Thập Nhất Nan
Điều khó thứ mười một
Hỏi: Kinh nói “mạch chưa đầy năm mươi động mà đã một lần dừng, tức một tạng không còn khí”, vậy là tạng nào?
Ngũ thập động: Năm mươi lần mạch động. Theo mạch học cổ, mạch vận hành liên tục đủ số là biểu hiện khí huyết còn đầy đủ. Nếu chưa đủ năm mươi động mà đã ngừng một lần, là dấu hiệu tạng khí suy.
Nhất tạng vô khí: Một tạng đã mất khí, tức tạng khí suy tuyệt, không còn đủ sức duy trì sự vận hành bình thường của mạch.
Đáp: Khi con người hít vào thì khí theo âm đi vào, khi thở ra thì khí theo dương đi ra. Nay khí hít vào không thể đến thận, chỉ đến can rồi quay trở lại, cho nên biết rằng “một tạng không còn khí” là thận khí đã hết trước.
Hấp tùy âm nhập: Hít vào thì khí đi vào trong, thuộc âm, quy về phần sâu, có liên hệ với thận.
Hô nhân dương xuất: Thở ra thì khí theo dương mà đi ra ngoài, có liên hệ với phế và phần biểu.
Khí bất chí thận: Khí hít vào không xuống được đến thận, biểu thị thận khí suy, thận không nạp khí.
Chí can nhi hoàn: Khí chỉ đến can rồi quay lại, nghĩa là chưa vào được gốc sâu nhất là thận.
Thận khí tiên tận: Thận khí suy kiệt trước. Thận là gốc của tiên thiên, chủ nạp khí, tàng tinh; thận khí hết thì sinh khí căn bản suy.
Thập Nhị Nan
Điều khó thứ mười hai
Hỏi: Kinh nói “mạch của ngũ tạng đã tuyệt ở bên trong, người dùng châm lại làm thực bên ngoài; mạch của ngũ tạng đã tuyệt ở bên ngoài, người dùng châm lại làm thực bên trong”. Sự tuyệt ở trong và ngoài phân biệt như thế nào?
Nội tuyệt: Khí của tạng bên trong đã tuyệt, chủ yếu nói thận can khí suy ở phần lý.
Ngoại tuyệt: Khí ở bên ngoài đã tuyệt, chủ yếu nói tâm phế khí suy ở phần biểu, thượng tiêu.
Thực kỳ ngoại: Làm cho bên ngoài thêm thực, tức bổ sai phần ngoài khi bên trong đã tuyệt.
Thực kỳ nội: Làm cho bên trong thêm thực, tức bổ sai phần trong khi bên ngoài đã tuyệt.
Đáp: Mạch ngũ tạng đã tuyệt ở bên trong là thận khí và can khí đã tuyệt ở bên trong, mà thầy thuốc lại bổ tâm phế. Mạch ngũ tạng đã tuyệt ở bên ngoài là tâm khí và phế khí đã tuyệt ở bên ngoài, mà thầy thuốc lại bổ thận can.
Thận can khí tuyệt ư nội: Khí của thận và can suy tuyệt ở phần trong. Thận chủ căn bản, can chủ tàng huyết và sơ tiết; nội khí tuyệt là bệnh rất nặng.
Tâm phế khí tuyệt ư ngoại: Tâm phế khí suy tuyệt ở phần ngoài. Phế chủ khí, bì mao; tâm chủ huyết mạch, thần minh; ngoại khí tuyệt thì biểu vệ và thượng tiêu suy.
Bổ tâm phế: Bổ phần dương, phần ngoài, thượng tiêu. Nếu nội khí đã tuyệt mà bổ sai bên ngoài thì làm bệnh lệch thêm.
Bổ thận can: Bổ phần âm, phần trong, hạ tiêu. Nếu ngoại khí đã tuyệt mà bổ sai bên trong thì cũng làm bệnh nặng thêm.
Dương tuyệt mà lại bổ âm, âm tuyệt mà lại bổ dương, đó gọi là “thực thực hư hư”, làm tổn phần vốn đã bất túc mà lại làm tăng phần vốn đã hữu dư. Người bệnh chết trong tình huống như vậy là do thầy thuốc làm chết mà thôi.
Dương tuyệt bổ âm: Khi phần dương đã tuyệt mà lại bổ âm, khiến dương càng suy, bệnh càng nguy.
Âm tuyệt bổ dương: Khi phần âm đã tuyệt mà lại bổ dương, khiến âm càng hao, bệnh càng nguy.
Thực thực hư hư: Chỗ đã thực lại làm cho thực thêm, chỗ đã hư lại làm cho hư thêm. Đây là sai lầm lớn trong điều trị.
Tổn bất túc nhi ích hữu dư: Làm tổn phần vốn đã thiếu, tăng phần vốn đã thừa. Đây là nguyên tắc trị sai, trái với phép bổ hư tả thực.
Y sát chi: Cách nói rất nặng, ý rằng người bệnh chết do thầy thuốc biện chứng sai, dùng phép trị trái bệnh cơ.
Thập Tam Nan
Điều khó thứ mười ba
Hỏi: Kinh nói “thấy sắc mà không được mạch tương ứng, ngược lại được mạch tương thắng thì chết; được mạch tương sinh thì bệnh tự khỏi”. Sắc và mạch phải tham chiếu tương ứng với nhau như thế nào?
Sắc: Màu sắc biểu hiện trên mặt, phản ánh khí huyết và tạng phủ.
Mạch: Mạch tượng khi bắt mạch, phản ánh khí huyết, âm dương, tạng phủ, hàn nhiệt, hư thực.
Tương ứng: Màu sắc và mạch phù hợp với nhau theo ngũ hành, chứng tỏ bệnh còn thuận.
Tương thắng: Quan hệ khắc chế trong ngũ hành. Nếu sắc và mạch trái nhau theo hướng khắc, bệnh nặng, tiên lượng xấu.
Tương sinh: Quan hệ sinh dưỡng trong ngũ hành. Nếu sắc và mạch theo quan hệ sinh, bệnh dễ hồi phục.
Đáp: Ngũ tạng có năm sắc, đều hiện ra ở mặt, cũng phải tương ứng với thốn khẩu và xích nội. Giả sử sắc xanh thì mạch phải huyền mà cấp; sắc đỏ thì mạch phù đại mà tán; sắc vàng thì mạch trung hoãn mà đại; sắc trắng thì mạch phù sáp mà đoản; sắc đen thì mạch trầm nhu mà hoạt. Đây gọi là năm sắc và mạch phải tham chiếu tương ứng.
Ngũ sắc: Năm màu ứng với ngũ tạng: xanh ứng can, đỏ ứng tâm, vàng ứng tỳ, trắng ứng phế, đen ứng thận.
Sắc thanh mạch huyền cấp: Màu xanh ứng can mộc, mạch thường huyền, hơi cấp.
Sắc xích mạch phù đại tán: Màu đỏ ứng tâm hỏa, mạch phù, lớn, tán.
Sắc hoàng mạch trung hoãn đại: Màu vàng ứng tỳ thổ, mạch ở trung bộ, hòa hoãn mà đại.
Sắc bạch mạch phù sáp đoản: Màu trắng ứng phế kim, mạch phù, sáp, ngắn.
Sắc hắc mạch trầm nhu hoạt: Màu đen ứng thận thủy, mạch trầm, mềm, hoạt.
Thốn khẩu xích nội tương ứng: Sắc mặt, mạch thốn khẩu và cảm giác vùng xích đều phải phù hợp để xác định bệnh tạng phủ.
Mạch sác thì da vùng xích cũng có cảm giác sác; mạch cấp thì da vùng xích cũng cấp; mạch hoãn thì da vùng xích cũng hoãn; mạch sáp thì da vùng xích cũng sáp; mạch hoạt thì da vùng xích cũng hoạt. Ngũ tạng mỗi tạng đều có thanh, sắc, xú, vị, phải tương ứng với thốn khẩu và xích nội; nếu không tương ứng thì là bệnh.
Xích chi bì phu: Vùng da ở bộ xích, khi sờ có thể cảm nhận hàn nhiệt, nhuận táo, mềm cứng, trơn sáp.
Thanh sắc xú vị: Âm thanh, màu sắc, mùi, vị tương ứng với ngũ tạng, là cơ sở để Trung y tổng hợp chẩn đoán.
Bất ứng giả bệnh: Nếu sắc, mạch, da, tiếng, mùi, vị không tương ứng với nhau thì chứng tỏ tạng phủ có bệnh hoặc bệnh cơ bất thường.
Giả sử sắc xanh mà mạch lại phù sáp mà ngắn, hoặc đại mà hoãn, đó là tương thắng. Nếu mạch phù đại mà tán, hoặc nhỏ mà hoạt, đó là tương sinh. Kinh nói: “Biết một là hạ công, biết hai là trung công, biết ba là thượng công. Thầy thuốc bậc thượng chữa mười người toàn vẹn chín, bậc trung chữa mười người toàn vẹn bảy, bậc hạ chữa mười người toàn vẹn sáu”, chính là nói ý này.
Sắc thanh: Màu xanh thuộc can mộc.
Phù sáp đoản: Mạch thuộc phế kim. Kim khắc mộc, nên sắc xanh gặp mạch phế là tương thắng, tiên lượng xấu.
Đại hoãn: Mạch thuộc tỳ thổ. Mộc khắc thổ; nếu mộc sắc mà gặp thổ mạch có thể là quan hệ khắc chế bất thuận.
Phù đại tán: Mạch thuộc tâm hỏa. Mộc sinh hỏa, sắc xanh gặp mạch tâm là tương sinh.
Tiểu hoạt: Có thể liên hệ thận thủy. Thủy sinh mộc, cũng có ý tương sinh.
Tri nhất, tri nhị, tri tam: Biết một yếu tố là hạ công; biết hai yếu tố là trung công; biết ba yếu tố như sắc, mạch, xích phu cùng tham chiếu là thượng công.
Thượng công: Thầy thuốc giỏi, biết tổng hợp nhiều mặt để biện chứng nên trị bệnh chính xác hơn.
Thập Tứ Nan
Điều khó thứ mười bốn
Hỏi: Mạch có tổn và chí, nghĩa là gì?
Tổn mạch: Mạch giảm, đến ít, chủ khí huyết suy tổn.
Chí mạch: Mạch đến nhiều, nhanh hơn bình thường, chủ tà khí thịnh hoặc bệnh thế tiến triển.
Đáp: Mạch chí là một lần thở ra mạch đến hai lần gọi là bình; ba lần gọi là ly kinh; bốn lần gọi là đoạt tinh; năm lần gọi là tử; sáu lần gọi là mệnh tuyệt. Đây là mạch chí.
Nhất hô tái chí viết bình: Một lần thở ra mạch đến hai lần là bình thường trong cách tính này.
Tam chí viết ly kinh: Một hơi thở mạch đến ba lần, đã rời khỏi thường kinh, bệnh mới sinh.
Tứ chí viết đoạt tinh: Một hơi thở mạch đến bốn lần, tinh khí bị đoạt, bệnh nặng hơn.
Ngũ chí viết tử: Một hơi thở mạch đến năm lần, là tử mạch.
Lục chí viết mệnh tuyệt: Một hơi thở mạch đến sáu lần, mệnh khí gần tuyệt.
Hỏi: Thế nào gọi là tổn?
Một lần thở ra mạch đến một lần gọi là ly kinh; hai lần thở ra mạch đến một lần gọi là đoạt tinh; ba lần thở ra mạch đến một lần gọi là tử; bốn lần thở ra mạch đến một lần gọi là mệnh tuyệt. Đây là mạch tổn.
Nhất hô nhất chí: Mạch quá chậm, một hơi thở chỉ đến một lần, đã rời bình thường.
Tái hô nhất chí: Hai hơi thở mới đến một lần, khí huyết suy tổn rất nặng.
Tam hô nhất chí: Ba hơi thở mới đến một lần, gần tử chứng.
Tứ hô nhất chí: Bốn hơi thở mới đến một lần, mệnh khí sắp tuyệt.
Mạch chí đi từ dưới lên trên, mạch tổn đi từ trên xuống dưới.
Chí mạch tòng hạ thượng: Bệnh của mạch chí phát triển từ phần dưới lên phần trên, từ thận, can lên tâm, phế.
Tổn mạch tòng thượng hạ: Bệnh của mạch tổn phát triển từ phần trên xuống phần dưới, từ phế, tâm xuống tỳ, can, thận.
Hỏi: Bệnh do mạch tổn gây ra như thế nào?
Đáp: Một tổn là tổn ở bì mao, da nhăn tụ lại mà lông rụng. Hai tổn là tổn ở huyết mạch, huyết mạch hư thiếu, không thể nuôi dưỡng ngũ tạng lục phủ. Ba tổn là tổn ở cơ nhục, cơ nhục gầy mòn, ăn uống không thể hóa thành cơ da. Bốn tổn là tổn ở cân, cân mềm nhão, không thể tự co giữ. Năm tổn là tổn ở xương, xương nuy yếu, không thể đứng dậy khỏi giường. Ngược lại với điều này là bệnh của mạch chí. Bệnh đi từ trên xuống dưới, đến mức xương nuy không dậy khỏi giường thì chết; bệnh đi từ dưới lên trên, đến mức da nhăn tụ mà lông rụng thì chết.
Nhất tổn tổn ư bì mao: Tổn hại tầng ngoài cùng, phế khí suy, da lông mất nuôi dưỡng.
Bì tụ mao lạc: Da nhăn, lông rụng, biểu thị phế khí và vệ khí suy.
Nhị tổn tổn ư huyết mạch: Tổn hại huyết mạch, tâm huyết suy, huyết không nuôi tạng phủ.
Tam tổn tổn ư cơ nhục: Tổn hại cơ nhục, tỳ khí suy, ăn uống không sinh cơ.
Tứ tổn tổn ư cân: Tổn hại gân, can huyết suy, gân mất nuôi dưỡng.
Ngũ tổn tổn ư cốt: Tổn hại xương, thận tinh suy, xương tủy yếu.
Cốt nuy: Xương yếu, chân tay yếu liệt, không đứng dậy được.
Hỏi: Phép trị tổn như thế nào?
Đáp: Tổn ở phế thì ích khí; tổn ở tâm thì điều hòa doanh vệ; tổn ở tỳ thì điều chỉnh ăn uống và hàn ôn; tổn ở can thì làm thư hoãn trung khí; tổn ở thận thì ích tinh. Đây là phép trị tổn.
Ích kỳ khí: Bổ khí, nhất là phế khí và tông khí, giúp bì mao, hô hấp, vệ khí phục hồi.
Điều kỳ doanh vệ: Điều hòa doanh khí và vệ khí, giúp huyết mạch và biểu lý điều hòa.
Điều kỳ ẩm thực, kỳ hàn ôn: Điều chỉnh ăn uống, tránh quá lạnh quá nóng, giúp tỳ vị phục hồi vận hóa.
Hoãn kỳ trung: Làm thư hoãn trung tiêu, điều can tỳ, giúp cân mạch được nuôi dưỡng.
Ích kỳ tinh: Bổ tinh, chủ yếu bổ thận tinh, thận khí, giúp xương tủy phục hồi.
Mạch có một lần thở ra đến hai lần, một lần hít vào đến hai lần; có một lần thở ra đến ba lần, một lần hít vào đến ba lần; có một lần thở ra đến bốn lần, một lần hít vào đến bốn lần; có một lần thở ra đến năm lần, một lần hít vào đến năm lần; một lần thở ra đến sáu lần, một lần hít vào đến sáu lần; có một lần thở ra đến một lần, một lần hít vào đến một lần; có hai lần thở ra đến một lần, hai lần hít vào đến một lần; có hô hấp đến hai lần. Mạch đến như vậy, làm sao phân biệt biết bệnh?
Đáp: Mạch đến một lần thở ra hai lần, một lần hít vào hai lần, không lớn không nhỏ, gọi là bình. Một lần thở ra ba lần, một lần hít vào ba lần, là vừa mới mắc bệnh. Nếu phía trước lớn phía sau nhỏ thì đau đầu, hoa mắt; nếu phía trước nhỏ phía sau lớn thì ngực đầy, hơi thở ngắn.
Bất đại bất tiểu viết bình: Mạch không lớn không nhỏ, nhịp vừa phải, là mạch bình thường.
Thích đắc bệnh: Vừa mới mắc bệnh, bệnh còn ở giai đoạn đầu.
Tiền đại hậu tiểu: Phần trước mạch lớn, phần sau nhỏ, thường liên hệ bệnh ở thượng bộ, đầu mắt.
Đầu thống mục huyễn: Đau đầu, hoa mắt.
Tiền tiểu hậu đại: Phần trước nhỏ, phần sau lớn, khí ở dưới thịnh hoặc trên không đủ, gây ngực đầy, khí ngắn.
Hung mãn đoản khí: Ngực đầy tức, hơi thở ngắn.
Một lần thở ra bốn lần, một lần hít vào bốn lần, bệnh sắp nặng. Mạch hồng đại thì khổ vì phiền đầy; mạch trầm tế thì đau trong bụng; mạch hoạt thì thương nhiệt; mạch sáp thì trúng sương móc.
Bệnh dục thậm: Bệnh sắp nặng hơn.
Hồng đại: Mạch lớn, mạnh, thường chủ nhiệt thịnh, tà thực.
Phiền mãn: Bứt rứt, đầy tức.
Trầm tế: Mạch chìm nhỏ, thường chủ lý hư, hàn hoặc đau trong.
Phúc trung thống: Đau trong bụng.
Hoạt giả thương nhiệt: Mạch hoạt trong văn cảnh này chủ thương nhiệt, nhiệt làm khí huyết trơn động.
Sáp giả trúng vụ lộ: Mạch sáp chủ trúng sương móc, tức cảm khí ẩm lạnh, làm khí huyết không nhuận.
Một lần thở ra năm lần, một lần hít vào năm lần, người ấy sẽ khốn đốn. Mạch trầm tế thì bệnh nặng thêm về đêm; mạch phù đại thì bệnh nặng thêm ban ngày. Mạch không lớn không nhỏ, tuy khốn vẫn có thể chữa; nếu có lúc lớn lúc nhỏ thì khó chữa.
Nhân đương khốn: Người bệnh sẽ mệt mỏi, khốn quẫn, bệnh nặng.
Trầm tế dạ gia: Mạch trầm tế thuộc âm, ban đêm âm thịnh nên bệnh nặng thêm.
Phù đại trú gia: Mạch phù đại thuộc dương, ban ngày dương thịnh nên bệnh nặng thêm.
Hữu đại tiểu giả nan trị: Mạch lúc lớn lúc nhỏ, bất định, biểu thị khí huyết rối loạn, khó trị.
Một lần thở ra sáu lần, một lần hít vào sáu lần là tử mạch. Mạch trầm tế thì chết ban đêm; mạch phù đại thì chết ban ngày.
Tử mạch: Mạch báo hiệu tiên lượng tử vong trong cổ y.
Trầm tế dạ tử: Âm hàn, âm suy hoặc khí tuyệt ở phần sâu, ban đêm dễ nguy.
Phù đại trú tử: Dương tán ở ngoài, ban ngày dương động dễ nguy.
Một lần thở ra một lần, một lần hít vào một lần, gọi là tổn. Người tuy còn đi được, nhưng vẫn sẽ phải nằm giường. Sở dĩ như vậy là vì huyết khí đều bất túc. Hai lần thở ra một lần, hai lần hít vào một lần, gọi là vô hồn. Vô hồn thì sẽ chết. Người tuy còn đi được cũng gọi là hành thi.
Huyết khí giai bất túc: Khí và huyết đều suy, cơ thể không đủ sức vận hành.
Vô hồn: Hồn khí không còn, thần khí suy tuyệt; là dấu hiệu rất nguy.
Hành thi: Xác đi, nghĩa là tuy còn đi lại nhưng sinh khí đã suy kiệt nghiêm trọng.
Thượng bộ có mạch, hạ bộ không mạch, người ấy sẽ nôn; nếu không nôn thì chết. Thượng bộ không mạch, hạ bộ có mạch, tuy khốn cũng không gây hại lớn. Sở dĩ như vậy là vì con người có xích giống như cây có rễ. Cành lá tuy khô héo, nhưng rễ còn thì tự có thể sinh trở lại. Mạch có gốc rễ, con người có nguyên khí, cho nên biết là không chết.
Thượng bộ hữu mạch, hạ bộ vô mạch: Phần trên còn động, phần dưới không có căn, khí nghịch lên, dễ nôn; nếu không tiết được thì nguy.
Hạ bộ hữu mạch: Xích mạch còn, tức căn khí còn, thận khí chưa tuyệt.
Xích như thụ chi căn: Bộ xích ví như rễ cây, phản ánh thận khí, nguyên khí.
Nguyên khí: Khí căn bản của sinh mệnh, nguồn gốc từ thận, duy trì hoạt động tạng phủ và kinh mạch.
Hữu căn: Mạch có gốc, tức hạ bộ còn lực, thận khí còn, tiên lượng tốt hơn.
Thập Ngũ Nan
Điều khó thứ mười lăm
Hỏi: Kinh nói “mùa xuân mạch huyền, mùa hạ mạch câu, mùa thu mạch mao, mùa đông mạch thạch”, đó là vương mạch hay bệnh mạch?
Xuân mạch huyền: Mạch mùa xuân hơi huyền, ứng với can mộc.
Hạ mạch câu: Mạch mùa hạ hơi câu, ứng với tâm hỏa.
Thu mạch mao: Mạch mùa thu hơi mao, ứng với phế kim.
Đông mạch thạch: Mạch mùa đông hơi thạch, ứng với thận thủy.
Vương mạch: Mạch vượng theo mùa, là mạch bình thường nếu có vị khí.
Đáp: Huyền, câu, mao, thạch là mạch của bốn mùa.
Mạch mùa xuân huyền là vì can, phương Đông, thuộc mộc. Vạn vật bắt đầu sinh, chưa có cành lá, nên mạch đến mềm yếu mà dài, vì vậy gọi là huyền.
Can Đông phương mộc: Can ứng phương Đông, mùa xuân, hành mộc.
Vạn vật thủy sinh: Vạn vật bắt đầu sinh phát, tương ứng can khí sinh phát.
Nhu nhược nhi trường: Mạch mềm yếu mà dài, là mạch xuân bình thường khi có vị khí.
Mạch mùa hạ câu là vì tâm, phương Nam, thuộc hỏa. Đây là lúc vạn vật tươi tốt, cành rủ lá xòe, đều cong xuống như móc, nên mạch đến nhanh mà đi chậm, vì vậy gọi là câu.
Tâm Nam phương hỏa: Tâm ứng phương Nam, mùa hạ, hành hỏa.
Vạn vật chi sở mậu: Mùa hạ vạn vật phồn thịnh.
Lai tật khứ trì: Mạch đến nhanh, đi chậm, có hình tượng móc câu.
Mạch mùa thu mao là vì phế, phương Tây, thuộc kim. Đây là lúc vạn vật đi đến cuối, hoa lá cây cỏ đều rụng vào mùa thu, chỉ còn cành ở lại, giống như lông tơ. Cho nên mạch đến nhẹ hư mà nổi, gọi là mao.
Phế Tây phương kim: Phế ứng phương Tây, mùa thu, hành kim.
Vạn vật chi sở chung: Mùa thu là lúc vạn vật thu liễm, đi đến kết thúc chu kỳ sinh trưởng.
Khinh hư dĩ phù: Mạch nhẹ, hư, nổi, như lông.
Mạch mùa đông thạch là vì thận, phương Bắc, thuộc thủy. Đây là lúc vạn vật tàng chứa. Vào giữa đông, nước ngưng lại như đá, nên mạch đến trầm nhu mà hoạt, gọi là thạch.
Thận Bắc phương thủy: Thận ứng phương Bắc, mùa đông, hành thủy.
Vạn vật chi sở tàng: Mùa đông vạn vật bế tàng, dưỡng tinh.
Trầm nhu nhi hoạt: Mạch chìm, mềm, trơn, là mạch đông có vị khí.
Đó là mạch của bốn mùa.
Nếu có biến hóa thì thế nào?
Đáp: Mạch xuân huyền, nếu trái lại thì là bệnh.
Hỏi: Thế nào gọi là trái?
Đáp: Khí mạch đến thực mạnh, gọi là thái quá, bệnh ở ngoài; khí mạch đến hư vi, gọi là bất cập, bệnh ở trong. Khí mạch đến nhẹ nhàng mềm mại như vuốt lá du, gọi là bình; càng thực mà hoạt như vuốt cây sào dài, gọi là bệnh; gấp mà cứng, càng mạnh như dây cung mới căng, là chết. Mạch xuân hơi huyền gọi là bình; huyền nhiều mà vị khí ít là bệnh; chỉ huyền mà không có vị khí là chết. Mùa xuân lấy vị khí làm gốc.
Phản: Trái với mạch mùa bình thường, quá mạnh hoặc quá yếu đều là bệnh.
Thái quá bệnh tại ngoại: Mạch thực mạnh quá mức, tà khí thịnh ở ngoài.
Bất cập bệnh tại nội: Mạch hư vi, chính khí suy ở trong.
Yểm yểm niếp niếp như tuần du diệp: Mạch mềm nhẹ như vuốt lá du, biểu thị có vị khí, là mạch bình.
Như tuần trường can: Mạch cứng, dài, trơn quá mức như vuốt cây sào, là bệnh.
Như tân trương cung huyền: Mạch căng cứng như dây cung mới căng, không có hòa hoãn, là tử mạch.
Xuân dĩ vị khí vi bản: Mùa xuân dù mạch huyền cũng phải có vị khí hòa hoãn làm gốc.
Mạch hạ câu, nếu trái là bệnh.
Hỏi: Thế nào gọi là trái?
Đáp: Khí mạch đến thực mạnh, gọi là thái quá, bệnh ở ngoài; khí mạch đến hư vi, gọi là bất cập, bệnh ở trong. Mạch đến liên tiếp như vòng ngọc, như vuốt ngọc lang can, gọi là bình; mạch đến càng nhanh, như gà nhấc chân, gọi là bệnh; phía trước cong, phía sau cứng, như cầm móc dây đai, là chết. Mạch hạ hơi câu gọi là bình; câu nhiều mà vị khí ít là bệnh; chỉ câu mà không có vị khí là chết. Mùa hạ lấy vị khí làm gốc.
Lũy lũy như hoàn: Mạch đến liên tục, tròn đều như vòng ngọc, là mạch hạ bình hòa.
Lang can: Một loại ngọc đẹp, ví mạch trơn sáng, có sinh khí.
Như kê cử túc: Mạch đến gấp gáp, không hòa hoãn, như gà nhấc chân, là bệnh.
Tiền khúc hậu cư như thao đới câu: Mạch giống móc dây đai, đến cong mà đi cứng, mất vị khí, là tử mạch.
Hạ dĩ vị khí vi bản: Mùa hạ dù mạch câu cũng phải có vị khí.
Mạch thu mao, nếu trái là bệnh.
Hỏi: Thế nào gọi là trái?
Đáp: Khí mạch đến thực mạnh, gọi là thái quá, bệnh ở ngoài; khí mạch đến hư vi, gọi là bất cập, bệnh ở trong. Mạch đến mờ nhẹ như mui xe, ấn xuống càng lớn, gọi là bình; không lên không xuống, như vuốt lông gà, gọi là bệnh; ấn vào tiêu điều rời rạc như gió thổi lông, là chết. Mạch thu hơi mao gọi là bình; mao nhiều mà vị khí ít là bệnh; chỉ mao mà không có vị khí là chết. Mùa thu lấy vị khí làm gốc.
Ái ái như xa cái: Mạch nhẹ, phủ rộng như mui xe, có vị khí, là mạch thu bình.
Án chi ích đại: Ấn xuống thấy mạch lớn hơn, có căn, có vị khí.
Bất thượng bất hạ như tuần kê vũ: Mạch không nổi không chìm, nhẹ yếu như vuốt lông gà, là bệnh.
Tiêu sách như phong xuy mao: Mạch rời rạc, tán loạn như gió thổi lông, là tử mạch.
Thu dĩ vị khí vi bản: Mùa thu dù mạch mao cũng phải có vị khí.
Mạch đông thạch, nếu trái là bệnh.
Hỏi: Thế nào gọi là trái?
Đáp: Khí mạch đến thực mạnh, gọi là thái quá, bệnh ở ngoài; khí mạch đến hư vi, gọi là bất cập, bệnh ở trong. Mạch đến trên lớn dưới nhọn, mềm trơn như mỏ chim sẻ, gọi là bình; mạch mổ liên tục, ở giữa hơi cong, gọi là bệnh; mạch đến như dây thừng rã, đi như đá bắn, là chết. Mạch đông hơi thạch gọi là bình; thạch nhiều mà vị khí ít là bệnh; chỉ thạch mà không có vị khí là chết. Mùa đông lấy vị khí làm gốc.
Thượng đại hạ nhuệ: Mạch trên lớn dưới nhọn, hình tượng mạch đông có căn nhưng không quá cứng.
Nhu hoạt như tước chi uế: Mềm trơn như mỏ chim sẻ, là mạch đông bình.
Trác trác liên thuộc: Mạch như chim mổ liên tục, không hòa hoãn, là bệnh.
Lai như giải sách, khứ như đàn thạch: Mạch đến như dây thừng rã, đi như đá bắn, rời rạc mà cứng, là tử mạch.
Đông dĩ vị khí vi bản: Mùa đông dù mạch thạch cũng phải có vị khí.
Vị là biển của thủy cốc, chủ nhận khí của bốn mùa, cho nên tất cả đều lấy vị khí làm gốc. Đây gọi là điểm trọng yếu về biến bệnh bốn mùa và sinh tử. Tỳ là trung châu, lúc bình hòa thì không dễ thấy, khi suy mới hiện ra. Mạch đến như chim sẻ mổ, như nước nhỏ xuống đồng hồ nước, đó là biểu hiện tỳ suy.
Vị giả thủy cốc chi hải: Vị là biển của thức ăn nước uống, nơi thu nạp thủy cốc.
Vị khí vi bản: Vị khí là gốc sinh hóa khí huyết. Mọi mạch dù theo mùa biến hóa vẫn phải có vị khí hòa hoãn thì mới là mạch sống.
Tứ thời biến bệnh: Bệnh biến theo bốn mùa, do khí mùa và mạch mùa thay đổi.
Tử sinh chi yếu hội: Điểm then chốt để phân biệt sống chết trong mạch học cổ.
Tỳ giả trung châu: Tỳ thuộc trung tiêu, là trung tâm vận hóa, sinh khí huyết.
Bình hòa bất khả đắc kiến: Khi tỳ khí bình hòa thì mạch của tỳ không hiện rõ riêng biệt, vì nó hòa vào vị khí chung.
Như tước chi trác: Mạch như chim mổ, biểu thị tỳ khí suy, mạch mất hòa hoãn.
Như thủy chi hạ lậu: Mạch như nước nhỏ xuống đồng hồ nước, rời rạc từng giọt, là dấu hiệu tỳ suy.
Tóm ý đoạn này: Từ Thập Nhất Nan đến Thập Ngũ Nan tiếp tục luận sâu về mạch học. Điều 11 nói mạch chưa đủ năm mươi động mà dừng là dấu hiệu một tạng vô khí, chủ yếu là thận khí đã suy trước, vì khí hít vào không xuống được đến thận. Điều 12 cảnh báo sai lầm điều trị “thực thực hư hư”: âm tuyệt mà bổ dương, dương tuyệt mà bổ âm đều làm bệnh nặng thêm, thậm chí khiến người bệnh chết. Điều 13 nhấn mạnh sắc và mạch phải tham chiếu tương ứng theo ngũ hành; sắc mạch tương sinh thì bệnh dễ khỏi, tương thắng thì nguy. Điều 14 bàn mạch tổn và chí, lấy số lần mạch đến trong hô hấp để phân biệt bình, bệnh, tử; đồng thời trình bày năm mức tổn hại từ bì mao, huyết mạch, cơ nhục, cân đến xương, và phép trị tương ứng là ích khí, điều doanh vệ, điều ẩm thực hàn ôn, hoãn trung, ích tinh. Điều 15 giải thích mạch bốn mùa: xuân huyền, hạ câu, thu mao, đông thạch. Mạch theo mùa là bình thường nếu có vị khí; nếu quá mạnh, quá yếu, cứng gấp, tán loạn, không còn vị khí thì là bệnh hoặc tử mạch. Điểm cốt lõi là “vị khí vi bản”: mọi mạch sống đều phải có sự hòa hoãn, mềm mại, sinh cơ của vị khí.
Thập Lục Nan
Điều khó thứ mười sáu
Hỏi: Mạch có tam bộ cửu hậu, có âm dương, có nhẹ nặng, có lục thập thủ, một mạch lại biến theo bốn mùa. Cách thời thánh nhân đã lâu xa, mỗi người tự cho phép của mình là đúng, vậy làm sao phân biệt?
Tam bộ cửu hậu: Tam bộ là thốn, quan, xích; cửu hậu là ba tầng phù, trung, trầm ở mỗi bộ, hợp thành chín vị trí thăm xét mạch.
Âm dương: Trong mạch có phù trầm, trì sác, hư thực, biểu lý, hàn nhiệt, đều có thể phân theo âm dương.
Khinh trọng: Độ nhẹ nặng của lực tay khi bắt mạch, từ nông đến sâu để xét phế, tâm, tỳ, can, thận.
Lục thập thủ: Sáu mươi đầu mối hoặc sáu mươi loại mạch pháp, chỉ hệ thống phân loại mạch phức tạp của cổ y.
Nhất mạch biến vi tứ thời: Cùng một mạch nhưng theo bốn mùa có biến hóa khác nhau, như xuân huyền, hạ câu, thu mao, đông thạch.
Đáp: Cần căn cứ vào bệnh ấy có chứng trong và chứng ngoài.
Nội chứng: Triệu chứng ở bên trong, thường thông qua cảm giác vùng bụng, động khí, đau khi ấn, bệnh cơ tạng phủ để nhận biết.
Ngoại chứng: Biểu hiện bên ngoài, như sắc mặt, tính tình, tiếng nói, hình thái, hành vi, phản ánh tạng phủ liên quan.
Bệnh ấy biểu hiện như thế nào?
Đáp: Giả sử bắt được can mạch, chứng ngoài là thích sạch sẽ, mặt xanh, dễ giận; chứng trong là bên trái rốn có động khí, ấn vào chắc cứng hoặc đau; bệnh của nó là tứ chi đầy trướng, bí tiểu, tiểu tiện khó, co rút gân. Có những biểu hiện ấy thì là bệnh can; không có những biểu hiện ấy thì không phải.
Can mạch: Mạch thuộc can, thường hơi huyền, có liên hệ với can mộc, cân, mắt, giận, sơ tiết.
Thiện khiết: Thích sạch sẽ. Trong cổ văn, đây là một biểu hiện tính tình được quy vào can.
Diện thanh: Mặt xanh, ứng với can mộc.
Thiện nộ: Dễ giận, vì can chủ sơ tiết, can khí uất hoặc can dương vượng dễ sinh cáu giận.
Tề tả hữu động khí: Bên trái rốn có khí động, phản ánh bệnh cơ thuộc can theo phân vùng cổ pháp.
Án chi lao nhược thống: Ấn vào chắc cứng hoặc đau, biểu thị khí kết, huyết ứ hoặc tạng khí uất kết.
Tứ chi mãn: Tứ chi đầy trướng, có thể do can khí không sơ tiết, khí cơ không thông.
Bế lung: Tiểu tiện bế tắc hoặc không thông lợi.
Sưu tiện nan: Tiểu tiện khó.
Chuyển cân: Gân co rút, chuột rút, vì can chủ cân.
Giả sử bắt được tâm mạch, chứng ngoài là mặt đỏ, miệng khô, thích cười; chứng trong là trên rốn có động khí, ấn vào chắc cứng hoặc đau; bệnh của nó là tâm phiền, đau tim, lòng bàn tay nóng mà cổ tay đau hoặc khó chịu. Có những biểu hiện ấy thì là bệnh tâm; không có thì không phải.
Tâm mạch: Mạch thuộc tâm, thường hơi câu, liên hệ với tâm hỏa, huyết mạch, thần chí.
Diện xích: Mặt đỏ, ứng với tâm hỏa.
Khẩu can: Miệng khô, có thể do tâm hỏa hoặc nhiệt làm hao tân dịch.
Hỷ tiếu: Hay cười, vì tâm chủ hỷ; hỷ quá mức hoặc tâm thần bất ổn có thể biểu hiện cười nhiều.
Tề thượng hữu động khí: Trên rốn có động khí, ứng vùng tâm theo phân khu cổ pháp.
Phiền tâm: Trong lòng bứt rứt, tâm thần không yên.
Tâm thống: Đau vùng tim hoặc vùng trước ngực.
Chưởng trung nhiệt: Lòng bàn tay nóng, có thể liên hệ tâm hỏa, âm hư hoặc nhiệt ở kinh tâm.
Oản: Cổ tay hoặc vùng cổ tay; đoạn này chỉ cảm giác nóng đau hoặc khó chịu ở vùng kinh mạch đi qua.
Giả sử bắt được tỳ mạch, chứng ngoài là mặt vàng, hay ợ, hay suy nghĩ, ưa mùi vị; chứng trong là ngay rốn có động khí, ấn vào chắc cứng hoặc đau; bệnh của nó là bụng đầy trướng, thức ăn không tiêu, thân thể nặng, khớp đau, lười nhác thích nằm, tứ chi không thu giữ được. Có những biểu hiện ấy thì là bệnh tỳ; không có thì không phải.
Tỳ mạch: Mạch thuộc tỳ, thường mềm hoãn, ứng với thổ, trung tiêu, vận hóa.
Diện hoàng: Mặt vàng, ứng với tỳ thổ.
Thiện ế: Hay ợ hơi, do tỳ vị khí cơ không thuận, vị khí nghịch.
Thiện tư: Hay suy nghĩ, vì tỳ tàng ý; suy nghĩ quá mức thương tỳ.
Thiện vị: Ưa vị hoặc hay chú ý vị ăn uống, vì tỳ khai khiếu ở miệng, chủ vị giác.
Đương tề hữu động khí: Ngay rốn có động khí, ứng trung tiêu tỳ vị.
Phúc trướng mãn: Bụng đầy trướng, do tỳ vận hóa kém, khí trệ, thấp đình.
Thực bất tiêu: Ăn không tiêu.
Thể trọng tiết thống: Thân nặng, khớp đau, thường do thấp tà hoặc tỳ hư thấp trở.
Đãi nọa thị ngọa: Lười nhác, thích nằm, biểu hiện tỳ khí hư, thấp nặng.
Tứ chi bất thu: Tứ chi yếu, khó vận động hoặc không điều khiển tốt, vì tỳ chủ tứ chi, chủ cơ nhục.
Giả sử bắt được phế mạch, chứng ngoài là mặt trắng, hay hắt hơi, buồn rầu không vui, muốn khóc; chứng trong là bên phải rốn có động khí, ấn vào chắc cứng hoặc đau; bệnh của nó là suyễn, ho, ớn lạnh phát nóng. Có những biểu hiện ấy thì là bệnh phế; không có thì không phải.
Phế mạch: Mạch thuộc phế, thường hơi phù hoặc mao, ứng với kim, bì mao, hô hấp.
Diện bạch: Mặt trắng, ứng với phế kim.
Thiện thế: Hay hắt hơi, vì phế khai khiếu ở mũi, chủ bì mao.
Bi sầu bất lạc: Buồn rầu không vui, vì phế tàng phách, bi thương phế.
Dục khốc: Muốn khóc, biểu hiện tình chí thuộc phế.
Tề hữu hữu động khí: Bên phải rốn có động khí, ứng vùng phế theo phân khu cổ pháp.
Suyễn khái: Suyễn và ho, do phế khí tuyên giáng thất thường.
Sái tích hàn nhiệt: Ớn lạnh rồi nóng, cảm giác lạnh run hoặc hàn nhiệt vãng lai.
Giả sử bắt được thận mạch, chứng ngoài là mặt đen, hay sợ, hay ngáp; chứng trong là dưới rốn có động khí, ấn vào chắc cứng hoặc đau; bệnh của nó là khí nghịch, bụng dưới co gấp đau, tiêu chảy như có cảm giác nặng xuống, chân ống quyển lạnh mà khí nghịch. Có những biểu hiện ấy thì là bệnh thận; không có thì không phải.
Thận mạch: Mạch thuộc thận, thường trầm, ứng với thủy, xương, tủy, tai, nhị âm, tinh.
Diện hắc: Mặt đen, ứng với thận thủy.
Thiện khủng: Hay sợ, vì thận tàng chí, khủng thương thận.
Khiếm: Ngáp, có thể liên hệ thận khí, âm dương không giao hoặc khí không đủ.
Tề hạ hữu động khí: Dưới rốn có động khí, ứng hạ tiêu, thận.
Nghịch khí: Khí nghịch lên, thận không nạp khí hoặc hạ tiêu khí cơ không thuận.
Tiểu phúc cấp thống: Bụng dưới co gấp đau.
Tiết như hạ trọng: Tiêu chảy kèm cảm giác sa nặng, mót rặn hoặc nặng xuống.
Túc hành hàn nhi nghịch: Cẳng chân lạnh và khí nghịch, biểu thị thận dương suy hoặc hạ tiêu hàn.
Thập Thất Nan
Điều khó thứ mười bảy
Hỏi: Kinh nói “bệnh có khi chết, có khi không chữa mà tự khỏi, có khi kéo dài nhiều năm tháng không dứt”. Sự chết sống, còn mất ấy có thể bắt mạch mà biết được không?
Tử sinh tồn vong: Sống chết, còn mất, chỉ tiên lượng bệnh.
Bất trị tự dũ: Không điều trị mà tự khỏi, do chính khí còn mạnh, bệnh nhẹ hoặc bệnh thuận thế.
Liên niên nguyệt bất dĩ: Bệnh kéo dài nhiều tháng nhiều năm không khỏi, thường là bệnh mạn tính, chính tà giằng co.
Đáp: Có thể biết hết.
Khi chẩn bệnh, nếu người bệnh nhắm mắt không muốn nhìn người, mạch đáng lẽ phải thấy can mạch cường cấp mà dài; nếu ngược lại thấy phế mạch phù ngắn mà sáp, thì chết.
Bế mục bất dục kiến nhân: Nhắm mắt không muốn nhìn người, liên hệ can và mắt, cũng biểu thị thần khí suy hoặc can bệnh.
Can mạch cường cấp nhi trường: Mạch can mạnh, gấp, dài, ứng với can bệnh.
Phế mạch phù đoản nhi sáp: Mạch phế nổi, ngắn, sáp. Can bệnh mà thấy phế mạch là kim khắc mộc, tương thắng, tiên lượng xấu.
Nếu bệnh nhân mở mắt mà khát, vùng dưới tim chắc cứng, mạch đáng lẽ phải khẩn thực mà sác; nếu ngược lại thấy mạch trầm sáp mà vi, thì chết.
Khai mục nhi khát: Mở mắt, khát, thường thuộc nhiệt hoặc dương chứng.
Tâm hạ lao: Vùng dưới tim, thượng vị cứng chắc, có kết.
Khẩn thực nhi sác: Mạch căng chặt, có lực, nhanh, phù hợp thực nhiệt hoặc kết thực.
Trầm sáp nhi vi: Mạch chìm, sáp, nhỏ yếu; thực nhiệt chứng mà thấy mạch hư âm là mạch không ứng bệnh, tiên lượng xấu.
Nếu bệnh nôn ra máu, lại chảy máu mũi, mạch đáng lẽ trầm tế; nếu ngược lại phù đại mà lao, thì chết.
Thổ huyết: Nôn ra máu, huyết từ vị hoặc phế vị nghịch lên.
Nục huyết: Chảy máu cam.
Trầm tế: Mạch chìm nhỏ, phù hợp huyết mất, âm huyết suy.
Phù đại nhi lao: Mạch nổi lớn mà chắc, biểu thị tà thực hoặc dương thịnh không phù hợp với chứng huyết thoát, tiên lượng xấu.
Nếu bệnh nói mê nói nhảm, thân đáng lẽ có nhiệt, mạch đáng lẽ hồng đại; nhưng tay chân quyết nghịch, mạch trầm tế mà vi, thì chết.
Thiềm ngôn vọng ngữ: Nói mê, nói nhảm, thường do nhiệt nhiễu thần minh hoặc thần khí rối loạn.
Thân đương hữu nhiệt: Thân đáng lẽ nóng, phù hợp nhiệt nhập tâm bào hoặc dương nhiệt thịnh.
Hồng đại mạch: Mạch lớn, đầy, chủ nhiệt thịnh.
Thủ túc quyết nghịch: Tay chân lạnh ngược, dương khí không đạt tứ chi hoặc chính khí suy.
Trầm tế nhi vi: Mạch chìm nhỏ yếu, không phù hợp với nhiệt chứng bên ngoài, là âm dương ly tuyệt, tiên lượng xấu.
Nếu bệnh bụng to mà tiêu chảy, mạch đáng lẽ vi tế mà sáp; nếu ngược lại khẩn đại mà hoạt, thì chết.
Đại phúc nhi tiết: Bụng to, trướng mà tiêu chảy, thường do tỳ hư, thủy thấp, hàn thấp hoặc khí hóa suy.
Vi tế nhi sáp: Mạch nhỏ yếu, sáp, phù hợp hư chứng.
Khẩn đại nhi hoạt: Mạch căng, lớn, trơn, biểu thị thực tà hoặc đàm thấp, nhiệt, không phù hợp chứng suy tiết, tiên lượng xấu.
Thập Bát Nan
Điều khó thứ mười tám
Hỏi: Mạch có tam bộ, mỗi bộ có bốn kinh; tay có Thái âm, Dương minh; chân có Thái dương, Thiếu âm, làm thượng hạ bộ, nghĩa là gì?
Tam bộ: Ba bộ thốn, quan, xích.
Bộ hữu tứ kinh: Mỗi bộ có thể liên hệ với một nhóm kinh nhất định theo ngũ hành sinh khắc.
Thủ Thái âm Dương minh: Thủ Thái âm Phế kinh và Thủ Dương minh Đại trường kinh, đều thuộc kim.
Túc Thái dương Thiếu âm: Túc Thái dương Bàng quang kinh và Túc Thiếu âm Thận kinh, đều thuộc thủy.
Đáp: Thủ Thái âm và Dương minh thuộc kim; Túc Thiếu âm và Thái dương thuộc thủy. Kim sinh thủy, thủy chảy xuống dưới mà không thể đi lên, cho nên ở hạ bộ. Túc Quyết âm và Thiếu dương thuộc mộc, sinh Thủ Thái dương và Thiếu âm thuộc hỏa; hỏa bốc lên trên mà không thể đi xuống, cho nên làm thượng bộ. Thủ Tâm chủ và Thiếu dương thuộc hỏa, sinh Túc Thái âm và Dương minh thuộc thổ; thổ chủ trung cung, cho nên ở trung bộ. Đây đều là quan hệ mẫu tử trong ngũ hành thay nhau sinh dưỡng.
Kim sinh thủy: Phế đại trường thuộc kim, thận bàng quang thuộc thủy; kim sinh thủy nên nhóm này quy về hạ bộ.
Thủy lưu hạ hành: Thủy có tính đi xuống, nên quy về phần dưới.
Mộc sinh hỏa: Can đởm thuộc mộc, tâm tiểu trường thuộc hỏa; mộc sinh hỏa, hỏa bốc lên nên quy về thượng bộ.
Hỏa viêm thượng hành: Hỏa có tính bốc lên trên.
Tâm chủ: Tâm bào, thuộc hỏa.
Thiếu dương: Ở đây chỉ Thủ Thiếu dương Tam tiêu, thuộc hỏa.
Thổ chủ trung cung: Thổ ở trung ương, tỳ vị thuộc thổ, chủ trung tiêu.
Ngũ hành tử mẫu tương sinh: Quan hệ mẹ con trong ngũ hành, hành trước sinh hành sau, nuôi dưỡng lẫn nhau.
Hỏi: Mạch có tam bộ cửu hậu, mỗi phần chủ điều gì?
Đáp: Tam bộ là thốn, quan, xích; cửu hậu là phù, trung, trầm. Thượng bộ phỏng theo trời, chủ bệnh từ ngực trở lên đến đầu; trung bộ phỏng theo người, chủ bệnh từ dưới cơ hoành đến rốn; hạ bộ phỏng theo đất, chủ bệnh từ dưới rốn đến chân. Cần xét kỹ rồi mới châm.
Thượng bộ pháp thiên: Bộ thốn ứng trời, chủ phần trên như ngực, phế, tâm, đầu mặt.
Trung bộ pháp nhân: Bộ quan ứng người, chủ vùng giữa như cơ hoành đến rốn, can tỳ vị.
Hạ bộ pháp địa: Bộ xích ứng đất, chủ dưới rốn, thận, bàng quang, ruột, chân.
Phù trung trầm: Ba tầng bắt mạch: nông, giữa, sâu; hợp với thốn quan xích thành chín hậu.
Thẩm nhi thích chi: Phải xem xét kỹ mạch, chứng, vị trí bệnh rồi mới châm trị.
Hỏi: Người bệnh có trầm trệ, tích tụ lâu ngày, có thể bắt mạch mà biết không?
Trầm trệ: Khí huyết, đàm, thấp, thủy hoặc ứ tích ở sâu, lâu ngày không tan.
Tích tụ: Khối tích, khí tích, huyết tích hoặc đàm tích trong cơ thể.
Đáp: Chẩn thấy bên sườn phải có tích khí, lại được phế mạch kết. Mạch kết nặng thì tích nặng, kết nhẹ thì khí tích nhẹ.
Hữu hiếp tích khí: Tích khí ở bên sườn phải, cổ pháp thường liên hệ phế hoặc can đởm tùy mạch chứng.
Phế mạch kết: Mạch phế có kết, tức mạch đến đi thỉnh thoảng dừng không đều.
Mạch kết thậm tắc tích thậm: Mạch kết càng rõ thì tích tụ càng nặng.
Kết vi tắc khí vi: Mạch kết nhẹ thì khí tích nhẹ.
Hỏi: Chẩn không thấy phế mạch, nhưng bên sườn phải có tích khí, là vì sao?
Đáp: Tuy phế mạch không hiện, nhưng mạch tay phải phải trầm phục.
Hữu thủ mạch trầm phục: Mạch tay phải chìm ẩn, khó thấy, biểu thị bệnh ở trong sâu, có tích hoặc khí bế.
Phế mạch bất kiến: Mạch phế không lộ rõ, nhưng dấu tích có thể hiện qua mạch trầm phục.
Hỏi: Bệnh cố tật ở bên ngoài cũng cùng phép ấy hay khác?
Đáp: Kết là mạch đến đi thỉnh thoảng dừng một lần, không có số cố định, gọi là kết. Phục là mạch đi dưới gân. Phù là mạch đi trên thịt. Trái phải, biểu lý, phép đều như vậy. Giả sử mạch kết phục mà bên trong không có tích tụ; hoặc mạch phù kết mà bên ngoài không có cố tật; có tích tụ mà mạch không kết phục; có cố tật mà mạch không phù kết, tức là mạch không ứng với bệnh, bệnh không ứng với mạch, đó là tử bệnh.
Kết mạch: Mạch thỉnh thoảng ngừng không đều, chủ khí kết, hàn, tích, ứ hoặc khí huyết không thông.
Phục mạch: Mạch ẩn sâu dưới gân, phải ấn rất sâu mới thấy, thường chủ bệnh ở lý, tà phục sâu, tích tụ.
Phù mạch: Mạch nổi, đi ở phần trên cơ nhục, thường chủ biểu bệnh hoặc bệnh ở ngoài.
Ngoại cố tật: Bệnh cố kết ở ngoài, bệnh lâu ngày ở biểu, cơ nhục, kinh lạc.
Mạch bất ứng bệnh, bệnh bất ứng mạch: Mạch và chứng không phù hợp, biểu thị chính tà rối loạn, bệnh cơ nguy hiểm, khó đoán, tiên lượng xấu.
Tử bệnh: Bệnh có tiên lượng tử vong trong văn cảnh cổ y.
Thập Cửu Nan
Điều khó thứ mười chín
Hỏi: Kinh nói “mạch có nghịch thuận, nam nữ có thường mà lại phản”, nghĩa là gì?
Nghịch thuận: Thuận là phù hợp quy luật sinh lý, nghịch là trái quy luật bình thường.
Nam nữ hữu hằng: Nam nữ có mạch thường khác nhau theo quan niệm cổ.
Phản: Trái lại với quy luật thường, nam được mạch nữ, nữ được mạch nam.
Đáp: Nam sinh ở dần, dần thuộc mộc, thuộc dương; nữ sinh ở thân, thân thuộc kim, thuộc âm. Cho nên mạch nam ở trên quan, mạch nữ ở dưới quan. Vì vậy mạch xích của nam thường yếu, mạch xích của nữ thường thịnh, đó là bình thường. Trái lại là nam được mạch nữ, nữ được mạch nam.
Dần vi mộc dương: Dần thuộc mộc, chủ sinh phát, thuộc dương; dùng để biểu tượng nam.
Thân vi kim âm: Thân thuộc kim, chủ thu liễm, thuộc âm; dùng để biểu tượng nữ.
Nam mạch tại quan thượng: Mạch nam thiên về phần thốn, quan phía trên, dương khí chủ ở trên.
Nữ mạch tại quan hạ: Mạch nữ thiên về phần xích phía dưới, âm huyết chủ ở dưới.
Nam tử xích mạch hằng nhược: Mạch xích nam thường không thịnh bằng nữ, vì nam lấy dương khí làm chủ.
Nữ tử xích mạch hằng thịnh: Mạch xích nữ thường thịnh hơn, vì nữ lấy âm huyết, bào cung, hạ tiêu làm trọng.
Hỏi: Như vậy thành bệnh thế nào?
Đáp: Nam được mạch nữ là bất túc, bệnh ở trong. Bên trái được thì bệnh ở trái; bên phải được thì bệnh ở phải, tùy theo mạch mà nói. Nữ được mạch nam là thái quá, bệnh ở tứ chi. Bên trái được thì bệnh ở trái; bên phải được thì bệnh ở phải, cũng tùy theo mạch mà nói. Chính là ý này.
Nam đắc nữ mạch vi bất túc: Nam mà mạch thiên về xích thịnh hoặc âm tượng của nữ, biểu thị dương khí bất túc, bệnh ở trong.
Bệnh tại nội: Bệnh ở bên trong, thuộc tạng, âm phận, hạ tiêu.
Nữ đắc nam mạch vi thái quá: Nữ mà mạch thiên về quan thượng hoặc dương tượng của nam, biểu thị dương khí thái quá.
Bệnh tại tứ chi: Tứ chi thuộc dương, cơ nhục, kinh lạc; dương thịnh hoặc khí huyết vận hành bất thường có thể biểu hiện ở chi thể.
Tùy mạch ngôn chi: Căn cứ mạch bên trái hay phải để suy đoán bệnh ở bên tương ứng.
Nhị Thập Nan
Điều khó thứ hai mươi
Hỏi: Kinh nói “mạch có phục nặc”, vậy phục nặc ở tạng nào mà gọi là phục nặc?
Phục nặc: Ẩn giấu, tiềm phục. Trong mạch học, chỉ một loại mạch hoặc bệnh khí bị che lấp bên trong, không hiện rõ ở vị trí đáng hiện.
Đáp: Đó là nói âm dương thay nhau thừa lấn, thay nhau ẩn phục. Mạch ở âm bộ mà lại thấy dương mạch, là dương thừa âm; tuy dương mạch đôi khi trầm sáp mà ngắn, đó gọi là trong dương có âm ẩn phục. Mạch ở dương bộ mà lại thấy âm mạch, là âm thừa dương; tuy dương mạch đôi khi phù hoạt mà dài, đó gọi là trong âm có dương ẩn phục. Trùng dương thì cuồng, trùng âm thì điên. Thoát dương thì thấy ma quỷ, thoát âm thì mắt mù.
Âm dương cánh tương thừa: Âm và dương thay nhau lấn át nhau, làm mạch tượng không còn đúng vị trí bình thường.
Cánh tương phục: Âm dương thay nhau ẩn phục trong nhau, biểu hiện bề ngoài và bên trong không hoàn toàn giống nhau.
Âm bộ hiện dương mạch: Vị trí đáng thuộc âm mà lại thấy mạch dương, cho thấy dương thừa âm.
Dương thừa âm: Dương khí lấn âm phận, có thể sinh nhiệt, động, bốc lên, mất tàng.
Dương trung phục âm: Trong dương có âm ẩn. Dù biểu hiện dương, vẫn có yếu tố trầm, sáp, đoản của âm tiềm phục bên trong.
Dương bộ hiện âm mạch: Vị trí đáng thuộc dương mà lại thấy mạch âm, cho thấy âm thừa dương.
Âm thừa dương: Âm khí lấn dương phận, có thể sinh hàn, trệ, chìm, bế.
Âm trung phục dương: Trong âm có dương ẩn. Dù biểu hiện âm, vẫn có yếu tố phù, hoạt, trường của dương tiềm phục bên trong.
Trùng dương: Dương quá chồng chất, dương nhiệt quá thịnh, có thể làm thần chí rối loạn, phát cuồng.
Cuồng: Chứng thần chí hưng phấn, nói cười la hét, kích động, thường thuộc dương thịnh, đàm hỏa, nhiệt nhiễu tâm thần.
Trùng âm: Âm quá chồng chất, âm tà quá thịnh, có thể làm thần chí u trệ, sinh điên.
Điên: Chứng thần chí trầm uất, ngơ ngác, im lặng, ít nói, thường thuộc âm thịnh, đàm trọc, khí uất che lấp thần minh.
Thoát dương: Dương khí thoát, chính khí suy tán ra ngoài, có thể xuất hiện sợ hãi, ảo giác, thần chí bất an.
Kiến quỷ: Thấy ma quỷ, chỉ ảo giác, thần chí rối loạn do dương khí thoát hoặc thần không giữ.
Thoát âm: Âm tinh, âm huyết, tân dịch suy thoát nghiêm trọng, mắt mất nuôi dưỡng.
Mục manh: Mắt mù hoặc thị lực mất, trong văn cảnh này là dấu hiệu âm tinh suy thoát không nuôi được mắt.
Tóm ý đoạn này: Từ Thập Lục Nan đến Nhị Thập Nan tiếp tục phát triển mạch học theo hướng kết hợp mạch, chứng trong ngoài, tạng phủ và tiên lượng. Điều 16 nhấn mạnh không thể chỉ nhìn mạch đơn độc, mà phải phối hợp ngoại chứng, nội chứng và bệnh chứng của từng tạng: can có mặt xanh, dễ giận, co rút gân; tâm có mặt đỏ, miệng khô, tâm phiền; tỳ có mặt vàng, hay ợ, bụng đầy, thân nặng; phế có mặt trắng, hay hắt hơi, buồn muốn khóc; thận có mặt đen, hay sợ, khí nghịch, bụng dưới đau. Điều 17 dùng mạch có ứng hay không ứng với chứng để đoán sinh tử: nếu chứng và mạch trái ngược, đặc biệt thuộc quan hệ tương khắc hoặc hư thực không phù hợp, tiên lượng xấu. Điều 18 giải thích tam bộ cửu hậu, lấy thốn quan xích và phù trung trầm để xét bệnh từ đầu ngực đến bụng giữa và hạ bộ; đồng thời bàn mạch kết, phục, phù trong tích tụ và cố tật. Điều 19 nói nam nữ có mạch thường khác nhau; nam được nữ mạch là bất túc, nữ được nam mạch là thái quá. Điều 20 bàn mạch phục nặc, tức âm dương lấn nhau và ẩn trong nhau; trùng dương dễ cuồng, trùng âm dễ điên, dương thoát thì thần loạn thấy quỷ, âm thoát thì mắt mất nuôi dưỡng.