Khái luận
Trong Trung y cổ đại không có bệnh danh “bệnh tim do phong thấp” hoàn toàn tương ứng với cách gọi hiện nay. Căn cứ vào những biểu hiện như đau khớp, sốt, hồi hộp, ngực tức, thở ngắn, khó thở, phù thũng, môi tím, mệt mỏi và mạch kết đại, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi Tý chứng (痹证), Tâm tý (心痹), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Hung tý (胸痹), Suyễn chứng (喘证), Thủy thũng (水肿) và Hư lao (虚劳).
Bệnh lúc đầu thường do phong, hàn, thấp hoặc thấp nhiệt xâm nhập kinh lạc, lưu trú ở cơ nhục và khớp xương. Nếu tà khí kéo dài không giải, hoặc chính khí của người bệnh vốn suy yếu, phong thấp có thể từ kinh lạc ảnh hưởng vào Tâm, làm tâm khí bị tổn thương, tâm mạch không thông, khí huyết vận hành bất lợi.
Khi bệnh mới phát, tà khí còn thịnh, thường thấy sốt, đau khớp, sưng đau di chuyển, mình nặng, đau họng, hồi hộp và ngực tức. Khi bệnh kéo dài, tà khí dần làm tổn thương tâm khí, tâm dương, Tỳ và Thận; đồng thời đàm thấp, huyết ứ và thủy ẩm nội đình, từ đó xuất hiện hồi hộp, khó thở, mệt mỏi, phù, tiểu ít, môi tím hoặc đau tức ngực.
Bệnh cơ
Bệnh cơ của bệnh tim do phong thấp có thể khái quát bằng bốn chữ “bản hư tiêu thực” (本虚标实).
Bản hư là chính khí suy yếu, thường liên quan đến Tâm khí hư, khí âm lưỡng hư, Tâm dương hư, Tâm Tỳ lưỡng hư hoặc Tỳ Thận dương hư.
Tiêu thực là tà khí và sản vật bệnh lý làm trở ngại tâm mạch, thường gồm phong thấp, thấp nhiệt, đàm trọc, huyết ứ, khí trệ và thủy ẩm.
Trong giai đoạn đầu, phong thấp hoặc thấp nhiệt thường là chính. Khi bệnh kéo dài, Tâm khí và Tâm dương suy dần, Tỳ mất kiện vận, Thận mất khí hóa, đàm thấp và thủy ẩm tích tụ. Khí không hành được huyết thì huyết ứ; dương không hóa được thủy thì phù thũng; đàm và ứ cùng trở thì ngực tức, hồi hộp và khó thở.
Vì vậy, điều trị không thể chỉ khu phong trừ thấp, cũng không thể chỉ bổ khí ôn dương. Cần căn cứ tà chính thịnh suy, phân biệt hàn nhiệt, hư thực, đàm, ứ và thủy để lập pháp điều trị.
Một. Phong thấp tà thịnh
Phong thấp tà thịnh thường gặp khi bệnh còn ở giai đoạn đầu hoặc đang phát tác. Căn cứ tính chất hàn nhiệt, có thể chia thành phong thấp nhiệt và phong hàn thấp.
Phong thấp nhiệt
Chứng trạng
Sốt hoặc sốt nhẹ kéo dài, đau họng, các khớp sưng đau, đau di chuyển, mình nặng, miệng khô, hồi hộp, ngực tức, chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch hoạt sác hoặc nhu sác.
Bệnh cơ
Phong thấp nhiệt lưu trú ở kinh lạc làm khí huyết không thông nên các khớp sưng đau. Thấp nhiệt uất lại, lâu ngày ảnh hưởng vào Tâm, làm tâm khí không yên, tâm mạch không lợi nên hồi hộp và ngực tức.
Pháp trị
Thanh nhiệt hóa thấp, khu phong thông lạc, kiêm dưỡng Tâm.
Phương thang
Tuyên tý thang gia giảm (宣痹汤加减): Phòng kỷ (防己), Hạnh nhân (杏仁), Hoạt thạch (滑石), Ý dĩ nhân (薏苡仁), Liên kiều (连翘), Chi tử (栀子), Bán hạ (半夏), Tằm sa (蚕沙), Xích tiểu đậu (赤小豆), Đan sâm (丹参), Xích thược (赤芍), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Đau họng rõ gia Ngưu bàng tử (牛蒡子), Cát cánh (桔梗), Huyền sâm (玄参); đau khớp nhiều gia Tang chi (桑枝), Tần giao (秦艽), Hải phong đằng (海风藤); hồi hộp, mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁), Viễn chí (远志); nhiệt rõ gia Thạch cao (石膏), Tri mẫu (知母).
Ý nghĩa
Phòng kỷ, Ý dĩ nhân và Hoạt thạch hóa thấp thông tý; Hạnh nhân tuyên Phế, điều đạt khí cơ; Liên kiều và Chi tử thanh nhiệt; Bán hạ hóa đàm thấp; Tằm sa và Xích tiểu đậu trừ thấp thông lạc; Đan sâm và Xích thược hoạt huyết, giúp tâm mạch lưu thông.
Phong hàn thấp
Chứng trạng
Đau khớp, đau mình mẩy, gặp lạnh đau tăng, gặp ấm giảm, chân tay lạnh, mình nặng, ngực tức, hồi hộp, thở ngắn, sắc mặt nhợt, rêu trắng nhầy, mạch trầm khẩn hoặc nhu hoãn.
Bệnh cơ
Phong hàn thấp xâm nhập kinh lạc, hàn làm co rút, thấp làm nặng nề, phong làm đau di chuyển. Nếu tà khí kéo dài, tâm dương bị ảnh hưởng, tâm mạch mất ôn thông nên xuất hiện hồi hộp, ngực tức và thở ngắn.
Pháp trị
Khu phong tán hàn, trừ thấp thông lạc, ôn thông tâm dương.
Phương thang
Quyên tý thang gia giảm (蠲痹汤加减): Khương hoạt (羌活), Độc hoạt (独活), Tần giao (秦艽), Tang chi (桑枝), Hải phong đằng (海风藤), Quế chi (桂枝), Đương quy (当归), Xuyên khung (川芎), Hoàng kỳ (黄芪), Đan sâm (丹参), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Hàn rõ gia Can khương (干姜); đau cố định gia Uy linh tiên (威灵仙); hồi hộp nhiều gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎), Toan táo nhân (酸枣仁). Phụ tử, Xuyên ô và Thảo ô chỉ được dùng khi có thầy thuốc chuyên môn theo dõi.
Ý nghĩa
Khương hoạt, Độc hoạt, Tần giao, Tang chi và Hải phong đằng khu phong trừ thấp; Quế chi ôn dương thông mạch; Đương quy, Xuyên khung và Đan sâm dưỡng huyết hoạt huyết; Hoàng kỳ ích khí; Phục linh kiện Tỳ thẩm thấp.
Hai. Tâm khí và khí âm suy
Sau khi tà khí lưu trú lâu ngày, hoặc bệnh tái phát nhiều lần, tâm khí dần suy. Nếu khí hư lâu ngày làm tổn thương âm huyết, có thể hình thành khí âm lưỡng hư.
Tâm khí hư
Chứng trạng
Hồi hộp, trống ngực, thở ngắn, mệt mỏi, tiếng nói nhỏ, vận động thì bệnh tăng, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, ăn uống kém, lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch hư nhược hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Tâm chủ huyết mạch. Tâm khí suy thì không đủ sức thúc đẩy huyết dịch vận hành, tâm mạch mất đầy đủ nên hồi hộp, thở ngắn. Khí hư không cố biểu nên tự ra mồ hôi; lao lực làm khí hao nên vận động thì triệu chứng tăng.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, an thần định quý.
Phương thang
Dưỡng tâm thang gia giảm (养心汤加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Phục linh (茯苓), Phục thần (茯神), Đương quy (当归), Xuyên khung (川芎), Bá tử nhân (柏子仁), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣).
Gia giảm
Thở ngắn rõ gia Mạch đông (麦冬), Ngũ vị tử (五味子); mất ngủ gia Dạ giao đằng (夜交藤), Hợp hoan bì (合欢皮); mạch kết đại có thể tham khảo ý Chích cam thảo thang, nhưng cần căn cứ tình trạng cụ thể.
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Phục linh và Phục thần kiện Tỳ an thần; Đương quy và Xuyên khung dưỡng huyết hoạt huyết; Bá tử nhân, Toan táo nhân và Viễn chí dưỡng Tâm; Ngũ vị tử liễm khí sinh tân.
Khí âm lưỡng hư
Chứng trạng
Hồi hộp, tức ngực, thở ngắn, mệt mỏi, miệng họng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng, mất ngủ, ra mồ hôi trộm, đau âm ỉ vùng ngực, lưỡi hơi đỏ hoặc có điểm ứ, ít rêu, mạch tế sác hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Khí hư không đủ sức hành huyết, âm hư không đủ để nhu dưỡng tâm mạch. Khí âm đều suy khiến tâm mất nuôi dưỡng, đồng thời huyết hành chậm mà sinh ứ, vì vậy vừa có hồi hộp, mệt mỏi, vừa có miệng khô, nóng âm ỉ và đau tức ngực.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, dưỡng Tâm an thần, kiêm hoạt huyết thông mạch.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Nhân sâm (人参) hoặc Đảng sâm (党参), Mạch đông (麦冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa (生地), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Xích thược (赤芍).
Gia giảm
Mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁); ngực tức đau gia Uất kim (郁金), Xuyên khung (川芎), Qua lâu (瓜蒌); ra mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Nhân sâm hoặc Đảng sâm ích khí; Mạch đông, Sinh địa và A giao dưỡng âm huyết; Ngũ vị tử liễm khí sinh tân; Quế chi thông dương mạch; Đan sâm và Xích thược hoạt huyết thông Tâm.
Ba. Tâm dương suy, thủy ẩm nội đình
Tâm dương hư thường do bệnh kéo dài làm tổn thương tâm khí, khí hư lâu ngày ảnh hưởng đến dương; cũng có thể do Tỳ Thận dương hư không đủ sức ôn dưỡng Tâm.
Chứng trạng
Hồi hộp, khó thở, ngực tức, vận động thì bệnh tăng, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt nhợt hoặc xanh tái, phù chân, tiểu ít; nặng hơn có thể khó thở khi nằm, bụng trướng, lưng gối mỏi lạnh, ăn kém, phân lỏng. Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn, mạch trầm tế, trầm trì hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Tâm dương hư thì huyết mạch không được ôn thông, khí huyết vận hành chậm. Tỳ dương suy thì thủy thấp không được vận hóa; Thận dương suy thì khí hóa bất lợi. Thủy ẩm đình lại, phạm lên Tâm Phế nên hồi hộp, khó thở, ngực tức; tràn xuống dưới thì phù và tiểu ít.
Pháp trị
Ôn dương ích khí, kiện Tỳ lợi thủy, thông Tâm mạch.
Phương thang
Chân vũ thang hợp Linh quế truật cam thang gia giảm (真武汤合苓桂术甘汤加减): Phụ tử chế (制附子), Phục linh (茯苓), Bạch truật (白术), Bạch thược (白芍), Sinh khương (生姜), Quế chi (桂枝), Chích cam thảo (炙甘草), Hoàng kỳ (黄芪), Đan sâm (丹参), Trạch tả (泽泻).
Nếu Tỳ Thận dương hư và thủy thũng rõ, có thể tham khảo Tế sinh thận khí hoàn hợp Chân vũ thang gia giảm (济生肾气丸合真武汤加减): Thục địa hoàng (熟地黄), Sơn thù du (山茱萸), Sơn dược (山药), Phục linh (茯苓), Trạch tả (泽泻), Mẫu đơn bì (牡丹皮), Phụ tử chế (制附子), Quế chi (桂枝) hoặc Nhục quế (肉桂), Ngưu tất (牛膝), Xa tiền tử (车前子), Bạch truật (白术), Sinh khương (生姜).
Gia giảm
Phù nhiều gia Trư linh (猪苓), Xa tiền tử (车前子), Đại phúc bì (大腹皮); khó thở, đàm nhiều gia Tô tử (苏子), Đình lịch tử (葶苈子), Tang bạch bì (桑白皮); hồi hộp nhiều gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎), Từ thạch (磁石); ăn kém gia Đảng sâm (党参), Sa nhân (砂仁), Trần bì (陈皮).
Ý nghĩa
Phụ tử chế và Quế chi ôn dương thông mạch; Phục linh, Bạch truật, Trạch tả và Xa tiền tử kiện Tỳ lợi thủy; Hoàng kỳ ích khí, giúp khí hóa thủy dịch; Đan sâm hoạt huyết thông Tâm; Thục địa, Sơn thù du và Sơn dược bổ Thận, kiện Tỳ.
Chú ý
Phụ tử là vị thuốc có độc tính, không được tự ý sử dụng. Người phù nhiều, khó thở khi nằm, tiểu ít, môi tím hoặc mệt lả không nên chỉ dựa vào thuốc thang.
Bốn. Đàm trọc, huyết ứ trở mạch
Khi Tỳ mất kiện vận, đàm thấp nội sinh; khi Tâm khí suy, huyết vận hành không lợi, lâu ngày thành huyết ứ. Đàm và ứ thường kết hợp, cùng làm trở ngại tâm mạch.
Đàm trọc trở ngực
Chứng trạng
Ngực tức nặng, khó thở, ho nhiều đờm, đờm trắng loãng hoặc dính, hồi hộp, mệt mỏi, ăn kém, bụng đầy, rêu trắng nhầy, mạch hoạt hoặc nhu.
Bệnh cơ
Tỳ hư sinh đàm, đàm trọc tụ ở vùng ngực, làm Phế khí mất tuyên giáng và tâm mạch vận hành không thuận. Vì vậy, người bệnh vừa khó thở, ho đờm, vừa hồi hộp và ngực tức.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, khoan hung lý khí, thông Tâm mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Nhị trần thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合二陈汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草), Chỉ xác (枳壳), Đan sâm (丹参), Hạnh nhân (杏仁), Hoàng kỳ (黄芪).
Gia giảm
Đàm nhiều, ngực nặng gia Tô tử (苏子), Lai phục tử (莱菔子); khó thở nhiều gia Đình lịch tử (葶苈子), Tang bạch bì (桑白皮); ăn kém, bụng đầy gia Sa nhân (砂仁), Bạch truật (白术), Mộc hương (木香).
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Bán hạ, Trần bì, Phục linh và Cam thảo kiện Tỳ hóa đàm; Hạnh nhân tuyên Phế giáng khí; Chỉ xác lý khí; Hoàng kỳ ích khí; Đan sâm hoạt huyết thông mạch.
Huyết ứ trở Tâm
Chứng trạng
Đau tức ngực, đau vùng trước tim, môi tím, sắc mặt tối, hồi hộp, khó thở, bệnh kéo dài, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, tĩnh mạch dưới lưỡi tím giãn, mạch sáp hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Tâm khí suy làm huyết hành chậm; đàm thấp, khí trệ và hàn ngưng đều có thể làm huyết mạch sáp trệ. Huyết ứ ở Tâm thì đau ngực, môi tím và lưỡi tím.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, lý khí thông mạch.
Phương thang
Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (血府逐瘀汤加减): Đương quy (当归), Sinh địa (生地), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Ngưu tất (牛膝), Sài hồ (柴胡), Chỉ xác (枳壳), Cát cánh (桔梗), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Đau nhiều gia Huyền hồ sách (玄胡索); hồi hộp mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志); đàm nhiều gia Qua lâu (瓜蒌), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮).
Ý nghĩa
Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược, Xuyên khung và Đan sâm hoạt huyết hóa ứ; Sài hồ, Chỉ xác và Uất kim điều đạt khí cơ; Đương quy và Sinh địa dưỡng huyết; Cát cánh khai tuyên vùng ngực; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống.
Vai trò của Tam thất
Tam thất (三七) có công năng hóa ứ, chỉ huyết và định thống, thường được dùng trong các chứng huyết ứ có đau. Đặc điểm của vị thuốc này là hoạt huyết mà kiêm chỉ huyết, nhưng không vì vậy mà có thể sử dụng tùy tiện.
Tam thất chỉ nên dùng khi biện chứng có huyết ứ rõ và phải xét đến thể trạng, tuổi tác, tình trạng xuất huyết cũng như các thuốc người bệnh đang dùng. Không nên xem Tam thất là thuốc bổ tim hoặc thuốc dùng chung cho mọi chứng hồi hộp, đau ngực.
Vì sao không nên lạm dụng hoạt huyết hóa ứ
Tâm thống thường liên quan đến tâm mạch không thông, vì vậy hoạt huyết hóa ứ là một phép trị quan trọng. Tuy nhiên, bệnh tim do phong thấp phần nhiều thuộc bản hư tiêu thực. Nếu chỉ chú trọng phá ứ mà không xét khí hư, dương hư, âm hư hoặc Tỳ Thận suy, có thể làm chính khí càng tổn thương.
Người Tâm khí hư cần ích khí để hành huyết; người khí âm lưỡng hư cần vừa bổ khí vừa dưỡng âm; người Tâm dương hư cần ôn dương thông mạch; người đàm thấp nặng cần kiện Tỳ hóa đàm; chỉ khi huyết ứ rõ mới tăng cường hoạt huyết.
Nói tóm lại, thông mạch phải đi cùng phù chính; khu tà không được làm tổn thương chính khí; bổ hư cũng phải tránh lưu tà. Đây là tinh thần căn bản của biện chứng luận trị.
Điều dưỡng
Người bệnh nên giữ sinh hoạt điều độ, tránh lao lực quá mức, giữ ấm khi thời tiết lạnh, ăn uống thanh đạm, hạn chế thức ăn béo ngọt, rượu và thức ăn khó tiêu. Khi có phù hoặc tiểu ít, không nên tự dùng nhiều thức ăn hoặc dược liệu lợi thủy.
Tinh thần nên giữ hòa hoãn, tránh giận dữ, lo nghĩ và mất ngủ kéo dài. Có thể đi bộ nhẹ, tập thở chậm hoặc thực hành những động tác dưỡng sinh đơn giản khi cơ thể ổn định, nhưng không nên tập quá sức.
Chú ý
Bài viết chỉ trình bày nhận thức và phương pháp biện chứng của Trung y. Khi xuất hiện đau ngực dữ dội hoặc kéo dài, khó thở tăng nhanh, vã mồ hôi, choáng ngất, tím môi, ho ra máu, phù nhiều hoặc tim đập loạn rõ, cần đi khám hoặc cấp cứu kịp thời. Không nên dùng thuốc thang, châm cứu hoặc bấm huyệt để trì hoãn việc cấp cứu.
Kết luận
Bệnh tim do phong thấp trong Trung y có thể quy vào phạm vi Tâm tý, Tâm quý, Chinh xung, Hung tý, Suyễn chứng, Thủy thũng và Hư lao. Bệnh ban đầu thường do phong thấp hoặc thấp nhiệt xâm nhập; lâu ngày tà khí làm tổn thương tâm khí, tâm dương, Tỳ và Thận, đồng thời sinh đàm, ứ và thủy ẩm.
Điều trị cần căn cứ từng giai đoạn. Khi phong thấp tà thịnh thì khu phong, thanh nhiệt, tán hàn, hóa thấp; khi Tâm khí và khí âm suy thì ích khí dưỡng âm; khi Tâm dương suy, thủy ẩm đình lại thì ôn dương lợi thủy; khi đàm trọc và huyết ứ trở mạch thì hóa đàm, lý khí, hoạt huyết thông mạch.
Toàn bộ quá trình điều trị phải giữ nguyên tắc phân biệt hư thực, tiêu bản và hoãn cấp, vừa khu tà vừa phù chính, vừa thông mạch vừa bảo vệ khí huyết.
Ly Trường Xuân biên soạn và tổng hợp