là dấu hiệu của Can uất khí trệ.
Pháp trị
Sơ Can lý khí, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Sài hồ sơ Can tán, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư, gia Vương bất lưu hành, Xuyên luyện tử.
Sài hồ, Chỉ xác, Chích cam thảo, Bạch thược, Xuyên khung, Hương phụ, Trần bì, Vương bất lưu hành, Xuyên luyện tử.
Trong phương, Sài hồ, Xuyên luyện tử sơ Can giải uất điều kinh. Chỉ xác, Hương phụ, Trần bì lý khí hành trệ, tiêu trướng. Bạch thược, Cam thảo hoãn cấp chỉ thống. Xuyên khung hành khí trong huyết. Phối Vương bất lưu hành để thông lạc, hành trệ. Các vị hợp lại có thể sơ uất ở Can, thông lạc ở vú, nên vú căng đau có thể giảm.
Gia giảm
Nếu trong vú có khối kết và đau nhiều, tùy chứng thêm Hạ khô thảo, Hải tảo để nhuyễn kiên tán kết.
Nếu Thận hư kèm đau lưng, tùy chứng thêm Thỏ ty tử, Tục đoạn, Đỗ trọng.
Nếu Can uất hóa nhiệt kèm ứ, biểu hiện trước kỳ kinh vú căng đau, trong vú có kết khối, đau và cự án, kinh nguyệt đến sớm, lượng nhiều, sắc đỏ, chất đặc, có huyết khối, hoặc kinh hành phát sốt, phép trị nên sơ Can thanh nhiệt, lương huyết khứ ứ, điều kinh chỉ thống. Có thể dùng Huyết phủ trục ứ thang gia Kim ngân hoa, Liên kiều, hoặc dùng Đan chi tiêu dao tán gia giảm.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh vú căng đau hoặc núm vú ngứa đau, đau nhiều đến mức áo chạm cũng khó chịu. Ngực bức, nhiều đàm, ăn ít, kém ngon miệng. Bình thường đới hạ lượng nhiều, sắc trắng, chất đặc dính. Kinh nguyệt lượng ít, sắc nhạt. Lưỡi nhạt to bệu, rêu trắng nhờn. Mạch hoãn hoạt.
Phân tích chứng trạng
Vị hư, đàm thịnh, khí cơ không thông. Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, Xung khí thiên thịnh, kèm đàm thượng nghịch, ủng trở nhũ lạc. Không thông thì đau, nên trước kỳ hoặc trong kỳ kinh vú căng đầy đau, hoặc núm vú ngứa đau. Đàm thấp ủng trệ trung tiêu, trung Dương không phấn chấn, vận hóa thất chức, nên ngực bức, nhiều đàm, ăn ít, kém ngon miệng. Đàm thấp hạ chú, làm tổn thương Đới mạch, Đới mạch mất ước thúc, nên bình thường đới hạ lượng nhiều, sắc trắng, chất đặc dính. Đàm thấp trở ở Xung Nhâm, khí huyết vận hành không thông, nên kinh lượng ít, sắc nhạt. Lưỡi nhạt to bệu, rêu trắng nhờn, mạch hoãn hoạt cũng là dấu hiệu của Vị hư đàm trệ.
Pháp trị
Kiện Vị khứ đàm, hoạt huyết chỉ thống.
Phương thang
Tứ vật hợp Nhị trần thang, trích từ Trần Tố Am Phụ Khoa Bổ Giải, bỏ Cam thảo.
Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Sinh địa, Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Hải tảo, Hồng hoa, Hương phụ, Đan bì.
Trong phương, Trần bì, Bán hạ, Phục linh kiện Vị, khứ đàm. Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Hồng hoa hoạt huyết khứ ứ, thông lạc. Sinh địa, Đan bì lương huyết hành trệ. Hương phụ sơ Can lý khí. Hải tảo nhuyễn kiên tán kết. Toàn phương có công năng kiện Vị khứ đàm, lý khí hoạt huyết, thông lạc tán kết.
Nói tóm lại
Vú căng đau theo kỳ kinh lấy vú căng đau hoặc núm vú ngứa đau phát tác theo chu kỳ kinh nguyệt làm đặc điểm chính. Bệnh cơ nằm ở nhũ lạc không thông, mà nguyên nhân chủ yếu là Can khí uất trệ hoặc đàm thấp trở lạc.
Can uất khí trệ thì sơ Can lý khí, thông lạc chỉ thống. Vị hư đàm trệ thì kiện Vị khứ đàm, hoạt huyết thông lạc. Khi trị cần xét vú đau thuộc trướng đau do khí, đau kèm khối do đàm ứ, hay đau kèm nhiệt do uất nhiệt. Nếu khí thông, đàm hóa, huyết hành, nhũ lạc được thông, chứng vú căng đau theo kỳ sẽ dần giảm.
Tiết 17
Tình chí bất thường theo kỳ kinh
Mỗi khi trước kỳ kinh hoặc trong kỳ kinh xuất hiện phiền táo, dễ giận, hoặc tình chí uất ức, buồn thương muốn khóc, ngồi nằm không yên, sau khi kinh sạch lại trở lại như người bình thường, gọi là tình chí bất thường theo kỳ kinh.
Bệnh này thuộc phạm vi hội chứng căng thẳng trước kỳ kinh trong y học hiện đại.
Nguyên nhân bệnh cơ
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là đàm hỏa, uất nhiệt hoặc Tâm huyết vốn hư. Khi gặp biến hóa sinh lý của chu kỳ kinh nguyệt, đàm hỏa hoặc uất nhiệt quấy động Tâm thần, hoặc Tâm thần mất sự nuôi dưỡng, từ đó phát sinh tình chí bất thường. Các thể thường gặp gồm Tâm huyết bất túc, Can kinh uất nhiệt và đàm hỏa thượng nhiễu.
Tính tình vốn yếu mềm, hay sợ, hoặc suy nghĩ, lao nhọc làm tổn thương Tỳ. Tỳ hư, nguồn sinh hóa bất túc, tinh huyết hư ít, Tâm mất sự nuôi dưỡng. Đến kỳ kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, Tâm huyết càng cảm thấy bất túc, Tâm thần mất nuôi dưỡng, vì vậy phát sinh tình chí bất thường.
Tính tình vốn uất ức, hoặc đại nộ làm tổn thương Can, Can khí uất kết, uất mà hóa nhiệt. Trước kỳ kinh, Xung khí thiên thịnh, Xung khí kèm Can nhiệt thượng nghịch, đi lên quấy nhiễu Tâm thần. Đồng thời Can uất càng nặng, khí cơ không thông, vì vậy phát sinh tình chí bất thường.
Cơ thể vốn đàm thịnh, ngũ chí hóa hỏa; hoặc tình chí nội thương, Can mộc thừa Tỳ, Tỳ hư sinh thấp, thấp tụ thành đàm. Đàm tích lâu ngày hóa nhiệt, đàm hỏa thịnh bên trong. Trước kỳ kinh, Xung khí thiên thịnh, Xung khí kèm đàm hỏa thượng nghịch, che lấp Tâm khiếu, quấy động Tâm thần, vì vậy phát sinh tình chí bất thường.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng của bệnh này là tình chí bất thường xuất hiện có quy luật trước kỳ hoặc trong kỳ kinh. Điều trị lấy dưỡng Tâm an thần làm đại pháp. Cụ thể, tùy theo hư thực mà dưỡng Tâm huyết, tả Can nhiệt hoặc thanh đàm hỏa.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, tinh thần hoảng hốt, Tâm thần không yên, vô cớ buồn thương, hồi hộp, mất ngủ. Kinh nguyệt lượng ít, sắc nhạt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng. Mạch tế.
Phân tích chứng trạng
Tâm huyết vốn hư. Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, khí huyết hạ xuống Xung Nhâm, Tâm huyết càng hư, Tâm thần mất sự nuôi dưỡng, thần không giữ được bên trong, nên tinh thần hoảng hốt, Tâm thần bất định, vô cớ buồn thương, hồi hộp, mất ngủ. Huyết ít, Xung Nhâm bất túc, huyết hải đầy tràn không nhiều, nên kinh lượng ít, sắc nhạt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch tế là dấu hiệu của huyết hư.
Pháp trị
Bổ huyết dưỡng Tâm, an thần định chí.
Phương thang
Cam mạch đại táo thang, trích từ Kim Quỹ Yếu Lược, hợp Dưỡng Tâm thang, trích từ Chứng Trị Chuẩn Thằng, bỏ Xuyên khung, Bán hạ.
Cam mạch đại táo thang
Cam thảo, Tiểu mạch, Đại táo.
Dưỡng Tâm thang
Hoàng kỳ, Phục linh, Phục thần, Đương quy, Bá tử nhân, Viễn chí, Ngũ vị tử, Nhân sâm, Toan táo nhân, Nhục quế.
Trong phương, Hoàng kỳ, Nhân sâm, Phục linh, Đại táo, Cam thảo bổ khí kiện Tỳ để giúp nguồn sinh hóa. Tiểu mạch, Bá tử nhân, Viễn chí, Ngũ vị tử, Phục thần, Toan táo nhân dưỡng Tâm an thần. Đương quy bổ huyết điều kinh. Nhục quế ôn dưỡng huyết mạch, thông Tâm khí. Toàn phương có công năng bổ huyết dưỡng Tâm, an thần định chí.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh phiền táo, dễ giận, hoặc uất ức không vui. Đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô, ngực sườn đầy trướng, không muốn ăn. Kinh nguyệt lượng nhiều, sắc đỏ sẫm. Lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch huyền sác.
Phân tích chứng trạng
Can khí mất sơ tiết, uất mà hóa nhiệt. Trước kỳ kinh, Xung khí thiên thịnh, Xung khí kèm Can nhiệt thượng nghịch, quấy nhiễu Tâm thần, đồng thời Can uất càng nặng, khí cơ không thông, nên phiền táo, dễ giận, hoặc uất ức không vui. Can nhiệt bốc lên, Can nhiệt làm Đởm tiết nhiệt, nên đầu choáng, mắt hoa, miệng đắng, họng khô. Can uất khí trệ nên ngực sườn đầy trướng. Can mạnh khắc Tỳ thổ, nên không muốn ăn. Uất nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, nên kinh lượng nhiều. Kinh huyết bị nhiệt nung đốt, nên sắc đỏ sẫm. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác là dấu hiệu của Can kinh uất nhiệt.
Pháp trị
Thanh Can tiết nhiệt, giải uất an thần.
Phương thang
Đan chi tiêu dao tán gia Xuyên luyện tử, Sinh long xỉ, Đại giả thạch.
Đan chi tiêu dao tán vốn có tác dụng sơ Can giải uất, thanh nhiệt lương huyết, dưỡng huyết nhu Can. Gia Xuyên luyện tử để tăng sức sơ Can lý khí. Gia Sinh long xỉ để trấn tĩnh an thần. Gia Đại giả thạch để trọng trấn giáng nghịch, giúp Xung khí không thượng nghịch quấy nhiễu Tâm thần. Toàn phương vừa thanh Can nhiệt, vừa giải uất, vừa an thần.
Gia giảm
Nếu kèm huyết ứ, biểu hiện bụng dưới đau và cự án, kinh huyết có cục, lưỡi tím tối hoặc có điểm tím, mạch sáp hữu lực, phép trị nên sơ Can giải uất, hóa ứ an thần. Có thể dùng Huyết phủ trục ứ thang gia Thạch quyết minh, Câu đằng.
Chứng trạng chủ yếu
Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh tinh thần cuồng táo, nói năng không mạch lạc, đau đầu, mất ngủ, Tâm hung phiền muộn, không muốn ăn. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn. Mạch hoạt sác hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Đàm hỏa thịnh ở trong. Trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, Xung khí thiên thịnh, Xung khí kèm đàm hỏa thượng nghịch, che lấp thanh khiếu, nên tinh thần cuồng táo, nói năng không mạch lạc, đau đầu, mất ngủ. Đàm hỏa quấy nhiễu Tâm Can, nên Tâm hung phiền muộn. Đàm trệ trung tiêu, nên không muốn ăn. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác là dấu hiệu của đàm hỏa nội thịnh.
Pháp trị
Khoát đàm khai khiếu, thanh Tâm an thần.
Phương thang
Ôn đởm thang, trích từ Tam Nhân Cực Nhất Bệnh Chứng Phương Luận, gia Hoàng liên, Đởm tinh, Thạch xương bồ.
Bán hạ, Trúc nhự, Chỉ thực, Trần bì, Cam thảo, Phục linh, Sinh khương, Đại táo, Hoàng liên, Đởm tinh, Thạch xương bồ.
Trong phương, Bán hạ, Trần bì, Phục linh hóa đàm, hòa trung. Trúc nhự thanh nhiệt, hóa đàm, trừ phiền. Chỉ thực hành khí, phá đàm trệ. Hoàng liên thanh Tâm hỏa. Đởm tinh thanh nhiệt hóa đàm. Thạch xương bồ hóa thấp, khai khiếu, tỉnh thần. Sinh khương, Đại táo, Cam thảo điều hòa Tỳ Vị. Toàn phương có công năng khoát đàm khai khiếu, thanh Tâm an thần.
Nói tóm lại
Tình chí bất thường theo kỳ kinh lấy các biến đổi tinh thần, cảm xúc xuất hiện có quy luật trước kỳ hoặc trong kỳ kinh, sau kỳ kinh lại trở về bình thường làm đặc điểm chính. Bệnh cơ có thể thuộc hư, cũng có thể thuộc thực.
Tâm huyết bất túc là hư chứng, do Tâm thần mất nuôi dưỡng, trị bằng bổ huyết dưỡng Tâm, an thần định chí. Can kinh uất nhiệt là thực nhiệt kiêm uất, do Can nhiệt theo Xung khí thượng nhiễu Tâm thần, trị bằng thanh Can tiết nhiệt, giải uất an thần. Đàm hỏa thượng nhiễu là đàm nhiệt che lấp thanh khiếu, trị bằng khoát đàm khai khiếu, thanh Tâm an thần.
Khi luận trị, không nên chỉ nhìn biểu hiện tình chí bên ngoài, mà cần xét mối liên hệ với chu kỳ kinh nguyệt, Xung khí, Can, Tâm, Tỳ và đàm hỏa. Khi khí huyết điều hòa, đàm hỏa được thanh, Tâm thần được nuôi dưỡng, tình chí theo kỳ kinh sẽ dần yên ổn.
Tiết 18
Các chứng trước sau kinh đoạn
Phụ nữ trước và sau khi tuyệt kinh, nếu xuất hiện các chứng liên quan đến kinh đoạn như nóng bừng mặt đỏ, sau đó ra mồ hôi, tinh thần mệt mỏi, phiền táo dễ giận, đầu choáng mắt hoa, tai ù, hồi hộp, mất ngủ, hay quên, lưng đau mỏi, lòng bàn tay bàn chân nóng, hoặc kèm kinh nguyệt rối loạn, thì gọi là các chứng trước sau kinh đoạn. Bệnh này cũng gọi là các chứng trước sau kinh tuyệt.
Các chứng trạng này thường xuất hiện không đồng đều, không nhất thiết cùng có một lúc. Số lần phát tác và thời gian phát tác cũng không có quy luật cố định. Bệnh trình dài ngắn khác nhau; người nhẹ có thể chỉ kéo dài vài tháng, người nặng có thể kéo dài nhiều năm, thậm chí hơn mười năm.
Bệnh này tương đương với hội chứng mãn kinh trong y học hiện đại. Những người sau khi cắt bỏ hai buồng trứng, hoặc sau xạ trị làm chức năng hai buồng trứng suy kiệt, cũng có thể xuất hiện biểu hiện tương tự hội chứng mãn kinh.
Nguyên nhân bệnh cơ
Sự phát sinh của bệnh này có quan hệ mật thiết với đặc điểm sinh lý trước và sau khi tuyệt kinh. Phụ nữ vào khoảng bốn mươi chín tuổi, Thận khí từ thịnh dần suy, Thiên quý từ ít dần đến cạn kiệt, khí huyết hai mạch Xung Nhâm cũng theo đó mà suy giảm. Trong giai đoạn chuyển tiếp sinh lý này, nếu chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh bên trong và bên ngoài, như thể chất vốn Âm Dương thiên lệch, tính tình uất ức, có bệnh cũ lâu ngày, hoặc gia đình, xã hội, sinh hoạt thay đổi, đều dễ khiến Thận Âm Thận Dương mất điều hòa mà phát bệnh.
“Thận là gốc tiên thiên”, lại có câu “ngũ tạng chuyển bệnh, đến cùng tất liên lụy Thận”. Vì vậy, khi Thận Âm Dương mất điều hòa, rất dễ ảnh hưởng đến các tạng phủ khác. Ngược lại, bệnh biến của các tạng phủ khác lâu ngày cũng tất nhiên liên lụy đến Thận. Do đó, gốc bệnh này ở Thận, nhưng thường liên quan đến Tâm, Can, Tỳ và nhiều kinh mạch, khiến chứng trạng trở nên phức tạp.
Các thể thường gặp gồm Thận Âm hư và Thận Dương hư.
Cơ thể vốn Âm hư, huyết ít. Đến trước sau kinh đoạn, Thiên quý dần kiệt, tinh huyết suy ít. Nếu lại thêm ưu tư, mất ngủ, Doanh Âm âm thầm hao tổn, hoặc phòng sự không điều độ làm hao thương tinh huyết, hoặc mất máu, bệnh nặng làm Âm huyết tổn thương, thì Thận Âm càng hư. Tạng phủ mất sự nuôi dưỡng, từ đó phát sinh các chứng trước sau kinh đoạn.
Cơ thể vốn hư yếu, Thận Dương suy hư. Đến trước sau kinh đoạn, Thận khí càng hư. Nếu lại thêm kinh sợ đột ngột, hoặc phòng sự không điều độ làm tổn thương Thận khí, Mệnh môn hỏa suy, tạng phủ mất sự ôn ấm, thì phát sinh các chứng trước sau kinh đoạn.
Biện chứng luận trị
Biện chứng lấy sự hư suy của Thận Âm và Thận Dương làm chủ. Điều trị lấy điều trị Thận Âm Thận Dương làm đại pháp. Nếu bệnh liên quan đến tạng khác thì kiêm trị tạng ấy.
Chứng trạng chủ yếu
Trước sau kinh đoạn, đầu choáng, tai ù, lưng đau, chân mềm, nóng bừng, ra mồ hôi, ngũ tâm phiền nhiệt, mất ngủ, nhiều mộng, miệng khô, họng khô, hoặc da ngứa. Kinh nguyệt rối loạn, lượng kinh có thể ít hoặc nhiều, kinh sắc đỏ tươi. Lưỡi đỏ, ít rêu. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Trước sau kinh đoạn, Thận khí dần suy, Thiên quý sắp kiệt, tinh huyết hao ít. Thận Âm không đủ thì không thể nuôi dưỡng tủy hải và tai khiếu, nên đầu choáng, tai ù. Lưng là phủ bên ngoài của Thận, Thận hư thì lưng đau, chân mềm. Âm hư không chế được Dương, hư Dương bốc lên, nên nóng bừng, mặt đỏ, ra mồ hôi. Âm hư nội nhiệt nên ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô, họng khô. Thận thủy không lên giúp Tâm, Tâm thần không yên, nên mất ngủ, nhiều mộng. Âm huyết bất túc, da không được nhu dưỡng, huyết táo sinh phong, phong động thì ngứa, nên có thể da ngứa. Thận Âm hư, Xung Nhâm mất điều hòa, nên kinh nguyệt rối loạn, lượng kinh có thể ít hoặc nhiều, sắc đỏ tươi. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác đều là biểu hiện của Thận Âm hư.
Pháp trị
Tư Thận dưỡng Can.
Phương thang
Nhất quán tiễn, trích từ Liễu Châu Y Thoại.
Sa sâm, Mạch môn, Đương quy, Sinh địa, Xuyên luyện tử, Câu kỷ tử.
Trong phương, Sinh địa, Câu kỷ tử tư dưỡng Can Thận, bổ tinh huyết. Sa sâm, Mạch môn dưỡng Âm, sinh tân, nhuận táo. Đương quy dưỡng huyết nhu Can. Xuyên luyện tử sơ Can lý khí, khiến bổ mà không trệ, dưỡng mà không làm uất. Toàn phương lấy tư dưỡng Can Thận làm chủ, kiêm sơ Can điều khí, thích hợp với các chứng Âm hư kèm Can khí không thư trước sau kinh đoạn.
Gia giảm
Nếu Can Thận Âm hư nặng, dẫn đến Can Dương thượng cang, biểu hiện chóng mặt, đau đầu, tai ù, tai điếc, nóng nảy dễ giận, mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, mạch huyền hữu lực, phép trị nên dưỡng Âm tiềm Dương, trấn Can tức phong. Dùng Trấn Can tức phong thang, trích từ Y Học Trung Trung Tham Tây Lục.
Trấn Can tức phong thang
Hoài ngưu tất, Sinh đại giả thạch, Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ, Sinh quy bản, Bạch thược, Huyền sâm, Thiên môn đông, Xuyên luyện tử, Sinh mạch nha, Nhân trần, Cam thảo.
Trong phương, Hoài ngưu tất dẫn huyết đi xuống, đưa phần thượng nghịch trở về hạ tiêu. Sinh đại giả thạch, Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ trọng trấn tiềm Dương. Sinh quy bản, Huyền sâm, Thiên môn đông, Bạch thược dưỡng Âm, nhu Can. Xuyên luyện tử sơ Can lý khí. Sinh mạch nha, Nhân trần điều đạt Can khí. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có công năng dưỡng Âm tiềm Dương, trấn Can tức phong.
Nếu tình chí không thư, Can uất hóa nhiệt, biểu hiện đầu choáng mắt hoa, miệng đắng, họng khô, tâm hung phiền muộn, khát thích uống lạnh, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác, phép trị nên sơ Can giải uất, thanh nhiệt. Dùng Đan chi tiêu dao tán.
Chứng trạng chủ yếu
Trước sau kinh đoạn, đầu choáng, tai ù, lưng đau mỏi, bụng lạnh, vùng âm hạ sa trĩu, thân lạnh, tay chân lạnh, tiểu tiện nhiều lần hoặc tiểu tiện không tự chủ, đới hạ lượng nhiều, kinh nguyệt không đều, lượng kinh nhiều hoặc ít, sắc nhạt, chất loãng. Tinh thần uể oải, sắc mặt tối sạm. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn. Mạch trầm tế mà trì.
Phân tích chứng trạng
Trước sau kinh đoạn, Thận khí dần suy. Thận chủ cốt, sinh tủy; lưng là phủ của Thận. Thận hư thì tủy hải và lưng mất nuôi dưỡng, nên đầu choáng, tai ù, lưng đau, chân mềm. Thận Dương hư, hạ tiêu mất sự ôn ấm, nên bụng lạnh, vùng âm hạ sa trĩu. Bàng quang khí hóa thất thường, cửa đóng mở không vững, nên tiểu tiện nhiều lần hoặc tiểu tiện không tự chủ. Khí hóa thất thường, thủy thấp đình lại bên trong, hạ chú Xung Nhâm, làm tổn thương Đới mạch, Đới mạch ước thúc vô lực, nên đới hạ lượng nhiều. Thận Dương hư, Xung Nhâm mất sự điều khiển, nên kinh nguyệt không đều, lượng nhiều hoặc ít. Huyết mất sự ôn hóa của Dương khí, nên kinh sắc nhạt, chất loãng. Thận Dương hư, Mệnh hỏa suy, trung Dương không phấn chấn, nên thân lạnh, tay chân lạnh, tinh thần uể oải. Thận chủ sắc đen, Thận Dương hư khiến Thận thủy hiện lên trên, nên sắc mặt tối sạm. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm tế mà trì đều là biểu hiện của Thận Dương hư.
Pháp trị
Ôn Thận phù Dương.
Phương thang
Hữu quy hoàn, trích từ Cảnh Nhạc Toàn Thư, hoặc Nhị tiên thang tùy chứng gia giảm.
Hữu quy hoàn
Thục địa, Sơn dược, Sơn thù du, Câu kỷ tử, Thỏ ty tử, Đỗ trọng, Lộc giác giao, Nhục quế, Phụ tử, Đương quy.
Trong phương, Phụ tử, Nhục quế, Lộc giác giao ôn Thận trợ Dương, làm ấm Mệnh môn. Thục địa, Sơn thù du, Câu kỷ tử, Đương quy dưỡng huyết, bổ tinh, khiến Dương được nương vào Âm mà sinh. Thỏ ty tử, Đỗ trọng bổ Thận, mạnh lưng gối. Sơn dược bổ Tỳ Thận, giúp nguồn sinh hóa hậu thiên. Toàn phương có công năng ôn Thận trợ Dương, ích tinh dưỡng huyết.
Nhị tiên thang
Tiên mao, Dâm dương hoắc, Ba kích thiên, Đương quy, Hoàng bá, Tri mẫu.
Phương này có ý nghĩa ôn Thận Dương mà không quên thanh hư nhiệt, thích hợp với những trường hợp trước sau kinh đoạn có biểu hiện Dương hư nhưng cũng kèm hư nhiệt hoặc Âm Dương mất điều hòa. Tiên mao, Dâm dương hoắc, Ba kích thiên ôn Thận trợ Dương. Đương quy dưỡng huyết điều kinh. Hoàng bá, Tri mẫu thanh hư nhiệt, giúp ôn mà không táo. Khi dùng cần căn cứ thiên lệch Âm hư hay Dương hư để gia giảm.
Gia giảm
Nếu đới hạ lượng nhiều, chất loãng, tùy chứng thêm Lộc giác sương, Kim anh tử, Khiếm thực để ôn Thận cố sáp.
Nếu tiểu tiện nhiều lần hoặc không tự chủ, tùy chứng thêm Ích trí nhân, Tang phiêu tiêu, Phúc bồn tử để ôn Thận cố nhiếp.
Nếu bụng lạnh, âm hạ sa trĩu rõ, tùy chứng thêm Tiểu hồi hương, Ngải diệp, Bổ cốt chi để ôn hạ tiêu.
Nếu kiêm Tỳ Dương hư, ăn kém, đại tiện lỏng, thân mệt, nên phối hợp kiện Tỳ ôn trung như Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Can khương.
Nói tóm lại
Các chứng trước sau kinh đoạn phát sinh trong giai đoạn Thận khí dần suy, Thiên quý sắp kiệt, Xung Nhâm suy giảm. Gốc bệnh chủ yếu ở Thận, nhưng thường liên quan đến Tâm, Can, Tỳ và nhiều kinh mạch, nên chứng trạng có thể phức tạp: nóng bừng, ra mồ hôi, mất ngủ, phiền táo, chóng mặt, tai ù, lưng đau, kinh nguyệt rối loạn, đới hạ, tiểu tiện bất thường.
Biện chứng cần lấy Thận Âm hư và Thận Dương hư làm hai trục chính. Thận Âm hư thì tư Thận dưỡng Can, khi Can Dương thượng cang thì dưỡng Âm tiềm Dương, trấn Can tức phong; nếu Can uất hóa nhiệt thì sơ Can thanh nhiệt. Thận Dương hư thì ôn Thận phù Dương, đồng thời chú ý cố nhiếp Đới mạch, điều tiểu tiện, kiện Tỳ khi cần.
Điều trị không nên chỉ nhằm dập một triệu chứng như bốc hỏa, mất ngủ hay ra mồ hôi. Cần điều hòa lại Thận Âm Thận Dương, khiến Xung Nhâm dần ổn, tạng phủ được nuôi dưỡng và ôn ấm thích đáng. Khi gốc Thận được điều chỉnh, các chứng trước sau kinh đoạn sẽ dần nhẹ đi và cơ thể có thể thuận lợi bước qua giai đoạn chuyển tiếp này.
Tiết 19
Kinh đoạn rồi lại hành kinh
Phụ nữ sau khi tự nhiên tuyệt kinh trên hai năm, lại thấy âm đạo ra huyết, gọi là kinh đoạn rồi lại hành kinh, cũng gọi là lão niên kinh thủy phục hành.
Bệnh này tương đương với xuất huyết sau mãn kinh trong y học hiện đại. Nếu do bệnh biến ác tính ở đường sinh dục gây nên, tiên lượng thường không tốt, vì vậy cần hết sức coi trọng. Khi lâm chứng, không nên chỉ xem đây là kinh nguyệt trở lại, mà cần kiểm tra để xác định nguyên nhân, phân biệt hư thực, lành ác, cấp hoãn.
Nguyên nhân bệnh cơ
Phụ nữ vào khoảng bốn mươi chín tuổi, Thận khí suy, Thiên quý kiệt, Thái Xung mạch suy ít, địa đạo không thông, cho nên kinh thủy đoạn tuyệt. Nếu cơ thể vốn khí Âm đều hư, tà khí lại ẩn phục bên trong, khiến Xung Nhâm không vững, thì có thể phát sinh chứng kinh đoạn rồi lại hành kinh.
Các thể thường gặp gồm khí hư, Âm hư, huyết nhiệt và huyết ứ.
Cơ thể vốn trung khí bất túc, lại thêm lao lực quá độ làm tổn thương trung khí. Khí hư thì Xung Nhâm không cố, huyết mất sự thống nhiếp, vì vậy sau khi kinh đã đoạn lại thấy kinh thủy trở lại.
Kết hôn sớm, sinh đẻ nhiều, Âm huyết vốn đã hao. Lại thêm phòng sự không điều độ, càng làm tổn thương Thận tinh. Hoặc tuổi già ưu tư quá mức, hao tổn Doanh Âm, Âm hư sinh nội nhiệt. Nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, khiến kinh đã đoạn lại phục hành.
Tuổi già chính khí đã suy, nếu cảm thụ nhiệt tà, hoặc thấp nhiệt, nhiệt độc uẩn kết ở hạ tiêu, làm tổn thương Xung Nhâm và Bào mạch, nhiệt bức huyết đi càn, thì âm đạo có thể ra huyết trở lại. Trường hợp này thường kèm đới hạ tăng nhiều, sắc vàng, mùi hôi, hoặc có các biểu hiện thấp nhiệt, nhiệt độc.
Kinh đoạn đã lâu, khí huyết suy yếu, vận hành không thông; hoặc trước đó có ứ huyết lưu lại trong Bào cung; hoặc khí trệ, hàn nhiệt, thấp độc làm huyết ứ kết bên trong. Ứ trở Xung Nhâm, huyết không theo kinh mạch bình thường, vì vậy sau khi kinh đã đoạn lại ra huyết. Nếu ứ lâu kết lại, có thể thành trưng hà, khối kết ở Bào trung.
Biện chứng luận trị
Yếu điểm biện chứng của bệnh này là phụ nữ đã tự nhiên tuyệt kinh trên hai năm, âm đạo lại xuất huyết. Khi biện chứng cần kết hợp lượng huyết, sắc huyết, chất huyết, mùi, đới hạ, đau bụng, toàn thân, lưỡi mạch để phân biệt khí hư, Âm hư, huyết nhiệt hay huyết ứ.
Điều trị lấy cố Xung chỉ huyết làm chủ, nhưng không được chỉ biết cầm máu. Hư thì bổ mà cố; nhiệt thì thanh mà chỉ; ứ thì hóa mà quy kinh. Đồng thời, vì đây là xuất huyết sau mãn kinh, cần đặc biệt chú ý thăm khám để loại trừ bệnh biến thực thể hoặc ác tính.
Chứng trạng chủ yếu
Tự nhiên tuyệt kinh trên hai năm, kinh thủy lại trở lại, lượng huyết tương đối nhiều, sắc nhạt, chất loãng. Bụng dưới trống sa, thần mệt, không sức, hơi ngắn, lười nói, sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng trắng. Mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng trạng
Khí hư, trung khí hạ hãm, Xung Nhâm không cố, nên sau khi kinh đã đoạn, kinh thủy lại trở lại, lượng huyết tương đối nhiều, kèm bụng dưới trống sa. Khí hư, Tỳ yếu, nguồn sinh hóa bất túc, nên huyết ra sắc nhạt, chất loãng. Trung khí bất túc nên thần mệt, không sức, hơi ngắn, lười nói. Trung Dương không phấn chấn, khí huyết không vinh nhuận lên mặt, nên sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng trắng, mạch hoãn nhược cũng là biểu hiện của khí hư.
Pháp trị
Bổ khí dưỡng huyết, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
An lão thang, trích từ Phó Thanh Chủ Nữ Khoa.
Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Đương quy, Thục địa, Sơn thù du, A giao, Hắc kinh giới tuệ, Hương phụ, Mộc nhĩ, thán Cam thảo.
Trong phương, Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật bổ trung ích khí, cố nhiếp chỉ huyết. Thục địa, A giao, Đương quy dưỡng huyết chỉ huyết. Sơn thù du thu sáp chỉ huyết. Hương phụ lý khí, dùng cùng thuốc bổ khí dưỡng huyết để bổ mà không trệ. Hắc kinh giới tuệ, Mộc nhĩ thán lấy sắc đen chế sắc đỏ, tăng sức chỉ huyết. Toàn phương lấy bổ khí cố Xung nhiếp huyết để trị bản, dưỡng huyết chỉ huyết để trị tiêu, tiêu bản cùng trị, nên có thể thu được công hiệu cầm huyết.
Gia giảm
Nếu huyết ra nhiều, bụng dưới sa trĩu rõ, có thể tùy chứng gia Thăng ma, Sài hồ để thăng đề.
Nếu khí hư kèm Tỳ hư ăn kém, đại tiện lỏng, có thể gia Sơn dược, Phục linh, Sa nhân để kiện Tỳ.
Nếu ra huyết kéo dài làm đầu choáng, hồi hộp, có thể gia Long nhãn nhục, Toan táo nhân để dưỡng huyết an thần.
Chứng trạng chủ yếu
Tự nhiên tuyệt kinh trên hai năm, kinh thủy lại trở lại, lượng không nhiều, sắc đỏ tươi. Ngũ tâm phiền nhiệt, hai gò má đỏ từng cơn, ngủ đêm không yên, họng khô, miệng khô, âm đạo khô sáp hoặc nóng rát đau, da hoặc âm hộ ngứa, đại tiện táo kết. Lưỡi đỏ, ít rêu. Mạch tế sác.
Phân tích chứng trạng
Âm hư nội nhiệt, nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, nên sau khi kinh đã đoạn lại thấy kinh thủy trở lại. Âm hư huyết ít, huyết bị nhiệt nung đốt, nên lượng huyết không nhiều mà sắc đỏ tươi. Âm hư ở dưới, Dương nổi lên trên, nên hai gò má đỏ từng cơn. Âm hư nội nhiệt, hư hỏa quấy nhiễu Tâm thần, nên ngũ tâm phiền nhiệt, ngủ đêm không yên. Âm hư, tân dịch hao ít, nên họng khô, miệng khô, đại tiện táo kết.
Kinh Can vòng quanh âm khí, Thận chủ nhị âm. Can Thận Âm hư, tinh huyết bất túc, ngoại âm mất sự nuôi dưỡng, nên âm hộ ngứa, trong âm đạo khô sáp, nóng rát đau. Âm hư huyết táo, huyết hư sinh phong, phong động thì ngứa, nên da có thể ngứa. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác cũng là biểu hiện của Âm hư.
Pháp trị
Tư Âm lương huyết, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Thanh huyết dưỡng Âm thang.
Phương này lấy tư Âm, thanh nhiệt, lương huyết, cố Xung làm chủ. Khi Âm dịch được nuôi, hư nhiệt được thanh, Xung Nhâm yên thì huyết không còn bị nhiệt bức đi càn.
Gia giảm
Trong thời gian xuất huyết, tùy chứng thêm Sinh quy bản, Sinh long cốt, A giao để dưỡng Âm, cố Xung, chỉ huyết.
Nếu da hoặc âm hộ ngứa nhiều, tùy chứng thêm Bạch tật lê, Kinh giới, Hà thủ ô để dưỡng huyết, khu phong, chỉ ngứa.
Nếu đại tiện táo kết, tùy chứng thêm Hồ ma nhân, Bá tử nhân để dưỡng Âm nhuận táo, thông tiện.
Chứng trạng chủ yếu
Tự nhiên tuyệt kinh trên hai năm, kinh thủy lại trở lại, huyết sắc đỏ sẫm, chất đặc. Đới hạ tăng nhiều, màu vàng, có mùi hôi. Miệng đắng, miệng khô, tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện bí kết. Lưỡi đỏ, rêu vàng. Mạch huyền hoạt.
Phân tích chứng trạng
Nhiệt làm tổn thương Xung Nhâm, bức huyết vọng hành, nên kinh thủy đã đoạn lại trở lại. Huyết bị nhiệt nung đốt, nên huyết sắc đỏ sẫm, chất đặc. Nhiệt nung đốt tân dịch, nên miệng đắng, họng khô, tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện bí kết. Nhiệt độc làm tổn thương Bào mạch, thấp nhiệt hạ chú, nên đới hạ sắc vàng, có mùi hôi. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền hoạt cũng là dấu hiệu của huyết nhiệt.
Pháp trị
Thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Ích Âm tiễn, trích từ Y Tông Kim Giám, gia Sinh mẫu lệ, Thiến căn, Địa du.
Sinh địa, Tri mẫu, Hoàng bá, Sinh quy bản, Sa nhân, Chích cam thảo, Sinh mẫu lệ, Thiến căn, Địa du.
Trong phương, Sinh địa, Thiến căn, Địa du thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết. Tri mẫu, Hoàng bá tư Âm thanh nhiệt, tả hỏa. Sinh quy bản, Sinh mẫu lệ cố Xung chỉ huyết. Dùng ít Sa nhân để dưỡng Vị, tỉnh Tỳ, hành khí khoan trung, giúp thuốc lương nhuận không làm trở trệ trung tiêu. Toàn phương thanh nhiệt lương huyết, tả hỏa, khiến huyết không còn bị nhiệt bức, Xung Nhâm tự cố, huyết không đi càn.
Gia giảm
Nếu đới hạ lượng nhiều, tùy chứng thêm Xa tiền tử, Thổ phục linh, Ý dĩ nhân để thanh nhiệt, lợi thấp.
Nếu xuất huyết lượng nhiều hoặc tái phát nhiều lần, khí vị hôi thối, tùy chứng thêm Bạch hoa xà thiệt thảo, Thất diệp nhất chi hoa, Bán chi liên để thanh nhiệt giải độc, hóa trọc.
Chứng trạng chủ yếu
Tự nhiên tuyệt kinh trên hai năm, kinh thủy lại trở lại, huyết sắc tím tối, có huyết khối, lượng nhiều ít không đều. Bụng dưới đau và cự án, hoặc trong Bào trung có trưng khối. Lưỡi tím tối. Mạch huyền sáp hoặc sáp mà hữu lực.
Phân tích chứng trạng
Ứ huyết ngăn trở Xung Nhâm, huyết không theo kinh mạch bình thường, nên sau khi kinh đã đoạn lại ra huyết, huyết sắc tím tối, có huyết khối, lượng nhiều ít không đều. Ứ trở Bào mạch, khí huyết vận hành không thông, nên bụng dưới đau và cự án. Ứ huyết tích ở Bào trung, lâu ngày tụ kết thành trưng, nên có thể sờ thấy hoặc phát hiện khối kết ở Bào trung. Lưỡi tím tối, mạch huyền sáp hoặc sáp hữu lực cũng là dấu hiệu của huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, cố Xung chỉ huyết.
Phương thang
Đương quy hoàn, trích từ Thánh Tế Tổng Lục.
Đương quy, Thược dược, Ngô thù du, Đại hoàng, Can khương, Phụ tử, Tế tân, Đan bì, Xuyên khung, Manh trùng, Thủy điệt, Hậu phác, Đào nhân, Quế chi.
Trong phương, Thược dược nên dùng Xích thược; Quế nên dùng Quế chi. Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Quế chi hoạt huyết khứ ứ. Manh trùng, Thủy điệt khứ ứ tiêu tích. Đại hoàng, Đan bì, Đào nhân lương huyết khứ ứ. Ngô thù du, Can khương, Phụ tử, Tế tân ôn kinh tán ứ. Hậu phác hành khí để trợ lực tán kết. Toàn phương hoạt huyết khứ ứ, tiêu tích hóa ứ; khi trưng kết tan, Xung Nhâm thông, huyết theo đường thường, không còn đi càn thì huyết có thể tự dứt.
Chú ý
Phương này có sức công phá mạnh, chỉ thích hợp với người thể thực, ứ huyết kết ở trong rõ. Nếu chính khí hư, tuổi cao, huyết ra nhiều, hoặc nghi có bệnh biến thực thể nặng, không nên dùng công phá mạnh một cách tùy tiện. Cần xét kỹ hư thực và phối hợp kiểm tra cần thiết.
Gia giảm
Nếu huyết ứ kèm đau bụng rõ, tùy chứng thêm Diên hồ sách, Ngũ linh chi để hoạt huyết chỉ thống.
Nếu kèm đới hạ hôi, huyết sắc đỏ sẫm, nghi thấp nhiệt hoặc nhiệt độc xen lẫn, cần phối hợp thanh nhiệt giải độc, lợi thấp.
Nếu ra huyết lâu ngày, chính khí đã hư, cần trong hoạt huyết hóa ứ kiêm ích khí dưỡng huyết để tránh công phá làm tổn chính.
Nói tóm lại
Kinh đoạn rồi lại hành kinh là chứng âm đạo ra huyết sau khi đã tự nhiên tuyệt kinh trên hai năm. Đây là chứng cần đặc biệt thận trọng, vì không chỉ liên quan đến khí huyết Xung Nhâm, mà còn có thể liên quan đến bệnh biến thực thể hoặc ác tính ở đường sinh dục.
Bệnh cơ thường gặp có khí hư, Âm hư, huyết nhiệt và huyết ứ. Khí hư thì Xung Nhâm không cố, huyết mất thống nhiếp; Âm hư thì hư nhiệt quấy nhiễu Xung Nhâm, bức huyết vọng hành; huyết nhiệt thì nhiệt làm tổn thương Bào mạch, huyết bị bức đi càn; huyết ứ thì ứ trở Xung Nhâm, huyết không theo kinh mạch bình thường.
Điều trị cần cố Xung chỉ huyết nhưng không được rời biện chứng. Khí hư thì bổ khí dưỡng huyết, cố Xung chỉ huyết. Âm hư thì tư Âm lương huyết, cố Xung chỉ huyết. Huyết nhiệt thì thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết. Huyết ứ thì hoạt huyết hóa ứ, cố Xung chỉ huyết. Đối với xuất huyết sau mãn kinh, ngoài biện chứng Trung y, cần chú trọng kiểm tra nguyên nhân để tránh bỏ sót bệnh nặng.
Tổng kết Chương 8
Bệnh kinh nguyệt
Bệnh kinh nguyệt là nhóm bệnh lấy sự bất thường của chu kỳ, kinh kỳ, kinh lượng, kinh sắc, kinh chất và các triệu chứng đi kèm theo chu kỳ làm nội dung chủ yếu. Từ kinh nguyệt đến sớm, đến muộn, trước sau không định kỳ, lượng nhiều, lượng ít, kinh kỳ kéo dài, xuất huyết giữa kỳ, băng lậu, bế kinh, thống kinh, cho đến các chứng phát sốt, đau đầu, thổ nục, tiêu chảy, vú căng đau, tình chí bất thường, các chứng trước sau kinh đoạn và kinh đoạn rồi lại hành kinh, tuy biểu hiện khác nhau, nhưng đều có quan hệ mật thiết với Bào cung, Xung Nhâm, khí huyết và tạng phủ.
Về bệnh cơ, có thể quy về mấy trục chính. Một là Thận hư, vì kinh thủy xuất ư Thận, Thận khí, Thiên quý, Xung Nhâm là nền tảng của kinh nguyệt. Hai là Tỳ hư, vì Tỳ Vị là nguồn sinh hóa khí huyết, khí huyết có đủ thì huyết hải mới đầy. Ba là Can uất, vì Can tàng huyết, chủ sơ tiết, khí cơ có thông thì huyết hành có độ. Bốn là khí huyết thất điều, bao gồm khí hư, khí trệ, huyết hư, huyết nhiệt, huyết hàn, huyết ứ. Năm là đàm thấp, thấp nhiệt, nhiệt độc hoặc hàn tà làm trở ngại Xung Nhâm, Bào mạch.
Về điều trị, cần nắm nguyên tắc trị bản để điều kinh. Nếu bệnh khác gây kinh không điều, trước hết trị bệnh khác; nếu kinh không điều gây bệnh khác, phải điều kinh. Khi cấp thì trị tiêu, khi hoãn thì trị bản. Kinh băng ra nhiều thì cần cầm máu trước; thống kinh dữ dội thì cần chỉ thống trước; nhưng khi thế cấp đã qua, phải tìm gốc bệnh mà điều chỉnh. Trong kỳ kinh, Huyết thất đang mở, dùng thuốc quá hàn hoặc quá nhiệt đều cần thận trọng. Trước kỳ kinh, huyết hải sung thịnh, nên sơ đạo mà không lạm bổ. Sau kỳ kinh, huyết hải trống rỗng, nên điều bổ mà không công phá mạnh. Tuy vậy, sau cùng vẫn phải căn cứ hư thực hàn nhiệt mà vận dụng linh hoạt.
Nói tóm lại, bệnh kinh nguyệt không thể chỉ nhìn ở huyết ra nhiều hay ít, đến sớm hay đến muộn. Cần nhìn toàn bộ mối quan hệ giữa Thận, Tỳ, Can, khí huyết, Xung Nhâm và Bào cung. Khi gốc Thận được vững, nguồn Tỳ được đầy, Can khí điều đạt, khí huyết hòa, Xung Nhâm thông và cố, thì kinh nguyệt mới có thể trở lại trật tự bình thường.