Phần Một: Tiểu luận về bệnh kinh nguyệt
Những bệnh lý xảy ra khi chu kỳ kinh nguyệt, thời gian hành kinh hoặc lượng kinh có biểu hiện bất thường, hoặc có các triệu chứng rõ rệt đi kèm với chu kỳ kinh nguyệt, đều được gọi là bệnh kinh nguyệt – là loại bệnh thường gặp trong lâm sàng phụ khoa.
Các bệnh kinh nguyệt thường gặp gồm có: Kinh nguyệt đến sớm, kinh nguyệt đến muộn, kinh nguyệt đến không đều, kinh nguyệt quá nhiều, kinh nguyệt quá ít, kéo dài kỳ kinh, xuất huyết giữa chu kỳ, băng lậu, bế kinh, thống kinh, kinh nguyệt phát sốt, đau đầu khi hành kinh, nôn hoặc chảy máu cam khi hành kinh, tiêu chảy khi hành kinh, căng tức vú khi hành kinh, rối loạn cảm xúc khi hành kinh, các chứng trước và sau khi mãn kinh, kinh nguyệt dứt rồi tái phát…
Cơ chế bệnh sinh chủ yếu của bệnh kinh nguyệt là do chức năng tạng phủ rối loạn, khí huyết mất điều hòa, dẫn đến thương tổn hai mạch xung và nhâm. Ngoài các nguyên nhân như ngoại cảm tà khí, nội thương thất tình, phòng sự quá độ, sinh đẻ nhiều, ăn uống không điều độ…, cũng cần chú ý đến thể chất của người bệnh trong việc hình thành bệnh kinh nguyệt.
Biện chứng bệnh kinh nguyệt chủ yếu dựa vào chu kỳ, lượng, màu sắc, tính chất kinh nguyệt và các triệu chứng đi kèm chu kỳ; Đồng thời kết hợp với toàn thân, áp dụng tứ chẩn bát cương để phân tích tổng hợp.
Nguyên tắc điều trị bệnh kinh nguyệt là trị bản để điều kinh. Khi luận trị cần phân biệt giữa bệnh khác và bệnh kinh nguyệt. Nếu kinh nguyệt rối loạn do bệnh khác gây ra thì nên trị bệnh đó trước, bệnh hết thì kinh sẽ điều; Còn nếu do kinh nguyệt rối loạn mà sinh ra các bệnh khác thì phải điều kinh, kinh điều thì bệnh khác tự khỏi. Kế đến là phân biệt giữa tiêu bản và khẩn cấp – cấp thì trị tiêu, hoãn thì trị bản. Ví dụ: Thống kinh dữ dội thì nên cắt cơn đau trước; Nếu băng huyết ra quá nhiều thì nên cầm máu trước, sau đó căn cứ vào chứng trạng mà truy nguyên trị bản để trị tận gốc. Tiếp nữa là phân biệt các giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh nguyệt: Trong kỳ kinh, huyết thất đang mở, cần cẩn trọng khi dùng thuốc đại hàn hay đại nhiệt; trước kỳ kinh, huyết hải đang đầy, không nên bổ bừa bãi mà nên sơ thông điều dẫn; Sau kỳ kinh, huyết hải trống rỗng, không nên công phá mà nên điều bổ. Tất cả đều cần căn cứ vào hư thực của chứng mà linh hoạt vận dụng công bổ.
Các phép trị bản chủ yếu gồm: bổ thận, phù tỳ, sơ can, điều khí huyết. “Kinh thủy xuất chư thận”, nên gốc điều kinh là ở thận. Bổ thận là để ích chân âm tiên thiên, chủ yếu là bổ tinh dưỡng huyết, phối hợp thêm các vị trợ dương ích khí, làm cho dương sinh âm trưởng, tinh huyết dồi dào thì kinh nguyệt tự điều. Dù là bệnh do tà khí xâm nhập, sau khi trừ tà vẫn nên bổ thận.
Phù tỳ là để ích nguồn khí huyết, chủ yếu là kiện tỳ thăng dương, giúp tỳ vị vận hóa tốt, khí huyết đầy đủ thì nguồn thịnh vượng mà lưu thông. Tuy nhiên khi dùng thuốc không nên quá trọng vào vị ngọt nhuận hay cay ấm để tránh trở ngại dương khí củatỳ hoặc hao tổn chân âm của vị.
Sơ can là để điều thông khí cơ, chủ yếu là khai uất hành khí, phối hợp thêm thuốc dưỡng can để giúp can khí được sơ thông, khí huyết điều hòa thì kinh nguyệt cũng điều.
Điều khí huyết cần phân biệt giữa bệnh khí và bệnh huyết. Nếu bệnh ở khí thì trị khí làm chính, trị huyết làm phụ; Nếu bệnh ở huyết thì trị huyết làm chính, trị khí làm phụ. Khí huyết vốn từ tạng phủ sinh ra, nên bổ thận, phù tỳ, sơ can đều là cách điều khí huyết.
Các phép trên thường lấy bổ thận phù tỳ làm trọng. Như Cảnh Nhạc Toàn Thư viết: “Cho nên điều kinh quý ở chỗ bổ tỳ vị để nuôi dưỡng nguồn huyết, dưỡng thận khí để an huyết thất, hiểu được hai điều này thì hoàn mỹ vậy.” Ngoài ra, phụ nữ ở các lứa tuổi khác nhau có đặc điểm sinh lý khác nhau, trọng điểm điều trị cũng cần được điều chỉnh phù hợp.
Tóm lại, bệnh kinh nguyệt là bệnh thường gặp, biến hóa phức tạp, chứng trạng đan xen giữa hư thực hàn nhiệt. Trên cơ sở hiểu rõ vai trò chủ đạo của thận trong quản lý kinh nguyệt, cũng cần chú ý đến ảnh hưởng của tỳ, can và khí huyết để nắm bắt toàn diện phương Trị pháp liệu và linh hoạt vận dụng.
Phần Hai: Kinh nguyệt đến sớm (Kinh nguyệt tiên kỳ)
Kinh nguyệt đến sớm trước chu kỳ 1–2 tuần gọi là “kinh nguyệt tiên kỳ”, còn gọi là “kinh đến sớm” hay “kinh nguyệt sớm”.
Chứng này tương đương với bệnh rối loạn chức năng rụng trứng trong y học hiện đại do thể vàng yếu hoặc xuất huyết tử cung do viêm vùng chậu. Nếu kinh nguyệt đến sớm kèm theo lượng nhiều có thể tiến triển thành băng lậu, cần điều trị kịp thời.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Cơ chế chính là do xung nhâm không vững, kinh huyết không được điều tiết, dẫn đến kinh nguyệt đến sớm. Thường gặp các thể: Khí hư và huyết nhiệt.
Có thể chia làm hai loại: Tỳ khí hư và thận khí hư.
(1) Tỳ khí hư
Do thể chất vốn yếu, lao lực quá độ, lo nghĩ không giải, ăn uống không điều độ khiến tổn thương tỳ khí. Tỳ tổn thương thì trung khí hư, xung nhâm không vững, không thể giữ được kinh huyết nên dẫn đến kinh nguyệt đến sớm.
(2) Thận khí hư
Do phòng sự quá độ, sinh đẻ nhiều, hoặc mắc bệnh lâu ngày làm tổn thương thận, thận khí hư suy. Thận hư thì xung nhâm không vững, không điều tiết được kinh huyết nên kinh nguyệt đến sớm.
Gồm có ba loại: âm hư huyết nhiệt, dương thịnh huyết nhiệt và can uất hóa nhiệt.
(1) Âm hư huyết nhiệt
Do thể chất âm hư, hoặc mất máu gây thương âm, sinh nở và cho con bú quá nhiều dẫn đến hao tổn tinh huyết; hoặc suy nghĩ lao lực quá độ khiến doanh âm âm thầm tiêu hao, huyết âm hư ít, hư nhiệt nội sinh, nhiệt xâm nhập xung nhâm, làm xung nhâm không ổn định, không điều tiết được kinh huyết dẫn đến kinh nguyệt đến sớm.
(2) Dương thịnh huyết nhiệt
Thể chất vốn dương thịnh, hoặc ăn quá nhiều thực phẩm cay nóng, khô táo, hoặc nhiễm phải nhiệt tà, khiến nhiệt làm tổn thương xung nhâm, đẩy huyết đi loạn, dẫn đến kinh nguyệt đến sớm.
(3) Can uất hóa nhiệt
Tính tình hay u uất, hoặc do thương tổn tình chí, uất kết không vui, can khí uất kết lâu ngày hóa nhiệt, nhiệt làm tổn thương xung nhâm, đẩy huyết đi loạn, dẫn đến kinh nguyệt đến sớm.
[Biện chứng luận trị]
Biện chứng chủ yếu là phân biệt khí hư hay huyết nhiệt. Phép trị lấy an xung làm nguyên tắc lớn, hoặc bổ tỳ cố thận ích khí, hoặc thanh nhiệt tả hỏa, hoặc tư âm thanh nhiệt.
(1) Chứng tỳ khí hư
Chủ chứng: Kinh nguyệt đến sớm, có thể kèm theo lượng nhiều, màu nhạt, loãng; mệt mỏi, tay chân uể oải, hơi thở ngắn, ít nói, bụng dưới trống rỗng, ăn kém, phân lỏng, lưỡi nhạt đỏ, rêu mỏng trắng, mạch hoãn nhược.
Phân tích: Tỳ khí hư suy, không thống nhiếp được huyết, xung nhâm không vững, kinh nguyệt đến sớm, lượng nhiều; khí hư huyết thiếu sự ôn dưỡng, nên màu kinh nhạt, loãng; trung khí bất túc, nên mệt mỏi, hơi thở ngắn, bụng dưới trống rỗng; vận hóa kém nên ăn kém, phân lỏng. Lưỡi nhạt đỏ, rêu mỏng trắng, mạch hoãn nhược đều biểu hiện tỳ hư.
Phép trị: Bổ tỳ ích khí, cố xung điều kinh.
Phương dược: Bổ trung ích khí thang
Dược liệu: Nhân sâm, hoàng kỳ, cam thảo, đương quy, trần bì, thăng ma, sài hồ, bạch truật
— Nếu kinh nhiều: bỏ đương quy, tăng lượng hoàng kỳ, đảng sâm để ích khí nhiếp huyết
— Nếu đang kỳ hành kinh: bỏ đương quy, thêm ngải diệp, a giao, ô tặc cốt để chỉ huyết, cố xung
— Nếu tiêu chảy: thêm sơn dược, sa nhân, ý dĩ nhân để kiện tỳ, chỉ tả
— Nếu tâm tỳ lưỡng hư (chứng: kinh đến sớm, hồi hộp, mất ngủ nhiều mộng, tứ chi mệt mỏi, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược): phép trị dưỡng tâm kiện tỳ, cố xung điều kinh.
Phương dược: Quy tỳ thang
Dược liệu: Bạch truật, phục thần, hoàng kỳ, long nhãn nhục, toan táo nhân, nhân sâm, mộc hương, đương quy, viễn chí, cam thảo, sinh khương, đại táo
— Trong đó: Nhân sâm, bạch truật, hoàng kỳ, cam thảo kiện tỳ bổ khí, cố xung; đương quy, long nhãn, đại táo dưỡng huyết kiện tỳ; Toan táo nhân, phục thần, viễn chí dưỡng tâm an thần; sinh khương, mộc hương hành khí tỉnh tỳ. Toàn phương cùng có tác dụng kiện tỳ dưỡng tâm, cố xung điều kinh.
(2) Chứng thận khí hư
Chủ chứng: Kinh đến sớm, lượng ít, màu nhạt tối, loãng; đau lưng, mỏi gối, chóng mặt, ù tai, tiểu tiện nhiều lần, sắc mặt tối sạm hoặc có nám, lưỡi nhạt sậm, rêu mỏng trắng, mạch trầm tế.
Phân tích: “Xung nhâm chi bản tại thận” – thận khí bất túc, xung nhâm không vững nên kinh nguyệt đến sớm; thận hư, tinh huyết không đủ nên kinh ít, màu nhạt sẫm, chất loãng; thắt lưng là phủ ngoài của thận, thận chủ cốt nên đau lưng, mỏi gối; tinh huyết không nuôi dưỡng được hải mạch nên chóng mặt, ù tai; thận khí suy yếu, khí hóa không đều nên tiểu tiện nhiều lần; sắc mặt xám sạm hoặc nám là biểu hiện thận thủy không vượng. Lưỡi nhạt sậm, mạch trầm tế là biểu hiện thận hư.
Phép trị: Bổ thận ích khí, cố xung điều kinh.
Phương dược: Cố âm tiễn
Dược liệu: Nhân sâm, thục địa, sơn dược, sơn thù du, viễn chí, chích cam thảo, ngũ vị tử, thỏ ti tử
— Trong đó: Thỏ ti tử bổ thận ích tinh; thục địa, sơn thù du tư thận ích tinh; Nhân sâm, sơn dược, cam thảo kiện tỳ ích khí, bổ hậu thiên để dưỡng tiên thiên, cố vững mệnh môn; Ngũ vị tử, viễn chí giúp tâm thận tương thông, tăng sức cố xung của thận khí. Toàn phương cùng có tác dụng bổ thận ích khí, cố xung điều kinh.
— Nếu đau lưng nặng: thêm tục đoạn, đỗ trọng để bổ thận, giảm đau
— Nếu tiểu đêm nhiều: thêm ích trí nhân, kim anh tử để cố thận, giảm tiểu tiện
(1) Chứng âm hư huyết nhiệt
Chủ chứng: Kinh đến sớm, lượng ít, màu đỏ tươi, đặc sánh; má đỏ, môi đỏ, nóng lòng bàn tay chân, họng khô miệng ráo, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
Phân tích: Âm hư nội nhiệt, nhiệt nhiễu xung nhâm, xung nhâm không cố được nên kinh nguyệt đến sớm; âm hư huyết ít, xung nhâm bất túc nên huyết hải tràn ra không nhiều; huyết bị nhiệt thiêu đốt nên kinh có màu đỏ và đặc; hư nhiệt bốc lên khiến má đỏ, môi đỏ; âm hư nội nhiệt gây nóng tay chân, khô họng, khô miệng. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác là dấu hiệu của âm hư huyết nhiệt.
Phép trị: Dưỡng âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Phương dược: Lưỡng địa thang
Dược liệu: Sinh địa, huyền sâm, địa cốt bì, mạch môn, a giao, bạch thược
— Trong đó: Địa cốt bì, huyền sâm, mạch môn dưỡng âm thanh nhiệt; sinh địa tư âm thanh nhiệt, lương huyết; bạch thược điều huyết, liễm âm; a giao tư âm, chỉ huyết. Toàn phương cùng có tác dụng tư âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
— Nếu kinh nguyệt rất ít: Thêm sơn dược, câu kỷ tử, hà thủ ô để bổ thận sinh tinh huyết
— Nếu nóng tay chân rõ rệt: thêm bạch vi, sinh quy bản để dưỡng âm, tiềm dương, thanh hư nhiệt
(2) Chứng dương thịnh huyết nhiệt
Chủ chứng: Kinh nguyệt đến sớm, lượng nhiều, màu tím đỏ, đặc sánh; bứt rứt trong ngực, khát thích uống lạnh, đại tiện táo kết, tiểu tiện ngắn đỏ, sắc mặt đỏ ửng, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Phân tích: Nhiệt tà làm tổn thương xung nhâm, ép huyết đi loạn nên kinh nguyệt đến sớm, lượng nhiều; Huyết bị ảnh hưởng nhiệt, nên màu tím đỏ, đặc sánh; Nhiệt nhiễu tâm can, gây phiền táo; Nhiệt tổn hao tân dịch, gây khát thích uống lạnh; Đại tràng thiếu tân dịch gây táo kết; Nhiệt ảnh hưởng bàng quang gây tiểu tiện ngắn đỏ. Sắc mặt đỏ ửng, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác là biểu hiện của thực nhiệt thịnh.
Phép trị: Thanh nhiệt giáng hỏa, lương huyết điều kinh.
Phương dược: Thanh kinh tán
Dược liệu: Đan bì, địa cốt bì, bạch thược, thục địa, thanh hao, hoàng bá, phục linh
— Trong đó: Hoàng bá, thanh hao, đan bì thanh nhiệt giáng hỏa, lương huyết; Thục địa, địa cốt bì thanh huyết nhiệt, sinh tân dịch; Bạch thược dưỡng huyết liễm âm; Phục linh lợi thủy tiết nhiệt. Toàn phương có công năng thanh nhiệt giáng hỏa, lương huyết dưỡng âm, giúp trừ nhiệt mà không tổn thương âm, huyết an thì kinh nguyệt tự điều.
— Nếu lượng kinh nhiều: Khứ phục linh, thêm địa du, tây thảo căn để lương huyết chỉ huyết
— Nếu hành kinh đau bụng, kinh kèm huyết ứ cục: Gia ngải thán, tam thất (chế) để hóa ứ cầm máu.
(3) Chứng can uất hóa nhiệt
Chủ chứng: Kinh nguyệt đến sớm, lượng nhiều hoặc ít, màu tím đỏ, đặc, có cục; trước kỳ kinh có tức ngực, đau vú, đau bụng dưới, phiền táo dễ giận, miệng đắng họng khô, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.
Phân tích: Can khí uất kết hóa nhiệt, nhiệt nhiễu xung nhâm, ép huyết đi loạn nên kinh nguyệt đến sớm; can khí uất kết làm huyết hải mất điều tiết, nên lượng kinh nhiều hoặc ít; huyết bị nhiệt đốt, nên màu tím đỏ, đặc, có cục; khí trệ ở can kinh nên đau vú, tức ngực, bụng dưới; khí cơ uất trệ sinh bực bội, dễ giận; can uất hóa nhiệt gây đắng miệng, khô họng. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác là biểu hiện của can uất hóa nhiệt.
Phép trị: Thanh can giải uất, lương huyết điều kinh.
Phương dược: Đan chi tiêu dao tán
Dược liệu: Đan bì, chi tử sao, đương quy, bạch thược, sài hồ, phục linh, cam thảo sao
— Trong đó: Sài hồ, chi tử sao, đan bì sơ can giải uất, thanh nhiệt lương huyết; Đương quy, bạch thược dưỡng huyết nhu can; Bạch truật (thường phối trong tiêu dao tán), phục linh, cam thảo kiện tỳ hòa trung. Toàn phương có công dụng thanh can giải uất, lương huyết điều kinh.
— Nếu kinh nhiều: Khi hành kinh thì bỏ đương quy, thêm mẫu lệ, chi tử (chế), địa du sao để cố xung, chỉ huyết
— Nếu hành kinh không thông, kèm huyết ứ cục: thêm trạch lan, ích mẫu thảo để hoạt huyết hóa ứ
— Nếu vú căng đau rõ rệt: Thêm qua lâu, vương bất lưu hành, uất kim để giải uất, hành khí, chỉ thống
Phần Ba: Kinh nguyệt đến muộn
Kinh nguyệt đến trễ sau chu kỳ 7 ngày trở lên, thậm chí 3–5 tháng mới đến một lần, nhưng thời gian hành kinh vẫn bình thường, được gọi là “kinh nguyệt đến muộn”, còn gọi là “trễ kinh” hoặc “kinh đến trễ”.
Chứng này tương đương với “kinh thưa” trong y học hiện đại. Nếu kinh nguyệt đến muộn kèm lượng ít, có thể phát triển thành bế kinh.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Cơ chế chủ yếu là do tinh huyết bất túc hoặc tà khí trở ngại khiến huyết hải không đầy đúng lúc, từ đó kinh nguyệt đến muộn. Thường gặp các thể: thận hư, huyết hư, huyết hàn, khí trệ, đàm thấp.
Do bẩm tố thận khí bất túc, hoặc phòng sự không điều độ, sinh đẻ nhiều, làm tổn thương thận khí, khiến thận hư, xung nhâm bất túc, huyết hải không đầy đúng lúc nên kinh nguyệt đến muộn.
Do mất huyết nhiều lần, sinh đẻ nhiều, cho con bú nhiều, sau bệnh thể suy, ăn uống kém khiến hóa sinh không đủ, doanh huyết suy giảm, xung nhâm bất túc, huyết hải không đầy đủ khiến kinh nguyệt đến muộn.
(a) Hư hàn:
Do thể chất dương hư, hoặc bệnh lâu ngày thương dương, sinh nội hàn, tạng phủ mất sự ôn dưỡng, sinh hóa trễ nải, khí hư huyết thiếu, xung nhâm bất túc, huyết hải không đầy đúng lúc nên kinh nguyệt đến muộn.
(b) Thực hàn:
Trong lúc sinh nở hoặc sau sinh bị cảm hàn tà, hoặc uống nhiều thuốc hàn lương, khiến hàn tà ngưng trệ ở xung nhâm, huyết bị hàn ngưng, mạch tử cung không thông, huyết hành chậm, huyết hải không đầy đúng lúc nên kinh nguyệt đến muộn.
Do tính tình u uất, tình chí không được thỏa đáng, khí cơ không thông, huyết bị khí trệ, xung nhâm không thông, khí huyết vận hành chậm, huyết hải không đầy đúng lúc nên kinh nguyệt đến muộn.
Do thể chất béo trệ, đàm thấp thịnh, hoặc lao lực quá mức, ăn uống không điều độ gây tổn thương tỳ khí, tỳ mất chức năng vận hóa, đàm thấp sinh nội, đàm thấp hạ chú vào xung nhâm, trở trệ mạch tử cung, khí huyết vận hành chậm, huyết hải không đầy đủ đúng lúc nên kinh nguyệt đến muộn.
[Biện chứng luận trị]
Dấu hiệu biện chứng chủ yếu là kinh nguyệt đến muộn nhưng thời gian hành kinh cơ bản vẫn bình thường. Trị liệu cần phân biệt rõ hư chứng và thực chứng: hư chứng thì ôn kinh dưỡng huyết, thực chứng thì hoạt huyết hành ứ.
Đây là bản dịch sang tiếng Việt của đoạn văn bạn cung cấp:
Chứng chính: Kinh nguyệt sai hẹn, ít máu, màu nhợt nhạt, chất lỏng loãng, đau lưng mỏi chân yếu, chóng mặt ù tai, màng sinh dịch loãng, mặt mày tối nhợt hoặc có vết thâm, lưỡi nhợt nhạt, mảng sệ mỏng, mạch trầm tinh.
Phân tích chứng: Thận hư, tinh huyết kém, không đủ khí lực tuần hoàn, huyết không thể đầy đủ đúng lúc, vì vậy kinh nguyệt sai hẹn, ít máu, màu nhợt nhạt, chất lỏng loãng; thận cai quản sụn, não là biển tủy, lưng là ngoại phủ thận, thận hư nên đau lưng mỏi chân yếu, chóng mặt ù tai; thận khí hư, thủy mất khí hóa, ẩm đục điều trú, màng sinh không kỹ, vì vậy màng sinh dịch loãng; thận chủ màu đen, thận hư nên màu thận nổi lên, vì vậy mặt mày tối nhợt hoặc có vết thâm. Lưỡi nhợt nhạt, mảng sệ mỏng, mạch trầm tinh, là dấu hiệu của thận hư.
Nguyên tắc điều trị: Bổ thận bổ khí, nuôi máu điều kinh.
Dược liệu: Đại bổ nguyên tiễn (Toàn thư Cảnh Nhạc).
Nhân sâm, sơn dược, thục địa, đỗ trọng, đương quy, sơn thù du, câu kỷ tử, chi cam thảo.
Trong Phương dược này, nhân sâm, sơn dược, đỗ trọng bổ thận khí để củng cố mệnh môn; sơn thù du, câu kỷ tử bổ thận điền tinh mà sinh máu; đương quy, thục địa dưỡng huyết bổ âm; Cam thảo điều hòa hợp các vị thuốc. Toàn bộ Phương dược có tác dụng bổ thận bổ khí, dưỡng huyết điều kinh.
Nếu kinh nguyệt lượng ít, cân nhắc thêm tử hà xa, nhục thung dung, đơn sâm nuôi tinh huyết để hành kinh; nếu đái hạ nhiều, cân nhắc thêm lộc giác sương, kim anh tử, khiếm thực cố sáp trị đái; Nếu kinh nguyệt sai hẹn kéo dài, cân nhắc thêm nhục quế, ngưu tất để ấm kinh hoạt máu, dẫn huyết hạ hành.
Chứng chính: Kinh nguyệt sai hẹn, lượng kinh ít, màu nhợt nhạt, chất kinh lỏng loãng, đau bụng dưới trống rỗng, chóng mặt hoa mắt, tim đập nhanh mất ngủ, da khô, mặt mày nhợt nhạt hoặc xám vàng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế nhược.
Phân tích chứng: Doanh huyết kém, không đủ khí lực để tuần hoàn, huyết không thể đầy đủ đúng lúc, vì vậy kinh nguyệt sai hẹn, lượng kinh ít, màu nhợt nhạt, chất loãng; huyết hư không nuôi dưỡng các mạch, gây đau bụng dưới trống rỗng; Huyết hư không thể cung cấp đủ dưỡng chất cho não, gây chóng mặt hoa mắt; Huyết hư không đủ nuôi dưỡng da, làm da khô, mặt mày nhợt nhạt hoặc xám vàng; Huyết hư không nuôi dưỡng tim, gây tim đập nhanh mất ngủ. Lưỡi nhợt nhạt, rêu lưỡicmỏng, mạch tế vô lực, đều là dấu hiệu của huyết hư.
Nguyên tắc điều trị: Bổ huyết, nuôi dưỡng huyết, bổ khí điều kinh.
Dược liệu: Nhân sâm dưỡng vinh thang (Toàn thư Hòa Hợp Cục).
Nhân sâm, bạch truật, phục linh, cam thảo, đương quy, bạch thảo, thục địa, nhục quế, hoàng kỳ, ngũ vị tử, viễn trí, trần bì, gừng tươi, táo đỏ.
Nếu kinh nguyệt quá ít, bỏ ngũ vị tử, thêm đan sâm, kê huyết đằng; Nếu đau bụng âm ỉ khi hành kinh, dùng thêm bạch thược, thêm A giao, hương phụ.
III. Huyết hàn (血寒型)
(1) Hư hàn chứng (虚寒证)
Chứng hậu chính: Kinh kỳ đến muộn, lượng ít, màu nhạt tối, chất loãng; đau âm ỉ vùng tiểu phúc, thích chườm ấm và được ấn vào; lưng đau mỏi, yếu sức; tiểu tiện trong và dài; sắc mặt trắng bệch; lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch trầm trì vô lực.
Phân tích chứng hậu: Dương khí bất túc, âm hàn nội thịnh, tạng phủ hư hàn, khí huyết sinh hóa không đầy đủ, khí hư huyết thiểu, Xung – Nhâm không thể thông đạt đúng kỳ, Huyết Hải đầy chậm nên kinh nguyệt đến muộn, lượng ít, sắc nhạt, chất loãng; tử cung hư hàn, bào mạch mất sự ôn dưỡng, nên kinh hành có đau âm ỉ vùng bụng dưới, thích chườm ấm và ấn vào; dương hư, Thận khí không đủ, ngoại phủ mất nuôi dưỡng nên lưng đau mỏi yếu; dương khí không được phân bố, sắc mặt trắng bệch; Bàng Quang hư hàn, mất sự ôn ấm nên tiểu tiện trong và dài. Lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch trầm trì vô lực là dấu hiệu của hư hàn.
Trị pháp: Ôn kinh phù dương, dưỡng huyết điều kinh.
Phương dược: Đại doanh tiễn (大营煎 – trong 《Cảnh Nhạc Toàn Thư》).
Thành phần: Đương quy, Thục địa, Câu kỷ tử, Cam thảo chích, Đỗ trọng, Ngưu tất, Nhục quế.
Trong phương: Nhục quế ôn kinh phù dương, thông hành huyết mạch; Thục địa, Đương quy, Câu kỷ tử, Đỗ trọng bổ Thận, điền tinh, dưỡng huyết; Ngưu tất hoạt huyết thông kinh, dẫn huyết hạ hành. Toàn phương cùng phát huy tác dụng ôn kinh phù dương, dưỡng huyết điều kinh.
Nếu kinh hành kèm đau vùng bụng dưới, có thể gia thêm Ba kích thiên, Tiểu hồi hương, Hương phụ; Nếu hư yếu nặng, có thể gia thêm Nhân sâm.
(2) Thực hàn chứng (实寒证)
Chứng hậu chính: Kinh kỳ đến muộn, lượng ít, màu kinh tím tối có cục; vùng tiểu phúc đau lạnh, không muốn ấn, chườm ấm thì giảm đau; sợ lạnh, tay chân lạnh; lưỡi tím, rêu trắng, mạch trầm khẩn hoặc trầm trì.
Phân tích chứng hậu: Hàn tà xâm phạm Xung – Nhâm, huyết bị hàn ngưng, vận hành không thông suốt, Huyết Hải không thể đầy đúng kỳ nên kinh nguyệt đến muộn, lượng ít; hàn ngưng huyết trệ nên kinh có màu tím tối và vón cục; hàn tà xâm phạm tử cung, khí huyết không lưu thông, “bất thông tắc thống” nên vùng bụng dưới đau lạnh, được chườm ấm thì khí huyết lưu thông tạm thời, đau giảm; hàn là tà âm, dễ tổn thương dương khí, dương khí không thể phát tán ra ngoài nên sinh sợ lạnh, tay chân lạnh. Lưỡi tím, rêu trắng, mạch trầm khẩn hoặc trầm trì cũng là biểu hiện của thực hàn.
Trị pháp: Ôn kinh tán hàn, hoạt huyết điều kinh.
Phương dược: Ôn kinh thang (温经汤 – trong 《Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương》).
Thành phần: Nhân sâm, Đương quy, Xuyên khung, Bạch thược, Nhục quế, Nga truật, Đan bì, Cam thảo, Ngưu tất.
Trong phương: Nhục quế ôn kinh tán hàn, thông mạch điều kinh; Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết, hoạt huyết điều kinh; Nhân sâm vị cam ôn bổ khí, phối hợp với Nhục quế để thông dương tán hàn; Nga truật, Đan bì, Ngưu tất hoạt huyết khứ ứ, trợ giúp Đương quy, Xuyên khung hành huyết, giải ứ; Bạch thược, Cam thảo có tác dụng điều hòa, giảm đau. Toàn phương cùng phát huy công dụng ôn kinh tán hàn, hoạt huyết điều kinh.
Nếu kinh hành kèm đau bụng, có thể gia thêm Tiểu hồi hương, Hương phụ, Diên hồ sách để tán hàn, trệ và giảm đau; nếu lượng kinh quá ít, có thể gia thêm Đan sâm, Ích mẫu thảo, Kê huyết đằng để dưỡng huyết, hoạt huyết, điều kinh.
Chứng hậu chính: Kinh kỳ sai hậu, lượng ít, kinh sắc ám hồng hoặc có huyết khối, tiểu phúc trướng thống, tinh thần uất ức, hung mãn bất thư, thiệt tượng bình thường, mạch huyền.
Phân tích chứng hậu: Huyết do khí trệ, Xung Nhâm khí huyết vận hành bất lợi, Huyết Hải không thể mãn ủng đúng kỳ, nên kinh nguyệt đến muộn, lượng ít; khí trệ huyết ứ nên kinh sắc ám hồng hoặc có huyết khối; khí cơ bất thuận, kinh mạch ủng trệ nên tiểu phúc trướng thống, tinh thần uất ức, hung mãn bất thư. Mạch huyền cũng là dấu hiệu của khí trệ.
Trị pháp: Lý khí hành trệ, hoạt huyết điều kinh.
Phương dược: Ô dược thang (乌药汤 – 《Lan Thất Bí Tàng》).
Thành phần: Ô dược, Hương phụ, Mộc hương, Đương quy, Cam thảo.
Trong phương: Ô dược lý khí hành trệ, Hương phụ lý khí điều kinh, Mộc hương hành khí chỉ thống, Đương quy hoạt huyết hành trệ điều kinh, Cam thảo điều hòa chư dược. Toàn phương cùng phát huy tác dụng hành khí hoạt huyết điều kinh.
Nếu tiểu phúc trướng thống nghiêm trọng, có thể gia Nga truật, Diên hồ sách; nếu vú trướng đau rõ rệt, gia Sài hồ, Xuyên đằng tử, Vương bất lưu hành; nếu nguyệt kinh quá ít, gia Kê huyết đằng, Xuyên khung, Đan sâm.
Chứng hậu chính: Kinh kỳ sai hậu, lượng ít, sắc nhạt, chất dính, đầu choáng, thân thể béo, tâm quý khí đoản, vị quản đầy tức, ác nôn, đới hạ nhiều, thiệt đạm phương, đài bạch nhầy, mạch hoạt.
Phân tích chứng hậu: Đàm thấp nội thịnh, trệ tại Xung Nhâm, khí huyết vận hành bất thông, Huyết Hải không thể mãn ủng như kỳ, nên kinh kỳ sai hậu, lượng ít, sắc nhạt chất dính; đàm thấp đình trệ vùng tâm hạ, khí cơ thăng giáng thất thường, sinh ra đầu choáng, tâm quý khí đoản, vị quản đầy tức, ác nôn; đàm thấp lưu chú hạ tiêu, tổn thương Đới mạch, Đới mạch mất điều tiết, nên đới hạ nhiều. Thiệt đạm phương, đài bạch nhầy, mạch hoạt cũng là dấu hiệu của đàm thấp.
Trị pháp: Táo thấp hóa đàm, hoạt huyết điều kinh.
Phương dược: Khung quy nhị trần thang (芎归二陈汤 – 《Đan Khê Tâm Pháp》).
Thành phần: Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Cam thảo, Sinh khương, Xuyên khung, Đương quy.
Trong phương: Bán hạ, Trần bì, Cam thảo táo thấp hóa đàm, lý khí hòa trung; Phục linh, Sinh khương thẩm thấp hóa đàm; Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết hoạt huyết. Toàn phương có tác dụng khử đàm thấp, kinh mạch thông suốt, kinh nguyệt tự điều hòa.
Nếu Tỳ hư, ăn ít, thần mỏi vô lực, gia Nhân sâm, Bạch truật; nếu vị quản đầy tức buồn nôn, gia Sa nhân, Chỉ xác; nếu khí hạ nhiều, gia Thương truật, Xa tiền tử.
Tiết 4 – Kinh nguyệt sớm muộn vô định kỳ (月经先后无定期)
Kinh nguyệt chu kỳ hoặc sớm hoặc muộn từ 1–2 tuần, gọi là “nguyệt kinh tiên hậu vô định kỳ”, còn gọi là “kinh thủy tiên hậu vô định kỳ”, “nguyệt kinh khiên kỳ”, “kinh loạn”.
Bệnh này tương đương với rối loạn kinh nguyệt của rối loạn chức năng rụng trứng trong y học hiện đại. Trường hợp trong năm đầu sau khi có kinh lần đầu ở tuổi dậy thì hoặc trong thời kỳ tiền mãn kinh mà có hiện tượng kinh nguyệt tiên hậu vô định kỳ, nếu không kèm các chứng hậu khác, có thể không cần điều trị. Trường hợp tiên hậu vô định kỳ mà kèm lượng kinh nhiều, thời gian kéo dài hỗn loạn, thường có thể diễn biến thành băng lậu.
[Bệnh nhân – Bệnh cơ]
Cơ chế chính là Xung Nhâm khí huyết điều tiết không đều, Huyết Hải tích trữ và tràn ra không theo quy luật. Phân loại gồm: Thận hư, Tỳ hư và Can uất.
Do thiếu niên Thận khí chưa đầy, hoặc phụ nữ tuổi mãn kinh Thận khí dần suy, hoặc vốn thể chất Thận khí bất túc, phòng sự quá độ, sinh đẻ nhiều, bệnh lâu ngày, đại bệnh tổn thương Thận khí, Thận khí không đầy đủ, chức năng đóng mở rối loạn, Xung Nhâm mất điều tiết, Huyết Hải tích trữ và tràn ra không đúng kỳ, dẫn đến kinh nguyệt tiên hậu vô định kỳ.
Do cơ địa Tỳ hư, ăn uống thất điều, hoặc lo nghĩ quá độ tổn thương Tỳ khí, Tỳ hư không thống nhiếp được huyết và sinh hóa bất túc, Xung Nhâm khí huyết mất điều, Huyết Hải tích trữ và tràn ra không đều, dẫn đến kinh nguyệt tiên hậu vô định kỳ.
III. Can uất
Do tính tình uất ức, hoặc phẫn nộ quá độ, can khí nghịch loạn, khí loạn dẫn đến huyết loạn,hai mạch Xung Nhâm không điều hòa, Huyết Hải tích trữ và tràn ra bất thường, dẫn đến kinh nguyệt tiên hậu vô định kỳ.
[Biện chứng luận trị]
Lấy chu kỳ kinh nguyệt khi dài khi ngắn nhưng thời gian hành kinh bình thường làm trọng điểm biện chứng. Trị pháp lấy điều hòa Xung Nhâm khí huyết làm chủ, hoặc sơ Can giải uất, hoặc điều bổ Tỳ Thận, tùy chứng mà điều trị.
Chứng hậu chính: Kinh hành khi sớm khi muộn, lượng ít, sắc nhạt, chất loãng, đầu choáng ù tai, lưng đau chân mỏi, tiểu tiện nhiều lần, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm tế.
Phân tích chứng hậu: Thận hư, chức năng phong tàng mất điều tiết, đóng mở rối loạn, Xung Nhâm mất điều hòa, Huyết Hải tích trữ và tràn ra không theo kỳ hạn, dẫn đến kinh nguyệt tiên hậu vô định kỳ; Thận hư thì Tủy Hải bất túc, sinh đầu choáng ù tai; lưng là phủ ngoài của Thận, Thận chủ cốt, Thận hư sinh lưng đau chân mỏi. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm tế là dấu hiệu Thận hư.
Trị pháp: Bổ Thận ích khí, dưỡng huyết điều kinh.
Phương dược: Cố âm tiễn.
Nếu đau lưng vùng thắt lưng cùng: Gia Đỗ trọng, Ba kích thiên; nếu đái hạ nhiều: gia Lộc giác sương, Sa uyển tử, Kim anh tử.
Nếu kiêm Can uất Thận hư, triệu chứng gồm kinh nguyệt tiên hậu vô định kỳ, lượng kinh khi nhiều khi ít, thường đau lưng mỏi gối, kinh tiền vú trướng đau, tâm phiền dễ giận, lưỡi đỏ thẫm, rêu trắng, mạch huyền tế. Trị nên bổ Thận sơ Can, dùng phương Định kinh thang (《Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa》).
Thành phần: Đương quy, Bạch thược, Thục địa, Sài hồ, Sơn dược, Phục linh, Thỏ ty tử, Sao Kinh giới.
Trong phương: Sài hồ, Sao Kinh giới sơ Can giải uất; Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết nhu Can; Thục địa, Thỏ ty tử bổ Thận ích tinh huyết; Sơn dược, Phục linh kiện Tỳ sinh huyết. Toàn phương có tác dụng sơ giải uất khí của Can Thận, bổ tinh huyết Can Thận, Can khí thư sướng, Thận tinh dồi dào, khí huyết điều tiết có mức độ, Huyết Hải tích trữ điều hòa, kinh nguyệt không còn lo ngại sớm muộn bất định.
Chứng hậu chính: Kinh hành hoặc sớm hoặc muộn, lượng nhiều, sắc nhạt, chất loãng, thần mệt vô lực, vị quản bụng đầy, ăn uống kém, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn.
Phân tích chứng hậu: Tỳ hư, thống nhiếp vô quyền, Xung Nhâm khí huyết thất điều, Huyết Hải tích trữ tràn ra bất thường nên kinh nguyệt đến sớm hoặc muộn; Tỳ hư, sinh hóa khí huyết bất túc nên kinh sắc nhạt, chất loãng; Tỳ chủ tứ chi, cơ nhục, Tỳ hư nên thần mệt vô lực; Tỳ hư, vận hóa thất chức nên vị quản bụng đầy, ăn uống kém. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn cũng là biểu hiện của Tỳ hư.
Trị pháp: Bổ Tỳ ích khí, dưỡng huyết điều kinh.
Phương dược : Quy Tỳ thang (归脾汤).
Nếu ăn ít bụng đầy, có thể gia Mạch nha, Sa nhân, Trần bì; nếu kinh lượng nhiều, bỏ Sinh khương, Đương quy, thêm Ô tặc cốt, Trần tông thán.
III. Can uất (肝郁型)
Chứng hậu chính: Kinh hành hoặc sớm hoặc muộn, lượng kinh khi nhiều khi ít, sắc ám hồng, có huyết khối, hoặc kinh hành không thông, ngực sườn, nhũ phòng, bụng dưới trướng đau, tinh thần ưu uấ, thường thở dài, ợ hơi, ăn uống kém, lưỡi bình thường, rêu mỏng, mạch huyền.
Phân tích chứng hậu: Can uất khí kết, khí cơ nghịch loạn, Xung Nhâm thất chức, Huyết Hải tích trữ tràn ra bất thường nên kinh nguyệt khi sớm khi muộn, lượng kinh khi nhiều khi ít; Can khí uất trệ, kinh mạch bất lợi nên kinh hành không thông, sắc ám, có huyết khối; Can uất, kinh mạch sáp trệ nên ngực sườn, nhũ phòng, bụng dưới trướng đau; Khí cơ bất lợi nên tinh thần uất ức, thường thở dài; Can mạnh lấn Tỳ, Tỳ khí không điều hoà nên ợ hơi, ăn uống kém; Chứng thuộc khí trệ, bên trong không hàn nhiệt, nên lưỡi bình thường. Mạch huyền là dấu hiệu của Can uất.
Trị pháp: Sơ Can giải uất, hòa huyết điều kinh.
Phương dược: Tiêu dao tán (逍遥散 – 《Hòa Tễ Cục Phương》).
Thành phần: Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Bạc hà, Gừng nướng.
Nếu đau bụng khi hành kinh, gia Hương phụ, Diên hồ sách; có huyết khối, gia Trạch lan, Ích mẫu thảo; có nhiệt, gia Mẫu đơn bì, Chi tử; đầy tức vùng vị quản, ăn kém, gia Chỉ xác, Hậu phác, Trần bì; kiêm Thận hư, gia Thỏ ty tử, Thục địa, Tục đoạn.
Tiết 5 – Nguyệt kinh quá đa (月经过多)
Chu kỳ kinh nguyệt bình thường nhưng lượng kinh rõ ràng nhiều hơn trước, gọi là “nguyệt kinh quá đa”, còn gọi là “kinh thủy quá đa” hoặc “nguyệt kinh quá nhiều”.
Bệnh này tương đương với tình trạng kinh nguyệt quá nhiều do rối loạn chức năng rụng trứng trong y học hiện đại, hoặc do các bệnh lý như u xơ tử cung, viêm tiểu khung, lạc nội mạc tử cung gây ra. Kinh nguyệt quá nhiều do đặt vòng tránh thai cũng có thể điều trị theo chứng này.
[Bệnh nhân – Bệnh cơ]
Cơ chế bệnh lý chủ yếu là Xung Nhâm không kiên cố, kinh huyết mất sự chế ước mà dẫn đến lượng huyết quá nhiều. Các thể thường gặp gồm: Khí hư, Huyết nhiệt, Huyết ứ.
Cơ địa vốn yếu, hoặc ăn uống thất điều, lao lực quá mức, bệnh lâu ngày tổn thương Tỳ khí, Trung khí bất túc, Xung Nhâm không kiên cố, huyết mất thống nhiếp nên dẫn đến kinh nguyệt quá nhiều.
Cơ địa dương thịnh, hoặc ăn nhiều đồ cay nóng, cảm nhiễm nhiệt tà, thất tình thái quá, uất mà hóa nhiệt, nhiệt nhiễu Xung Nhâm, ép huyết vọng hành nên dẫn đến kinh nguyệt quá nhiều.
III. Huyết ứ
Tính tình uất ức, hoặc giận dữ quá mức khiến khí trệ dẫn đến huyết ứ, hoặc trong kỳ kinh, hậu sản huyết chưa hết, cảm nhiễm ngoại tà, hoặc phòng sự không kiêng, huyết ứ nội đình, trở trệ Xung Nhâm, huyết không quy kinh nên dẫn đến kinh nguyệt quá nhiều.
[Biện chứng luận trị]
Lấy lượng kinh nhiều, chu kỳ và thời gian hành kinh vẫn bình thường làm điểm biện chứng chủ yếu, phối hợp với màu sắc, tính chất kinh và các chứng toàn thân để phân biệt hư – thực, hàn – nhiệt. Trị liệu cần phân biệt giữa lúc có kinh (trị tiêu) và lúc không hành kinh (trị bản): bình thường chú trọng điều kinh, trong kỳ kinh chú trọng cố Xung chỉ huyết, tiêu bản kiêm trị.
Chứng hậu chính: Hành kinh lượng nhiều, sắc nhạt hồng, chất loãng trong, thần mệt thể yếu, khí đoản ít nói, tiểu phúc trống rỗng sa nặng, sắc mặt trắng nhợt, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng hậu: Khí hư khiến Xung Nhâm không kiên cố, kinh huyết mất chế ước, dẫn đến hành kinh lượng nhiều; khí hư hỏa suy không thể hóa huyết thành đỏ, nên kinh sắc nhạt hồng, chất loãng trong; khí hư, trung dương không vượng nên thần mệt thể yếu, khí đoản ít nói; khí hư không nâng đỡ được nên tiểu phúc trống rỗng sa nặng; khí hư, dương khí không phát tán nên sắc mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược cũng là biểu hiện của khí hư.
Trị pháp: Bổ khí thăng đề, cố Xung chỉ huyết.
Phương dược: An Xung thang (安冲汤 –《Y học trung trung tham tây lục》) gia Thăng ma.
Thành phần: Bạch truật, Hoàng kỳ, Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ, Sinh địa, Bạch thược, Hải phiêu tiêu, Chích thảo căn, Tục đoạn.
Trong phương: Hoàng kỳ, Bạch truật, Thăng ma bổ khí thăng đề, cố Xung nhiếp huyết; Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ, Hải phiêu tiêu, Tục đoạn cố Xung, thu liễm chỉ huyết; Sinh địa, Bạch thược lương huyết liễm âm; Chích thảo căn chỉ huyết mà không lưu ứ. Toàn phương cùng phát huy hiệu quả bổ khí thăng đề, cố Xung chỉ huyết.
Nếu hành kinh có huyết khối hoặc kèm đau bụng, có thể gia Trạch lan, Tam thất, Ích mẫu thảo để hoạt huyết hóa ứ; nếu kèm đau lưng vùng thắt lưng cùng, có thể gia Lộc giác sương, Bổ cốt chi, Tang ký sinh để bổ Thận, mạnh gân cốt; nếu kèm hoa mắt tim hồi hộp, thay Sinh địa bằng Thục địa, gia thêm Chế Thủ ô, Ngũ vị tử để dưỡng huyết an thần.
Chứng hậu chính: Hành kinh lượng nhiều, sắc tươi đỏ hoặc đỏ sẫm, chất đặc dính, miệng khát thích uống lạnh, tâm phiền nhiều mộng, tiểu vàng táo bón, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Phân tích chứng hậu: Dương nhiệt nội thịnh, ẩn tại Xung Nhâm, khi hành kinh, nhiệt bức huyết vong hành nên kinh lượng nhiều; huyết bị nhiệt thiêu đốt nên sắc đỏ, chất đặc; nhiệt tà thương tân dịch gây miệng khát, tiểu vàng, đại tiện bí kết; nhiệt nhiễu tâm thần gây tâm phiền nhiều mộng. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác là biểu hiện của huyết nhiệt.
Trị pháp: Thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết.
Phương dược: Bảo âm tiễn (保阴煎 – 《Cảnh Nhạc Toàn Thư》) gia Sao Địa du, Hoè hoa.
Thành phần: Sinh địa, Thục địa, Hoàng cầm, Hoàng bá, Bạch thược, Sơn dược, Tục đoạn, Cam thảo.
Trong phương: Hoàng cầm, Hoàng bá, Sinh địa thanh nhiệt lương huyết; Thục địa, Bạch thược dưỡng huyết liễm âm; Sơn dược, Tục đoạn bổ Thận cố Xung; Sao Địa du, Hoè hoa lương huyết chỉ huyết; Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, cố Xung chỉ huyết.
Nếu huyết kinh đặc, có mùi hôi, hoặc bình thường khí hạ vàng nhớt, đau sa bụng dưới, dùng Hoàng cầm, Hoàng bá liều cao, gia Mã xỉ hiện, Bại tương thảo, Ý dĩ nhân để thanh nhiệt trừ thấp; nếu nhiệt thịnh thương tân, miệng khô khát, gia Thiên hoa phấn, Huyền sâm, Mạch môn đông để sinh tân chỉ khát.
III. Huyết ứ (血瘀型)
Chứng hậu chính: Hành kinh lượng nhiều, sắc tím sẫm, chất đặc và có huyết khối, hành kinh đau bụng, hoặc ngày thường tiểu phúc trướng đau, lưỡi tím sẫm hoặc có ứ điểm, mạch sáp hữu lực.
Phân tích chứng hậu: Huyết ứ trở trệ Xung Nhâm, tân huyết khó hành, nên lượng kinh nhiều; huyết ứ kết tụ bên trong, nên sắc tím có khối; huyết ứ bào mạch, “bất thông tắc thống”, gây đau bụng khi hành kinh, hoặc ngày thường tiểu phúc trướng đau. Lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ huyết, mạch sáp hữu lực là biểu hiện của huyết ứ.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, cố Xung chỉ huyết.
Phương dược: Đào hồng tứ vật thang (桃红四物汤 –《Y Tông Kim Giám》) gia Tam thất, Sắc thảo.
Thành phần: Đương quy, Thục địa, Bạch thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa.
Trong phương: Đào nhân, Hồng hoa hoạt huyết hóa ứ; Đương quy, Xuyên khung hoạt huyết dưỡng huyết điều kinh; Thục địa, Bạch thược bổ huyết dưỡng âm để an huyết thất. Khi ứ huyết được giải, Xung Nhâm thông suốt, huyết sẽ hành theo thường đạo. Gia thêm Tam thất, Sắc thảo để tăng tác dụng hóa ứ chỉ huyết.
Nếu hành kinh đau bụng nhiều, có thể gia Diên hồ sách, Hương phụ; nếu huyết ứ kiêm nhiệt, kèm khát nước, tâm phiền, gia Hoàng cầm, Hoàng bá, Sao Địa du.
Tiết VI – Nguyệt kinh quá ít (月经过少)
Chu kỳ kinh nguyệt bình thường, nhưng lượng kinh rõ ràng ít hơn trước, thời gian hành kinh dưới 2 ngày, thậm chí chỉ vài giọt là sạch, gọi là “nguyệt kinh quá thiểu”, còn gọi là “kinh thủy sáp thiểu”, “kinh lượng quá ít”.
Bệnh này tương đương với các bệnh lý như suy giảm chức năng tuyến sinh dục, lao nội mạc tử cung, viêm nhiễm hoặc nạo phá thai quá sâu gây ra kinh ít trong y học hiện đại.
Nguyệt kinh quá thiểu kèm kinh đến muộn có thể diễn tiến thành bế kinh. Nếu bệnh do tổn thương thực thể thì tiến triển chậm và hiệu quả điều trị kém.
[Bệnh nhân – Bệnh cơ]
Cơ chế bệnh lý chủ yếu là tinh khí suy tổn, huyết thiểu, Xung Nhâm khí huyết bất túc, hoặc hàn ngưng ứ trệ, Xung Nhâm vận hành bất thông, Huyết Hải mãn mà không đầy đủ dẫn đến kinh ít. Các thể thường gặp gồm: Thận hư, Huyết hư, Huyết hàn và Huyết ứ.
Do tiên thiên bẩm thụ bất túc, hoặc phòng lao, bệnh lâu ngày tổn thương Thận khí, hoặc sẩy thai nhiều lần, thương tinh hao khí, khiến Thận tinh hao tổn, Thận khí bất túc, Xung Nhâm hư suy, Huyết Hải mãn mà không đủ, dẫn đến kinh nguyệt ít.
Do bị mất huyết nhiều lần, hoặc bệnh nặng lâu ngày làm dinh huyết suy hư, hoặc do ăn uống kém, lao lực, lo nghĩ nhiều tổn thương Tỳ khí, Tỳ hư sinh hóa bất túc, dẫn đến Xung Nhâm khí huyết suy hư, Huyết Hải không thể đầy, kinh lượng giảm.
III. Huyết hàn
Do sau kinh hoặc hậu sản cảm nhiễm hàn tà, hoặc ăn nhiều đồ sống lạnh khiến hàn tà xâm nhập Xung Nhâm, huyết bị hàn làm ngưng trệ, vận hành không thông, dẫn đến Huyết Hải không đầy, kinh ít.
Do sau kinh, sau sinh, huyết chưa hết, thất tình nội thương gây khí trệ huyết ứ, hoặc cảm tà, tà kết với huyết gây ứ trệ Xung Nhâm, khí huyết vận hành không thông, Huyết Hải không đầy, dẫn đến kinh ít.
[Biện chứng luận trị]
Lấy kinh lượng rõ ràng ít đi, chu kỳ kinh nguyệt vẫn bình thường làm trọng điểm biện chứng, cũng có thể kèm thời gian hành kinh ngắn. Điều trị cần phân biệt hư – thực: hư chứng lấy bổ Thận ích tinh, hoặc bổ huyết ích khí để dưỡng nguồn sinh huyết; thực chứng lấy ôn kinh hành trệ, hoặc hoạt huyết hóa ứ để điều hòa Xung Nhâm.
Chứng hậu chính: Kinh đến lượng ít, không đến hai ngày là sạch, hoặc chỉ vài giọt rồi hết, huyết sắc nhạt tối, chất loãng; lưng đau mỏi chân yếu, đầu choáng tai ù, tiểu tiện nhiều lần, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm tế.
Phân tích chứng hậu: Thận khí bất túc, tinh huyết khuy tổn, Xung Nhâm khí huyết suy thiểu, Huyết Hải mãn ủng không nhiều, nên kinh lượng rõ ràng giảm, hoặc chỉ điểm giọt là sạch, sắc nhạt tối, chất loãng; tinh huyết suy ít, não tủy không đầy, nên đầu choáng tai ù; Thận hư khiến lưng và chân mất nuôi dưỡng, sinh ra đau lưng mỏi gối; Thận hư khiến Bàng Quang mất khả năng ôn cố, nên tiểu tiện nhiều lần. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch trầm tế cũng là dấu hiệu của Thận hư.
Trị pháp: Bổ Thận ích tinh, dưỡng huyết điều kinh.
Phương dược: Đương quy địa hoàng ẩm (《景岳全书》) gia Tử hà xa, Đan sâm.
Thành phần: Đương quy, Thục địa, Sơn thù du, Đỗ trọng, Sơn dược, Ngưu tất, Cam thảo.
Trong phương: Thục địa, Sơn thù du, Đương quy, Tử hà xa bổ Thận ích tinh, dưỡng huyết; Đương quy, Đan sâm dưỡng huyết hoạt huyết điều kinh; Đỗ trọng, Ngưu tất bổ Thận kiện gối; Sơn dược kiện Tỳ trợ sinh hóa chi nguyên; Cam thảo điều hòa chư dược. Toàn phương cùng phát huy hiệu quả bổ Thận điền tinh, dưỡng huyết điều kinh.
Nếu kiêm hình hàn chi lạnh, có thể gia Nhục quế, Dâm dương hoắc, Nhân sâm; nếu tiểu đêm nhiều, gia Ích trí nhân, Tang phiêu tiêu.
Chứng hậu chính: Kinh đến lượng ít, không đến hai ngày là sạch, hoặc chỉ điểm giọt là dừng, sắc kinh nhạt đỏ, chất loãng; đầu choáng mắt hoa, tâm quý mất ngủ, da khô, sắc mặt vàng úa, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế vô lực.
Phân tích chứng hậu: Doanh huyết suy thiểu, Xung Nhâm khí huyết bất túc, Huyết Hải không tràn đầy, nên kinh lượng ít, sớm sạch, sắc nhạt đỏ, chất loãng; huyết hư không dưỡng được thanh khiếu, nên đầu choáng mắt hoa; Huyết ít không dưỡng được tâm, gây hồi hộp mất ngủ; huyết hư không nuôi được thể biểu, sinh ra sắc mặt vàng úa, da dẻ không nhuận. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế vô đều lực là biểu hiện của huyết hư.
Trị pháp: Bổ huyết ích khí điều kinh.
Phương dược: Tư huyết thang (《证治准绳·女科》).
Thành phần: Nhân sâm, Sơn dược, Hoàng kỳ, Bạch phục linh, Xuyên khung, Đương quy, Bạch thược, Thục địa.
Trong phương: Thục địa, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung bổ huyết điều kinh; Nhân sâm, Hoàng kỳ, Sơn dược, Phục linh bổ khí kiện Tỳ, hỗ trợ nguồn sinh hóa khí huyết. Toàn phương hợp lại có tác dụng tư huyết điều kinh.
Nếu kèm tâm quý mất ngủ, gia Sao táo nhân, Ngũ vị tử; nếu Tỳ hư ăn kém, gia Kê nội kim, Sa nhân.
III. Thể Huyết hàn (血寒型)
Chứng hậu chính: Kinh đến lượng ít, sắc ám đỏ, tiểu phúc đau lạnh, được ấm thì giảm, sợ lạnh tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng, lưỡi ám, rêu trắng, mạch trầm khẩn.
Phân tích chứng hậu: Huyết bị hàn ngưng, Xung Nhâm trở trệ, huyết hành không thông, nên kinh đến ít, sắc ám đỏ; Hàn khách vào bào mạch, gây tiểu phúc đau lạnh, được ấm thì giảm; Hàn tổn thương dương khí, sinh ra sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng. Lưỡi ám, rêu trắng, mạch trầm khẩn đều là biểu hiện của hàn tà bên trong.
Trị pháp: Ôn kinh tán hàn, hoạt huyết điều kinh.
Phương dược : Ôn kinh thang.
Chứng hậu chính: Kinh hành sáp thiểu, sắc tím đen có khối, tiểu phúc đau nhói, không muốn ấn, ra cục huyết xong thì đau giảm, hoặc ngực sườn trướng đau, lưỡi tím ám, hoặc có ban ứ điểm tím, mạch sáp hữu lực.
Phân tích chứng hậu: Huyết ứ nội đình, Xung Nhâm trở trệ, nên kinh đến sáp thiểu, sắc tím đen có huyết khối; Huyết ứ bào mạch, “bất thông tắc thống”, bụng dưới đau nhói, không chịu được ấn nắn, huyết khối ra thì thông ứ nên đau giảm; Huyết ứ trở trệ khí cơ, nên ngực sườn trướng đau. Lưỡi tím ám, có ban ứ điểm, mạch sáp hữu lực đều là biểu hiện của huyết ứ.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, lý khí điều kinh.
Phương dược: Thông ứ tiễn (《景岳全书》).
Thành phần: Đương quy vĩ, Sơn tra, Hương phụ, Hồng hoa, Ô dược, Thanh bì, Mộc hương, Trạch tả.
Trong phương: Quy vĩ, Sơn tra, Hồng hoa hoạt huyết hóa ứ; Hương phụ lý khí giải uất điều kinh; Ô dược, Thanh bì, Mộc hương hành khí chỉ thống; Trạch tả lợi thủy hành trệ. Toàn phương cùng phát huy hiệu quả hoạt huyết hóa ứ, lý khí điều kinh.
Nếu kèm đau lạnh vùng tiểu phúc, mạch trầm trì, gia Nhục quế, Ngô thù du; nếu ngày thường đau vùng bụng dưới, hoặc kèm sốt nhẹ không lui, lưỡi tím ám, rêu vàng khô, mạch sác, gia Đan bì, Chi tử, Trạch lan.
Tiết VII – Kinh kỳ kéo dài (经期延长)
Chu kỳ kinh nguyệt bình thường, nhưng thời gian hành kinh vượt quá 7 ngày, thậm chí kéo dài tới 2 tuần mới sạch, gọi là “kinh kỳ kéo dài”, còn gọi là “kinh sự kéo dài”.
Chứng này tương đương với tình trạng hoàng thể thoái triển không hoàn toàn trong rối loạn chức năng rụng trứng của y học hiện đại, hoặc do viêm vùng chậu, viêm nội mạc tử cung gây ra. Kinh kỳ kéo dài do đặt vòng tránh thai hoặc thắt ống dẫn trứng cũng có thể điều trị theo chứng này.
[Bệnh nhân – Bệnh cơ]
Cơ chế bệnh lý chủ yếu là Xung Nhâm không kiên cố, kinh huyết mất sự chế ước mà kéo dài. Các thể thường gặp gồm: khí hư, hư nhiệt và huyết ứ.
Do cơ địa vốn hư nhược, hoặc lao lực quá mức, tổn thương Tỳ khí, Trung khí bất túc, Xung Nhâm không kiên cố, không thể chế ước kinh huyết, dẫn đến kinh kỳ kéo dài.
Do cơ địa âm hư, hoặc bệnh lâu ngày thương âm, sinh đẻ nhiều, cho con bú nhiều, hoặc lo nghĩ tích tụ, khiến âm huyết hao tổn, âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt nhiễu Xung Nhâm, Xung Nhâm không kiên cố, không chế ước được kinh huyết nên kinh kỳ kéo dài.
III. Huyết ứ (血瘀)
Do tính tình uất ức, hoặc phẫn nộ làm thương Can, Can khí uất kết, khí trệ huyết ứ; hoặc hành kinh giao hợp khiến ngoại tà xâm nhập tử cung, tà và huyết kết lại thành ứ, ứ trở Xung Nhâm, huyết không quy kinh, sinh kinh kỳ kéo dài.
[Biện chứng luận trị]
Lấy kinh kỳ kéo dài nhưng chu kỳ kinh nguyệt vẫn bình thường làm trọng điểm biện chứng. Phép trị lấy cố Xung điều kinh làm chủ. Với khí hư, cần chú trọng bổ khí thăng đề; Với âm hư huyết nhiệt, lấy dưỡng âm thanh nhiệt làm chính; Với huyết ứ trở trệ thì nên thông để chỉ huyết, không nên dùng thuốc cố sáp bừa bãi, tránh sai lầm dùng thuốc bổ khi thực chứng và dùng thuốc tả khi hư chứng.
Chứng hậu chính: Kinh hành kéo dài, lượng nhiều, sắc đỏ nhạt, chất loãng; Tay chân mệt mỏi, tinh thần uể oải, khí đoản ít nói, sắc mặt trắng nhợt, chất lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng hậu: Khí hư khiến Xung Nhâm không kiên cố, kinh huyết không được chế ước nên hành kinh kéo dài, lượng nhiều; Khí hư hỏa suy không thể hóa huyết thành đỏ, kinh sắc nhạt, chất loãng; Trung khí bất túc nên tay chân mệt, tinh thần suy; Khí hư khiến dương khí không phát tán nên mặt trắng nhợt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược đều là dấu hiệu của khí hư.
Trị pháp: Bổ khí thăng đề, cố Xung điều kinh.
Phương dược: Cử nguyên tiễn (举元煎 –《景岳全书》) gia A giao, Ngải diệp, Ô tặc cốt.
Thành phần: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Chích cam thảo, Thăng ma.
Trong phương: Nhân sâm, Bạch truật, Hoàng kỳ, Chích cam thảo bổ khí kiện Tỳ, nhiếp huyết cố Xung; Thăng ma thăng đề Trung khí; A giao dưỡng huyết chỉ huyết; Ngải diệp ôn cung chỉ huyết; Ô tặc cốt cố Xung chỉ huyết. Toàn phương phát huy công năng bổ khí thăng đề, cố Xung chỉ huyết.
Nếu lượng kinh nhiều, gia Sinh mẫu lệ, Ngũ vị tử, Tông lư thán; Nếu kèm đau bụng khi hành kinh, có huyết khối, gia Tam thất, Sắc thảo căn, Huyết dư thán; nếu kiêm huyết hư, có biểu hiện hoa mắt, tâm quý, mất ngủ nhiều mộng, gia Chế Thủ ô, Long nhãn nhục, Thục địa.
Chứng hậu chính: Kinh hành kéo dài, lượng ít, sắc tươi đỏ, chất đặc; họng khô miệng khát, triều nhiệt gò má đỏ, lòng bàn tay chân nóng, đại tiện táo kết, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu: Âm hư nội nhiệt, nhiệt nhiễu Xung Nhâm khiến Xung Nhâm không kiên cố, kinh huyết không được chế ước nên hành kinh kéo dài; huyết bị nhiệt bức, sắc đỏ, chất đặc; âm hư sinh nội nhiệt, sinh triều nhiệt, tay chân nóng; nhiệt thiêu tân dịch, gây họng khô miệng khát. Lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác là dấu hiệu của hư nhiệt.
Trị pháp: Dưỡng âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Phương dược: Thanh huyết dưỡng âm thang (清血养阴汤 –《Phụ khoa lâm sàng thủ sách》).
Thành phần: Sinh địa, Đan bì, Bạch thược, Huyền sâm, Hoàng bá, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo.
Trong phương: Hoàng bá, Đan bì thanh nhiệt lương huyết; Sinh địa, Huyền sâm, Hạn liên thảo dưỡng âm lương huyết chỉ huyết; Nữ trinh tử dưỡng Thận âm; Bạch thược liễm Can âm. Toàn phương có tác dụng dưỡng âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Nếu lượng kinh quá ít, gia Nhiệt địa, Đan sâm; nếu triều nhiệt không lui, gia Bạch vi, Địa cốt bì.
III. Huyết ứ (血瘀型)
Chứng hậu chính: Kinh hành kéo dài, lượng khi nhiều khi ít, sắc tím sẫm có khối, hành kinh đau bụng dưới, không muốn ấn, lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ, mạch sáp hữu lực.
Phân tích chứng hậu: Huyết ứ trở trệ Xung Nhâm, ứ huyết không tan, tân huyết không an, nên hành kinh kéo dài, lượng không đều; huyết ứ khiến khí huyết không thông, “bất thông tắc thống”, nên đau bụng dưới, không chịu ấn nắn, có khối máu. Lưỡi tím sẫm, có ứ điểm, mạch sáp hữu lực đều là biểu hiện của huyết ứ.
Trị pháp: Hoạt huyết khử ứ, cố Xung điều kinh.
Phương dược: Tông bồ tán (棕蒲散 –《Trần Tố Am Phụ Khoa Bổ Giải》).
Thành phần: Tông lư thán, Bồ hoàng, Quy thân sao, Bạch thược sao, Xuyên khung, Sinh địa, Đan bì, Tần giao, Trạch lan, Đỗ trọng.
Trong phương: Quy thân, Xuyên khung, Trạch lan hoạt huyết khử ứ; Đan bì, Sinh địa, Bạch thược lương huyết điều âm, thanh tả huyết phần chi nhiệt; Tần giao, Đỗ trọng kiện yêu bổ Thận, cố nhiếp Xung Nhâm; Bồ hoàng thán, Tông lư thán hoạt huyết chỉ huyết. Toàn phương có tác dụng hoạt huyết khử ứ, lương huyết chỉ huyết, kinh nguyệt tự điều.
Tiết VIII – Xuất huyết kỳ giữa chu kỳ (经间期出血)
Chu kỳ kinh nguyệt cơ bản bình thường, nhưng giữa hai kỳ kinh – tức vào thời điểm “cương tổ” (rụng trứng), xuất hiện hiện tượng xuất huyết mang tính chu kỳ thì gọi là “xuất huyết kỳ giữa chu kỳ”, còn gọi là “xuất huyết giữa kinh”.Chứng này tương ứng với “xuất huyết giai đoạn rụng trứng” trong y học hiện đại. Nếu thời gian xuất huyết kéo dài, lượng huyết nhiều, không điều trị kịp thời có thể tiến triển thành băng lậu.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Giữa chu kỳ kinh còn gọi là thời kỳ “cương tổ”, là giai đoạn sinh lý khi Xung Nhâm được sung mãn, âm khí tăng trưởng, chuẩn bị từ âm vượng chuyển hóa sang dương vượng. Nếu Thận âm bất túc, Tỳ khí hư nhược, thấp nhiệt nhiễu động hoặc huyết ứ trở trệ, khiến chuyển hóa âm dương không điều hòa, sẽ phát sinh bệnh này. Thường gặp các thể: Thận âm hư, Tỳ khí hư, thấp nhiệt và huyết ứ.
Do cơ thể vốn âm hư, phòng sự hoặc sinh đẻ nhiều, làm tổn thương tinh huyết trong Thận, âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt ẩn Xung Nhâm, đến thời điểm “cương tổ”, dương khí nội động, dương thắng âm, thúc huyết chạy loạn nên gây xuất huyết; sau khi huyết ra, dương khí tản ra ngoài, âm dương lại trở về cân bằng, nên xuất huyết ngừng; đến chu kỳ sau lại tái phát.
Do lo nghĩ mệt nhọc, ăn uống thất điều, làm tổn thương Tỳ khí, Tỳ khí hư yếu, Xung Nhâm không kiên cố, đến thời điểm “cương tổ”, dương khí nội động nhưng không đủ lực để thống nhiếp huyết, khiến huyết thoát ra; âm cùng huyết ra ngoài, âm dương lại cân bằng, nên huyết ngừng, đến chu kỳ sau lại tái phát.
III. Thấp nhiệt (湿热)
Do ngoại cảm thấp nhiệt, hoặc tình chí thất điều, Can uất phạm Tỳ, sinh nội thấp, thấp nhiệt kết tụ, ẩn trú Xung Nhâm, đến thời điểm “cương tổ”, dương khí nội động, dẫn phát thấp nhiệt, thúc huyết chạy loạn mà gây xuất huyết; thấp nhiệt theo kinh huyết tiết ra ngoài, Xung Nhâm tạm yên, huyết ngừng, chu kỳ sau lại tái phát.
Do sau kỳ kinh hoặc sau sinh, huyết dư tồn đọng trong cơ thể, huyết không thoát ra mà tụ lại thành ứ; hoặc do tình chí uất kết, khí trệ huyết kết, lâu ngày sinh ứ; ứ trệ Xung Nhâm, đến kỳ “cương tổ”, dương khí nội động, kích động huyết ứ khiến huyết không theo kinh mà ra, sinh xuất huyết; ứ theo huyết thoát ra, Xung Nhâm tạm ổn, huyết ngừng, chu kỳ sau lại tái phát.
[Biện chứng luận trị]
Lấy triệu chứng xuất huyết chu kỳ ít lượng vào thời “cương tổ” làm trọng điểm biện chứng, nếu có thể phân tích chính xác thì trị liệu càng hiệu quả. Phép trị lấy điều hòa âm dương Xung Nhâm làm chủ, tùy chứng mà dùng các pháp như tư âm Thận, bổ khí Tỳ, thanh lợi thấp nhiệt hoặc tiêu ứ huyết.
Chứng hậu chính: Xuất huyết kỳ giữa chu kỳ, lượng ít, sắc tươi đỏ, chất sánh đặc, kèm hoa mắt, ù tai, đau mỏi lưng gối, lòng bàn tay chân nóng, ngủ không yên, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
Phân tích: Thận âm bất túc, nhiệt ẩn Xung Nhâm, đến thời “cương tổ”, dương khí nội động, dương thắng âm, thúc huyết xuất hành nên gây xuất huyết; âm hư nội nhiệt nên huyết ra ít, sắc đỏ tươi, chất sánh; Thận chủ cốt sinh tủy, âm hư khiến não tủy không đầy đủ sinh hoa mắt, ù tai; Thận hư khiến lưng gối không được nuôi dưỡng gây đau mỏi; âm hư sinh nội nhiệt gây nóng lòng bàn tay chân, khó ngủ. Lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác là dấu hiệu Thận âm hư.
Trị pháp: Tư Thận ích âm, cố Xung chỉ huyết.
Phương dược: Gia giảm Nhất quán tiễn (一贯煎 –《景岳全书》).
Thành phần: Sinh địa, Bạch thược, Mạch môn, Thục địa, Cam thảo, Tri mẫu, Địa cốt bì.
Trong phương: Sinh địa, Thục địa, Tri mẫu tư Thận ích âm; Địa cốt bì tả âm hỏa; Bạch thược hòa huyết liễm âm; Mạch môn dưỡng âm thanh Tâm; Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương có công dụng tư Thận ích âm, cố Xung điều kinh, giúp cầm máu.
Nếu hoa mắt ù tai rõ: gia Trân châu mẫu, Sinh mẫu lệ; ngủ không yên: gia Viễn chí, Dạ giao đằng; trong thời kỳ xuất huyết: gia Hạn liên thảo, Sao Địa du, Tam thất.
Chứng hậu chính: Xuất huyết kỳ giữa chu kỳ, lượng ít, sắc nhạt, chất loãng, thần mệt người yếu, hơi thở ngắn, lời nói ít, ăn kém, bụng đầy, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược.
Phân tích: Tỳ khí hư yếu khiến Xung Nhâm không kiên cố, đến thời “cương tổ” dương khí nội động, không đủ thống nhiếp khí huyết nên xuất huyết; Tỳ hư khiến nguồn sinh hóa không đủ, huyết ít, sắc nhạt, loãng; Tỳ dương không vượng gây thần mệt, khí đoản; vận hóa kém nên ăn ít, bụng đầy. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược là biểu hiện Tỳ khí hư.
Trị pháp: Kiện Tỳ ích khí, cố Xung nhiếp huyết.
Phương dược: Quy Tỳ thang (归脾汤).
(Thành phần của phương này gồm: Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Long nhãn nhục, Đương quy, Viễn chí, Mộc hương, Táo nhân, Sinh khương, Đại táo – giúp kiện Tỳ ích khí, bổ huyết dưỡng tâm, cố Xung chỉ huyết.)
III. Thể thấp nhiệt (湿热型)
Chứng hậu chính: Xuất huyết kỳ giữa chu kỳ, huyết sắc đỏ sẫm, chất sánh đặc, thường có khí hư nhiều, màu vàng, bụng dưới đau từng cơn, phiền táo khát nước, miệng đắng họng khô, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phân tích: Thấp nhiệt uẩn kết bên trong, đến kỳ “cương tổ” dương khí nội động, dẫn động thấp nhiệt, tổn thương Xung Nhâm, thúc huyết chạy loạn nên gây xuất huyết; thấp nhiệt kết hợp với huyết gây ngưng trệ nên huyết có sắc đỏ sẫm, chất đặc; thấp nhiệt tụ lại gây trở trệ không thông làm bụng dưới đau; thấp nhiệt đi xuống tiêu, đới mạch không điều, nên khí hư nhiều, màu vàng; thấp nhiệt bốc lên gây miệng đắng họng khô, phiền khát. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác là dấu hiệu của thấp nhiệt.
Trị pháp: Thanh nhiệt trừ thấp, lương huyết chỉ huyết.
Phương dược: Thanh can chỉ lâm thang (清肝止淋汤 – theo 《傅青主女科》) bỏ A giao, đại táo, gia Phục linh, sao Địa du.
Thành phần: Bạch thược, Sinh địa, Đương quy, A giao, Đan bì, Hoàng bá, Ngưu tất, Hương phụ, Đại táo, Tiểu hắc đậu.
Trong phương: Hoàng bá, hắc đậu, Phục linh thanh nhiệt giải độc, lợi thủy trừ thấp; Hương phụ, Đan bì, Ngưu tất lý khí hoạt huyết, chỉ thống; Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết nhu can, hoãn cấp chỉ thống; Sinh địa, sao Địa du lương huyết chỉ huyết. Toàn phương cùng có tác dụng thanh nhiệt trừ thấp, lương huyết chỉ huyết.
Nếu trong thời kỳ xuất huyết: bỏ Đương quy, Hương phụ, Ngưu tất, gia Tiền thảo căn, Ô tặc cốt; khí hư nhiều: gia Mã xỉ hiện, Thổ phục linh; chán ăn hoặc bụng đầy sau ăn: bỏ Sinh địa, Bạch thược, gia Hậu phác, Mạch nha; đại tiện không thông: bỏ Đương quy, Sinh địa, gia Ý dĩ nhân, Bạch biển đậu.
Chứng hậu chính: Xuất huyết kỳ giữa chu kỳ, huyết có màu tím sẫm, lẫn máu cục, bụng dưới đau không chịu được ấn, tình chí uất kết, lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ, mạch sáp hữu lực.
Phân tích: Huyết ứ trở trệ Xung Nhâm, đến kỳ “cương tổ” dương khí nội động, thúc động huyết ứ khiến huyết không theo kinh mà chảy, huyết sắc tím sẫm, lẫn cục; ứ trệ mạch bào gây đau bụng dưới khó ấn; huyết ứ nội trở khí cơ bất thông nên sinh tình chí uất. Lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch sáp hữu lực là biểu hiện của huyết ứ.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, lý huyết quy kinh.
Phương dược: Trục ứ chỉ huyết thang (逐瘀止血汤 – theo 《傅青主女科》).
Thành phần: Đại hoàng, Sinh địa, Đương quy vĩ, Xích thược, Đan bì, Chỉ xác, Quy bản, Đào nhân.
Trong phương: Đào nhân, Đại hoàng, Xích thược, Đan bì, Quy vĩ hoạt huyết hóa ứ, dẫn huyết quy kinh; Chỉ xác lý khí hành trệ; Sinh địa, Quy bản dưỡng âm ích Thận, cố Xung chỉ huyết. Toàn phương có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, lý khí quy kinh.
Nếu đang xuất huyết: bỏ Xích thược, Đương quy vĩ, gia Tam thất, Sao Phổ hoàng; đau bụng dữ dội: gia Diên hồ sách, Hương phụ; kèm nhiệt: gia Hoàng bá, Tri mẫu.
Tiết IX – Băng lậu (崩漏)
Phụ nữ ngoài kỳ kinh mà âm đạo đột ngột xuất huyết nhiều hoặc ra huyết kéo dài không dứt gọi là “băng lậu”, trường hợp thứ nhất gọi là “băng trung”, trường hợp thứ hai gọi là “lậu hạ”. Nếu kinh kéo dài trên 2 tuần thì quy vào phạm trù “băng lậu”, còn gọi là “kinh băng” hoặc “kinh lậu”.
Thông thường, xuất huyết đột ngột, dữ dội, lượng nhiều gọi là “băng”; ra huyết lắt nhắt, kéo dài, lượng ít gọi là “lậu”. Tuy hình thức xuất huyết khác nhau, nhưng cơ chế bệnh lý đều giống nhau. Trong diễn tiến bệnh, băng và lậu có thể chuyển hóa lẫn nhau: huyết băng lâu ngày làm tổn thương khí huyết thành lậu; lậu kéo dài không dứt cũng có thể trở thành băng, nên lâm sàng thường gọi chung là “băng lậu”. Như sách 《Tế sinh phương》viết: “Chứng băng lậu vốn là một, nhẹ gọi là lậu hạ, nặng gọi là băng trung.” Đây là bệnh thường gặp, dễ chuyển hóa qua lại, dây dưa khó dứt, là chứng khó trị trong phụ khoa. Tương đương với chứng “xuất huyết tử cung cơ năng không phóng noãn” trong y học hiện đại. Các chứng xuất huyết âm đạo bất thường do viêm nhiễm hoặc u bướu sinh dục cũng có thể tham khảo phương pháp biện chứng luận trị của chứng này.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Chủ yếu do tổn thương Xung Nhâm, không thể nhiếp huyết. Nguyên nhân gây Xung Nhâm bất cố thường gặp có: Thận hư, Tỳ hư, Huyết nhiệt, Huyết ứ.
Do tiên thiên Thận khí bất túc, thiếu nữ Thận khí chưa vượng, phụ nữ tiền mãn kinh Thận khí suy yếu, hoặc do kết hôn sớm, sinh đẻ nhiều, phòng sự không điều độ làm tổn thương Thận khí, nếu hao tổn tinh huyết thì Thận âm hư suy, âm hư nội nhiệt, nhiệt ẩn Xung Nhâm, thúc huyết chạy loạn gây băng lậu; hoặc Mệnh môn hỏa suy, Thận dương hư tổn, bế tàng thất chức, Xung Nhâm bất cố cũng gây huyết ra không đúng thời, dẫn đến băng lậu.
Do lo nghĩ quá độ, ăn uống mệt nhọc tổn thương Tỳ khí, khiến Trung khí hạ hãm, Xung Nhâm bất cố, huyết thất thống nhiếp, ra không đúng thời gây nên băng lậu.
III. Huyết nhiệt (血热)
Do thể chất dương thịnh, hoặc tình chí không điều, Can uất hóa hỏa, hoặc cảm nhiệt tà, hoặc ăn nhiều đồ cay nóng trợ dương, khiến hỏa nhiệt vượng, nhiệt thương Xung Nhâm, thúc huyết chạy loạn, ra không đúng thời mà thành băng lậu.
Do thất tình nội thương khiến khí trệ huyết ứ, hoặc cảm phải tà khí hàn, nhiệt làm cho hàn ngưng hoặc nhiệt bức gây ứ, dẫn đến huyết ứ trở ngại Xung Nhâm, huyết không đi theo kinh lộ, ra không đúng kỳ, phát thành băng lậu.
[Biện chứng luận trị]
Băng lậu lấy hiện tượng xuất huyết âm đạo không theo chu kỳ làm trọng điểm biện chứng. Lâm sàng cần kết hợp với lượng huyết, màu sắc, tính chất và các triệu chứng toàn thân để phân biệt hàn – nhiệt – hư – thực. Việc điều trị cần dựa theo nguyên tắc “cấp thì trị tiêu, hoãn thì trị bản”, linh hoạt vận dụng ba pháp: Tắc lưu (塞流), Trừng nguyên (澄源), Phục cựu (复旧). Tắc lưu (塞流): Tức là cầm máu. Băng lậu chủ yếu là chứng thất huyết, nên cầm máu là biện pháp cấp thiết hàng đầu. Khi áp dụng cần chú ý khác biệt giữa băng và lậu:
Trị băng nên chú trọng cố nhiếp, thăng đề, không nên dùng thuốc cay nóng hành huyết để tránh làm tổn thương âm gây vong dương. Trị lậu nên dưỡng huyết hành khí, không thiên về cố sáp để tránh huyết ngưng thành ứ. Các thuốc cầm máu có thể chọn như Thập hôi tán, Vân Nam bạch dược, Tử địa ninh huyết tán…
Trừng nguyên (澄源): Tức là trị gốc cầu nguyên. Vì băng lậu do nhiều nguyên nhân gây ra, nên cần căn cứ vào nguyên nhân cụ thể để điều trị tận gốc bằng cách: bổ thận, kiện tỳ, thanh nhiệt, lý khí, hóa ứ… Phép tắc lưu và trừng nguyên thường được phối hợp đồng thời.
Phục cựu (复旧): Tức là điều dưỡng sau cầm máu. Sau khi huyết đã ngừng, nên điều lý Tỳ Thận để hồi phục. Các danh y qua các thời kỳ đều nhấn mạnh sau băng lậu cần điều dưỡng Tỳ Vị, sinh hóa khí huyết. Gần đây, nhiều nghiên cứu cũng khẳng định: bổ ích Thận khí, khôi phục chu kỳ kinh là then chốt để điều trị triệt để chứng này. “Kinh thủy xuất chư Thận”, Thận khí thịnh thì kinh nguyệt mới đến đúng kỳ, với người thể hư ở tuổi dậy thì hoặc đang độ sinh sản, bổ Thận điều kinh lại càng quan trọng. Đương nhiên, phục cựu cũng cần kết hợp với trừng nguyên.
Tóm lại: Tắc lưu, trừng nguyên, phục cựu tuy có phân biệt, nhưng có liên hệ nội tại, cần linh hoạt phối hợp theo từng trường hợp cụ thể.
(1) Chứng Thận âm hư (肾阴虚证)
Chứng hậu chính: Kinh huyết ra không đúng kỳ, lượng ít hoặc nhiều, rỉ rả không dứt, huyết sắc tươi đỏ, chất sánh đặc; kèm theo chóng mặt, ù tai, lưng đau gối mỏi, lòng bàn tay chân nóng, gò má đỏ, môi đỏ, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
Phân tích: Thận âm hư, hư hỏa bốc lên, nhiệt ẩn trong Xung Nhâm, thúc huyết chạy loạn, nên kinh huyết ra không đúng kỳ, lượng nhiều hoặc ít, rỉ rả liên tục; âm hư nội nhiệt nên huyết sắc đỏ tươi, chất sánh; Thận âm không đủ, tinh huyết suy thiếu không nuôi dưỡng được khiếu trên, gây chóng mặt ù tai; tinh huyết không đủ, ngoại phủ không được nhu dưỡng, sinh ra lưng đau gối mỏi; âm hư nội nhiệt khiến tay chân nóng; hư nhiệt thượng bốc khiến má đỏ môi đỏ. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác là dấu hiệu của Thận âm hư.
Phép trị: Tư bổ Thận âm, cố Xung chỉ huyết.
Phương dược: Tả Quy hoàn (左归丸 – 《景岳全书》), bỏ Xuyên Ngưu tất, thêm Hạn liên thảo, sao Địa du.
Thành phần: Thục địa, Sơn dược, Kỷ tử, Sơn thù du, Thỏ ty tử, Lộc giác giao, Quy bản giao, (thay Xuyên Ngưu tất bằng Hạn liên thảo, sao Địa du).
Thục địa, Kỷ tử, Sơn thù du: tư âm bổ Thận, sinh tinh dưỡng huyết.
Sơn dược, Thỏ ty tử: bổ Thận dương sinh tinh khí, có nghĩa sinh dương dưỡng âm.
Quy bản giao, Hạn liên thảo, sao Địa du: tư âm lương huyết, chỉ huyết.
Toàn phương có tác dụng tư bổ Thận âm, cố Xung chỉ huyết.
Nếu âm hư kèm nhiệt: gia Sinh địa, Mạch môn, Địa cốt bì.
Phương khác: Dục âm thang (育阴汤 – 《百灵妇科》).
Thành phần: Thục địa, Sơn dược, Tục đoạn, Tang ký sinh, Sơn thù du, Hải phiêu tiêu, Quy bản, Mẫu lệ, Bạch thược, A giao, sao Địa du.
Thục địa, Sơn thù du, Tục đoạn, Tang ký sinh: bổ Thận ích tinh.
Quy bản, Mẫu lệ, Hải phiêu tiêu: dưỡng Thận âm, cố Xung Nhâm, sáp tinh chỉ huyết.
Sơn dược: bổ Tỳ âm,
Bạch thược: liễm Can âm,
A giao: dưỡng huyết tư âm, chỉ huyết.
Địa du: lương huyết chỉ huyết.
Toàn phương vừa bổ Thận dưỡng âm, vừa cố Xung chỉ huyết.
(2) Chứng Thận dương hư (肾阳虚证)
Chứng hậu chính: Kinh huyết ra không đúng kỳ, lượng nhiều, rỉ rả không dứt, huyết sắc nhạt, chất loãng; lưng đau như gãy, sợ lạnh tay chân lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng nát, sắc mặt ám tối, lưỡi nhạt sẫm, rêu mỏng trắng, mạch trầm nhược.
Phân tích: Thận dương suy yếu, Xung Nhâm bất cố, huyết thất nhiếp tàng, nên kinh loạn vô kỳ, lượng nhiều, rỉ rả không dứt; Thận dương không đủ, huyết thiếu ôn dưỡng nên sắc nhạt chất loãng; Thận dương suy, ngoại phủ mất nuôi dưỡng nên lưng đau, sợ lạnh tay chân lạnh; Bàng quang không ôn hóa gây tiểu trong dài; Thận dương không ôn được Tỳ Thổ nên đại tiện lỏng nát. Sắc mặt ám, lưỡi nhạt sẫm, rêu mỏng trắng, mạch trầm nhược đều là biểu hiện Thận dương hư.
Phép trị: Ôn Thận trợ dương, cố Xung chỉ huyết.
Phương dược: Đại bổ nguyên tiễn (大补元煎).
Gia giảm: thêm Bổ cốt chỉ, Lộc giác giao, Ngải diệp thán.
Ôn Thận trợ dương: Bổ cốt chỉ, Lộc giác giao
Ôn kinh chỉ huyết: Ngải diệp thán
II、Thể Tỳ hư (脾虚型)
Chủ yếu chứng hậu: Kinh huyết ra không đúng kỳ, lượng nhiều như băng, hoặc rỉ rả không dứt, sắc nhạt chất loãng, tinh thần mệt mỏi, tay chân rã rời, đoản khí lười nói, ăn uống kém, tứ chi không ấm, hoặc mặt phù chân tay phù, sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt bệu, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng hậu: Tỳ khí hư hãm, Xung Nhâm không vững, huyết mất thống nhiếp nên kinh huyết ra không đúng kỳ, lượng nhiều như băng hoặc rỉ rả không dứt; Tỳ hư, khí huyết sinh hóa không đủ, nên kinh sắc nhạt chất loãng; Trung khí bất túc, sinh ra thần mệt, thể nhược, đoản khí lười nói; Tỳ chủ tứ chi, tỳ hư thì tứ chi không được ôn dưỡng, nên tay chân không ấm; Trung dương bất chấn, vận hóa thất chức nên ăn uống kém; Tỳ vận hóa kém, thủy thấp nội đình, tràn ra da thịt nên mặt phù chân tay phù. Mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt bệu, rêu mỏng trắng, mạch hoãn nhược đều là biểu hiện của tỳ hư.
Nguyên tắc điều trị: Kiện tỳ ích khí, cố xung chỉ huyết.
Phương dược : Cố Xung thang (《Y học trung trung tham tây lục》):
Bạch truật, Hoàng kỳ, Đoạn long cốt, Đoạn mẫu lệ, Sơn thù du, Bạch thược, Hải tiêu tiêu, Tiễn thảo căn, Tông thán, Ngũ bội tử
→ Hoàng kỳ, Bạch truật kiện tỳ ích khí để nhiếp huyết; Long cốt, Mẫu lệ, Hải tiêu tiêu cố nhiếp Xung Nhâm; Sơn thù du, Bạch thược ích thận dưỡng huyết, toan thu chỉ huyết; Ngũ bội tử, Tông thán sáp huyết chỉ huyết; Tiễn thảo căn hoạt huyết chỉ huyết mà không lưu ứ. Toàn phương đạt hiệu quả kiện tỳ ích khí, cố xung chỉ huyết.
Biến hóa lâm sàng:
Nếu lượng huyết ra nhiều, gia Nhân sâm, Thăng ma.
Nếu huyết rỉ lâu không dứt, gia Ngẫu tiết, Sao Phổ hoàng.
Nếu xuất huyết nhiều, kèm tứ chi lạnh, ra mồ hôi, hôn mê bất tỉnh, mạch vi tế dục tuyệt là khí tùy huyết thoát, cần cấp cứu bằng bổ khí cố thoát, dùng Độc sâm thang (《Cảnh Nhạc toàn thư》):
Nhân sâm 25g, sắc nước lấy nước đặc uống ngay, thuốc còn lại sắc tiếp uống tiếp.
Hoặc dùng Sinh mạch tán (《Nội ngoại thương biện hoặc luận》) để cứu trị, ích khí sinh tân, liễm âm chỉ hãn cố thoát:
Nhân sâm, Mạch đông, Ngũ vị tử
Nếu xuất hiện tứ chi quyết nghịch, mồ hôi lạnh như tắm là biểu hiện vong dương, nên hồi dương cố thoát, dùng Sâm phụ thang (《Hiệu chú phụ nhân lương phương》): Nhân sâm, Phụ tử, Sinh khương, Đại táo
III、Thể Huyết nhiệt (血热型)
Chủ yếu chứng hậu: Kinh huyết ra không đúng kỳ, lượng nhiều như băng hoặc rỉ rả không dứt, huyết sắc đỏ sẫm, chất đặc, tâm phiền mất ngủ, khát thích uống lạnh, chóng mặt mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Phân tích chứng hậu: Nhiệt thương Xung Nhâm, bức huyết vọng hành nên kinh huyết ra không đúng kỳ, lượng nhiều như băng hoặc rỉ rả không dứt; Huyết bị nhiệt đốt, nên sắc đỏ sẫm, chất đặc; Tà nhiệt bốc thịnh, tân dịch hao tổn, nên khát thích uống; Nhiệt nhiễu tâm thần, nên tâm phiền mất ngủ; Tà nhiệt nhiễu lên, nên chóng mặt mặt đỏ. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác là dấu hiệu của huyết nhiệt.
Nguyên tắc điều trị: Thanh nhiệt lương huyết, cố xung chỉ huyết.
Phương dược ví dụ: Thanh nhiệt cố kinh thang (《Giản minh Trung y phụ khoa học》):Sinh địa, Địa cốt bì, Chích quy bản, Mẫu lệ phấn, A giao, Hoàng cầm, Ngẫu tiết, Trần tông thán, Cam thảo, Tiêu Chi tử, Địa du
→ Hoàng cầm, Địa cốt bì, Sinh địa, A giao thanh nhiệt lương huyết, ích âm; Quy bản, Mẫu lệ dưỡng âm tiềm dương, cố nhiếp Xung Nhâm; Tiêu Chi tử, Địa du thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết; Ngẫu tiết, Tông thán sáp huyết chỉ huyết; Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương đạt hiệu quả thanh nhiệt lương huyết, cố xung chỉ huyết.
Nếu can uất hóa hỏa, kèm đau tức ngực sườn vú, tâm phiền dễ giận, hay thở dài, mạch huyền sác, nên bình can thanh nhiệt chỉ huyết. Dùng Đan Chi Tiêu Dao tán gia Giấm sao Hương phụ, Phổ hoàng thán, Huyết dư thán để điều khí lý huyết chỉ huyết.
IV、Thể Huyết ứ (血瘀型)
Chứng hậu chủ yếu : Kinh huyết ra không đúng kỳ, lượng nhiều hoặc ít, rỉ rả không sạch, huyết sắc tím sẫm có cục, đau bụng dưới không chịu ấn, lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ, mạch sáp hoặc huyền sáp hữu lực.
Phân tích chứng hậu: Ứ trệ Xung Nhâm, huyết không tuần kinh, nên kinh huyết ra không đúng kỳ, lượng nhiều hoặc ít, rỉ rả không dứt; Xung Nhâm trở trệ, huyết hành không thông nên huyết sắc tím sẫm có cục; “Bất thông tắc thống” nên bụng dưới đau không chịu ấn. Lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ, mạch sáp hoặc huyền sáp hữu lực là biểu hiện huyết ứ.
Nguyên tắc điều trị: Hoạt huyết khứ ứ, cố xung chỉ huyết.
Phương dược : Trục ứ chỉ băng thang (《An Huy Trung y nghiệm phương tuyển tập》):
Đương quy, Xuyên khung, Tam thất, Một dược, Ngũ linh chi, Đan bì thán, Sao Đan sâm, Sao Ngải diệp, A giao (sao với Phổ hoàng), Long cốt, Mẫu lệ, Ô tặc cốt
→ Một dược, Ngũ linh chi hoạt huyết khứ ứ chỉ thống; Tam thất, Đan bì thán, Sao Đan sâm hoạt huyết hóa ứ chỉ huyết; Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết hoạt huyết; A giao, Sao Ngải diệp dưỡng huyết chỉ huyết; Ô tặc cốt, Long cốt, Mẫu lệ cố sáp chỉ huyết.
Tiết X – Bế kinh (闭经)
Nữ giới trên 18 tuổi mà kinh nguyệt vẫn chưa xuất hiện, hoặc kinh nguyệt từng xuất hiện nhưng sau đó lại gián đoạn từ 6 tháng trở lên, gọi là “bế kinh”. Trường hợp đầu gọi là “bế kinh nguyên phát”, trường hợp sau gọi là “bế kinh thứ phát”. Cổ nhân còn gọi là “nữ tử bất nguyệt”, “nguyệt sự bất lai”, “kinh thủy bất thông”, “bế kinh”… Việc kinh nguyệt dừng lại trong thai kỳ, thời kỳ cho con bú, hoặc giai đoạn mãn kinh đều thuộc hiện tượng sinh lý, không được xem là chứng bế kinh. Một số thiếu nữ trong vòng 2 năm sau khi có kinh lần đầu có thể xuất hiện tình trạng dừng kinh tạm thời, thường không cần điều trị.
Bệnh này thuộc loại khó điều trị, diễn biến dài, hiệu quả kém, vì vậy khi cần thiết nên áp dụng nhiều biện pháp phối hợp để nâng cao hiệu quả. Những trường hợp không có kinh do thiếu cơ quan sinh dục bẩm sinh hoặc do tổn thương thực thể nặng, thuốc khó có tác dụng, không thuộc phạm vi bàn luận của tiết này.
[Bệnh nhân và cơ chế bệnh sinh]
Cơ chế chủ yếu là do khí huyết Xung Nhâm mất điều hòa, có thể do hư hoặc thực. Hư là do Xung Nhâm suy bại, nguồn cạn dòng ngừng; thực là do tà khí bế tắc Xung Nhâm, kinh huyết không thông. Nguyên nhân dẫn đến bế kinh rất phức tạp, có thể là do bẩm sinh, cũng có thể là do hậu thiên, có trường hợp từ kinh nguyệt không đều mà phát triển thành, cũng có trường hợp do bệnh khác dẫn đến bế kinh. Các thể thường gặp gồm: thận hư, tỳ hư, huyết hư, khí trệ huyết ứ, hàn ngưng huyết ứ, đàm thấp trở trệ.
I, Thận hư
Do tiên thiên bất túc, thiếu nữ thận khí chưa đầy, tinh khí chưa thịnh, hoặc do phòng lao đa sản, bệnh lâu tổn thương thận, dẫn đến thận tinh hao tổn, khí huyết Xung Nhâm bất túc, huyết hải không đầy tràn, từ đó gây nên bế kinh.
II, Tỳ hư
Do ăn uống thất thường, tư lự lao lực quá độ, tổn thương tỳ khí, nguồn sinh khí huyết không đủ, khí huyết Xung Nhâm bất túc, huyết hải không thể đầy, từ đó dẫn đến bế kinh.
III, Huyết hư
Do thể chất vốn huyết hư, hoặc nhiều lần bị tổn huyết, hoặc bệnh nặng lâu ngày làm hao tổn doanh huyết, khiến Xung Nhâm thiếu huyết, huyết hải không đầy, nên kinh nguyệt dừng lại.
IV, Khí trệ huyết ứ
Do thất tình nội thương, tính tình u uất hoặc giận dữ quá độ, khiến khí trệ huyết ứ, huyết ứ trở trệ Xung Nhâm, khí huyết không lưu thông, huyết hải không đầy, dẫn đến bế kinh.
V, Hàn ngưng huyết ứ
Trong lúc có thai hoặc sau sinh, huyết thất đang mở, ăn phải đồ sống lạnh hoặc nhiễm hàn khí qua việc dầm nước, tà hàn xâm nhập Xung Nhâm, huyết gặp hàn ngưng tụ thành ứ, trở trệ Xung Nhâm, khí huyết vận hành bị cản trở, huyết hải không đầy, gây nên bế kinh.
VI, Đàm thấp trở trệ
Thể chất béo, đàm thấp nội thịnh, hoặc tỳ mất kiện vận, sinh đàm thấp nội sinh, đàm thấp và chất béo bế tắc Xung Nhâm, cản trở khí huyết vận hành, huyết hải không đầy, nên gây bế kinh.
[Biện chứng luận trị]
Sau khi chẩn đoán xác định là bế kinh, cần phân biệt do bệnh kinh hay do bệnh khác gây nên. Nếu do bệnh khác thì cần điều trị bệnh gốc trước rồi mới điều kinh.
Biện chứng trọng ở phân rõ hư – thực hoặc hư thực hỗn tạp. Nguyên tắc điều trị:
Thể hư: bổ thận tư âm, hoặc bổ tỳ ích khí, hoặc bổ huyết dưỡng âm để dưỡng nguồn sinh kinh huyết.
Thể thực: hành khí hoạt huyết, hoặc ôn kinh thông mạch, hoặc khu tà hành trệ để thông suốt Xung Nhâm.
Bệnh này phần nhiều là hư chứng, ít khi là thực chứng, tuyệt đối không được tùy tiện dùng pháp công phá mà phạm vào sai lầm “hư hư thực thực”.
I, Thể Thận hư
(1) Chứng Thận khí hư
Chủ chứng: Kinh nguyệt đến muộn lúc mới có kinh, hoặc kỳ kinh sau lùi dần, lượng ít, dần đến bế kinh; chóng mặt, ù tai, đau lưng mỏi gối, tiểu tiện nhiều lần, giảm ham muốn tình dục, lưỡi nhạt đỏ, rêu mỏng trắng, mạch trầm tế.
Phân tích: Thận khí bất túc, tinh huyết suy thiểu, Xung Nhâm khí huyết hư suy, huyết hải không đầy nên kinh đến muộn, kỳ sau lùi dần, lượng ít, đến bế kinh; thận hư không sinh được tinh huyết, não hải và lưng không được dưỡng nên chóng mặt, ù tai, đau lưng mỏi gối; thận khí hư, dương khí không đủ nên giảm ham muốn; thận không ôn hóa bàng quang nên tiểu tiện nhiều. Lưỡi nhạt đỏ, rêu mỏng trắng, mạch trầm tế cũng là dấu hiệu của thận khí hư.
Phép trị: Bổ thận ích khí, dưỡng huyết điều kinh.
Phương dược: Đại bổ nguyên tiễn gia Đan sâm, Ngưu tất
→ Nếu bế kinh đã lâu, sợ lạnh, tay chân lạnh nhiều: gia Thỏ ty tử, Nhục quế, Tử hà xa
→ Nếu tiểu đêm nhiều: gia Kim anh tử, Phúc bồn tử
(2) Chứng Thận âm hư
Chủ chứng: Kinh nguyệt đến muộn lúc mới có kinh, hoặc kỳ sau lùi dần, lượng ít, dần đến bế kinh; chóng mặt, ù tai, đau lưng mỏi gối, hoặc đau gót chân, nóng lòng bàn tay chân, nặng thì có triều nhiệt, đạo hãn, tâm phiền, mất ngủ, gò má đỏ, môi đỏ, lưỡi đỏ, rêu ít hoặc không có, mạch tế sác.
Phân tích: Thận âm bất túc, tinh huyết khuy tổn, Xung Nhâm khí huyết thiếu, huyết hải không đầy nên kinh đến muộn, kỳ sau lượng ít, dần đến bế kinh; tinh huyết không dưỡng được khiếu trên nên chóng mặt ù tai, không dưỡng được phủ ngoài nên đau lưng gối, đau gót; âm hư nội nhiệt nên nóng tay chân; nhiệt tiêu âm dịch nên triều nhiệt đạo hãn; hư nhiệt nhiễu tâm nên phiền táo mất ngủ; hư nhiệt thượng xung nên gò má đỏ, môi đỏ. Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không rêu, mạch tế sác là dấu hiệu thận âm hư.
Phép trị: Tư thận ích âm, dưỡng huyết điều kinh.
Phương dược: Tả quy hoàn
→ Nếu có triều nhiệt đạo hãn: gia Thanh hao, Bạch tật lê, Địa cốt bì
→ Nếu tâm phiền mất ngủ: gia Bá tử nhân, Đan sâm, Trân châu mẫu
→ Nếu âm hư phế táo, ho ra máu: gia Bạch cập, Tiên hạc thảo
Dưới đây là bản dịch tiếng Việt giữ nguyên thuật ngữ Hán – Việt, phương dược trình bày hàng ngang:
(3) Chứng Thận dương hư
Chủ chứng: Kinh nguyệt đến muộn lúc mới có kinh, hoặc kỳ kinh sau lùi dần, lượng ít, dần đến kinh bế; chóng mặt, ù tai, đau lưng như gãy, sợ lạnh tay chân lạnh, tiểu trong dài, tiểu đêm nhiều, đại tiện loãng, sắc mặt tối sạm, hoặc quầng mắt sẫm đen, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược.
Phân tích: Thận dương hư suy, tạng phủ không được ôn dưỡng, nguồn sinh tinh huyết bất túc, khí huyết Xung Nhâm không đủ, huyết hải không đầy tràn nên kinh đến muộn, kỳ sau ít dần, đến kinh bế; thận dương không đủ, dương khí không phát tán nên người lạnh tay chân lạnh; thận dương hư, không ôn dưỡng được não hải và phủ ngoài nên chóng mặt ù tai, đau lưng như gãy; thận dương hư, khí hóa bàng quang thất thường nên tiểu trong dài, tiểu đêm nhiều; thận không ôn vận được tỳ dương, vận hóa kém nên đại tiện loãng; thận chủ màu đen, thận dương hư nên mặt sạm, mắt đen. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược là đặc trưng của thận dương hư.
Trị pháp: Ôn thận trợ dương, dưỡng huyết điều kinh.
Phương dược : Thập bổ hoàn (《Tế sinh phương》)
Thục địa, Sơn dược, Sơn thù du, Trạch tả, Phục linh, Đan bì, Nhục quế, Ngũ vị tử, Pháo phụ tử, Lộc nhung
→ Lộc nhung, Pháo phụ tử, Nhục quế ôn thận tráng dương, điền tinh dưỡng huyết; Thục địa, Sơn thù du bổ thận ích tinh huyết, Sơn dược giúp sinh hóa khí huyết; Trạch tả, Phục linh thẩm thấp lợi thủy; Đan bì thanh tiết hư hỏa, phối hợp thuốc ôn thận mà không gây ngưng trệ hay táo nhiệt; Ngũ vị tử giúp Nhục quế dẫn hỏa quy nguyên, nạp khí quy thận. Toàn phương ôn thận trợ dương, tư dưỡng tinh huyết, thận khí vượng thì Nhâm Xung đầy, kinh nguyệt tự điều.
II, Thể Tỳ hư
Chủ chứng: Kinh nguyệt ngưng nhiều tháng, tay chân mệt mỏi, tinh thần uể oải, ăn kém, bụng trướng đầy, đại tiện loãng, sắc mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt bệu có dấu răng, rêu trắng nhớt, mạch hoãn nhược.
Phân tích: Tỳ hư khiến nguồn sinh hóa khí huyết không đủ, khí huyết Xung Nhâm bất túc, huyết hải không đầy, nên kinh nguyệt ngừng lâu; Tỳ hư vận hóa kém, thấp trọc nội sinh, nên ăn uống kém, bụng đầy trướng, đại tiện loãng; Tỳ chủ tứ chi, trung khí bất túc nên tay chân mệt mỏi, tinh thần yếu đuối. Lưỡi nhạt bệu có dấu răng, rêu trắng nhớt, mạch hoãn nhược đều là biểu hiện của tỳ hư.
Trị pháp: Kiện tỳ ích khí, dưỡng huyết điều kinh.
Phương dược : Sâm linh bạch truật tán (《Hòa tễ cục phương》) gia Đương quy, Ngưu tất
Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Bạch biển đậu, Cam thảo, Sơn dược, Liên tử nhục, Cát cánh, Ý dĩ nhân, Sa nhân
III, Thể Huyết hư
Chủ chứng: Kinh nguyệt dừng nhiều tháng, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp lo âu, ít ngủ nhiều mộng, da không nhuận, mặt vàng nhạt, lưỡi nhạt, ít rêu, mạch tế.
Phân tích: Dinh huyết hư tổn, khí huyết Xung Nhâm suy yếu, huyết hải không đầy nên kinh nguyệt dừng lại; huyết hư không dưỡng được não tủy và khiếu trên nên chóng mặt hoa mắt; huyết hư không dưỡng tâm thần nên hồi hộp lo âu, mất ngủ, hay mộng; huyết hư không nuôi dưỡng bì phu nên da khô, sắc mặt vàng nhạt. Lưỡi nhạt, ít rêu, mạch tế đều là dấu hiệu huyết hư.
Trị pháp: Bổ huyết dưỡng huyết, hoạt huyết điều kinh.
Phương dược : Tiểu doanh tiễn (《Cảnh Nhạc toàn thư》) gia Kê nội kim, Kê huyết đằng
Đương quy, Thục địa, Bạch thược, Sơn dược, Câu kỷ tử, Chích cam thảo
→ Thục địa, Câu kỷ tử, Bạch thược điền tinh dưỡng huyết; Sơn dược, Kê nội kim, Chích cam thảo kiện tỳ sinh huyết; Đương quy, Kê huyết đằng bổ huyết hoạt huyết điều kinh. Toàn phương lấy dưỡng huyết làm chủ, kiêm hoạt huyết thông lạc.
Nếu huyết hư lâu ngày, dần đến âm hư huyết khô gây kinh bế, biểu hiện: kinh dừng, cơ thể gầy sút, cốt chưng triều nhiệt, hoặc ho ra máu, gò má đỏ, lưỡi đỏ sẫm, rêu ít hoặc không có, mạch tế sác. Trị pháp: tư thận dưỡng huyết, tráng thủy chế hỏa.
Phương dược : Bổ thận địa hoàng thang (《Trần Tố Am phụ khoa bổ giải》)
Thục địa, Mạch đông, Tri mẫu, Hoàng bá, Trạch tả, Sơn dược, Viễn chí, Phục thần, Đan bì, Táo nhân, Huyền sâm, Tang phiêu tiêu, Trúc diệp, Quy bản, Sơn thù du
→ Biến hóa từ Tri bá địa hoàng hoàn để tư thận âm, tả tướng hỏa; phối Huyền sâm, Quy bản, Tang phiêu tiêu tư âm tiềm dương; Trúc diệp, Mạch đông thanh tâm hỏa; Viễn chí, Táo nhân an thần, khiến tâm khí giáng hạ, mạch Xung lưu thông, kinh nguyệt tự đến.
Nếu bạn cần dịch tiếp các thể bệnh như “Khí trệ huyết ứ”, “Hàn ngưng huyết ứ”, “Đàm thấp trở trệ”, xin vui lòng gửi phần kế tiếp.
Dưới đây là bản dịch tiếng Việt đầy đủ, giữ nguyên thuật ngữ Hán – Việt, phương dược trình bày hàng ngang:
IV, Thể Khí trệ huyết ứ
Chủ chứng: Kinh nguyệt dừng nhiều tháng, bụng dưới trướng đau không chịu ấn; tinh thần u uất, phiền táo dễ cáu giận, ngực sườn đầy tức, ợ hơi thở dài; lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ, mạch trầm huyền hoặc sáp mà có lực.
Phân tích: Khí cơ uất trệ, khí trệ huyết ứ, huyết ứ trở ngại Xung Nhâm, huyết hải không đầy, nên kinh nguyệt ngừng; huyết ứ cản trở mạch Bào, nên bụng dưới trướng đau không chịu ấn; khí cơ không thông, nên u uất, phiền táo, ngực sườn đầy tức, ợ hơi thở dài. Lưỡi tím sẫm, có điểm ứ, mạch trầm huyền hoặc sáp hữu lực là biểu hiện của khí trệ huyết ứ.
Phép trị: Hành khí hoạt huyết, khu ứ thông lạc.
Phương dược : Cách hạ trục ứ thang (《Y lâm cải thác》)
Đương quy, Xích thược, Đào nhân, Xuyên khung, Chỉ xác, Hồng hoa, Diên hồ sách, Ngũ linh chi, Đan bì, Ô dược, Hương phụ, Cam thảo
→ Chỉ xác, Ô dược, Hương phụ, Diên hồ sách hành khí hoạt huyết chỉ thống; Xích thược, Đào nhân, Đan bì, Ngũ linh chi hoạt huyết khu ứ chỉ thống; Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết hoạt huyết điều kinh; Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn phương hành khí hoạt huyết, khu ứ hành trệ, thông mạch hiệu quả. Nếu có phiền táo, đau sườn ngực: gia Sài hồ, Uất kim, Chi tử. Nếu kiêm nhiệt, khô miệng, táo bón, mạch sác: gia Hoàng bá, Tri mẫu, Đại hoàng
V, Thể Hàn ngưng huyết ứ
Chủ chứng: Kinh nguyệt dừng nhiều tháng, bụng dưới đau lạnh không chịu ấn, gặp ấm thì giảm; sợ lạnh tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng, lưỡi tím sẫm, rêu trắng, mạch trầm khẩn.
Phân tích: Hàn tà xâm nhập Xung Nhâm, kết hợp với huyết gây ngưng ứ, cản trở khí huyết vận hành, huyết hải không đầy nên kinh không hành; hàn xâm Bào cung, huyết hành bất thông, “bất thông tắc thống”, nên bụng dưới đau lạnh không chịu ấn, gặp ấm thì huyết mạch tạm thông, đau giảm; hàn tổn dương khí, dương không phát đạt, nên sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng. Lưỡi tím sẫm, rêu trắng, mạch trầm khẩn là biểu hiện của hàn ngưng huyết ứ.
Phép trị: Ôn kinh tán hàn, hoạt huyết điều kinh.
Phương dược : Ôn kinh thang
→ Nếu bụng dưới đau lạnh nặng: gia Ngải diệp, Tiểu hồi hương, Khương hoàng
→ Nếu tay chân không ấm: gia Chế phụ tử, Tiên linh tỳ
VI, Thể Đàm thấp trở trệ
Chủ chứng: Kinh nguyệt dừng nhiều tháng, khí hư ra nhiều, sắc trắng chất đặc; thân thể béo, hoặc mặt phù chân tay phù, tinh thần mệt mỏi, tứ chi rã rời, chóng mặt hoa mắt, hồi hộp đoản khí, ngực bụng đầy trướng; lưỡi nhạt bệu, rêu trắng nhớt, mạch hoạt.
Phân tích: Đàm thấp bế tắc Xung Nhâm, chiếm giữ huyết hải, kinh huyết không thể đầy tràn nên kinh dừng; đàm thấp hạ chú, tổn thương đới mạch nên khí hư nhiều, trắng, đặc; đàm thấp nội thịnh nên thân thể béo; đàm thấp làm trở tỳ dương, vận hóa bất thường, thủy thấp tràn ra da thịt gây phù mặt, tay chân nặng; đàm thấp đình trệ dưới tâm, thanh dương bất thăng nên chóng mặt hoa mắt, hồi hộp, khó thở, ngực bụng đầy. Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng nhớt, mạch hoạt là dấu hiệu của đàm thấp.
Phép trị: Khu đàm trừ thấp, hoạt huyết thông kinh.
Phương dược : Đan Khê trị thấp đàm phương (《Đan Khê tâm pháp》)
Thương truật, Bạch truật, Bán hạ, Phục linh, Hoạt thạch, Hương phụ, Xuyên khung, Đương quy
→ Thương truật, Bán hạ táo thấp hóa đàm; Bạch truật, Phục linh kiện tỳ trừ thấp; Hoạt thạch thẩm lợi thủy thấp; Đương quy, Xuyên khung, Hương phụ hành khí hoạt huyết. Khi đàm thấp tiêu thì Xung Nhâm, huyết hải không còn bị trở ngại, kinh nguyệt sẽ thông.
→ Nếu ngực bụng đầy trướng: gia Qua lâu, Chỉ xác
→ Nếu phù chân tay rõ rệt: gia Ích mẫu thảo, Trạch tả, Trạch lan
Tiết 11 – Thống kinh (痛经)
Thống kinh là hiện tượng đau vùng bụng dưới có tính chu kỳ xảy ra trước, trong hoặc sau kỳ kinh, cơn đau có thể lan ra vùng thắt lưng, cùng cụt, thậm chí đau dữ dội đến mức ngất xỉu. Còn gọi là “kinh hành phúc thống”.
Tây y chia thống kinh thành thống kinh nguyên phát và thống kinh thứ phát. Thống kinh nguyên phát (chức năng) là loại không có tổn thương thực thể ở cơ quan sinh dục; thống kinh thứ phát thường do các bệnh thực thể như lạc nội mạc tử cung vùng chậu, u tuyến cơ tử cung, viêm vùng chậu mạn tính v.v. gây nên. Phần thống kinh được bàn trong tiết này bao gồm cả thống kinh nguyên phát và thứ phát theo y học hiện đại. Thống kinh chức năng dễ điều trị, còn thống kinh do tổn thương thực thể thì diễn tiến lâu dài, khó dứt điểm.
[Bệnh nhân và cơ chế bệnh sinh]
Sự phát sinh thống kinh có liên quan mật thiết đến sự biến đổi sinh lý theo chu kỳ của Xung Nhâm và Bào cung. Cơ chế bệnh lý chủ yếu là do tà khí nội ẩn hoặc tinh huyết vốn hư, khi gặp kỳ kinh, Xung Nhâm khí huyết thay đổi nhanh, khiến khí huyết Bào cung vận hành bất lợi, “bất thông tắc thống”; hoặc do Bào cung mất nuôi dưỡng, “bất vinh tắc thống”, từ đó phát sinh đau kinh. Các thể thường gặp gồm: thận khí khuy tổn, khí huyết hư nhược, khí trệ huyết ứ, hàn ngưng huyết ứ và thấp nhiệt uất kết.
Do tiên thiên thận khí bất túc, hoặc do phòng sự quá độ, sinh nở nhiều, hoặc do ốm lâu hư tổn, tổn thương đến thận khí, khiến thận hư tinh hao huyết ít, xung nhâm không đầy đủ, kinh huyết không thể tràn ra, mạch bào càng thêm hư, mất sự nuôi dưỡng, “bất vinh tắc thống” (không được nuôi dưỡng thì đau), vì vậy gây đau kinh.
Do thể chất vốn yếu, khí huyết bất túc, hoặc bị bệnh nặng, bệnh lâu ngày làm hao tổn khí huyết, hoặc do tỳ vị hư yếu, nguồn sinh hóa bất túc, khí hư huyết ít, kinh hành ra huyết, khiến xung nhâm khí huyết càng thêm hư, mạch bào mất sự nuôi dưỡng, “bất vinh tắc thống”, vì vậy gây đau bụng kinh.
III. Khí trệ huyết ứ
Do tính tình uất ức, hoặc phẫn nộ hại can, khiến can uất khí trệ, khí trệ sinh huyết ứ, hoặc do kinh kỳ, sau sinh, huyết dư lưu lại bên trong, tích lại thành ứ, ứ trệ xung nhâm, khiến huyết hành không thông, đến trước hoặc trong kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, mạch bào khí huyết càng thêm ứ trệ, “bất thông tắc thống” (không thông thì đau), vì vậy gây đau kinh.
Do trong kỳ kinh hoặc sau sinh bị nhiễm hàn tà, hoặc ăn nhiều đồ sống lạnh, hàn tà xâm phạm xung nhâm, kết hợp với huyết, làm khí huyết ngưng trệ không thông, đến trước hoặc trong kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, mạch bào khí huyết càng thêm ứ trệ, “bất thông tắc thống”, vì vậy gây đau kinh.
Do có sẵn thấp nhiệt ẩn chứa bên trong, hoặc trong kỳ kinh, sau sinh bị nhiễm tà thấp nhiệt, kết hợp với huyết, tích lại tại xung nhâm, bào cung, khiến khí huyết ngưng trệ không thông, trong thời gian hành kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, mạch bào khí huyết càng thêm ứ trệ, “bất thông tắc thống”, vì vậy gây đau kinh.
[Biện chứng luận trị]
Bệnh này lấy đặc điểm đau bụng dưới có chu kỳ đi kèm theo kỳ kinh làm điểm chính để biện chứng. Căn cứ vào thời điểm xuất hiện đau, vị trí, tính chất, thích ấn hay sợ ấn… để phân biệt hư – thực, hàn – nhiệt, thuộc khí hay huyết. Nhìn chung, đau trước hoặc trong kỳ kinh thường thuộc thực; Đau sau kỳ kinh thường thuộc hư. Đau tức nhiều, sợ ấn, phần nhiều thuộc thực; Đau âm ỉ, thích xoa bóp, phần nhiều thuộc hư.
Chườm ấm giảm đau là thuộc hàn; gặp ấm lại đau tăng là thuộc nhiệt. Đau nhiều hơn trướng là huyết ứ; trướng nhiều hơn đau là khí trệ. Đau ở hai bên bụng dưới thường liên quan đến can; Đau lan đến thắt lưng là do thận. Phép trị chủ yếu là thông điều khí huyết.
Chủ chứng: Trong kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh đau âm ỉ vùng bụng dưới, thích ấn, lượng kinh ít, màu nhạt, loãng; chóng mặt ù tai, đau lưng mỏi gối, tiểu tiện trong dài, sắc mặt sạm tối, lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch trầm tế.
Phân tích chứng hậu: Do bản hư thận khí, tinh huyết bất túc, trong kỳ kinh hoặc sau kinh tinh huyết càng thêm hư, bào cung bào mạch mất sự nuôi dưỡng nên đau bụng dưới âm ỉ, thích xoa bóp; thận hư xung nhâm bất túc, huyết hải không tràn đầy nên kinh ít, màu nhạt, loãng; thận tinh bất túc không dưỡng được khiếu trên nên chóng mặt, ù tai; thận hư khiến lưng gối không được nuôi dưỡng nên đau mỏi; thận khí hư, khí hóa bàng quang thất điều nên tiểu tiện trong dài. Sắc mặt sạm, lưỡi nhạt rêu mỏng, mạch trầm tế cũng là biểu hiện của thận khí khuy tổn.
Nguyên tắc trị liệu: Bổ thận điền tinh, dưỡng huyết chỉ thống.
Phương dược: Điều Can thang (《Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa》)Đương quy, Bạch thược, Sơn thù du, Ba kích, Cam thảo, Sơn dược, A giao
Trong phương: Ba kích, Sơn thù du bổ thận khí, điền thận tinh; Đương quy, Bạch thược, A giao dưỡng huyết, hoãn cấp chỉ thống; Sơn dược, Cam thảo bổ tỳ thận, sinh tinh huyết. Cả bài có tác dụng bổ thận điền tinh, dưỡng huyết, hoãn cấp chỉ thống.
Nếu lượng kinh quá ít, gia thêm Lộc giác giao, Thục địa, Câu kỷ tử; nếu đau lưng dữ dội, gia thêm Tang ký sinh, Đỗ trọng, Cẩu tích.
Chủ chứng: Trong kỳ kinh hoặc sau kỳ kinh, đau âm ỉ bụng dưới, thích xoa bóp, lượng kinh ít, màu nhạt loãng, mệt mỏi vô lực, chóng mặt hồi hộp, mất ngủ nhiều mộng, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược.
Phân tích chứng hậu: Khí huyết vốn hư, lại bị xuất huyết kỳ kinh làm khí huyết càng thêm hư, bào cung bào mạch mất sự nuôi dưỡng nên đau bụng dưới âm ỉ, thích xoa bóp; khí huyết hư, xung nhâm bất túc, huyết hải không tràn đầy nên kinh ít, màu nhạt, loãng; khí hư trung dương bất túc nên thần mệt mỏi, vô lực; huyết hư không dưỡng tâm thần nên hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng; khí huyết hư không nuôi dưỡng được đầu mặt nên chóng mặt, sắc mặt trắng. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược cũng là biểu hiện của khí huyết hư nhược.
Nguyên tắc trị liệu: Bổ khí dưỡng huyết, hòa trung chỉ thống.
Phương dược: Hoàng kỳ Kiến trung thang (《Kim Quỹ yếu lược》) gia Đương quy, Đảng sâm
Hoàng kỳ, Bạch thược, Quế chi, Chích cam thảo, Sinh khương, Đại táo, Di đường
Trong phương: Hoàng kỳ, Đảng sâm, Quế chi bổ khí ôn trung, thông lạc chỉ thống; Đương quy, Bạch thược, Di đường dưỡng huyết hòa trung, hoãn cấp chỉ thống; Cam thảo, Sinh khương, Đại táo kiện tỳ vị để sinh khí huyết, “dục bổ khí huyết, tiên kiến trung châu” (muốn bổ khí huyết trước hết phải điều hòa trung tiêu). Bài thuốc có tác dụng bổ khí dưỡng huyết, hòa trung chỉ thống.
III. Thể khí trệ huyết ứ
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh, bụng dưới trướng đau, sợ ấn; đau trướng vùng ngực sườn và vú; kinh hành không thông, màu kinh tím sậm, có cục máu; sau khi cục máu ra thì đau giảm; lưỡi tím sậm, hoặc có điểm ứ; mạch huyền hoặc huyền sáp hữu lực.
Phân tích chứng hậu: Do can uất khí trệ, huyết ứ trệ tại xung nhâm, khí huyết vận hành không thông, đến trước hoặc trong kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, khí huyết mạch bào càng thêm ứ trệ, “không thông thì đau”, nên gây ra bụng dưới trướng đau sợ ấn; can khí uất trệ, nên ngực sườn và vú đau trướng; xung nhâm khí trệ huyết ứ nên kinh hành không thông, màu kinh tím sậm, có cục máu; sau khi huyết ứ được tống ra, khí huyết tại cung có phần thông suốt nên bụng dưới đỡ đau. Lưỡi tím sậm, có điểm ứ; mạch huyền hoặc huyền sáp hữu lực cũng là biểu hiện của khí trệ huyết ứ.
Nguyên tắc trị liệu: Hành khí hoạt huyết, khu ứ chỉ thống.
Phương dược ví dụ: Cách hạ trục ứ thang
Nếu đau dữ dội kèm buồn nôn, nôn mửa thì gia Ngô thù du, Bán hạ, Nga truật; nếu kèm bụng dưới trướng tức, đau lan xuống hậu môn, gia Khương hoàng, Xuyên luyện tử; nếu có hàn, bụng dưới đau lạnh, gia Ngải diệp, Tiểu hồi hương; nếu có nhiệt, khát nước, lưỡi đỏ, mạch sác, gia Chi tử, Liên kiều, Hoàng bá.
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh, bụng dưới đau lạnh, sợ ấn; gặp ấm thì giảm đau; lượng kinh ít, màu sẫm có cục; sợ lạnh, tay chân lạnh; sắc mặt xanh trắng; lưỡi sẫm, rêu trắng, mạch trầm khẩn.
Phân tích chứng hậu: Hàn tà xâm nhập xung nhâm, huyết bị hàn ngưng kết, ứ trệ tại xung nhâm, khí huyết vận hành không thông, đến thời kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, mạch bào khí huyết bị ứ trệ, “không thông thì đau” nên phát sinh đau kinh; hàn ngưng huyết kết nên kinh ít, màu sẫm, có cục; gặp ấm thì hàn khí tạm được hóa giải nên đau giảm; hàn tổn dương khí, dương khí không thể phân bố ra ngoài, nên sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh trắng. Lưỡi sẫm, rêu trắng, mạch trầm khẩn là dấu hiệu điển hình của thể hàn ngưng huyết ứ.
Nguyên tắc trị liệu: Ôn kinh tán hàn, khu ứ chỉ thống.
Phương dược: Ôn kinh thang
Nếu đau dữ dội khi đau kinh phát tác, gia Diên hồ, Tiểu hồi hương; nếu bụng dưới lạnh, tứ chi không ấm, gia Thục phụ tử, Ba kích thiên.
Nếu trong kỳ kinh, đau bụng âm ỉ liên tục, thích ấm, thích ấn, lượng kinh ít, màu nhạt loãng, sợ lạnh, tay chân lạnh, đau lạnh vùng thắt lưng cùng, sắc mặt nhợt nhạt, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế trì hoặc tế sáp, là thể thống kinh do hư hàn. Phép trị nên ôn kinh dưỡng huyết chỉ thống, phương dùng Đại doanh tiễn gia Tiểu hồi hương, Bổ cốt chỉ.
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh, bụng dưới nóng rát, sợ ấn; đau lan vùng thắt lưng cùng; có thể bình thường cũng đau bụng dưới, trước kỳ kinh đau tăng; kinh lượng nhiều hoặc kỳ kinh kéo dài, màu kinh tím đỏ, đặc hoặc có cục máu; thường có khí hư nhiều, vàng đặc hôi tanh; có thể kèm sốt nhẹ, tiểu vàng sẫm; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác hoặc nhu sác.
Phân tích chứng hậu: Thấp nhiệt uất kết tại xung nhâm, khí huyết vận hành không thông, đến kỳ kinh khí huyết dồn xuống xung nhâm, khí huyết mạch bào càng thêm ứ trệ, “không thông thì đau” nên phát thống kinh; thấp nhiệt ứ kết tại bào mạch, mà bào mạch liên hệ với thận, nên đau lưng cùng, hoặc bình thường đã đau bụng dưới, đến kỳ kinh càng đau; thấp nhiệt tổn thương xung nhâm, bức huyết vọng hành nên kinh ra nhiều hoặc kỳ kinh kéo dài; huyết bị nhiệt nung nấu nên màu kinh tím đỏ, đặc hoặc có cục máu; thấp nhiệt giáng xuống, tổn thương đới mạch, đới mạch mất điều tiết nên khí hư nhiều, vàng đặc hôi; thấp nhiệt bốc lên gây sốt nhẹ, tiểu tiện vàng sẫm. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác hoặc nhu sác là biểu hiện của thấp nhiệt uất kết.
Nguyên tắc trị liệu: Thanh nhiệt trừ thấp, hóa ứ chỉ thống.
Phương dược: Thanh nhiệt điều huyết thang (《Cổ kim y giám》) gia Hồng đằng, Bại tương thảo, Ý dĩ nhân
Mẫu đơn bì, Hoàng liên, Sinh địa, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Hồng hoa, Đào nhân, Nga truật, Hương phụ, Diên hồ sách
Trong phương: Hoàng liên, Ý dĩ nhân thanh nhiệt trừ thấp; Hồng đằng, Bại tương thảo thanh nhiệt giải độc; Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Mẫu đơn bì hoạt huyết khu ứ, thông kinh; Nga truật, Hương phụ, Diên hồ sách hành khí hoạt huyết chỉ thống; Sinh địa, Bạch thược lương huyết thanh nhiệt, hoãn cấp chỉ thống. Cả bài có tác dụng thanh nhiệt trừ thấp, hóa ứ chỉ thống.
Nếu kinh ra quá nhiều hoặc kỳ kinh kéo dài, gia Hoè hoa, Địa du, Mã xỉ hiện; nếu khí hư nhiều, gia Hoàng bá, Sử quân tử bạch bì (rễ cây hòe).
Tiết 12: Sốt khi hành kinh
Mỗi khi đến kỳ kinh hoặc trước, sau kỳ kinh xuất hiện triệu chứng lấy sốt làm chủ, gọi là “kinh hành phát nhiệt”, còn gọi là “kinh lai phát nhiệt”.
Chứng này trong y học hiện đại có liên quan đến viêm tiểu khung mạn tính, lao sinh dục, lạc nội mạc tử cung và một số tình trạng nhiễm trùng tiềm ẩn lâm sàng không rõ triệu chứng.
[Nguyên nhân và cơ chế bệnh]
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là khí huyết dinh vệ mất điều hòa, gặp sự biến đổi sinh lý của kinh nguyệt mà phát ra. Chia thành các thể: âm hư, can uất, huyết ứ.
Do thể chất vốn âm hư, hoặc do bệnh lâu ngày, bệnh nhiệt làm hao tổn âm huyết, hoặc do suy nghĩ quá độ khiến dinh âm bị tổn thương. Sau kỳ kinh, âm huyết càng thêm hư tổn, âm không giữ được dương, dương khí bốc lên bên ngoài, dinh vệ mất điều hòa, từ đó gây ra phát sốt.
Do tính tình uất ức hoặc bị tổn thương bởi tình chí, khiến can khí uất kết. Trước kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, khí huyết càng thêm uất trệ, uất hóa thành nhiệt, dinh vệ không điều hòa, vì vậy gây phát sốt.
III. Huyết ứ
Do có tà khí thấp nhiệt lưu ẩn bên trong kết hợp với huyết tạo thành ứ, hoặc sau kỳ kinh, sau sinh, sau phẫu thuật nạo hút thai, huyết ứ lưu lại bên trong, tích ứ hóa nhiệt. Đến kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, khí huyết càng thêm trở trệ, ứ nhiệt thịnh bên trong, dinh vệ mất điều hòa, từ đó gây ra phát sốt.
[Biện chứng luận trị]
Lấy biểu hiện sốt có tính chu kỳ đi kèm với hành kinh làm trọng điểm biện chứng. Phép trị chủ yếu là điều khí huyết, điều hòa doanh vệ.
Chủ chứng: Trong hoặc sau kỳ kinh phát sốt vào buổi chiều, ngũ tâm phiền nhiệt, họng khô miệng táo, hai gò má ửng đỏ, kinh lượng ít, sắc đỏ tươi, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu: Do thể chất vốn âm hư, trong hoặc sau kỳ kinh, huyết ra ngoài làm âm huyết càng hư, âm hư không thể thu liễm dương khí, dương khí bốc lên, dinh vệ mất điều hòa nên phát sốt vào buổi chiều, hai gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt; âm hư tân dịch tổn thương nên họng khô miệng táo; âm hư nội nhiệt khiến huyết bị nung đốt, kinh ra ít, sắc đỏ tươi. Lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác đều là biểu hiện của âm hư.
Phép trị: Tư âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Phương dược ví dụ: Hạo cầm địa đan tứ vật thang (phương kinh nghiệm), bỏ Xuyên khung, gia Ngân sài hồ, Bạch vi
Thanh hao, Hoàng cầm, Địa cốt bì, Mẫu đơn bì, Sinh địa, Đương quy, Bạch thược
Trong phương: Hoàng cầm, Thanh hao, Địa cốt bì, Mẫu đơn bì thanh nhiệt dưỡng âm, lương huyết; Ngân sài hồ, Bạch vi trừ hư nhiệt; Sinh địa, Bạch thược tư âm lương huyết; Đương quy dưỡng huyết điều kinh. Toàn phương có tác dụng tư âm thanh nhiệt, lương huyết điều kinh.
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh phát sốt, chóng mặt hoa mắt, miệng đắng họng khô, phiền táo dễ giận, vú, ngực sườn, bụng dưới trướng đau, kinh có thể nhiều hoặc ít, sắc đỏ sẫm, lưỡi đỏ, rêu hơi nhớt, mạch huyền sác.
Phân tích chứng hậu: Can uất khí trệ, khí cơ không điều, trước kỳ kinh khí huyết dồn xuống khiến khí huyết xung nhâm càng thêm uất trệ, uất hóa nhiệt, dinh vệ mất điều hòa nên phát sốt; can uất hóa nhiệt theo xung khí nghịch lên làm nhiễu loạn khiếu thanh nên chóng mặt hoa mắt, miệng đắng họng khô; can kinh đi qua ngực, sườn, bụng dưới, can mất sơ tiết nên các vùng này đau trướng trong kỳ kinh; can uất không thư sướng nên dễ giận, phiền táo; can uất sơ tiết thất thường khiến huyết hải tích trữ không đều nên kinh lượng thất thường, sắc đỏ sẫm. Lưỡi đỏ, rêu hơi nhớt, mạch huyền sác là biểu hiện của thể can uất phát nhiệt.
Phép trị: Sơ can giải uất, thanh nhiệt điều kinh.
Phương dược ví dụ: Đan chi tiêu dao tán
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh phát sốt, lúc nóng lúc lạnh, bụng dưới đau sợ ấn, sắc kinh tím sẫm, có cục máu, lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ ở rìa lưỡi, mạch trầm huyền hoặc trầm sáp hữu lực.
Phân tích chứng hậu: Huyết ứ trở trệ hai mạch xung nhâm, đến kỳ kinh khí huyết dồn xuống, huyết khí xung nhâm bị bế tắc hóa nhiệt, doanh vệ mất điều hòa nên phát sốt, lúc nóng lúc lạnh; Mạch bào huyết ứ không thông nên bụng dưới đau sợ ấn nắn; Huyết ứ cản trở vận hành của huyết khiến kinh có màu tím sẫm, kèm cục máu.
Phép trị: Hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt điều kinh.
Phương dược: Huyết phủ trục ứ thang (《Y lâm cải thác》) gia Chi tử
Xích thược, Đào nhân, Đương quy, Sinh địa, Xuyên khung, Cam thảo, Hồng hoa, Chỉ xác, Sài hồ, Cát cánh, Ngưu tất
Trong phương: Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết, hoạt huyết, khu ứ; Chi tử, Sài hồ, Sinh địa thanh nhiệt lương huyết, sơ can giải uất, trừ uất nhiệt trong huyết; Cát cánh, Chỉ xác một thăng một giáng, điều khí cơ; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống, Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Các vị phối hợp giúp hoạt huyết hóa ứ, thanh nhiệt điều kinh.
Tiết 13: Kinh hành đầu thống
Mỗi khi đến kỳ kinh hoặc trước, sau kỳ kinh xuất hiện chứng đau đầu làm chủ, gọi là “kinh hành đầu thống”.
Chứng này tương đương với hội chứng căng thẳng tiền kinh nguyệt trong y học hiện đại. Trường hợp bệnh nhân viêm vùng chậu mạn tính có biểu hiện đau đầu khi hành kinh cũng có thể biện trị theo chứng bệnh này.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh]
Cơ chế gây bệnh chủ yếu là do khí huyết, âm tinh không đủ, sau kỳ kinh khí huyết âm tinh càng hư tổn, khiếu thanh không được nuôi dưỡng nên sinh đau đầu; hoặc do tà khí như đàm, huyết ứ nhân kỳ kinh theo xung khí nghịch lên, tà khí nhiễu loạn khiếu thanh gây đau đầu.
Các thể thường gặp gồm: khí huyết hư nhược, âm hư dương cang, huyết ứ trở trệ, đàm thấp trung trở.
Do thể chất vốn suy yếu, hoặc do bệnh nặng kéo dài làm hao tổn khí huyết, hoặc lao nhọc tổn thương tỳ, khiến nguồn hóa sinh khí huyết bất túc. Đến kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, khí huyết càng thêm hư, không đủ nuôi dưỡng khiếu thanh, dẫn đến đau đầu.
Do thể chất âm hư, hoặc do phòng sự quá độ, sinh đẻ nhiều lần làm tổn thương tinh huyết, đến kỳ kinh khiến âm huyết ở hai mạch xung nhâm thoát ra ngoài, làm thận âm càng hư, can dương càng vượng, phong dương nhiễu loạn thanh khiếu, gây nên đau đầu.
III. Huyết ứ trở trệ
Do tình chí không thư sướng, khí trệ sinh huyết ứ, hoặc do sau kỳ kinh, sau sinh bị cảm hàn nhiệt tà, huyết dư lưu lại bên trong; Trước kỳ kinh, xung khí vượng, xung khí kéo theo huyết ứ nghịch lên, trở trệ lạc mạch não, “bất thông tắc thống”, vì vậy gây đau đầu.
Người béo, nhiều đàm thấp bên trong, hoặc do ăn uống lao nhọc làm tổn thương tỳ, sinh ra đàm thấp, đàm thấp trệ ở hai mạch xung nhâm; Đến kỳ kinh, khí xung mạnh, xung khí kéo đàm thấp nghịch lên, trở trệ lạc mạch não, “bất thông tắc thống”, do đó phát đau đầu.
[Biện chứng luận trị]
Lấy đặc điểm đau đầu có chu kỳ liên quan đến hành kinh làm điểm chính để biện chứng. Phép trị tổng quát là điều hòa khí huyết. Thể thực thì hành khí hoạt huyết chỉ thống, thể hư thì bổ khí dưỡng huyết chỉ thống.
Chủ chứng: Đau đầu trong hoặc sau kỳ kinh, hồi hộp, thở ngắn, mệt mỏi, uể oải, lượng kinh ít, màu nhạt loãng, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược.
Phân tích chứng hậu: Do khí huyết vốn hư, sau kỳ kinh lại thêm khí huyết hao tổn, khiếu thanh không được nuôi dưỡng nên gây đau đầu; khí huyết lưỡng hư gây hồi hộp, thở ngắn, thần mệt, thể nhược; huyết hư xung nhâm bất túc nên lượng kinh ít; khí hư huyết không được ôn hóa nên kinh màu nhạt, loãng. Sắc mặt trắng, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược là biểu hiện của khí huyết hư nhược.
Phép trị: Ích khí dưỡng huyết, hoạt lạc chỉ thống.
Phương dược: Bát trân thang (《Chính thể loại yếu》) gia Mạn kinh tử, Kê huyết đằng
Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Thục địa, Bạch thược, Đương quy, Xuyên khung
Chủ chứng: Đau đầu trong hoặc sau kỳ kinh, hoặc đau đỉnh đầu, chóng mặt hoa mắt, miệng đắng họng khô, phiền táo dễ giận, lưng gối đau mỏi, tay chân bứt rứt nóng, lượng kinh ít, sắc đỏ tươi, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu: Do thể chất âm hư, tinh huyết hao tổn, kinh huyết thoát ra làm thận âm càng hư, can dương càng vượng, phong dương thượng nhiễu khiếu thanh, can kinh qua đỉnh đầu nên đau đỉnh đầu, hoa mắt chóng mặt; dương vượng, can uất khiến khí cơ không suôn sẻ nên phiền táo dễ giận; âm hư tinh tổn và xung nhâm bất túc dẫn đến đau lưng gối, kinh ra ít; âm hư sinh nội nhiệt gây miệng đắng họng khô, tay chân nóng, sắc kinh đỏ tươi. Lưỡi đỏ, rêu ít, mạch huyền tế sác là biểu hiện của âm hư dương vượng.
Phép trị: Tư âm tiềm dương, sơ phong chỉ thống.
Phương dược: Kỷ cúc địa hoàng hoàn (《Y cấp》) gia Câu đằng, Thạch quyết minh
Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Trạch tả, Phục linh, Đan bì, Câu kỷ tử, Cúc hoa
Nếu kèm đau lưng do thận hư, gia Xuyên tục đoạn, Tang ký sinh.
Chủ chứng: Đau đầu trước hoặc trong kỳ kinh, đau bụng dưới sợ ấn, ngực tức không thoải mái, kinh màu tím sẫm có cục, lưỡi tím sẫm, rìa và đầu lưỡi có điểm ứ, mạch trầm huyền hoặc sáp hữu lực.
Phân tích chứng hậu: Huyết ứ tồn tại bên trong, kỳ kinh đến, xung khí dẫn huyết ứ nghịch lên, trở trệ não lạc gây đau đầu; huyết ứ trở ngại xung nhâm, huyết vận không suôn sẻ gây bụng dưới đau sợ ấn, kinh tím sẫm có cục; huyết ứ khí trệ làm khí cơ bế tắc, gây ngực tức khó chịu. Lưỡi tím sẫm, rìa đầu lưỡi có điểm ứ, mạch trầm hoặc sáp hữu lực là biểu hiện điển hình của huyết ứ trở trệ.
Phép trị: Hoạt huyết hóa ứ, thông khiếu chỉ thống.
Phương dược: Thông khiếu hoạt huyết thang (《Y lâm cải thác》)
Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Hành trắng già, Xạ hương, Đại táo, Hoàng tửu
Trong phương: Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa hoạt huyết hóa ứ; Xuyên khung, Xạ hương, Hành trắng hành khí hoạt huyết, thông khiếu chỉ thống; Đại táo điều hòa dinh vệ. Toàn phương có tác dụng hoạt huyết khử ứ, thông khiếu chỉ thống, giúp điều kinh, giảm đau đầu.
Chủ chứng: Đau đầu trước hoặc trong kỳ kinh, hoa mắt chóng mặt, cơ thể béo, ngực tức buồn nôn, thường có khí hư nhiều đặc dính, lượng kinh ít, màu nhạt, sắc mặt xám trắng, lưỡi nhạt to, rêu trắng nhớt, mạch hoạt.
Phân tích chứng hậu: Đàm thấp lưu trệ bên trong, ngăn trở xung nhâm, đến kỳ kinh khí xung vượng, xung khí kéo đàm thấp nghịch lên, trở trệ não lạc gây đau đầu; đàm thấp trung trở, thanh dương không thăng nên hoa mắt chóng mặt, sắc mặt xám trắng; đàm thấp làm tỳ bị trở ngại nên ngực tức buồn nôn, cơ thể béo; đàm thấp trở trệ xung nhâm nên kinh ít, màu nhạt; đàm thấp giáng xuống làm tổn thương đới mạch nên khí hư nhiều, đặc dính. Lưỡi nhạt, to, rêu trắng nhớt, mạch hoạt là dấu hiệu điển hình của đàm thấp.
Phép trị: Táo thấp hóa đàm, thông lạc chỉ thống.
Phương dược: Bán hạ bạch truật thiên ma thang (《Y học tâm ngộ》) gia Cát căn, Đan sâm
Bán hạ, Bạch truật, Thiên ma, Phục linh, Trần bì, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo, Mạn kinh tử
Tiết 14: Kinh hành thổ huyết, chảy máu cam
Mỗi khi đến trước hoặc trong kỳ kinh nguyệt mà xuất hiện hiện tượng nôn ra máu hoặc chảy máu cam một cách có chu kỳ, thì gọi là “kinh hành thổ huyết” hoặc “kinh hành chảy máu cam”, còn gọi là “đảo kinh” hoặc “nghịch kinh”.Bệnh này tương đương với “kinh nguyệt bù trừ” (compensatory menstruation) trong y học hiện đại.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh]
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là do hỏa nhiệt bốc lên, đến kỳ kinh khí xung vượng, nghịch lên làm tổn thương dương lạc, gây thổ huyết, chảy máu cam. Kinh huyết không theo đường xuống mà lại đi lên từ miệng, mũi mà ra, tất sẽ dẫn đến huyết đi xuống xung nhâm bị giảm hoặc mất, do đó trong thời gian xảy ra thổ huyết/chảy máu cam, lượng kinh thường ít, hoặc thậm chí vô kinh.
Do thể chất âm hư, hoặc bệnh lâu ngày làm hao tổn tinh huyết, âm hư sinh nội nhiệt; hoặc do ưu tư không giải, phiền não tích tụ làm tâm hỏa vượng. Đến kỳ kinh, khí xung vượng, khí hỏa nghịch lên, đốt phế thương tân, làm tổn thương phế lạc, gây ra kinh hành thổ huyết, chảy máu cam.
Do tính tình uất ức, tức giận tổn thương can, dẫn đến can uất hóa hỏa. Đến kỳ kinh, khí xung vượng, khí hỏa nghịch lên, theo can mạch đi lên họng, khí hỏa theo kinh lạc xông lên gây tổn thương dương lạc, phát sinh thổ huyết, chảy máu cam.
[Biện chứng luận trị]
Bệnh này có thể là hư chứng hoặc thực chứng. Phép trị chủ yếu là thanh hỏa, giáng nghịch, dẫn huyết đi xuống. Cụ thể tùy thể mà tư âm giáng hỏa, hoặc thanh tiết can hỏa.
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh xuất hiện nôn ra máu, chảy máu cam, lượng ít, màu đỏ tươi; kèm chóng mặt, ù tai, lòng bàn tay chân nóng, sốt nhẹ về chiều, ho khan, họng khô miệng khát; kinh nguyệt ít hoặc vô kinh; gò má đỏ, môi đỏ, lưỡi đỏ hoặc sẫm, rêu lưỡi tróc hoặc không có rêu, mạch tế sác.
Phân tích: Thể chất âm hư, kèm ưu tư lâu ngày làm tâm hỏa vượng, kỳ kinh đến khí xung thịnh, khí xung dẫn hỏa tâm nghịch lên đốt phế thương tân, phế lạc tổn thương nên phát thổ huyết/chảy máu cam, màu đỏ tươi, lượng ít; âm hư tinh huyết hao tổn, tủy hải mất dưỡng sinh chóng mặt ù tai; âm hư nội nhiệt gây bàn tay chân nóng, gò má đỏ, môi đỏ; âm hư nhiệt bốc làm họng khô, miệng khát, sốt nhẹ, ho khan; âm hư tinh huyết không đủ, xung nhâm hư tổn nên kinh nguyệt ít hoặc vô kinh. Lưỡi đỏ hoặc sẫm, rêu tróc hoặc không có rêu, mạch tế sác là biểu hiện điển hình của thể âm hư phế táo.
Phép trị: Tư âm nhuận phế, giáng hỏa chỉ huyết.
Phương dược: Thuận kinh thang (《Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa》) gia Tri mẫu, Mạch môn, Hán liên thảo
Đương quy, Thục địa, Sa sâm, Bạch thược, Phục linh, Hắc giới tuệ, Đan bì
Trong phương: Sa sâm, Mạch môn tư âm nhuận phế; Thục địa, Bạch thược, Đương quy dưỡng huyết điều kinh; Tri mẫu, Đan bì, Hán liên thảo, Hắc giới tuệ tư âm giáng hỏa, lương huyết chỉ huyết; Phục linh kiện tỳ ích phế. Cả phương giúp âm dịch đầy đủ, hỏa hư tự tiêu, phế táo được giải thì thổ huyết, chảy máu cam tự ngưng.
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh thổ huyết, chảy máu cam, lượng nhiều, màu đỏ sẫm; chóng mặt hoa mắt, phiền táo dễ giận, hông sườn căng đau, miệng đắng họng khô, tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện táo kết, kinh nguyệt ít hoặc vô kinh; lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.
Phân tích: Can kinh uất hỏa ẩn tại xung nhâm, kỳ kinh đến khí xung vượng, khí xung kéo theo hỏa can nghịch lên theo kinh mạch gây tổn thương dương lạc, phát thổ huyết, chảy máu cam lượng nhiều, màu sẫm; huyết không xuống được mà đi lên qua mũi miệng, khiến khí huyết xung nhâm bị giảm, huyết hải không đầy đủ nên kinh nguyệt giảm hoặc vô kinh; can khí uất kết gây phiền táo, hông sườn đau; uất hỏa thượng nhiễu khiếu thanh gây chóng mặt hoa mắt; can đởm tương biểu, can hỏa thịnh khiến đởm cũng nhiệt, nên miệng đắng họng khô; hỏa nhiệt thương tân gây tiểu ngắn đỏ, đại tiện táo kết. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác là biểu hiện của uất hỏa.
Phép trị: Sơ can tả hỏa, giáng nghịch chỉ huyết.
Phương dược: Đan chi tiêu dao tán gia Ngưu tất, Đại giả thạch, Hắc giới tuệ
Tiết 15: Kinh hành tiết tả
Mỗi lần đến trước hoặc trong kỳ kinh nguyệt xuất hiện đại tiện lỏng, sau khi kinh sạch thì tự hết, gọi là “kinh hành tiết tả” hay “kinh lai tiết tả”.
Chứng này thuộc phạm vi hội chứng căng thẳng tiền kinh nguyệt trong y học hiện đại.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh]
Cơ chế phát bệnh chủ yếu là do tỳ thận dương khí hư, vận hóa thất thường. Đến kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, tỳ thận càng thêm hư yếu, dẫn đến tiết tả.
Các thể thường gặp gồm: Tỳ khí hư và Thận dương hư.
Do thể chất tỳ hư, hoặc do ưu tư lao nhọc, ăn uống thất thường, khiến tỳ khí tổn thương. Đến kỳ kinh, khí huyết đi xuống xung nhâm, tỳ khí càng thêm hư, vận hóa không đủ, gây tích trệ thủy thấp, hạ hành đại trường dẫn đến tiêu chảy.
Do tiên thiên thận khí bất túc, hoặc do phòng sự quá độ, sinh nở nhiều khiến mệnh môn hỏa suy. Đến kỳ kinh, khí huyết hạ giáng xung nhâm, hỏa mệnh môn càng suy, không thể ôn ấm tỳ, khiến tỳ mất kiện vận, sinh tiết tả.
[Biện chứng luận trị]
Lấy đặc điểm mỗi lần đến kỳ kinh nguyệt thì xuất hiện tiêu chảy làm điểm biện chứng chủ yếu. Bệnh này phần nhiều là hư chứng. Nếu tiêu chảy kèm chướng đầy vùng thượng vị và bụng là thuộc tỳ hư; nếu kèm đau lưng, tứ chi lạnh là thuộc thận hư; cũng có trường hợp can cường thừa tỳ, biểu hiện thực hư lẫn lộn. Phép trị chủ yếu là ôn thận kiện tỳ.
Dưới đây là bản dịch tiếng Việt đầy đủ và chính xác, giữ nguyên cấu trúc, thuật ngữ chuyên ngành:
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh đại tiện lỏng, vùng thượng vị và bụng trướng đầy, thần mệt, tứ chi uể oải; hành kinh lượng nhiều, màu nhạt, loãng; thường ngày khí hư ra nhiều, màu trắng, chất dính, không mùi hôi; hoặc mặt phù, tay chân sưng; lưỡi nhạt, to; rêu trắng nhớt; mạch nhu hoãn.
Phân tích chứng hậu: Tỳ khí vốn hư, đến trước hoặc trong kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, tỳ khí càng thêm hư, vận hóa mất chức năng, thủy thấp chảy xuống đại trường nên tiêu chảy và trướng đầy vùng bụng; tỳ chủ tứ chi, tỳ khí hư yếu gây thần mệt tứ chi uể oải; thủy thấp tràn ra da, nên mặt phù, chi sưng; tỳ khí hư, mất chức năng thống nhiếp, xung nhâm không ổn, nên hành kinh lượng nhiều, màu nhạt, loãng; tỳ hư sinh thấp, thấp khí đi xuống hạ tiêu, tổn thương đới mạch, đới mạch mất điều tiết, nên khí hư nhiều, trắng, dính. Lưỡi nhạt, to, rêu trắng nhớt, mạch nhu hoãn là dấu hiệu của tỳ khí hư.
Phép trị: Bổ tỳ ích khí, trừ thấp chỉ tả.
Phương dược: Sâm linh bạch truật tán
Nếu có can vượng thừa tỳ, biểu hiện: Đến kỳ kinh đau bụng rồi tiêu chảy, tiêu xong hết đau, hoặc đau tức ngực sườn, phiền táo dễ giận, thì nên dùng phép: Nhu can kiện tỳ, lý khí chỉ tả, phương dùng: Thống tả yếu phương (《Đan Khê Tâm Pháp》)
Bạch truật, Bạch thược, Trần bì, Phòng phong
Trong phương: Bạch truật kiện tỳ trừ thấp, Trần bì lý khí hòa trung, Bạch thược nhu can hoãn cấp chỉ thống, Phòng phong thư tỳ thăng thanh chỉ tả. Cả phương có tác dụng nhu can kiện tỳ, chỉ tả hiệu quả.
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh đại tiện lỏng, đặc biệt nặng vào buổi sáng; đau lưng mỏi gối, sợ lạnh, tay chân lạnh, chóng mặt, ù tai; lượng kinh ít, màu nhạt; thường ngày khí hư nhiều, loãng; sắc mặt sạm tối; lưỡi nhạt; rêu trắng trơn; mạch trầm trì vô lực.
Phân tích chứng hậu: Do cơ địa vốn thận dương bất túc, trước hoặc trong kỳ kinh khí huyết đi xuống xung nhâm, thận dương càng hư, hỏa mệnh môn không đủ sưởi ấm tỳ thổ, khiến vận hóa mất chức năng, thủy thấp chảy xuống đại trường nên tiêu chảy; thận dương hư không thể ôn dưỡng phủ ngoài nên lưng mỏi, gối yếu; dương khí không thể phân bố gây sợ lạnh, tay chân lạnh; tủy hải không được nuôi dưỡng gây chóng mặt, ù tai; thận dương hư khiến thấp đục giáng xuống xung nhâm, gây khí hư nhiều, loãng; thận hư xung nhâm bất túc, huyết không được ôn hóa, kinh ít, màu nhạt. Mặt xám tối, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm trì vô lực là biểu hiện của thận dương hư.
Phép trị: Ôn thận kiện tỳ, trừ thấp chỉ tả.
Phương dược: Kiện cố thang (《Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa》) hợp Tứ thần hoàn (《Hiệu chú phụ nhân良方》)
Kiện cố thang: Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Ý dĩ nhân, Ba kích
Tứ thần hoàn: Bổ cốt chỉ, Ngô thù du, Nhục đậu khấu, Ngũ vị tử, Sinh khương, Đại táo
Trong phương: Ba kích, Bổ cốt chỉ ôn thận trợ dương; Ngô thù du ôn trung hòa vị; Nhân sâm, Bạch truật kiện tỳ ích khí chỉ tả; Phục linh, Ý dĩ nhân kiện tỳ thấm thấp; Nhục đậu khấu, Ngũ vị tử cố sáp chỉ tả. Toàn phương giúp thận khí ôn cố, tỳ khí kiện vận, thấp đục được hóa, tiêu chảy dứt.
Tiết 16: Kinh hành nhũ phòng trướng thống
Mỗi khi đến trước hoặc trong kỳ kinh mà xuất hiện căng tức vú, thậm chí đầy tức đau đớn, hoặc ngứa đau núm vú, gọi là “kinh hành nhũ phòng thống”.
Chứng này thuộc phạm vi hội chứng căng thẳng tiền kinh nguyệt trong y học hiện đại, thường gặp ở phụ nữ trẻ tuổi hoặc trung niên, là chứng bệnh thường gặp. Trường hợp nhũ thống chứng (một loại tổn thương nhẹ trong bệnh lý cấu trúc tuyến vú) cũng có thể biện trị theo chứng này.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh]
Vú thuộc vị, núm vú thuộc can; xung mạch chủ ở can, nhưng lại quy thuộc về kinh túc dương minh vị, do đó xung mạch liên quan mật thiết với vú và núm vú.
Nếu can khí uất kết hoặc đàm thấp trở trệ, gặp trước kỳ kinh hoặc trong kỳ kinh khi khí huyết xung mạch vượng thịnh, sự uất trệ càng nặng khiến mạch lạc vùng vú bị bế tắc, từ đó phát sinh chứng bệnh này.
Thường gặp hai thể: can uất khí trệ và vị hư đàm trệ.
Do tính tình uất ức, hoặc tức giận làm tổn thương can, khiến chức năng sơ tiết bị rối loạn. Trước hoặc trong kỳ kinh, khí huyết xung mạch vượng thịnh, can chủ xung mạch, khí huyết can kinh uất kết, can kinh đi qua vùng vú, mạch lạc không thông, sinh ra vú căng đau hoặc núm vú ngứa đau.
Tỳ là nguồn sinh đàm, vị là nơi tích tụ đàm. Do ăn uống không điều độ, lao nhọc, tư lự, làm tổn thương tỳ vị, hoặc do can uất làm can vượng thừa tỳ khiến tỳ hư, vận hóa mất chức năng, thủy thấp tụ lại thành đàm. Trước hoặc trong kỳ kinh, khí xung vượng, xung mạch thuộc dương minh, vị kinh đi qua vùng vú, xung khí kéo đàm thấp đi lên làm bế tắc mạch lạc vùng vú, gây ra căng đau vú hoặc ngứa đau núm vú.
[Biện chứng luận trị]
Chứng này lấy biểu hiện căng đau vú có tính chu kỳ theo kinh nguyệt làm điểm chính để biện chứng. Phép trị chủ yếu là hành khí hóa đàm, thông sướng nhũ lạc.
Chủ chứng: Trước kỳ kinh vú căng đau hoặc núm vú ngứa đau, đau dữ dội đến mức không thể chạm vải, sờ vào đau tăng; hành kinh kèm theo đau trướng bụng dưới, tức ngực, tức sườn, phiền táo dễ giận, kinh hành không thông suốt, màu kinh đỏ sậm; lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền.
Phân tích chứng hậu: Can khí uất kết, chức năng sơ tiết mất điều hòa, khí huyết không thông; can chủ xung mạch, đến trước kỳ kinh khí xung vượng, khí xung theo can mạch nghịch lên khiến khí huyết can kinh uất trệ, mạch lạc vùng vú không thông, “bất thông tắc thống”, do đó vú căng đau, núm vú ngứa đau, đau dữ dội; can khí không thư sướng, khí cơ không thông nên sinh phiền táo, tức ngực, tức sườn, bụng dưới trướng đau; can uất khí trệ làm xung nhâm không suôn sẻ, nên kinh nguyệt không thông, màu sẫm. Lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch huyền cũng là biểu hiện của thể can uất khí trệ.
Phép trị: Sơ can lý khí, thông lạc chỉ thống.
Phương dược: Sài hồ sơ can tán (《Cảnh岳 toàn thư》) gia Vương bất lưu hành, Xuyên luyện tử
Sài hồ, Chỉ xác, Chích cam thảo, Bạch thược, Xuyên khung, Hương phụ, Trần bì
Trong phương: Sài hồ, Xuyên đỗng tử sơ can giải uất điều kinh; Chỉ xác, Hương phụ, Trần bì lý khí hành trệ tiêu trướng; Bạch thược, Cam thảo hoãn cấp chỉ thống; Xuyên khung hành khí huyết trong huyết; phối Vương bất lưu hành thông kinh lạc. Các vị thuốc phối hợp giúp sơ can giải uất, thông lạc vùng vú, nên vú căng đau giảm.
Nếu có cục trong vú, đau dữ dội, nên gia Hạ khô thảo, Hải tảo để nhuyễn kiên tán kết. Nếu kèm thận hư, đau lưng thì gia Thỏ ty tử, Tục đoạn, Đỗ trọng. Nếu can uất hóa nhiệt kiêm huyết ứ, biểu hiện: trước kỳ kinh vú căng đau, trong vú có cục, sờ đau tăng, kinh đến sớm, lượng nhiều, màu đỏ sẫm, chất đặc, có cục máu, hoặc kèm sốt khi hành kinh, thì nên dùng phép sơ can thanh nhiệt, lương huyết trừ ứ, điều kinh chỉ thống. Phương: Huyết phủ trục ứ thang gia Kim ngân hoa, Liên kiều, hoặc Đan chi tiêu dao tán gia giảm.
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh, vú căng đau hoặc núm vú ngứa đau, đau dữ không chịu được vải chạm; kèm tức ngực, đàm nhiều, ăn uống kém, khí hư nhiều, trắng đặc dính; kinh ít, màu nhạt; lưỡi nhạt to, rêu trắng nhớt, mạch hoãn hoạt.
Phân tích chứng hậu: Vị hư, đàm thịnh khiến khí cơ bất thông. Trước hoặc trong kỳ kinh khí xung vượng, kéo đàm nghịch lên bế tắc mạch lạc vùng vú, “bất thông tắc thống” gây vú căng đau, núm vú ngứa đau; đàm thấp trệ trung tiêu, trung dương bất túc, vận hóa suy yếu nên tức ngực, đàm nhiều, ăn uống kém; đàm thấp giáng xuống hạ tiêu, tổn thương đới mạch khiến khí hư nhiều, trắng đặc dính; đàm thấp cản trở khí huyết xung nhâm nên kinh ít, màu nhạt. Lưỡi nhạt, to, rêu trắng nhớt, mạch hoãn hoạt là dấu hiệu của vị hư đàm trệ.
Phép trị: Kiện vị hóa đàm, hoạt huyết chỉ thống.
Phương dược: Tứ vật hợp Nhị trần thang (《Trần Tố Am phụ khoa bổ giải》) bỏ Cam thảo
Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Sinh địa, Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Hải tảo, Hồng hoa, Hương phụ, Đan bì, Cam thảo
Trong phương: Trần bì, Bán hạ, Phục linh kiện vị hóa đàm; Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Hồng hoa hoạt huyết trừ ứ, thông lạc; Sinh địa, Đan bì lương huyết hành trệ; Hương phụ sơ can lý khí; Hải tảo nhuyễn kiên tán kết. Toàn phương giúp kiện vị hóa đàm, lý khí hoạt huyết, thông lạc tán kết, điều trị hiệu quả nhũ thống.
Tiết 17: Kinh hành tình chí dị thường
Mỗi khi đến trước hoặc trong kỳ kinh nguyệt xuất hiện trạng thái tinh thần bất thường như phiền táo dễ giận, uất ức, buồn bã muốn khóc, ngồi không yên, sau kỳ kinh lại trở lại bình thường, gọi là “kinh hành tình chí dị thường”.
Chứng này thuộc phạm vi hội chứng căng thẳng tiền kinh nguyệt trong y học hiện đại.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh]
Cơ chế bệnh lý chủ yếu là do đàm hỏa, uất nhiệt hoặc tâm huyết vốn hư, khi gặp biến hóa sinh lý trong chu kỳ kinh nguyệt thì làm rối loạn tâm thần, hoặc tâm thần mất nuôi dưỡng mà sinh bệnh. Thường gặp các thể: tâm huyết bất túc, can kinh uất nhiệt, đàm hỏa thượng nhiễu.
Do thể chất yếu nhát, tư lự lao nhọc tổn thương tỳ, tỳ hư hóa sinh không đủ, tinh huyết hư hao, tâm không được nuôi dưỡng. Đến kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm, tâm huyết càng thêm hư, tâm thần mất dưỡng, phát sinh bất ổn tình chí.
Do tính tình uất ức, hoặc giận dữ làm tổn thương can, khiến can khí uất kết, uất lâu hóa nhiệt. Trước kỳ kinh, khí xung vượng, khí xung mang theo can nhiệt nghịch lên làm rối tâm thần, đồng thời can uất nặng thêm, khí cơ bế tắc gây rối loạn tình chí.
III. Thể đàm hỏa thượng nhiễu
Do cơ địa nhiều đàm, tình chí nội thương khiến ngũ chí hóa hỏa, hoặc can mộc khắc tỳ gây tỳ hư sinh thấp, thấp tích thành đàm, đàm lâu hóa nhiệt, đàm hỏa thịnh bên trong. Trước kỳ kinh, khí xung vượng, dẫn đàm hỏa nghịch lên làm bế tâm khiếu, rối loạn tâm thần, phát sinh bất ổn tinh thần.
[Biện chứng luận trị]
Lấy hiện tượng rối loạn tình chí xảy ra có chu kỳ trước hoặc trong kỳ kinh làm điểm chính để biện chứng. Phép trị chủ yếu là dưỡng tâm an thần, tùy chứng hư thực mà điều trị cụ thể: hoặc dưỡng tâm huyết, hoặc tả can nhiệt, hoặc thanh đàm hỏa.
Dưới đây là bản dịch tiếng Việt đầy đủ, chi tiết và đúng cấu trúc chuyên môn:
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh, tinh thần hoảng hốt, tâm thần bất an, buồn bã vô cớ, hồi hộp, mất ngủ; kinh nguyệt lượng ít, màu nhạt; lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch tế.
Phân tích chứng hậu: Tâm huyết vốn hư, đến trước hoặc trong kỳ kinh, khí huyết dồn xuống xung nhâm khiến tâm huyết càng thêm hư tổn, tâm thần không được nuôi dưỡng, thần chí không yên nên sinh ra tinh thần hoảng hốt, bất an, buồn bã vô cớ, hồi hộp, mất ngủ; huyết ít, xung nhâm không đầy, huyết hải không đủ tràn, nên lượng kinh ít, màu nhạt. Lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch tế đều là dấu hiệu của huyết hư.
Phép trị: Bổ huyết dưỡng tâm, an thần định chí.
Phương dược: Cam mạch đại táo thang (《Kim Quỹ yếu lược》) hợp Dưỡng tâm thang (《Chứng trị chuẩn thằng》), bỏ Xuyên khung, Bán hạ.
Cam mạch đại táo thang: Cam thảo, Tiểu mạch, Đại táo
Dưỡng tâm thang: Hoàng kỳ, Phục linh, Phục thần, Đương quy, Xuyên khung, Bán hạ, Bá tử nhân, Viễn chí, Ngũ vị tử, Nhân sâm, Toan táo nhân, Nhục quế
Trong phương: Hoàng kỳ, Nhân sâm, Phục linh, Đại táo, Cam thảo bổ khí kiện tỳ để sinh hóa nguồn huyết; Tiểu mạch, Bá tử nhân, Viễn chí, Ngũ vị tử, Phục thần, Toan táo nhân dưỡng tâm an thần; Đương quy bổ huyết điều kinh; Nhục quế ôn dưỡng huyết mạch, thông khí tâm. Toàn phương có tác dụng bổ huyết dưỡng tâm, an thần định chí.
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh phiền táo dễ giận, hoặc uất ức buồn bã, chóng mặt hoa mắt, miệng đắng họng khô, ngực sườn căng trướng, chán ăn, kinh nguyệt lượng nhiều, màu đỏ sẫm; lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.
Phân tích chứng hậu: Can khí mất chức năng sơ tiết, uất lâu hóa nhiệt, trước kỳ kinh khí xung vượng, kéo theo nhiệt can nghịch lên, nhiễu loạn tâm thần, đồng thời can uất nặng, khí cơ bế tắc nên sinh phiền táo, buồn bã; can nhiệt thượng viêm, can nhiệt khiến mật tiết quá mức nên chóng mặt hoa mắt, miệng đắng họng khô; can uất khí trệ nên ngực sườn căng trướng; can mạnh khắc tỳ khiến chán ăn; uất nhiệt nhiễu xung nhâm thúc huyết đi sai lộ trình nên lượng kinh nhiều, màu đỏ sẫm. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác là biểu hiện của can kinh uất nhiệt.
Phép trị: Thanh can tả nhiệt, giải uất an thần.
Phương dược: Đan chi tiêu dao tán gia Xuyên đỗng tử, Sinh long xỉ, Đại giả thạch
Nếu kèm huyết ứ, có biểu hiện: bụng dưới đau sợ ấn, kinh có huyết khối, lưỡi tím sậm hoặc có điểm tím, mạch sáp hữu lực, nên dùng phép sơ can giải uất, hóa ứ an thần, phương: Huyết phủ trục ứ thang gia Thạch quyết minh, Câu đằng
III. Thể đàm hỏa thượng nhiễu
Chủ chứng: Trước hoặc trong kỳ kinh tinh thần kích động, nói năng lộn xộn, đau đầu, mất ngủ, phiền tức ngực, chán ăn; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác hữu lực.
Phân tích chứng hậu: Đàm hỏa nội thịnh, trước hoặc trong kỳ kinh, khí xung vượng, kéo đàm hỏa nghịch lên, bế tắc thanh khiếu, nên tinh thần kích động, nói năng lộn xộn, đau đầu, mất ngủ; đàm hỏa nhiễu tâm can gây tâm phiền tức ngực; đàm trệ trung tiêu khiến không muốn ăn. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác đều là biểu hiện của đàm hỏa nội thịnh.
Phép trị: Hóa đàm khai khiếu, thanh tâm an thần.
Phương dược: Ôn đởm thang (《Tam nhân cực nhất bệnh chứng phương luận》) gia Hoàng liên, Đởm tinh, Thạch xương bồ
Bán hạ, Trúc nhự, Chỉ thực, Trần bì, Cam thảo, Phục linh, Sinh khương, Đại táo
Tiết 18: Các chứng trước và sau mãn kinh
Phụ nữ trong giai đoạn quanh mãn kinh xuất hiện các triệu chứng như: bốc hỏa đỏ mặt, sau đó đổ mồ hôi, tinh thần mệt mỏi, dễ cáu giận, chóng mặt hoa mắt, ù tai hồi hộp, mất ngủ hay quên, đau mỏi thắt lưng, tay chân bứt rứt nóng, hoặc kèm rối loạn kinh nguyệt… thì gọi là “các chứng trước và sau mãn kinh”, còn gọi là “các chứng tiền – hậu kinh tuyệt”.
Các triệu chứng này thường xuất hiện xen kẽ, không có quy luật rõ ràng, số lần và thời gian phát tác không đều, có người chỉ kéo dài vài tháng, có người nhiều năm, thậm chí hơn mười năm.
Bệnh này tương ứng với hội chứng mãn kinh trong y học hiện đại. Những phụ nữ bị cắt bỏ hai buồng trứng hoặc bị suy buồng trứng do xạ trị cũng có thể xuất hiện các biểu hiện tương tự hội chứng mãn kinh.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh]
Sự phát sinh của bệnh này có liên quan mật thiết đến đặc điểm sinh lý quanh tuổi mãn kinh. Phụ nữ khoảng 49 tuổi, thận khí bắt đầu từ thịnh chuyển sang suy, thiên quý suy giảm rồi dứt, khí huyết của xung nhâm cũng theo đó mà hao tổn. Trong giai đoạn chuyển biến sinh lý này, nếu gặp các yếu tố nội ngoại như: thể chất thiên lệch âm dương, tính tình uất ức, bệnh lâu ngày, hoặc thay đổi trong môi trường sống – gia đình – xã hội, đều có thể làm mất điều hòa âm dương thận mà phát bệnh.
“Thận là gốc tiên thiên”, lại “ngũ tạng tương sinh, suy cùng tất quy về thận”, nên khi thận âm dương mất điều hòa dễ ảnh hưởng đến các tạng khác như tâm, can, tỳ… Ngược lại, bệnh lâu ngày ở các tạng cũng dễ liên lụy tổn thương đến thận, vì vậy gốc bệnh ở thận, nhưng thường liên quan đến đa tạng, đa kinh, khiến chứng trạng trở nên phức tạp. Thường gặp các thể: thận âm hư và thận dương hư.
Nếu bạn cần dịch tiếp phần các thể bệnh trong chứng tiền – hậu mãn kinh, xin gửi nội dung tiếp theo.
Do thể chất vốn thiên về âm hư huyết thiểu, trước và sau mãn kinh, thiên quý dần dần cạn kiệt, tinh huyết suy giảm, lại thêm lo nghĩ, mất ngủ khiến dinh âm hao tổn; hoặc phòng sự không điều độ làm hao tổn tinh huyết; hoặc do mất máu, mắc bệnh nặng khiến âm huyết tổn thương, thận âm càng thêm hư suy, tạng phủ mất nuôi dưỡng mà phát sinh các chứng trước và sau khi kinh dứt.
Do thể chất yếu, thận dương hư suy, trước và sau mãn kinh, thận khí càng hư tổn, lại thêm kinh sợ quá độ, hoặc phòng sự không điều độ gây tổn thương thận khí, mệnh môn hỏa suy, tạng phủ mất sưởi ấm mà sinh ra các chứng trước và sau mãn kinh.
[Biện chứng luận trị]
Biện chứng lấy hư của thận âm dương làm chủ, điều trị lấy điều hòa âm dương thận làm phép trị căn bản. Nếu có liên quan đến các tạng khác thì kiêm trị.
Chủ chứng: Trước và sau kỳ mãn kinh, chóng mặt, ù tai, đau lưng mỏi gối, bốc hỏa đổ mồ hôi, lòng bàn tay bàn chân nóng bứt rứt, mất ngủ hay mộng mị, miệng khô họng ráo, hoặc da ngứa, kinh nguyệt rối loạn, lượng ít hoặc nhiều, màu kinh đỏ tươi, lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu: Trước và sau mãn kinh, thiên quý dần cạn, thận âm bất túc, tinh huyết suy giảm, tủy hải không được nuôi dưỡng nên chóng mặt ù tai; thắt lưng là phủ của thận, thận chủ cốt, tinh huyết hư suy nên đau lưng mỏi gối; thận âm hư, âm không nhiếp dương, hư dương bốc lên nên bốc hỏa, đổ mồ hôi; thủy không chế hỏa, tâm hỏa vượng, tâm thần bất an nên mất ngủ, mộng nhiều; thận âm hư, âm hư sinh nội nhiệt, tân dịch bất túc nên phiền nhiệt ở ngũ tâm, miệng khô họng ráo; tinh huyết hư, da thịt mất nuôi dưỡng, huyết táo sinh phong nên da ngứa; thận hư thiên quý cạn kiệt, xung nhâm thất điều, huyết hải không điều hòa nên kinh nguyệt rối loạn, lượng ít hoặc nhiều, màu đỏ tươi. Lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác đều là biểu hiện của thận âm hư.
Phép trị: Tư thận ích âm, dưỡng âm tiềm dương.
Phương dược: Lục vị địa hoàng hoàn (《Nhi dược chứng trực quyết》) gia Sinh quy bản, Sinh mẫu lệ, Thạch quyết minh
Thành phần: Thục địa, Sơn dược, Sơn thù du, Phục linh, Đơn bì, Trạch tả
Nếu thận thủy bất túc, không thể chế tâm hỏa, tâm thận không giao, có triệu chứng: tâm phiền mất ngủ, hồi hộp dễ kinh, thậm chí rối loạn tinh thần, chóng mặt hay quên, đau lưng mỏi gối, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác. Trị nên tư âm bổ huyết, dưỡng tâm an thần, dùng phương Thiên vương bổ tâm đan (《Nhiếp sinh bí phẫu》)
Thành phần: Nhân sâm, Huyền sâm, Đương quy thân, Thiên môn, Mạch môn, Đan sâm, Phục linh, Ngũ vị tử, Viễn chí, Cát cánh, Toan táo nhân, Sinh địa, Chu sa, Bá tử nhân
Nếu thận âm hư, thủy không nuôi mộc, dẫn đến can thận âm hư, biểu hiện: chóng mặt, ù tai, hai bên hông đau tức, miệng đắng, ợ chua, âm hộ ngứa, lưỡi đỏ khô, mạch huyền tế. Trị nên tư thận dưỡng can, dùng phương Nhất quán tiễn (《Liễu Châu y thoại》)
Thành phần: Sa sâm, Mạch môn, Đương quy, Sinh địa, Xuyên luyện tử, Câu kỷ tử
Nếu can thận âm hư nặng, dẫn đến can dương thượng kháng, biểu hiện: hoa mắt chóng mặt, đau đầu, ù tai điếc tai, cáu gắt dễ nổi giận, mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch huyền hữu lực. Trị nên dưỡng âm tiềm dương, trấn can tức phong, dùng phương Trấn can tức phong thang (《Y học trung trung tham tây lục》)
Thành phần: Hoài ngưu tất, Sinh giả thạch, Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ, Sinh quy bản, Bạch thược, Huyền sâm, Thiên môn, Xuyên đỗng tử, Sinh mạch nha, Ấu nhân, Trần bì, Cam thảo
Nếu tình chí không toại, dẫn đến can uất hóa nhiệt, có triệu chứng: chóng mặt hoa mắt, miệng đắng họng khô, tâm phiền ngực tức, miệng khát thích uống lạnh, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác. Trị nên sơ can giải uất thanh nhiệt, dùng phương Đan chi tiêu dao tán
Chủ chứng: Trước và sau khi mãn kinh, chóng mặt, ù tai, đau lưng mỏi gối, bụng dưới lạnh và nặng, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu tiện nhiều lần hoặc không tự chủ, khí hư ra nhiều, kinh nguyệt không đều, lúc nhiều lúc ít, màu nhạt, loãng; tinh thần uể oải, sắc mặt tối xám, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm tế trì.
Phân tích chứng hậu: Trước và sau khi mãn kinh, khí của thận dần suy. Thận chủ cốt sinh tủy, lưng là phủ của thận, khi thận hư thì tủy hải và ngoại phủ mất nuôi dưỡng, nên có chóng mặt, ù tai, đau lưng, mỏi gối. Thận dương hư, hạ tiêu mất sự ôn dưỡng nên bụng dưới lạnh và nặng. Khí hóa bàng quang rối loạn, “quan môn” không giữ vững nên tiểu nhiều lần hoặc không tự chủ. Khí hóa không điều hòa, thủy thấp tích lại, giáng xuống xung nhâm, tổn thương đới mạch, khả năng thu liễm yếu, nên khí hư ra nhiều. Thận dương hư, xung nhâm mất điều tiết nên kinh nguyệt không đều, lúc nhiều lúc ít. Huyết mất dương khí ôn hóa nên màu nhạt, loãng. Thận dương hư, mệnh hỏa suy, trung dương không vận hành nên sợ lạnh, tay chân lạnh, tinh thần uể oải. Thận chủ sắc đen, thận dương hư, thủy khí thượng nghịch nên sắc mặt tối xám. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm tế trì đều là biểu hiện của thận dương hư.
Trị pháp: Ôn thận tráng dương, bổ tinh dưỡng huyết.
Phương dược: Hữu quy hoàn
Nếu thận dương hư không ôn vận được tỳ thổ, gây nên tỳ thận dương hư, triệu chứng gồm: đau lưng mỏi gối, ăn ít, bụng đầy, tay chân mệt mỏi, có thể phù nhẹ tứ chi, đại tiện lỏng nát, lưỡi nhạt, to, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch trầm tế hoãn. Phép trị: ôn thận kiện tỳ. Phương dùng: Kiện cố thang gia Bổ cốt chỉ, Tiên linh tì, Sơn dược.
Nếu âm dương của thận đều hư, biểu hiện: lúc sợ lạnh gió, lúc lại sốt nhẹ, ra mồ hôi, đau lưng mỏi gối, chóng mặt ù tai, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch trầm tế. Phép trị: bổ thận phù dương, tư thận dưỡng huyết. Phương dùng: Nhị tiên thang (《中医临床方剂手册》) gia Sinh quy bản, Nữ trinh tử.
Thành phần: Tiên mao, Tiên linh tì, Đương quy, Ba kích, Hoàng bá, Tri mẫu
→ Trong phương: Tiên mao, Tiên linh tì, Ba kích bổ thận phù dương; Sinh quy bản, Nữ trinh tử, Đương quy tư thận dưỡng huyết; Tri mẫu, Hoàng bá tư thận âm, tả tương hỏa. Cả phương bổ cả âm dương của thận, làm âm dương quân bình, các chứng trước và sau mãn kinh sẽ tự cải thiện.
Tiết mười chín: Kinh dứt tái phát
Phụ nữ sau khi mãn kinh tự nhiên 2 năm trở lên, lại thấy ra huyết âm đạo, gọi là “kinh dứt tái phát”, còn gọi là “kinh thủy tái hành ở tuổi già”.
Bệnh này tương đương với “xuất huyết sau mãn kinh” trong y học hiện đại. Nếu do bệnh lý ác tính của đường sinh dục gây nên thì tiên lượng xấu, cần đặc biệt chú ý.
[Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh]
Phụ nữ khoảng 49 tuổi, thận khí suy, thiên quý dứt, xung nhâm suy yếu, địa đạo không thông nên kinh nguyệt dừng hẳn. Nếu cơ thể vốn khí âm đều hư, tà khí ẩn nấp bên trong khiến xung nhâm không vững, có thể phát sinh chứng bệnh này. Các thể thường gặp gồm: khí hư, âm hư, huyết nhiệt, huyết ứ.
Do trung khí vốn hư, lại lao lực quá độ, tổn thương trung khí, khí hư khiến xung nhâm không vững, huyết không được giữ lại dẫn đến kinh dứt tái phát.
Do kết hôn sớm, sinh đẻ nhiều, âm huyết vốn suy, thêm phòng sự không điều độ làm tổn thương thận tinh, hoặc lớn tuổi hay lo nghĩ quá mức làm tổn hao dinh âm, âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt nhiễu xung nhâm, đẩy huyết đi sai lộ, dẫn đến kinh dứt tái phát.
III. Thể huyết nhiệt
Do cơ địa dương thịnh, hoặc ăn nhiều thức ăn cay nóng, táo nhiệt tích lại bên trong, hoặc cảm nhiệt tà, hoặc giận dữ gây can hỏa, hỏa nhiệt làm tổn thương xung nhâm, huyết đi sai đường dẫn đến kinh dứt tái phát.
Người già thể hư, khí huyết vận hành không thông, thêm tình chí uất kết, can khí uất trệ, khí trệ huyết ứ, huyết ứ tồn lưu trong xung nhâm, huyết mới đi sai đường gây nên kinh dứt tái phát.
[Biện chứng luận trị]
Bệnh này có thể là hư chứng, thực chứng, cũng có thể là hư thực lẫn lộn. Cần căn cứ vào lượng, màu, tính chất, mùi của huyết và các triệu chứng toàn thân để phân tích tổng hợp, đồng thời phối hợp các kết quả xét nghiệm để phân biệt là lành tính hay ác tính.
Thông thường, tuổi càng cao, thời gian xuất huyết càng dài, tái phát nhiều lần, khối u vùng bụng dưới to lên nhanh, kèm theo cổ trướng, thể trạng suy kiệt hoặc tốc độ lắng máu bất thường nhanh, thì khả năng bị bệnh ác tính càng cao.
Nguyên tắc điều trị: Trước tiên phân biệt là lành hay ác tính.
Với bệnh lành tính: Lấy phép “cố nhiếp xung nhâm” làm chủ, tùy hư thực mà bổ hư, công tà, hoặc phù chính khu tà.
Với bệnh ác tính: cần điều trị phối hợp đa phương pháp như phẫu thuật, xạ trị, hóa trị để nâng cao hiệu quả.
Chủ chứng: Mãn kinh tự nhiên hơn 2 năm, nay lại có kinh, lượng nhiều, màu nhạt, loãng, bụng dưới trống rỗng nặng trễ, tinh thần mệt mỏi, hơi thở ngắn, lười nói, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt đỏ, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng hậu: Khí hư khiến trung khí hạ hãm, xung nhâm không vững nên kinh trở lại, lượng nhiều, bụng dưới nặng trễ. Khí hư tỳ nhược, nguyên khí sinh hóa bất túc nên máu ra màu nhạt, loãng. Trung khí bất túc nên tinh thần mệt mỏi, hơi thở ngắn, lười nói. Trung dương không vượng thì sắc mặt trắng bệch. Lưỡi nhạt đỏ, rêu mỏng trắng, mạch hoãn nhược đều là dấu hiệu khí hư.
Trị pháp: Bổ khí dưỡng huyết, cố xung chỉ huyết.
Phương dược: An lão thang (《Phó Thanh Chủ nữ khoa》)
Thành phần: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Đương quy, Thục địa, Sơn thù du, A giao, Hắc giới tuệ, Hương phụ, Mộc nhĩ, Cam thảo sao cháy
Trong phương: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật bổ trung ích khí, cố sáp chỉ huyết; Thục địa, A giao, Đương quy dưỡng huyết chỉ huyết; Sơn thù du thu sáp chỉ huyết; Hương phụ lý khí, dùng chung với thuốc bổ khí dưỡng huyết giúp bổ mà không trệ; Hắc giới tuệ, Mộc nhĩ thán chế huyết đỏ, tăng cường năng lực cầm máu. Cả phương lấy bổ khí cố xung nhiếp huyết làm trị gốc, dưỡng huyết chỉ huyết làm trị ngọn, trị cả gốc lẫn ngọn, nên có thể đạt hiệu quả cầm máu rõ rệt.
Chủ chứng: Mãn kinh tự nhiên trên 2 năm, nay kinh nguyệt tái phát, lượng không nhiều, màu đỏ tươi, ngũ tâm phiền nhiệt, hai gò má đỏ bừng, ngủ không yên, họng khô miệng táo, âm đạo khô rát hoặc nóng rát đau nhức, da hoặc âm hộ ngứa, đại tiện táo kết, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu: Âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt bức xung nhâm, huyết đi sai lộ nên kinh nguyệt trở lại; âm hư huyết thiểu, huyết bị nhiệt thiêu đốt nên lượng ít mà màu đỏ tươi; âm hư ở dưới, dương hư ở trên nên hai má đỏ bừng; âm hư nội nhiệt, hư hỏa quấy nhiễu tâm thần nên ngũ tâm phiền nhiệt, ngủ không yên; âm hư tân dịch không đủ nên họng khô miệng táo, đại tiện táo kết; can kinh vòng quanh bộ phận sinh dục, thận chủ nhị âm, can thận âm hư, tinh huyết bất túc, ngoài âm mất nuôi dưỡng nên âm hộ ngứa, khô, nóng rát đau nhức; âm hư huyết táo, huyết hư sinh phong, phong động thì ngứa nên da ngứa. Lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác cũng là triệu chứng âm hư.
Trị pháp: Tư âm lương huyết, cố xung chỉ huyết.
Phương dược ví dụ: Thanh huyết dưỡng âm thang
Nếu trong giai đoạn ra máu, gia giảm thêm: Sinh quy bản, Sinh long cốt, A giao. Nếu ngứa da và âm hộ nghiêm trọng, gia Bạch tật lê, Kinh giới, Hà thủ ô. Nếu đại tiện táo kết, gia Hồ ma nhân, Bách tử nhân.
III. Thể huyết nhiệt
Chủ chứng: Mãn kinh tự nhiên trên 2 năm, kinh tái phát, màu đỏ sẫm, đặc dính, khí hư tăng nhiều, màu vàng, có mùi hôi, miệng đắng khô, tiểu tiện đỏ gắt, đại tiện táo kết, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền hoạt.
Phân tích chứng hậu: Nhiệt tổn thương xung nhâm, huyết bị bức thoát nên kinh nguyệt tái phát; huyết bị nhiệt thiêu đốt nên màu đỏ sẫm, đặc dính; nhiệt đốt tân dịch nên miệng đắng khô, tiểu tiện đỏ gắt, đại tiện táo kết; nhiệt độc tổn thương mạch xung nhâm nên khí hư màu vàng, có mùi hôi. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền hoạt đều là biểu hiện huyết nhiệt.
Trị pháp: Thanh nhiệt lương huyết, cố xung chỉ huyết.
Phương dược: Ích âm tiễn (《医宗金鉴》) gia Sinh mẫu lệ, Sạn căn, Địa du
Thành phần: Sinh địa, Tri mẫu, Hoàng bá, Sinh quy bản, Sa nhân, Cam thảo sao
Trong phương: Sinh địa, Sạn căn, Địa du thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết; Tri mẫu, Hoàng bá tư âm thanh nhiệt tả hỏa; Sinh quy bản, Sinh mẫu lệ cố xung chỉ huyết; thêm ít Sa nhân để dưỡng vị tỉnh tỳ, hành khí khoan trung. Cả phương có công dụng thanh nhiệt lương huyết tả hỏa, huyết không còn bị nhiệt bức, xung nhâm tự yên ổn, huyết không đi sai lộ nữa.
Nếu khí hư ra nhiều, gia Xa tiền tử, Thổ phục linh, Ý dĩ nhân. Nếu lượng máu ra nhiều hoặc tái phát liên tục, có mùi hôi tanh, gia Bạch hoa xà thiệt thảo, Thất diệp nhất chi hoa, Bán chi liên.
Chủ chứng: Mãn kinh tự nhiên trên 2 năm, kinh tái phát, màu tím sẫm có cục, lượng không ổn định, bụng dưới đau không cho sờ, có thể có khối u trong tử cung, lưỡi tím sẫm, mạch huyền sáp hoặc sáp mà có lực.
Phân tích chứng hậu: Huyết ứ trở trệ xung nhâm, huyết không theo đường nên kinh nguyệt tái phát, máu tím sẫm có cục, lượng không nhất định; huyết ứ trở ngại mạch tử cung, khí huyết không thông nên bụng dưới đau không cho sờ; huyết ứ tích tụ trong tử cung lâu ngày kết thành khối nên có khối u. Lưỡi tím sẫm, mạch huyền sáp là đặc trưng huyết ứ.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, cố xung chỉ huyết.
Phương dược: Đương quy hoàn (《圣济总录》)
Thành phần: Đương quy, Xích thược, Ngô truật, Đại hoàng, Can khương, Phụ tử, Tế tân, Đan bì, Xuyên khung, Bạng trùng, Thủy điệt, Hậu phác, Đào nhân, Quế chi
Trong phương: Xích thược nên dùng Xích thược, Quế nên dùng Quế chi. Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Quế chi hoạt huyết khứ ứ; Bạng trùng, Thủy điệt khứ ứ tiêu tích; Đại hoàng, Đan bì, Đào nhân lương huyết khứ ứ; Ngô truật, Can khương, Phụ tử, Tế tân ôn kinh tán ứ; Hậu phác hành khí trợ lực tán kết. Toàn phương có công năng hoạt huyết khứ ứ, tiêu tích hóa ứ, tiêu khối giải kết, xung nhâm thông suốt, huyết đi đúng đường, không còn bức huyết nên huyết tự dừng. Phương này công phá mạnh, chỉ dùng khi thể trạng thực và có huyết ứ kết bên trong.
Nếu ứ tích hóa nhiệt, có triệu chứng lòng bàn tay bàn chân nóng, sốt nhẹ kéo dài không lui, miệng khát, tiểu đỏ, đại tiện bí, lưỡi sẫm, rêu vàng khô, mạch huyền sác, thì bỏ Ngô truật, Can khương, Phụ tử, Tế tân, Xuyên khung, thêm Tam thất, Địa du, Quán chúng.
Nếu đau bụng dưới dữ dội, thêm Anh túc xác, Diên hồ sách.
Nếu bệnh lâu ngày, thể trạng hư nhược, sắc mặt trắng bệch, cơ thể gầy yếu, thở ngắn, ăn ít, thì bỏ Bạng trùng, Đại hoàng, thêm Hoàng kỳ, Bạch truật, Thái tử sâm.
Lương y Trường Xuân dịch