Trung y học, dưới ảnh hưởng và sự chỉ đạo của tư tưởng duy vật và biện chứng pháp cổ đại Trung Quốc, thông qua thực tiễn y liệu lâu dài, tích lũy không ngừng, tổng kết lặp đi lặp lại mà dần dần hình thành nên một khoa học y học truyền thống mang phong cách độc đáo; Là sự tổng kết kinh nghiệm vô cùng phong phú của nhân dân Trung Quốc trong cuộc đấu tranh lâu dài với bệnh tật, có lịch sử lâu đời kéo dài hàng nghìn năm, là bộ phận quan trọng của văn hóa truyền thống Trung Quốc. Nó kết tinh và phản ánh một cách lịch sử hình thái tư tưởng của dân tộc Trung Hoa trong những giai đoạn phát triển nhất định, hàm chứa nội hàm phong phú của văn hóa truyền thống Trung Hoa, đã có cống hiến to lớn cho sự sinh sôi phát triển của dân tộc Trung Hoa và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe, là một viên minh châu hiếm có trong lịch sử khoa học của Trung Quốc và thế giới.
Lý luận cơ sở Trung y nhằm nghiên cứu, diễn giải các quan niệm cơ bản, khái niệm cơ bản, lý luận cơ bản và nguyên tắc cơ bản của Trung y học; Nó giữ vị trí vô cùng quan trọng trong toàn bộ ngành Trung y học, là cơ sở lý luận cho các phân môn của Trung y học.
Tiết 1 Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Hệ Thống Lý Luận Trung Y Học
(1) Trung Y Học Và Hệ Thống Lý Luận Trung Y Học
(2) Điều Kiện Hình Thành Hệ Thống Lý Luận Trung Y Học
Khoa học là một hiện tượng xã hội, không thể tách rời khỏi xã hội mà tồn tại và phát triển một cách cô lập. Hệ thống khoa học là một hệ thống con của xã hội, phải tiến hành trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin với các hệ thống con khác của xã hội. Xã hội cung cấp những điều kiện đầy đủ và cần thiết cho sự hình thành và phát triển của khoa học.
Trung y học khởi nguồn từ thời Tiên Tần, hệ thống lý luận của nó được hình thành vào thời Chiến Quốc, Tần, Hán. Hệ thống lý luận Trung y học được hình thành dưới ảnh hưởng và sự chỉ đạo của tư tưởng triết học cổ đại Trung Quốc, trên nền tảng văn hóa truyền thống của dân tộc Trung Hoa, thông qua tích lũy kinh nghiệm lâu dài trong công tác y liệu, bảo kiện và tổng kết lý luận.
Từ sau khi Trung Quốc bước vào xã hội nô lệ vào thế kỷ XXI trước Công nguyên, nhận thức của con người đối với bệnh tật không ngừng phát triển cùng với sự tích lũy kinh nghiệm thực tiễn y liệu; Chẳng hạn, ngay từ thời Tây Chu, các y gia đã nêu ra những lý luận về phát bệnh và dùng thuốc để trị bệnh. Đến thời Xuân Thu, y gia nước Tần là Y Hòa lại đưa ra học thuyết “lục khí gây bệnh”, mở ra tiền lệ cho hệ thống lý luận Trung y. Tổ tiên dân tộc Trung Hoa trong cuộc đấu tranh sản xuất và thực tiễn y liệu lâu dài đã từng bước tích lũy tri thức y dược nguyên thủy, đặt cơ sở thực tiễn phong phú cho sự hình thành hệ thống lý luận Trung y học.
Việc xác lập một lý luận khoa học đều phải trải qua thực tiễn đời sống, sản xuất và khoa học lâu dài, lặp đi lặp lại, rồi từ sự nhận thức lặp đi lặp lại ấy mà rút ra lý luận đúng đắn. Trung y học cũng chính là thông qua thực tiễn y liệu lâu dài và nhiều lần, dần dần hình thành nên hệ thống lý luận của riêng mình.
Lý luận cơ sở Trung y học là sự khái quát lý luận về quy luật vận động của hoạt động sinh mệnh con người và biến hóa bệnh tật. Ví như học thuyết tạng tượng chính là được hình thành thông qua quan sát đời sống lâu dài, thực tiễn y liệu lặp đi lặp lại và thí nghiệm giải phẫu, các phương diện khác như chẩn đoán, chứng hậu, trị tắc, xác lập công hiệu phương thuốc… Đều không ngoài quy luật ấy. Từ đó có thể thấy rằng trong quá trình hình thành và phát triển, hệ thống lý luận Trung y học luôn lấy thực tiễn làm cơ sở vững chắc.
(3) Dấu Mốc Hình Thành Hệ Thống Lý Luận Trung Y Học
Dấu mốc đánh dấu sự hình thành hệ thống lý luận Trung y học chính là sự ra đời của Hoàng Đế Nội Kinh. Hoàng Đế Nội Kinh đã tiếp thu những thành quả quan trọng của nhiều môn khoa học như thiên văn, lịch pháp, khí tượng, toán học, sinh vật, địa lý… Trước thời Tần Hán; Dưới sự chỉ đạo của khí nhất nguyên luận và học thuyết âm dương ngũ hành, tác phẩm này đã tổng kết những thành tựu y liệu và kinh nghiệm điều trị trước thời Xuân Thu – Chiến Quốc, xác lập các nguyên tắc lý luận của Trung y học, hệ thống luận thuật các vấn đề về sinh lý, bệnh lý, kinh lạc, giải phẫu, chẩn đoán, điều trị, dự phòng… Xây dựng nên một hệ thống lý luận độc đáo, trở thành cơ sở và nguồn gốc lý luận cho sự phát triển của Trung y học.
(4) Sự Xác Lập Hệ Thống Lý Luận Độc Đáo Của Trung Y Học
Việc Hoàng Đế Nội Kinh được biên thành trên thực tế đã đánh dấu sự xác lập của lý luận cơ bản Trung y học; Tác phẩm này cùng với Thương Hàn Tạp Bệnh Luận của Trương Trọng Cảnh lần lượt là những trước tác đặt nền móng cho lý luận cơ bản và biện chứng luận trị của Trung y học. Hai tác phẩm ấy cùng với Thần Nông Bản Thảo Kinh và Nan Kinh được các y gia đời sau tôn làm kinh điển, qua đó xác lập hệ thống lý luận độc đáo của Trung y học, gây ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển y học đời sau.
Sự phát triển của khoa học, ngoài việc chịu ảnh hưởng của các nhân tố môi trường bên ngoài như xã hội, chính trị, kinh tế, bản thân nó còn tồn tại vận động mâu thuẫn giữa các mặt đối lập tương đối. Mâu thuẫn này là căn cứ nội tại của sự phát triển khoa học, là động lực bên trong của sự phát triển khoa học. Mâu thuẫn giữa lý luận khoa học và thực nghiệm khoa học là động lực bên trong thúc đẩy khoa học phát triển. Trong quá trình phát triển của hệ thống lý luận Trung y học, cùng với sự phát triển của thực tiễn xã hội, đặc biệt là thực tiễn y liệu, có những bộ phận trong hệ thống lý luận do Hoàng Đế Nội Kinh xây dựng đã không còn đủ sức giải thích những hiện tượng mới, từ đó nảy sinh mâu thuẫn giữa lý luận khoa học vốn có và các sự kiện khoa học mới. Dưới sự thúc đẩy của nhu cầu xã hội, bên trong hệ thống lý luận Trung y học không ngừng diễn ra sự phân hóa và tổng hợp, theo đó các học phái lý luận mới và các phân môn mới lần lượt ra đời. Hệ thống lý luận Trung y học chính là không ngừng phát triển tiến lên trong vận động thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa phân hóa và tổng hợp, giữa truyền thống và đổi mới.
Sự phát triển của hệ thống lý luận Trung y học gắn liền với sự phát triển của văn hóa, khoa học, kỹ thuật xã hội Trung Quốc; Thông qua thực tiễn đấu tranh lâu dài với bệnh tật của các thế hệ y gia và quần chúng nhân dân, vận dụng những thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật tiên tiến phù hợp với từng thời kỳ lịch sử mà không ngừng hoàn thiện, nâng cao và phát triển. Vì vậy, sự phát triển của hệ thống lý luận Trung y học phản ánh trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật của các thời kỳ lịch sử tương ứng.
(1) Cống hiến của các y gia các triều đại Trung Quốc
Trong quá trình phát triển lý luận Trung y học, từ thời Tấn, Đường, Tống, Kim, Nguyên cho đến Minh, Thanh, nhiều y gia, trên cơ sở các trước tác kinh điển như Hoàng Đế Nội Kinh, Thương Hàn Tạp Bệnh Luận, kết hợp với kinh nghiệm lâm sàng và nghiên cứu lý luận riêng, đã từ nhiều góc độ khác nhau mà phát triển, làm phong phú hệ thống lý luận Trung y học.
Thời Ngụy – Tấn – Tùy – Đường: Vương Thúc Hòa đời Tấn biên soạn Mạch Kinh, làm phong phú thêm những tri thức và lý luận cơ bản về mạch học. Châm Cứu Giáp Ất Kinh của Hoàng Phủ Mật là một chuyên thư về châm cứu. Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận của Sào Nguyên Phương đời Tùy là một chuyên thư về bệnh nhân, bệnh lý và chứng hậu. Thiên Kim Yếu Phương, Thiên Kim Dực Phương của Tôn Tư Mạc đời Đường, cùng Ngoại Đài Bí Yếu của Vương Đào, đã tập đại thành y học trước thời Đường, từ lý luận đến lâm sàng đều có những phát triển mới.
Thời Tống, Kim, Nguyên: Từ sau đời Tống cho đến Minh, Thanh, nhiều y gia, trên cơ sở kế thừa thành tựu của tiền nhân, dựa vào kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, dám đổi mới, nêu ra những kiến giải độc đáo của mình, khiến cho học thuật Trung y có được những đột phá và phát triển mới. Các chuyên thư chuyên khoa và tổng hợp xuất hiện liên tiếp. Trong đó, bốn danh y đời Kim – Nguyên đã có cống hiến quan trọng đối với sự phát triển của lý luận Trung y học.
Lưu Hoàn Tố (khoảng năm 1100, năm mất không rõ) lấy hỏa nhiệt lập luận, chủ trương mạnh mẽ rằng “Lục khí đều do hỏa hóa”, “Ngũ chí quá cực đều có thể sinh hỏa”, dùng thuốc phần nhiều là hàn lương; Khi hỏa nhiệt ở biểu, trị bằng tân lương, cam hàn, khi hỏa nhiệt ở lý thì dùng các phương Thừa Khí, biểu lý đều nhiệt thì dùng Phòng Phong Thông Thánh, Lương Cách để giải cả biểu lẫn lý, vì vậy gọi là “phái hàn lương”. Hỏa nhiệt luận của Lưu thị đã thúc đẩy sự phát triển của học thuyết Ôn bệnh, có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự hình thành học thuyết Ôn bệnh.
Trương Tòng Chính (khoảng 1156 – 1228) truyền học thuyết Hà Gian, cho rằng bệnh do tà sinh, trị bệnh là phải công tà đã bệnh, chủ trương “Tà khứ thì chính an”, dùng ba pháp hãn, thổ, hạ để công tà, nên được gọi là “phái công hạ”. Ông không chỉ tiến hành khảo cứu sâu về cơ chế phát bệnh, mà còn mở rộng phạm vi ứng dụng của ba pháp hãn, thổ, hạ, có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của lý luận trị liệu Trung y.
Lý Đông Viên (khoảng 1180 – 1251) nêu ra học thuyết nội thương, với luận điểm “Nội thương tỳ vị, trăm bệnh từ đó mà sinh”, trị liệu chú trọng vào thăng bổ tỳ dương, được gọi là “phái bổ thổ”.
Chu Đan Khê (khoảng 1281 – 1358) coi trọng hiện tượng tướng hỏa vọng động làm hao thương chân âm, nêu ra luận điểm “Dương thường có dư, âm thường bất túc”, trị bệnh lấy tư âm giáng hỏa làm chủ, vì vậy được gọi là “phái dưỡng âm”.
Bốn danh gia đời Kim – Nguyên, mỗi vị đều có đặc sắc riêng, có sáng kiến riêng, từ những góc độ khác nhau làm phong phú và phát triển Trung y học, thúc đẩy sự phát triển của lý luận và thực tiễn lâm sàng Trung y.
Thời Minh, Thanh: Trong lịch sử phát triển học thuật Trung y, giai đoạn này phái ôn bổ rất thịnh hành, trong đó đa số các y gia như Tiết Lập Trai, Tôn Nhất Khuê, Triệu Hiến Khả, Trương Cảnh Nhạc, Lý Trung Tử… đều coi trọng tỳ thận, giỏi về ôn bổ. Sự xuất hiện của phái Ôn bệnh đánh dấu việc học thuật Trung y lại đạt được thành tựu nổi bật. Ngô Hựu Khả sáng lập khái niệm mới “Lệ khí học thuyết” về bệnh nguyên của bệnh truyền nhiễm, nêu ra những kiến giải học thuật tương đối hoàn chỉnh về trị liệu bệnh truyền nhiễm, soạn Ôn Dịch Luận, đặt nền tảng cho sự hình thành học thuyết Ôn bệnh. Ôn Nhiệt Luận của Diệp Thiên Sỹ sáng tạo biện chứng Vệ – Khí – Doanh – Huyết; Ôn Bệnh Điều Biện của Ngô Cúc Thông sáng tạo biện chứng Tam tiêu; Thấp Nhiệt Bệnh Thiên của Tiết Sinh Bạch chỉ rõ “Bệnh thấp nhiệt chẳng những khác với Thương hàn, mà còn rất khác với Ôn bệnh”; Ôn Nhiệt Kinh Vĩ của Vương Mạnh Anh “lấy văn chương của Hiền Kỳ, Trọng Cảnh làm kinh, lấy biện luận của Diệp, Tiết và chư gia làm vĩ”.
Các nhà Ôn bệnh này đã mạnh dạn đột phá quan niệm truyền thống “Ôn bệnh không vượt khỏi Thương hàn”, sáng lập nên một hệ thống tương đối hoàn chỉnh về lý luận và phương pháp biện chứng luận trị Ôn bệnh, lấy Vệ – Khí – Doanh – Huyết, Tam tiêu làm hạt nhân, khiến cho học thuyết Ôn bệnh hình thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về chứng, nhân, mạch, trị. Học thuyết Ôn bệnh và học thuyết Thương hàn bổ sung cho nhau, trở thành hai học thuyết lớn của Trung y trong trị liệu ngoại cảm nhiệt bệnh, có cống hiến to lớn trong điều trị các bệnh nhiệt cấp tính.
Lý luận dược học Trung y phát triển song hành với lý luận Trung y học, khởi nguồn từ Hoàng Đế Nội Kinh, như quan niệm ngũ vị nhập ngũ tạng, tác dụng khác nhau của khí vị dày mỏng, âm dương, phối ngũ quân, thần, tá, sứ… Đào Hoằng Cảnh lại nêu ra thuyết tương tu, tương sử, tương úy, tương ố, tương phản, tương sát. Trương Nguyên Tố thì phát triển lý luận quy kinh và thăng giáng phù trầm của dược vật. Lâm sàng Trung y trong trị liệu lấy đó làm căn cứ chỉ đạo dùng thuốc.
(2) Hiện đại hóa lý luận Trung y học
Lịch sử Trung y học là lịch sử học thuật không ngừng phát triển, không ngừng đổi mới. Từ sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, dưới sự quan tâm của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, lý luận Trung y học đã đạt được bước tiến dài; Về bề rộng, chiều sâu và phương pháp nghiên cứu đều vượt xa bất kỳ thời kỳ lịch sử nào trước đó. Nghiên cứu lý luận Trung y học đương đại, lấy việc chỉnh lý một cách hệ thống, phát huy và nâng cao làm tiền đề, vận dụng cả phương pháp truyền thống lẫn phương pháp khoa học hiện đại, bằng con đường đa ngành, đa hướng từng bước làm sáng tỏ huyền cơ của lý luận Trung y học, khiến lý luận Trung y học liên tục được đào sâu, đổi mới và có những đột phá nhất định.
Về phương diện chỉnh lý và nghiên cứu hệ thống văn hiến Trung y, việc xây dựng hệ thống cơ bản của lý luận cơ sở Trung y được đánh dấu bằng các giáo trình thống nhất trong các trường cao đẳng Trung y như Cơ Sở Lý Luận Trung Y, Cơ Sở Trung Y Học. Các trước tác như Âm Dương Ngũ Hành, Khái Luận Trung Y Học, Thực Dụng Cơ Sở Trung Y Học, Khí Huyết Luận… qua việc giải thích ý chỉ kinh văn, gán cho nghĩa mới, khai mở cảnh giới mới, đã phản ánh sự nâng cao trình độ lý luận Trung y học.
Về phương pháp nghiên cứu lý luận Trung y học, ngoài việc vận dụng phương pháp văn hiến để nghiên cứu căn nguyên lý luận Trung y học, làm sáng tỏ thêm nội hàm học thuật của nó, việc sử dụng tri thức và phương pháp của nhiều ngành khoa học khác nhau để nghiên cứu lý luận Trung y học là một đặc điểm quan trọng của nghiên cứu lý luận Trung y học đương đại. Lý luận cơ sở Trung y học hàm chứa mầm mống của một số lý luận tuyến đầu trong khoa học tự nhiên hiện đại, cung cấp một số điểm xuất phát tư duy hoặc mô thức lý luận cho triết học, thiên văn học, khí tượng học, toán học, vật lý học, khoa học hệ thống, khoa học sự sống… Việc ra đời của những công trình như Triết Học Của Nội Kinh Và Phương Pháp Trung Y Học, cùng với việc công bố các thành quả nghiên cứu như: Lý luận phạn hệ và biện chứng luận trị, thiên văn học và Ngũ Vận Lục Khí, lý luận Thái Cực Âm Dương, Vận khí và khí tượng, điều khiển luận và lý luận trị pháp, Khí và trường, Khí và cơ học lượng tử…, đã làm cho nghiên cứu lý luận Trung y học thông nối với các ngành khoa học tuyến đầu đương đại, mang đậm đặc trưng thời đại và ý thức sáng tạo.
Vận dụng tri thức và phương pháp của y học hiện đại và các khoa học hiện đại khác, đặc biệt là phương pháp thực nghiệm, để nghiên cứu tạng tượng, kinh lạc, khí huyết, chứng hậu, chẩn pháp, trị pháp… của Trung y học, đã khiến cho phương pháp nghiên cứu lý luận cơ sở Trung y học từ chỗ dựa vào kinh học, kinh nghiệm, triết học tự nhiên, nâng lên thành phương pháp khoa học kỹ thuật hiện đại, bước đầu làm rõ nội hàm khoa học của một số khái niệm, nguyên lý trong lý luận Trung y học. Chẳng hạn, thông qua nghiên cứu trên nhiều phương diện như điện cơ, nhiệt độ da, điện trở da, đồ hình lưu lượng máu, siêu âm, laser và truy tìm bằng đồng vị phóng xạ, giải phẫu vi mô, nội tiết, thần kinh hóa học…, đã chứng thực hiện tượng kinh lạc là khách quan tồn tại. Về thực chất của kinh lạc, đã nêu ra các học thuyết như: Thuyết thần kinh – thể dịch, thuyết trở kháng thấp, thuyết liên quan vỏ não – tạng phủ, lý luận hệ thống cân bằng thứ ba, thuyết dẫn sóng và thuyết trạng thái tinh thể lỏng… Những học thuyết này vẫn cần được tiếp tục kiểm chứng, khảo cứu sâu hơn.
Trong nghiên cứu học thuyết tạng tượng của Trung y học, thông qua quan sát lâm sàng, đặc biệt là thực nghiệm trên động vật, trong việc tìm hiểu thực chất của tạng phủ Trung y đã đạt được một số tiến triển, trong đó nghiên cứu về tỳ, thận là nhiều hơn cả. Tư liệu nghiên cứu cho thấy: Khi dương của thận hư, ba trục hạ đồi – tuyến yên – vỏ thượng thận, hạ đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục, hạ đồi – tuyến yên – tuyến giáp đều xuất hiện rối loạn và suy giảm chức năng, mắt xích phát bệnh chủ yếu của chứng thận dương hư là rối loạn chức năng điều tiết của hạ đồi. Tỳ hư thì liên quan đến sự suy giảm chức năng của toàn bộ hệ tiêu hóa gồm dạ dày, ruột, tụy, rối loạn chức năng miễn dịch, rối loạn hệ thần kinh thực vật, bất thường về cấu trúc và chức năng của màng sinh học. Các nghiên cứu khác về can, tâm, phế cũng đạt được những thành tựu khiến thế giới phải chú ý.
Nhằm thúc đẩy sự phát triển nghiên cứu lý luận Trung y học, Chính phủ Trung Quốc đã đưa các nội dung như: Học thuyết tạng tượng, bệnh nguyên học, biện chứng học, chẩn pháp và trị tắc trị pháp, dưỡng sinh học, mô hình hóa động vật, nghiên cứu kinh lạc, nghiên cứu cơ chế châm tê, cũng như nghiên cứu văn hiến… vào quy hoạch nghiên cứu khoa học Trung y toàn quốc trong các giai đoạn “Chín Năm Năm”, “Mười Năm Năm”.
Nghiên cứu lý luận Trung y học đã trở thành một đề tài nghiên cứu mang tính toàn cầu, các học giả ở nhiều nước đều có những đóng góp nhất định. Thành tựu nghiên cứu lý luận Trung y học đương đại là hết sức to lớn; Cùng với việc nghiên cứu ngày càng đi sâu, nghiên cứu lý luận Trung y học nhất định sẽ đạt những đột phá trọng đại, góp phần vào sự phát triển của khoa học sự sống.
Tiết 2 Cấu thành của hệ thống lý luận Trung y học
(1) Nội dung cơ bản của hệ thống lý luận Trung y học
Khí nhất nguyên luận: “Khí” là một phạm trù rất quan trọng trong lịch sử triết học Trung Quốc, chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tư tưởng học thuật của Trung y học, là nền tảng của triết học và lý luận y học Trung y. Khí là thực thể vật chất, là yếu tố cơ bản cấu thành vũ trụ trời đất và vạn vật trong trời đất, đồng thời có thuộc tính vận động. Vận động của khí là sự tác động lẫn nhau bên trong của khí, là nguồn gốc của sự phát triển, biến hóa của sự vật. Khí và hình cùng với sự chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng là hình thức cơ bản của sự tồn tại và vận động của thế giới vật chất.
Học thuyết Âm Dương: Học thuyết Âm Dương được xây dựng trên cơ sở “Khí” và kết hợp chặt chẽ với Khí nhất nguyên luận, là lý luận đối lập thống nhất mang tính mộc mạc của cổ đại Trung Quốc. Âm, Dương là những phạm trù dùng để chỉ đặc trưng trạng thái của sự vật; Một mặt, chúng đại diện cho hai thuộc tính đặc thù đối lập, mặt khác, đại diện cho hai xu thế hoặc trạng thái vận động đối lập đặc thù. Âm Dương là quy luật tổng quát của vũ trụ. Tuy nhiên, phạm trù Âm Dương không chỉ có thuộc tính đối lập thống nhất, mà còn có những quy định chất đặc biệt khác, không hoàn toàn tương đồng với phạm trù mâu thuẫn trong phép biện chứng hiện đại.
Học thuyết Ngũ Hành: Học thuyết Ngũ Hành là một lý luận hệ thống phổ thông mang tính mộc mạc của cổ đại Trung Quốc. Trung y học vận dụng học thuyết Ngũ Hành, từ quan điểm chỉnh thể mang tính hệ thống để quan sát sự vật, cho rằng bên trong bất kỳ một loại sự vật nào cũng đều bao hàm những thành phần hoặc nhân tố mang năm thuộc tính công năng Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, đồng thời năm phương diện Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy này lại theo một quy luật nhất định mà tương quan với nhau, hình thành nên cấu trúc chức năng tổng thể của sự vật đó. Hệ thống cấu trúc Ngũ Hành, thông qua quan hệ sinh, thắng, thừa, vũ tương tự cơ chế phản hồi, giữ cho hệ thống được ổn định và cân bằng động, từ đó luận chứng mối liên hệ hữu cơ giữa bộ phận với bộ phận, giữa bộ phận với chỉnh thể trong cơ thể, cũng như sự thống nhất giữa con người và hoàn cảnh, tức là quan niệm chỉnh thể coi cơ thể người là một chỉnh thể thống nhất. Quan niệm hệ thống mang tính mộc mạc của học thuyết Ngũ Hành là hình thái nguyên thủy của lý luận hệ thống hiện đại, ở các nguyên tắc tổng quát thì tương hợp với lý luận hệ thống hiện đại. Nhưng học thuyết Ngũ Hành chỉ là một lý luận hệ thống mang tính mộc mạc, không thể như lý luận hệ thống hiện đại mà giải minh một cách khoa học hơn tất cả những quan hệ và quy luật phổ biến của cấu trúc hệ thống.
Học thuyết tạng tượng: Học thuyết tạng tượng là học thuyết nghiên cứu quy luật hoạt động của tạng phủ con người và mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng. Học thuyết này cho rằng cơ thể người lấy ngũ tạng tâm, can, tỳ, phế, thận làm trung tâm, phối hợp với lục phủ đởm, vị, tiểu trường, đại trường, bàng quang, tam tiêu, lấy khí, huyết, tinh, tân dịch làm cơ sở vật chất, thông qua hệ thống kinh lạc mà bên trong liên hệ với tạng phủ, bên ngoài liên hệ với ngũ quan, cửu khiếu, tứ chi, bách hài, cấu thành một chỉnh thể hữu cơ, đồng thời thống nhất với môi trường bên ngoài. Học thuyết này là kết quả được hình thành và phát triển dần dần dưới sự chỉ đạo của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, thông qua quá trình quan sát, nghiên cứu lâu dài về hoạt động sinh mệnh của con người và thực tiễn phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân lao động và các y gia dân tộc Trung Hoa. Học thuyết tạng tượng có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng đối với việc chẩn trị, phòng bệnh, dưỡng sinh và phục hồi trong Trung y. Khái niệm tạng phủ của Trung y tuy có bao hàm yếu tố giải phẫu, nhưng chủ yếu là một hệ thống ký hiệu dùng để chỉ các mối liên hệ chức năng chỉnh thể khác nhau, là một mô hình chức năng chỉnh thể của cơ thể người, chủ yếu luận thuật về chức năng sinh lý và hiện tượng bệnh lý của chúng, do đó không thể hoàn toàn đồng nhất với các tạng khí mang cùng tên trong giải phẫu học hiện đại.
Học thuyết khí huyết tinh tân dịch: Khí, huyết, tinh, tân dịch vừa là cơ sở vật chất cho hoạt động chức năng của tạng phủ, lại vừa là sản phẩm của hoạt động chức năng tạng phủ. Học thuyết khí huyết tinh tân dịch chủ yếu khảo sát thành phần vật chất của sinh mệnh và cơ sở vật chất của hoạt động sinh mệnh. Nói một cách khái quát, học thuyết khí huyết tinh tân dịch nên được bao hàm trong học thuyết tạng tượng.
Học thuyết thể chất: Học thuyết thể chất là học thuyết nghiên cứu đặc trưng thể chất, các loại hình và quy luật biến hóa của thể chất con người, cũng như mối quan hệ giữa thể chất với sự phát sinh, phát triển của bệnh tật. Thể chất là đặc trưng vốn có tương đối ổn định về phương diện hình thái và chức năng của cơ thể người, được biểu hiện trên cơ sở di truyền và tiếp thu, có mối quan hệ mật thiết với sức khỏe và bệnh tật.
Học thuyết kinh lạc: Học thuyết kinh lạc là lý luận nghiên cứu về cấu thành hệ thống kinh lạc của cơ thể người, đường đi và phân bố của chúng, cũng như chức năng sinh lý, biến hóa bệnh lý và vai trò chỉ đạo điều trị lâm sàng. Kinh lạc là con đường vận hành khí huyết trong cơ thể người, dọc ngang giao kết, tạo thành mạng lưới khắp toàn thân, liên kết trong ngoài cơ thể, tạng phủ, chi tiết thành một chỉnh thể hữu cơ. Học thuyết tạng tượng, học thuyết khí huyết tân dịch, học thuyết thể chất và học thuyết kinh lạc bao hàm, thẩm thấu lẫn nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau, hình thành nên nhận thức độc đáo, sâu sắc của Trung y học về quy luật sinh mệnh.
Học thuyết bệnh cơ: Học thuyết bệnh cơ là học thuyết nghiên cứu cơ chế phát sinh, phát triển và diễn biến của bệnh tật. Nội dung của nó bao gồm ba phần: cơ lý phát bệnh, cơ lý biến hóa bệnh lý và cơ lý diễn biến của quá trình bệnh. Cơ lý phát bệnh là học thuyết nghiên cứu quy luật chung về sự phát sinh bệnh tật ở cơ thể người. Trung y học cho rằng sự phát sinh bệnh tật liên quan đến hai mặt chính khí và tà khí, tức “Chính khí tồn nội, tà bất khả can”, “Tà chi sở tụ, kỳ khí tất hư”. Cơ lý biến hóa bệnh lý, gọi tắt là bệnh cơ, bệnh lý, là học thuyết nghiên cứu quy luật biến hóa bệnh lý của cơ thể, bao gồm những quy luật chung của các biến hóa bệnh lý như thịnh – suy của tà, chính, mất điều hòa âm dương, rối loạn khí, huyết, tinh, tân dịch, cùng những bất thường của tạng phủ, kinh lạc. Cơ lý diễn biến quá trình bệnh là học thuyết nghiên cứu quy luật chung của sự phát sinh, phát triển và kết cục của bệnh tật, bao gồm sự truyền biến vị trí bệnh, sự chuyển hóa bệnh lý, sự chuyển quy và tái phát của bệnh tật.
Biện chứng tức là phân tích, nhận định chứng hậu của bệnh tật, tức căn cứ vào các lý luận cơ sở như tạng phủ, kinh lạc, bệnh nhân, bệnh cơ, lấy chứng trạng, thể chứng mà tứ chẩn thu thập cùng các tư liệu lâm sàng khác làm đối tượng phân tích, tổng hợp, làm rõ nguyên nhân, tính chất, vị trí của bệnh tật, cũng như mối quan hệ giữa tà và chính, từ đó khái quát, phán đoán thuộc về chứng hậu nào, làm căn cứ cho luận trị.
Phòng ngừa: Phòng ngừa là chỉ việc áp dụng những biện pháp nhất định để ngăn ngừa sự phát sinh và phát triển của bệnh tật. Áp dụng các thủ đoạn phòng ngừa hoặc trị liệu tích cực để ngăn chặn sự phát sinh và phát triển của bệnh tật, tức “trị vị bệnh”, là một nguyên tắc cơ bản của trị liệu học Trung y. Trị vị bệnh bao gồm hai phương diện: “Vị bệnh tiên phòng” và “Ký bệnh phòng biến”.
Vị bệnh tiên phòng: Vị bệnh tiên phòng là chỉ trước khi bệnh tật phát sinh thì phải làm tốt mọi công tác phòng ngừa, nhằm ngăn chặn sự phát sinh của bệnh. Muốn phòng bệnh ắt phải trước hết làm mạnh thân thể, muốn mạnh thân thì phải coi trọng dưỡng sinh. Dưỡng sinh còn gọi là nhiếp sinh, là các hoạt động bảo kiện được tiến hành dựa theo quy luật phát triển của sinh mệnh, áp dụng những biện pháp có thể bảo dưỡng thân thể, giảm bớt bệnh tật, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Học thuyết dưỡng sinh Trung y được hình thành và phát triển trên nền tảng văn hóa dân tộc Trung Hoa, mang đặc sắc Trung y, là học thuyết nghiên cứu quy luật sinh mệnh của con người, luận thuật những lý luận và phương pháp nhằm tăng cường thể chất, phòng ngừa bệnh tật để kéo dài tuổi thọ. Học thuyết này coi tinh, khí, thần là “tam bảo” của thân người, xem đó là hạt nhân của dưỡng sinh, nhấn mạnh rằng đạo dưỡng sinh phải “pháp ư âm dương, hòa ư thuật số, hình thần tịnh dưỡng, điều hòa âm dương, cẩn thận sinh hoạt thường nhật, điều hòa tạng phủ, động tĩnh thích nghi, dưỡng khí bảo tinh, điều dưỡng tổng hợp”. Dưỡng sinh là biện pháp phòng ngừa tích cực nhất, có ý nghĩa phổ biến đối với việc tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng sống. Ngoài việc dưỡng sinh phòng bệnh, còn cần chú ý tránh sự xâm nhập của tà khí gây bệnh.
Ký bệnh phòng biến: Ký bệnh phòng biến là chỉ sau khi bệnh tật đã phát sinh thì phải chú trọng ngăn ngừa biến hóa xấu của bệnh. Một khi đã phát bệnh, cần chú ý chẩn đoán sớm và điều trị sớm. Chẩn đoán sớm là để ngăn chặn bệnh tật từ chỗ còn nông nhẹ trở nên nguy trọng, gọi là “Kiến vi tri chú, di hoạn ư mạt manh, thị vị thượng công” (Y Học Tâm Ngộ). Trị liệu sớm có thể cắt đứt con đường truyền biến của tà khí, “tiên an vị thọ tà chi địa”, để phòng sự truyền biến của bệnh tật. Chẩn đoán sớm, điều trị sớm là then chốt của ký bệnh phòng biến, một mặt có thể khống chế sự lan tràn của tà khí, mặt khác lại có thể tránh sự tổn hao quá mức chính khí, khiến cho việc trị liệu và phục hồi sức khỏe được dễ dàng hơn.
Trị tắc: Trị tắc là chỉ các phép tắc hoặc nguyên tắc trị liệu bệnh tật, là quan niệm trị liệu bệnh tật và nguyên tắc xác lập trị pháp, có ý nghĩa chỉ đạo phổ quát đối với việc lập pháp, kê phương trong lâm sàng. “Trị bệnh cầu bản”, “tri thường đạt biến”, “nhân thế lợi đạo”, “dĩ bình vi kỳ” là những quan niệm cơ bản của Trung y trong việc trị liệu bệnh tật. Còn như chính trị, phản trị, trị tiêu trị bản, hiệp lý âm dương, điều hòa khí huyết, điều lý tạng phủ, kiêm cố hình thần, bệnh – chứng tương tham, nhân dị chế nghi… là những nguyên tắc cơ bản của Trung y trong trị liệu bệnh tật. Trị pháp là những biện pháp trị liệu cụ thể được xác định dưới sự chỉ đạo của trị tắc; Trị tắc chỉ đạo trị pháp, còn trị pháp thì thể hiện trị tắc.
Lý, pháp, phương, dược là bốn yếu tố lớn trong chuẩn tắc chẩn đoán và trị liệu của Trung y học. Toàn bộ quá trình vận dụng biện chứng luận trị để đưa lý, pháp, phương, dược vào thực tiễn lâm sàng là nét đặc sắc cơ bản của học thuật Trung y. Cái gọi là “lý” là chỉ sự giải thích chính xác cơ chế biến hóa bệnh lý dựa trên lý luận Trung y học; “Pháp” là chỉ những trị tắc, trị pháp tương ứng được xác lập nhằm vào cơ lý biến hóa bệnh lý; “Phương” là chỉ việc lựa chọn những phương tễ tiêu biểu thích hợp nhất hoặc các biện pháp trị liệu khác dựa trên trị tắc, trị pháp; “Dược” là chỉ sự lựa chọn tối ưu trong phối ngũ quân, thần, tá, sứ và liều lượng của các dược vật trong phương tễ. Biện chứng luận trị lấy biện chứng làm tiền đề, luận trị là trên cơ sở biện chứng mà lập ra biện pháp trị liệu; Biện chứng và luận trị trong quá trình chẩn trị bệnh tật liên hệ lẫn nhau, không thể tách rời, chính là sự vận dụng cụ thể của lý, pháp, phương, dược trong lâm sàng.
Phòng ngừa, điều trị và phục hồi là ba loại lý luận, phương pháp khác nhau nhưng lại không thể tách rời nhau trong cuộc đấu tranh của Trung y học với bệnh tật, có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn y liệu lâm sàng và việc bảo đảm sức khỏe, kéo dài tuổi thọ cho con người.
(II) Kết cấu cơ bản của hệ thống các môn học Trung y học: Xét về phương diện phân loại học thuật, nhóm các môn học trong hệ thống lý luận Trung y học, nếu phân theo cơ bản và ứng dụng thì có thể chia thành hai loại lớn là các môn học cơ sở và các môn học ứng dụng; Nếu phân theo quá trình hành vi y liệu trong việc nhận thức, điều trị và phòng ngừa bệnh tật thì có thể chia thành ba loại lớn là các môn học y học cơ sở, các môn học y học lâm sàng và các môn học y học dưỡng sinh – phục hồi.
(1) Quan niệm chỉnh thể
1/ Khái niệm cơ bản về quan niệm chỉnh thể: Thế giới khách quan, từ giới tự nhiên đến xã hội loài người, bất cứ sự vật nào cũng đều là một chỉnh thể thống nhất được cấu thành bởi các yếu tố khác nhau theo một phương thức nhất định. Chỉnh thể là cái được cấu thành bởi các bộ phận cấu thành của nó thông qua những mối liên hệ nhất định. Nói chung, mối liên hệ bản chất tương đối ổn định giữa các bộ phận cấu thành (yếu tố) được gọi là quan hệ cấu trúc. Một chỉnh thể có quan hệ cấu trúc nhất định được gọi là hệ thống. Tính chỉnh thể chính là tính thống nhất, tính hoàn chỉnh và tính liên hệ. Tính chỉnh thể biểu hiện thành tính thống nhất của mối liên hệ chỉnh thể, tức là tính thống nhất trong mối liên hệ giữa chỉnh thể và bộ phận, giữa bộ phận với bộ phận, giữa hệ thống với môi trường. Nhận thức của nhân loại về tính chỉnh thể đã trải qua một lịch trình lịch sử lâu dài. Quan niệm chỉnh thể mộc mạc của cổ đại Trung Quốc gắn liền với nhận thức về bản nguyên của thế giới. Khí nhất nguyên luận và học thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong triết học cổ đại Trung Quốc xem tự nhiên giới như một chỉnh thể hữu cơ được cấu thành bởi một số yếu tố hỗ trợ lẫn nhau, ở một mức độ nhất định đã vạch rõ tính chỉnh thể và mối quan hệ phân tầng biện chứng của sự vật khách quan. Quan niệm chỉnh thể mộc mạc cổ đại Trung Quốc là hình thái hoặc phương thức tư duy được xây dựng trên nền tảng khí nhất nguyên luận và học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Tư duy chỉnh thể là hình thái tư duy đặc hữu của cổ đại Trung Quốc, nó nhấn mạnh chỉnh thể, hài hòa và điều hòa. Tuy nhiên, quan niệm chỉnh thể cổ đại Trung Quốc mang tính tự phát, trực quan và biện luận, không thể đặt ngang hàng với quan niệm chỉnh thể của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tức quan niệm chỉnh thể mang tính hệ thống, khoa học. Quan niệm chỉnh thể là nhận thức về tính hoàn chỉnh, tính thống nhất và tính liên hệ của sự vật và hiện tượng. Triết học cổ đại Trung Quốc, lấy hệ thống triết học khí nhất nguyên luận làm cơ sở, lấy tam tài Thiên – Địa – Nhân làm điểm xuất phát lập luận, nhấn mạnh “thiên nhân hợp nhất”, “vạn vật nhất thể”, con người – tự nhiên – xã hội là một chỉnh thể hữu cơ, toàn bộ thế giới ở trong trạng thái hài hòa, điều hòa cao độ, tức cái gọi là “quan niệm thiên nhân hợp nhất”. Trung y học dùng học thuyết Âm Dương Ngũ Hành để làm sáng tỏ tính chỉnh thể điều hòa giữa các tổ chức tạng phủ trong cơ thể, cũng như mối quan hệ thống nhất giữa cơ thể và hoàn cảnh bên ngoài, từ đó hình thành nên quan niệm chỉnh thể đặc sắc của Trung y học. Quan niệm chỉnh thể của Trung y học là nhận thức về tính thống nhất, tính hoàn chỉnh và tính liên hệ giữa bản thân cơ thể người với hoàn cảnh bên ngoài, là sự thể hiện của chủ nghĩa duy vật cổ đại và tư tưởng biện chứng tự phát trong Trung y học, là một trong những đặc điểm cơ bản của Trung y học, xuyên suốt toàn bộ hệ thống lý luận Trung y về sinh lý, bệnh lý, chẩn pháp, biện chứng, trị liệu, có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng.
2/ Nội dung của quan niệm chỉnh thể: Trung y học coi các tạng phủ nội tạng và các bộ phận tổ chức, cơ quan ở bề mặt cơ thể là một chỉnh thể hữu cơ, đồng thời cho rằng các nhân tố như khí hậu bốn mùa, thổ nhưỡng, đặc điểm địa phương, môi trường xung quanh… đều có mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với sinh lý, bệnh lý cơ thể người, vừa nhấn mạnh tính thống nhất bên trong của cơ thể, vừa coi trọng tính thống nhất giữa cơ thể và môi trường bên ngoài, đó chính là nội dung chủ yếu của quan niệm chỉnh thể trong Trung y học.
(1) Con người là một chỉnh thể hữu cơ: Thứ nhất, xét về cấu trúc hình thể, cơ thể người được cấu thành bởi nhiều tạng phủ, khí quan. Các tạng phủ, khí quan này về mặt cấu trúc là không thể tách rời, có liên hệ lẫn nhau. Mỗi tạng phủ đều là một bộ phận cấu thành của chỉnh thể hữu cơ là cơ thể người, đều không thể tách rời chỉnh thể mà tồn tại độc lập, đều thuộc về bộ phận của chỉnh thể. Thứ hai, xét về vật chất sinh mệnh, khí, huyết, tinh, tân, dịch là những vật chất cơ bản cấu thành cơ thể người và duy trì hoạt động sinh mệnh của cơ thể người. Xét riêng thì là khí, là huyết, là tinh, là tân, là dịch, nhưng thực chất đều do một khí hóa sinh. Trong quá trình khí hóa, chúng cùng nhau chuyển hóa, phân bố, vận hành khắp các tạng phủ, khí quan toàn thân, tính đồng nhất về vật chất này đảm bảo cho tính thống nhất trong hoạt động chức năng của các tạng phủ, khí quan. Thứ ba, xét về hoạt động chức năng, tính thống nhất của cấu trúc hình thể và vật chất sinh mệnh quyết định tính thống nhất của hoạt động chức năng, khiến cho các hoạt động chức năng khác nhau hỗ căn, hỗ dụng, điều hòa hài hòa, liên hệ mật thiết. Cái gọi là “Hòa thực sinh vật, đồng tắc bất kế” chính là ý này. Mỗi tạng khí, tổ chức hoặc khí quan của cơ thể người đều có chức năng sinh lý khác nhau, những chức năng sinh lý khác nhau này lại đều là bộ phận cấu thành hoạt động chức năng chỉnh thể, từ đó quyết định tính thống nhất chỉnh thể của cơ thể. Giữa các bộ phận cấu thành của cơ thể người, về mặt cấu trúc là không thể tách rời, về mặt sinh lý là liên hệ, chế ước lẫn nhau, về mặt bệnh lý là ảnh hưởng lẫn nhau. Sự hình thành tính thống nhất chỉnh thể của cơ thể là được thực hiện thông qua tác dụng “trong liên tạng phủ, ngoài nối chi tiết” của hệ thống kinh lạc, lấy ngũ tạng làm trung tâm, phối hợp với lục phủ. Ngũ tạng là năm hệ thống cấu thành nên toàn bộ cơ thể người, tất cả các tổ chức, khí quan đều bao hàm trong năm hệ thống này. Lấy ngũ tạng làm trung tâm, thông qua hệ thống kinh lạc, liên hệ một cách hữu cơ toàn bộ các tổ chức, khí quan trên toàn thân như lục phủ, ngũ thể, ngũ quan, cửu khiếu, tứ chi, bách hài, hình thành nên một chỉnh thể thống nhất có quan hệ biểu – lý, trên – dưới tương thông, liên hệ mật thiết, điều hòa cùng giúp đỡ, trật tự rõ ràng, và thông qua tác dụng của tinh, khí, thần để hoàn thành hoạt động chức năng thống nhất của cơ thể. Quan niệm “ngũ tạng nhất thể” này đã phản ánh đầy đủ rằng các tổ chức, khí quan bên trong cơ thể người không phải là những bộ phận cô lập, mà là một chỉnh thể hữu cơ, liên hệ lẫn nhau, thống nhất với nhau.
(2) Tính thống nhất giữa con người và môi trường bên ngoài: Quan niệm chỉnh thể của Trung y học nhấn mạnh sự hài hòa, điều hòa và thống nhất giữa môi trường bên trong và bên ngoài cơ thể người, cho rằng cơ thể người là một chỉnh thể hữu cơ, vừa nhấn mạnh tính thống nhất của môi trường bên trong cơ thể, lại vừa coi trọng tính thống nhất giữa con người và môi trường bên ngoài. Cái gọi là môi trường bên ngoài là chỉ môi trường tự nhiên và xã hội mà loài người nương nhờ để tồn tại. Lý luận hệ thống hiện đại cho rằng: Hệ thống sinh mệnh bao gồm 8 tầng thứ là tế bào, khí quan, sinh vật thể, quần thể, tổ chức, cộng đồng, xã hội và hệ thống siêu quốc gia. Trong môi trường, dựa vào dòng vật chất, dòng năng lượng và dòng thông tin không ngừng biến hóa mà điều tiết vô số biến số để duy trì sự sinh tồn. Quan hệ Thiên – Nhân là vấn đề cơ bản của triết học cổ đại Trung Quốc. Trong triết học cổ đại Trung Quốc, ý nghĩa của “Thiên” đại thể có ba: Một là chỉ “Tự nhiên chi thiên”, hai là chỉ “Chủ tể chi thiên”, ba là chỉ “Nghĩa lý chi thiên”; Ý nghĩa của “Nhân” đại thể có hai: Một là chỉ chủ thể nhận thức hoặc chủ thể thực tiễn trong hiện thực, hai là chỉ nhân cách lý tưởng về mặt giá trị. Quan hệ Thiên – Nhân về thực chất bao hàm mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội. Khí nhất nguyên luận trong triết học cổ đại Trung Quốc cho rằng: Thiên – Nhân nhất khí, toàn bộ vũ trụ đều thống nhất trong “Khí”. Thiên và Nhân có tính thống nhất về vật chất, có quy luật chung. Trung y học, dựa trên quan niệm “Thiên – Nhân nhất khí”, “Thiên – Nhân hợp nhất” của chủ nghĩa duy vật mộc mạc, dùng tư liệu của các khoa học tự nhiên như y học, thiên văn học, khí tượng học… để luận chứng và làm phong phú thêm học thuyết Thiên – Nhân hợp nhất, nêu ra quan niệm Thiên – Nhân nhất thể “Nhân dữ Thiên Địa tương tham”, nhấn mạnh “Người giỏi nói về trời ắt phải nghiệm được ở người”, đặt nhu cầu của con người và việc nghiên cứu con người vào vị trí trung tâm trong lý luận quan hệ Thiên – Nhân.
(3) Tính thống nhất giữa con người và môi trường tự nhiên: Con người và tự nhiên có bản nguyên và thuộc tính thống nhất, con người sinh ra từ tự nhiên, quy luật hoạt động sinh mệnh của con người tất yếu chịu sự quy định và ảnh hưởng của giới tự nhiên. Tính thống nhất về vật chất giữa con người và tự nhiên quyết định sự thống nhất giữa quy luật vận động của sinh mệnh và quy luật vận động của tự nhiên. Nhân loại sống trong giới tự nhiên, trong giới tự nhiên tồn tại những điều kiện tất yếu cho sự sinh tồn của loài người. Sự vận động, biến hóa của giới tự nhiên lại có thể trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến cơ thể người, cơ thể từ đó mà phát sinh những biến hóa về sinh lý và bệnh lý tương ứng. Quan niệm “Thiên – Nhân nhất thể” này cho rằng trên trời có tam âm tam dương lục khí và sự biến hóa của Ngũ Hành, trong cơ thể người cũng có tam âm tam dương lục kinh lục khí và vận động khí của ngũ tạng. Sự vận động biến hóa của Âm Dương Ngũ Hành trong giới tự nhiên và sự vận động khí của ngũ tạng lục phủ trong cơ thể người là tương hỗ thu – thụ, thông – ứng với nhau. Do đó, cơ thể người với giới tự nhiên thông khí tương tức, mật thiết liên hệ. Con người không chỉ có thể chủ động thích ứng với tự nhiên, mà còn có thể chủ động cải tạo tự nhiên, từ đó giữ gìn sức khỏe, sinh tồn. Đây chính là tính thống nhất giữa môi trường bên trong cơ thể và môi trường tự nhiên. Cụ thể biểu hiện ở các phương diện sau: Con người nương nhờ khí của trời đất mà sinh tồn: Trung y học cho rằng bản nguyên của thế giới là “Khí”, là kết quả của sự tác động lẫn nhau giữa âm dương nhị khí. Trời đất là căn cứ phát sinh sinh mệnh, vận động đối lập thống nhất của âm dương nhị khí trời đất đã cung cấp môi trường thích hợp nhất cho sự sản sinh của sinh mệnh. Vì vậy nói: “Người sinh ở đất, treo mệnh ở trời, trời đất hợp khí, gọi đó là người”, “Trời phủ, đất chở, vạn vật đều đủ, không gì quý bằng người”. Sinh mệnh là sản phẩm tất yếu khi tự nhiên phát triển đến một giai đoạn nhất định. Con người cũng như trời đất vạn vật, đều là sản phẩm do hình khí âm dương của trời đất cảm ứng mà thành, là kết quả của sự biến hóa có quy luật của giới tự nhiên vật chất. Con người sinh ra trong giới tự nhiên, giới tự nhiên cung cấp điều kiện tất yếu cho sự sinh tồn của con người, nên nói: “Trời nuôi người bằng Ngũ Khí, đất nuôi người bằng Ngũ Vị”. Trao đổi chất là đặc trưng cơ bản của sinh mệnh. Sinh mệnh vừa là hệ thống tự động, lại vừa là hệ thống mở, nó tất phải không ngừng tiến hành trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin với môi trường bên ngoài. Con người là một đại hệ thống phức tạp. Khí là vật chất cơ bản cấu thành cơ thể người, đồng thời cũng là cơ sở vật chất duy trì hoạt động sinh mệnh. Nó thường xuyên ở trong quá trình tân sinh – thay cũ không ngừng tự làm mới mình và tự sao chép, từ đó hình thành nên vận động khí hóa của sự chuyển hóa hình – khí “Khí hóa vi hình, hình hóa vi khí”. Không có vận động khí hóa thì không có hoạt động sinh mệnh. Thăng giáng xuất nhập là hình thức cơ bản của vận động khí hóa, vì vậy nói “Không có xuất nhập thì không thể có sinh, trưởng, tráng, lão, dĩ, không có thăng giáng thì không thể có sinh, trưởng, hóa, tàng”, “Xuất nhập bỏ thì thần cơ hóa diệt, thăng giáng ngừng thì khí lập tức cô nguy”. Tóm lại, nhân loại là sản phẩm của giới tự nhiên, lại sinh tồn trong giới tự nhiên. Ảnh hưởng của giới tự nhiên đối với cơ thể người: Con người và tự nhiên thống nhất, con người và tự nhiên có quy luật chung, đều chịu sự chi phối của quy luật vận động Âm Dương Ngũ Hành, đồng thời ở nhiều quy luật vận động cụ thể còn có mối quan hệ thông – ứng lẫn nhau. Hoạt động sinh lý của con người thay đổi tương ứng theo vận động của giới tự nhiên và sự biến hóa của điều kiện tự nhiên. “Hằng số của con người” chính là “Hằng số của trời”, “Đại kỷ của trời đất, là sự thông – ứng của nhân thần”. Nếu như trái với quy luật tự nhiên thì sẽ dẫn đến hậu quả không tốt, cái gọi là “Cơ vi của số cực… đường đi của nó có thể truy xét, kính trọng nó thì hưng, khinh suất nó thì vong”.
000 Trong giới tự nhiên, khí hậu bốn mùa, thổ nhưỡng, đặc tính địa phương… đều có ảnh hưởng sâu sắc đối với hoạt động sinh mệnh và bệnh tật của con người. Như: 1. Khí hậu theo mùa và cơ thể người: “Người có thể ứng với bốn mùa thì trời đất là cha mẹ của họ” (Tố Vấn · Bảo Mệnh Toàn Hình Luận). Trong một năm, khí hậu bốn mùa biểu hiện quy luật biến hóa: xuân ấm, hạ nóng, thu ráo, đông lạnh, vì vậy cơ thể người cũng xảy ra những biến hóa thích ứng tương ứng, như “Xuân hạ hồng, thu mao, đông thạch, bốn mùa hoãn hòa, gọi là bình mạch” (Tứ Ngôn Cử Yếu). Khi thời tiết nóng bức thì khí huyết vận hành nhanh hơn, lỗ chân lông (thấu lý) mở, mồ hôi tiết nhiều; Khi thời tiết lạnh thì khí huyết vận hành chậm lại, thấu lý khép kín chắc, mồ hôi không ra. Điều này đủ cho thấy sự biến hóa khí hậu bốn mùa có ảnh hưởng đến chức năng sinh lý cơ thể người. Năng lực thích ứng với môi trường tự nhiên của con người là có giới hạn nhất định. Nếu khí hậu biến đổi đột ngột vượt quá giới hạn điều tiết của cơ thể, hoặc chức năng điều tiết của cơ thể bị rối loạn, không thể tiến hành điều chỉnh thích ứng trước sự biến hóa của tự nhiên, thì cơ thể sẽ phát sinh bệnh tật. Một số bệnh thường phát theo mùa hoặc bệnh dịch “thời hợp” có khuynh hướng mùa rất rõ rệt, như “Xuân dễ mắc bệnh tỵ, nục, giữa hạ dễ mắc bệnh vùng hung hiếp, Trường hạ dễ mắc bệnh tiết tả, hàn trung, thu dễ mắc bệnh phong ngược, đông dễ mắc bệnh tý, quyết” (Tố Vấn · Kim Quỹ Chân Ngôn Luận). Ngoài ra, một số bệnh mạn tính lâu ngày, như chứng tý, hen suyễn… thường phát tác hoặc nặng lên khi khí hậu biến đổi đột ngột hoặc khi giao thời giữa các mùa. 2. Ngày – đêm, sáng – tối và cơ thể người: Trời đất có quy luật tuần hoàn mang tính tiết luật của Ngũ Vận Lục Khí, không chỉ có “tiết luật năm”, “tiết luật tháng” mà còn có cả “tiết luật ngày”. Vận động âm dương khí huyết trong cơ thể người không chỉ biến hóa theo sự biến đổi của khí hậu bốn mùa, mà còn có biến hóa mang tính tiết luật theo sự thay đổi ngày – đêm. Chẳng hạn dương khí trong cơ thể người sẽ xuất hiện dao động có quy luật theo nhịp điệu: buổi sáng dương khí bắt đầu sinh, buổi trưa cực thịnh, buổi chiều bắt đầu suy, nửa đêm thì suy giảm. Vì vậy nói: “Dương khí trong một ngày chủ về bên ngoài, lúc rạng sáng nhân khí sinh, giữa trưa thì dương khí隆, mặt trời về tây thì dương khí đã hư, cửa khí bèn đóng” (Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận). Về mặt bệnh lý, nói chung phần nhiều ban ngày bệnh tình nhẹ, chiều tối nặng hơn, ban đêm nặng nhất, biểu hiện sự lên xuống tuần hoàn có chu kỳ. Cho nên nói: “Các bệnh phần nhiều là sáng sớm hơi tỉnh táo, ban ngày yên, chiều tăng, đêm nặng” (Linh Khu · Thuận Khí Nhất Nhật Vi Tứ Thời). 3. Khu vực địa lý và cơ thể người: Môi trường địa lý là yếu tố quan trọng trong môi trường tự nhiên. Môi trường địa lý bao gồm địa chất, thổ nhưỡng, khí hậu vùng miền và địa lý nhân văn, phong tục tập quán… Sự khác nhau của môi trường địa lý, ở mức độ nhất định, ảnh hưởng đến chức năng sinh lý và hoạt động tâm lý của con người. Trung y học hết sức coi trọng ảnh hưởng của khu vực, phương vực đối với cơ thể người. Sự sinh trưởng có Nam Bắc, địa thế có cao thấp, thể chất có âm dương, sự nuôi dưỡng có khác biệt giữa cao lương, thịt béo với rau dại, hạt kê, lại thêm thời tiết có lạnh nóng khác nhau, cho nên “khí của mỗi châu, sự sinh hóa, thọ yểu cũng không giống nhau” (Tố Vấn · Ngũ Thường Chính Đại Luận), mức độ cảm thụ bệnh tật cũng có sâu – cạn khác nhau. Nói chung, đất đai vùng Đông Nam thấp, yếu, khí hậu phần nhiều ẩm, nóng, thấu lý cơ thể người thường lỏng lẻo, thể tạng phần nhiều gầy; Vùng Tây Bắc ở cao nguyên, khí hậu phần nhiều khô, lạnh, thấu lý cơ thể thường dày, chắc, thể tạng phần nhiều cường tráng. Con người lâu ngày sinh sống trong một môi trường địa lý nhất định, dần dần hình thành những biến hóa thích ứng về mặt chức năng. Một khi đổi chỗ ở, môi trường đột ngột thay đổi, chức năng sinh lý cá thể khó có thể lập tức phát sinh biến hóa thích ứng tương ứng, nên lúc đầu sẽ cảm thấy chưa quen, thậm chí có người vì thế mà phát bệnh. Cái gọi là “không hợp nước đất” (thủy thổ bất phục) chính là chỉ tình huống này. Tóm lại, môi trường địa lý khác nhau hình thành nên những đặc điểm khác nhau về mặt sinh lý, thể chất, do đó tình hình phát bệnh ở các vùng khác nhau cũng không giống nhau. 4. Tính thống nhất giữa con người và xã hội: Bản chất con người, trong hiện thực là tổng hòa của mọi quan hệ xã hội. Con người vừa có thuộc tính tự nhiên, vừa có thuộc tính xã hội. Xã hội là một bộ phận cấu thành của hệ thống sinh mệnh. Quá trình trưởng thành của con người từ khi còn là trẻ sơ sinh đến khi trở thành người lớn chính là quá trình từ “con người sinh học” biến thành “con người xã hội”. Con người sống trong môi trường xã hội, sự biến đổi của sinh thái xã hội có quan hệ mật thiết với sức khỏe thân – tâm và sự phát sinh bệnh tật. Vai trò, địa vị xã hội khác nhau, cùng với sự biến động của môi trường xã hội không những ảnh hưởng đến chức năng tâm – thân của con người, mà ngay cả cấu trúc phổ bệnh cũng không giống nhau. “Nói chung, người giàu sang phần nhiều lao tâm, kẻ bần tiện phần nhiều lao lực; Người giàu sang ăn toàn cao lương mỹ vị, kẻ bần tiện lấy rau dại, hạt kê làm no; Người giàu sang ở nhà to phòng rộng, kẻ bần tiện trú chốn ngõ hẻm lụp xụp; Lao tâm thì bên trong hư, gân mềm, xương giòn, lao lực thì bên trong thực, xương cứng, gân mạnh; Kẻ tự nuôi mình bằng cao lương thì tạng phủ thường yếu ớt, kẻ lấy rau dại, hạt kê làm no thì tạng phủ thường vững; Người ở nhà to phòng rộng thì huyền phủ (lỗ chân lông) thưa, lục dâm dễ xâm nhập, người ở ngõ hẻm lụp xụp thì thấu lý dày, tà khí bên ngoài khó xâm phạm. Vì vậy, bệnh của người giàu sang, thích hợp bổ chính; Bệnh của kẻ bần tiện, dễ dàng công tà” (Y Tông Tất Độc – Phú Quý Bần Tiện Trị Bệnh Hữu Biệt Luận). Thời thế thái bình thì người sống thọ nhiều, sau đại tai ắt lại có đại dịch, đó là tư tưởng y học xã hội mộc mạc. Cùng với sự phát triển của khoa học, tiến bộ của xã hội, sự biến đổi của môi trường xã hội đối với chức năng thân – tâm của con người cũng đang thay đổi. Sự phát sinh của các hiện tượng như “hội chứng quá tải công nghệ”, “trầm cảm”, “hội chứng mệt mỏi mạn tính” trong xã hội hiện đại có quan hệ mật thiết với các nhân tố xã hội. Tóm lại, Trung y học từ quan niệm chỉnh thể “Thiên – Nhân hợp nhất” xuất phát, nhấn mạnh rằng nghiên cứu y học phải “trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết nhân sự”, chữa bệnh không được trái nhân tình, “kẻ không biết trời, đất, người thì không thể làm thầy thuốc” (Y Học Nguyên Lưu Luận). 5. Khả năng thích ứng của con người đối với môi trường: Quan niệm Thiên – Nhân hợp nhất của Trung y học nhấn mạnh sự hài hòa thống nhất giữa con người và tự nhiên, con người và tự nhiên có quy luật chung, sự sinh, trưởng, tráng, lão, dĩ của con người chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên, sinh lý, bệnh lý của con người cũng theo sự biến hóa của tự nhiên mà phát sinh biến hóa tương ứng. Con người nên thông qua các biện pháp như dưỡng sinh để chủ động, tích cực thích ứng với tự nhiên. Ngoài ra, còn cần tăng cường tu dưỡng nhân cách, bồi dưỡng đạo “trung hòa”, xây dựng nhân cách lý tưởng, thống nhất với môi trường xã hội. Tuy nhiên, năng lực thích ứng của con người là có hạn, một khi môi trường bên ngoài biến đổi quá dữ dội, hoặc năng lực điều tiết, thích ứng của cá thể yếu, không thể đưa ra điều chỉnh tương ứng trước sự biến đổi của xã hội hoặc môi trường tự nhiên, thì con người sẽ rơi vào trạng thái không khỏe mạnh, thậm chí phát sinh biến hóa bệnh lý mà mắc bệnh. 3. Ý nghĩa của quan niệm chỉnh thể: Quan niệm chỉnh thể của Trung y học đối với việc quan sát và khám phá cơ thể người, cũng như mối quan hệ giữa cơ thể người với môi trường bên ngoài và việc chẩn trị lâm sàng bệnh tật, đều có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng. (1) Quan niệm chỉnh thể và sinh lý: Dưới sự chỉ đạo của quan niệm chỉnh thể, Trung y học cho rằng hoạt động sinh mệnh bình thường của cơ thể người, một mặt phải dựa vào việc mỗi tạng phủ phát huy chức năng riêng của mình, mặt khác phải dựa vào tác dụng phối hợp, tương hỗ lẫn nhau giữa các tạng phủ mới có thể duy trì. Chức năng phối hợp riêng của mỗi tạng phủ lại là sự phân công, hợp tác dưới hoạt động chỉnh thể, đó chính là sự thống nhất giữa bộ phận và chỉnh thể. Tác dụng chỉnh thể này chỉ có thể không ngừng, đầy sức sống dưới sự thống nhất chỉ huy của tâm, “Chủ (tâm) sáng suốt thì bên dưới yên ổn… Chủ không sáng suốt thì mười hai quan nguy”, “Phàm mười hai quan này không được rời bỏ nhau” (Tố Vấn · Linh Lan Bí Điển Luận). Hệ thống kinh lạc đảm nhiệm tác dụng liên lạc, nối kết, nó liên hệ ngũ tạng, lục phủ, chi thể, quan khiếu… thành một chỉnh thể hữu cơ. Học thuyết tinh, khí, thần phản ánh tính chỉnh thể giữa chức năng và hình thể. Trung y học còn thông qua “Âm bình dương mật” và lý luận “Khăng tắc hại, thừa nãi chế, chế tắc sinh hóa” để giải thích việc âm dương trong cơ thể duy trì thế cân bằng động tương đối. Sự tương chế giữa Ngũ Hành là điều kiện cơ bản cho hoạt động sinh lý bình thường, học thuyết sinh – khắc – chế – hóa của Ngũ Hành thì vạch rõ mối quan hệ chỉnh thể tương phản – tương thành, chế ước – hỗ dụng giữa các tạng phủ. Quan niệm cân bằng động, quan niệm hằng động, quan niệm chế ước này có rất nhiều điểm tương thông với lý luận hệ thống hiện đại, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của sinh lý học. (2) Quan niệm chỉnh thể và bệnh lý: Trung y học không chỉ từ chỉnh thể để tìm hiểu quy luật hoạt động sinh mệnh, mà khi phân tích cơ chế bệnh lý của bệnh tật cũng trước hết chú ý từ chỉnh thể, chú ý từ phản ứng bệnh lý do tổn thương cục bộ gây ra, thống nhất biến hóa bệnh lý cục bộ với phản ứng bệnh lý của chỉnh thể. Vừa coi trọng tổn thương cục bộ và tạng phủ có liên quan trực tiếp, lại càng nhấn mạnh mối quan hệ giữa tổn thương và các tạng phủ khác, và dựa theo lý luận sinh – khắc – chế – hóa để vạch rõ quy luật truyền biến bệnh tật giữa các tạng phủ. Dùng học thuyết Âm Dương để phân tích tổng hợp và khái quát phản ứng bệnh lý biểu hiện từ sự mất điều hòa chức năng chỉnh thể. Dương thắng thì âm bệnh, âm thắng thì dương bệnh; Dương thắng thì nhiệt, âm thắng thì hàn; Dương hư thì hàn, âm hư thì nhiệt. Mất điều hòa âm dương là sự khái quát ở trình độ cao của Trung y học đối với bệnh lý. Trong bệnh nguyên học và phát bệnh học, Trung y học hết sức nhấn mạnh tác dụng quyết định của chính khí cơ thể đối với sự phát sinh hay không phát sinh bệnh tật. “Chính khí tồn nội, tà bất khả can” (Tố Vấn · Thích Pháp Luận), “Nơi tà khí tụ họp, khí tất hư” (Tố Vấn · Bình Nhiệt Bệnh Luận), “Hai cái hư gặp nhau, thì (tà) mới có thể xâm nhập hình thể” (Linh Khu · Bách Bệnh Thủy Sinh). Quan niệm chỉnh thể trong bệnh nguyên học, phát bệnh học như vậy có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn y liệu. (3) Quan niệm chỉnh thể và chẩn đoán: Trong chẩn đoán học, Trung y học nhấn mạnh rằng chẩn đoán bệnh tật tất phải kết hợp các nhân tố nội ngoại gây bệnh để khảo sát một cách toàn diện. Đối với mọi triệu chứng mà bất kỳ bệnh nào sinh ra cũng đều không thể nhìn nhận một cách cô lập, mà phải liên hệ với khí hậu bốn mùa, nước đất vùng miền, thói quen sinh hoạt, tính tình yêu ghét, thể chất, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp… vận dụng tứ chẩn để hiểu tình hình bệnh tình một cách toàn diện, phân tích, nghiên cứu, khái quát trạng thái tác động lẫn nhau giữa bệnh nhân, bệnh vị, tính chất bệnh và các nhân tố gây bệnh với cơ thể, rồi sau đó mới có thể đưa ra chẩn đoán chính xác. Vì vậy nói: “Thánh nhân trị bệnh tất phải biết âm dương trời đất, phép tắc bốn mùa, ngũ tạng lục phủ, âm dương biểu lý, châm cứu, châm thạch, các loại độc dược chủ trị, thong dong xử lý việc đời, để sáng tỏ kinh đạo, biết rõ quý tiện, giàu nghèo, mỗi loại khác nhau, hỏi han tuổi tác lớn nhỏ, gan dạ hay nhút nhát, xét kỹ bộ vị, biết rõ gốc ngọn của bệnh, thì chẩn đoán tất sẽ phù hợp với tám chính, chín hậu” (Tố Vấn · Sơ Ngũ Quá Luận). Bộ phận và chỉnh thể của cơ thể người là thống nhất biện chứng, bất kỳ một bộ phận tương đối độc lập nào của cơ thể cũng đều chứa đựng thông tin sinh mệnh của toàn thân. Do đó, biến hóa bệnh lý của một bộ phận nào đó trong cơ thể thường ẩn chứa thông tin chỉnh thể về sự thịnh – suy của khí huyết âm dương tạng phủ toàn thân. Chẳng hạn lưỡi thông qua kinh lạc mà trực tiếp hoặc gián tiếp tương thông với ngũ tạng. Vì vậy nói: “Xem đồ hình tạng phủ, tỳ, can, phế, thận không gì là không hệ căn ở tâm. Đối chiếu kinh lạc, khảo sát thủ túc âm dương, không có mạch nào không thông đến lưỡi, vậy nên biết rằng bệnh của kinh lạc, tạng phủ không chỉ trong thương hàn, phát nhiệt mới có thể nghiệm, mà phàm mọi chứng tạp bệnh do nội thương cũng không gì là không biểu hiện hình sắc của nó trên lưỡi” (Lâm Chứng Nghiệm Thiệt Pháp). Có thể thấy lưỡi tương đương như hình ảnh thu nhỏ của nội tạng. “Tứ chẩn hợp tham”, “thẩm sát nội ngoại” chính là sự thể hiện cụ thể của quan niệm chỉnh thể trong chẩn đoán học. (4) Quan niệm chỉnh thể và phòng trị: Học thuyết phòng trị của Trung y nhấn mạnh sự thống nhất giữa con người và môi trường bên ngoài, cũng như tính chỉnh thể của cơ thể người. Phòng ngừa và điều trị bệnh tật tất phải tuân theo quy luật khách quan về sự thống nhất giữa môi trường bên trong và bên ngoài cơ thể. Cơ thể người tất phải thích ứng với sự biến đổi khí hậu bốn mùa, thích ứng với sự thay đổi âm dương ngày – đêm, “Xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm” mới có thể giữ gìn sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật. Trị bệnh “ắt phải biết âm dương trời đất, phép tắc bốn mùa” (Tố Vấn · Sơ Ngũ Quá Luận), “ắt phải trước biết khí của năm, chớ phá hỏng sự điều hòa của trời” (Tố Vấn · Ngũ Thường Chính Đại Luận). Nếu không thì “Trị bệnh mà không theo phép tắc trời, không dùng đạo lý đất, thì tai họa sẽ đến” (Tố Vấn · Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận). Vì vậy nói: “Phàm trị bệnh mà không hiểu rõ sự thịnh suy của khí năm, hư thực của nhân khí, lại buông tà, công chính, thực thực hư hư, đó là tội của thầy thuốc; Phàm trị bệnh mà trái với bốn mùa, trái với khí sinh – trưởng – hóa – tàng, gọi là trái trời thì là điều không lành, đó là tội của thầy thuốc” (Y Môn Pháp Luật). Do đó, điều trị bệnh tật tất phải lấy quan niệm Thiên – Nhân nhất thể làm tư tưởng chỉ đạo, áp dụng phương pháp điều trị thích hợp mới có thể đạt hiệu quả như mong muốn. Cơ thể người là một chỉnh thể hữu cơ, giữa bộ phận và chỉnh thể luôn duy trì mối quan hệ chế ước, điều hòa lẫn nhau. Vì vậy, điều trị bệnh tật tất phải chú trọng toàn cục, lưu ý điều chỉnh chỉnh thể, tránh kiểu “đau đầu chữa đầu, đau chân chữa chân”. Chẳng hạn như “Dẫn dương từ âm, dẫn âm từ dương”, “Lấy trái chữa phải, lấy phải chữa trái” (Tố Vấn · Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận), “Bệnh ở trên thì lấy dưới mà trị, bệnh ở dưới thì lấy trên mà trị” (Linh Khu · Chung Thủy)… đều là các nguyên tắc điều trị được xác lập dưới sự chỉ đạo của quan niệm chỉnh thể. Tóm lại, trị liệu học Trung y nhấn mạnh rằng trị bệnh phải “tùy thời, tùy địa, tùy người”, phải xuất phát từ chỉnh thể, hiểu rõ và phân tích toàn diện tình hình bệnh tật, không chỉ coi trọng tình trạng cục bộ của tổn thương, biến hóa bệnh lý của tạng phủ nơi tổn thương, mà còn phải càng chú trọng mối quan hệ giữa tạng phủ tổn thương với các tạng phủ khác, nắm bắt tình hình mất điều hòa âm dương khí huyết của chỉnh thể, và xuất phát từ việc điều hòa cân bằng âm dương, khí huyết, tạng phủ của chỉnh thể để phù chính, khu tà, loại trừ ảnh hưởng của tà khí đối với toàn thân, cắt đứt phản ứng bệnh lý dây chuyền do tà khí gây ra giữa các tạng phủ trong cơ thể, thông qua tác dụng chỉnh thể đối với bộ phận, từ đó đạt mục đích loại trừ bệnh tà, chữa lành bệnh tật. Biện chứng luận trị về thực chất chính là sự thể hiện của quan niệm điều trị chỉnh thể. Con người vừa có thuộc tính tự nhiên, vừa có thuộc tính xã hội. Thiên – Địa – Nhân ba tài là một thể, con người sống giữa trời đất, trong không – thời gian, hoạt động sinh mệnh của con người tất yếu chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Do đó, đặt cơ thể người vào trong sự biến đổi của môi trường tự nhiên, xã hội để phân tích trạng thái chức năng của nó, kết hợp các nhân tố khác nhau do biến đổi môi trường mang lại để tiến hành một loạt hoạt động thực tiễn y học như chẩn đoán, điều trị, phòng ngừa, phục hồi… là nguyên tắc cơ bản của Trung y học. Vì vậy yêu cầu thầy thuốc tất phải trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết nhân sự. Quan niệm chỉnh thể “Con người cùng tương tham với trời đất” dựa trên “Thiên – Nhân hợp nhất” của triết học cổ đại Trung Quốc trong Trung y học có ý nghĩa hiện thực quan trọng. Trước hết, quan niệm chỉnh thể của Trung y học nhấn mạnh sự hài hòa thống nhất giữa con người và tự nhiên, đối với việc chỉnh đốn quan niệm sai lầm coi con người đối lập với tự nhiên, phiến diện nhấn mạnh con người là chủ nhân của tự nhiên, một bề “chinh phục tự nhiên”, khai thác tự nhiên, phá hoại cân bằng sinh thái, có ý nghĩa giáo dục to lớn và có tác dụng gợi mở đối với việc xây dựng khoa học môi trường hiện đại. Thứ hai, quan niệm chỉnh thể của Trung y học nhấn mạnh Thiên – Địa – Nhân ba tài là một thể, thống nhất nhận thức thế giới với việc nhận thức bản thân con người, đó là sự nhận thức mộc mạc về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa chủ thể và khách thể, có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng, phát triển mô hình y học hiện đại. Cuối cùng, quan niệm chỉnh thể của Trung y học khi nhấn mạnh Thiên – Địa – Nhân ba tài là một thể, lại đặc biệt coi trọng “Trời phủ, đất chở, vạn vật đều đủ, không gì quý bằng người”, lấy con người làm hạt nhân để xử lý mối quan hệ giữa ba yếu tố, coi việc nâng cao cảnh giới tinh thần của con người, giữ gìn sức khỏe thân – tâm là nhiệm vụ quan trọng, đối với việc nhận thức và giải quyết “căn bệnh xã hội” hiện đại như “lý tính khoa học kỹ thuật phình to quá mức”, coi trọng văn minh vật chất mà xem nhẹ văn minh tinh thần cũng có chỗ hữu ích.
(II) Quan niệm hằng động
Xét từ sức khỏe và bệnh tật mà nói, “Âm dương quân bình, để sung mãn hình thể, chín hậu như một” (Tố Vấn · Điều Kinh Luận), “Hình, nhục, huyết, khí ắt phải tương xứng, gọi là bình nhân” (Linh Khu · Chung Thủy). “Bình nhân” tức là người khỏe mạnh, khí huyết vận hành có trật tự, hòa hợp, chức năng tạng phủ, kinh lạc bình thường, hình thể, cơ nhục, khí huyết điều hòa. Sự cân bằng âm dương bên trong cơ thể, cũng như sự cân bằng âm dương giữa cơ thể và môi trường bên ngoài chính là sức khỏe. Sức khỏe là một khái niệm động, chỉ khi cơ thể thường xuyên ở trong quá trình biến hóa động của âm dương thì mới có thể duy trì và thúc đẩy sức khỏe. Mối quan hệ “bình hoành – thiên lệch” giữa sức khỏe và bệnh tật trong cùng một cơ thể ở trên phương diện âm dương tiêu trưởng lẫn nhau là đặc điểm chủ yếu của sự đồng tồn hai mặt này. Sự phá vỡ cân bằng động âm dương có nghĩa là bệnh tật. “Âm bình dương mật, tinh thần bèn yên trị”, “Trong ngoài điều hòa, tà không thể hại” (Tố Vấn · Sinh Khí Thông Thiên Luận). Âm dương trái nghịch, bệnh tật liền sinh.
Xét từ sinh lý mà nói, tiêu hóa, hấp thu thức ăn, chu chuyển, chuyển hóa tân dịch, vận hành, tuần hoàn khí huyết, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa vật chất và chức năng… không gì là không được thực hiện trong vận động âm dương bên trong cơ thể cũng như giữa cơ thể với môi trường bên ngoài. Xét từ bệnh lý mà nói, bất luận là tổn thương do Lục Dâm hay tổn hại do Thất Tình đều sẽ làm cho vận động khí hóa thăng, giáng, xuất, nhập của cơ thể người gặp trở ngại, cân bằng động âm dương rối loạn mà dẫn đến bệnh tật. Nói cách khác, tất cả các biến hóa bệnh lý xuất hiện sau khi cơ thể phát bệnh, như khí huyết ứ trệ, đàm ẩm đình trệ, cặn bã tích tụ… đều là kết quả của sự thất thường trong vận động khí hóa tạng phủ. Tóm lại, vận động khí hóa của cơ thể người, bất luận là chỉnh thể hay cục bộ, hễ vận động thăng, giáng, xuất, nhập của khí cơ bất thường thì đều có thể ảnh hưởng đến sự điều hòa cân bằng của tạng phủ, kinh lạc, khí huyết, âm dương, dẫn đến vô số biến hóa bệnh lý ở ngũ tạng, lục phủ, biểu – lý, bên trong – bên ngoài, tứ chi, cửu khiếu…
Xét về phương diện phòng trị bệnh tật mà nói, quá trình bệnh tật cũng là một quá trình vận động biến hóa không ngừng, mọi biến hóa bệnh lý đều là kết quả của việc vận động mâu thuẫn âm dương mất cân bằng, mất điều hòa, xuất hiện sự thiên thắng – thiên suy của âm dương. Mục đích căn bản của “trị bệnh tất cầu kỳ bản” chính là phù chính, khu tà, điều chỉnh cân bằng động âm dương, thể hiện đặc sắc dùng quan điểm vận động đối lập thống nhất để chỉ đạo điều trị lâm sàng của Trung y học. Trung y học chủ trương: Trước khi chưa phát bệnh thì phải phòng ngừa từ trước; Sau khi đã phát bệnh thì phải phòng ngừa việc bệnh tiếp tục truyền biến. Tư tưởng “vị bệnh tiên phòng, ký bệnh phòng biến” này chính là dùng quan điểm vận động để xử lý mâu thuẫn giữa sức khỏe và bệnh tật, nhằm điều chỉnh sự thiên lệch âm dương trong cơ thể người để nó trở về trạng thái cân bằng động của hoạt động sinh lý. Nguyên tắc cơ bản của Trung y học về dưỡng sinh, phòng bệnh, trị liệu thể hiện rõ tư tưởng biện chứng động – tĩnh hỗ căn.
(III) Quan niệm biện chứng
Vận động là thuộc tính của vật chất. Trung y học cho rằng: Mọi vật chất, bao gồm toàn bộ giới tự nhiên, toàn bộ cơ thể người đều vận động vĩnh hằng. Hình thức vận động của nó là thăng, giáng, xuất, nhập. Quá trình sinh mệnh của cơ thể người là một quá trình cân bằng động, trong sự cân bằng tương đối mang tính động ấy thể hiện các giai đoạn sinh, trưởng, tráng, lão, dĩ của quá trình sinh mệnh cơ thể người. Ba quan điểm chủ yếu nói trên của tư tưởng phép biện chứng Trung y học xuyên suốt trong sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán và điều trị của Trung y học.
(IV) Biện chứng luận trị
(1) Khái niệm về “chứng trạng (症)”, “chứng (证)” và “bệnh (病)”: Bất kỳ bệnh tật nào trong quá trình phát sinh, phát triển cũng đều biểu hiện ra thông qua những hiện tượng bệnh lý nhất định như các triệu chứng, dấu hiệu, con người cũng luôn luôn thông qua hiện tượng của bệnh để phát hiện ra bản chất của bệnh. Trung y học cho rằng: Biểu hiện lâm sàng của bệnh tật lấy triệu chứng và thể chứng làm các yếu tố cấu thành cơ bản.
Triệu chứng là những hiện tượng bề mặt riêng lẻ của bệnh, là những cảm giác bất thường chủ quan mà người bệnh cảm nhận được hoặc một số thay đổi bệnh lý nào đó, như đau đầu, phát sốt, ho, buồn nôn, nôn ói… Những biểu hiện khách quan có thể được phát hiện gọi là thể chứng, như rêu lưỡi, mạch tượng… Theo nghĩa rộng, “triệu chứng” bao gồm cả thể chứng.
“Chứng (证)”, còn gọi là chứng hậu. “Chứng” là khái niệm đặc hữu của Trung y học, là trung tâm trong nhận thức và điều trị bệnh tật của Trung y. Biểu hiện lâm sàng của nó là sự biểu hiện tổng hợp tình trạng rối loạn mối quan hệ qua lại giữa cơ thể với môi trường xung quanh và giữa các hệ thống bên trong cơ thể dưới tác dụng của nhân tố gây bệnh, là một tổ hợp đặc định các triệu chứng và thể chứng có liên hệ nội tại với nhau, dùng để toàn diện vạch rõ bản chất của bệnh tật. Bản chất của nó là đem các biểu hiện lâm sàng ở một giai đoạn nhất định của bệnh, kết hợp với các nhân tố như môi trường… tiến hành phân tích, quy nạp và tổng hợp, từ đó đưa ra sự khái quát bệnh lý về nhân tố gây bệnh, vị trí bệnh biến, tính chất của bệnh và xu thế phát triển, cũng như năng lực phản ứng chống bệnh của cơ thể. Nó biểu thị trạng thái phản ứng chỉnh thể của cơ thể đối với bệnh nhân, trạng thái phản ứng chống bệnh, điều tiết. Ví dụ “chứng tỳ dương hư”, bệnh vị ở tỳ, nguyên nhân bệnh là hàn tà xâm hại, tính chất bệnh là hàn, thế bệnh thuộc hư. Như vậy, bệnh vị là tỳ, bệnh nhân – bệnh tính là hàn, thế bệnh là hư, hữu cơ tổ hợp lại với nhau, liền cấu thành “chứng tỳ dương hư”. Chứng được cấu thành bởi các triệu chứng, nhưng không phải là phép cộng đơn giản của một số triệu chứng, mà là thông qua hiện tượng nắm bắt được những chỉ tiêu biện chứng (triệu chứng) mang ý nghĩa bản chất, làm rõ mối liên hệ nội tại của chúng, từ đó vạch rõ bản chất của bệnh tật. Có thể thấy, “chứng” toàn diện hơn, sâu sắc hơn, chính xác hơn trong việc vạch rõ bản chất bệnh tật, vì vậy khái niệm “triệu chứng” và “chứng” là khác nhau.
“Bệnh (病)”, còn gọi là bệnh tật, là dưới tác dụng của nguyên nhân gây bệnh, chính – tà giao tranh, âm dương mất điều hòa, xuất hiện một quá trình diễn biến có quy luật phát triển nhất định, cụ thể biểu hiện ra một số triệu chứng đặc định và các chứng hậu tương ứng ở các giai đoạn khác nhau.
“Bệnh” được thể hiện thông qua “chứng”, phản ánh toàn bộ quá trình biến hóa bệnh lý và quy luật cơ bản của sự phát sinh, phát triển, biến hóa bệnh lý.
Mối quan hệ giữa “triệu chứng – chứng – bệnh”: Ba khái niệm “triệu chứng, chứng, bệnh” vừa có liên hệ lại vừa có sai biệt, cả ba đều thống nhất trên cơ sở biến hóa bệnh lý trong cơ thể; nhưng “triệu chứng” chỉ là hiện tượng bề mặt riêng lẻ của bệnh tật, còn “chứng” phản ánh biến hóa bản chất của bệnh ở một giai đoạn nhất định, nó liên kết triệu chứng với bệnh, từ đó vạch rõ mối liên hệ nội tại giữa triệu chứng và bệnh, còn “bệnh” thì phản ánh toàn bộ quá trình biến hóa bệnh lý.
(2) Hàm nghĩa của “biện chứng luận trị” và mối quan hệ giữa hai khái niệm:
Cái gọi là “biện chứng”, chính là đem các tư liệu, triệu chứng và thể chứng thu thập được từ Tứ chẩn (Vọng, Văn, Vấn, Thiết), thông qua phân tích, tổng hợp, phân biệt rõ nguyên nhân, tính chất, bộ vị của bệnh, cũng như mối quan hệ giữa tà – chính, rồi khái quát, phán đoán thành một loại chứng hậu nhất định. Mấu chốt của “biện chứng” là chữ “biện”, quá trình biện chứng là quá trình đưa ra phán đoán đúng đắn, toàn diện đối với biến hóa bệnh lý của bệnh tật, tức là quá trình từ nhận thức cảm tính nâng lên nhận thức lý tính, phân tích và tìm ra mâu thuẫn chủ yếu của bệnh biến.
Cái gọi là “luận trị”, còn gọi là “thi hành điều trị”, chính là căn cứ vào kết quả biện chứng, xác định nguyên tắc và phương pháp trị liệu tương ứng, đồng thời cũng là quá trình nghiên cứu và thực thi trị liệu. Gộp chung lại mà nói, “biện chứng luận trị” là dưới sự chỉ đạo của lý luận Trung y, đối với tư liệu thu được từ Tứ chẩn tiến hành phân tích, tổng hợp, khái quát, phán đoán ra chứng hậu, rồi lấy “chứng” làm căn cứ để xác lập nguyên tắc và phương pháp điều trị, đưa vào thực hiện. “Biện chứng” là tiền đề và căn cứ quyết định phương pháp điều trị, “luận trị” là thủ đoạn và phương thức để trị bệnh. Thông qua “luận trị” có thể kiểm nghiệm tính đúng – sai của biện chứng. Quá trình biện chứng luận trị chính là quá trình nhận thức bệnh tật và giải quyết bệnh tật. “Biện chứng” và “luận trị” là hai mặt có liên hệ mật thiết, không thể tách rời trong quá trình chẩn – trị bệnh, là sự thể hiện sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, là sự vận dụng cụ thể “lý, pháp, phương, dược” trong lâm sàng, là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công tác lâm sàng của Trung y.
(1) Các phương pháp biện chứng thường dùng: Trong thực tiễn lâm sàng, phương pháp biện chứng thường dùng gồm có: Biện chứng Bát cương, biện chứng Tạng phủ, biện chứng Khí – Huyết – Tân dịch, biện chứng Lục kinh, biện chứng Vệ – Khí – Doanh – Huyết, biện chứng Tam tiêu, biện chứng theo bệnh nguyên… Những phương pháp biện chứng này tuy mỗi loại đều có đặc điểm riêng, trong chẩn đoán các bệnh khác nhau đều có trọng điểm khác nhau, nhưng lại liên hệ và bổ sung lẫn nhau.
(2) Quá trình biện chứng luận trị: Dưới sự chỉ đạo của quan niệm chỉnh thể, vận dụng Tứ chẩn tiến hành quan sát lâm sàng cẩn thận đối với người bệnh, đem một loạt triệu chứng và thể chứng mà cơ thể phản ánh ra dưới tác dụng của tà khí, căn cứ nguyên lý “biện chứng cầu nhân” (biện chứng để tìm nguyên nhân) mà suy luận, phán đoán bệnh nguyên phát bệnh. Sau đó kết hợp với hoàn cảnh địa lý, tiết khí, khí hậu, thể chất, giới tính, nghề nghiệp của người bệnh… tiến hành phân tích cụ thể, từ đó tìm ra bản chất của bệnh, đưa ra kết luận biện chứng, cuối cùng xác định phép tắc điều trị, chọn phương, dùng thuốc để điều trị. Đó là quá trình cơ bản của biện chứng luận trị trong lâm sàng Trung y.
(3) Mối quan hệ giữa “biện chứng” và “biện bệnh”: Trong biện chứng luận trị, phải nắm vững mối quan hệ giữa “bệnh” và “chứng”, vừa phải “biện bệnh” lại vừa phải “biện chứng”, mà “biện chứng” lại quan trọng hơn “biện bệnh”. “Chứng” là sự phản ánh biến hóa bệnh lý khác nhau ở các giai đoạn khác nhau của bệnh. Do đó, trong quá trình phát triển bệnh tật, có thể xuất hiện những chứng hậu khác nhau, cần căn cứ vào các chứng khác nhau mà tiến hành điều trị khác nhau. Ví như “vệ phận chứng, khí phận chứng, doanh phận chứng, huyết phận chứng” của ôn bệnh, chính là bốn sự phản ánh bệnh lý ở các giai đoạn khác nhau trong quá trình diễn biến của ôn bệnh, nên lần lượt dùng các phép “giải biểu, thanh khí, thanh doanh, lương huyết” mà điều trị. Cùng một bệnh có thể có chứng khác nhau, bệnh khác nhau lại có thể có chứng giống nhau. Như cùng là bệnh hoàng đản, có người biểu hiện chứng thấp nhiệt, trị thì nên thanh nhiệt lợi thấp; có người biểu hiện chứng hàn thấp, lại nên ôn hóa hàn thấp, đó chính là cái gọi là “đồng bệnh dị trị” (Bệnh giống nhau mà điều trị khác nhau). Lại như những bệnh khác nhau như tiêu chảy mạn tính, sa trực tràng, sa tử cung… tuy là các bệnh khác nhau, nhưng nếu đều biểu hiện “chứng trung khí hạ hãm”, thì đều có thể dùng phương pháp “thăng đề trung khí” để điều trị, đó chính là “dị bệnh đồng trị” (Bệnh khác nhau mà điều trị giống nhau). Do đó có thể thấy, Trung y trị bệnh chủ yếu không phải chú trọng ở chỗ “bệnh” giống hay khác, mà chú trọng ở sự sai biệt của “chứng”. “Chứng” giống nhau thì dùng phép trị cơ bản giống nhau; “chứng” khác nhau thì dùng phép trị cơ bản khác nhau. Tức là cái gọi là “chứng đồng trị diệc đồng, chứng dị trị diệc dị”. Nguyên tắc dùng các phương pháp khác nhau để giải quyết những mâu thuẫn có tính chất khác nhau phát sinh trong quá trình phát triển của bệnh tật, chính là tinh thần thực chất của biện chứng luận trị.
Tư duy khoa học cổ đại Trung Quốc chủ yếu là phương thức tư duy tổng hợp trực quan. Quan sát là điểm khởi đầu của tư duy truyền thống Trung Quốc, “Xem hiện tượng để phân biệt sự vật” là phương thức quan sát quan trọng của nó. Mà loại “hiện tượng” này là sự quan sát xây dựng trên cơ sở các cơ quan cảm giác. Hiện tượng sự vật là sự thống nhất giữa vĩ mô và vi mô, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự quan sát của con người đã từ thế giới vĩ mô tiến vào thế giới vi mô, vừa đứng trên lập trường quan sát bằng cảm quan, lại vừa mượn nhờ các thiết bị khoa học để kéo dài quan sát trực giác của cảm quan, nhằm bù đắp chỗ thiếu sót. Tư liệu Tứ chẩn mà Trung y học thu được trong quá trình biện chứng là nhờ quan sát trực tiếp bằng các giác quan mà có được, tính hạn chế của việc quan sát trực tiếp bằng giác quan quyết định tính hạn chế của tư liệu Vọng, Văn, Vấn, Thiết. Do đó, biện chứng vừa phải dựa trên quan sát trực tiếp bằng giác quan, từ góc độ vĩ mô, chỉnh thể mà nắm bắt hiện tượng bệnh tật, lại vừa không bị gò bó trong sự quan sát trực tiếp bằng giác quan, mà phải vận dụng các phương pháp và thủ đoạn khoa học khác nhau để thu thập những tư liệu mà quan sát trực tiếp khó có thể có được, làm cho sự quan sát càng khoa học, càng toàn diện, nâng cao trình độ biện chứng lên một tầm cao mới, đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc hiện đại hóa Trung y học.