Định nghĩa
Bệnh van tim do thấp là tình trạng bệnh lý ở tim, chủ yếu ở van tim, di chứng sau viêm tim do thấp khớp cấp. Bệnh thường ảnh hưởng đến van hai lá và van động mạch chủ, gây hẹp hoặc hở van, làm cản trở tuần hoàn máu và dẫn tới suy tim. Đây là loại bệnh tim thường gặp nhất ở Trung Quốc, chiếm khoảng 40–50% trong các bệnh tim. Bệnh thường xảy ra ở người trẻ và trung niên (20–40 tuổi), nữ giới gặp nhiều hơn nam giới.
Phân loại
Thể bệnh thường gặp nhất là tổn thương đơn thuần van hai lá, tiếp theo là tổn thương kết hợp cả van hai lá và van động mạch chủ. Khoảng 1/3 đến 1/2 số bệnh nhân trước đây không có tiền sử thấp khớp cấp rõ ràng. Tổn thương van hai lá đơn thuần dạng hẹp thường gặp ở nữ. Trường hợp nhẹ hoặc trung bình có thể không có hoặc chỉ có triệu chứng rất nhẹ, vẫn sinh hoạt và lao động bình thường. Ở giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể bị khó thở, thường xuất hiện khi gắng sức. Trường hợp nặng có thể không nằm được, phải ngồi hoặc đứng để thở. Có thể ho ra máu lẫn trong đờm, thậm chí ho ra nhiều máu hoặc đờm bọt màu hồng. Nếu có tĩnh mạch cổ nổi, gan to, phù chi dưới hay phù toàn thân, đó là dấu hiệu suy tim. Trong trường hợp hở van hai lá, tim thất trái có thể giãn to. Nếu hở van hai lá ở mức độ nhẹ, bệnh nhân có thể không có triệu chứng rõ rệt; đến giai đoạn muộn thường xuất hiện khó thở, phù, ho… do suy tim.
Triệu chứng
Tổn thương van động mạch chủ đơn thuần do thấp hiếm gặp; đa số bệnh nhân có kèm tổn thương van hai lá. Tỷ lệ nam/nữ cho tổn thương van động mạch chủ do thấp khoảng 2:1. Ở giai đoạn sớm, bệnh nhân hở van động mạch chủ do thấp có thể không có triệu chứng, đến giai đoạn muộn có thể đau ngực, khó thở khi gắng sức, một số ít có thể ngất.
Tổn thương hẹp van động mạch chủ do thấp, nếu nhẹ có thể không triệu chứng, nặng có thể khó thở khi gắng sức, ngất, thậm chí đột tử.
Sau khi van tim bị tổn thương do thấp, tình trạng viêm tim tiến triển vẫn có thể tiếp tục, tái phát nhiều lần và làm tổn hại thêm van tim cũng như làm tăng gánh nặng cho tim. Vì vậy, khi điều trị bệnh van tim do thấp mạn tính, cần lưu ý xem có đang diễn ra đợt hoạt động của thấp khớp hay không.
Ở giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể gặp nhiều biến chứng như viêm đường hô hấp, suy tim, rối loạn nhịp, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp (SBE), thuyên tắc (hay gặp nhất là tắc động mạch não). Các biến chứng này có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh và gây hậu quả nghiêm trọng.
Chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh tim do thấp chủ yếu dựa vào:
Điều trị
1/Giai đoạn tim còn bù: Bệnh nhân có thể duy trì hoạt động thể lực thông thường nhưng tránh lao động nặng và tránh vận động quá mức.
2/ Giai đoạn mất bù: Chủ yếu điều trị tích cực suy tim và loại bỏ các yếu tố khởi phát, đặc biệt lưu ý phát hiện và điều trị kịp thời đợt thấp hoạt động.
3/ Phẫu thuật Nếu bệnh nhân bị hẹp van hai lá đơn thuần, có triệu chứng và đủ điều kiện phẫu thuật, có thể thực hiện tách van hai lá bằng phẫu thuật (valvuloplasty). Đây là một phẫu thuật tương đối đơn giản.
Trường hợp vừa hẹp, vừa hở van hai lá, hoặc vừa hẹp, vừa hở van động mạch chủ, mà bệnh nhân ở giai đoạn suy tim độ II–III, không có dấu hiệu thấp khớp hoạt động rõ, không mắc viêm nội tâm mạc bán cấp, thì có thể thay van nhân tạo. Đây là phẫu thuật phức tạp hơn, nhưng hiện nay nhiều nơi trong nước đã có kinh nghiệm phẫu thuật thành công.
Phòng ngừa
Ly Nguyễn Nghị