Tham khảo tài liệu:
Triệu chứng khởi phát sớm nhất của bệnh xương do fluor là vết đốm trên men răng (斑釉齿), tức trên răng có những đốm trắng như phấn, về sau chuyển thành các đốm đen, răng giòn và dễ mẻ. Bệnh nhân cảm thấy đau thắt lưng, đau chân, tê bì, suy yếu kèm rối loạn cảm giác, khó đi đại tiện, tê liệt, co giật… Ở giai đoạn muộn, do mật độ xương giảm, màng xương, gân và dây chằng vôi hóa lan rộng, xương bị phì đại và có thể xuất hiện gù lưng, khớp vai cứng đờ, biến dạng co gập ở khớp khuỷu và khớp gối.
Bệnh xương do fluor có chẩn đoán khá rõ ràng: lượng fluor trong nước tiểu cao hơn 3 mg/L (bình thường 1–2 mg/L, fluor trong máu là 0,05 mg%) là có thể chẩn đoán. Trên phim X-quang, có thể thấy xương đặc bất thường hoặc giảm mật độ xương, hóa cứng, hiện tượng vôi hóa dây chằng, vôi hóa màng giữa xương hoặc dày màng xương, vân xương thô ráp rõ rệt…
Đối với bệnh này, điều quan trọng nhất là phòng và điều trị, biện pháp căn bản là thay đổi hàm lượng fluor trong nước uống. Việc tăng cường hấp thu canxi cũng có tác dụng nhất định, có thể bổ sung khoảng 1 g canxi và 5.000 đơn vị quốc tế (IU) vitamin D mỗi ngày. Bài thuốc Thung dung hoàn của đông y “苁蓉丸” cũng có hiệu quả, bao gồm: Thục địa 60 g, Sinh khương 40 g, Kê huyết đằng 40 g, Nhục thung dung 30 g, Hải đồng bì 30 g, Xuyên khung 30 g, Lộc hàm thảo 30 g, Lai phục tử 15 g. Bào chế thành hoàn mật, mỗi lần uống 10 g, ngày 3 lần, liên tục trong 3–6 tháng.
Fluor xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường tiêu hóa, đường hô hấp và qua da. Phần lớn fluor được thải ra ngoài qua phân, nước tiểu, tuyến mồ hôi, lông/tóc và nước bọt. Tuy nhiên, nếu lượng hấp thu quá lớn hoặc cơ chế đào thải kém hiệu quả, fluor sẽ dễ tích tụ trong cơ thể. Do xương và răng có ái lực mạnh với fluor, khoảng một nửa lượng fluor hấp thu sẽ gắn kết và lắng đọng tại xương. Tổn thương bệnh lý của bệnh này chủ yếu ảnh hưởng đến xương, nhưng răng, cơ bắp, dây chằng và nội tạng cũng có thể bị ảnh hưởng, dẫn đến các biến đổi về mật độ, kết cấu xương, làm tăng tính giòn, giảm tính đàn hồi, thu hẹp hoặc biến mất tủy xương. Cột sống thường bị thay đổi rõ nhất, ở bờ đốt sống có hiện tượng tăng sinh xương, thể tích đốt sống có thể to hơn, có khi chúng dính liền làm thu hẹp ống sống và ống rễ thần kinh, gây chèn ép tủy sống, chùm đuôi ngựa hoặc rễ thần kinh.
Ở giai đoạn đầu, bệnh nhân thường thấy đau thắt lưng hoặc đau chân dai dẳng, không đỡ khi nghỉ ngơi, sau đó cơn đau nặng dần, cột sống và các khớp xương chậu bị cứng, cơ lưng căng. Giai đoạn muộn có thể gù lưng, hoặc biến dạng co gập ở hông và gối. Trong trường hợp nặng, biểu hiện chèn ép rễ thần kinh rõ rệt, dẫn đến đau rễ thần kinh dữ dội, rối loạn cảm giác da hai chân, yếu cơ, hai chân mỏi, và có thể liệt hoàn toàn. Gần như tất cả bệnh nhân xương do fluor đều có hiện tượng fluor làm đổi màu men răng (氟斑齿), khiến bề mặt răng trở nên sần sùi, mất độ bóng, có các vệt nhỏ, và răng rất dễ gãy.
Phim X-quang cho thấy toàn bộ khung xương có mật độ tăng cao, thường thấy rõ nhất ở xương trục (cột sống, xương sườn, xương chậu) với hiện tượng chất xương thô ráp, các bè xương (xương xốp) mờ không rõ. Một số ít trường hợp có thể thấy xương loãng (giảm mật độ xương). Ngoài ra, còn có khả năng xuất hiện gai xương do vôi hóa màng liên cốt, vôi hóa chỗ bám của gân và dây chằng. Cột sống có thể dính lại, trông như hình ống tre.
Xét nghiệm cho thấy nồng độ fluor trong nước tiểu và máu đều tăng cao. Bên cạnh đó, cũng cần làm rõ bệnh nhân có tiền sử hoặc đang sinh sống ở vùng có hàm lượng fluor cao hay không.
Ly Trường Xuân dịch