NGÀY 11 ĐẾN NGÀY 15
Dẫn nhập
Trong mười ngày đầu của hành trình trừ thấp, chúng ta đã đi qua hai bước quan trọng.
Từ ngày 4 đến ngày 7, trọng tâm là kiện Tỳ. Tỳ khỏe thì thủy dịch được vận hóa, thấp không sinh thêm từ gốc.
Từ ngày 8 đến ngày 10, trọng tâm là khai Phế. Phế thông thì khí cơ thượng tiêu nhẹ, đờm thấp có đường tuyên phát và túc giáng.
Nhưng nếu Thận dương yếu, thủy dịch vẫn khó được khí hóa.
Trong Trung y, Thận chủ thủy, Thận dương chủ khí hóa. Nước trong cơ thể muốn vận hành, không chỉ cần Tỳ vận hóa, Phế tuyên giáng, mà còn cần có dương khí của Thận làm động lực. Nếu Thận dương đầy đủ, nước được làm ấm, được khí hóa, được đưa đi và bài tiết đúng đường. Nếu Thận dương suy, nước dễ đình lại, sinh hàn thấp, thủy thấp, phù, lạnh, tiểu đêm, đau lưng, mệt mỏi.
Có thể ví cơ thể như một nồi nước.
Tỳ là người xử lý nguyên liệu.
Phế là nắp ấm giúp hơi nước tuyên phát và đi xuống đúng đường.
Thận dương là ngọn lửa bên dưới.
Nếu có nồi mà không có lửa, nước khó bốc hơi. Nếu cơ thể thiếu dương khí, thấp cũng khó hóa.
Vì vậy, từ ngày 11 đến ngày 15, trọng tâm là ôn Thận, trợ dương nhẹ nhàng, giúp cơ thể ấm hơn, thủy dịch được khí hóa tốt hơn.
Giai đoạn này đặc biệt phù hợp với người có biểu hiện hàn thấp hoặc Thận dương hư như:
Chân lạnh.
Bụng lạnh.
Sợ lạnh.
Tiểu đêm.
Phù chân nhẹ.
Đại tiện lỏng.
Đau lưng, mỏi gối.
Người mệt, sắc mặt nhợt.
Rêu lưỡi trắng ướt.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh: ôn Thận không có nghĩa là ai cũng dùng đồ nóng. Người thấp nhiệt, miệng đắng, tiểu vàng, đại tiện hôi dính, mụn viêm nhiều, rêu lưỡi vàng nhớt, táo bón khô, nóng trong rõ thì không nên tự ý dùng nhiều gừng, quế, rượu thuốc hay món đại nhiệt. Với nhóm này, phải thanh thấp nhiệt trước hoặc điều hòa hàn nhiệt tùy thể trạng.
NGÀY 11
LÀM ẤM BỤNG
Trung tiêu ấm thì Tỳ dễ vận hóa
Thận là gốc của dương khí, nhưng Tỳ Vị là nơi cần được sưởi ấm mỗi ngày. Tỳ muốn vận hóa tốt thì trung tiêu phải ấm. Nếu bụng lạnh, Tỳ dương bị tổn thương, thức ăn khó tiêu, thủy dịch khó hóa, thấp dễ sinh.
Người bụng lạnh thường có biểu hiện:
Ăn đồ lạnh dễ đau bụng.
Uống nước đá dễ đầy bụng.
Đại tiện lỏng hoặc nát.
Bụng thích được chườm ấm.
Người mệt, chân tay lạnh.
Rêu lưỡi trắng ướt.
Ngày 11 tập trung vào làm ấm trung tiêu. Đây là bước nối giữa kiện Tỳ và ôn Thận. Khi bụng ấm, Tỳ dễ vận hóa hơn; khi Tỳ vận hóa tốt hơn, thấp cũng dễ giảm hơn.
Canh Gừng – Thịt nạc – Táo đỏ
Món canh này thiên về làm ấm trung tiêu, bổ nhẹ khí huyết, giúp người hàn thấp, Tỳ Vị lạnh, ăn uống kém, bụng lạnh dễ chịu hơn.
Nguyên liệu gợi ý:
Gừng tươi 2 đến 3 lát.
Thịt nạc 80 đến 100g.
Táo đỏ 2 đến 3 quả.
Nước vừa đủ.
Có thể thêm một ít hành lá nếu người thiên hàn.
Cách nấu:
Thịt nạc rửa sạch, cắt miếng mỏng.
Táo đỏ rửa sạch, bỏ hạt nếu cần.
Cho thịt nạc, táo đỏ, gừng vào nồi.
Nấu thành canh loãng.
Ăn lúc còn ấm.
Công dụng theo Trung y:
Gừng giúp ôn trung, tán hàn, làm ấm Tỳ Vị.
Thịt nạc bổ nhẹ khí huyết, giúp món ăn có sức nuôi dưỡng hơn.
Táo đỏ giúp hòa trung, dưỡng Tỳ Vị nhẹ.
Món này phù hợp với người bụng lạnh, ăn kém, tiêu hóa yếu, đại tiện lỏng nhẹ, người mệt do hư hàn.
Chú ý:
Người thấp nhiệt rõ, miệng đắng, tiểu vàng, đại tiện hôi dính, mụn viêm nhiều, nóng trong, táo bón khô không nên dùng nhiều gừng và táo đỏ. Người đường huyết cao nên dùng rất ít táo đỏ hoặc bỏ táo đỏ.
Chườm ấm bụng 10 phút
Cách làm:
Dùng túi chườm ấm hoặc khăn ấm.
Nhiệt độ vừa phải, ấm dễ chịu, không bỏng rát.
Đặt lên vùng rốn và dưới rốn.
Chườm khoảng 10 phút trước khi ngủ.
Có thể kết hợp thở chậm, thư giãn bụng.
Tác dụng hỗ trợ:
Làm ấm trung tiêu.
Giảm cảm giác lạnh bụng.
Hỗ trợ giảm đầy hơi.
Giúp bụng dễ chịu hơn.
Hỗ trợ người đại tiện lỏng do hàn.
Chú ý:
Không chườm quá nóng.
Không chườm khi da vùng bụng đang viêm, bỏng, trầy xước.
Không chườm khi đau bụng cấp chưa rõ nguyên nhân.
Phụ nữ có thai, người mới phẫu thuật bụng, người có bệnh lý bụng chưa rõ cần thận trọng.
Không uống nước lạnh.
Không ăn trái cây lạnh lấy trực tiếp từ tủ lạnh.
Không để bụng lạnh khi ngủ.
Không ăn tối quá muộn.
Không ăn quá no vào buổi tối.
Bụng ấm thì Tỳ dễ vận.
Tỳ vận thì thấp dễ hóa.
Ngày 11 không cần dùng phương pháp mạnh. Chỉ cần giữ bụng ấm, ăn ấm, ngủ sớm, Tỳ Vị đã được giảm rất nhiều gánh nặng.
NGÀY 12
LÀM ẤM BÀN CHÂN
Chân ấm thì hạ tiêu dễ thông
Bàn chân là nơi nhiều đường kinh đi qua. Trong đó, kinh Thận bắt đầu từ vùng lòng bàn chân. Vì vậy, giữ ấm bàn chân có ý nghĩa quan trọng đối với người hư hàn, chân lạnh, tiểu đêm, phù nhẹ, ngủ kém.
Khi chân lạnh, phần dưới cơ thể thường thiếu sự ấm áp và lưu thông. Người có thể thấy:
Chân tay lạnh.
Ngủ khó ấm.
Tiểu đêm.
Phù nhẹ ở chân.
Lưng gối mỏi.
Người nặng và mệt.
Ngày 12 tập trung vào làm ấm bàn chân, giúp khí huyết phần dưới lưu thông hơn, hỗ trợ Thận khí hóa thủy dịch.
Ngâm chân gừng 10 đến 15 phút
Cách làm:
Chuẩn bị nước ấm khoảng 38 đến 42°C.
Cảm giác ấm dễ chịu, không nóng rát.
Có thể thêm 3 đến 5 lát gừng nếu người thiên hàn, chân lạnh.
Có thể thêm một ít muối nếu không có vết thương ở chân.
Ngâm 10 đến 15 phút trước khi ngủ.
Mực nước ngập qua mắt cá chân.
Sau khi ngâm, lau khô và giữ ấm chân.
Tác dụng hỗ trợ:
Làm ấm bàn chân.
Thư giãn cơ thể.
Hỗ trợ ngủ tốt hơn.
Giúp khí huyết phần dưới lưu thông.
Hỗ trợ người chân lạnh, phù nhẹ, hàn thấp.
Chú ý:
Không ngâm nước quá nóng.
Không ngâm đến mức vã mồ hôi nhiều.
Không ngâm khi đang sốt, say rượu, quá đói hoặc quá no.
Người tiểu đường, mất cảm giác bàn chân, bệnh mạch máu ngoại biên, giãn tĩnh mạch nặng, bệnh tim mạch nặng, huyết áp không ổn định, phụ nữ có thai nên hỏi ý kiến chuyên môn trước khi ngâm chân nóng thường xuyên.
Trà Gừng – Quế rất nhẹ
Món uống này chỉ phù hợp với người hàn thấp, sợ lạnh, chân lạnh, bụng lạnh, đờm trắng, đại tiện lỏng, rêu lưỡi trắng ướt. Dùng rất ít, không uống đặc.
Nguyên liệu gợi ý:
Gừng tươi 1 đến 2 lát mỏng.
Quế chi hoặc bột quế một lượng rất nhỏ.
Nước nóng vừa đủ.
Cách làm:
Hãm gừng và một chút quế với nước nóng.
Uống ấm, từng ngụm nhỏ.
Không uống vào tối muộn nếu dễ mất ngủ.
Không dùng liên tục nhiều ngày nếu thấy nóng, khô miệng, nổi mụn.
Công dụng theo Trung y:
Gừng giúp ôn trung, tán hàn.
Quế giúp ôn thông dương khí ở mức nhẹ nếu dùng đúng.
Hai vị phối hợp giúp người hàn thấp cảm thấy ấm hơn, bụng và chân dễ chịu hơn.
Chú ý:
Người thấp nhiệt, miệng đắng, tiểu vàng, đại tiện hôi dính, rêu vàng nhớt, mụn viêm, táo bón khô, nóng trong, huyết áp không ổn định, mất ngủ, phụ nữ có thai không nên tự dùng trà Gừng – Quế. Nếu không chắc thể trạng, chỉ cần uống nước ấm là đủ.
Không đi chân trần trên nền lạnh.
Không để chân lạnh khi ngủ.
Không ngâm chân xong lại đi ra gió lạnh.
Không uống nước đá vào buổi tối.
Chân ấm thì hạ tiêu dễ thông.
Hạ tiêu thông thì thủy dịch dễ vận hành.
Giữ ấm bàn chân là việc nhỏ, nhưng với người hàn thấp, Thận dương hư, tiểu đêm, phù nhẹ, đây là thói quen rất đáng duy trì.
NGÀY 13
XOA ẤM VÙNG THẮT LƯNG
Lưng ấm thì Thận khí dễ động
Trong Trung y, vùng thắt lưng có quan hệ mật thiết với Thận. Người Thận dương hư, hàn thấp, khí hóa kém thường hay đau lưng, mỏi gối, lưng lạnh, chân lạnh, tiểu đêm, phù nhẹ.
Xoa ấm vùng lưng không phải là “bổ Thận” theo nghĩa mạnh, nhưng có thể giúp vùng eo lưng ấm hơn, khí huyết lưu thông hơn, cơ thể bớt co lạnh. Đây là một phương pháp dưỡng sinh đơn giản, phù hợp với người ngồi nhiều, lưng mỏi, hạ tiêu lạnh.
Ngày 13 tập trung vào xoa ấm vùng thắt lưng để hỗ trợ Thận khí hóa.
Xoa lưng 100 đến 200 lần
Cách làm:
Chà hai bàn tay cho nóng.
Đặt hai tay lên vùng thắt lưng hai bên cột sống.
Xoa lên xuống nhẹ nhàng.
Lực vừa phải, tạo cảm giác ấm.
Làm 100 đến 200 lần.
Có thể làm buổi sáng và buổi tối.
Tác dụng hỗ trợ:
Làm ấm vùng thắt lưng.
Giảm cảm giác lưng lạnh.
Hỗ trợ giảm mỏi lưng nhẹ.
Giúp khí huyết vùng hạ tiêu lưu thông.
Hỗ trợ người tiểu đêm, chân lạnh, hàn thấp.
Chú ý:
Không xoa quá mạnh vào cột sống.
Không làm khi đau lưng cấp dữ dội, chấn thương, thoát vị đĩa đệm nặng, sốt, viêm nhiễm, hoặc đau lan xuống chân kèm tê yếu rõ. Những trường hợp này cần đi khám.
Cháo Hoài sơn – Kỷ tử
Món cháo này thiên về kiện Tỳ, dưỡng Can Thận nhẹ, phù hợp với người hư nhẹ, mệt mỏi, lưng mỏi, tiêu hóa yếu, nhưng không có thấp nhiệt rõ.
Nguyên liệu gợi ý:
Hoài sơn 20g.
Kỷ tử 6 đến 10 hạt.
Gạo tẻ một nắm nhỏ.
Nước vừa đủ.
Cách nấu:
Hoài sơn rửa sạch.
Cho Hoài sơn và gạo tẻ vào nồi nấu cháo.
Khi cháo gần chín, thêm Kỷ tử vào nấu thêm vài phút.
Ăn lúc còn ấm.
Công dụng theo Trung y:
Hoài sơn giúp kiện Tỳ, ích khí, hỗ trợ tiêu hóa.
Kỷ tử giúp dưỡng Can Thận, ích tinh huyết nhẹ.
Gạo tẻ giúp hòa Vị, làm cháo dễ tiêu.
Chú ý:
Người đàm thấp nặng, bụng đầy nhiều, rêu lưỡi dày nhớt, đại tiện dính nhiều không nên dùng nhiều Kỷ tử vì vị này có tính bổ dưỡng, dùng sai có thể hơi ngấy trệ. Người thấp nhiệt, miệng đắng, mụn viêm, tiểu vàng, đại tiện hôi dính cũng nên thận trọng.
Không ngồi liên tục quá lâu.
Không để lưng eo lạnh.
Không ngồi lâu trong phòng điều hòa lạnh.
Không cúi gập lưng quá lâu khi làm việc.
Nếu phải ngồi làm việc, nên đứng dậy sau mỗi 45 đến 60 phút, đi lại vài phút, xoay nhẹ eo lưng, hít thở sâu. Ngồi lâu làm khí huyết ứ trệ, thấp càng dễ tụ ở hạ tiêu.
Lưng ấm thì hạ tiêu ấm.
Hạ tiêu ấm thì thủy dịch dễ khí hóa.
Với người hàn thấp, đôi khi chỉ cần bớt ngồi lâu, giữ lưng ấm, xoa lưng đều đặn, cơ thể đã nhẹ hơn.
NGÀY 14
ĐỘNG NHẸ ĐỂ SINH DƯƠNG
Dương khí động thì thấp dễ hóa
Dương khí thích sự vận động vừa phải. Người ít vận động, ngồi lâu, nằm nhiều, cơ thể dễ trệ, khí huyết không thông, thủy dịch khó vận hành. Thấp vì vậy càng dễ tích lại.
Nhưng vận động để hóa thấp không có nghĩa là tập thật nặng. Người Tỳ hư, Thận dương hư, hàn thấp, mệt mỏi lâu ngày nếu tập quá sức có thể hao khí, sau tập càng mệt.
Ngày 14 tập trung vào vận động nhẹ, chậm, đều, giúp dương khí được phát động mà không làm cơ thể kiệt sức.
Các hình thức phù hợp có thể là đi bộ nhẹ, khí công, Bát đoạn cẩm, thái cực quyền, kéo giãn chậm, thở sâu phối hợp vận động.
Bát đoạn cẩm: Hai tay leo chân, bền Thận eo
Trong Bát đoạn cẩm có động tác thường được gọi là “Lưỡng thủ phan túc cố Thận yêu”, nghĩa là hai tay leo chân để làm bền Thận và eo lưng. Động tác này giúp kéo giãn vùng lưng eo, làm mềm gân cơ phía sau, hỗ trợ vùng Thận yêu.
Cách làm đơn giản:
Đứng thẳng, hai chân rộng bằng vai.
Hít vào, hai tay đưa lên cao nhẹ nhàng.
Thở ra, từ từ cúi người xuống, hai tay hướng về chân.
Không cần cố chạm bàn chân.
Lưng và gối giữ trong giới hạn thoải mái.
Từ từ đứng dậy khi hít vào.
Lặp lại 6 đến 8 lần.
Thời gian khoảng 5 đến 7 phút.
Tác dụng hỗ trợ:
Làm mềm vùng lưng eo.
Giúp khí huyết lưu thông.
Hỗ trợ giảm mỏi lưng nhẹ.
Phát động dương khí nhẹ nhàng.
Giúp người ngồi nhiều bớt trệ.
Chú ý:
Người thoát vị đĩa đệm, đau lưng cấp, chóng mặt, huyết áp không ổn định, loãng xương nặng, người cao tuổi yếu không nên cúi sâu. Có thể thay bằng đi bộ nhẹ 10 đến 15 phút hoặc tập thở đứng.
Nước Đậu đen rang
Đậu đen thường được dùng trong dân gian như món uống thanh nhẹ, lợi thủy nhẹ. Tuy nhiên, không phải ai cũng hợp và không nên uống thay nước cả ngày.
Nguyên liệu gợi ý:
Đậu đen 20 đến 30g.
Rang thơm nhẹ.
Nấu với nước.
Uống ấm trong ngày, lượng vừa phải.
Công dụng theo hướng dưỡng sinh:
Hỗ trợ lợi thủy nhẹ.
Giúp người phù nhẹ, nặng người có thêm món uống thanh đạm.
Có thể phù hợp với người không quá hư hàn.
Chú ý:
Người bụng lạnh, đại tiện lỏng, sợ lạnh, chân tay lạnh không nên uống nhiều nước đậu đen, nhất là uống lạnh. Người bệnh thận, đang hạn chế nước, đang dùng thuốc điều trị cần hỏi ý kiến chuyên môn. Không dùng nước đậu đen thay hoàn toàn nước lọc hoặc bữa ăn.
Không thức khuya.
Không tập quá sức vào buổi tối.
Không vận động đến mức vã mồ hôi nhiều nếu người đang hư yếu.
Không ngồi bất động cả ngày.
Ban đêm là thời gian quan trọng để cơ thể phục hồi. Thức khuya lâu ngày làm hao tổn khí huyết, ảnh hưởng đến Tỳ, Can, Thận, làm thấp khó hóa và cơ thể khó hồi phục.
Động nhẹ thì dương sinh.
Dương sinh thì thấp hóa.
Vận động đúng không phải là làm cơ thể kiệt sức, mà là đánh thức sự lưu thông bên trong.
NGÀY 15
CỦNG CỐ TỲ – PHẾ – THẬN
Ba cơ quan cùng vận, thấp dễ lui
Ngày 15 là ngày củng cố. Sau bốn ngày kiện Tỳ, ba ngày khai Phế và bốn ngày ôn Thận, cơ thể đã được nhắc lại ba nguyên tắc nền tảng:
Tỳ vận hóa.
Phế tuyên giáng.
Thận khí hóa.
Ba cơ quan này không tách rời nhau. Tỳ khỏe thì thấp không sinh thêm. Phế thông thì thấp có đường tuyên phát và túc giáng. Thận ấm thì thủy dịch được khí hóa. Khi cả ba cùng vận hành, cơ thể sẽ nhẹ hơn, ấm hơn, thông hơn.
Ngày 15 không thêm phương pháp mới quá phức tạp, mà phối hợp nhẹ nhàng các việc đã học: ăn ấm, xoa bụng, xoa lưng, tránh lạnh, đi lại nhẹ, ngủ sớm.
Cháo Ý dĩ – Hoài sơn – Táo đỏ
Món cháo này kết hợp kiện Tỳ, hóa thấp nhẹ và bổ trung nhẹ. Phù hợp với người Tỳ hư thấp nhẹ, mệt mỏi, ăn uống kém, nhưng không có thấp nhiệt rõ.
Nguyên liệu gợi ý:
Ý dĩ 20g.
Hoài sơn 20g.
Táo đỏ 2 quả.
Gạo tẻ một nắm nhỏ.
Nước vừa đủ.
Cách nấu:
Rửa sạch các nguyên liệu.
Ý dĩ có thể ngâm trước cho mềm.
Cho Ý dĩ, Hoài sơn, gạo tẻ vào nồi nấu cháo.
Khi gần chín, thêm táo đỏ.
Ăn lúc còn ấm.
Công dụng theo Trung y:
Ý dĩ giúp kiện Tỳ, thẩm thấp nhẹ.
Hoài sơn giúp kiện Tỳ, ích khí.
Táo đỏ giúp hòa trung, bổ nhẹ Tỳ Vị.
Gạo tẻ bảo vệ Vị khí, giúp món cháo dễ tiêu.
Chú ý:
Người thấp nhiệt rõ, mụn viêm nhiều, miệng đắng, tiểu vàng, đại tiện hôi dính, rêu vàng nhớt không nên dùng nhiều táo đỏ. Người bụng lạnh, đại tiện lỏng nhiều cần dùng Ý dĩ vừa phải và ăn ấm. Người đường huyết cao nên bỏ táo đỏ hoặc dùng rất ít.
Xoa bụng kết hợp xoa lưng
Cách làm:
Buổi sáng hoặc tối, chà hai tay cho nóng.
Xoa bụng theo chiều kim đồng hồ 100 vòng.
Sau đó xoa vùng thắt lưng 100 vòng.
Lực nhẹ nhàng, tạo cảm giác ấm.
Có thể kết hợp thở chậm.
Tác dụng hỗ trợ:
Xoa bụng giúp trung tiêu thông, Tỳ Vị dễ vận hóa.
Xoa lưng giúp vùng Thận yêu ấm, hạ tiêu dễ thông.
Hai động tác phối hợp giúp trên dưới cùng điều hòa, khí cơ dễ lưu chuyển hơn.
Chú ý:
Không xoa khi vừa ăn no.
Không xoa mạnh khi đau bụng cấp hoặc đau lưng cấp.
Người có bệnh lý đặc biệt cần thận trọng.
Không ăn tối muộn.
Không ăn quá no.
Không uống nước lạnh buổi tối.
Không để bụng, lưng, chân lạnh khi ngủ.
Không thức khuya.
Tỳ khỏe, Phế thông, Thận ấm.
Ba điều này cùng đủ thì thấp mới dễ lui.
Ngày 15 là ngày nhìn lại toàn bộ nửa đầu hành trình. Không cần thêm nhiều phương pháp. Điều quan trọng là nhận ra điều gì hợp với cơ thể mình và duy trì đều đặn.
TỔNG KẾT NGÀY 11 ĐẾN NGÀY 15
Năm ngày này là giai đoạn ôn Thận, trợ dương, tăng khí hóa thủy dịch.
Ngày 11 làm ấm bụng, giúp trung tiêu vận hóa.
Ngày 12 làm ấm chân, giúp hạ tiêu thông.
Ngày 13 xoa ấm lưng, hỗ trợ vùng Thận yêu.
Ngày 14 vận động nhẹ để phát động dương khí.
Ngày 15 củng cố Tỳ – Phế – Thận.
Nếu thực hiện phù hợp với thể trạng, một số người có thể cảm thấy:
Chân ấm hơn.
Bụng ấm hơn.
Ngủ dễ hơn.
Tiểu đêm giảm nhẹ.
Phù chân nhẹ giảm.
Đau lưng mỏi gối nhẹ bớt hơn.
Tiêu hóa dễ hơn.
Người bớt nặng.
Tinh thần sáng hơn.
Tuy nhiên, mức độ thay đổi tùy thể trạng. Người hàn thấp, dương hư có thể cảm nhận rõ hơn. Người thấp nhiệt, đàm thấp nhiệt, mụn viêm, miệng đắng, rêu vàng nhớt nếu dùng quá nhiều món ôn ấm có thể thấy nóng hơn, mụn tăng, miệng khô, khó ngủ. Vì vậy, cần phân biệt thể trạng trước khi áp dụng.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 7
Ôn Thận là một bước quan trọng trong hành trình trừ thấp, nhưng không phải ai cũng ôn giống nhau. Với người hàn thấp, Thận dương hư, chân lạnh, bụng lạnh, tiểu đêm, phù nhẹ, đại tiện lỏng, đau lưng mỏi gối, việc làm ấm bụng, ấm chân, ấm lưng, vận động nhẹ và ngủ sớm có thể giúp khí hóa thủy dịch tốt hơn.
Thận dương giống như ngọn lửa của cơ thể. Lửa đủ thì nước vận hành. Lửa yếu thì nước dễ đọng. Nhưng lửa cần được nuôi dưỡng nhẹ nhàng, không phải đốt lên bằng các vị cay nóng quá mức.
Vì vậy, ôn Thận đúng cách là:
Giữ ấm bụng.
Giữ ấm chân.
Giữ ấm lưng.
Vận động nhẹ.
Ngủ sớm.
Tránh nước lạnh.
Không dùng đồ đại nhiệt khi chưa rõ thể trạng.
Khi Tỳ được kiện, Phế được thông, Thận được ôn, hệ thống vận thủy của cơ thể bắt đầu đầy đủ hơn. Thấp không còn dễ sinh, đờm thấp không còn dễ tụ, thủy dịch cũng có đường để khí hóa và bài tiết.
Nói gọn lại:
Tỳ khỏe thì thấp không sinh thêm.
Phế thông thì thấp có đường thoát.
Thận ấm thì nước được khí hóa.
Đây là nền tảng để bước sang giai đoạn tiếp theo của hành trình trừ thấp: phân biệt sâu hơn giữa thấp hàn, thấp nhiệt, đàm thấp, thấp trệ và lựa chọn món ăn, dược thiện, vận động phù hợp với từng thể trạng.