Tham khảo tư liệu:
Đông y đóng vai trò quan trọng trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính thông qua biện chứng luận trị. Căn bệnh này được Đông y xếp vào phạm vi các chứng “tinh trọc”, “lao lâm”, “bạch dâm”.
Ví dụ, trong Y Biển – Xích bạch trọc của Hà Mộng Dao (thời Thanh) có ghi: “Khiếu đoan thời thường khiên ti đới nị như nùng như si” (窍端时常牵丝带腻、如脓如眵)miệng niệu thường kéo sợi dính nhớt, như mủ như rỉ mắt, rất giống biểu hiện nước tiểu cuối chảy ra dịch trắng ở bệnh này.
Nguyên nhân chính có thể tóm tắt như sau:
(1)Ngoại cảm tà nhiệt, lưu lại không tan, hoặc phòng sự không sạch sẽ, khiến thấp nhiệt đọng tại tinh thất, tinh trọc lẫn lộn, tinh dịch không giữ đúng vị trí.(2)Tướng hỏa vượng, do dục vọng không toại hoặc nén nhịn xuất tinh, thận hỏa uất kết không thoát, tinh bị ép rời vị trí hóa thành trọc trắng.(3)Phòng sự quá độ, tinh khí tổn hao, tinh thất hư rỗng, thấp nhiệt thừa cơ xâm nhập, tinh không thể tàng giữ.
Do thận hỏa uất mà không tán hoặc thấp nhiệt tích lâu không tan, khiến khí huyết tinh đạo ứ trệ, bệnh kéo dài khó khỏi. Phân loại lâm sàng viêm tiền liệt tuyến mạn tính theo Đông y gồm 4 loại hình sau:
(1) Thể thấp nhiệt uất trệ
Chủ chứng: Tiểu gấp, tiểu buốt nóng, cuối tiểu hoặc khi rặn đại tiện có dịch trắng nhỏ từ niệu đạo chảy ra, bụng dưới – thắt lưng – hội âm – tinh hoàn đau tức khó chịu, miệng đắng khô nhớt, lưỡi rêu vàng nhớt, mạch huyền hoạt sác.
(2) Thể âm hư hỏa động
Chủ chứng: Lưng gối mỏi mềm, hoa mắt chóng mặt, ngủ mộng tinh, hỏa vượng dễ kích dục, không chỉ lúc tiểu hay đại tiện mà ngay khi nghĩ đến dục cũng rỉ dịch trắng, có thể kèm huyết tinh, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế sác.
(3) Thể thận dương hư suy
Chủ chứng:Lưng gối mỏi lạnh, liệt dương – xuất tinh sớm – mộng tinh, mệt mỏi, tay chân lạnh, vận động nhẹ cũng rỉ tinh trọc. Lưỡi nhạt, bệu, rêu trắng mỏng, mạch trầm nhược.
(4) Thể khí huyết ứ trệ
Chủ chứng: Bệnh kéo dài, khí huyết ứ trệ, bụng dưới – lưng – tinh hoàn – hội âm nặng tức, đau âm ỉ, có thể kèm tiểu ra máu hoặc xuất tinh ra máu, lưỡi tím sẫm có ứ điểm, mạch trầm sáp.
Đông y điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính như thế nào?
(1) Nội trị bằng thuốc uống theo biện chứng phân loại:
① Thể thấp nhiệt uất trệ – thanh nhiệt lợi thấp
Phương thuốc: Tỳ giải phân thanh ẩm gia giảm
→ tỳ giải 10 g xa tiền thảo 10 g phục linh 10 g đan sâm 10 g hoàng bá 6 g sinh ý dĩ 10 g hậu phác 10 g liên tâm 10 g xương bồ 10 g bích ngọc tán 15 g
② Thể âm hư hỏa động – tư thận dưỡng âm, thanh tướng hỏa
Phương thuốc: Tri bá địa hoàng hoàn gia giảm
→ tri mẫu 15 g hoàng bá 6 g sinh địa 12 g sơn thù 10 g sơn dược 20 g đan bì 10 g phục linh 10 g trạch tả 10 g
③ Thể thận dương hư suy – bổ thận trợ dương
Phương thuốc: Hữu quy hoàn hợp Kim tỏa cố tinh hoàn gia giảm
→ sinh địa 10 g thục địa 10 g sơn dược 10 g phục linh 10 g xuyên đoạn 10 g kim anh tử 15 g ngũ bội tử 12 g ích trí nhân 10 g thỏ ty tử 15 g đỗ trọng 10 g câu kỷ tử 10 g đương quy 10 g nhục quế 4 g
④ Thể khí trệ huyết ứ – hoạt huyết hóa ứ
Phương thuốc: Tiền liệt tuyến thang (bài kinh nghiệm BV Quảng An Môn)
→ đào nhân 10 g hồng hoa 10 g xích thược 10 g đan sâm 20 g trạch lan 10 g vương bất lưu hành 10 g nguyên hồ 10 g xuyên sơn giáp 5 g ngưu tất 10 g đương quy 10 g
– Nếu tuyến tiền liệt sờ thấy rắn chắc → thêm tam lăng 6 g nga truật 6 g tạo thích 6 g
(2) Ngoại trị pháp:
① Ngâm hậu môn bằng thuốc sắc nóng:
→ ngư tinh thảo 20 g mã xỉ hiện 10 g đan sâm 20 g xích thược 10 g tử thảo 10 g bạch hoa xà thiệt thảo 10 g dã cúc hoa 20 g
– Sắc lấy 1500 ml, mỗi ngày ngâm 1–2 lần, mỗi lần 30 phút, không quá 40°C
② Giữ thuốc trong trực tràng (bơm hậu môn):
→ bại tương thảo 20 g ngư tinh thảo 10 g thổ phục linh 10 g đại hoàng 10 g đan sâm 20 g trạch lan 10 g đào nhân 12 g xích thược 20 g
– Thêm 500 ml nước sắc còn 150–200 ml, để ấm 40°C, giữ lại trong trực tràng mỗi ngày 1 lần
③ Đặt thuốc hậu môn (thể thấp nhiệt và khí trệ huyết ứ):
→ đặt viên dã cúc hoa mỗi ngày 1–2 lần
(3) Châm cứu trị liệu:
① Châm thể châm – chia 2 nhóm huyệt:
– Nhóm 1: Quan nguyên, Hội âm, Bàng quang du, Hợp cốc
– Nhóm 2: Trung cực, Thận du, Xích trạch
– Công dụng: Lý khí, hoạt huyết, bổ thận, hóa trọc
– Thủ pháp: Châm trung bình, bình bổ bình tả
– Gia giảm:
+ Thấp nhiệt → thêm Tiểu trường du, Dương lăng tuyền
+ Âm hư → thêm Tam âm giao, Thái khê
+ Thận dương hư → thêm Mệnh môn, Khí hải, Tam âm giao
+ Huyết ứ → thêm Huyết hải, Dương lăng tuyền, Bách hội, Khí hải
② Nhĩ châm (châm vành tai)
③ Cứu pháp (ngải cứu các huyệt phù hợp)
(4) Phương pháp khác:
– Bấm huyệt bàn chân, trích huyết điều trị, khí công dưỡng sinh v.v.
Từ kinh nghiệm điều trị thực tế và tham khảo tài liệu chuyên ngành, nhận thấy rằng nguyên tắc hoạt huyết hóa ứ, hành khí đóng vai trò trung tâm trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính.
→ Bất kể thuộc thể nào, nếu kết hợp các vị thuốc hoạt huyết hành khí trên nền biện chứng sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị.
→ Trong các biện pháp ngoại trị, châm cứu và bơm thuốc giữ trong trực tràng là hai phương pháp có hiệu quả nổi bật.
Cơ chế tác dụng của thuốc Đông y trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính là gì?
Thuốc Đông y điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính chủ yếu nhằm khôi phục chức năng sinh lý tuyến tiền liệt, tức phục hồi khả năng bài tiết, tiết dịch và tăng cường yếu tố kháng khuẩn của tuyến.
Kết hợp giữa thay đổi bệnh lý – sinh lý hiện đại và biện chứng Đông y tại chỗ, cơ chế tác dụng của thuốc Đông y được phân tích như sau:
(1) Tắc nghẽn ống tuyến:– Tuyến tiền liệt căng đầy, chất mềm vừa phải, khi xoa bóp chỉ ra ít dịch hoặc không có, trong dịch có bạch cầu tăng vừa, khi ấn có đau nhẹ.– Biện chứng Đông y thuộc loại hình huyết ứ.– Tình trạng sung huyết mạn tính, kèm phản ứng viêm làm ống tuyến khó lưu thông, dịch tiết ứ trệ.
→ Trị pháp: lương huyết, hoạt huyết, thanh nhiệt giải độc, hóa ứ thông lạc
→ Phương dược: hồng đằng, xích thược, hồng hoa, bại tương thảo, hoàng bá, ngưu tất, vương bất lưu hành.
(2) Ứ đọng dịch tuyến viêm:– Tuyến căng to, bóp ra được nhiều dịch, sau xoa bóp tuyến mềm lại, bạch cầu trong dịch tăng rõ, kèm kích thích bàng quang.– Biện chứng Đông y thuộc loại hình thấp nhiệt.
– Viêm gây sung huyết phản xạ, tuyến tiết dịch tăng, nhưng thoát dịch khó khăn.
→ Trị pháp: thanh nhiệt lợi thấp
→ Phương dược: Hoạt thạch, cam thảo, xa tiền thảo, bồ công anh.
→ Do ống tuyến còn thông tốt nên hiệu quả điều trị khá rõ.
(3) Cơ trơn vỏ tuyến thu súc suy yếu:– Tuyến căng đầy, dịch tiết ra nhiều, xoa bóp xong mềm lại, bạch cầu gần bình thường hoặc chỉ tăng nhẹ.
– Biện chứng Đông y thuộc loại hình trung khí hư.
→ Trị pháp: Bổ trung ích khí
→ Phương dược: hoàng kỳ, thăng ma, hoặc bài Bổ trung ích khí hoàn.
(4) Tuyến tiết kém
– Tuyến mềm nhão hoặc nhỏ, bóp ra rất ít dịch, kèm giảm ham muốn tình dục.
– Biện chứng Đông y: thận hư.
→ Trị pháp: bổ tỳ kiện thận, kết hợp hoạt huyết thông lạc
→ Phương dược: đảng sâm, hoàng kỳ, câu kỷ tử, xuyên đoạn, tiên linh tì.
→ Thuốc bổ thận có thể giúp tăng mức testosterone.
(5) Rối loạn chức năng cơ vùng đáy chậu
– Đau vùng thắt lưng, bụng dưới, dương vật… Có thể do viêm tiểu khung gây co thắt phản xạ của các cơ lân cận hoặc dòng chảy ngược trong tuyến tiền liệt do áp lực niệu đạo tăng.
→ Nhiều thầy thuốc dùng bài Đào hồng tứ vật thang gia: Ngưu tất, nhũ hương, một dược, hương phụ chế, thanh bì hoặc chườm nóng thuốc tại chỗ.
→ Nguyên tắc trị liệu tương tự như dùng thuốc hoạt huyết thông lạc trong tắc ống tuyến.
Tổng kết:
Cơ chế tác dụng của thuốc Đông y là đa yếu tố và có liên hệ chặt chẽ.
– Thấp nhiệt chính là dịch viêm ứ trệ.
– Huyết ứ là hậu quả của sung huyết mạn tính kéo dài.
→ Sung huyết gây tắc ống tuyến → tăng dịch viêm → lại kích thích sung huyết → tạo vòng xoắn bệnh lý.
Vì thế, điều trị nên bắt đầu từ hoạt huyết thông lạc (thông ống tuyến), đồng thời phối hợp thanh nhiệt lợi thấp hoặc bổ thận, từ đó phục hồi chức năng tuyến tiền liệt.
Tiêu chuẩn chẩn đoán thể huyết ứ trong viêm tiền liệt tuyến mạn tính là gì?
Dựa trên thống kê lâm sàng 656 ca viêm tiền liệt tuyến mạn tính và tiêu chuẩn do Hội nghiên cứu hoạt huyết hóa ứ Trung – Tây y kết hợp toàn quốc đề xuất, chúng tôi đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán thể huyết ứ gồm các tiêu chí chính:
(1) Đau cố định vùng thắt lưng – bụng dưới – hội âm
→ Phù hợp với tiêu chuẩn Đông y về huyết ứ: “Thống hữu định xử” (痛有定处) đau có vị trí cố định.
Chứng trạng này gặp ở 82,9% bệnh nhân
(2) Sờ tuyến tiền liệt có cảm giác đau khi ấn nắn, sờ thấy cứng hoặc có cục rắn
→ Phù hợp với tiêu chuẩn Đông y: “Bệnh lý tính thũng khối” (病理性肿块) là khối bệnh lý thực thể.
→ Gặp ở 77,4% bệnh nhân
(3) Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là uống rượu quá độ, đạp xe đường dài, sinh hoạt tình dục bất thường (gồm giao hợp gián đoạn, không xuất tinh, thủ dâm thường xuyên…), gây xung huyết và ứ huyết mạn tính tại tuyến tiền liệt, chiếm 73,7% số ca bệnh.
(4) Chẩn đoán lưỡi – mạch:① Lưỡi: Lưỡi sẫm đỏ, có điểm ứ huyết hoặc tím sẫm – biểu hiện của huyết ứ, chiếm 29,3%; lưỡi hồng nhạt chiếm 62,1%; lưỡi to béo chiếm 8,6%.② Mạch: Mạch huyền, sáp – biểu hiện của huyết ứ chiếm 32,0%; mạch tế chiếm 68,0%.
(5) Do trong dịch tuyến tiền liệt của bệnh nhân có nhiều tế bào viêm tụ tập, phản ứng viêm gây rối loạn vi tuần hoàn cục bộ, tăng tính thấm thành mạch, thoát huyết tương, ứ trệ tuần hoàn. Xét về biện chứng vi mô, cũng thuộc chứng hậu của huyết ứ.
(6) Thay đổi bệnh lý chủ yếu là ống tuyến – túi tuyến bị thâm nhiễm tế bào viêm, hoại tử kèm tăng sinh mô liên kết đệm, thuộc phạm trù huyết ứ trong biện chứng vi mô.
(7) Đo chỉ số huyết lưu biến học trên 60 ca viêm tiền liệt tuyến mạn tính:– Độ nhớt máu toàn phần:Tốc độ cao: tăng so với bình thường ở 9 ca (15%) Tốc độ thấp: tăng ở 20 ca (33,3%)– Độ nhớt tương đối huyết tương: tăng ở 8 ca (13,3%)– Hàm lượng oxy máu tĩnh mạch: thấp hơn bình thường ở 19 ca (31,7%)– Hồng tế bào áp tích (Hematocrit): Tăng ở 9 ca (15%)– Tốc độ lắng máu: tăng ở 7 ca (14,7%)→ Cho thấy một bộ phận bệnh nhân đã có biến đổi bất thường về huyết lưu biến học
Nguồn gốc bài Tiền liệt tuyến thang và tư tưởng điều trị cơ bản trong viêm tiền liệt tuyến mạn tính là gì?
Tiền liệt tuyến thang do GS. Lưu Du Phương, nguyên trưởng khoa Ngoại niệu học Viện nghiên cứu Y học cổ truyền Trung Quốc, chuyên gia nổi tiếng về ngoại khoa kết hợp Đông – Tây y, nghiên cứu và phát triển từ đầu những năm 1960.
Qua thực tiễn lâm sàng phong phú, GS. Lưu đã đưa ra bài thuốc này và truyền bá rộng rãi qua báo chí, hội nghị và sách chuyên đề trong suốt thập niên 60–70.
Do đó, GS. Lưu thiết lập tư tưởng điều trị: Hoạt huyết hóa ứ, giải độc lợi thấp, phối hợp thành Tiền liệt tuyến thang để trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính.Qua hàng vạn ca điều trị, bài thuốc cho kết quả:– Giảm nhanh triệu chứng lâm sàng– Giảm số lượng bạch cầu trong dịch tuyến tiền liệt– Tỷ lệ khỏi bệnh đạt trên 70%Hiện nay, bài thuốc và tư tưởng điều trị này đã được các bệnh viện trên toàn quốc ứng dụng rộng rãi, phá vỡ quan niệm cũ cho rằng bệnh này khó trị khỏi.
Công trình này từng đạt giải thưởng công trình khoa học loại A của Bộ Y tế và giải tiến bộ khoa học kỹ thuật của Cục quản lý Y học cổ truyền Trung Quốc. Phương Tiền liệt tuyến thang: Đan sâm 10g, Trạch lan 10g, Xích thược 10g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 4,5g, Nhũ hương 4,5g, Một dược 4,5g, Vương bất lưu hành 10g, Thanh bì 6g, Xuyên luyện tử 6g, Tiểu hồi hương 3g, Bạch chỉ 6g, Bại tương thảo 20g, Bồ công anh 20g.
Nghiên cứu thực nghiệm về Tiền liệt tuyến thang trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính
Do hiệu quả lâm sàng rõ rệt, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành để làm sáng tỏ cơ chế tác dụng của bài thuốc:
(1) Ảnh hưởng đến huyết lưu biến học:
– Mô hình huyết ứ ở thỏ bằng dextran trọng lượng phân tử cao→ Tiền liệt tuyến thang làm giảm độ nhớt máu toàn phần, giảm kết tập và độ bám dính tiểu cầu, giảm khối lượng và độ ẩm huyết khối→ Đây là cơ sở khoa học chứng minh tác dụng hoạt huyết hóa ứ lâm sàng của bài thuốc
(2) Ảnh hưởng đến vi tuần hoàn thực nghiệm:
– Mô hình rối loạn vi tuần hoàn ở chuột bằng adrenaline→ Tiền liệt tuyến thang làm chậm sự ngừng dòng máu vi động mạch, có tác dụng giãn mạch rõ rệt→ Chứng minh có khả năng cải thiện vi tuần hoàn, tăng lưu lượng máu, giảm sung huyết mạn tính
(3) Tác động đối với mô hình viêm tiền liệt tuyến thực nghiệm
Dùng thuốc tiêm tiêu trĩ linh tạo mô hình viêm xơ hóa tuyến tiền liệt ở chuột, kết quả quan sát thấy nhóm dùng tiền liệt tuyến thang có mức độ thâm nhiễm tế bào viêm ở mô kẽ tuyến tiền liệt nhẹ, tăng sinh nguyên bào sợi cũng nhẹ, lượng dịch tiết tăng rõ rệt. Kính hiển vi điện tử truyền qua cũng cho thấy số lượng hạt tiết trên bề mặt tế bào tuyến tăng, trong lòng tuyến đầy các chất dạng hạt kim loại, lysosome tăng về số lượng và kích thước. Điều này cho thấy tiền liệt tuyến thang có tác dụng cải thiện phản ứng viêm của mô hình thực nghiệm, đồng thời phục hồi chức năng tiết dịch của tế bào biểu mô tuyến tiền liệt. Thực nghiệm ở cấp độ tế bào và dưới tế bào đã cung cấp cơ sở khách quan cho tác dụng làm giảm phản ứng viêm và tăng sinh mô xơ của tiền liệt tuyến thang.
Vì sao tiền liệt tuyến giao nang điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn lại có hiệu quả tốt?
Tiền liệt tuyến giao nang là dạng bào chế cải tiến từ bài tiền liệt tuyến thang do giáo sư Lưu Du Phương, chuyên gia tiết niệu học Trung – Tây y kết hợp của Bệnh viện Quảng An Môn, Viện nghiên cứu Trung y Trung Quốc nghiên cứu. Do điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính thường cần thời gian dài (thường trên ba tháng), nên dạng giao nang tiện lợi hơn thuốc sắc, dễ dùng và giúp bệnh nhân kiên trì hơn, từ đó hiệu quả cũng được nâng cao.
Thông qua hơn một nghìn ca nghiên cứu lâm sàng, kết quả cho thấy tỷ lệ khỏi và cải thiện rõ đạt 80,3%, các triệu chứng lâm sàng của viêm tiền liệt tuyến mạn tính đều có cải thiện rõ, đặc biệt hiệu quả ở những người có triệu chứng đau vùng hội âm, hạ vị, thắt lưng nặng nề, hoặc tuyến tiền liệt rắn, ấn đau. Triệu chứng cải thiện mạnh nhất thường xảy ra sau 1 – 2 tuần dùng thuốc. Một số ca cũng ghi nhận cải thiện chức năng tình dục, cá biệt có trường hợp tăng cường chức năng tình dục, có thể liên quan đến tác dụng hoạt huyết hóa ứ, cải thiện vi tuần hoàn, thúc đẩy hấp thu viêm và tăng tiết của tuyến tiền liệt.
Ngoài ra, tiền liệt tuyến giao nang còn có tác dụng rõ rệt làm giảm số lượng bạch cầu trong dịch tuyến tiền liệt. Một nhóm quan sát cho thấy sau 3 tháng điều trị, 66,1% bệnh nhân có số lượng bạch cầu trở về mức bình thường, đồng thời có tác dụng làm tăng hàm lượng kẽm và giảm pH trong dịch tuyến, chứng minh đây là một trong những loại thuốc lý tưởng hiện nay trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính.
Các phương pháp hoạt huyết hóa ứ điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn thường dùng là gì?
Khi lấy hoạt huyết hóa ứ làm trọng tâm điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính, thường dùng bốn phương pháp sau:
(1) Hoạt huyết bổ thận Chỉ định: Tiểu tiện nhiều, nhỏ giọt khó dứt, chóng mặt nhiều mộng, lưng gối mỏi yếu, di tinh, bạch trọc, giảm ham muốn, lưỡi nhạt đỏ, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế.
Dược liệu thường dùng: Xích thược, Đan bì, Đan sâm, Tử thảo, Sơn dược, Câu kỷ tử, Hoàng kỳ, Hạn liên thảo, Tam thất,… Thận dương hư gia thêm Thỏ ty tử, Xà sàng tử.
(2) Hoạt huyết lý khí Chỉ định: Bụng dưới, hội âm trướng đau, đau lan tinh hoàn, tiểu tiện khó, tiểu lắt nhắt không dứt, bạch trọc, hay thở dài, lưỡi tím hoặc có ứ điểm, mạch sáp.
Dược liệu: Trầm hương, Vương bất lưu hành, Hoạt thạch, Thạch vi, Xích bạch thược, Xuyên luyện, Đương quy, Nguyên hồ, Trần bì, Vân linh,…
(3) Hoạt huyết giải độc Chỉ định: Bụng dưới, hội âm trướng đau, tiểu tiện nhiều, rát buốt, hoặc tiểu nhỏ giọt khi đại tiện, miệng đắng khô, dịch tuyến có nhiều bạch cầu, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt.
Dược liệu: Sinh địa, Xích thược, Đan sâm, Đào nhân, Đại hoàng, Địa đinh, Trạch lan, Liên kiều, Ngư tinh thảo, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bồ công anh, Bại tương thảo…
(4) Hoạt huyết tán kết Chỉ định: Bụng dưới, hội âm trướng đau, lan tinh hoàn, tuyến tiền liệt to, cứng, ấn đau, rêu lưỡi trắng mỏng, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch huyền tế.
Dược liệu: Nguyên hồ, Xích thược, Sơn giáp, Nhũ hương – Một dược đã chế, Tạo thích, Quất hạch, Lệ chi hạch, Hoàng bá, Bồ công anh, Bại tương thảo…
Hiệu quả của phương pháp thuốc Trung y thụt hậu môn trong điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính như thế nào?
Những năm gần đây, có nhiều báo cáo sử dụng phương pháp thụt hậu môn bằng thuốc Trung y để điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính, và đã đạt hiệu quả khá tốt. Vậy vì sao phương pháp này lại có hiệu quả? Cơ chế tác dụng của nó là gì?
Trước hết, chúng ta biết rằng tuyến tiền liệt nằm trong khu vực chậu hông, sát ngay trực tràng, do đó khi thụt hậu môn bằng thuốc sắc Trung y có nhiệt độ từ 40℃ đến 42℃, có thể tạo ra hiệu ứng nhiệt trực tiếp lên tuyến tiền liệt, thúc đẩy tuần hoàn máu tại chỗ, tăng cường chức năng thực bào của bạch cầu, đẩy nhanh sự đào thải các sản phẩm chuyển hóa và độc tố tại chỗ, giúp hấp thu viêm và làm mềm mô sẹo.
Ngoài ra, việc thuốc thụt hậu môn có thể thấm trực tiếp qua thành trực tràng vào tuyến tiền liệt hay không hiện có hai luồng ý kiến. Quan điểm truyền thống cho rằng tuyến tiền liệt và trực tràng bị ngăn cách bởi màng Địch thị cân (Denonvilliers) — màng này có cấu trúc chặt, ít mạch máu, thuốc khó xuyên qua màng này để đến được tuyến tiền liệt. Vì vậy, thuốc thụt hậu môn vẫn cần được hấp thu qua thành trực tràng, vào vòng tuần hoàn toàn thân rồi mới tác động đến tuyến tiền liệt. Tuy nhiên, gần đây có nghiên cứu thực nghiệm trên động vật phát hiện các thành phần thuốc được đánh dấu bằng đồng vị phóng xạ có thể thấm trực tiếp đến tổ chức tuyến tiền liệt qua trực tràng, điều này đã cung cấp một số cơ sở thực nghiệm cho cơ chế tác động của liệu pháp thụt thuốc Trung y.
Do thuốc Trung y điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn thường là các vị hoạt huyết nhuyễn kiên, thanh nhiệt giải độc, nếu dùng lâu dài bằng đường uống dễ làm tổn thương tỳ vị, nhất là ở bệnh nhân có tỳ vị hư hàn. Vì vậy, chúng tôi cho rằng liệu pháp thụt hậu môn bằng thuốc Trung y là một phương pháp điều trị đáng được cân nhắc.
Trong những năm gần đây, chúng tôi đã sử dụng phương pháp thụt hậu môn bằng thuốc Trung y cho nhiều bệnh nhân. Bài thuốc thường dùng gồm: Bại tương thảo 50g, bồ công anh 50g, thổ phục linh 30g, hồng đằng 30g, nguyên hồ 30g, hoàng bá 30g. Qua thực tiễn lâm sàng cho thấy, sau khi thụt hậu môn bằng thuốc sắc ở nhiệt độ 40℃ – 42℃, các triệu chứng của bệnh nhân cải thiện nhanh chóng, có trường hợp cảm thấy dễ chịu ngay sau đó, triệu chứng đau giảm hoặc biến mất, số lượng bạch cầu trong dịch tuyến tiền liệt cũng giảm rõ rệt, cho thấy hiệu quả đáng kể của phương pháp này.
Các phương pháp xông – ngâm điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính bằng Trung y là gì?
Liệu pháp ngồi ngâm bằng nước ấm hoặc thuốc sắc có thể thúc đẩy tuần hoàn máu vùng chậu, cải thiện vi tuần hoàn, đặc biệt có hiệu quả rõ rệt đối với viêm tuyến tiền liệt thể sung huyết. Sau đây là một số phương pháp tiêu biểu:
(1) Sử dụng thiết bị ngồi ngâm duy trì nhiệt độ cố định, nhiệt độ nước 42℃ – 46℃, mỗi lần 20 phút, mỗi liệu trình 20 ngày, một báo cáo cho thấy hiệu quả đạt 88,4%.
(2) Bài ngâm: Ti qua lạc (xơ mướp) 30g, khổ sâm 30g, hồng hoa 20g, kim ngân hoa 30g, bại tương thảo 30g, thổ phục linh 40g, đại hoàng 50g, mang tiêu 50g; sắc lấy 2500ml nước thuốc, ngâm mỗi tối một lần, kết hợp thuốc thang uống, một tháng là một liệu trình, có báo cáo hiệu quả đạt 87,5%.
(3) Dùng 90g đại hoàng thêm 400ml nước, sắc thuốc xông rửa vùng hội âm, sáng – tối mỗi ngày hai lần, mỗi lần 30 phút, báo cáo cho biết điều trị 60 ca đều có hiệu quả.
(4) Ngồi ngâm bằng nước ấm, hoặc nước giấm pha loãng tỉ lệ 1:10, hoặc dùng bài thuốc: mang tiêu 10g, mã xỉ hiện 20g, sinh minh phàn 10g, đan sâm 30g, côn bố 30g, hải tảo 30g, hải phù thạch 30g, hạ khô thảo 30g, sắc thuốc để xông – ngâm, mỗi lần 15 – 30 phút, mỗi ngày 1 – 2 lần, hiệu quả tương đối tốt.
Cơ chế điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn bằng liệu pháp dán thuốc Trung y vào rốn là gì?
Rốn nằm ở trung tâm bụng dưới, là vị trí lõm còn lại sau khi dây rốn rụng, được coi là một gốc sinh mệnh quan trọng, thuộc kinh Nhâm mạch trong hệ thống kinh lạc của Trung y, có tên là huyệt Thần Khuyết.Mạch Nhâm quản lý các đường âm kinh trong toàn thân, đi qua giữa ngực và bụng, liên hệ với ngũ tạng lục phủ qua hệ thống kinh lạc. Huyệt Thần Khuyết nằm chính giữa bụng, nơi hội tụ của khí tiên thiên và hậu thiên, là trung gian giữa trung tiêu và hạ tiêu, nên được gọi là “hải hội của kinh khí”, là gốc rễ của ngũ tạng lục phủ.
Tác dụng của huyệt Thần Khuyết: Kiện tỳ ôn thận, hành khí hoạt huyết, tán kết thông ứ, chủ trị bách bệnh.
Trong quá trình phát triển phôi thai, rốn là vị trí cuối cùng khép kín của thành bụng, lớp sừng của biểu bì nơi đây là mỏng nhất, chức năng hàng rào yếu nhất, dưới da không có mô mỡ, da liên kết trực tiếp với cân và phúc mạc. Ngoài hệ thống vi tuần hoàn tại da rốn, dưới phúc mạc rốn còn có mạng lưới tĩnh mạch phong phú, lớp nông thông với tĩnh mạch nông thành bụng và tĩnh mạch thành ngực – bụng, lớp sâu thông với tĩnh mạch thành bụng trên và dưới, nhánh của động mạch hạ vị cũng đi qua rốn. Hơn nữa, do rốn có hình dạng lõm tạo thành hốc tự nhiên, sau khi dán thuốc sẽ tạo thành trạng thái đóng kín tự nhiên, thuận lợi cho việc giữ thuốc tại chỗ trong thời gian dài. Tất cả những điều này giúp thuốc dễ thấm qua da và được hấp thu vào máu, đi vào vòng tuần hoàn, đến vùng bệnh, phát huy tác dụng trực tiếp. Ngoài ra, thuốc dán vào rốn còn có thể kích thích dây thần kinh quanh huyệt Thần Khuyết, thông qua tác động thể dịch thần kinh mà điều hòa hệ thần kinh, nội tiết và miễn dịch, từ đó cải thiện hoạt động chức năng của các cơ quan tổ chức, có tác dụng phòng và trị bệnh.
Chính nhờ những cơ sở lý luận nêu trên, phương pháp dán thuốc Trung y vào rốn đã được ứng dụng rộng rãi trong điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính. Ví dụ như phương thuốc “Thiếp tề tán” (贴脐散) dùng lâm sàng (gồm xạ hương 0,15g, bạch hồ tiêu 7 hạt nghiền mịn dán vào rốn) dựa trên cơ chế hấp thu thuốc như đã nêu, để phát huy công dụng thơm mạnh của xạ hương, hoạt huyết hóa ứ, tiêu sưng tán kết, giải độc giảm đau; cùng với vị cay nóng của hồ tiêu giúp ôn trung tán hàn, hóa kết chỉ thống — hai vị kết hợp có tác dụng hoạt huyết tiêu kết, giảm đau tiêu ứ, thanh nhiệt giải độc, từ đó điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính.
Các phương pháp dán thuốc tại chỗ điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính gồm những gì?
Dán thuốc tại chỗ là một phương pháp điều trị ngoại trị quan trọng trong Trung y, gần đây được áp dụng vào điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính với các cách sau:
(1) Vùng hội âm rửa sạch, ngồi ngâm nước ấm 20 phút, sau đó dùng nước gừng tươi và bột đại hoàng chế 20g dán ngoài da, dùng băng keo cố định lên huyệt Trung Cực và hội âm, có báo cáo cho thấy tổng hiệu quả đạt 100%.
(2) Dùng Thiếp tề tán dán vào rốn: Đầu tiên cho xạ hương 0,15g vào rốn, sau đó dùng bạch hồ tiêu 7 hạt nghiền bột phủ lên, lấy giấy trắng đắp lên trên, dùng băng keo cố định, mỗi 7–10 ngày thay một lần, 10 lần là 1 liệu trình, có báo cáo cho thấy tổng hiệu quả đạt 100%.
(3) Liệu pháp đắp bùn tại chỗ: Làm nóng bùn đến 46℃–50℃, đặt lên vùng thắt lưng cùng và hội âm, mỗi lần 30 phút, mỗi ngày một lần, 15–20 lần là 1 liệu trình, giúp cải thiện triệu chứng rõ rệt.
(4) Dán thuốc cao Trung y: gồm các vị ngũ bội tử, tiểu hồi hương, điền thất, bối mẫu, băng phiến, hùng hoàng, nhũ hương mỗi vị 10g; toàn trùng 30g, ngô công 5g, đại hoàng – thiên hoa phấn mỗi vị 50g, dã cúc hoa 100g. Tất cả tán mịn, trộn giấm trắng vừa đủ, dùng lửa to nấu sôi 15 phút, sau hạ nhỏ lửa nấu tiếp 10 phút đến khi dẻo quánh, kéo thành chỉ to là đạt, đậy kín 5 phút, để nguội bảo quản. Khi dùng, rửa sạch vùng hội âm bằng nước ấm, dùng vải thoa một lượng thuốc cao vừa đủ, đắp lên hội âm mỗi tối 1 lần.
(5) Cao dán tiền liệt tuyến: gồm kim ngân hoa, đại phi đằng thảo, bồ công anh, xuyên khung, nhũ hương, một dược, hồng hoa, độc giác liên, dầu lạc hoặc dầu đậu, nhựa thông đã nấu chín, băng phiến, xạ hương lượng thích hợp. Tất cả dược liệu ngâm trong dầu 15 ngày, sau đó cho vào nồi dầu chiên sôi, khi dược liệu cháy vàng thì vớt ra, tiếp tục nấu đến khi nhỏ nước thấy đọng giọt, cho nhựa thông vào khuấy đều cho tan hoàn toàn, nhấc khỏi lửa, cho băng phiến và xạ hương trộn đều, để nguội. Mỗi lần dùng 20–30g thuốc cao, vo thành lát mỏng, dán vào huyệt hội âm, huyệt Trung Cực, dùng băng cố định bên ngoài, mỗi ngày một lần.
Làm thế nào sử dụng phương pháp “chích trị liệu” để điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính?
Chích trị liệu, còn gọi là “Tiệt căn pháp” (截根法)phương pháp cắt tận gốc, là một kỹ thuật dùng kim tam lăng đã tiệt trùng hoặc kim khâu lớn để chích đứt một số mô xơ dưới da, hoặc chích vỡ da ép máu ra ngoài nhằm đạt được hiệu quả điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính. Phương pháp này có hiệu quả tốt trong thời gian ngắn, triệu chứng có thể thuyên giảm ở mức độ khác nhau.
(1) Vị trí chích trị liệu: Lấy các điểm sẩn nhỏ ở vùng da lưng – thắt lưng làm mục tiêu. Đặc điểm nhận biết sẩn là giống mụn nổi nhẹ, kích cỡ như đầu kim hoặc hạt kê, màu xám trắng, đỏ sẫm, nâu sẫm hoặc hồng nhạt, ấn vào không mất màu. Nếu tại một vị trí có từ hai điểm phản ứng trở lên, chọn điểm rõ nhất, mỗi lần chỉ chích 1–2 điểm, cần phân biệt với nốt ruồi hay vết sắc tố. Nếu không tìm thấy điểm sẩn, có thể chọn các huyệt liên quan đến tuyến tiền liệt như Thận Du, Trường Cường để luân phiên chích trị.
(2) Phương pháp chích trị:
Sau khi xác định vị trí chích trị, tiến hành sát khuẩn da vùng đó bằng cồn iốt và cồn y tế. Người thực hiện dùng tay phải cầm kim tam lăng hoặc kim khâu bằng thép đã khử trùng (chú ý không để đầu kim bị nhiễm bẩn), tay trái nhéo nhẹ điểm chích, đưa kim xuyên ngang qua da, tức thân kim song song với mặt da, đầu kim đâm vào dưới da rồi nâng nhẹ đầu kim lên và lắc nhẹ, dùng kim chích tách tổ chức xơ màu trắng dưới da, thực hiện cho đến khi tách được vài sợi hoặc tách hết. Trong quá trình chích, bệnh nhân sẽ cảm thấy hơi đau; nếu cần có thể gây tê tại chỗ bằng dung dịch Procaine 0,5% liều 1–2ml, sau đó tiến hành chích. Thông thường không chảy máu hoặc chỉ ra rất ít máu. Sau khi chích, dùng gentian violet (long não tím) sát khuẩn lại, đắp gạc vô khuẩn và dùng băng dính cố định là xong.
(3) Lưu ý:Bệnh nhân nên ngồi hoặc nằm để tránh hiện tượng chóng mặt do kim. Tuân thủ quy trình vô khuẩn nghiêm ngặt. Sau khi chích trị cần giữ vệ sinh vùng chích, không rửa bằng nước trong vòng 5 ngày để tránh nhiễm trùng vết thương. Nếu vùng chích có biểu hiện nóng rát, không cần xử lý, triệu chứng sẽ tự hết. Nếu có biểu hiện sưng, đỏ, nóng, đau thì cần dùng kháng sinh hoặc thuốc Trung y thanh nhiệt giải độc kịp thời. Tránh ăn thực phẩm cay nóng kích thích. Những người mắc bệnh tim nặng, bệnh lý chảy máu, cơ địa sẹo lồi, cơ thể suy nhược nghiêm trọng không nên áp dụng phương pháp này.
Nhĩ châm điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính là gì?
Theo y học cổ truyền, tai không chỉ là cơ quan thính giác, mà còn có mối liên hệ mật thiết với toàn thân qua hệ thống kinh lạc và tạng phủ, là nơi liên kết giữa bề mặt cơ thể và nội tạng. Các vùng phản ứng đặc biệt trên vành tai có thể phản ánh tình trạng bệnh lý của các cơ quan nội tạng, đồng thời cũng có thể làm nơi tác động điều trị.
Châm cứu tai điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính dựa trên nguyên lý này, dùng kim châm kích thích các huyệt vị tương ứng trên tai để đạt hiệu quả trị bệnh.
Các huyệt thường dùng: Thận, bàng quang, niệu đạo, vùng chậu, tuyến tiền liệt, Thần môn.
Cách thực hiện: Mỗi lần chọn 2–3 huyệt, kích thích vừa phải, giữ kim 15–20 phút. Cũng có thể áp dụng liệu pháp dán ép huyệt tai, mỗi lần chỉ dùng một tai, luân phiên hai bên.
Gia giảm:
Nếu thấp nhiệt uất trệ: thêm huyệt tiểu trường, tam tiêu.
Nếu âm hư hỏa vượng: thêm huyệt thận, nội phân tiết.
Nếu thận hư dương suy: thêm huyệt thận, nội phân tiết.
Nếu khí huyết ứ trệ: thêm huyệt tam tiêu, tỳ, vị.
Lưu ý:
Bệnh nhân bị bệnh tim mạch nặng không nên dùng kích thích mạnh.
Người bị thiếu máu ác tính, bệnh ưa chảy máu không nên châm, nên dùng liệu pháp dán ép huyệt tai.
Nếu vành tai có viêm, tê cóng, lở loét, bệnh da liễu, thì cấm châm cứu.
Khi châm cần cảm nhận rõ đắc khí, thao tác đúng quy trình, sát khuẩn cẩn thận.
Chích điểm – dẫn máu điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính có cơ sở gì?
Gần đây có báo cáo sử dụng phương pháp chích điểm dẫn máu điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính, tổng hiệu quả đạt 100%, tỷ lệ khỏi bệnh 62,5%, hiệu quả khả quan.
Cách làm: Lấy mỏm gai đốt sống thắt lưng 5 làm trung tâm, mỗi chiều 1 tấc tạo thành vùng châm. Bệnh nhân nằm sấp, vùng châm được lộ rõ và sát khuẩn bằng cồn 75%. Người thực hiện cầm kim thép đặc chế dạng kiếm rộng 1,2mm, dày 0,5mm, tay trái nhéo da, châm nhanh vào vùng châm theo thứ tự: Đốc mạch trước, sau đó là các huyệt giáp tích, đâm sâu khoảng 1cm rồi rút kim, sau đó áp cốc giác hút máu trong 20 phút. Mỗi 5 ngày làm 1 lần, 6 lần là 1 liệu trình.
Cơ sở lý luận: Theo Trung y, viêm tuyến tiền liệt mạn tính là bệnh lý liên quan chính đến bàng quang, có liên hệ đến can và tỳ, nguyên nhân chủ yếu là thấp nhiệt uất kết, thận âm bất túc, thận dương suy yếu, khí huyết ứ trệ, khiến khí hóa bàng quang không lợi mà gây bệnh. Việc rút máu ở huyệt giáp tích và đốc mạch giúp sơ thông khí của kinh bàng quang, hoạt huyết hóa ứ. Ngoài ra, rút máu vùng thắt lưng còn có thể kích thích thần kinh tủy và thần kinh cùng, gây kích thích hệ phó giao cảm tại chỗ, giãn mạch, tăng tưới máu mao mạch, cải thiện tuần hoàn máu tại tuyến tiền liệt, từ đó đẩy nhanh quá trình hấp thu viêm nhiễm, triệu chứng thuyên giảm.
Khí công liệu pháp có thể dùng để điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính không?
Câu trả lời là có. Khí công không những có thể dùng để điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính mà với một số bệnh nhân, hiệu quả đạt được khá tốt. Như chúng ta biết, khí công là một tinh hoa trong văn hóa truyền thống của y học cổ truyền, có thể thông qua các phương pháp khác nhau để điều tức, điều tâm, điều thân, cuối cùng đạt được mục đích cường thân kiện thể, phòng và trị bệnh.
Do các triệu chứng tại chỗ của viêm tuyến tiền liệt mạn tính tương đối rõ rệt, nên khi áp dụng khí công trị liệu, cần phải chọn đúng phương pháp công luyện phù hợp với chứng trạng. Một số bài thường dùng gồm có: Đề hậu thổ nạp công, Phản hồi cường tráng công, Điểm huyệt xoa bóp công, Đề thận công. Trong đó Đề thận công khá đơn giản, dễ thực hiện, nên xin giới thiệu chi tiết như sau:
(1) Ngồi ngay ngắn trên ghế cao khoảng 50–60 cm, hai chân chạm đất, khoảng cách hai chân ngang vai, hai tay tự nhiên đặt trên đùi, lòng bàn tay úp hoặc ngửa đều được, không ngồi lún hết ghế.
(2) Tập trung ý niệm vào vùng hội âm, phối hợp theo nhịp thở, thực hiện hội âm co – thả, siết – lỏng luân phiên, âm lực hướng lên trên, hướng vào trong, giống như trạng thái nhịn tiểu tiện.
(3) Sử dụng phương pháp hô hấp bụng: khi thở ra thì thu bụng, đồng thời hơi dùng lực nâng vùng hội âm lên; khi hít vào thì bụng phình ra kéo theo hội âm hạ xuống. Khi đã thuần thục có thể không cần đồng bộ theo hô hấp, mà chỉ cần luân phiên co – thả hội âm, mỗi lần khoảng 20 lượt là thích hợp.
Mỗi ngày luyện tập 3–5 lần, cách quãng thời gian giữa các lần. Bệnh nhân cao huyết áp nên giảm số lần co thắt mỗi lần. Người bị mất ngủ không nên luyện công trước khi ngủ.
Y học cổ truyền chọn dùng cháo thuốc như thế nào để phối hợp điều trị viêm tuyến tiền liệt mạn tính?
Dưới sự chỉ dẫn của lý luận y học cổ truyền, lựa chọn dược liệu thích hợp kết hợp với ngũ cốc, thêm một số phụ liệu điều vị, nấu chung thành cháo, tức là cháo thuốc. Phương pháp này có ưu điểm thuốc và thực phẩm cùng nguồn, vừa dùng làm thức ăn, vừa là dược liệu.
Dựa theo biện chứng phân loại trong y học cổ truyền đối với viêm tuyến tiền liệt mạn tính, dưới đây là một số bài cháo thuốc tham khảo cho các thể bệnh khác nhau:
(1) Thể thấp nhiệt uất trệ
Cháo hoạt thạch (trạch tả)
Hoạt thạch 30g, nụ Cù mạch (瞿麦穗) 50g, gạo tẻ 50g, hành trắng 4 cây, muối vừa đủ
Trước tiên sắc nụ Cù mạch, bỏ bã lấy nước; sau đó cho gạo tẻ vào nấu thành cháo, thêm hành, muối và bột hoạt thạch vào, nấu đến khi cháo sánh vừa.
(2) Thể âm hư hỏa vượng
Cháo sơn dược – sinh địa
Sơn dược 20g, sinh địa 30g, nhục thung dung 15g, gạo tẻ 100g
Ba vị thuốc đầu sắc lấy nước, cho vào nấu cùng gạo tẻ thành cháo.
Mỗi ngày 1 thang, liên tục 7 ngày.
(3) Thể thận hư dương suy
Cháo lộc giác giao (cao gạc hươu)
Lộc giác giao 15–20g, gạo tẻ 100g, gừng tươi 3 lát
Gạo vo sạch nấu cháo, khi gần chín cho lộc giác giao và gừng vào nấu tiếp, dùng khi còn ấm.
(4) Thể khí huyết ứ trệ
Cháo vương bất lưu hành – đan sâm
Vương bất lưu hành 20g, đan sâm 15g, đào nhân 15g, gạo tẻ 100g, đường trắng vừa đủ
Vương bất lưu hành đập dập, sắc chung với đan sâm và đào nhân lấy nước, sau đó nấu cháo với gạo tẻ, có thể thêm chút đường trắng khi dùng.
Ly Nguyễn Nghị dịch