Nhị thập nhất nan
Điều khó thứ hai mươi mốt
Hỏi: Kinh nói “người có hình thể bệnh mà mạch không bệnh thì gọi là sống; mạch bệnh mà hình thể không bệnh thì gọi là chết”, nghĩa là gì?
Hình bệnh: Hình thể có biểu hiện bệnh, như sắc mặt, thân thể, triệu chứng bên ngoài có vẻ bệnh.
Mạch bất bệnh: Mạch không tương ứng với tình trạng bệnh lý nặng; ở đây không phải hoàn toàn không bệnh, mà mạch chưa mất quy luật sinh lý.
Mạch bệnh hình bất bệnh: Mạch đã có dấu hiệu nguy hiểm nhưng hình thể bên ngoài chưa biểu hiện bệnh rõ; trong cổ y, đây là dấu hiệu bệnh sâu bên trong, tiên lượng xấu.
Đáp: Người hình thể bệnh mà mạch không bệnh, không phải là thật sự không có bệnh, mà là nói số lần hô hấp không tương ứng với số lần mạch đập. Đây là đại pháp quan trọng.
Tức số: Số lần thở, tức nhịp hô hấp.
Mạch số: Số lần mạch đập, tức nhịp mạch.
Tức số bất ứng mạch số: Nhịp thở và nhịp mạch không tương ứng. Trong cổ mạch học, sự phối hợp giữa hô hấp và mạch là căn cứ quan trọng để xét khí huyết, sinh tử.
Đại pháp: Nguyên tắc lớn, quy luật tổng quát trong chẩn đoán.
Nhị Thập Nhị Nan
Điều khó thứ hai mươi hai
Hỏi: Kinh nói “mạch có thị động, có sở sinh bệnh”, một mạch lại biến thành hai loại bệnh là vì sao?
Thị động: Loại bệnh do kinh khí động biến trước, thường thuộc khí phận, biểu hiện khi tà ở khí.
Sở sinh bệnh: Loại bệnh do kinh mạch sinh ra sau, thường thuộc huyết phận, khi tà vào huyết và tạng phủ sâu hơn.
Nhất mạch biến vi nhị bệnh: Một kinh mạch có thể xuất hiện hai nhóm bệnh: nhóm “thị động” thuộc khí và nhóm “sở sinh bệnh” thuộc huyết.
Đáp: Kinh nói “thị động” là chỉ khí; “sở sinh bệnh” là chỉ huyết. Tà ở khí thì khí gây ra thị động; tà ở huyết thì huyết gây ra sở sinh bệnh. Khí chủ làm ấm và hà hơi, huyết chủ làm nhuận. Khí lưu lại mà không vận hành là khí bệnh trước; huyết ứ tắc mà không nhuận dưỡng là huyết bệnh sau. Vì vậy trước là thị động, sau là sở sinh bệnh.
Tà tại khí: Tà khí còn ở khí phận, bệnh thường biến hóa nhanh, liên quan khí cơ, đau, trướng, động.
Tà tại huyết: Tà khí vào huyết phận, bệnh thường sâu hơn, liên quan ứ huyết, đau cố định, mất nhuận dưỡng, bệnh kéo dài.
Khí chủ hủ chi: Khí có tác dụng ôn ấm, thúc đẩy, làm thân thể có sức sống.
Huyết chủ nhu chi: Huyết có tác dụng nuôi dưỡng, làm ẩm nhuận tạng phủ, kinh lạc, da thịt, gân xương.
Khí lưu bất hành: Khí bị lưu trệ không vận hành, sinh khí trệ, đau trướng, uất kết.
Huyết ủng bất nhu: Huyết bị ứ tắc, không thể nuôi dưỡng, sinh đau, tê, khô, co cứng hoặc ứ kết.
Khí tiên bệnh: Khí bệnh thường phát trước, vì khí động và biến hóa nhanh.
Huyết hậu bệnh: Huyết bệnh thường phát sau, vì huyết thuộc âm, bệnh sâu và chậm hơn.
Nhị Thập Tam Nan
Điều khó thứ hai mươi ba
Hỏi: Độ số dài ngắn của mạch thủ túc tam âm tam dương có thể hiểu rõ được không?
Thủ túc tam âm tam dương: Sáu kinh ở tay và sáu kinh ở chân, gồm Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm, Thái dương, Dương minh, Thiếu dương.
Mạch chi độ số: Độ dài của kinh mạch theo đơn vị thước tấc cổ.
Đáp: Mạch của thủ tam dương đi từ tay đến đầu, dài năm thước, năm lần sáu hợp thành ba trượng. Mạch của thủ tam âm đi từ tay đến trong ngực, dài ba thước năm tấc, ba lần sáu là một trượng tám thước, năm lần sáu là ba thước, hợp thành hai trượng một thước. Mạch của túc tam dương đi từ chân đến đầu, dài tám thước, sáu lần tám là bốn trượng tám thước. Mạch của túc tam âm đi từ chân đến ngực, dài sáu thước năm tấc, sáu lần sáu là ba trượng sáu thước, năm lần sáu là ba thước, hợp thành ba trượng chín thước. Hai mạch kiều của hai chân con người, từ chân đến mắt, dài bảy thước năm tấc, hai lần bảy là một trượng bốn thước, hai lần năm là một thước, hợp thành một trượng năm thước. Đốc mạch và Nhâm mạch mỗi mạch dài bốn thước năm tấc, hai lần bốn là tám thước, hai lần năm là một thước, hợp thành chín thước. Tổng cộng các mạch dài mười sáu trượng hai thước. Đây gọi là số dài ngắn của kinh mạch.
Thủ tam dương: Ba kinh dương ở tay, gồm Thủ Dương minh Đại trường, Thủ Thiếu dương Tam tiêu, Thủ Thái dương Tiểu trường.
Thủ tam âm: Ba kinh âm ở tay, gồm Thủ Thái âm Phế, Thủ Quyết âm Tâm bào, Thủ Thiếu âm Tâm.
Túc tam dương: Ba kinh dương ở chân, gồm Túc Dương minh Vị, Túc Thiếu dương Đởm, Túc Thái dương Bàng quang.
Túc tam âm: Ba kinh âm ở chân, gồm Túc Thái âm Tỳ, Túc Quyết âm Can, Túc Thiếu âm Thận.
Kiều mạch: Âm kiều và Dương kiều, thuộc kỳ kinh bát mạch, liên hệ vận động chi dưới, mắt, ngủ thức và âm dương bên trong bên ngoài.
Đốc mạch: Một trong kỳ kinh bát mạch, đi ở đường giữa phía sau thân, chủ dương mạch chi hải.
Nhâm mạch: Một trong kỳ kinh bát mạch, đi ở đường giữa phía trước thân, chủ âm mạch chi hải.
Thập lục trượng nhị xích: Tổng độ dài kinh mạch theo cách tính cổ.
Hỏi: Kinh mạch có mười hai, lạc mạch có mười lăm, bắt đầu và kết thúc ở đâu?
Thập nhị kinh mạch: Mười hai đường kinh chính vận hành khí huyết.
Thập ngũ lạc mạch: Mười lăm lạc mạch lớn, gồm lạc của mười hai kinh, lạc của Đốc, Nhâm và đại lạc của Tỳ.
Đáp: Kinh mạch là để vận hành huyết khí, thông âm dương, nhờ đó nuôi dưỡng thân thể. Sự vận hành bắt đầu từ trung tiêu, rót vào Thủ Thái âm, Dương minh; Dương minh rót vào Túc Dương minh, Thái âm; Thái âm rót vào Thủ Thiếu âm, Thái dương; Thái dương rót vào Túc Thái dương, Thiếu âm; Thiếu âm rót vào Thủ Tâm chủ, Thiếu dương; Thiếu dương rót vào Túc Thiếu dương, Quyết âm; Quyết âm lại trở về rót vào Thủ Thái âm. Mười lăm biệt lạc đều theo nguyên của chúng, như vòng tròn không đầu mối, xoay chuyển tưới rót cho nhau, triều hội ở thốn khẩu và nhân nghênh, để xử lý trăm bệnh và quyết đoán sống chết.
Hành huyết khí: Vận hành khí và huyết trong kinh mạch.
Thông âm dương: Làm âm dương thông nhau, trên dưới trong ngoài liên hệ.
Dĩ vinh ư thân: Dùng để nuôi dưỡng toàn thân.
Trung tiêu: Vùng tỳ vị, nguồn sinh hóa khí huyết từ thủy cốc.
Thủ Thái âm: Phế kinh, nơi khí huyết bắt đầu vận hành theo thứ tự mười hai kinh trong hệ thống này.
Thủ Tâm chủ: Tâm bào kinh.
Biệt lạc: Nhánh lạc tách ra từ kinh chính, giúp liên hệ biểu lý, trên dưới, trái phải.
Như hoàn vô đoan: Như chiếc vòng không có đầu cuối, chỉ kinh khí vận hành liên tục.
Chuyển tương quán khái: Luân phiên tưới rót, nuôi dưỡng lẫn nhau.
Triều ư thốn khẩu nhân nghênh: Mạch khí hội về thốn khẩu và nhân nghênh, hai vị trí chẩn mạch quan trọng.
Xử bách bệnh, quyết tử sinh: Dùng để xử lý, chẩn đoán trăm bệnh và phán đoán tiên lượng.
Hỏi: Kinh nói “biết rõ đầu cuối thì âm dương đã định”, nghĩa là gì?
Đáp: Đầu cuối là cương kỷ của mạch. Thốn khẩu, nhân nghênh là nơi khí âm dương thông với nhau như sứ giả triều hội, như vòng không đầu mối, cho nên gọi là bắt đầu. Kết thúc là mạch tam âm tam dương tuyệt; tuyệt thì chết, mà khi chết mỗi loại có hình chứng riêng, cho nên gọi là kết thúc.
Chung thủy: Đầu cuối của mạch khí, tức nơi mạch khí bắt đầu vận hành và nơi kết thúc khi khí tuyệt.
Mạch chi kỷ: Kỷ cương, quy luật chính của mạch.
Âm dương chi khí thông ư triều sử: Khí âm dương thông nhau và triều hội như quan sứ vào chầu, chỉ sự quy tụ của mạch khí.
Tam âm tam dương chi mạch tuyệt: Mạch của ba âm, ba dương tuyệt đoạn, là dấu hiệu tử vong.
Tử các hữu hình: Mỗi loại khí tuyệt có hình chứng riêng, giúp chẩn đoán tiên lượng.
Nhị Thập Tứ Nan
Điều khó thứ hai mươi tư
Hỏi: Khí của thủ túc tam âm tam dương đã tuyệt thì lấy gì làm dấu hiệu? Có thể biết cát hung không?
Khí dĩ tuyệt: Kinh khí đã đoạn tuyệt, không còn nuôi dưỡng tạng phủ, hình thể, kinh lạc.
Cát hung: Tốt xấu, sống chết, tiên lượng.
Đáp: Túc Thiếu âm khí tuyệt thì xương khô. Thiếu âm là mạch mùa đông, đi ẩn sâu mà làm ấm xương tủy. Vì vậy xương tủy không được ấm thì thịt không bám vào xương; xương thịt không thân nhau thì thịt mềm nhão mà co rút; thịt mềm nhão co rút, nên răng dài ra mà khô, tóc không còn nhuận trạch. Không còn nhuận trạch là xương chết trước. Ngày Mậu bệnh nặng, ngày Kỷ chết.
Túc Thiếu âm: Kinh Thận, chủ xương, tủy, tinh, mùa đông.
Cốt khô: Xương khô, xương tủy mất nuôi dưỡng, thận khí tuyệt.
Phục hành nhi ôn ư cốt tủy: Thiếu âm đi sâu, làm ấm xương tủy.
Nhục bất trước cốt: Thịt không bám chắc vào xương, do thận khí không nuôi cốt tủy.
Xỉ trường nhi khô: Răng có vẻ dài ra do lợi teo, khô; răng thuộc thận, là dấu hiệu thận tinh suy.
Phát vô nhuận trạch: Tóc mất bóng mượt, vì thận tinh không nuôi tóc.
Mậu nhật đốc, Kỷ nhật tử: Theo can ngày thuộc thổ, thổ khắc thủy; thận thuộc thủy, gặp Mậu Kỷ thổ thì nguy.
Túc Thái âm khí tuyệt thì mạch không nuôi dưỡng miệng môi. Miệng môi là gốc của cơ nhục. Mạch không nuôi dưỡng thì cơ nhục không trơn nhuận; cơ nhục không trơn nhuận thì nhân trung đầy; nhân trung đầy thì môi lật; môi lật thì thịt chết trước. Ngày Giáp bệnh nặng, ngày Ất chết.
Túc Thái âm: Kinh Tỳ, chủ cơ nhục, vận hóa, miệng môi.
Khẩu thần: Miệng môi, biểu hiện của tỳ vị.
Cơ nhục chi bản: Miệng môi là nơi phản ánh cơ nhục và tỳ khí.
Nhân trung mãn: Vùng nhân trung đầy, dấu hiệu tỳ khí tuyệt trong cổ văn.
Thần phản: Môi lật ra, môi không còn thu giữ, biểu thị cơ nhục suy bại.
Giáp nhật đốc, Ất nhật tử: Giáp Ất thuộc mộc, mộc khắc thổ; tỳ thuộc thổ, nên gặp mộc ngày thì nguy.
Túc Quyết âm khí tuyệt thì gân co rút kéo tinh hoàn và lưỡi cuộn lại. Quyết âm là mạch can. Can là nơi hợp của gân. Gân tụ ở âm khí và kết thúc ở gốc lưỡi. Vì vậy mạch không nuôi dưỡng thì gân co rút cấp; gân co rút cấp thì kéo tinh hoàn và lưỡi, cho nên lưỡi cuộn, tinh hoàn co. Đây là gân chết trước. Ngày Canh bệnh nặng, ngày Tân chết.
Túc Quyết âm: Kinh Can, chủ cân, tàng huyết, đi quanh âm khí và liên hệ gốc lưỡi.
Cân súc: Gân co rút.
Dẫn noãn dữ thiệt quyển: Co kéo tinh hoàn và lưỡi cuộn lại, do can kinh đi quanh âm khí và liên hệ gốc lưỡi.
Can giả cân chi hợp: Can chủ cân, gân nhờ can huyết nuôi dưỡng.
Thiệt bản: Gốc lưỡi.
Thiệt quyển noãn súc: Lưỡi cuộn, tinh hoàn co rút, dấu hiệu can khí tuyệt, cân chết trước.
Canh nhật đốc, Tân nhật tử: Canh Tân thuộc kim, kim khắc mộc; can thuộc mộc, nên gặp kim ngày thì nguy.
Thủ Thái âm khí tuyệt thì da lông cháy khô. Thái âm là phế, vận hành khí, làm ấm da lông. Khí không nuôi dưỡng thì da lông cháy khô; da lông cháy khô thì tân dịch mất; tân dịch mất thì khớp da tổn thương; khớp da tổn thương thì da khô, lông gãy; lông gãy thì lông chết trước. Ngày Bính bệnh nặng, ngày Đinh chết.
Thủ Thái âm: Kinh Phế, chủ khí, bì mao.
Bì mao tiêu: Da lông khô cháy, do phế khí tuyệt.
Hành khí ôn ư bì mao: Phế khí vận hành và ôn dưỡng da lông.
Tân dịch khứ: Tân dịch mất, da không còn nhuận.
Bì tiết thương: Lỗ chân lông, khớp da bị tổn.
Bì khô mao chiết: Da khô, lông gãy, biểu thị phế khí tuyệt.
Bính nhật đốc, Đinh nhật tử: Bính Đinh thuộc hỏa, hỏa khắc kim; phế thuộc kim, nên gặp hỏa ngày thì nguy.
Thủ Thiếu âm khí tuyệt thì mạch không thông; mạch không thông thì huyết không chảy; huyết không chảy thì sắc bóng mất, cho nên mặt đen như màu sạm đen. Đây là huyết chết trước. Ngày Nhâm bệnh nặng, ngày Quý chết.
Thủ Thiếu âm: Kinh Tâm, chủ huyết mạch, thần minh.
Mạch bất thông: Huyết mạch không thông, tâm khí tuyệt.
Huyết bất lưu: Huyết không vận hành.
Sắc trạch khứ: Màu sắc và độ bóng của da mặt mất, do huyết không nuôi.
Diện sắc hắc như lê: Mặt đen sạm như màu lê, biểu thị huyết chết trước.
Nhâm nhật đốc, Quý nhật tử: Nhâm Quý thuộc thủy, thủy khắc hỏa; tâm thuộc hỏa, nên gặp thủy ngày thì nguy.
Ba âm khí đều tuyệt thì mắt hoa xoay chuyển, mắt nhắm. Mắt nhắm là mất chí; mất chí thì chí chết trước, chết thì mắt nhắm. Sáu dương khí đều tuyệt thì âm dương rời nhau; âm dương rời nhau thì tấu lý mở泄, tuyệt hãn liền ra, lớn như chuỗi hạt châu, xoay ra mà không chảy thành dòng, tức khí chết trước. Sáng xem thấy thì chiều chết, chiều xem thấy thì sáng chết.
Tam âm khí câu tuyệt: Ba âm khí đều tuyệt, âm tinh, tạng khí suy kiệt, thần chí mất chỗ nương.
Mục huyễn chuyển: Mắt hoa, trời đất quay cuồng.
Mục minh: Mắt nhắm lại, không mở, biểu thị thần chí suy.
Thất chí: Chí mất, thận chí và thần khí suy tuyệt.
Lục dương khí câu tuyệt: Sáu dương khí đều tuyệt, dương khí không còn bảo vệ biểu, không vận hành.
Âm dương tương ly: Âm và dương lìa nhau, sinh mệnh không còn thống nhất.
Tấu lý tiết: Lỗ chân lông, cơ biểu mở泄, không còn cố nhiếp.
Tuyệt hãn: Mồ hôi tuyệt, mồ hôi trước khi chết, hạt lớn như chuỗi ngọc, không phải mồ hôi sinh lý.
Quán châu: Chuỗi hạt châu, ví mồ hôi lớn từng hạt.
Đán chiêm tịch tử, tịch chiêm đán tử: Sáng thấy dấu này thì chiều chết, chiều thấy thì sáng chết; chỉ tiên lượng cực nguy.
Nhị Thập Ngũ Nan
Điều khó thứ hai mươi lăm
Hỏi: Có mười hai kinh, nhưng ngũ tạng lục phủ chỉ có mười một, vậy một kinh còn lại là gì?
Đáp: Một kinh ấy là Thủ Thiếu âm và biệt mạch của Tâm chủ. Tâm chủ và Tam tiêu làm biểu lý, đều có tên mà không có hình, cho nên nói kinh có mười hai.
Thủ Thiếu âm: Kinh Tâm.
Tâm chủ: Tâm bào, còn gọi là Tâm chủ, bảo vệ tâm, thuộc Quyết âm ở tay.
Tam tiêu: Một phủ có tên mà không có hình thể cụ thể theo cổ y, chủ thông hành nguyên khí và thủy đạo.
Biểu lý: Quan hệ trong ngoài giữa kinh âm và kinh dương, tạng và phủ.
Hữu danh vô hình: Có tên gọi và chức năng, nhưng không có hình thể cơ quan rõ ràng như tạng phủ khác trong giải phẫu cổ.
Nhị Thập Lục Nan
Điều khó thứ hai mươi sáu
Hỏi: Kinh có mười hai, lạc có mười lăm, ba lạc còn lại là những lạc nào?
Đáp: Có dương lạc, có âm lạc, có đại lạc của tỳ. Dương lạc là lạc của Dương kiều; âm lạc là lạc của Âm kiều. Vì vậy có mười lăm lạc.
Dương lạc: Lạc của Dương kiều mạch, liên hệ dương phận, vận động, mặt ngoài cơ thể.
Âm lạc: Lạc của Âm kiều mạch, liên hệ âm phận, mặt trong, ngủ thức.
Tỳ chi đại lạc: Đại lạc của tỳ, gọi là Đại bao, có tác dụng tổng lạc toàn thân, liên hệ khí huyết và cơ nhục toàn thân.
Thập ngũ lạc: Mười lăm lạc mạch gồm mười hai lạc của mười hai kinh, cộng lạc của Đốc, Nhâm và đại lạc của Tỳ; theo bản này thêm âm dương kiều lạc để giải thích số lạc.
Nhị Thập Thất Nan
Điều khó thứ hai mươi bảy
Hỏi: Mạch có kỳ kinh bát mạch, không bị ràng buộc bởi mười hai kinh, vì sao?
Kỳ kinh bát mạch: Tám mạch đặc biệt ngoài mười hai kinh chính: Đốc, Nhâm, Xung, Đới, Âm kiều, Dương kiều, Âm duy, Dương duy.
Bất câu ư thập nhị kinh: Không bị ràng buộc vào trình tự vận hành cố định của mười hai kinh chính.
Đáp: Có Dương duy, Âm duy, Dương kiều, Âm kiều, Xung, Đốc, Nhâm, Đới mạch. Tám mạch này đều không bị ràng buộc bởi kinh chính, nên gọi là kỳ kinh bát mạch.
Dương duy: Mạch liên hệ và duy trì các kinh dương.
Âm duy: Mạch liên hệ và duy trì các kinh âm.
Dương kiều: Mạch chủ vận động bên ngoài, liên hệ mắt, chân, dương khí.
Âm kiều: Mạch chủ vận động bên trong, liên hệ mắt, chân, âm khí.
Xung mạch: Biển của huyết, liên hệ khí huyết, sinh sản, kinh nguyệt, bụng ngực.
Đốc mạch: Biển của dương mạch, thống lĩnh dương khí toàn thân.
Nhâm mạch: Biển của âm mạch, thống lĩnh âm khí, thai sản, tiền âm.
Đới mạch: Mạch vòng quanh eo như đai, ràng buộc các kinh dọc.
Hỏi: Kinh có mười hai, lạc có mười lăm, tổng cộng hai mươi bảy, khí theo nhau lên xuống. Vì sao riêng kỳ kinh không bị ràng buộc bởi kinh chính?
Đáp: Thánh nhân vẽ đặt mương máng, thông lợi đường nước để phòng điều bất ngờ. Khi mưa trời đổ xuống, mương máng đầy tràn; vào lúc ấy nước tràn chảy lung tung, thánh nhân cũng không thể vẽ đặt lại được. Đây giống như lạc mạch đầy tràn, các kinh không thể ràng buộc được nữa.
Câu cừ: Mương máng, ví với hệ thống kinh lạc dẫn khí huyết.
Thông lợi thủy đạo: Làm đường nước thông suốt, ví với kinh lạc làm khí huyết lưu thông.
Bị bất ngu: Phòng điều bất ngờ, ví kỳ kinh chứa khí huyết dư khi kinh chính đầy.
Mãn dật: Đầy tràn, khí huyết vượt ra ngoài đường kinh chính.
Vọng hành: Chảy đi không theo đường thường, ví khí huyết vào kỳ kinh.
Chư kinh bất năng phục câu: Các kinh chính không thể ràng buộc hoặc chứa hết khí huyết, nên kỳ kinh nhận phần dư.
Nhị Thập Bát Nan
Điều khó thứ hai mươi tám
Hỏi: Kỳ kinh bát mạch đã không bị ràng buộc bởi mười hai kinh, vậy đều khởi ở đâu và nối tiếp thế nào?
Đáp: Đốc mạch khởi ở du huyệt của hạ cực, đi dọc trong cột sống, lên đến Phong phủ, vào thuộc não. Nhâm mạch khởi ở dưới Trung cực, lên bờ lông mu, men theo trong bụng, lên Quan nguyên, đến họng. Xung mạch khởi ở Khí xung, đi cùng kinh Túc Dương minh, kẹp hai bên rốn đi lên, đến trong ngực rồi tản ra. Đới mạch khởi ở quý hiếp, vòng quanh thân một chu. Dương kiều mạch khởi ở trong gót chân, men theo mắt cá ngoài đi lên, vào Phong trì. Âm kiều mạch cũng khởi ở trong gót chân, men theo mắt cá trong đi lên, đến họng, giao xuyên với Xung mạch. Dương duy và Âm duy là những mạch duy lạc thân thể; khi tràn chứa mà không thể hoàn lưu tưới rót các kinh thì phát sinh. Vì vậy Dương duy khởi ở nơi các dương hội, Âm duy khởi ở nơi các âm giao. Ví như thánh nhân vẽ đặt mương máng, khi mương đầy tràn thì chảy vào hồ sâu, thánh nhân không thể ràng buộc đường thông ấy nữa. Mạch người khi long thịnh thì nhập vào bát mạch mà không hoàn chu, cho nên mười hai kinh cũng có lúc không thể ràng buộc được. Khi bát mạch nhận tà khí, tích chứa thì sưng nóng, cần dùng biếm chích để trị.
Hạ cực chi du: Vùng thấp nhất của thân, liên hệ hội âm, nơi Đốc mạch khởi theo cổ pháp.
Tích lý: Trong cột sống.
Phong phủ: Huyệt ở sau gáy, nơi Đốc mạch đi lên vào não.
Thuộc não: Liên hệ với não.
Trung cực: Huyệt ở bụng dưới thuộc Nhâm mạch.
Mao tế: Bờ lông mu.
Quan nguyên: Huyệt quan trọng ở bụng dưới, thuộc Nhâm mạch, bổ nguyên khí, liên hệ hạ tiêu.
Khí xung: Huyệt vùng bẹn, nơi Xung mạch khởi theo cổ văn.
Quý hiếp: Vùng dưới sườn, nơi Đới mạch khởi.
Phong trì: Huyệt sau gáy bên, thuộc Đởm kinh, nơi Dương kiều đi vào theo văn này.
Chư dương hội: Nơi các kinh dương hội tụ.
Chư âm giao: Nơi các kinh âm giao hội.
Long thịnh nhập ư bát mạch: Khi khí huyết thịnh đầy hoặc ứ tràn, vào kỳ kinh bát mạch.
Bất hoàn chu: Không vận hành theo chu trình vòng quanh của mười hai kinh chính.
Biếm xạ: Dùng đá biếm hoặc châm chích để tiết tà, giải tích tụ, trị sưng nóng.
Nhị Thập Cửu Nan
Điều khó thứ hai mươi chín
Hỏi: Kỳ kinh bị bệnh thì như thế nào?
Đáp: Dương duy duy trì phần dương, Âm duy duy trì phần âm. Nếu âm dương không thể tự duy trì lẫn nhau thì buồn bã mất chí, mềm rũ không thể tự thu giữ. Dương duy bệnh thì khổ vì hàn nhiệt; Âm duy bệnh thì như đau tim. Âm kiều bệnh thì dương hoãn mà âm cấp; Dương kiều bệnh thì âm hoãn mà dương cấp. Xung mạch bệnh thì khí nghịch mà trong bụng co gấp. Đốc mạch bệnh thì cột sống cứng và quyết nghịch. Nhâm mạch bệnh thì bên trong khổ vì kết; nam thành bảy loại sán, nữ thành chứng hà tụ. Đới mạch bệnh thì bụng đầy, eo mềm rũ như ngồi trong nước. Đây là bệnh của kỳ kinh bát mạch.
Dương duy vi bệnh khổ hàn nhiệt: Dương duy bệnh gây hàn nhiệt vãng lai, vì Dương duy liên hệ các kinh dương, chủ biểu dương.
Âm duy vi bệnh nhược tâm thống: Âm duy bệnh giống đau tim, vì Âm duy liên hệ âm phận, tâm bào, ngực.
Âm kiều bệnh, dương hoãn âm cấp: Âm kiều bệnh làm phần dương lỏng yếu, phần âm co gấp.
Dương kiều bệnh, âm hoãn dương cấp: Dương kiều bệnh làm phần âm lỏng yếu, phần dương co gấp.
Xung bệnh nghịch khí nhi lý cấp: Xung mạch bệnh gây khí nghịch lên và trong bụng co gấp đau.
Đốc bệnh tích cường nhi quyết: Đốc mạch bệnh làm cột sống cứng, khí nghịch hoặc tứ chi quyết lạnh.
Nhâm bệnh nội khổ kết: Nhâm mạch bệnh gây kết tụ bên trong, vùng bụng dưới, sinh dục, thai sản.
Thất sán: Bảy loại sán bệnh ở nam, thường chỉ các chứng sưng đau, sa, khí kết ở vùng âm nang, bụng dưới.
Hà tụ: Khối tích ở nữ, thường liên quan huyết ứ, khí kết, bào cung.
Đới bệnh phúc mãn: Đới mạch bệnh gây bụng đầy.
Yêu dung dung nhược tọa thủy trung: Eo mềm rũ, nặng lạnh như ngồi trong nước, biểu thị Đới mạch không ràng buộc, thấp trệ ở hạ tiêu.
Tam Thập Nan
Điều khó thứ ba mươi
Hỏi: Sự vận hành của doanh khí có luôn đi theo vệ khí không?
Doanh khí: Khí dinh dưỡng đi trong mạch, hóa sinh từ tinh vi thủy cốc, nuôi tạng phủ và toàn thân.
Vệ khí: Khí bảo vệ đi ngoài mạch, ôn ấm cơ biểu, điều tiết lỗ chân lông, chống ngoại tà.
Đáp: Kinh nói “con người nhận khí từ thức ăn; thức ăn vào vị rồi truyền đến ngũ tạng lục phủ”. Ngũ tạng lục phủ đều nhận khí ấy. Phần trong sạch là doanh, phần đục là vệ. Doanh đi trong mạch, vệ đi ngoài mạch. Doanh vận hành chu khắp không ngừng, năm mươi vòng lại hội lớn. Âm dương thông suốt với nhau như chiếc vòng không có đầu mối, vì vậy biết doanh và vệ đi theo nhau.
Nhân thụ khí ư cốc: Con người nhận khí từ thức ăn nước uống.
Cốc nhập ư vị: Thức ăn vào vị, nhờ tỳ vị vận hóa thành tinh vi.
Thanh giả vi doanh: Phần tinh vi trong sạch hóa thành doanh khí, đi trong mạch để nuôi dưỡng.
Trọc giả vi vệ: Phần mạnh mẽ, hoạt động hơn hóa thành vệ khí, đi ngoài mạch để bảo vệ.
Doanh hành mạch trung: Doanh khí đi trong huyết mạch.
Vệ hành mạch ngoại: Vệ khí đi ngoài mạch, ở cơ biểu, tấu lý.
Doanh chu bất tức: Doanh khí vận hành chu khắp không nghỉ.
Ngũ thập nhi phục đại hội: Vận hành năm mươi vòng rồi lại hội lớn, chỉ chu trình ngày đêm của doanh vệ.
Âm dương tương quán: Âm dương thông suốt, nối liền trong ngoài.
Như hoàn vô đoan: Như vòng tròn không đầu cuối, biểu thị sự vận hành liên tục của khí huyết.
Tóm ý đoạn này: Từ Nhị Thập Nhất Nan đến Tam Thập Nan chuyển từ mạch học sang kinh lạc, khí huyết và kỳ kinh bát mạch. Điều 21 nói hình bệnh và mạch bệnh cần xét sự tương ứng giữa nhịp thở và mạch. Điều 22 giải thích “thị động” thuộc khí, “sở sinh bệnh” thuộc huyết: khí bệnh trước, huyết bệnh sau. Điều 23 trình bày độ dài kinh mạch, thứ tự vận hành của mười hai kinh và mười lăm lạc, nhấn mạnh kinh mạch vận hành huyết khí, thông âm dương, nuôi toàn thân. Điều 24 mô tả dấu hiệu khi khí của các kinh âm dương tuyệt, như thận khí tuyệt thì xương tóc răng khô, tỳ khí tuyệt thì môi lật cơ nhục chết, can khí tuyệt thì lưỡi cuộn tinh hoàn co, phế khí tuyệt thì da lông khô gãy, tâm khí tuyệt thì huyết không lưu; tam âm tuyệt thì mắt nhắm mất chí, lục dương tuyệt thì tuyệt hãn ra như chuỗi hạt. Điều 25 và 26 giải thích vì sao có mười hai kinh, mười lăm lạc, trong đó Tâm bào, Tam tiêu, Âm kiều, Dương kiều và đại lạc của Tỳ có vai trò đặc biệt. Điều 27, 28, 29 bàn kỳ kinh bát mạch, ví như mương máng chứa khí huyết tràn ra ngoài mười hai kinh; đồng thời trình bày đường đi và bệnh chứng của Đốc, Nhâm, Xung, Đới, Âm Dương kiều, Âm Dương duy. Điều 30 kết luận doanh vệ đều do thủy cốc hóa sinh: doanh đi trong mạch, vệ đi ngoài mạch, vận hành liên tục như vòng không đầu cuối để nuôi dưỡng và bảo vệ cơ thể.