Bàn về gốc bệnh do khí giao mất giữ, thăng giáng không thông, tư thiên không thiên chính, không lui vị, và dịch lệ phát sinh
Chú ý nhỏ: Thiên này có nhiều nội dung thuộc vận khí học cổ, nói về “dịch”, “lệ”, “thi quỷ”, “thần thất thủ”. Nên hiểu theo văn cảnh cổ: khí trời đất, chính khí, tinh thần và dịch khí tương ứng nhau. Không nên hiểu các đoạn “quỷ thần” theo nghĩa mê tín đơn giản, cũng không xem đây là hướng dẫn y tế hiện đại.
Đoạn 1
Nguyên văn
黄帝问曰:天元九窒,余已知之,愿闻气交,何名失守?歧伯曰:谓其上下升降,迁正退位,各有经论,上下各有不前,故名失守也。是故气交失易位,气交乃变,变易非常,即四时失序,万化不安,变民病也。
Hán Việt
Hoàng Đế vấn viết: Thiên nguyên cửu trất, dư dĩ tri chi, nguyện văn khí giao, hà danh thất thủ?
Kỳ Bá viết: Vị kỳ thượng hạ thăng giáng, thiên chính thoái vị, các hữu kinh luận, thượng hạ các hữu bất tiền, cố danh thất thủ dã. Thị cố khí giao thất dịch vị, khí giao nãi biến; biến dịch phi thường, tức tứ thời thất tự, vạn hóa bất an, biến dân bệnh dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Chín điều bế tắc của Thiên nguyên, ta đã biết rồi. Nay muốn nghe về khí giao: thế nào gọi là “thất thủ”?
Kỳ Bá nói:
Đó là nói về sự thăng giáng của trên dưới, sự thiên chính và thoái vị, mỗi việc đều có kinh luận riêng. Trên dưới đều có khi không tiến được, nên gọi là thất thủ.
Vì vậy, khi khí giao mất sự đổi vị đúng đắn, khí giao bèn biến. Biến đổi bất thường thì bốn mùa mất thứ tự, muôn hóa không yên, biến thành bệnh của dân.
Giải thích từ ngữ
Thiên nguyên cửu trất: chín dạng bế tắc trong hệ Thiên nguyên vận khí.
Khí giao: nơi khí trời, khí đất và khí người giao nhau.
Thất thủ: mất chỗ giữ, không giữ đúng vị trí, đúng thời, đúng lệnh.
Thiên chính: khí mới lên nắm đúng chính vị.
Thoái vị: khí cũ lui khỏi vị trí khi hết thời.
Đoạn 2
Nguyên văn
帝曰:升降不前,愿闻其故,气交有变,何以明知?
歧伯曰:昭乎问哉!明乎道矣。气交有变,是谓天地机,但欲降而不得降者,地窒刑之。又有五运太过,而先天而至者,即交不前,但欲升而不得其升,中运抑之,但欲降而不得其降,中运抑之。于是有升之不前,降之不下者,升而至天者,有升降俱不前,作如此之分别,即气交之变,变之有异,常各各不同,灾有微甚者也。
Hán Việt
Đế viết: Thăng giáng bất tiền, nguyện văn kỳ cố, khí giao hữu biến, hà dĩ minh tri?
Kỳ Bá viết: Chiêu hồ vấn tai! Minh hồ đạo hĩ. Khí giao hữu biến, thị vị thiên địa cơ. Đãn dục giáng nhi bất đắc giáng giả, địa trất hình chi. Hựu hữu ngũ vận thái quá, nhi tiên thiên nhi chí giả, tức giao bất tiền. Đãn dục thăng nhi bất đắc kỳ thăng, trung vận ức chi; đãn dục giáng nhi bất đắc kỳ giáng, trung vận ức chi. Ư thị hữu thăng chi bất tiền, giáng chi bất hạ giả; thăng nhi chí thiên giả; hữu thăng giáng câu bất tiền. Tác như thử chi phân biệt, tức khí giao chi biến. Biến chi hữu dị, thường các các bất đồng, tai hữu vi thậm giả dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Thăng giáng không tiến, ta muốn nghe nguyên nhân. Khi khí giao có biến, làm sao biết rõ?
Kỳ Bá nói:
Câu hỏi sáng rõ thay! Bệ hạ đã hiểu đạo rồi.
Khí giao có biến, đó gọi là cơ của trời đất. Nếu khí muốn giáng mà không giáng được, là do địa khí bế tắc mà hình phạt nó.
Lại có trường hợp năm vận thái quá, đến trước thời trời, khiến khí giao không tiến. Khí muốn thăng mà không thăng được là do trung vận đè nén nó; khí muốn giáng mà không giáng được cũng do trung vận đè nén nó.
Vì vậy có trường hợp thăng không tiến, giáng không xuống; có trường hợp khí thăng lên đến trời; lại có trường hợp cả thăng và giáng đều không tiến. Phân biệt như vậy thì biết đó là biến của khí giao. Biến ấy có nhiều khác biệt, thường mỗi loại không giống nhau, tai họa có nhẹ có nặng.
Giải thích từ ngữ
Thiên địa cơ: cơ vi diệu của trời đất, tức chỗ vận hành then chốt của khí.
Trung vận: vận khí ở giữa, có thể đè nén thăng giáng của khí khác.
Tiên thiên nhi chí: khí đến trước thời trời, tức đến quá sớm.
Đoạn 3
Nguyên văn
帝曰:愿闻气交遇会胜抑之由,变成民病,轻重何如?歧伯曰:胜相会,抑伏使然。
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Ta muốn nghe nguyên nhân khi khí giao gặp hội, thắng và bị đè nén, rồi biến thành bệnh của dân, nhẹ nặng ra sao?
Kỳ Bá nói:
Khí thắng gặp nhau, do sự đè nén và ẩn phục mà thành như vậy.
Giải thích từ ngữ
Thắng: khí này lấn thắng khí khác.
Ức phục: bị đè nén mà ẩn lại, lâu ngày thành uất.
Đoạn 4
Nguyên văn
是故辰戌之岁,木气升之,主逢天柱,胜而不前。又遇庚戌,金运先天,中运胜之,忽然不前。木运升天,金乃抑之,升而不前,即清生风少,肃杀于春,露霜复降,草木乃萎。民病温疫早发,咽嗌乃乾,四肢满,肢节皆痛。久而化郁,即大风摧拉,折陨鸣紊。民病卒中徧痹,手足不仁。
Dịch nghĩa
Cho nên, vào các năm Thìn và Tuất, Mộc khí muốn thăng lên, gặp Thiên trụ làm chủ, tuy thắng mà không tiến được. Lại gặp năm Canh Tuất, Kim vận đến trước thời trời, trung vận thắng Mộc, khiến Mộc bỗng nhiên không tiến được.
Mộc vận muốn thăng lên trời, nhưng bị Kim đè nén. Thăng mà không tiến, thì khí thanh lạnh sinh ra, phong khí ít đi, sát khí túc sát xuất hiện ngay trong mùa xuân, móc sương lại giáng, cây cỏ bèn héo.
Dân chúng mắc ôn dịch phát sớm, họng và hầu khô, bốn chi đầy nặng, các khớp đều đau. Lâu ngày hóa thành uất, thì đại phong nổi lên, bẻ gãy, kéo đổ, rơi rụng, tiếng động rối loạn. Dân chúng mắc chứng trúng phong đột ngột, tê bại toàn thân, tay chân mất cảm giác.
Giải thích từ ngữ
Mộc khí thăng: Mộc chủ sinh phát, đáng thăng lên vào thời xuân.
Kim ức Mộc: Kim khắc Mộc, nên làm Mộc không phát được.
Túc sát vu xuân: khí thu sát xuất hiện ở mùa xuân, là trái thời.
Ôn dịch tảo phát: dịch ôn phát sớm do khí xuân không được phát đúng mà uất hóa.
Đoạn 5
Nguyên văn
是故己亥之岁,君火升天,主窒天蓬,胜之不前。又厥阴木迁正,则少阴未得升天,水运以至其中者。君火欲升,而中水运抑之,升之不前,即清寒复作,冷生旦暮。民病伏阳,而内生烦热,心神惊悸,寒热闲作。日久成郁,即暴热乃至,赤风肿翳,化疫,温疠暖作,赤气瘴而化火疫,皆烦而躁渴,渴甚治之以泄之可止。
Dịch nghĩa
Cho nên năm Kỷ Hợi, Quân hỏa muốn thăng lên trời, gặp Thiên bồng làm chủ bế tắc, tuy thắng mà không tiến được. Lại khi Quyết âm Mộc thiên chính, thì Thiếu âm chưa được thăng lên trời, mà Thủy vận đến ở giữa.
Quân hỏa muốn thăng nhưng bị trung vận Thủy đè nén, nên thăng mà không tiến. Khi ấy thanh hàn lại phát, lạnh sinh vào sáng sớm và chiều tối.
Dân chúng mắc phục dương, bên trong sinh phiền nhiệt, Tâm thần kinh sợ, hồi hộp, hàn nhiệt xen nhau phát. Lâu ngày thành uất, thì bạo nhiệt đến, xích phong, sưng và màng che ở mắt xuất hiện, hóa thành dịch. Ôn lệ và khí ấm phát ra, xích khí thành chướng, hóa thành Hỏa dịch. Người bệnh đều phiền, bứt rứt, khát. Nếu khát nặng, trị bằng phép tiết hạ thì có thể dừng.
Giải thích từ ngữ
Quân hỏa: Thiếu âm Quân hỏa.
Thủy vận ức Hỏa: Thủy khắc Hỏa, làm Hỏa uất.
Phục dương: dương khí bị phục ở trong, không phát được ra ngoài.
Hỏa dịch: dịch bệnh thuộc Hỏa, thường có sốt, phiền, khát, huyết động, mắt đỏ.
Đoạn 6
Nguyên văn
是故子午之岁,太阴升天,主窒天冲,胜之不前。又或遇壬子,木运先天而至者,中木遇抑之也。升天不前,即风埃四起,时举埃昏,雨湿不化。民病风厥涎潮,徧痹不随,胀满。久而伏郁,即黄埃化疫也,民病夭亡,脸肢府黄疸满闭,湿令弗布,雨化乃微。
Dịch nghĩa
Cho nên năm Tý và Ngọ, Thái âm muốn thăng lên trời, gặp Thiên xung làm chủ bế tắc, tuy thắng mà không tiến được. Lại có khi gặp năm Nhâm Tý, Mộc vận đến trước thời trời, trung Mộc bị đè nén.
Thăng lên trời mà không tiến, thì gió và bụi nổi khắp bốn phía, thường có bụi mù u ám, mưa thấp không hóa. Dân chúng mắc phong quyết, nước dãi trào, tê bại toàn thân, chi thể không theo ý, trướng đầy.
Lâu ngày phục uất, thì bụi vàng hóa thành dịch. Dân chúng mắc bệnh chết yểu, mặt, tay chân, tạng phủ đều vàng, hoàng đản, đầy bế. Thấp lệnh không phân bố, mưa hóa rất ít.
Giải thích từ ngữ
Thái âm thăng thiên: Thấp thổ muốn lên giữ chính vị.
Phong quyết: phong khí nghịch loạn gây quyết, choáng ngất hoặc co giật.
Hoàng ai hóa dịch: bụi vàng, thấp trọc uất lâu hóa thành dịch lệ thuộc Thổ thấp.
Đoạn 7
Nguyên văn
是故丑未之年,少阳升天,主窒天蓬,胜之不前。又或遇太阴未迁正者,即少阴未升天也,水运以至者。升天不前,即寒氛反布,凛冽如冬,水复涸,冰再结,暄暖乍作,冷复布之,寒暄不时。民病伏阳在内,烦热生中,心神惊骇,寒热闲争。以久成郁,即暴热乃生,赤风气瞳翳,化成郁疠,乃作伏热内烦,痹而生厥,甚则血溢。
Dịch nghĩa
Cho nên năm Sửu và Mùi, Thiếu dương muốn thăng lên trời, gặp Thiên bồng làm chủ bế tắc, tuy thắng mà không tiến được. Lại có khi Thái âm chưa thiên chính, tức Thiếu âm chưa được thăng lên trời, mà Thủy vận đến.
Thăng lên trời mà không tiến, thì hàn khí mờ lạnh lại phân bố, rét buốt như mùa đông; nước lại cạn, băng lại kết. Khí ấm vừa mới phát thì lạnh lại phân bố, hàn và ấm không đúng thời.
Dân chúng mắc phục dương ở trong, phiền nhiệt sinh ở trung tiêu, Tâm thần kinh hãi, hàn nhiệt xen nhau tranh. Lâu ngày thành uất, thì bạo nhiệt sinh ra; xích phong làm đồng tử và mắt có màng che, hóa thành uất lệ. Bệnh thành phục nhiệt ở trong, phiền bứt rứt, tê bại rồi sinh quyết; nặng thì huyết tràn.
Giải thích từ ngữ
Thiếu dương: Tướng hỏa.
Thủy vận đến: Thủy khắc Hỏa, làm Thiếu dương Hỏa bị uất.
Uất lệ: dịch lệ do khí uất lâu hóa thành.
Đoạn 8
Nguyên văn
是故寅申之年,阳明升天,主窒天英,胜之不前。又或遇戊戊寅,火运先天而至。金欲升天,火运抑之,升之不前,即时雨不降,西风数举,咸卤燥生。民病上热喘嗽血溢。久而化郁,即白埃翳雾,清生杀气,民病胁满悲伤,寒鼽嚏嗌乾,手拆皮肤燥。
Dịch nghĩa
Cho nên năm Dần và Thân, Dương minh muốn thăng lên trời, gặp Thiên anh làm chủ bế tắc, tuy thắng mà không tiến được. Lại có khi gặp Mậu Dần, Hỏa vận đến trước thời trời. Kim muốn thăng lên trời, nhưng bị Hỏa vận đè nén, nên thăng mà không tiến.
Khi ấy mưa đúng thời không giáng, gió Tây thường nổi, khí mặn kiềm và khô táo sinh ra. Dân chúng mắc thượng nhiệt, suyễn ho, huyết tràn.
Lâu ngày hóa uất, thì bụi trắng, màng che, sương mù xuất hiện; khí thanh sinh sát khí. Dân chúng mắc hông sườn đầy, buồn thương, lạnh, chảy nước mũi, hắt hơi, họng khô, tay nứt nẻ, da khô táo.
Giải thích từ ngữ
Dương minh: Táo kim.
Hỏa ức Kim: Hỏa khắc Kim, làm Kim không thăng.
Thượng nhiệt suyễn thấu: nhiệt ở trên làm Phế khí nghịch, ho suyễn, huyết động.
Đoạn 9
Nguyên văn
是故卯酉之年,太阳升天,土窒天内,胜之不前。又遇阳明未迁正者,即太阳未升天也,土运以至。水欲升天,土运抑之,升之不前,即湿而热蒸,寒生雨闲。民病注不,食不及化。久而成郁,冷来客热,冰雹卒至。民病厥逆而哕,热生于内,气痹于外,足胫酸疼,反生心悸懊热,暴烦而复厥。
Dịch nghĩa
Cho nên năm Mão và Dậu, Thái dương muốn thăng lên trời, bị Thổ làm bế tắc ở Thiên nội, tuy thắng mà không tiến được. Lại gặp Dương minh chưa thiên chính, tức Thái dương chưa thăng lên trời, mà Thổ vận đến.
Thủy muốn thăng lên trời, nhưng bị Thổ vận đè nén, nên thăng mà không tiến. Khi ấy thấp và nhiệt cùng hun bốc, hàn sinh giữa các đợt mưa. Dân chúng mắc chứng thức ăn ứ lại, ăn vào không kịp hóa.
Lâu ngày thành uất, lạnh đến khách vào nhiệt, băng mưa đá bỗng đến. Dân chúng mắc quyết nghịch mà nấc, nhiệt sinh ở trong, khí tý ở ngoài, cẳng chân đau mỏi, lại sinh Tâm quý, áo nhiệt, bạo phiền rồi lại quyết.
Giải thích từ ngữ
Thái dương: Hàn thủy.
Thổ ức Thủy: Thổ khắc Thủy, khiến Thủy không thăng.
Thực bất cập hóa: ăn vào không tiêu hóa kịp, thường do trung tiêu thấp trệ, hàn nhiệt lẫn lộn.
Đoạn 10
Hoàng Đế nói:
Thăng không tiến, ta đã biết hết ý chỉ. Nay muốn nghe giáng không xuống, có thể làm sáng rõ chăng?
Kỳ Bá nói:
Câu hỏi thật đầy đủ thay! Đây là ý vi diệu của trời đất, có thể trình bày hết đạo ấy. Đó gọi là đã thăng thì phải giáng. Đến trời ba năm, năm kế tiếp tất phải giáng. Khi giáng vào đất, bắt đầu làm tả gian. Thăng giáng qua lại như vậy, gọi là sáu kỷ.
Cho nên năm Sửu và Mùi, Quyết âm giáng xuống đất, gặp Địa hạo làm chủ bế tắc, tuy thắng mà không tiến. Lại có khi Thiếu âm chưa lui vị, tức Quyết âm chưa giáng xuống, mà Kim vận đến ở giữa. Kim vận thừa tiếp nó, khiến giáng không xuống. Bị đè nén mà biến thành uất.
Mộc muốn giáng xuống, nhưng bị Kim thừa tiếp, nên giáng mà không xuống. Bụi xanh hiện ở xa, khí trắng thừa tiếp, gió nổi bụi mù, khí thanh táo thi hành sát lệnh, sương móc lại giáng, túc sát phân bố mệnh lệnh.
Lâu ngày không giáng, bị đè nén hóa uất, thì phong và táo ẩn phục nhau; khí ấm mà lại trở thành thanh lạnh, cây cỏ nảy mầm mà sương sát lại đến, trùng ẩn chưa xuất hiện, đáng lo khí thanh làm thương tàng khí.
Đoạn 11
Cho nên năm Dần và Thân, Thiếu âm giáng xuống đất, gặp Địa huyền làm chủ bế tắc, tuy thắng mà không nhập. Lại có khi gặp Bính Thân, Bính Dần, Thủy vận thái quá, đến trước thời trời.
Quân hỏa muốn giáng, nhưng bị Thủy vận thừa tiếp, nên giáng mà không xuống. Mây đỏ vừa hiện thì khí đen lại sinh. Khí ấm thư thái vừa bày ra thì hàn thường rải tuyết, rét buốt lại phát, mây trời thảm lạnh.
Lâu ngày không giáng, ẩn phục hóa uất, hàn thắng rồi nhiệt phục lại. Xích phong hóa thành dịch. Dân chúng mắc mặt đỏ, Tâm phiền, đau đầu, chóng mặt. Khí đỏ sáng rõ, ôn bệnh sắp phát.
Đoạn 12
Cho nên năm Mão và Dậu, Thái âm giáng xuống đất, gặp Địa thương làm chủ bế tắc, tuy thắng mà không nhập. Lại có khi Thiếu dương chưa lui vị, tức Thái âm chưa được giáng xuống; hoặc Mộc vận đến.
Mộc vận thừa tiếp nó, khiến giáng mà không xuống. Mây vàng hiện, ráng xanh sáng rõ. Uất chưng nổi lên thành đại phong, sương mù và bụi mờ thắng, gãy đổ tổn hại phát sinh.
Lâu ngày không giáng, ẩn phục hóa uất, trời có bụi vàng, đất bày thấp chưng. Dân chúng mắc bốn chi không nâng được, hôn mê chóng mặt, khớp chân tay đau, bụng đầy, ngực bít nghẽn.
Đoạn 13
Cho nên năm Thìn và Tuất, Thiếu dương giáng xuống đất, gặp Địa huyền làm chủ bế tắc, tuy thắng mà không nhập. Lại có khi gặp Thủy vận thái quá, đến trước thời trời.
Thủy vận thừa tiếp nó, Thủy giáng không xuống. Mây đỏ vừa hiện thì khí đen lại sinh. Khí ấm sắp sinh thì lạnh bỗng đến, nặng thì thành mưa đá.
Lâu ngày không giáng, ẩn phục hóa uất, khí lạnh lại hóa nhiệt, xích phong hóa dịch. Dân chúng mắc mặt đỏ, Tâm phiền, đau đầu, chóng mặt. Khí đỏ sáng rõ, nhiệt bệnh sắp phát.
Đoạn 14
Cho nên năm Kỷ Hợi, Dương minh giáng xuống đất, gặp Địa đồng làm chủ bế tắc, tuy thắng mà không nhập. Lại có khi Thái âm chưa lui vị, tức Thiếu dương chưa được giáng, mà Hỏa vận đến.
Hỏa vận thừa tiếp khiến không giáng xuống. Khi ấy trời trong mà nghiêm, khí đỏ sáng rõ, khí ấm nóng lại phát. Dân chúng đều mệt mỏi, đêm ngủ không yên, họng khô muốn uống, áo nhiệt và phiền trong.
Sáng chiều rất thanh lạnh, nhưng khí ấm lại phát. Lâu ngày không giáng, ẩn phục hóa uất, trời thanh, hơi lạnh mỏng, xa xa sinh khí trắng. Dân chúng mắc run lắc, chóng mặt, tay chân cứng thẳng mà mất cảm giác, hai sườn đau, mắt nhìn rối loạn.
Đoạn 15
Cho nên năm Tý và Ngọ, Thái dương giáng xuống đất, gặp Địa phụ làm chủ bế tắc, tuy thắng mà không nhập. Lại có khi Thổ vận thái quá, đến trước thời trời.
Thổ vận thừa tiếp nó, khiến giáng mà không nhập. Khi ấy trên trời hiện khí đen, tối tăm thê thảm. Vừa có bụi vàng phân bố thấp khí, thì hàn hóa lại ra lệnh, thấp chưng lại làm lệnh.
Lâu ngày không giáng, ẩn phục hóa uất, dân chúng mắc đại quyết, bốn chi nặng mỏi, âm nuy, ít sức. Trời bày trầm âm, thấp chưng xen nhau phát.
Đoạn 16
Hoàng Đế nói:
Thăng giáng không tiến, ta đã rõ tông chỉ. Nay muốn nghe về thiên chính, có thể làm sáng rõ chăng?
Kỳ Bá nói:
Khí chính giữ trung vị, gọi là thiên chính vị. Nếu khí Tư thiên không được thiên chính, thì khí Tư thiên trước đã quá thời mà vẫn giao cho nó, tức gặp trường hợp Tư thiên thái quá, có ngày dư. Khí cũ vẫn trị theo thiên số cũ, khí Tư thiên mới chưa được thiên chính.
Nếu Quyết âm không thiên chính, thì phong và khí ấm không đúng thời, hoa cỏ héo úa. Dân chúng mắc tiểu tiện rít, mắt kéo xoay, chuyển gân, hay giận hay vui, tiểu tiện đỏ. Phong muốn ra lệnh mà hàn vẫn chưa đi, ấm áp không chính, mùa xuân mất đúng thời.
Nếu Thiếu âm không thiên chính, thì khí lạnh không lui, mùa xuân lạnh rồi sau đó lại hàn, khí ấm không đúng thời. Dân chúng mắc hàn nhiệt, bốn chi phiền đau, lưng eo và cột sống cứng thẳng. Mộc khí tuy có dư, nhưng vị không vượt qua Quân hỏa.
Nếu Thái âm không thiên chính, thì mây mưa mất lệnh, muôn vật khô cháy, đáng sinh mà không phát. Dân chúng mắc tay chân và khớp sưng đầy, bụng to thủy thũng, ngực bít không ăn được, sôn tiết, sườn đầy, bốn chi không nâng được. Mưa hóa muốn ra lệnh, nhưng nhiệt vẫn trị, khí ấm hun ở trong, kháng mà không nhuận.
Nếu Thiếu dương không thiên chính, thì viêm nhiệt không ra đúng lệnh, cây mầm cỏ dại không tươi tốt, nóng dữ kéo đến mùa thu, túc sát đến muộn, sương móc không đúng thời. Dân chúng mắc sốt rét, xương nóng, Tâm quý, kinh hãi, nặng thì huyết tràn.
Nếu Dương minh không thiên chính, thì thử hóa ở trước, túc sát ở sau, cây cỏ lại tươi tốt trái thường. Dân chúng mắc hàn nhiệt, chảy nước mũi, hắt hơi, da lông nứt, móng khô cháy; nặng thì suyễn ho, hơi thở cao, buồn thương không vui. Nhiệt hóa đã bày ra, nhưng táo hóa chưa ra lệnh, thanh kính chưa vận hành, Phế Kim lại bệnh.
Nếu Thái dương không thiên chính, thì mùa đông thanh lạnh lại thành hàn, đổi lệnh sang mùa xuân; sương sát ở trước, băng lạnh ở sau, ánh dương lại cai trị, rét buốt không phát, mây mù chờ thời. Dân chúng mắc ôn lệ, hầu họng bế, khô tràn, phiền táo mà khát, thở suyễn có tiếng. Hàn hóa chờ táo, vẫn trị ở trời, nhưng khí đã quá thời mất thứ tự, gây tai họa cho dân.
Đoạn 17
Hoàng Đế nói:
Thiên chính sớm muộn, ta đã biết ý chỉ. Nay muốn nghe về thoái vị, có thể làm sáng rõ chăng?
Kỳ Bá nói:
Điều gọi là không thoái vị, tức thiên số chưa hết, thiên số còn dư, gọi là phục bố chính, cũng gọi là lại trị trời. Nghĩa là thiên lệnh vẫn như cũ mà không lui vị.
Quyết âm không lui vị, thì đại phong nổi sớm, mưa đúng thời không giáng, thấp lệnh không hóa. Dân chúng mắc ôn dịch, phong sinh các chứng tổn phế; dân đều đau các khớp chân tay, đau đầu mắt, phục nhiệt phiền trong, họng khô muốn uống.
Thiếu âm không lui vị, thì khí ấm sinh ở xuân và đông, trùng ẩn đến sớm, cây cỏ phát sinh. Dân chúng mắc nhiệt ở hoành cách, họng khô, huyết tràn, kinh hãi, tiểu tiện đỏ rít, đan lựu, chẩn, sang dương, độc lưu lại.
Thái âm không lui vị, thì hàn thử không đúng thời, bụi mù phát ra, ôn lệnh không đi. Dân chúng mắc bốn chi ít sức, ăn uống không xuống, tiêu chảy, thủy dịch đình trệ, chứng lâm đầy, cẳng chân lạnh, âm nuy bế tắc, tiểu tiện không tự chủ hoặc tiểu nhiều lần.
Thiếu dương không lui vị, thì nhiệt sinh vào mùa xuân, thử khí hóa muộn, mùa đông ấm không đóng băng, nước chảy không đóng băng, trùng ẩn xuất hiện. Dân chúng mắc ít khí, hàn nhiệt thay nhau, đi ngoài ra máu, trên nóng, bụng dưới cứng đầy, tiểu tiện đỏ nhiều; nặng thì huyết tràn.
Dương minh không lui vị, thì mùa xuân sinh thanh lạnh, cây cỏ nở muộn, hàn nhiệt xen nhau. Dân chúng mắc nôn mửa, tiêu chảy bạo phát, ăn uống không xuống, đại tiện khô táo, bốn chi không nâng được, mắt mờ, run lắc, chóng mặt.
Đoạn 18
Hoàng Đế hỏi:
Thiên tuế sớm muộn, ta đã biết rồi. Nay muốn nghe địa số, có thể được nghe chăng?
Kỳ Bá nói:
Phép địa hạ thiên chính, thăng lên và thoái vị không tiến, chính là sự sản hóa của đất đai, sự hóa của muôn vật mất đúng thời.
Đoạn 19
Hoàng Đế nói:
Ta nghe trời đất đều có Giáp Tý, mười can, mười hai chi. Trên dưới dọc ngang trời đất, số có thay đổi, mất chỗ giữ vị, có thể làm sáng tỏ chăng?
Kỳ Bá nói:
Mất đi vị trí thay nhau, nghĩa là tuy được năm chính, nhưng chưa được vị chính của khí chủ. Khi ấy bốn mùa không có tiết độ, bèn sinh đại dịch.
Chú trong Huyền Châu Mật Ngữ nói: trong ba mươi năm dương, trừ sáu năm thiên hình, còn hai mươi bốn năm thái quá. Nếu trừ sáu năm ấy mà đều dùng như thái quá, thì không đúng ý chỉ. Nay nói về thay chi, thay vị, đều có thể quy vào bất cập.
Đoạn 20 đến đoạn 24: năm ví dụ về thất thủ và dịch lệ
Các đoạn này đều nêu ví dụ theo từng năm dương thái quá, nhưng do thiên số cũ còn dư hoặc địa vị đã đổi, khiến trời đất không phụng hợp, âm luật không ứng, vận khí tưởng là thái quá nhưng thực ra lại hư, rồi bị khí khác thừa thắng. Sau ba năm hóa thành dịch lệ tương ứng với ngũ hành.
Giáp Tý: nếu Thổ vận bị bế quá, thiên số Quý Hợi còn dư, Quyết âm còn trị trời mà đất đã thiên chính, trên dưới không hòa. Giáp Kỷ thất thủ, sau ba năm hóa thành Thổ dịch, có thể đến muộn ở Mão, sớm ở Bính Dần. Nếu Mộc thừa hư thắng Thổ, rồi Kim lại phục, đó là phản tà hóa.
Bính Dần: nếu Thái âm vẫn trị trời, đất đã thiên chính, Quyết âm tư địa, trời đất không phụng nhau. Bính Tân thất thủ, sau ba năm hóa thành Thủy dịch, đến muộn ở Kỷ Tỵ, sớm ở Mậu Thìn. Nếu nhẹ thì đến chậm, nặng thì đến nhanh.
Canh Thìn: nếu Dương minh vẫn trị trời, đất đã thiên chính, Thái âm tư địa, dưới không phụng trên. Ất Canh thất thủ, sau ba năm hóa Kim dịch, đến nhanh ở Nhâm Ngọ, chậm ở Quý Mùi. Phép trị như trước.
Nhâm Ngọ: nếu Quyết âm vẫn trị trời, đất đã thiên chính, Dương minh tại tuyền, trời đất không phụng hợp. Đinh Nhâm không hợp đức, Mộc vận hư, Kim thắng, sau ba năm hóa Mộc lệ, trạng giống phong dịch, phép trị như trước.
Mậu Thân: nếu Thái âm vẫn trị trời, đất đã thiên chính, Quyết âm tại tuyền, trời đất không phụng hóa. Mậu Quý thất thủ, Hỏa vận hư, sau ba năm hóa Hỏa lệ. Phép trị như trước, có thể dùng hàn và tiết.
Giải thích từ ngữ
Thổ dịch, Thủy dịch, Kim dịch, Mộc lệ, Hỏa lệ: dịch lệ quy theo ngũ hành.
Thiên số hữu dư: khí cũ ở trời chưa hết.
Địa dĩ thiên chính: địa khí đã đổi sang vị mới.
Bất phụng thiên hóa: đất không theo sự hóa của trời, trên dưới mất hợp.
Đoạn 25
Hoàng Đế hỏi:
Nhân khí bất túc, thiên khí như hư; thần của người mất giữ, thần quang không tụ, tà quỷ can phạm người, khiến chết yểu. Có thể được nghe chăng?
Kỳ Bá nói:
Trong năm tạng của người, một tạng bất túc, lại gặp thiên khí hư, thì tà đến rất dễ cảm.
Người lo buồn suy nghĩ thì thương Tâm. Lại gặp Thiếu âm tư thiên, thiên số bất cập, Thái âm đến làm tiếp gian, gọi là thiên hư. Đây là nhân khí và thiên khí cùng hư. Lại gặp kinh sợ mà đoạt tinh, mồ hôi ra từ Tâm, nhân đó thành ba hư. Thần minh mất giữ. Tâm là quan quân chủ, thần minh từ đó phát ra. Thần mất vị thì thần du lên Thượng đan điền. Thần đã mất giữ, thần quang không tụ; lại gặp năm Hỏa bất cập, có hắc thi quỷ hiện, khiến người bạo vong.
Người ăn uống, lao mệt thì thương Tỳ. Lại gặp Thái âm tư thiên, thiên số bất cập, Thiếu dương đến tiếp gian, gọi là hư. Đây là nhân khí hư mà thiên khí cũng hư. Lại gặp ăn uống quá no, mồ hôi ra từ Vị; say no mà phòng sự, mồ hôi ra từ Tỳ, nhân đó thành ba hư. Tỳ thần mất giữ. Tỳ là quan gián nghị, trí chu toàn từ đó phát ra. Thần đã mất giữ, thần quang mất vị mà không tụ. Lại gặp năm Thổ bất cập, hoặc năm Kỷ, năm Giáp thất thủ, hoặc Thái âm thiên hư, thanh thi quỷ hiện, khiến người chết đột ngột.
Người ngồi lâu nơi đất ẩm, gắng sức xuống nước thì thương Thận. Thận là quan tác cường, kỹ xảo từ đó phát ra. Nhân đó thành ba hư. Thận thần mất giữ, thần chí mất vị, thần quang không tụ. Lại gặp năm Thủy bất cập, hoặc năm Tân không hội phù, hoặc năm Bính thất thủ, hoặc Thái dương tư thiên hư, có hoàng thi quỷ đến, thấy nó thì khiến người bạo vong.
Người giận dữ, khí nghịch lên mà không xuống, thì thương Can. Lại gặp Quyết âm tư thiên, thiên số bất cập, Thiếu âm đến tiếp gian, gọi là thiên hư. Đó là thiên hư, người cũng hư. Lại gặp chạy nhanh, sợ hãi, mồ hôi ra từ Can. Can là quan tướng quân, mưu lự từ đó phát ra. Thần vị mất giữ, thần quang không tụ. Lại gặp năm Mộc bất cập, hoặc năm Đinh không phù, hoặc năm Nhâm thất thủ, hoặc Quyết âm tư thiên hư, có bạch thi quỷ hiện, khiến người bạo vong.
Năm điều mất giữ kể trên là thiên hư mà người cũng hư. Thần du đi, mất vị giữ, bèn có năm loại thi quỷ can phạm người, khiến bạo vong, gọi là thi quyết.
Người phạm vào sự đổi vị của năm thần, thì thần quang không tròn đầy. Không chỉ thi quỷ, mà mọi tà khí can phạm đều do thần mất chỗ giữ. Đó gọi là giữ được thì sống, mất giữ thì chết; giữ được thần thì thịnh, mất thần thì vong.
Giải thích từ ngữ
Nhân khí bất túc, thiên khí như hư: khí người hư lại gặp khí trời hư, dễ cảm tà.
Tam hư: tạng khí hư, thiên khí hư, lại do tình chí hoặc lao tổn làm hư thêm.
Thần quang bất tụ: thần khí tán, tinh thần không quy tụ, chính khí suy.
Thi quỷ: ngôn ngữ cổ để nói tà khí cực nặng, dịch khí, hoặc trạng thái chính khí suy đến mức dễ bạo bệnh.
Thi quyết: chứng bạo quyết, đột ngột nguy vong, được giải thích bằng sự mất giữ của thần khí.
Nhận xét chung
Thiên Bản Bệnh Luận tiếp nối trực tiếp với Thích Pháp Luận. Nếu Thích Pháp Luận nói nhiều về phép châm để cứu khí uất và phòng dịch, thì Bản Bệnh Luận đi sâu hơn vào “gốc bệnh”: vì sao khí giao thất thủ, vì sao thăng giáng không tiến, vì sao khí cũ không lui, khí mới không thiên chính, và vì sao sau nhiều năm lại hóa thành dịch lệ.
Điểm thứ nhất là “bệnh” không chỉ bắt đầu từ một triệu chứng trong thân người, mà từ sự mất trật tự của khí giao. Khi thăng không thăng, giáng không giáng, khí đáng lui không lui, khí đáng đến không đến, thì bốn mùa mất thứ tự, muôn hóa không yên, dân chúng sinh bệnh.
Điểm thứ hai là mọi khí uất đều có nguyên nhân thắng ức. Mộc muốn thăng bị Kim đè thì xuân sinh túc sát; Hỏa muốn thăng bị Thủy đè thì dương phục bên trong thành phiền nhiệt; Thái âm thấp không thăng được thì bụi vàng, thấp trọc hóa dịch; Dương minh Kim bị Hỏa đè thì táo khô, thượng nhiệt, ho suyễn, huyết tràn. Vì vậy, “uất” không phải chỉ là uất tình chí, mà là khí hóa không đi đúng đường.
Điểm thứ ba là thiên này nói nhiều về “ba năm hóa dịch”. Đây là cách cổ nhân nhìn sự tích lũy của khí sai lệch: một năm mất giữ chưa hẳn lập tức thành đại dịch, nhưng nếu trên dưới không hợp, thiên địa không phụng nhau, khí thắng phục kéo dài, thì sau một chu kỳ có thể hóa thành dịch lệ. Dù ta không nên đem nguyên xi để dự báo bệnh dịch hiện đại, ý tưởng “rối loạn khí hậu, môi trường, chính khí suy, bệnh truyền nhiễm dễ phát” vẫn có giá trị suy ngẫm.
Điểm thứ tư là đoạn cuối nhấn mạnh “thiên hư mà nhân cũng hư”. Người có tạng khí yếu, lại gặp thiên khí bất cập, thêm tình chí làm thương tạng như lo buồn thương Tâm, ăn uống lao mệt thương Tỳ, ngồi ẩm gắng sức xuống nước thương Thận, giận dữ thương Can, thì thần khí mất giữ, chính khí suy, tà dễ phạm. Nói theo cách mềm hơn: khi cơ thể, tinh thần và môi trường cùng suy bất lợi, bệnh dễ phát nặng.
Điểm cuối cùng là câu “đắc thủ giả sinh, thất thủ giả tử; đắc thần giả xương, thất thần giả vong” rất đáng chú ý. Giữ được vị, giữ được thần, giữ được chính khí thì sống và thịnh. Mất vị, mất thần, chính khí tán thì nguy. Đây là tinh thần xuyên suốt Nội Kinh: trị bệnh không chỉ trị tà, mà phải giữ thần, giữ chính, giữ trật tự thăng giáng của khí.