Bàn về phép châm để cứu khí uất, điều thăng giáng, phòng dịch lệ và giữ toàn chân khí
Chú ý nhỏ: Thiên này có nhiều nội dung châm pháp, phòng dịch, luyện đan và các vị khoáng vật độc như chu sa, hùng hoàng, thư hoàng. Mình dịch theo văn bản cổ, không xem đây là hướng dẫn tự thực hành.
Đoạn 1
Hoàng Đế hỏi:
Thăng giáng không tiến hành bình thường, khí giao có biến, liền thành bạo uất; điều ấy ta đã biết rồi. Nhưng làm sao có thể dự phòng để cứu sinh linh, có thể đẩy lui tai họa ấy chăng?
Kỳ Bá cúi đầu, lạy hai lạy rồi đáp:
Câu hỏi sáng rõ thay! Thần từng nghe phu tử nói: đã hiểu rõ Thiên nguyên, thì cần cùng tận phép châm. Có thể dùng phép châm để bẻ gãy uất khí, nâng đỡ vận khí, bổ chỗ yếu, giữ toàn chân khí, trừ bớt khí thịnh dư, khiến dân khỏi nỗi khổ ấy.
Hoàng Đế nói:
Ta muốn nghe đầy đủ.
Kỳ Bá nói:
Khi khí muốn thăng mà không tiến lên được, tất có hung hiểm rất nặng.
Mộc muốn thăng mà bị Thiên trụ làm bế tắc, đè nén. Mộc muốn phát uất cũng phải đợi đúng thời. Khi ấy nên châm huyệt Tỉnh của kinh Túc Quyết âm.
Hỏa muốn thăng mà bị Thiên bồng làm bế tắc, đè nén. Hỏa muốn phát uất cũng phải đợi đúng thời. Quân hỏa và Tướng hỏa cùng châm huyệt Huỳnh của kinh Tâm bào lạc.
Thổ muốn thăng mà bị Thiên xung làm bế tắc, đè nén. Thổ muốn phát uất cũng phải đợi đúng thời. Khi ấy nên châm huyệt Du của kinh Túc Thái âm.
Kim muốn thăng mà bị Thiên anh làm bế tắc, đè nén. Kim muốn phát uất cũng phải đợi đúng thời. Khi ấy nên châm huyệt Kinh của kinh Thủ Thái âm.
Thủy muốn thăng mà bị Thiên nội làm bế tắc, đè nén. Thủy muốn phát uất cũng phải đợi đúng thời. Khi ấy nên châm huyệt Hợp của kinh Túc Thiếu âm.
Giải thích từ ngữ
Thăng giáng: khí lên xuống. Trong Nội Kinh, thăng giáng là trục lớn của sinh hóa. Thăng không được thì khí uất ở dưới hoặc ở trong; giáng không được thì khí nghịch ở trên hoặc bế ở ngoài.
Bạo uất: khí bị uất đột ngột, phát bệnh nhanh và nặng.
Chiết uất phù vận: bẻ gãy khí uất, nâng đỡ vận khí để khí được trở lại đường vận hành.
Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp: năm loại huyệt ngũ du, dùng theo sự lưu hành nông sâu của kinh khí.
Đoạn 2
Hoàng Đế nói:
Khí thăng không tiến, còn có thể dự bị trước. Nay ta muốn nghe về khí giáng, có thể phòng trước được chăng?
Kỳ Bá nói:
Đã hiểu thăng, tất phải thông đạt giáng. Đạo thăng giáng đều có thể trị trước.
Mộc muốn giáng mà bị Địa hạo làm bế tắc, đè nén. Giáng mà không nhập, bị ép lâu thì uất phát. Khi tán được thì có thể trở về vị trí. Nếu khí giáng mà uất phát, thì phát bạo như khí ở khoảng trời chờ đúng thời. Nếu giáng mà không xuống, uất khí có thể đến rất nhanh. Khi ấy nên bẻ cái mà Mộc thắng, để tán uất của nó; châm chỗ khí xuất ra của kinh Thủ Thái âm, và châm chỗ khí nhập vào của kinh Thủ Dương minh.
Hỏa muốn giáng mà bị Địa huyền làm bế tắc, đè nén. Giáng mà không nhập thì bị ép mà uất phát. Khi tán được thì có thể yên. Nên bẻ cái mà Hỏa thắng để tán uất của nó; châm chỗ khí xuất ra của kinh Túc Thiếu âm, và châm chỗ khí nhập vào của kinh Túc Thái dương.
Thổ muốn giáng mà bị Địa thương làm bế tắc, đè nén. Giáng mà không xuống thì uất phát. Khi tán được thì có thể nhập. Nên bẻ cái mà Thổ thắng để tán uất của nó; châm chỗ khí xuất ra của kinh Túc Quyết âm, và châm chỗ khí nhập vào của kinh Túc Thiếu dương.
Kim muốn giáng mà bị Địa đồng làm bế tắc, đè nén. Giáng mà không xuống thì uất phát do bị ép. Khi tán được thì có thể nhập. Nên bẻ cái mà Kim thắng để tán uất của nó; châm chỗ khí xuất ra của kinh Tâm bào lạc, và châm chỗ khí nhập vào của kinh Thủ Thiếu dương.
Thủy muốn giáng mà bị Địa phụ làm bế tắc, đè nén. Giáng mà không xuống thì uất phát. Khi tán được thì có thể nhập. Nên bẻ Thổ để tán uất của Thủy; châm chỗ khí xuất ra của kinh Túc Thái âm, và châm chỗ khí nhập vào của kinh Túc Dương minh.
Giải thích từ ngữ
Sở xuất, sở nhập: chỗ khí kinh đi ra và đi vào, tương ứng với huyệt trên đường kinh.
Chiết kỳ sở thắng: bẻ cái mà khí ấy vốn thắng, để giải thế uất và làm khí được thông.
Mộc giáng không được: Mộc khí không quy về vị, dễ sinh uất, đau sườn, phong động, can khí nghịch.
Thủy giáng không được: Thủy khí không xuống đúng vị, dễ sinh thủy uất, phù, hàn thấp, tiểu tiện không lợi.
Đoạn 3
Hoàng Đế hỏi:
Sự đến của năm vận có trước có sau; thăng giáng qua lại, có khi bị thừa tiếp, bị đè nén. Có thể được nghe chăng?
Kỳ Bá nói:
Nên lấy hóa nguyên làm chỗ trị.
Cho nên, thái quá thì lấy bớt đi; bất cập thì giúp thêm vào. Thái quá thì lấy bớt nó, tiếp đó ức chế uất khí của nó, lấy hóa nguyên của vận ấy, khiến uất khí được bẻ gãy. Bất cập thì nâng đỡ, giúp thêm để phù trợ vận khí, tránh hư tà. Phép tư trợ và lấy bớt được ghi trong sách Mật Ngữ.
Giải thích từ ngữ
Hóa nguyên: nguồn sinh hóa của khí. Trong lâm sàng thường quy về gốc khí hóa của tạng phủ, đặc biệt là Tỳ Vị, Thận khí, hoặc nguồn vận khí của năm.
Thái quá thủ chi: khí quá thì tả bớt.
Bất cập tư chi: khí không đủ thì giúp thêm.
Mật Ngữ: tên sách hoặc thiên cổ được dẫn, chỉ phép bí truyền về tư trợ và tả bớt vận khí.
Đoạn 4
Hoàng Đế hỏi:
Về phép châm cho thăng giáng, ta đã biết điều cốt yếu. Nay muốn nghe trường hợp Tư thiên chưa được thiên chính, khiến khí tư hóa mất thường chính, làm muôn hóa có thể rối loạn. Nếu điều ấy gây bệnh cho dân, có thể trừ trước được chăng? Muốn cứu giúp quần sinh, xin được nghe lời giải.
Kỳ Bá cúi đầu, lạy hai lạy rồi nói:
Câu hỏi thật đầy đủ thay! Bệ hạ nói đến chí lý, lòng thánh nhân từ, muốn cứu giúp quần sinh. Thần xin trình bày hết đạo này, để làm sáng tỏ chỗ sâu kín.
Khi Thái dương lại phân bố, thì Quyết âm không thể thiên chính. Nếu không thiên chính, khí bị bế ở trên, nên tả chỗ khí lưu của kinh Túc Quyết âm.
Khi Quyết âm lại phân bố, thì Thiếu âm không thể thiên chính. Nếu không thiên chính, khí bị bế ở trên, nên châm chỗ khí lưu của mạch Tâm bào lạc.
Khi Thiếu âm lại phân bố, thì Thái âm không thể thiên chính. Nếu không thiên chính, khí lưu lại ở trên, nên châm chỗ khí lưu của kinh Túc Thái âm.
Khi Thái âm lại phân bố, thì Thiếu dương không thể thiên chính. Nếu không thiên chính, khí bế chưa thông, nên châm chỗ khí lưu của kinh Thủ Thiếu dương.
Khi Thiếu dương lại phân bố, thì Dương minh không thể thiên chính. Nếu không thiên chính, khí chưa thông lên trên, nên châm chỗ khí lưu của kinh Thủ Thái âm.
Khi Dương minh lại phân bố, thì Thái dương không thể thiên chính. Nếu không thiên chính, khí lại bị bế, nên châm chỗ khí lưu của kinh Túc Thiếu âm.
Giải thích từ ngữ
Thiên chính: khí mới đúng thời lên nắm chính lệnh ở trên.
Phục bố: khí cũ lại phân bố, chưa chịu lui, làm khí mới không vào chính vị.
Khí tắc vu thượng: khí bị bế ở trên, thường sinh bệnh ở đầu, ngực, họng, mắt, mũi hoặc khí nghịch.
Sở lưu: chỗ kinh khí lưu hành, một trong các vị trí huyệt ngũ du.
Đoạn 5
Hoàng Đế hỏi:
Nếu khí chưa thiên chính thì cần thông điều cốt yếu. Nay ta muốn nghe trường hợp khí cũ không lui, muốn bẻ khí dư của nó, không để nó gây lỗi, có thể làm sáng tỏ được chăng?
Kỳ Bá nói:
Khí đi quá mà còn dư, lại trở về phân bố chính lệnh, gọi là chưa vượt qua vị trí. Điều này khiến địa khí không thể hóa theo sau, khí Tư thiên mới chưa thể thiên chính, nên khí cũ lại phân bố hóa lệnh như trước.
Năm Tỵ, Hợi, thiên số hữu dư, nên Quyết âm không lui vị. Phong vận hành ở trên, Mộc hóa phân bố trên trời. Khi ấy nên châm chỗ khí nhập vào của kinh Túc Quyết âm.
Năm Tý, Ngọ, thiên số hữu dư, nên Thiếu âm không lui vị. Nhiệt vận hành ở trên, Hỏa dư hóa phân bố trên trời. Khi ấy nên châm chỗ khí nhập vào của kinh Thủ Quyết âm.
Năm Sửu, Mùi, thiên số hữu dư, nên Thái âm không lui vị. Thấp vận hành ở trên, mưa hóa phân bố trên trời. Khi ấy nên châm chỗ khí nhập vào của kinh Túc Thái âm.
Năm Dần, Thân, thiên số hữu dư, nên Thiếu dương không lui vị. Nhiệt vận hành ở trên, Hỏa hóa phân bố trên trời. Khi ấy nên châm chỗ khí nhập vào của kinh Thủ Thiếu dương.
Năm Mão, Dậu, thiên số hữu dư, nên Dương minh không lui vị. Kim vận hành ở trên, Táo hóa phân bố trên trời. Khi ấy nên châm chỗ khí nhập vào của kinh Thủ Thái âm.
Năm Thìn, Tuất, thiên số hữu dư, nên Thái dương không lui vị. Hàn vận hành ở trên, Thủy hóa rét buốt phân bố trên trời. Khi ấy nên châm chỗ khí nhập vào của kinh Túc Thiếu âm.
Cho nên, khi khí trời đất nghịch, sự hóa thành bệnh cho dân; dùng phép châm đúng pháp thì có thể dự phòng và làm bình bệnh trước.
Giải thích từ ngữ
Bất thoái vị: khí cũ đáng lui mà không lui, chiếm giữ vị trí.
Thiên số hữu dư: số của trời có dư, làm khí chủ quá thời mà vẫn còn mạnh.
Sở nhập: chỗ kinh khí nhập vào, trong văn này dùng để điều khí cũ không lui.
Tư thiên mới không thiên chính: khí mới không lên được đúng vị, nên khí hóa bị rối.
Đoạn 6
Hoàng Đế hỏi:
Hai can cứng mềm mất chỗ giữ vị, khiến khí thiên vận đều hư chăng? Điều ấy gây bệnh cho dân, có thể làm bình được chăng?
Kỳ Bá nói:
Câu hỏi thật sâu thay! Bệ hạ đã làm sáng tỏ ý nghĩa sâu kín. Khi trời đất thay nhau dời đổi, ba năm thì hóa thành dịch bệnh. Đó gọi là gốc đã có thể thấy, tất phải có cửa thoát.
Giải thích từ ngữ
Cương nhu nhị can: hai can cứng mềm, chỉ sự phối hợp âm dương của Thiên can.
Thất thủ kỳ vị: mất chỗ giữ vị trí, không giữ được chính vị vận khí.
Tam niên hóa dịch: khí sai lệch kéo dài, sau ba năm có thể thành dịch bệnh.
Đào môn: cửa thoát, tức phương pháp dự phòng và cứu trị.
Đoạn 7
Ví như năm Giáp Tý, cứng mềm mất chỗ giữ. Can cứng chưa chính, can mềm cô độc mà có thiếu hụt, thời tự không ra lệnh đúng, âm luật cũng không thuận. Như vậy ba năm sẽ biến thành đại dịch.
Phải xét kỹ mức vi tế hay nặng, xét nông sâu. Khi bệnh sắp đến thì có thể châm. Trước hết nên bổ Thận du, sau ba ngày có thể châm chỗ khí chú của kinh Túc Thái âm.
Lại có trường hợp hạ vị Kỷ Mão không đến, mà Giáp Tý cô lập. Sau ba năm sẽ phát Thổ lệ. Phép bổ tả cũng giống như phép của Giáp Tý.
Sau khi châm xong, không nên đi đêm, không nên đi xa; phải giữ sạch bảy ngày, thanh tịnh trai giới.
Người vốn có bệnh Thận lâu ngày, có thể vào giờ Dần quay mặt về phương Nam, giữ thần thanh tĩnh không loạn, tưởng bế khí không thở bảy lần, rồi dẫn cổ mà nuốt khí cho thuận, như nuốt một vật rất cứng. Làm như vậy bảy lần rồi ngậm nuốt nước bọt dưới lưỡi nhiều lần không kể số.
Giải thích từ ngữ
Thận du: huyệt du của Thận ở lưng, dùng để bổ Thận khí.
Chỗ khí chú của Túc Thái âm: vị trí kinh khí đổ về của kinh Tỳ.
Thổ lệ: dịch lệ thuộc Thổ vận.
Tồn thần, nuốt khí, nuốt tân dịch: phép dưỡng sinh cổ, nhằm giữ thần khí, bảo vệ chân khí trong thời dịch.
Đoạn 8
Ví như năm Bính Dần, cứng mềm mất chỗ giữ. Can cứng ở trên mất giữ, can mềm ở dưới không thể một mình làm chủ; trung vận Thủy không phải thái quá, nên không thể chấp pháp cố định mà định. Khí phân bố trên trời tuy có dư, nhưng mất chính vị ở trên; trời đất không hợp, âm luật khác lạ. Như vậy thiên vận mất thứ tự, sau ba năm sẽ biến thành dịch.
Phải xét kỹ vi tế hay nặng, sai biệt lớn hay nhỏ. Nếu đến từ từ thì sau ba năm mới phát; nếu rất nặng thì có thể phát ngay trong ba năm đầu. Khi ấy trước hết bổ Tâm du, sau năm ngày có thể châm chỗ khí nhập của kinh Thận.
Lại có trường hợp hạ vị Địa Giáp Tý, Tân Tỵ mềm không bám vào cứng, cũng gọi là mất giữ. Khi ấy địa vận đều hư, sau ba năm biến thành Thủy lệ. Phép châm cũng theo như trên.
Châm xong phải cẩn thận, tránh đại hỷ và dục tình ở bên trong. Nếu không kiêng thì khí lại tán. Phải yên tĩnh bảy ngày; muốn Tâm được thực thì nên ít suy nghĩ.
Giải thích từ ngữ
Tâm du: huyệt du của Tâm, dùng để bổ Tâm khí.
Thận chi sở nhập: chỗ khí nhập của kinh Thận.
Thủy lệ: dịch bệnh thuộc Thủy khí.
Đại hỷ thương Tâm: vui quá làm Tâm khí tán, nên sau châm phải giữ tâm tĩnh.
Đoạn 9
Ví như năm Canh Thìn, cứng mềm mất chỗ giữ. Thượng vị mất giữ, hạ vị không hợp. Ất Canh thuộc Kim vận, nhưng không cùng chiêu ứng; khí trời chưa lui, trung vận thắng đến, trên dưới sai lẫn, gọi là mất giữ. Khi ấy âm Cô tẩy và Lâm chung, âm Thương không ứng. Như vậy thiên vận hóa đổi, sau ba năm biến thành đại dịch.
Phải xét thiên số, phân biệt nhẹ nặng. Nhẹ thì nhẹ, ba năm sẽ đến; nặng thì nặng, cũng trong ba năm mà đến. Khi ấy trước hết châm Can du, sau ba ngày có thể châm chỗ khí hành của kinh Phế.
Châm xong phải tĩnh thần bảy ngày, cẩn thận không đại nộ. Giận thì chân khí lại tán.
Lại có khi ở dưới, Địa Giáp Tý, Ất Mùi mất chỗ giữ; Ất là can mềm mất vị, trên Canh một mình trị, cũng gọi là mất giữ. Khi ấy một khí cô độc làm chủ, ba năm biến thành lệ, gọi là Kim lệ. Nó đến phải chờ đúng thời. Xét kỹ số của đất, phân biệt nhẹ nặng, thì biết được đến chậm hay nhanh.
Phàm các vị Ất Canh mất giữ, phép châm giống nhau. Muốn Can được bình thì chớ giận.
Giải thích từ ngữ
Can du: huyệt du của Can.
Phế chi sở hành: chỗ khí hành của kinh Phế.
Kim lệ: dịch lệ thuộc Kim vận.
Nộ thương Can: giận làm Can khí động, nên muốn bình Can phải tránh giận.
Đoạn 10
Ví như năm Nhâm Ngọ, cứng mềm mất giữ. Trên Nhâm chưa thiên chính, dưới Đinh một mình như vậy. Tuy là năm dương, nhưng thiếu hụt và không đồng đều. Trên dưới mất giữ, sự chiêu ứng có kỳ hạn, sai biệt nhẹ nặng đều có số của nó. Hai âm Giác trong luật lữ mất hòa. Nếu cùng âm có ngày ứng, nhẹ nặng hiện rõ, ba năm sẽ có đại dịch.
Khi ấy nên châm Tỳ du trước, sau ba ngày có thể châm chỗ khí xuất của kinh Can.
Châm xong, tĩnh thần bảy ngày. Không được uống rượu quá say, ca hát vui chơi quá độ; nếu làm vậy khí lại tán. Cũng không được ăn quá no, không ăn đồ sống. Muốn Tỳ được thực thì phải khiến khí không trệ vì đầy. Không ngồi lâu, ăn không quá chua, không ăn tất cả vật sống; nên dùng vị ngọt, vị nhạt.
Lại có khi dưới Địa Giáp Tý, Đinh Dậu mất vị, chưa được trung tư, tức khí không đúng vị, dưới không cùng Nhâm ở trên phụng hợp, cũng gọi là mất giữ, không gọi là hợp đức. Vì mềm không bám vào cứng, địa vận không hợp, ba năm biến thành lệ. Phép châm giống như phép trị Mộc dịch.
Giải thích từ ngữ
Tỳ du: huyệt du của Tỳ.
Can chi sở xuất: chỗ khí xuất của kinh Can.
Mộc dịch: dịch bệnh thuộc Mộc khí.
Không ăn sống, không quá chua: nhằm bảo vệ Tỳ khí; vị chua quá dễ làm Mộc khắc Thổ.
Đoạn 11
Ví như năm Mậu Thân, cứng mềm mất giữ. Mậu Quý tuy thuộc Hỏa vận, nhưng là năm dương mà không thái quá. Nếu cứng ở trên mất giữ, mềm ở dưới một mình làm chủ, khí ấy không chính, cho nên có tà can phạm, dời đổi vị trí. Sai biệt có nông sâu. Khi sắp đến và sắp hợp, âm luật trước tiên tương đồng. Như vậy thiên vận mất thời, trong ba năm Hỏa dịch sẽ đến. Khi ấy nên châm Phế du.
Châm xong, tĩnh thần bảy ngày, đừng quá bi thương. Bi thương thì Phế động, chân khí lại tán. Người muốn làm Phế thực, điều cốt yếu là ở điều tức.
Lại có khi dưới Địa Giáp Tý, Quý Hợi mất giữ, tức can mềm mất vị, cũng là can cứng ở trên mất giữ. Đó cũng gọi là Mậu Quý không cùng hợp đức. Khi ấy vận và địa khí đều hư, sau ba năm biến thành lệ, gọi là Hỏa lệ.
Giải thích từ ngữ
Phế du: huyệt du của Phế.
Hỏa dịch, Hỏa lệ: dịch bệnh thuộc Hỏa khí.
Bi thương thương Phế: buồn quá làm Phế khí tổn động.
Điều tức: điều hòa hơi thở để giữ Phế khí và chân khí.
Đoạn 12
Cho nên lập địa trong năm năm để làm rõ sự mất giữ. Dùng phép châm tương ứng, thì dịch và lệ đều là tên gọi của cứng mềm trên dưới. Cùng tận thì quy về một thể.
Phép châm trị dịch chỉ có năm phép, tổng nhiếp các vị mất giữ, rốt lại đều quy về ngũ hành mà thống nhất.
Giải thích từ ngữ
Năm phép châm trị dịch: quy về năm hành Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy.
Cứng mềm trên dưới: sự phối hợp của Thiên can, Địa chi, tư thiên, tại tuyền, vận khí.
Quy về một thể: tuy biến hóa phức tạp, nhưng cuối cùng đều quy về ngũ hành và âm dương.
Đoạn 13
Hoàng Đế nói:
Ta nghe nói khi năm loại dịch đến, đều dễ truyền nhiễm lẫn nhau. Không kể lớn nhỏ, bệnh trạng tương tự. Nếu không thi hành cứu trị, làm sao có thể khiến bệnh không truyền nhiễm qua lại?
Kỳ Bá nói:
Người không bị nhiễm là người chính khí còn giữ ở bên trong, tà không thể can phạm. Phải tránh độc khí. Thiên tẫn từ chỗ đến, lại được chỗ đi; khí ra ở não thì tà không thể can phạm.
Khi khí ra ở não, trước hết tưởng Tâm như mặt trời. Nếu muốn vào phòng có dịch, trước tưởng khí xanh từ Can phát ra, đi về bên trái phía Đông, hóa thành rừng cây. Tiếp tưởng khí trắng từ Phế phát ra, đi về bên phải phía Tây, hóa thành binh khí và áo giáp. Tiếp tưởng khí đỏ từ Tâm phát ra, đi về phương Nam ở trên, hóa thành ánh lửa sáng. Tiếp tưởng khí đen từ Thận phát ra, đi về phương Bắc ở dưới, hóa thành nước. Tiếp tưởng khí vàng từ Tỳ phát ra, giữ ở trung ương, hóa thành đất. Khi năm khí đã hộ thân xong, lại tưởng trên đầu có ánh sáng rực rỡ như Bắc Đẩu, sau đó mới có thể vào phòng dịch.
Giải thích từ ngữ
Chính khí tồn nội, tà bất khả can: chính khí giữ ở trong thì tà khí khó xâm phạm. Đây là câu rất nổi tiếng về phòng bệnh.
Tưởng ngũ khí hộ thân: phép tồn tưởng dưỡng sinh cổ, dùng hình tượng ngũ tạng ngũ hành để giữ thần khí.
Phòng dịch: chỉ nơi có người mắc bệnh truyền nhiễm. Đoạn này mang màu sắc dưỡng sinh, tâm pháp cổ, không nên hiểu như phương pháp phòng dịch hiện đại thay thế vệ sinh, cách ly, thuốc men.
Đoạn 14
Lại có một phép: vào ngày Xuân phân, trước khi mặt trời mọc thì thổ nạp.
Lại có một phép: sau ngày Vũ thủy, tắm ba lần bằng thuốc để làm tiết mồ hôi.
Lại có một phép là phương Tiểu kim đan: chu sa hai lượng, hùng hoàng một lượng mài với nước, thư hoàng một lượng, tử kim nửa lượng. Cho chung vào hộp, bên ngoài bít kín. Đào đất sâu một thước, nện đất cho chắc. Không dùng lò, không cần chế thuốc riêng. Dùng lửa hai mươi cân nung trong bảy ngày. Xong chờ nguội bảy ngày rồi lấy ra. Ngày hôm sau mở hộp, đem thuốc chôn xuống đất bảy ngày. Lấy ra, thuận theo mặt trời mà nghiền trong ba ngày, luyện với mật trắng thành viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi ngày hướng về phương Đông, hít một hơi khí tinh hoa của mặt trời, dùng nước đá uống một viên, hòa khí mà nuốt. Uống mười viên thì dịch khí không can phạm.
Chú ý
Đoạn này chỉ là dịch văn cổ. Chu sa, hùng hoàng, thư hoàng đều là khoáng vật có độc, có thể chứa thủy ngân, arsenic hoặc độc tính nặng. Không nên tự dùng, tự luyện hoặc thử theo phương này.
Đoạn 15
Hoàng Đế hỏi:
Người hư thì thần du đi, mất chỗ giữ vị, khiến quỷ thần bên ngoài can phạm, dẫn đến chết yểu. Làm sao giữ toàn chân khí? Ta muốn nghe phép châm.
Kỳ Bá cúi đầu, lạy hai lạy rồi nói:
Câu hỏi sáng rõ thay! Thần dời chỗ, mất nơi giữ, tuy còn ở trong thân thể nhưng chưa chắc đã chết. Chỉ vì có tà can phạm nên khiến tuổi thọ thành yểu.
Như Quyết âm mất giữ, trời vì thế mà hư; người lại Can khí hư, cảm phải hai tầng hư của trời, thì hồn du ở trên, tà can phạm đại khí Quyết âm. Thân còn ấm thì còn có thể châm. Châm chỗ khí đi qua của kinh Túc Thiếu dương, tiếp đó châm Can du.
Người bệnh Tâm hư, lại gặp Quân hỏa và Tướng hỏa tư thiên mất giữ, cảm thành ba tầng hư; lại gặp Hỏa bất cập, hắc thi quỷ phạm vào, khiến người bạo vong. Có thể châm chỗ khí đi qua của kinh Thủ Thiếu dương, rồi lại châm Tâm du.
Người bệnh Tỳ, lại gặp Thái âm tư thiên mất giữ, cảm thành ba tầng hư; lại gặp Thổ bất cập, thanh thi quỷ tà phạm vào người, khiến bạo vong. Có thể châm chỗ khí đi qua của kinh Túc Dương minh, rồi lại châm Tỳ du.
Người bệnh Phế, gặp Dương minh tư thiên mất giữ, cảm thành ba tầng hư; lại gặp Kim bất cập, có xích thi quỷ can phạm người, khiến bạo vong. Có thể châm chỗ khí đi qua của kinh Thủ Dương minh, rồi lại châm Phế du.
Người bệnh Thận, lại gặp Thái dương tư thiên mất giữ, cảm thành ba tầng hư; lại gặp năm Thủy vận bất cập, có hoàng thi quỷ can phạm chính khí của người, hút thần hồn của người, khiến bạo vong. Có thể châm chỗ khí đi qua của kinh Túc Thái dương, rồi châm huyệt Du của kinh Túc Thiếu dương.
Giải thích từ ngữ
Thần du thất thủ: thần khí không giữ được vị trí, chính khí suy, dễ cảm tà.
Tam hư: hư của thiên khí, hư của vận khí, hư của tạng khí người cùng gặp nhau.
Quỷ thần, thi quỷ: cách diễn đạt cổ về tà khí cực nặng, dịch khí, hoặc trạng thái chính khí suy đến mức tà dễ xâm nhập.
Bạo vong: chết đột ngột.
Đoạn 16
Hoàng Đế hỏi:
Mười hai tạng quan sai khiến nhau; nếu thần mất vị, khiến thần thái không trọn vẹn, e rằng tà can phạm. Nếu trị bằng châm, xin nghe điều cốt yếu.
Kỳ Bá cúi đầu, lạy hai lạy rồi nói:
Câu hỏi thật đầy đủ thay! Đây là hỏi đến chí lý, chân tông của đạo. Nếu không phải thánh đế, sao có thể truy đến nguồn này? Đó gọi là khí thần hợp với đạo, khế hợp với trời ở trên.
Tâm là quan quân chủ, thần minh từ đó phát ra; có thể châm huyệt Nguyên của kinh Thủ Thiếu âm.
Phế là quan tướng phó, trị tiết từ đó phát ra; có thể châm huyệt Nguyên của kinh Thủ Thái âm.
Can là quan tướng quân, mưu lự từ đó phát ra; có thể châm huyệt Nguyên của kinh Túc Quyết âm.
Đởm là quan trung chính, quyết đoán từ đó phát ra; có thể châm huyệt Nguyên của kinh Túc Thiếu dương.
Đản trung là quan thần sứ, vui mừng từ đó phát ra; có thể châm chỗ khí lưu của kinh Tâm bào lạc.
Tỳ là quan gián nghị, hiểu biết chu toàn từ đó phát ra; có thể châm huyệt Nguyên của Tỳ.
Vị là quan kho lẫm, năm vị từ đó phát ra; có thể châm huyệt Nguyên của Vị.
Đại trường là quan truyền đạo, biến hóa từ đó phát ra; có thể châm huyệt Nguyên của Đại trường.
Tiểu trường là quan thụ thịnh, hóa vật từ đó phát ra; có thể châm huyệt Nguyên của Tiểu trường.
Thận là quan tác cường, kỹ xảo từ đó phát ra; châm huyệt Nguyên của Thận.
Tam tiêu là quan quyết độc, thủy đạo từ đó phát ra; châm huyệt Nguyên của Tam tiêu.
Bàng quang là quan châu đô, tinh dịch tàng ở đó; khí hóa thì có thể xuất ra; châm huyệt Nguyên của Bàng quang.
Phàm mười hai quan này không được mất sự phối hợp với nhau. Cho nên phép châm có ý giữ toàn thần, nuôi chân khí; cũng có đạo tu chân, không phải chỉ để trị bệnh. Vì vậy điều cốt yếu là tu dưỡng và hòa thần.
Đạo quý ở thường tồn, bổ thần, cố gốc, khiến tinh khí không tán, thần giữ mà không phân. Khi thần giữ được, tuy chưa rời đi, chân khí cũng được toàn. Nếu thần của người không giữ, thì chưa đạt đến chí chân. Điều cốt yếu của chí chân nằm ở thiên huyền. Thần giữ thiên tức, lại trở vào bản nguyên, gọi là quy tông.
Giải thích từ ngữ
Mười hai quan: cách Nội Kinh ví mười hai tạng phủ như các chức quan trong triều đình.
Huyệt Nguyên: huyệt gốc của kinh, nơi nguyên khí lưu trú, thường dùng để điều tạng phủ.
Toàn thần dưỡng chân: giữ thần đầy đủ, nuôi chân khí.
Quy tông: trở về nguồn gốc, tức thần khí quay lại bản nguyên, không tán loạn ra ngoài.
Nhận xét chung
Thiên Thích Pháp Luận là một thiên đặc biệt. Nội dung nối tiếp mạch Ngũ vận Lục khí, nhưng trọng tâm chuyển sang phép châm để phòng và cứu khi khí vận thăng giáng không thông, tư thiên không thiên chính, khí cũ không lui, cương nhu mất giữ, rồi sinh dịch lệ.
Điểm đầu tiên là thiên này xem bệnh lớn không chỉ do tà bên ngoài, mà do thăng giáng của khí trời đất bị bế. Khí muốn thăng mà không thăng được thì thành uất; khí muốn giáng mà không giáng được cũng thành uất. Uất lâu thì bạo phát. Vì vậy phép châm nhằm chiết uất, phù vận, bổ nhược, toàn chân.
Điểm thứ hai là khi khí cũ không lui, khí mới không lên được chính vị, thì sinh rối loạn khí hóa. Thiên này gọi là bất thiên chính hoặc bất thoái vị. Đây là cách Nội Kinh giải thích vì sao có năm khí hậu, bệnh tật, dịch lệ không theo thường quy.
Điểm thứ ba là phần “cương nhu thất thủ” nói rằng khi Thiên can cứng mềm không giữ vị, trời đất sai lệch, sau ba năm có thể hóa thành dịch. Mỗi loại dịch lại quy về ngũ hành: Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Phép châm cũng quy về năm tạng, năm vận, và sau châm phải giữ thần, kiêng giận, kiêng vui quá, kiêng buồn quá, điều ăn uống, điều hơi thở. Điều này cho thấy trị dịch trong văn cổ không chỉ là châm huyệt, mà còn là giữ chính khí.
Điểm thứ tư là câu “chính khí tồn nội, tà bất khả can” rất quan trọng. Đây là tư tưởng phòng bệnh cốt lõi: khi chính khí còn đầy đủ ở trong, tà khó xâm phạm. Những phép tồn tưởng ngũ khí, hướng mặt theo phương, tưởng Bắc Đẩu… mang màu sắc Đạo gia và dưỡng sinh cổ, có thể hiểu như phương pháp giữ thần, định tâm, củng cố niềm tin và chính khí, không nên xem là thay thế các phương pháp phòng dịch hiện đại.
Điểm thứ năm là thiên này có phần luyện Tiểu kim đan với khoáng vật độc. Khi biên soạn sách hiện nay, nên chú thích rõ đây là văn hiến cổ, không khuyến khích thực hành. Chu sa, hùng hoàng, thư hoàng đều có độc tính, nếu dùng sai có thể nguy hiểm.
Điểm cuối cùng là đoạn mười hai quan quay lại tư tưởng nền tảng của Nội Kinh: Tâm là quân chủ, Phế chủ trị tiết, Can chủ mưu lự, Đởm chủ quyết đoán, Tỳ chủ tri chu, Vị chủ kho lẫm, Thận chủ tác cường, Tam tiêu chủ thủy đạo, Bàng quang chủ khí hóa. Khi mười hai quan không mất sự phối hợp, thần khí được giữ, tinh khí không tán, thì chân khí được toàn.
Tóm lại, Thích Pháp Luận không nên đọc đơn thuần như một thiên dạy châm cứu. Nó là thiên nói về cách dùng châm pháp, dưỡng thần, giữ chính khí để ứng phó với biến động lớn của vận khí và dịch lệ. Tinh thần chính vẫn là: hiểu thiên nguyên, xét thăng giáng, bẻ uất khí, nâng vận khí, giữ chân khí, khiến thần không tán và chính khí còn ở trong.