Tài liệu tham khảo:
Dấu hiệu nào cho thấy sốt thấp (thấp khớp cấp) đã xâm hại khớp?
Viêm khớp do thấp là triệu chứng phổ biến và thường gặp nhất của sốt thấp (sốt phong thấp). Trong lần đầu phát bệnh cấp tính, có đến 75% trường hợp xuất hiện viêm khớp do thấp. Các dấu hiệu lâm sàng điển hình khi khớp bị tổn thương do sốt thấp có những đặc điểm sau:
1/Tính đa phát: Sốt thấp thường đồng thời xâm phạm nhiều khớp và có tính đối xứng. Ở các khớp bị viêm thường xuất hiện hiện tượng đỏ, sưng, nóng, đau và ấn vào thì đau tăng.
2/Tổn thương khớp lớn: Thường ảnh hưởng đến các khớp lớn như khớp gối, cổ chân, vai, cổ tay, khớp háng, khớp khuỷu v.v.
3/ Tính di chuyển (du hành): Viêm khớp có thể di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Khi một khớp vừa giảm viêm thì khớp khác lại bắt đầu viêm.
4/ Không để lại biến dạng: Sau khi tình trạng viêm biến mất, chức năng của khớp hồi phục hoàn toàn, không để lại biến dạng khớp.
Trong trường hợp không điển hình, người bệnh chỉ cảm thấy ê ẩm khớp. Tổn thương thấp cũng có thể ảnh hưởng đến các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân và cột sống, hoặc giới hạn ở một khớp đơn lẻ. Ở trẻ em, triệu chứng viêm khớp thường rất nhẹ hoặc chỉ liên quan đến một, hai khớp. Ở người lớn, các triệu chứng viêm khớp rõ ràng hơn. Mức độ viêm khớp nặng hay nhẹ không liên quan trực tiếp đến mức độ tổn thương tim.
Viêm khớp do thấp và tình trạng sau nhiễm liên cầu khuẩn có khác nhau không?
Nhiễm trùng đường hô hấp trên thường kèm theo sốt nhẹ kéo dài, đau nhức chân tay, đau khớp. Xét nghiệm có thể thấy tốc độ lắng máu (ESR) tăng, phản ứng ASO (anti-streptolysin O) dương tính; có tài liệu gọi đây là “tình trạng sau nhiễm liên cầu khuẩn”. Triệu chứng lâm sàng tương tự sốt thấp cấp nên ban đầu dễ bị chẩn đoán nhầm là viêm khớp do thấp. Tuy nhiên, đau khớp trong tình trạng sau nhiễm liên cầu khuẩn thường không cấp và nặng như viêm khớp do thấp, cũng không có tính “di chuyển”. Tổn thương da có thể xuất hiện ban sẩn (sần) nhưng không phải hồng ban vòng (vòng tròn) điển hình. Ngoài ra, ở tình trạng này không có dấu hiệu hoặc triệu chứng của viêm tim, tiếng T1 ở mỏm tim không giảm, không có tiếng thổi thực thể… Tất cả những điểm này giúp phân biệt với viêm khớp do thấp cấp. Khi cần thiết, có thể theo dõi định kỳ để đánh giá rõ hơn.
Viêm khớp do thấp và viêm khớp dạng thấp (RA) có phải cùng một bệnh không?
Viêm khớp do thấp và viêm khớp dạng thấp là hai bệnh hoàn toàn khác nhau. Ở giai đoạn sớm, cả hai đều có biểu hiện sốt, đau khớp và tốc độ lắng máu tăng nên lâm sàng đôi khi khó phân biệt. Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid Arthritis): Thường viêm đa khớp, đối xứng ở các khớp nhỏ của ngón tay, bàn tay. Về sau, khớp các ngón có thể sưng hình thoi, cứng khớp hoặc biến dạng. Điều trị bằng chế phẩm salicylat (aspirin) hiệu quả không ổn định, thường chỉ giảm đau tạm thời. Ít gặp tổn thương tim kèm theo. Kháng “O” (ASO) thường không tăng. Yếu tố dạng thấp (Rheumatoid factor) đa phần dương tính. X-quang cho thấy bề mặt khớp bị hủy, khe khớp hẹp và loãng xương, thậm chí biến dạng khớp. Viêm khớp do thấp (Rheumatic Arthritis): Thường gặp ở các khớp lớn như gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay…Sau giai đoạn cấp, chức năng khớp hồi phục hoàn toàn, không để lại biến dạng.Điều trị bằng các chế phẩm salicylat thườn mang lại hiệu quả rõ rệt. Kháng “O” (ASO) đa phần tăng cao.Trên X-quang chỉ thấy sưng mô mềm quanh khớp. Có tính đa phát, đối xứng, viêm đỏ, sưng, nóng, đau rõ, thường di chuyển và tái phát nhiều lần. Không để lại biến dạng khớp. Có thể xuất hiện hồng ban vòng, hạt dưới da, thường gặp ở ngón tay, ngón chân, cổ tay, cổ chân, cột sống… Khớp bị ảnh hưởng chủ yếu sưng đau, đối xứng, về sau có thể cứng khớp, biến dạng (trong các trường hợp kéo dài và biến chứng). Vùng da quanh khớp bị nhợt, mỏng, cơ xung quanh teo. Một số bệnh nhân có hạt dưới da ở những chỗ lồi của khớp. Đáp ứng với salicylat nhìn chung tốt, nhưng đôi khi cũng chỉ giảm đau tạm. Tổn thương tim thường xảy ra đồng thời viêm tim, có thể gây tổn thương vĩnh viễn nặng nề (sốt thấp tim). Không để lại bệnh tim vĩnh viễn (đối với viêm khớp dạng thấp thì thường không bị di chứng tim). Lách, hạch: Viêm khớp do thấp không làm to, còn viêm khớp dạng thấp có thể gây phì đại. Kháng “O” có thể dương tính hoặc âm tính. X-quang: chỉ sưng mô mềm, khác với viêm khớp dạng thấp hay có dấu hiệu loãng xương hoặc phá hủy bề mặt khớp. Về thay đổi bệnh lý mô khớp: Viêm khớp do thấp (cấp tính): Giai đoạn cấp, mô quanh khớp phù nề, có nhiều dịch tiết thanh tơ (serofibrinous) trong bao khớp, màng hoạt dịch sung huyết, phù nề, có thoái hóa sợi collagen, hoại tử và nhiều tế bào đơn nhân, lympho thâm nhiễm. Lúc này, khớp có biểu hiện viêm cấp tính: đỏ, sưng, nóng, đau và hạn chế vận động. Sau giai đoạn cấp, dịch tiết được hấp thu hoàn toàn, không để lại biến dạng khớp.
Viêm khớp dạng thấp (giai đoạn sớm): Viêm màng hoạt dịch, bao khớp, mô mềm xung quanh gây tích tụ nhiều dịch, làm khớp sưng to, màng hoạt dịch tăng sinh hình mao mạch. Về sau hình thành mô sùi dạng hạt ở mạch máu, xâm lấn, phá hủy sụn khớp. Cuối cùng, mô hạt ở bề mặt sụn xơ hóa, dính chặt hai mặt khớp trên – dưới, dẫn tới cứng khớp dạng sợi và biến dạng.
Viêm khớp do thấp có chuyển thành viêm khớp dạng thấp không?
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh mạn tính toàn thân có liên quan đến tự miễn, thường khởi phát từ từ ở tuổi thanh niên và trung niên. Biểu hiện điển hình là viêm đa khớp có tính đối xứng, thường gặp nhất ở khớp ngón tay, ngón chân, bàn tay, cổ tay, cổ chân… Ở giai đoạn sớm, cũng có triệu chứng đỏ, sưng, nóng, đau và hạn chế vận động; về sau khớp bị cứng và biến dạng. Mặc dù viêm khớp do thấp và viêm khớp dạng thấp có nhiều triệu chứng và cách điều trị tương tự nhau, nhưng vì chúng khác nhau rõ về nguyên nhân, bệnh lý, nguyên tắc điều trị cũng như tiên lượng nên đây là hai bệnh riêng biệt và không chuyển hóa lẫn nhau. Sở dĩ trong thực tế dễ nhầm lẫn hai bệnh này là do triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm ở giai đoạn sớm có thể không điển hình, dẫn đến viêm khớp dạng thấp đôi khi bị chẩn đoán nhầm thành viêm khớp do thấp, và ngược lại, những trường hợp viêm khớp do thấp không điển hình cũng có thể bị nhận định là viêm khớp dạng thấp.
Viêm khớp do thấp khác gì với viêm khớp do phản ứng quá mẫn với lao (kết hạch)?
Viêm khớp do phản ứng lao (lao gây phản ứng quá mẫn) cũng có biểu hiện đau khớp, sốt, tim đập nhanh, tốc độ lắng máu tăng, khá giống với viêm khớp do thấp. Tuy nhiên, người mắc viêm khớp do lao phản ứng quá mẫn thường có ổ lao rõ ràng, không có tổn thương tim, kháng “O” (ASO) không tăng, phản ứng tuberculin (Mantoux) dương tính, điều trị bằng salicylat có thể giảm triệu chứng tạm thời nhưng dễ tái phát. Khi được điều trị lao đặc hiệu, triệu chứng sẽ thuyên giảm. Những điểm này giúp phân biệt với viêm khớp do thấp.
Viêm khớp do thấp và viêm khớp do Mycoplasma khác nhau thế nào?
Ở bệnh nhân viêm phổi do Mycoplasma hoặc sau khi nhiễm Mycoplasma cũng có thể thấy tình trạng viêm khớp đa phát và “di chuyển”. Lúc này, nếu làm phản ứng kết hợp bổ thể Mycoplasma, kháng thể sẽ tăng, phản ứng ngưng kết lạnh (cold agglutinin) cũng tăng; đồng thời nuôi cấy Mycoplasma cho kết quả dương tính. Những bằng chứng này giúp chẩn đoán chính xác hơn.
Viêm khớp do thấp cấp tính có chuyển thành viêm khớp do thấp mạn tính không?
Hoàn toàn có thể. Trên lâm sàng, bất kỳ dạng viêm khớp nào cũng đều có thể có giai đoạn cấp và mạn. Nhiều dạng viêm khớp cấp, nếu không được điều trị đúng và đủ, có thể tiến triển thành mạn tính; và các thể viêm khớp mạn cũng có lúc bùng phát cấp tính.Viêm khớp do thấp cấp là triệu chứng thường gặp của sốt thấp cấp. Giai đoạn cấp, màng hoạt dịch và tổ chức xung quanh khớp phù nề, có fibrin và bạch cầu đa nhân thấm vào dịch khớp. Sau giai đoạn cấp, các chất xuất tiết được hấp thu hoàn toàn, thường không gây biến dạng khớp. Nhờ điều trị kịp thời và đúng cách, đa số bệnh nhân được chữa khỏi hoàn toàn mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, nếu quá trình điều trị không tích cực, không hợp lý hoặc không triệt để; hay người bệnh phải sống lâu dài trong môi trường ẩm thấp, chật chội, lạnh lẽo, thiếu ánh sáng; điều kiện sống kém, dinh dưỡng không đầy đủ; cơ thể có ổ nhiễm trùng mạn tính… thì sốt thấp có thể tái phát nhiều lần, hoặc âm ỉ kéo dài, dẫn đến viêm khớp do thấp mạn tính.
Biểu hiện lâm sàng của viêm khớp do thấp mạn tính là gì?
Viêm khớp do thấp mạn tính thường gặp ở người trung niên và cao tuổi. Trên lâm sàng ít khi sốt, cũng không thấy rõ viêm cấp ở khớp. Bệnh nhân chỉ cảm thấy ê ẩm, khó chịu khớp hoặc đau nhẹ. Khi thời tiết trở lạnh, ẩm ướt, thay đổi đột ngột (mưa giông, mưa phùn…), hoặc sau khi viêm nhiễm đường hô hấp trên, khớp đau tăng rõ rệt. Có khi vài tuần hoặc vài tháng bệnh nhân không hề bị đau khớp, rồi đột nhiên tái phát. Mặc dù đau khớp kéo dài, nhưng chức năng hoạt động của khớp nhìn chung không bị hạn chế.
Tại sao bệnh nhân viêm khớp do thấp lại có thể “dự báo” thời tiết?
Nhiều bệnh nhân viêm khớp do thấp cho biết, trước khi có mưa hoặc bão tuyết, họ thường cảm thấy khớp đau tăng và có thể dự báo sự thay đổi thời tiết, đôi khi còn “chính xác như dự báo khí tượng”. Nguyên nhân là do: Ở người bình thường, khi độ ẩm không khí tăng và áp suất không khí giảm, lượng dịch chuyển trong tế bào ra ngoài tăng, đồng thời lượng nước tiểu cũng nhiều hơn. Khi độ ẩm giảm, áp suất tăng, dịch lại ứ đọng trong các mô kẽ của cơ thể. Đây là cơ chế thích ứng tự nhiên của tế bào đối với môi trường bên ngoài. Với người có khớp bị viêm, mô tổn thương không thể điều tiết đào thải dịch theo những thay đổi của thời tiết, dẫn đến áp lực nội bào ở tổ chức viêm cao hơn bình thường, làm khớp sưng đau nhiều hơn.
Phương pháp điều trị viêm khớp do thấp theo y học hiện đại
Tây y chủ yếu áp dụng các phương pháp sau: 1/ Dùng chế phẩm salicylat và thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) để giảm đau, chống viêm và kiểm soát hoạt động của bệnh thấp (cách sử dụng chi tiết xem trong câu hỏi 60, 61 của tài liệu gốc). 2/ Ở giai đoạn viêm khớp do thấp cấp tính hoặc trong đợt bùng phát cấp tính của viêm khớp do thấp mạn tính, có thể sử dụng penicillin để kiểm soát nhiễm liên cầu khuẩn (cách dùng chi tiết xem câu 59). 3/ Phòng ngừa viêm khớp do thấp tái phát bằng cách nâng cao thể chất, tăng cường khả năng kháng bệnh, loại bỏ ổ nhiễm trùng mạn tính. Đối với viêm đường hô hấp trên, nên dùng kháng sinh sớm (cách phòng ngừa chi tiết xem câu 65).
Viêm khớp do thấp có bắt buộc phải dùng hormone (corticoid) không?
Có một trường hợp: Một cô gái 17 tuổi sau khi viêm nhiễm đường hô hấp trên, xuất hiện sốt, ra nhiều mồ hôi, mệt mỏi, khớp gối và khớp cổ chân hai bên đỏ, sưng, nóng, đau; quanh khớp gối và mặt trước xương chày có vài hạt nhỏ dưới da; xét nghiệm công thức bạch cầu 11,8×10^9/L, tốc độ lắng máu (máu lắng) 34mm/h, ASO dương tính. Bệnh viện địa phương chẩn đoán viêm khớp do thấp cấp, dùng tiêm bắp penicillin, uống aspirin và prednisolone (một loại corticoid). Sau 2 ngày, do lo ngại về cách điều trị, bệnh nhân chuyển viện. Căn cứ tình trạng bệnh, bác sĩ dừng ngay prednisolone, đồng thời cho bệnh nhân uống thuốc thanh nhiệt giải độc, khu phong trừ thấp theo Đông y. Một tuần sau, tình trạng sưng nóng đỏ đau ở khớp rõ ràng thuyên giảm. Bệnh nhân tiếp tục dùng aspirin và thuốc Đông y khoảng một tháng rưỡi thì khỏi hẳn.
Trường hợp này cho thấy, nói chung viêm khớp do thấp không nhất thiết phải dùng thuốc hormone (corticoid). Mặc dù corticoid có tác dụng nhất định trong việc giảm phản ứng viêm, hạ sốt, đưa tốc độ lắng máu về bình thường khá nhanh, nhưng đi kèm với nhiều tác dụng phụ. Vì vậy, khi dùng trên lâm sàng, phải cân nhắc chặt chẽ. Chỉ khi bệnh nhân viêm khớp do thấp cấp tính nặng, đã dùng các thuốc chống thấp khác mà không hiệu quả, mới xem xét corticoid. Còn viêm khớp do thấp mạn tính lại càng không phải đối tượng chỉ định corticoid.
Viêm khớp do thấp có phải là chứng Tý (痹) mà Y học cổ truyền đề cập không?
Trong y văn cổ truyền, “chứng Tý” (痹证) được mô tả là do phong, hàn, thấp, nhiệt… xâm nhập cơ thể, bít tắc kinh lạc, làm khí huyết ứ trệ, dẫn đến cơ bắp, gân xương, khớp đau nhức, tê mỏi, nặng nề, khó cử động, thậm chí khớp sưng nóng đỏ. Dựa vào định nghĩa này, viêm khớp do thấp đương nhiên thuộc phạm vi “chứng Tý” trong Đông y. Và khi điều trị, y học cổ truyền thường căn cứ vào phép biện chứng luận trị dành cho “chứng Tý” để đưa ra bài thuốc, liệu pháp phù hợp. Phạm vi của “chứng Tý” trong Đông y khá rộng, bao gồm cả viêm khớp do thấp, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp do gút (thống phong), thoái hóa khớp cũng như đau thần kinh tọa…
Y học cổ truyền biện chứng luận trị viêm khớp do thấp ra sao?
Trong Đông y, viêm khớp do thấp được xếp vào nhóm “chứng Tý”. Khi biện chứng, trước hết cần phân biệt hai nhóm chính: Phong hàn thấp Tý và nhiệt Tý. Nhiệt Tý: đặc trưng là đỏ, sưng, nóng, đau ở khớp, thường gặp trong viêm khớp do thấp giai đoạn cấp. Phong hàn thấp Tý: đau ê ẩm nhưng khớp không đỏ nóng. Trong đó, nếu đau khớp “di chuyển” không cố định gọi là “hành Tý” (hành tý), nếu đau dữ dội, có điểm đau cố định gọi là “thống Tý” (thống tý), nếu khớp nặng nề, tê mỏi gọi là “trứ Tý” (trệ tý). Bệnh tiến triển lâu ngày cần chú ý đến tình trạng tổn thương khí huyết và suy yếu tạng phủ. Trường hợp này thường gặp trong viêm khớp do thấp mạn tính.
Chứng tý là do cảm thụ phong, hàn, thấp, nhiệt mà thành bệnh nên phương pháp điều trị chính của Đông y đối với “chứng Tý” là khu phong, tán hàn, trừ thấp, thanh nhiệt, kết hợp thư cân hoạt lạc (giãn gân, thông kinh lạc). Dựa vào từng thể bệnh cụ thể (hành, thống, trứ, nhiệt), sẽ có chủ trương và bài thuốc phù hợp.
(1) Hành tý (行痹)
Chủ chứng: Tứ chi, khớp xương đau mỏi, cơn đau di chuyển không cố định, vận động co duỗi khó khăn, có thể kèm sợ lạnh, phát sốt, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch Phù.
Trị tắc: Khu phong thông lạc, tán hàn trừ thấp.
Phương dược: Phòng Phong Thang gia giảm. Gồm các vị: Phòng phong, Ma hoàng, Đương quy, Tần giao, Nhục quế, Cát căn, Phục linh, Sinh khương, Đại táo, Cam thảo.
Nếu đau mỏi chủ yếu ở khớp vai, khuỷu (các khớp chi trên), có thể gia giảm Khương hoạt, Bạch chỉ, Uy linh tiên, Khương hoàng, Xuyên khung để khu phong thông lạc, chỉ thống.
Nếu đau mỏi chủ yếu ở thắt lưng và cột sống, có thể gia giảm Đỗ trọng, Tang ký sinh, Dâm dương hoắc, Ba kích thiên, Tục đoạn để ôn bổ thận khí.
Nếu đau mỏi chủ yếu ở khớp gối, cổ chân (các khớp chi dưới), có thể gia giảm Độc hoạt, Ngưu tất, Phòng kỷ, Tỳ giải để thông kinh hoạt lạc, trừ thấp chỉ thống.
(2) Thống tý (痛痹)
Chủ chứng: Tứ chi, khớp xương đau dữ dội, đau cố định, gặp ấm thì đỡ đau, gặp lạnh thì đau tăng, khớp co duỗi khó khăn, vùng đau không đỏ, sờ không nóng, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch Huyền Khẩn.
Trị tắc: Ôn kinh tán hàn, khu phong trừ thấp.
Phương dược: Ô Đầu Thang gia giảm. Gồm các vị: Ô đầu, Ma hoàng, Thược dược, Cam thảo, Hoàng kỳ, Tế tân, Quế chi.
Việc gia giảm các vị thuốc có thể tham khảo như ở phần Hành tý. (vị Ô đầu nấu trước 1 giờ trong nước sôi)
(3) Trứ tý (着痹)
Chủ chứng: Tứ chi, khớp xương nặng nề, đau mỏi, có thể kèm sưng, đau cố định, cảm giác tay chân trầm nặng, vận động khó khăn, da thịt tê bì, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch Nhu Hoãn.
Trị tắc: Trừ thấp thông lạc, khu phong tán hàn.
Phương dược: Dĩ Ý Nhân Thang gia giảm. Gồm các vị: Ý dĩ nhân, Thương truật, Khương hoạt, Độc hoạt, Phòng phong, Xuyên ô, Ma hoàng, Quế chi, Đương quy, Xuyên khung, Sinh khương, Cam thảo. (vị Ô đầu (Xuyên ô) nấu trước 1 giờ trong nước sôi)
Nếu khớp sưng phù nhiều, có thể gia Tỳ giải, Mộc thông, Khương hoàng để lợi thủy tiêu thũng.
Nếu da thịt tê bì, có thể gia Hải đồng bì, Hy thiêm thảo để khu phong thông lạc.
(4) Nhiệt tý (热痹)
Chủ chứng: Khớp sưng nóng đỏ, đau, gặp mát hơi dễ chịu, đau dữ dội đến mức không chạm được, có thể kèm sốt, sợ gió, miệng khát, bứt rứt khó chịu… Rêu lưỡi vàng khô, mạch Hoạt Sác.
Trị tắc: Thanh nhiệt thông lạc, khu phong trừ thấp.
Phương dược: Bạch Hổ Quế Chi Thang gia vị. Gồm các vị: Sinh thạch cao, Tri mẫu, Quế chi, Cam thảo, Nhẫn đông đằng, Liên kiều, Hoàng bá, Hải đồng bì, Khương hoàng, Uy linh tiên, Phòng kỷ, Tang chi.
Nếu da xuất hiện ban đỏ, gia Đan bì, Sinh địa, Xích thược để lương huyết tiêu ban.
Nếu có chỗ cứng, gia Tàm sa, Ý dĩ nhân, Xích tiểu đậu để trừ thấp tán kết.
Nếu có sốt về chiều hoặc bứt rứt về đêm, gia Thanh hao, Địa cốt bì.
Tóm lại, trong điều trị chứng Tý, tùy theo sự thiên thắng của phong, hàn, thấp, nhiệt mà vận dụng các phương pháp khác nhau. Hành tý chủ yếu khu phong, kiêm tán hàn trừ thấp, phối hợp dưỡng huyết. Thống tý chủ yếu ôn kinh tán hàn, kiêm khu phong trừ thấp.Trứ tý chủ yếu trừ thấp, kiêm khu phong tán hàn, phối hợp kiện tỳ. Nhiệt tý chủ yếu thanh nhiệt, kiêm khu phong trừ thấp. Nếu bệnh kéo dài, chính khí hao tổn, cần kết hợp bổ khí dưỡng huyết, bổ can thận, phù chính khu tà, điều trị cả gốc lẫn ngọn.
Các thuốc thành phẩm thường dùng trị viêm khớp do thấp và tác dụng
Thuốc Đông y thành phẩm (trung thành dược) có ưu điểm kinh tế, tiện lợi, dễ dùng lâu dài, rất phù hợp với bệnh nhân viêm khớp do thấp mạn tính. Với thể cấp tính, có thể phối hợp cùng Tây y cho hiệu quả đáng kể. Dưới đây là một số loại thường gặp:
1/ Sơ Phong Định Thống Hoàn (疏风定痛丸) Công năng: Ôn kinh tán hàn, sơ phong trừ thấp, thông lạc chỉ thống, đồng thời mạnh gân cốt.Chỉ định: Đau mỏi cơ khớp, đau tăng khi gặp lạnh, co duỗi khó khăn, chi thể nặng trệ, tê bì tứ chi, thắt lưng gối ê ẩm. Uống mỗi lần 1 hoàn, ngày 2 lần.
Các thuốc có công năng tương tự, chuyên trị phong hàn thấp tý, thiên về trừ phong hàn, gồm: Phong Thấp Cốt Thống Phiến, Cửu Vị Khương Hoạt Hoàn, Tán Phong Hoạt Lạc Hoàn, Tiểu Hoạt Lạc Hoàn, Khu Phong Thư Cân Hoàn, Hoán Cốt Đan, Hi thiêm hoàn… Có thể lựa chọn dùng trên lâm sàng.
2/ Hàn Thấp Tý Xung Tễ (寒湿痹冲剂) Công năng: Ôn dương tán hàn, thông lạc chỉ thống.
Chỉ định: Tứ chi lạnh đau nặng trệ, có thể sưng, gặp lạnh đau tăng, gặp ấm đau giảm, lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt/ trắng trơn, mạch Huyền Khẩn hoặc Trầm Trì. Liều dùng 10–20g mỗi lần, ngày 2–3 lần.
Các loại khác có tác dụng tương tự: Đại Hoạt Lạc Đan, Thư Cân Hoàn, Hoạt Lạc Đan…
3/Hàn Nhiệt Tý Xung Tễ (寒热痹冲剂) Công năng: Ôn kinh trừ thấp, sơ phong thanh nhiệt, lương huyết thông lạc. Chỉ định: Cơ nhục, khớp sưng đau, sờ vào có cảm giác nóng, nhưng người bệnh lại thích ấm, sợ lạnh; hoặc cơ khớp sưng đau, sờ không thấy nóng nhiều nhưng bệnh nhân lại cảm giác nóng bên trong. Liều 10–20g mỗi lần, ngày 2–3 lần.
4/ Thấp Nhiệt Tý Xung Tễ (湿热痹冲剂) Công năng: Sơ phong thanh nhiệt, lợi thấp thông lạc.Chỉ định: Cơ khớp ê ẩm đau, có vùng nóng đỏ, rất đau, chạm vào không chịu được, gặp mát thì dễ chịu hơn, kèm phát sốt, khát nước, bứt rứt khó chịu, lưỡi vàng nhớt/ vàng khô, mạch Hoạt Sác. Mỗi lần 10–20g, ngày 2–3 lần.
Các loại khác có thể dùng: Nhị Diệu Hoàn, Tam Diệu Hoàn, Tứ Diệu Hoàn, Đương Quy Niêm Thống Hoàn…
5/ Ứ Huyết Tý Xung Tễ (瘀 血痹冲剂)Công năng: Hoạt huyết hóa ứ, thông lạc chỉ thống.
Chỉ định: Cơ khớp đau dữ dội kiểu châm chích, hoặc đau kéo dài, vị trí đau cố định, ấn vào đau nhiều, có thể sưng cứng, hoặc có ban ứ, sắc mặt ám, da khô ráp, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ huyết, mạch Tế Sáp. Mỗi lần 10–20g, ngày 2–3 lần.
Các thành phẩm có công năng tương tự: Bách Bảo Đan, Điệt Đả Hoàn, Cốt Thích Hoàn, Thư Cân Hoạt Huyết Hoàn…
6/ Hàn Tý Xung Tễ (痹冲剂)
(Chữ “” trong nguyên văn mang ý bồi bổ, ôn thông – có tài liệu ghi là “huy tý”)
Công năng: Bổ can thận, cường gân cốt, khu phong trừ thấp, thông kinh hoạt lạc, trừ tý chỉ thống.
Chỉ định: Chứng tý lâu ngày không khỏi, cơ khớp sưng nhẹ, nặng trệ, tê bì, lưng gối mỏi yếu, sợ lạnh thích ấm, tay chân lạnh, lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch Hoạt Tế. Mỗi lần 1–2 gói, ngày 2–3 lần.
7/Khu Phong Chỉ Thống Phiến (祛风止痛片) Công năng: Khu phong chỉ thống, tán hàn trừ thấp, bổ ích can thận, mạnh gân xương.
Chỉ định: Khớp đau nặng trệ hoặc tê bì, đau tăng khi trời lạnh ẩm, kèm lưng gối mỏi yếu, chóng mặt, tai ù… Mỗi lần 6 viên, ngày 2 lần.
Các loại Kiện Bộ Hổ Tiềm Hoàn, Kim Cương Hoàn… cũng có tác dụng khu phong tán hàn, đồng thời bổ can thận, thích hợp trường hợp tý lâu ngày kèm can thận bất túc.
8/ Độc Hoạt Ký Sinh Hoàn (独活寄生丸)
Công năng: Khu phong trừ thấp tán hàn, bổ khí huyết, ích can thận.
Chỉ định: Lưng gối mỏi đau, khớp ê ẩm, co duỗi khó, sợ lạnh thích ấm, tay chân lạnh hoặc tê bì, lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch Tế Nhược. Mỗi lần 1 hoàn, ngày 2 lần, pha với nước ấm và chút rượu vàng (hoàng tửu) để uống lúc đói.
Ngoài ra, Thự Dự Hoàn, Nhân Sâm Tái Tạo Hoàn, Tái Tạo Hoàn, Hồi Thiên Tái Tạo Hoàn, Bổ Can Hoàn… cũng có công năng khu phong trừ thấp, bổ khí huyết, có thể tùy chứng mà chọn dùng.
Lưu ý: Khi áp dụng các thuốc thành phẩm trị viêm khớp do thấp, cũng cần chú trọng biện chứng, chọn đúng chỉ định. Nếu khớp đỏ sưng rõ, thì những chế phẩm có tính ôn nhiệt như Sơ Phong Định Thống Hoàn, Hàn Thấp Tý Xung Tễ, Khu Phong Chỉ Thống Phiến… cần tránh dùng.
Trong điều trị chứng tý, thường sử dụng các vị thuốc ôn kinh thông dương như chế Phụ tử, Ô đầu, Mã tiền tử… và phối hợp các dược liệu côn trùng (Địa long, Toàn yết, Ngô công, Xuyên sơn giáp, Bạch hoa xà, Phong phòng…) để thông lạc chỉ thống. Những vị này đa phần có tính cay nóng, công hiệu mạnh, kèm độc tính nhất định, nên phải dùng theo đúng hướng dẫn, phụ nữ có thai cần thận trọng hoặc kiêng dùng, trẻ em cần giảm liều hoặc tuân thủ ý kiến thầy thuốc.
Các bài thuốc đơn phương, nghiệm phương trị viêm khớp do thấp
(A) Chữa viêm khớp do thấp cấp tính:
(B) Chữa viêm khớp do thấp mạn tính:
Các phương pháp xông – ngâm rửa trị viêm khớp do thấp
Xông – ngâm rửa là cách dùng thuốc sắc khi còn nóng để xông hơi hoặc ngâm trực tiếp vùng đau, giúp dược chất thấm qua lỗ chân lông đến thẳng nơi bị bệnh, có công dụng khu phong tán hàn, thư cân hoạt lạc. Chủ yếu điều trị phong hàn thấp tý. Dưới đây là một số bài thuốc thường dùng:
①Hải đồng bì, Quế chi, Hải phong đằng, Lộ lộ thông, Khoan cân đằng, Lưỡng diện châm, mỗi thứ 30g. Sắc nước, mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 20 phút, dùng liên tục 1 tháng (theo “Thực dụng Trung y Nội khoa học”).
②Xuyên ô, Thảo ô, mỗi thứ 20g; Bạch chỉ 50g; Khương hoạt, Độc hoạt, mỗi thứ 50g; Tế tân 10g; Xuyên khung, Quế chi, mỗi thứ 30g; Uy linh tiên, Thân cân thảo, Thấu cốt thảo, mỗi thứ 60g. Sắc nước, mỗi ngày 2–3 lần, mỗi lần 15 phút, 5–10 ngày là 1 liệu trình (đơn của Bệnh viện trực thuộc Đại học Y Quý Châu).
③Ngải diệp, Hồng hoa, mỗi thứ 9g; Thấu cốt thảo 30g; Hoa tiêu (tiêu hạt) 6g; sắc nước. Mỗi ngày 1–2 lần.
④Thổ miết trùng 12g, Tô mộc 30g, Đại kích 6g, Tầm cốt phong 20g, sắc nước. Mỗi ngày 1–2 lần.
⑤Cành dâu, cành liễu, cành du, cành đào, mỗi thứ 70cm, nấu nước xông rửa vùng đau, mỗi ngày 2–3 lần.
⑥Thấu cốt thảo, Truy địa phong, Thiên niên kiện, mỗi thứ 30g, nấu nước xông rửa vùng đau, mỗi ngày 2 lần.
Các loại cao dán thường dùng trị viêm khớp do thấp
Bệnh viêm khớp do thấp tổn thương cơ, khớp, kinh mạch. Việc dán cao ngoài da giúp dược tính thẩm thấu qua bì mao, đi vào tấu lý (dưới da), thông kinh hoạt lạc, có mặt ưu việt hơn so với uống thuốc ở một số trường hợp. Dưới đây là một số loại thường dùng:
1/ Thương Thấp Chỉ Thống Cao (伤湿止痛膏 – cao dán cao su) Công năng: Khu phong tán hàn, trừ thấp thông lạc, hoạt huyết chỉ thống. Cách dùng: Rửa sạch, lau khô vùng da cần dán bằng nước ấm, dán cao lên, dùng lòng bàn tay miết nhẹ để cao dính chặt vào da. Chống chỉ định: Dị ứng với cao dán cao su, vùng da lở loét, chảy dịch, hoặc vết thương hở có mủ.
Các sản phẩm tương tự: Xạ hương hổ cốt cao, Thanh Hải xạ hương cao, Quan tiết chỉ thống cao…
2/Cẩu bì cao (狗皮膏) Công năng: Khu phong tán hàn trừ thấp, thư cân hoạt lạc chỉ thống.
Cách dùng: Hơ nóng làm mềm cao, dán lên chỗ đau.
Các sản phẩm tương tự: Vạn linh cân cốt cao, Truy phong cao, Lão quán thảo cao… cũng có thể sử dụng.
3/ Võ Lực Bạt Hàn Tán (武力拔寒散 – thuốc bột) Công năng: Khu phong trừ thấp, thông dương hoạt huyết, chỉ thống tiêu thũng. Cách dùng: Lấy lượng thuốc phù hợp, dùng lòng trắng trứng gà (hoặc sữa mẹ, thêm ít nước ấm) trộn thành hồ, phết lên giấy sáp, dán vào huyệt hoặc chỗ đau. Chú ý: Kiêng ăn đồ sống lạnh, thuốc không được uống trong. Vùng dán thuốc trong 10 ngày không được rửa nước. Không dán vào rốn và gan bàn chân. Trẻ em, người thể trạng yếu hoặc phù thũng không được dùng.
4/ Ngũ Hổ Tán (五虎散 – thuốc bột) Công năng: Tương tự Võ Lực Bạt Hàn Tán. Cách dùng: Dùng rượu trắng hòa tan, đắp ngoài chỗ đau. Ngoài dùng đắp, có thể uống trong: mỗi lần 6g, chiêu với rượu vàng ấm hoặc nước sôi ấm.
Phương pháp đắp thuốc (ngoại phu) điều trị viêm khớp do thấp
Phương pháp này là đặt thuốc lên vùng bị bệnh hoặc lên huyệt đạo. Có tác dụng thúc đẩy tuần hoàn máu tại chỗ, tán hàn trừ thấp, tiêu sưng giảm đau.
Các phương pháp (6) đến (10) trên đây đều thích hợp cho trường hợp khớp viêm, sưng đỏ, nóng, đau dữ dội, gặp lạnh thì dễ chịu, co duỗi khó. Tác dụng chủ yếu là thanh nhiệt, tiêu sưng và giảm đau.
Châm cứu có thể chữa viêm khớp do thấp không?
Châm cứu có tác dụng nhất định trong điều trị viêm khớp do thấp. Khi điều trị, cần chọn huyệt dựa vào vị trí đau: Đau khớp vai: Châm Kiên Tiền (chỗ trước vai), Tam giác cơ (vùng cơ Delta). Đau khớp khuỷu: Khúc trì, Xích trạch, Thủ tam lý. Đau khớp cổ tay: Dương trì, Ngoại quan, Hợp cốc. Đau khớp háng: Trĩ biên, Hoàn khiêu, Ấn môn. Đau khớp gối: Dương lăng tuyền, Độc tỵ, Phục thố, Túc tam lý. Đau khớp cổ chân: Khâu khư, Côn lôn, Giải khê, Thái khê, Thừa sơn.
Về thủ pháp châm cứu: Giai đoạn cấp tính: Dùng phép tả, châm mạnh; có thể dùng Tam lăng châm chích nặn máu tại chỗ (khoảng 0,5–1,0ml máu). Giai đoạn mạn tính: Dùng phép bổ tả đều (bình bổ bình tả), kích thích vừa, có thể thêm ôn châm hoặc cứu. Ngoài ra, có thể áp dụng điện châm để tăng cường kích thích và hiệu quả điều trị.
Các liệu pháp châm cứu mới thường dùng trong điều trị viêm khớp do thấp
Liệu pháp 1
1/ Chọn huyệt: Ngoại quan, Khúc trì, Thủ tam lý, Túc tam lý, Ngoại tất nhãn, Dương lăng tuyền, Huyết hải, Phong thị, Hoàn khiêu, Điều khẩu, Tuyệt cốt, Côn lôn, Thận du, Mệnh môn, Chí âm, A thị huyệt (nơi đau).
2/Thuốc và phương pháp: Dùng tiêm phức phương Mã tiền tử. Mỗi lần chọn 2–3 huyệt ở vị trí có bệnh, mỗi huyệt bơm 0,5–1ml, tiêm 1 lần/ngày, 7 lần là 1 liệu trình. Giữa các liệu trình nghỉ 4–7 ngày.
Liệu pháp 2
1/ Chọn huyệt: Trị khớp chi trên: Lấy Ngoại quan làm huyệt chính, phối hợp Khúc trì, Hợp cốc. Trị khớp chi dưới: Lấy Dương lăng tuyền làm huyệt chính, phối hợp Tuyệt cốt, Giải khê.
Trị đau thắt lưng, lưng: Lấy Đại chù làm huyệt chính, phối hợp Đại chùy, Thân trụ, Chí dương, Dương quan, Mệnh môn.
2/ Thuốc và phương pháp: Dùng tiêm Phụng tiên thấu cốt thảo, Cốt toái bổ (dạng thuốc tiêm). Mỗi lần chọn 3–6 huyệt, mỗi huyệt tiêm 0,5–0,8ml. Mỗi đợt 10 lần, cách ngày tiêm 1 lần, sau 3 đợt nghỉ 2–4 tuần.
Liệu pháp 3
1/ Chọn huyệt, chia thành 3 nhóm: (1) Tất nhãn, Hạc đỉnh, Dương quan, Khúc tuyền, Ủy trung. (2) Lương khâu, Huyết hải, Âm lăng tuyền, Dương lăng tuyền. (3) Túc tam lý, Tam âm giao, Côn lôn, Chiếu hải.
2/ Phương pháp: Mỗi lần chọn 1–3 huyệt trong mỗi nhóm, luân phiên cách ngày. Dùng kim châm cỡ 28, dài 5–6 tấc, kèm máy điện châm. Thủ pháp xoay kim (捻转) theo phép tả, châm mạnh, lưu kim 20–30 phút. Cứ 5–10 phút thì vận kim một lần. Điện châm dùng sóng gián đoạn nhanh chậm (疏密波) chừng 20–30 phút, cường độ kích thích tùy sức chịu đựng. 10 lần là 1 liệu trình.
Phương pháp xoa bóp (massage) điều trị viêm khớp do thấp
Phác đồ (1)
1/ Chọn huyệt: Khớp ngón tay, lòng bàn tay: Hợp cốc, Hậu khê, Nhị gian, Trung chử, Lao cung, Tứ phùng…Khớp cổ tay: Khúc trì, Thiên tĩnh, Tiểu hải, Thủ tam lý…Khớp vai: Kiên chinh, Thiên tông, Kiên tỉnh, Tý nhu…Khớp cổ chân: Côn lôn, Khâu khư, Huyền chung, Giải khê, Thương khâu, Thái khê, Thân mạch…Khớp gối: Tất nhãn, Dương lăng tuyền, Âm lăng tuyền, Ủy trung, Lương khâu, Phong long, Túc tam lý…Khớp háng: Hoàn khiêu, Trĩ biên, Tý quan, Thừa phù…Khớp hàm dưới: Hạ quan, Hợp cốc, Ế phong, Giáp xa, Nội đình…Khớp đốt sống: Các huyệt Đốc mạch và kinh Bàng quang tương ứng vùng bị bệnh.
2/ Thao tác
①Chi trên:
a. Bệnh nhân nằm ngửa hoặc ngồi, trước tiên dùng phép đẩy (推法) và phép “nhất chỉ thiền” (một ngón tay day ấn), tiếp đến dùng phép rolling (滚法), xoa bóp (揉法) dọc theo ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, chú ý nhiều hơn ở các khớp bị tổn thương.
b. Véo (捻) các khớp ngón tay, ấn-bóp (按掐) Tứ phùng, Lao cung; bấm (点) Dương khê, Đại lăng, Khúc trạch; bóp (拿) Hợp cốc, Khúc trì, Kiên tỉnh.
c. Gấp duỗi, xoay, xoa xát, kéo giãn (拔伸) các khớp bị đau.
d. Xoa nóng vùng khớp, rồi vỗ nhẹ (拍打) cho hơi nóng thấm sâu vào khớp.
②Chi dưới:
a. Bệnh nhân nằm, dùng đẩy pháp và “nhất chỉ thiền” dọc theo kinh Bàng quang ở chân, phối hợp rolling, xoa bóp…
b. Bóp (拿) Thái khê, Côn lôn, Ủy trung; ấn-bấm (点) Thừa phù, Hoàn khiêu, Trĩ biên; xoa nóng chỗ đau, rồi vỗ nhẹ cho hơi nóng thấm sâu vào khớp.
③Khớp hàm dưới: Nếu khớp này bị tổn thương, có thể đẩy Hạ quan, Giáp xa; ấn Thái dương, Ế phong, Ngoại quan; bóp Hợp cốc, Nội đình.
Tiến hành xoa bóp cách ngày 1 lần, 30 lần là 1 liệu trình. Trong thời gian nghỉ giữa liệu trình, khuyến khích bệnh nhân tập vận động chức năng khớp. Sau 1 tháng, có thể tiếp tục liệu trình kế tiếp.
Phác đồ (2)
1/ Đau ở tứ chi:
①Chọn huyệt: Tập trung vào khớp bị tổn thương. Hay dùng Bát tà, Dương khê, Dương trì, Dương cốc, Nội quan, Ngoại quan, Hậu khê, Tiểu hải, Thiên tĩnh, Khúc trì, Khúc trạch, Kiên chinh, Thiên tông, Bát phong, Thương khâu, Giải khê, Khâu khư, Chiếu hải, Côn lôn, Thái khê, Thân mạch, Phi dương, Thừa sơn, Huyền chung, Âm lăng tuyền, Dương lăng tuyền, Tất nhãn, Hạc đỉnh, Huyết hải, Lương khâu, Trĩ biên, Hoàn khiêu, Thừa phù…
②Thao tác:
a. Bệnh nhân ngồi, người điều trị dùng rolling (滚法) dọc cánh tay trong-ngoài, đi lên đi xuống 3–4 lần, từ vai đến cổ tay. b. Tiếp tục, người điều trị dùng nắm-bóp (拿法) theo đường kinh mạch cánh tay, chú trọng thêm ấn-bóp (按揉) vào các huyệt Khúc trì, Khúc trạch, Thủ tam lý, Hợp cốc… rồi véo-nắn (捻) các khớp ngón tay. Ở các khớp bị bệnh, ấn mạnh vào những huyệt cục bộ (A thị huyệt). Cuối cùng xoa bóp nhẹ toàn chi bị bệnh, kèm vận động thụ động khớp để kết thúc phần điều trị chi trên. Thời gian khoảng 10 phút. c. Bệnh nhân nằm ngửa, người điều trị một tay giữ trên khớp cổ chân, tay kia thực hiện rolling từ đùi trước – trong – ngoài đến cẳng chân, kết hợp gấp duỗi thụ động chi dưới. Tiếp đó, rolling tập trung ở khớp cổ chân, kèm xoay lật trong-ngoài khớp. Rồi ấn-bóp từ khớp háng, gối, cổ chân, chú ý vào các huyệt Phục thố, Lương khâu, Khâu khư, Bát phong… Thời gian 10 phút. d. Bệnh nhân nằm sấp, người điều trị rolling từ mông đến mặt sau đùi-cẳng chân, tập trung hơn vào khớp háng, gối, rồi ấn-bóp (按揉) Hoàn khiêu, Trĩ biên, Thừa phù, Thừa sơn, Ủy trung, Phi dương, Huyền chung, Thái khê, Thân mạch, Côn lôn… Thời gian 5 phút.
2/ Đau ở cột sống:
①Chọn huyệt: Tập trung vùng cơ cạnh cột sống, thường dùng Giáp tích, Đại chù, Phong môn, Phế du, Tâm du, Cách du, Can du, Tỳ du, Thận du, Mệnh môn, Chí thất, Yêu dương quan…
②Thao tác: a. Bệnh nhân nằm sấp, người điều trị dùng rolling dọc cột sống và hai bên, phối hợp nhấc-chân-bị-đau về sau, khoảng 5 phút. b. Bệnh nhân ngồi, người điều trị đứng sau, rolling và nắm-bóp hai bên cổ gáy, vai, kết hợp quay đầu sang trái, sang phải, cúi xuống… sau đó bóp (拿) huyệt Kiên tỉnh, khoảng 2 phút. c. Tiếp đó, người điều trị dùng phương pháp ấn-bóp (按揉) từ cổ xuống thắt lưng-mông, tác động lên các huyệt vừa nêu, đầu tiên chọn Giáp tích, rồi các huyệt còn lại. Sau cùng, dùng phép bình xoa dọc cột sống cho tới khi vùng lưng nóng ấm. Kết thúc bằng cách ấn Kiên tỉnh. Thời gian khoảng 10 phút.
Mỗi ngày xoa bóp 1 lần, liên tục 10 ngày là 1 liệu trình, nghỉ 3–6 ngày rồi tiếp tục.
Rượu thuốc có thể chữa viêm khớp do thấp không?
Rượu có tính cay ấm, đi khắp cơ thể, có tác dụng khu phong tán hàn, thư cân hoạt huyết. Dùng rượu để ngâm những vị thuốc trị phong hàn thấp tý có hiệu quả, giúp dược lực lan tỏa đến khắp tứ chi, thúc đẩy khí huyết lưu thông, trừ phong thấp, làm gân xương khỏe, hỗ trợ khỏi bệnh tý. Uống lâu dài có hiệu quả đáng kể với viêm khớp do thấp mạn tính.
Thường dùng các loại như: Hổ cốt tửu, Sử Quốc Công dược tửu (trị phong thấp tý thống kèm can thận hư). Phùng Liễu Tính dược tửu (trị thể hàn thấp nặng). Tam xà dược tửu (trị phong tý, tê bì da thịt). Đinh công đằng phong thấp dược tửu (trị tý thống do ứ huyết). Ngũ gia bì tửu (trị tý chứng kèm khí trung tiêu bất túc)… Ngoài ra còn có Hổ cốt mộc qua tửu, Hổ cốt truy phong tửu, Báo cốt mộc qua tửu, Sâm nhung hổ cốt tửu, Kỳ xà dược tửu… hoặc tự mình dùng Uy linh tiên, Ngưu tất, Đỗ trọng, Mộc qua, Tang chi, Đảng sâm, Hoàng kỳ, Đương quy, Bạch thược… (1–3 vị) ngâm cùng rượu để thành dược tửu. Thông thường mỗi lần uống 10–15ml, ngày 2 lần.
Khi dùng rượu thuốc, cần lưu ý: Người âm hư nội nhiệt, hoặc đang mắc ngoại cảm phong nhiệt, hoặc phong thấp nhiệt tý, cũng như bệnh nhân cao huyết áp, phụ nữ mang thai… đều cấm dùng. Không pha trộn thêm rượu khác, không uống kèm hoa quả, rau sống.
Ngoài việc uống, Sử Quốc Công dược tửu, Hổ cốt tửu, Mộc qua tửu… cũng có thể xoa ngoài vùng đau, phối hợp ấn huyệt hoặc dùng gậy gỗ nhỏ gõ nhẹ, cũng có hiệu quả nhất định.
Những rượu thuốc thường dùng trị viêm khớp do thấp
1/Tam Xà Tửu
Thành phần: 1500g Ô xà (rắn hổ mang, hoặc rắn đen), 200g Bạch hoa xà (rắn hoa), 100g Phúc xà (rắn lục), 500g Sinh địa, 5000g đường phèn, 100kg rượu trắng.
Cắt bỏ đầu 3 loại rắn, rửa bằng rượu cho sạch, cắt đoạn ngắn và phơi khô; đường phèn đun chảy; cho rượu vào hũ, bỏ rắn và Sinh địa vào, đậy kín. Mỗi ngày khuấy 1 lần, 10–15 ngày sau mở ra lọc lấy rượu, thêm đường phèn, được thành phẩm.
Công hiệu: Trừ phong khử thấp, ôn kinh tán hàn, thông lạc giảm đau.
Chủ trị: Phong hàn thấp tý.
Cách dùng: Mỗi lần 5ml, ngày 3 lần.
2/ Phùng Liễu Tính dược tửu
Thành phần: Khương hoạt, Uy linh tiên, Ngũ gia bì, Đinh công đằng, Quế chi, Độc hoạt, Thanh hao tử, Ma hoàng, Bạch chỉ, Tiểu hồi hương, Đương quy, Xuyên khung, Chi tử, Phòng kỷ, rượu trắng (liều lượng tùy công thức).
Công hiệu: Khu phong tán hàn, hoạt huyết thông lạc.
Chủ trị: Thích hợp với chứng tý do phong thấp bế trở.
Cách dùng: Mỗi lần 10ml, ngày 1 lần.
3/ Trừ Thấp Tửu (除湿酒)
Thành phần: Hổ cốt (có thể dùng Báo cốt thay thế), Phòng kỷ, Vân linh (Phục linh), Đỗ trọng, Tùng tiết, Tần giao, Cẩu tích, rễ Cà dược (Cà tím), mỗi vị 12g Tục đoạn, Thân cân thảo (Thân kinh thảo) mỗi vị 9g Độc hoạt, Tàm thỉ (phân tằm) mỗi vị 6g Mộc qua, Câu kỷ tử, Thương nhĩ tử, Hy thiêm thảo (Xixiancao) mỗi vị 12g Tang chi 15g, Ngưu tất 12g
Ngâm các vị thuốc trên trong 2500g rượu (lương tửu). Sau 5 ngày là dùng được.
Công hiệu: Trừ phong tán hàn, khu trừ thấp, thông kinh lạc.
Chủ trị: Thể phong hàn thấp tý.
Cách dùng: Uống mỗi lần 10ml, ngày 1 lần.
4/ Hổ cốt mộc qua tửu (虎骨木瓜酒)
Thành phần: Chế Hổ cốt (hoặc Báo cốt thay thế), Đương quy, Xuyên khung, Tục đoạn, Ngũ gia bì, Xuyên ngưu tất, Thiên ma, Hồng hoa, rễ Bạch cà mỗi thứ 50g Tang chi 200g Tần giao, Phòng phong mỗi thứ 25g Mộc qua 150g
Tán dược liệu thành thô mạt, gói trong túi vải mỏng, ngâm vào 10kg rượu cao lương ngon, sau 7 ngày lọc bỏ bã, để lắng trong rồi thêm 1kg đường phèn.
Công hiệu: Tán hàn trừ phong, khử thấp thông lạc, hoạt ứ chỉ thống.
Chủ trị: Phong hàn thấp tý.
Cách dùng: Uống tùy lượng (uống ít, chia lần, không quá lạm dụng).
5/ Mộc qua ngưu tất tửu (木瓜牛膝酒)
Thành phần: Mộc qua 120g, Ngưu tất 60g, Tang ký sinh 60g, ngâm với 500ml rượu đại khúc trong 7 ngày.
Công hiệu: Hoạt huyết hóa ứ, thông kinh lạc, giảm đau.
Chủ trị: Viêm khớp do thấp thể ứ huyết bế trở.
Cách dùng: Mỗi lần 10ml, ngày 2 lần.
Các liệu pháp vật lý trị liệu trong điều trị viêm khớp do thấp
Các phương pháp vật lý trị liệu giúp thúc đẩy khí huyết lưu thông, thư cân thông lạc, giảm đau. Thường dùng:
1/ Dẫn nhập ion (iontophoresis) Dược liệu: Can khương, Quế chi, Xích thược, Đương quy, mỗi thứ 2g; Khương hoạt, Cát căn, Xuyên khung, Hải đồng bì, Khương hoàng, Nhũ hương, mỗi thứ 1g. Gói tất cả vào túi vải cỡ 25×15cm, khâu kín, đặt vào nồi hấp cách thủy hoặc nồi đun đến khi hơi nước xuyên thấm túi. Lấy ra, để nguội bớt xuống khoảng 40–42℃ rồi đắp nóng lên chỗ đau, đồng thời dùng dòng điện một chiều (DC) hỗ trợ dẫn nhập dược chất qua da.
2/ Chiếu tia hồng ngoại: Chiếu lên vùng khớp sưng đau, mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 15–20 phút.
3/ Liệu pháp sáp (wax therapy): Làm nóng và làm mềm túi sáp, đặt lên vị trí đau, mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 15–20 phút.
4/ Massage (xoa bóp): Đầu tiên dùng các thủ pháp nhẹ nhàng như đẩy, vuốt, xoa để thư giãn cơ, cho khí huyết lưu thông;Tiếp theo dùng điểm, ấn, bóp… để thư cân hoạt lạc, giảm đau; Cuối cùng dùng lắc, rolling, xoa nhào nhẹ để kết thúc, thời gian 30–50 phút, mỗi 2–3 ngày làm 1 lần.
Các phương pháp trên có thể tiến hành đơn lẻ hoặc phối hợp, ví dụ: xông ngâm thuốc xong thì xoa bóp, hoặc kết hợp với chiếu đèn, rồi dán thuốc ngoài… Trong quá trình điều trị, cần lưu ý:
Thận trọng với liệu pháp nhiệt (ngâm rửa bằng nước nóng, sáp nóng) để tránh bỏng da.
Nhiều loại thuốc đắp ngoài có tính kích ứng da mạnh, cần thay mỗi ngày hoặc thay kịp thời, không đắp quá lâu.
Khi massage, tránh dùng lực quá mạnh, đột ngột, tránh nguy cơ gãy xương…
Các món ăn – bài thuốc thường dùng trong viêm khớp do thấp
Kết hợp liệu pháp ăn uống với dùng thuốc góp phần cải thiện hiệu quả điều trị. Dưới đây là một số món ăn – bài thuốc thông dụng:
1/Gà rang gừng (Sinh khương kê): Dùng gà trống vừa cất tiếng gáy (gà tơ) 1 con, sinh khương (gừng tươi) 100–250g, thái miếng, bỏ vào chảo xào, rim chín nhừ, không thêm dầu muối. Có thể thêm chút rượu nếu thích. Ăn hết trong 1 ngày. Mỗi tuần hoặc nửa tháng ăn 1 lần. Thích hợp cho người khớp đau do lạnh, sợ lạnh, thích ấm.
2/ Gà nấu lộc nhung (Lộc nhung kê): Dùng gà trống mới, 1 con, thêm 3–6g lộc nhung, hầm nhừ, không nêm muối dầu. Ăn thịt, uống canh trong 2 ngày. Mỗi tuần hoặc nửa tháng 1 lần, tùy tình trạng. Món này không dùng cho mùa nóng hay khi khớp sưng đỏ đau.
3/Cháo đậu đỏ (Xích tiểu đậu cháo): Xích tiểu đậu 30g, gạo trắng 15g, thêm đường tùy khẩu vị. Trước hết nấu chín đậu, sau đó thêm gạo ninh cháo, bỏ đường. Có tác dụng trừ thấp nhiệt.
4/ Cháo ý dĩ (Ý mễ cháo) Dùng 30g ý dĩ, thêm chút bột (hoặc bột sắn), đường, quế hoa… Nấu nhừ ý dĩ, rồi hòa bột và đường, quế hoa. Dùng ăn sáng, giúp thanh lợi thấp nhiệt, kiện tỳ trừ tý.
5/ Cháo Phòng phong – Ý dĩ (Phòng phong ý mễ cháo): Phòng phong 10g, ý dĩ 30g. Nấu cháo, mỗi ngày 1 lần, liên tục 1 tuần, có tác dụng thanh nhiệt, trừ tý.
6/ Canh mộc qua (Mộc qua thang): Lấy 4 quả mộc qua, hấp chín, bỏ vỏ, tán nhuyễn, thêm 1kg mật ong đã chế sạch (luyện), quấy đều, đựng vào lọ sứ sạch. Mỗi sáng hòa 1–2 thìa với nước sôi để uống. Có công năng thông tý giảm đau.
7/ Cháo hành (Thông bạch cháo): Nấu cháo gạo trắng, gần chín thì thêm hành trắng (đoạn thân màu trắng). Ăn nóng, đắp chăn để ra mồ hôi nhẹ, công năng giải biểu tán hàn.
8/ Cháo gừng (Sinh khương cháo): Gạo tẻ 50g, 5 lát gừng tươi, một ít hành (cả rễ), thêm giấm. Gừng giã nát nấu chung với gạo, khi gần chín thêm hành, giấm. Ăn nóng, đắp chăn ra mồ hôi, giúp giải biểu tán hàn.
9/ Cháo xuyên ô (Xuyên ô cháo): Dùng 3–5g sinh xuyên ô (ô đầu), tán mịn; 30g gạo tẻ, 10 giọt nước gừng, thêm ít mật ong. Nấu cháo gạo, khi sôi thì cho bột ô đầu, chuyển lửa nhỏ đun kỹ, gần chín thêm nước gừng và mật ong, sôi thêm 1–2 lần là được. Ăn ấm.
Lưu ý: Không dùng khi khớp đang sưng nóng đỏ (thể nhiệt), lúc đang sốt, hoặc cho phụ nữ mang thai. Bài cháo kỵ dùng chung các vị Bán hạ, Qua lâu, Bối mẫu, Bạch cập, Bạch liễm. Giúp trừ hàn giảm đau.
10/ Gà hầm cành dâu (Lão tang chi phao kê): Lão tang chi 60g, gà mái khoảng 500g, thêm nước vừa đủ nấu súp, nêm chút muối. Uống nước hầm, ăn thịt, có tác dụng ôn kinh tán hàn, thanh nhiệt trừ thấp.
11/ Canh móng giò hầm Thân cân (Trư cước Thân cân thang): Ý dĩ, Mộc qua, Thân cân thảo (Thân kinh thảo), Thiên niên kiện, mỗi vị 60g, gói trong túi vải, cho chung với 1–2 cái móng giò (chân giò) lợn, hầm nhừ lửa nhỏ, bỏ bã, không nêm muối. Uống nước, ăn thịt, chia 2 bữa. Giúp khu phong trừ thấp, bổ can thận.
Các vị thuốc thường dùng chữa viêm khớp do thấp
Tùy công dụng chính, có thể chia nhóm như sau:
Các bài thuốc cổ và bài thuốc kinh nghiệm thường dùng
1/ Cổ phương
①Sài cát giải cơ thang (Trích từ “Thương hàn lục thư”): Sài hồ, Cát căn, Cam thảo, Hoàng cầm, Khương hoạt, Bạch chỉ, Bạch thược, Cát cánh, Thạch cao. Dùng cho viêm khớp do thấp biểu hiện ác hàn phát sốt, khớp đau, cơ bắp ê ẩm, Đông y biện chứng là phong nhiệt tại biểu.
②Khương hoạt thắng thấp thang (Trích “Nội ngoại thương biện hoặc luận”): Khương hoạt, Độc hoạt, Cảo bản, Phòng phong, Xuyên khung, Cam thảo chế, Mạn kinh tử. Dùng cho viêm khớp do thấp biểu hiện đau đầu nặng đầu, lưng gối nặng đau, sợ lạnh sốt nhẹ, thuộc phong thấp tại biểu.
③Tam tý thang (Trích “Phụ nhân lương phương”): Độc hoạt, Tần giao, Phòng phong, Tế tân, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Can địa hoàng, Đỗ trọng, Ngưu tất, Đảng sâm, Phục linh, Cam thảo, Nhục quế tâm, Hoàng kỳ, Tục đoạn, Sinh khương. Dùng cho viêm khớp do thấp kéo dài, lưng gối lạnh đau, co cứng tay chân, Đông y biện luận là phong hàn thấp tý, kèm can thận lưỡng hư, khí huyết bất túc.
④Quyên tý thang (Trích “Bách nhất tuyển phương”): Khương hoạt, Khương hoàng, Đương quy (tẩm rượu), Hoàng kỳ (chế mật), Xích thược, Phòng phong, Cam thảo chế, Sinh khương. Dùng cho khớp đau kiểu du hành, nhất là vùng cổ gáy, vai, khuỷu… thuộc phong tý.
⑤Tuyên tý thang (Trích “Ôn bệnh điều biện”): Phòng kỷ, Hạnh nhân, Liên kiều, Hoạt thạch, Ý dĩ nhân, Bán hạ, Tàm sa, Xích tiểu đậu bì, Chi tử. Dùng cho viêm khớp do thấp, xương khớp đau nhức, vận động khó, kèm hàn chấn nhiệt thịnh, thuộc thấp nhiệt tý.
⑥Gia giảm Mộc phòng kỷ thang (Trích “Ôn bệnh điều biện”): Mộc phòng kỷ, Thạch cao, Quế chi, Ý dĩ nhân, Hoạt thạch, Thông thảo, Hạnh nhân. Dùng cho viêm khớp do thấp ở giai đoạn cấp, khớp sưng nóng đỏ đau.
⑦Ô đầu thang (Trích “Kim quỹ yếu lược”): Ô đầu, Ma hoàng, Hoàng kỳ, Bạch thược, Cam thảo, Mật ong. Dùng cho khớp đau dữ dội, sợ lạnh, thích ấm.
⑧Quế chi – Bạch thược – Tri mẫu thang (Trích “Kim quỹ yếu lược”): Quế chi, Bạch thược, Cam thảo chế, Ma hoàng, Bạch truật, Tri mẫu, Phòng phong, Pháo phụ tử, Sinh khương. Thích hợp khi khớp lạnh đau, ấn vào thấy âm ấm bên trong, hoặc khớp sưng đỏ nhưng sờ không nóng, gặp lạnh đau tăng.
⑨Đào hồng ẩm (Trích “Loại chứng trị tài”): Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên khung, Quy vĩ, Uy linh tiên. Dùng khi khớp đau cố định, sưng lâu tan, vận động khó.
10 Thân thống trục ứ thang (Trích “Y lâm cải thác”): Tần giao, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Cam thảo, Khương hoạt, Một dược, Hương phụ, Ngũ linh chi, Ngưu tất, Địa long, Đương quy. Dùng cho viêm khớp do thấp, đau cố định kiểu kim châm, da thịt ám tím, lưỡi tía, mạch sáp.
2/ Kinh nghiệm phương
①Kinh nghiệm của Trương Văn Chi: Dùng Song hoa, Bồ công anh, Sinh thạch cao, Long đởm thảo, Thổ phục linh, Hổ trượng, Sinh địa, Mộc thông, Xích thược, Đào nhân, Thiền y (xác ve), Chích Thủy điệt, Ô mai, Cam thảo, cộng thêm cành dâu non hoặc lô căn tươi nấu nước uống thay trà. Thích hợp cho viêm khớp do thấp cấp, khớp đỏ sưng đau, ác hàn phát sốt, có nốt đỏ hoặc hạt dưới da. Khi sốt cao đã lui, khớp đỏ sưng giảm bớt, nhưng vẫn còn sốt nhẹ, khát, đau khớp… thì đổi sang hoàng bá, hoàng tinh, quy giáp… (theo tình trạng). Thời kỳ hồi phục thì sử dụng Hoàng kỳ, Hoàng tinh, Kê huyết đằng, Đan sâm, Thanh hao, Thiên niên kiện…
②Kinh nghiệm của Lôi Tại Bưu: Phòng phong, Quế chi, Bạch thược, Đương quy, Khương hoạt, Độc hoạt, Bạch truật, Ý dĩ, Tế tân, Hoàng kỳ. Dùng cho thể mạn tính, phong hàn thấp tý.
③Kinh nghiệm của Diêu Khánh Vân: Quế chi, Kê huyết đằng, chế Xuyên ô – Thảo ô, Bạch thược, Đương quy, Hoàng kỳ, Phòng phong, Cam thảo chế. Tùy tình trạng phong – hàn – thấp thiên về đâu, hoặc vị trí khớp đau, mà gia giảm.
④Kinh nghiệm của Chu Tư Thuần (“Tý thống linh”): Ý dĩ nhân, Ngưu tất, Thương truật, Mộc qua, Hương phụ, Phòng kỷ, Đương quy, Nhũ hương, Một dược, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long, Quế chi, Tô ngạnh, Ô dược, Tần giao, Xuyên khung, Cam thảo. Sắc uống, chiêu cùng rượu. Trị viêm khớp do thấp đau nhức kéo dài.
Bệnh nhân viêm khớp do thấp nên điều chỉnh sinh hoạt hằng ngày thế nào?
Để thúc đẩy hồi phục, bệnh nhân viêm khớp do thấp cần lưu ý:
1/ Môi trường sống: Nhà ở phải thông thoáng, có ánh nắng, không khí trong lành. Chăn đệm phải khô ráo, ấm, nhẹ. Giường nằm bằng phẳng, không nằm nơi gió lùa.
2/ Vệ sinh cá nhân: Nên dùng nước ấm để rửa, tắm. Buổi tối ngâm chân nước ấm cao trên mắt cá, khoảng 15 phút để tăng tuần hoàn chi dưới.
3/ Giữ ấm và tránh ẩm: Người ra nhiều mồ hôi cần lau khô kịp thời, quần áo ướt mồ hôi phải thay ngay, tránh bị gió lùa. Chú ý khi thời tiết thay đổi, trời rét đột ngột cần mặc ấm. Phòng cảm lạnh.
4/ Chú ý biến hóa của khí hậu, khi trời trở lạnh, kịp thời tăng y phục, chú ý giữ ấm, đề phòng cảm mạo.
5/ Tâm lý: Giữ tinh thần thoải mái, thái độ đúng đắn, không nên lo lắng, nóng nảy quá mức, cũng không nên thờ ơ, buông xuôi. Biết tự điều tiết, vững tinh thần, vui vẻ, lạc quan, kết hợp học tập và làm việc phù hợp sức khỏe.
6/ Tập luyện: Kiên trì tập thể dục, nâng cao thể chất, tăng sức đề kháng.
Lưu ý về ăn uống cho bệnh nhân viêm khớp do thấp
Bệnh nhân viêm khớp do thấp nên ăn nhiều chất đạm, nhiều nhiệt lượng nhưng dễ tiêu, ít ăn cay nóng và thực phẩm sống lạnh, dầu mỡ, ẩm thực nên chú ý các điểm dưới đây:
Ly Nguyễn Nghị