Bàn lớn về điều cốt yếu của chí chân: lục khí, tư thiên, tại tuyền, thắng phục, tiêu bản và phép trị thuận nghịch
Đoạn 1
Nguyên văn
黄帝问曰:五气交合,盈虚更作,余知之矣。六气分治,司天地者,其至何如。歧伯再拜对曰:明乎哉问也。天地之大纪,人神之通应也。帝曰:愿闻上合昭昭,下合冥冥,柰何。歧伯曰:此道之所主,工之所疑也。帝曰:愿闻其道也。歧伯曰:厥阴司天,其化以风,少阴司天,其化以热,太阴司天,其化以湿,少阳司天,其化以火,阳明司天,其化以燥,太阳司天,其化以寒,以所临藏位,命其病者也。帝曰:地化柰何。歧伯曰:司天同候,间气皆然。帝曰:间气何谓。歧伯曰:司左右者,是谓间气也。帝曰:何以异之。歧伯曰:主岁者纪岁,间气者纪步也。帝曰:善。岁主奈何。歧伯曰:厥阴司天为风化,在泉为酸化,司气为苍化,闲气为动化。少阴司天为热化,在泉为苦化,不司气化,居气为灼化。太阴司天为湿化,在泉为甘化,司气为黅化,闲气为柔化。少阳司天为火化,在泉为苦化,司气为丹化,间气为明化。阳明司天为燥化,在泉为辛化,司气为素化,间气为清化。太阳司天为寒化,在泉为咸化,司气为玄化,间气为藏化。故治病者,必明六化分治,五味五色所生,五藏所宜,乃可以言盈虚病生之绪也。
Hán Việt
Hoàng Đế vấn viết: Ngũ khí giao hợp, doanh hư cánh tác, dư tri chi hĩ. Lục khí phân trị, tư thiên địa giả, kỳ chí hà như?
Kỳ Bá tái bái đối viết: Minh hồ tai vấn dã! Thiên địa chi đại kỷ, nhân thần chi thông ứng dã.
Đế viết: Nguyện văn thượng hợp chiêu chiêu, hạ hợp minh minh, nại hà?
Kỳ Bá viết: Thử đạo chi sở chủ, công chi sở nghi dã.
Đế viết: Nguyện văn kỳ đạo dã.
Kỳ Bá viết: Quyết âm tư thiên, kỳ hóa dĩ phong; Thiếu âm tư thiên, kỳ hóa dĩ nhiệt; Thái âm tư thiên, kỳ hóa dĩ thấp; Thiếu dương tư thiên, kỳ hóa dĩ hỏa; Dương minh tư thiên, kỳ hóa dĩ táo; Thái dương tư thiên, kỳ hóa dĩ hàn. Dĩ sở lâm tạng vị, mệnh kỳ bệnh giả dã.
Đế viết: Địa hóa nại hà?
Kỳ Bá viết: Tư thiên đồng hậu, gian khí giai nhiên.
Đế viết: Gian khí hà vị?
Kỳ Bá viết: Tư tả hữu giả, thị vị gian khí dã.
Đế viết: Hà dĩ dị chi?
Kỳ Bá viết: Chủ tuế giả kỷ tuế, gian khí giả kỷ bộ dã.
Đế viết: Thiện. Tuế chủ nại hà?
Kỳ Bá viết: Quyết âm tư thiên vi phong hóa, tại tuyền vi toan hóa, tư khí vi thương hóa, gian khí vi động hóa. Thiếu âm tư thiên vi nhiệt hóa, tại tuyền vi khổ hóa, bất tư khí hóa, cư khí vi chước hóa. Thái âm tư thiên vi thấp hóa, tại tuyền vi cam hóa, tư khí vi câm hóa, gian khí vi nhu hóa. Thiếu dương tư thiên vi hỏa hóa, tại tuyền vi khổ hóa, tư khí vi đan hóa, gian khí vi minh hóa. Dương minh tư thiên vi táo hóa, tại tuyền vi tân hóa, tư khí vi tố hóa, gian khí vi thanh hóa. Thái dương tư thiên vi hàn hóa, tại tuyền vi hàm hóa, tư khí vi huyền hóa, gian khí vi tàng hóa.
Cố trị bệnh giả, tất minh lục hóa phân trị, ngũ vị ngũ sắc sở sinh, ngũ tạng sở nghi, nãi khả dĩ ngôn doanh hư bệnh sinh chi tự dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Năm khí giao hợp, đầy vơi thay nhau phát, ta đã biết rồi. Còn sáu khí phân chia để cai trị, khí nào chủ trời, khí nào chủ đất, khi đến thì như thế nào?
Kỳ Bá lạy hai lạy rồi đáp:
Câu hỏi sáng rõ thay! Đây là đại kỷ của trời đất, là sự thông ứng giữa con người và thần khí.
Hoàng Đế nói:
Ta muốn nghe trên hợp với sáng rõ, dưới hợp với u minh, là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Đây là chỗ đạo làm chủ, cũng là chỗ người làm thuốc thường nghi hoặc.
Hoàng Đế nói:
Xin được nghe đạo ấy.
Kỳ Bá nói:
Quyết âm tư thiên, sự hóa của nó là phong.
Thiếu âm tư thiên, sự hóa của nó là nhiệt.
Thái âm tư thiên, sự hóa của nó là thấp.
Thiếu dương tư thiên, sự hóa của nó là hỏa.
Dương minh tư thiên, sự hóa của nó là táo.
Thái dương tư thiên, sự hóa của nó là hàn.
Dựa vào tạng vị mà khí ấy lâm đến để gọi tên bệnh.
Hoàng Đế hỏi:
Địa hóa thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Cũng theo dấu hiệu của tư thiên; gian khí cũng như vậy.
Hoàng Đế hỏi:
Gian khí là gì?
Kỳ Bá nói:
Khí chủ bên trái và bên phải gọi là gian khí.
Hoàng Đế hỏi:
Làm sao phân biệt?
Kỳ Bá nói:
Khí chủ năm thì ghi theo năm. Gian khí thì ghi theo từng bộ, từng bước khí.
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Khí chủ năm thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Quyết âm tư thiên thì là phong hóa; tại tuyền thì là toan hóa; tư khí thì là thanh hóa; gian khí thì là động hóa.
Thiếu âm tư thiên thì là nhiệt hóa; tại tuyền thì là khổ hóa; không chủ tư khí hóa, khi cư ở khí thì là chước hóa.
Thái âm tư thiên thì là thấp hóa; tại tuyền thì là cam hóa; tư khí thì là vàng đen hóa; gian khí thì là nhu hóa.
Thiếu dương tư thiên thì là hỏa hóa; tại tuyền thì là khổ hóa; tư khí thì là đan hóa; gian khí thì là minh hóa.
Dương minh tư thiên thì là táo hóa; tại tuyền thì là tân hóa; tư khí thì là trắng hóa; gian khí thì là thanh hóa.
Thái dương tư thiên thì là hàn hóa; tại tuyền thì là hàm hóa; tư khí thì là đen hóa; gian khí thì là tàng hóa.
Cho nên người trị bệnh nhất định phải hiểu sáu hóa phân chia cai trị, hiểu năm vị, năm sắc do đó sinh ra, hiểu điều thích hợp của năm tạng, rồi mới có thể nói đến manh mối của bệnh sinh ra do đầy vơi.
Giải thích từ ngữ
Tư thiên: khí chủ ở trên, làm chính lệnh của trời trong năm ấy.
Tại tuyền: khí chủ ở dưới, làm chính lệnh của đất trong năm ấy.
Gian khí: khí ở hai bên trái phải, xen giữa khí chủ năm; thường dùng để xét từng bước khí.
Lục hóa: sáu khí hóa thành phong, nhiệt, thấp, hỏa, táo, hàn.
Ngũ vị, ngũ sắc: vị chua, đắng, ngọt, cay, mặn; sắc xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, dùng để quy nạp với ngũ tạng và ngũ hành.
Đoạn 2
Nguyên văn
帝曰:厥阴在泉而酸化,先余知之矣。风化之行也何如。歧伯曰:风行于地,所谓本也,馀气同法。本乎天者,天之气也,本乎地者,地之气也,天地合气,六节分而万物化生矣。故曰:谨候气宜,无失病机,此之谓也。帝曰:其主病何如。歧伯曰:司岁备物,则无遗主矣。帝曰:先岁物何也。歧伯曰:天地之专精也。帝曰:司气者何如。歧伯曰:司气者主岁同,然有馀不足也。帝曰:非司岁物何谓也。歧伯曰:散也,故质同而异等也,气味有薄厚,性用有躁静,治保有多少,力化有浅深,此之谓也。帝曰:岁主藏害何谓。歧伯曰:以所不胜命之则其要也。帝曰:治之柰何。歧伯曰:上淫于下,所胜平之,外淫于内,所胜治之。帝曰:善。平气何如。歧伯曰:谨察阴阳所在而调之,以平为期,正者正治,反者反治。
Hán Việt
Đế viết: Quyết âm tại tuyền nhi toan hóa, tiên dư tri chi hĩ. Phong hóa chi hành dã hà như?
Kỳ Bá viết: Phong hành vu địa, sở vị bản dã, dư khí đồng pháp. Bản hồ thiên giả, thiên chi khí dã; bản hồ địa giả, địa chi khí dã. Thiên địa hợp khí, lục tiết phân nhi vạn vật hóa sinh hĩ. Cố viết: cẩn hậu khí nghi, vô thất bệnh cơ, thử chi vị dã.
Đế viết: Kỳ chủ bệnh hà như?
Kỳ Bá viết: Tư tuế bị vật, tắc vô di chủ hĩ.
Đế viết: Tiên tuế vật hà dã?
Kỳ Bá viết: Thiên địa chi chuyên tinh dã.
Đế viết: Tư khí giả hà như?
Kỳ Bá viết: Tư khí giả chủ tuế đồng, nhiên hữu dư bất túc dã.
Đế viết: Phi tư tuế vật hà vị dã?
Kỳ Bá viết: Tán dã. Cố chất đồng nhi dị đẳng dã, khí vị hữu bạc hậu, tính dụng hữu táo tĩnh, trị bảo hữu đa thiểu, lực hóa hữu thiển thâm, thử chi vị dã.
Đế viết: Tuế chủ tạng hại hà vị?
Kỳ Bá viết: Dĩ sở bất thắng mệnh chi tắc kỳ yếu dã.
Đế viết: Trị chi nại hà?
Kỳ Bá viết: Thượng dâm vu hạ, sở thắng bình chi; ngoại dâm vu nội, sở thắng trị chi.
Đế viết: Thiện. Bình khí hà như?
Kỳ Bá viết: Cẩn sát âm dương sở tại nhi điều chi, dĩ bình vi kỳ. Chính giả chính trị, phản giả phản trị.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Quyết âm tại tuyền thì hóa vị chua, điều ấy trước đây ta đã biết. Còn sự vận hành của phong hóa thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Phong vận hành ở đất, đó gọi là gốc. Các khí còn lại cũng theo cùng phép ấy. Cái gốc ở trời là khí của trời; cái gốc ở đất là khí của đất. Khí trời đất hợp lại, sáu tiết phân chia, rồi muôn vật hóa sinh.
Cho nên nói: phải cẩn thận xét khí nào thích hợp, đừng để mất bệnh cơ. Chính là nghĩa này.
Hoàng Đế hỏi:
Các khí ấy chủ bệnh thế nào?
Kỳ Bá nói:
Nếu chuẩn bị đầy đủ các vật ứng với khí của năm, thì không bỏ sót chủ khí.
Hoàng Đế hỏi:
Vật của năm là gì?
Kỳ Bá nói:
Là tinh chuyên nhất của trời đất.
Hoàng Đế hỏi:
Khí chủ thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Khí chủ cũng giống khí chủ năm, nhưng có hữu dư và bất túc.
Hoàng Đế hỏi:
Vật không thuộc khí chủ năm là gì?
Kỳ Bá nói:
Là khí tản. Vì vậy, chất có thể giống nhau mà đẳng cấp khác nhau; khí vị có mỏng dày, tính dụng có động tĩnh, trị và bảo có nhiều ít, sức hóa có nông sâu. Chính là nghĩa ấy.
Hoàng Đế hỏi:
Tuế chủ làm hại tạng là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Lấy cái mà tạng ấy không thắng được để gọi tên, đó là điều cốt yếu.
Hoàng Đế hỏi:
Trị thế nào?
Kỳ Bá nói:
Khí ở trên dâm thịnh xuống dưới, thì dùng cái thắng nó để bình. Khí ở ngoài dâm thịnh vào trong, thì dùng cái thắng nó để trị.
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Bình khí thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Cẩn thận xét âm dương ở đâu mà điều hòa, lấy bình làm hạn. Bệnh thuận chính thì chính trị; bệnh trái nghịch thì phản trị.
Giải thích từ ngữ
Bệnh cơ: cơ chế then chốt sinh bệnh. Nội Kinh thường nói không được bỏ mất bệnh cơ.
Chính trị: trị thuận theo biểu hiện thật, như hàn thì ôn, nhiệt thì thanh.
Phản trị: khi có giả tượng hoặc bệnh thế trái thường, phải trị ngược với biểu hiện bên ngoài.
Dĩ sở bất thắng mệnh chi: lấy khí mà tạng không thắng nổi để gọi bệnh; tức xét quan hệ ngũ hành sinh khắc.
Đoạn 3
Nguyên văn
帝曰:夫子言察阴阳所在而调之,论言人迎与寸口相应,若引绳小大齐等,命曰平,阴之所在寸口何如。歧伯曰:视岁南北,可知之矣。帝曰:愿卒闻之。歧伯曰:北政之岁,少阴在泉,则寸口不应,厥阴在泉,则右不应,太阴在泉,则左不应。南政之岁,少阴司天,则寸口不应,厥阴司天,则右不应,太阴司天,则左不应。诸不应者,反其诊则见矣。帝曰:尺候何如。歧伯曰:北政之岁,三阴在下,则寸不应,三阴在上,则尺不应。南政之岁,三阴在天,则寸不应,三阴在泉,则尺不应,左右同。故曰:知其要者,一言而终,不知其要,流散无穷,此之谓也。
Hán Việt
Đế viết: Phu tử ngôn sát âm dương sở tại nhi điều chi. Luận ngôn Nhân nghênh dữ Thốn khẩu tương ứng, nhược dẫn thằng tiểu đại tề đẳng, mệnh viết bình. Âm chi sở tại Thốn khẩu hà như?
Kỳ Bá viết: Thị tuế nam bắc, khả tri chi hĩ.
Đế viết: Nguyện tốt văn chi.
Kỳ Bá viết: Bắc chính chi tuế, Thiếu âm tại tuyền, tắc Thốn khẩu bất ứng; Quyết âm tại tuyền, tắc hữu bất ứng; Thái âm tại tuyền, tắc tả bất ứng.
Nam chính chi tuế, Thiếu âm tư thiên, tắc Thốn khẩu bất ứng; Quyết âm tư thiên, tắc hữu bất ứng; Thái âm tư thiên, tắc tả bất ứng. Chư bất ứng giả, phản kỳ chẩn tắc kiến hĩ.
Đế viết: Xích hậu hà như?
Kỳ Bá viết: Bắc chính chi tuế, tam âm tại hạ, tắc thốn bất ứng; tam âm tại thượng, tắc xích bất ứng. Nam chính chi tuế, tam âm tại thiên, tắc thốn bất ứng; tam âm tại tuyền, tắc xích bất ứng, tả hữu đồng. Cố viết: tri kỳ yếu giả, nhất ngôn nhi chung; bất tri kỳ yếu, lưu tán vô cùng, thử chi vị dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Phu tử nói phải xét âm dương ở đâu mà điều hòa. Luận lại nói Nhân nghênh và Thốn khẩu tương ứng nhau, như kéo dây mà lớn nhỏ đều bằng, gọi là bình. Vậy âm ở nơi Thốn khẩu thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Xem năm ấy thuộc Nam chính hay Bắc chính thì có thể biết.
Hoàng Đế nói:
Xin nghe đầy đủ.
Kỳ Bá nói:
Năm Bắc chính, nếu Thiếu âm tại tuyền thì Thốn khẩu không ứng; nếu Quyết âm tại tuyền thì bên phải không ứng; nếu Thái âm tại tuyền thì bên trái không ứng.
Năm Nam chính, nếu Thiếu âm tư thiên thì Thốn khẩu không ứng; nếu Quyết âm tư thiên thì bên phải không ứng; nếu Thái âm tư thiên thì bên trái không ứng.
Các trường hợp “không ứng” ấy, nếu đảo lại phép chẩn thì sẽ thấy.
Hoàng Đế hỏi:
Vậy mạch Xích thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Năm Bắc chính, nếu tam âm ở dưới thì Thốn không ứng; nếu tam âm ở trên thì Xích không ứng.
Năm Nam chính, nếu tam âm ở trời thì Thốn không ứng; nếu tam âm ở tại tuyền thì Xích không ứng. Trái phải cũng như vậy.
Cho nên nói: người biết điều cốt yếu, một lời là hết; người không biết điều cốt yếu thì tản mạn vô cùng. Chính là nghĩa ấy.
Giải thích từ ngữ
Nhân nghênh: mạch vùng cổ, thường dùng để xét dương khí, biểu khí.
Thốn khẩu: mạch cổ tay, thường dùng để xét tạng phủ, khí huyết.
Nam chính, Bắc chính: cách phân năm trong vận khí học; liên quan đến vị trí âm dương, tư thiên, tại tuyền và cách xét mạch.
Bất ứng: mạch không ứng đúng như thường lệ, cần đảo phép chẩn để hiểu.
Đoạn 4
Nguyên văn
帝曰:善。天地之气,内淫而病何如。歧伯曰:岁厥阴在泉,风淫所胜,则地气不明,平野昧,草乃早秀,民病洒洒振寒,善伸数欠,心痛支满,两脇里急,饮食不下,鬲咽不通,食则呕,腹胀善噫,得后与气,则快然如衰,身体皆重。
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Khí của trời đất dâm thịnh vào bên trong mà gây bệnh thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Năm Quyết âm tại tuyền, nếu phong dâm thắng, thì địa khí không sáng, đồng bằng tối mờ, cỏ sớm trổ tốt. Dân chúng mắc chứng lạnh run, hay vươn vai, thường ngáp, đau vùng Tâm, chi thể đầy, hai bên sườn bên trong co gấp, ăn uống không xuống, hoành cách và họng không thông. Ăn vào thì nôn, bụng trướng, hay ợ. Sau khi đại tiện hoặc trung tiện thì thấy khoan khoái như bệnh giảm, nhưng toàn thân đều nặng.
Giải thích từ ngữ
Phong dâm: phong khí quá mức, dâm thịnh.
Tại tuyền: khí chủ ở dưới, nên bệnh thường nhập vào trong, liên hệ trung hạ tiêu.
Đắc hậu dữ khí: sau khi đại tiện và trung tiện thì khí cơ tạm thông, nên thấy nhẹ.
Đoạn 5
Nguyên văn
岁少阴在泉,热淫所胜,则焰浮川泽,阴处反明,民病腹中常鸣,气上冲胸,喘不能久立,寒热皮肤痛,目瞑齿痛䪼肿,恶寒发热如疟,少腹中痛腹大,蛰虫不藏。
Dịch nghĩa
Năm Thiếu âm tại tuyền, nếu nhiệt dâm thắng, thì ánh nóng nổi trên sông đầm, nơi âm u lại sáng. Dân chúng mắc bụng thường sôi, khí xung lên ngực, suyễn không đứng lâu được, hàn nhiệt, da đau, mắt mờ, răng đau, má sưng, sợ lạnh phát sốt như sốt rét, bụng dưới đau, bụng to. Trùng ẩn không chịu tàng.
Giải thích từ ngữ
Thiếu âm tại tuyền: Quân hỏa ở dưới.
Nhiệt dâm ở trong: nhiệt từ dưới bốc lên, làm khí xung ngực, suyễn, bụng sôi, đau răng, má sưng.
Đoạn 6
Nguyên văn
岁太阴在泉,草乃早荣,湿淫所胜,则埃昏岩谷黄反见黑,至阴之交民病饮积心痛耳聋,浑浑焞焞,嗌肿喉痹,阴病血见,少腹痛肿,不得小便,病冲头痛,目似脱,项似拔,腰似折,髀不可以回,膕如结,腨如别。
Dịch nghĩa
Năm Thái âm tại tuyền, cỏ cây sớm tươi tốt. Nếu thấp dâm thắng, thì bụi mờ che lấp núi hang, sắc vàng lại hiện thành đen. Ở nơi chí âm giao nhau, dân chúng mắc ẩm tích, đau Tâm, tai điếc, thần trí mờ đục, họng sưng, hầu tý. Bệnh âm mà thấy huyết. Bụng dưới đau sưng, tiểu tiện không được. Bệnh xung lên đầu làm đau đầu, mắt như muốn rơi ra, gáy như bị nhổ kéo, lưng như gãy, khớp háng không xoay được, khoeo như thắt lại, bắp chân như tách rời.
Giải thích từ ngữ
Thấp dâm: thấp khí quá mức, nặng trọc, bế trở.
Chí âm chi giao: nơi âm khí cực thịnh giao hội, dễ sinh bệnh hạ tiêu, thủy thấp, huyết và tiểu tiện.
Ẩm tích: thủy ẩm tích lại trong cơ thể.
Đoạn 7
Nguyên văn
岁少阳在泉,火淫所胜,则焰明郊野,寒热更至,民病注泄赤白,少腹痛溺赤,甚则血便,少阴同候。
Dịch nghĩa
Năm Thiếu dương tại tuyền, nếu hỏa dâm thắng, thì ánh lửa sáng nơi đồng nội, hàn nhiệt thay nhau đến. Dân chúng mắc chú tiết đỏ trắng, bụng dưới đau, tiểu tiện đỏ; nặng thì đại tiện ra máu. Thiếu âm cũng có dấu hiệu tương tự.
Giải thích từ ngữ
Thiếu dương tại tuyền: Tướng hỏa ở dưới.
Chú tiết đỏ trắng: đi ngoài lỵ, phân có đỏ trắng, thường chỉ thấp nhiệt, huyết lỵ hoặc niêm dịch huyết.
Đoạn 8
Nguyên văn
岁阳明在泉,燥淫所胜,则霿雾清暝,民病喜呕,呕有苦善大息,心胁痛不能反侧,甚则嗌乾面尘,身无膏泽,足外反热。
Dịch nghĩa
Năm Dương minh tại tuyền, nếu táo dâm thắng, thì sương mù trong lạnh mờ tối. Dân chúng hay nôn, nôn có vị đắng, hay thở dài, đau Tâm và sườn, không thể trở mình nằm nghiêng. Nặng thì họng khô, mặt như phủ bụi, thân không có nhuận trạch, phía ngoài chân lại nóng.
Giải thích từ ngữ
Táo dâm: táo khí quá mức, làm khô tân dịch.
Thân vô cao trạch: thân thể thiếu nhuận, da khô, tân dịch hao.
Đoạn 9
Nguyên văn
岁太阳在泉,寒淫所胜则凝肃惨栗,民病少腹控睾,引腰脊上冲心痛,血见,嗌痛颔肿。
Dịch nghĩa
Năm Thái dương tại tuyền, nếu hàn dâm thắng, thì khí ngưng lạnh nghiêm túc, rét run thê thảm. Dân chúng mắc đau bụng dưới kéo xuống tinh hoàn, lan lên lưng cột sống rồi xung lên gây đau Tâm, có huyết xuất hiện, họng đau, cằm sưng.
Giải thích từ ngữ
Hàn dâm: hàn khí quá mức.
Thiếu phúc khống cao: bụng dưới đau kéo xuống tinh hoàn, thường thuộc hàn tà vào hạ tiêu, kinh Can Thận.
Đoạn 10
Nguyên văn
帝曰:善。治之柰何。歧伯曰:诸气在泉,风淫于内,治以辛凉,佐以苦,以甘缓之,以辛散之。热淫于内,治以咸寒,佐以甘苦,以酸收之,以苦发之。湿淫于内,治以苦热,佐以酸淡,以苦燥之,以淡泄之。火淫于内,治以咸冷,佐以苦辛,以酸收之,以苦发之。燥淫于内,治以苦温,佐以甘辛,以苦下之。寒淫于内,治以甘热,佐以苦辛,以咸写之,以辛润之,以苦坚之。
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Trị thế nào?
Kỳ Bá nói:
Các khí ở tại tuyền:
Phong dâm ở trong, trị bằng vị cay mát, tá bằng vị đắng, dùng vị ngọt để hoãn, dùng vị cay để tán.
Nhiệt dâm ở trong, trị bằng vị mặn lạnh, tá bằng vị ngọt và đắng, dùng vị chua để thu, dùng vị đắng để phát.
Thấp dâm ở trong, trị bằng vị đắng nóng, tá bằng vị chua và nhạt, dùng vị đắng để táo, dùng vị nhạt để tiết.
Hỏa dâm ở trong, trị bằng vị mặn lạnh, tá bằng vị đắng và cay, dùng vị chua để thu, dùng vị đắng để phát.
Táo dâm ở trong, trị bằng vị đắng ấm, tá bằng vị ngọt và cay, dùng vị đắng để hạ.
Hàn dâm ở trong, trị bằng vị ngọt nóng, tá bằng vị đắng và cay, dùng vị mặn để tả, dùng vị cay để nhuận, dùng vị đắng để kiên.
Giải thích từ ngữ
Tại tuyền chủ bên trong: khí ở dưới thường ảnh hưởng vào trong, nhất là trung hạ tiêu.
Cay mát trị phong: cay để tán, mát để thanh.
Đắng nóng trị thấp: đắng để táo thấp, nóng để ôn hóa hàn thấp.
Mặn lạnh trị hỏa nhiệt: mặn làm mềm, lạnh thanh nhiệt.
Ngọt nóng trị hàn: ngọt để hoãn cấp, nóng để ôn hàn.
Đoạn 11
Nguyên văn
帝曰:善。天气之变何如。歧伯曰:厥阴司天,风淫所胜,则太虚埃昏,云物以扰,寒生春气,流水不冰,民病胃脘当心而痛,上支两胁,鬲咽不通,饮食不下,舌本强,食则呕,冷泄腹胀溏泄瘕水闭,蛰虫不去,病本于脾。冲阳绝,死不治。
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Sự biến của thiên khí thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Quyết âm tư thiên, nếu phong dâm thắng, thì Thái hư bụi mờ, mây vật rối động; hàn sinh trong khí xuân, nước chảy không đóng băng. Dân chúng mắc đau Vị quản ngay dưới Tâm, đau chống lên hai sườn, hoành cách và họng không thông, ăn uống không xuống, gốc lưỡi cứng, ăn vào thì nôn, lạnh tiết, bụng trướng, đại tiện lỏng, tích hà, thủy bế. Trùng ẩn không đi. Bệnh gốc ở Tỳ. Nếu mạch Xung dương tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Tư thiên chủ bên trên: khí ở trời thường ảnh hưởng phần trên, biểu, dương, nhưng cũng có thể làm bệnh bản tạng tương ứng.
Bệnh bản ở Tỳ: phong Mộc thắng, Mộc khắc Thổ, nên Tỳ Vị chịu bệnh.
Xung dương: mạch ở mu bàn chân, thường dùng để xét Vị khí. Tuyệt thì Vị khí bại.
Đoạn 12
Nguyên văn
少阴司天,热淫所胜,怫热至火行其政,民病胸中烦热嗌乾,右胠满,皮肤痛,寒热咳喘,大雨且至,唾血血泄,鼽衂嚏呕,溺色变,甚则疮疡胕肿,肩背臂臑及缺盆中痛,心痛肺䐜,腹大满膨,膨而喘咳,病本于肺,尺泽绝,死不治。
Dịch nghĩa
Thiếu âm tư thiên, nếu nhiệt dâm thắng, thì uất nhiệt đến, Hỏa thi hành chính lệnh. Dân chúng mắc phiền nhiệt trong ngực, họng khô, vùng hông sườn phải đầy, da đau, hàn nhiệt, ho suyễn. Mưa lớn sắp đến. Lại có khạc huyết, huyết tiết, chảy nước mũi, chảy máu cam, hắt hơi, nôn, màu tiểu tiện biến đổi. Nặng thì sang dương, phù thũng, đau vai lưng, cánh tay, bắp tay và trong Khuyết bồn, đau Tâm, Phế trướng, bụng to đầy trướng, trướng mà suyễn ho. Bệnh gốc ở Phế. Nếu mạch Xích trạch tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Nhiệt dâm thắng: nhiệt quá mức, làm Phế Kim bị khắc.
Khuyết bồn: vùng hõm trên xương đòn.
Xích trạch: huyệt hợp của kinh Phế. Ở đây dùng để chỉ mạch khí Phế suy tuyệt.
Đoạn 13
Nguyên văn
太阴司天,湿淫所胜,则沈阴且布,雨变枯槁,胕肿骨痛阴痹,阴痹者按之不得,腰脊头项痛时眩,大便难,阴气不用,饥不欲食,咳唾则有血,心如悬,病本于肾。太溪绝,死不治。
Dịch nghĩa
Thái âm tư thiên, nếu thấp dâm thắng, thì trầm âm lan rộng, mưa làm biến đổi đến khô héo. Dân chúng mắc phù thũng, xương đau, âm tý. Âm tý là ấn vào không thấy khoan khoái. Lưng, cột sống, đầu, gáy đau, thỉnh thoảng chóng mặt, đại tiện khó, âm khí không dùng được, đói mà không muốn ăn, ho khạc thì có máu, Tâm như treo lên. Bệnh gốc ở Thận. Nếu mạch Thái khê tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Âm tý: tý chứng thuộc âm hàn thấp, sâu nặng, ấn không giảm.
Bệnh bản ở Thận: Thái âm thấp thắng làm Thủy tạng bị hại, Thận khí bất lợi.
Thái khê: huyệt nguyên của kinh Thận, biểu thị Thận khí.
Đoạn 14
Nguyên văn
少阳司天,火淫所胜,则温气流行,金政不平,民病头痛发热恶寒而疟,热上皮肤痛,色变黄赤,传而为水,身面胕肿,腹满仰息,泄注赤白,疮疡咳唾血,烦心胸中热,甚则鼽衂,病本于肺,天府绝,死不治。
Dịch nghĩa
Thiếu dương tư thiên, nếu hỏa dâm thắng, thì ôn khí lưu hành, Kim chính không bình. Dân chúng mắc đau đầu, phát sốt, sợ lạnh như sốt rét; nhiệt bốc lên, da đau, sắc mặt biến vàng đỏ. Truyền biến thành thủy, thân và mặt phù thũng, bụng đầy, phải ngửa lên mà thở, tiêu chảy đỏ trắng, sang dương, ho khạc máu, Tâm phiền, trong ngực nóng; nặng thì chảy nước mũi, chảy máu cam. Bệnh gốc ở Phế. Nếu mạch Thiên phủ tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Thiếu dương Hỏa thắng: Hỏa khắc Kim, nên Phế bị bệnh.
Thiên phủ: huyệt của kinh Phế, ở đây đại diện cho Phế khí.
Đoạn 15
Nguyên văn
阳明司天,燥淫所胜,则木乃晚荣,草乃晚生,筋骨内变,民病左胠脇痛,寒清于中感而疟,大凉革候,咳,腹中鸣注泄鹜溏,名木敛生菀于下,草焦上首,心胁暴痛,不可反侧,嗌乾面尘腰痛,丈夫㿉疝,妇人少腹痛,目昧眦,疡疮痤痈,蛰虫来见,病本于肝。太冲绝,死不治。
Dịch nghĩa
Dương minh tư thiên, nếu táo dâm thắng, thì cây lớn tươi muộn, cỏ mọc muộn, gân xương biến đổi ở trong. Dân chúng mắc đau vùng hông sườn trái, khí hàn thanh ở trong cảm vào mà thành chứng như sốt rét. Đại lương làm đổi thời tiết, sinh ho, trong bụng sôi, chú tiết, phân lỏng như vịt. Cây lớn thu liễm, sinh khí uất ở dưới, cỏ cháy ngọn trên. Người bệnh đau dữ ở Tâm và sườn, không thể trở mình; họng khô, mặt như bụi, lưng đau. Đàn ông mắc đồi sán; phụ nữ đau bụng dưới. Mắt mờ, khóe mắt lở, sang, mụn, ung nhọt; trùng ẩn xuất hiện. Bệnh gốc ở Can. Nếu mạch Thái xung tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Táo Kim thắng: Kim khắc Mộc, nên Can Mộc bị bệnh.
Đồi sán: một loại sán khí, thường chỉ thoát vị, đau kéo vùng tinh hoàn bẹn.
Thái xung: huyệt nguyên của kinh Can, biểu thị Can khí.
Đoạn 16
Nguyên văn
太阳司天,寒淫所胜,则寒气反至,水且冰,血变于中,发为痈疡,民病厥心痛,呕血血泄鼽衂,善悲时眩仆,运火炎烈,雨暴乃雹,胸腹满,手热肘挛,掖冲,心澹澹大动,胸脇胃脘不安,面赤目黄,善噫嗌乾,甚则色炱,渴而欲饮,病本于心。神门绝,死不治。
Dịch nghĩa
Thái dương tư thiên, nếu hàn dâm thắng, thì hàn khí trái thường mà đến, nước sắp đóng băng, huyết biến đổi ở trong, phát thành ung dương. Dân chúng mắc quyết Tâm thống, nôn ra máu, huyết tiết, chảy nước mũi, chảy máu cam, hay buồn, thỉnh thoảng chóng mặt ngã quỵ. Vận Hỏa lại viêm liệt, mưa dữ hóa thành mưa đá. Ngực bụng đầy, tay nóng, khuỷu tay co rút, khí xung vùng nách, Tâm dao động mạnh, ngực sườn Vị quản không yên, mặt đỏ mắt vàng, hay ợ, họng khô. Nặng thì sắc mặt đen như tro, khát muốn uống. Bệnh gốc ở Tâm. Nếu mạch Thần môn tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Thái dương Hàn thủy thắng: Thủy khắc Hỏa, nên Tâm Hỏa bị bệnh.
Thần môn: huyệt nguyên của kinh Tâm, biểu thị Tâm khí, thần khí.
Đoạn 17
Nguyên văn
帝曰:善。治之柰何。歧伯曰:司天之气,风淫所胜,平以辛凉,佐以苦甘,以甘缓之,以酸写之。热淫所胜,平以咸寒,佐以苦甘,以酸收之。湿淫所胜,平以苦热,佐以酸辛,以苦燥之,以淡泄之。湿上甚而热,治以苦温,佐以甘辛,以汗为故而止。火淫所胜,平以酸冷,佐以苦甘,以酸收之,以苦发之,以酸复之,热淫同。燥淫所胜,平以苦湿,佐以酸辛,以苦下之。寒淫所胜,平以辛热,佐以甘苦,以咸写之。
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Trị thế nào?
Kỳ Bá nói:
Với khí Tư thiên:
Phong dâm thắng, bình bằng vị cay mát, tá bằng vị đắng ngọt, dùng vị ngọt để hoãn, dùng vị chua để tả.
Nhiệt dâm thắng, bình bằng vị mặn lạnh, tá bằng vị đắng ngọt, dùng vị chua để thu.
Thấp dâm thắng, bình bằng vị đắng nóng, tá bằng vị chua cay, dùng vị đắng để táo, dùng vị nhạt để tiết.
Thấp ở trên nặng mà hóa nhiệt, trị bằng vị đắng ấm, tá bằng vị ngọt cay, lấy phát hãn làm phép để dừng bệnh.
Hỏa dâm thắng, bình bằng vị chua lạnh, tá bằng vị đắng ngọt, dùng vị chua để thu, dùng vị đắng để phát, lại dùng vị chua để phục hồi; nhiệt dâm cũng cùng phép.
Táo dâm thắng, bình bằng vị đắng nhuận, tá bằng vị chua cay, dùng vị đắng để hạ.
Hàn dâm thắng, bình bằng vị cay nóng, tá bằng vị ngọt đắng, dùng vị mặn để tả.
Giải thích từ ngữ
Tư thiên chủ trên: bệnh thường biểu hiện ở phần trên, biểu, khí, nhưng vẫn liên lụy tạng bị khắc.
Thấp trên nặng mà nhiệt: thấp uất ở trên có thể hóa nhiệt, cần vừa ôn hóa thấp vừa phát hãn để mở đường.
Đắng nhuận: trong cổ văn “khổ thấp” có thể hiểu là dùng vị đắng có tính nhuận để trị táo, không phải đắng táo.
Nhận xét tạm phần đầu
Phần đầu của Chí Chân Yếu Đại Luận đặt nền cho toàn thiên: muốn trị bệnh phải hiểu sáu khí phân trị, biết khí nào ở trời, khí nào ở đất, khí nào làm gian khí, rồi mới xét bệnh sinh ra do khí dâm thắng.
Điểm quan trọng là Nội Kinh luôn phân biệt tư thiên và tại tuyền. Cùng là phong, nhiệt, thấp, hỏa, táo, hàn, nhưng nếu ở tại tuyền thì bệnh thiên về bên trong, trung hạ tiêu, thủy cốc, tiểu tiện, đại tiện, huyết và âm phần; nếu ở tư thiên thì bệnh thiên về bên trên, biểu, Phế, Tâm, đầu mặt, ngực sườn, nhưng vẫn có tạng gốc chịu bệnh theo ngũ hành sinh khắc.
Phép trị cũng không phải chỉ “hàn thì nhiệt, nhiệt thì hàn” một cách đơn giản. Mỗi khí có vị chính, vị tá, phép thu, phát, tán, tiết, táo, nhuận, hạ, kiên khác nhau. Vì vậy thiên này được gọi là “Chí chân yếu”, tức đi vào chỗ rất thật, rất cốt yếu của phép trị.
Mình tạm dịch đến hết phần “khí tại tuyền, khí tư thiên dâm thắng và phép trị”. Phần sau sẽ tiếp các mục rất quan trọng: tà khí phản thắng, lục khí tương thắng, lục khí chi phục, chủ khách thắng phục, chính vị ngũ vị, tiêu bản, bệnh cơ mười chín điều.
TIẾP THEO: TÀ KHÍ PHẢN THẮNG
Khí tà trái thường mà thắng khí chủ thì trị thế nào
Đoạn 18
Nguyên văn
帝曰:善。邪气反胜,治之柰何。歧伯曰:风司于地,清反胜之,治以酸温,佐以苦甘,以辛平之。热司于地,寒反胜之,治以甘热,佐以苦辛,以咸平之。湿司于地,热反胜之,治以苦冷,佐以咸甘,以苦平之。火司于地,寒反胜之,治以甘热,佐以苦辛,以咸平之。燥司于地,热反胜之,治以平寒,佐以苦甘,以酸平之,以和为利。寒司于地,热反胜之,治以咸冷,佐以甘辛,以苦平之。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Tà khí phản thắng, trị chi nại hà?
Kỳ Bá viết: Phong tư vu địa, thanh phản thắng chi, trị dĩ toan ôn, tá dĩ khổ cam, dĩ tân bình chi.
Nhiệt tư vu địa, hàn phản thắng chi, trị dĩ cam nhiệt, tá dĩ khổ tân, dĩ hàm bình chi.
Thấp tư vu địa, nhiệt phản thắng chi, trị dĩ khổ lãnh, tá dĩ hàm cam, dĩ khổ bình chi.
Hỏa tư vu địa, hàn phản thắng chi, trị dĩ cam nhiệt, tá dĩ khổ tân, dĩ hàm bình chi.
Táo tư vu địa, nhiệt phản thắng chi, trị dĩ bình hàn, tá dĩ khổ cam, dĩ toan bình chi, dĩ hòa vi lợi.
Hàn tư vu địa, nhiệt phản thắng chi, trị dĩ hàm lãnh, tá dĩ cam tân, dĩ khổ bình chi.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Khi tà khí phản thắng thì trị thế nào?
Kỳ Bá nói:
Khi phong chủ ở đất, mà thanh khí trái thường thắng phong, thì trị bằng vị chua ấm, tá bằng vị đắng ngọt, dùng vị cay để bình.
Khi nhiệt chủ ở đất, mà hàn khí trái thường thắng nhiệt, thì trị bằng vị ngọt nóng, tá bằng vị đắng cay, dùng vị mặn để bình.
Khi thấp chủ ở đất, mà nhiệt khí trái thường thắng thấp, thì trị bằng vị đắng lạnh, tá bằng vị mặn ngọt, dùng vị đắng để bình.
Khi hỏa chủ ở đất, mà hàn khí trái thường thắng hỏa, thì trị bằng vị ngọt nóng, tá bằng vị đắng cay, dùng vị mặn để bình.
Khi táo chủ ở đất, mà nhiệt khí trái thường thắng táo, thì trị bằng vị bình hàn, tá bằng vị đắng ngọt, dùng vị chua để bình, lấy hòa làm lợi.
Khi hàn chủ ở đất, mà nhiệt khí trái thường thắng hàn, thì trị bằng vị mặn lạnh, tá bằng vị ngọt cay, dùng vị đắng để bình.
Giải thích từ ngữ
Tà khí phản thắng: khí vốn không nên thắng vào thời ấy lại lấn thắng khí chủ.
Tư vu địa: khí ấy chủ ở tại tuyền, thuộc phần dưới, bên trong.
Thanh phản thắng phong: đáng là phong chủ nhưng thanh lương lại quá mạnh, làm phong khí bị đè nén trái thường.
Dĩ hòa vi lợi: với táo bị nhiệt phản thắng, điều quý là hòa, không nên công phạt quá mức.
Đoạn 19
Nguyên văn
帝曰:其司天邪胜何如。歧伯曰:风化于天,清反胜之,治以酸温,佐以甘苦。热化于天,寒反胜之,治以甘温,佐以苦酸辛。湿化于天,热反胜之,治以苦寒,佐以苦酸。火化于天,寒反胜之,治以甘热,佐以苦辛。燥化于天,热反胜之,治以辛寒,佐以苦甘。寒化于天,热反胜之,治以咸冷,佐以苦辛。
Hán Việt
Đế viết: Kỳ tư thiên tà thắng hà như?
Kỳ Bá viết: Phong hóa vu thiên, thanh phản thắng chi, trị dĩ toan ôn, tá dĩ cam khổ.
Nhiệt hóa vu thiên, hàn phản thắng chi, trị dĩ cam ôn, tá dĩ khổ toan tân.
Thấp hóa vu thiên, nhiệt phản thắng chi, trị dĩ khổ hàn, tá dĩ khổ toan.
Hỏa hóa vu thiên, hàn phản thắng chi, trị dĩ cam nhiệt, tá dĩ khổ tân.
Táo hóa vu thiên, nhiệt phản thắng chi, trị dĩ tân hàn, tá dĩ khổ cam.
Hàn hóa vu thiên, nhiệt phản thắng chi, trị dĩ hàm lãnh, tá dĩ khổ tân.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Nếu tà thắng ở khí tư thiên thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Phong hóa ở trời mà thanh khí trái thường thắng nó, thì trị bằng vị chua ấm, tá bằng vị ngọt đắng.
Nhiệt hóa ở trời mà hàn khí trái thường thắng nó, thì trị bằng vị ngọt ấm, tá bằng vị đắng, chua, cay.
Thấp hóa ở trời mà nhiệt khí trái thường thắng nó, thì trị bằng vị đắng lạnh, tá bằng vị đắng chua.
Hỏa hóa ở trời mà hàn khí trái thường thắng nó, thì trị bằng vị ngọt nóng, tá bằng vị đắng cay.
Táo hóa ở trời mà nhiệt khí trái thường thắng nó, thì trị bằng vị cay lạnh, tá bằng vị đắng ngọt.
Hàn hóa ở trời mà nhiệt khí trái thường thắng nó, thì trị bằng vị mặn lạnh, tá bằng vị đắng cay.
Giải thích từ ngữ
Tư thiên tà thắng: khí tà thắng khí chủ ở phần trời, thường ảnh hưởng phần trên, bên ngoài, dương phận.
Tại tuyền và tư thiên khác nhau: cùng một loại phản thắng, nhưng ở trên hay ở dưới thì phép dùng vị có thể khác.
Chua ấm trị thanh thắng phong: chua để thu điều Mộc, ấm để chống thanh lạnh quá mức.
LỤC KHÍ TƯƠNG THẮNG
Sáu khí lần lượt thắng nhau và bệnh chứng của từng khí
Đoạn 20
Nguyên văn
帝曰:六气相胜柰何。歧伯曰:厥阴之胜,耳鸣头眩,愦愦欲吐,胃鬲如寒,大风数举,倮虫不滋,胠脇气并,化而为热,小便黄赤,胃脘当心而痛,上支两脇,肠鸣飱泄,少腹痛,注下赤白,甚则呕吐,鬲咽不通。
Hán Việt
Đế viết: Lục khí tương thắng nại hà?
Kỳ Bá viết: Quyết âm chi thắng, nhĩ minh đầu huyễn, hội hội dục thổ, Vị cách như hàn, đại phong sổ cử, lõa trùng bất tư, khư hiếp khí tịnh, hóa nhi vi nhiệt, tiểu tiện hoàng xích, Vị quản đương Tâm nhi thống, thượng chi lưỡng hiếp, trường minh sôn tiết, thiếu phúc thống, chú hạ xích bạch, thậm tắc ẩu thổ, cách yết bất thông.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Sáu khí thắng nhau thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Khi Quyết âm thắng, thì tai ù, đầu chóng mặt, tinh thần rối loạn muốn nôn, Vị và hoành cách như lạnh. Đại phong nhiều lần nổi lên, loài trùng không lông không sinh trưởng tốt. Khí dồn ở vùng hông sườn, hóa thành nhiệt, tiểu tiện vàng đỏ. Vị quản ngay dưới Tâm đau, đau chống lên hai sườn. Ruột sôi, sôn tiết, bụng dưới đau, chú hạ đỏ trắng. Nặng thì nôn mửa, hoành cách và họng không thông.
Giải thích từ ngữ
Quyết âm thắng: Phong Mộc thắng quá mức.
Khư hiếp khí tịnh: khí dồn ở vùng hông sườn, liên hệ Can Đởm.
Sôn tiết: đi ngoài phân sống, thức ăn chưa tiêu.
Đoạn 21
Nguyên văn
少阴之胜,心下热善饥,齐下反动,气游三焦,炎暑至,木乃津,草乃萎,呕逆躁烦,腹满痛溏泄,传为赤沃。
Hán Việt
Thiếu âm chi thắng, Tâm hạ nhiệt thiện cơ, tề hạ phản động, khí du Tam tiêu, viêm thử chí, mộc nãi tân, thảo nãi nuy, ẩu nghịch táo phiền, phúc mãn thống đường tiết, truyền vi xích ốc.
Dịch nghĩa
Khi Thiếu âm thắng, thì dưới Tâm nóng, hay đói, dưới rốn lại động, khí du hành trong Tam tiêu. Viêm thử đến, cây lớn được nhuận mà cỏ lại héo. Người bệnh nôn nghịch, táo phiền, bụng đầy đau, đại tiện lỏng; truyền biến thì thành tiêu chảy đỏ.
Giải thích từ ngữ
Thiếu âm thắng: Quân hỏa thắng quá mức.
Tâm hạ nhiệt: nhiệt uất vùng thượng vị, dưới Tâm.
Xích ốc: tiết hạ đỏ, có thể liên hệ nhiệt lỵ, huyết lỵ.
Đoạn 22
Nguyên văn
太阴之胜,火气内郁,疮疡于中,流散于外,病在胠脇,甚则心痛热格,头痛喉痹项强,独胜则湿气内郁,寒迫下焦,痛留顶,互引眉闲,胃满,雨数至,燥化乃见,少腹满腰脽重强,内不便善注泄,足下温,头重足胫胕肿,饮发于中,胕肿于上。
Hán Việt
Thái âm chi thắng, Hỏa khí nội uất, sang dương vu trung, lưu tán vu ngoại, bệnh tại khư hiếp, thậm tắc Tâm thống nhiệt cách, đầu thống hầu tý hạng cường. Độc thắng tắc thấp khí nội uất, hàn bách hạ tiêu, thống lưu đỉnh, hỗ dẫn mi gian, Vị mãn, vũ sổ chí, táo hóa nãi kiến, thiếu phúc mãn, yêu chuy trọng cường, nội bất tiện, thiện chú tiết, túc hạ ôn, đầu trọng, túc hành phù thũng, ẩm phát vu trung, phù thũng vu thượng.
Dịch nghĩa
Khi Thái âm thắng, Hỏa khí bị uất ở trong, sang dương phát ở bên trong rồi lưu tán ra ngoài. Bệnh ở vùng hông sườn; nặng thì đau Tâm, nhiệt cách, đau đầu, hầu tý, gáy cứng.
Nếu Thái âm độc thắng, thì thấp khí uất ở trong, hàn ép xuống hạ tiêu. Đau lưu ở đỉnh đầu, kéo đến vùng giữa hai lông mày, Vị đầy. Mưa nhiều lần đến, táo hóa mới hiện. Bụng dưới đầy, lưng eo và xương cùng nặng cứng, trong bụng không tiện, hay chú tiết. Lòng bàn chân nóng, đầu nặng, cẳng chân và bàn chân phù thũng. Ẩm phát ở trong, phù thũng ở trên.
Giải thích từ ngữ
Thái âm thắng: Thấp Thổ thắng quá mức.
Hỏa khí nội uất: thấp thịnh làm Hỏa không thông, uất lại mà sinh nhiệt.
Hàn bách hạ tiêu: hàn thấp ép xuống dưới, gây bụng dưới đầy, lưng nặng, tiết tả.
Đoạn 23
Nguyên văn
少阳之胜,热客于胃,烦心心痛,目赤欲呕,呕酸善饥,耳痛溺赤,善惊谵妄,暴热消烁,草萎水涸,介虫乃屈,少腹痛下沃赤白。
Hán Việt
Thiếu dương chi thắng, nhiệt khách vu Vị, phiền Tâm Tâm thống, mục xích dục ẩu, ẩu toan thiện cơ, nhĩ thống nịch xích, thiện kinh chiêm vọng, bạo nhiệt tiêu thước, thảo nuy thủy hạc, giới trùng nãi khuất, thiếu phúc thống hạ ốc xích bạch.
Dịch nghĩa
Khi Thiếu dương thắng, nhiệt làm khách ở Vị, Tâm phiền và đau Tâm, mắt đỏ, muốn nôn, nôn chua, hay đói, tai đau, tiểu tiện đỏ, dễ kinh sợ, nói mê. Bạo nhiệt nung đốt, cỏ héo, nước cạn, loài có vỏ co lại. Người bệnh bụng dưới đau, tiết hạ đỏ trắng.
Giải thích từ ngữ
Thiếu dương thắng: Tướng hỏa thắng quá mức.
Nhiệt khách ở Vị: nhiệt nhập trung tiêu, gây phiền, nôn chua, đói nhiều.
Bạo nhiệt tiêu thước: nhiệt dữ làm hao tân dịch nhanh.
Đoạn 24
Nguyên văn
阳明之胜,清发于中,左胠脇痛溏泄,内为嗌塞,外发㿉疝,大凉肃杀,华英改容,毛虫乃殃,胸中不便,嗌塞而咳。
Hán Việt
Dương minh chi thắng, thanh phát vu trung, tả khư hiếp thống đường tiết, nội vi ách tắc, ngoại phát đồi sán, đại lương túc sát, hoa anh cải dung, mao trùng nãi ương, hung trung bất tiện, ách tắc nhi khái.
Dịch nghĩa
Khi Dương minh thắng, thanh khí phát ở trong, bên hông sườn trái đau, đại tiện lỏng. Ở trong thì họng tắc; ở ngoài phát đồi sán. Đại lương túc sát, hoa trái đổi sắc, loài có lông gặp tai. Người bệnh trong ngực không khoan khoái, họng tắc mà ho.
Giải thích từ ngữ
Dương minh thắng: Táo Kim, thanh lương thắng quá mức.
Thanh phát ở trong: khí thanh lạnh đi vào trong, gây đau sườn, tiêu lỏng, ho, họng tắc.
Đồi sán: chứng sán khí, đau kéo vùng bẹn, tinh hoàn hoặc thoát vị.
Đoạn 25
Nguyên văn
太阳之胜,凝凓且至,非时水冰,羽乃后化,痔疟发,寒厥入胃,则内生心痛,阴中乃疡,隐曲不利,互引阴股,筋肉拘苛,血脉凝泣,络满色变,或为血泄,皮肤否肿,腹满食减,热反上行,头项囟顶脑户中痛,目如脱寒入下焦,传为濡写。
Hán Việt
Thái dương chi thắng, ngưng lật thả chí, phi thời thủy băng, vũ nãi hậu hóa, trĩ ngược phát. Hàn quyết nhập Vị, tắc nội sinh Tâm thống, âm trung nãi dương, ẩn khúc bất lợi, hỗ dẫn âm cổ, cân nhục câu hà, huyết mạch ngưng sáp, lạc mãn sắc biến, hoặc vi huyết tiết, bì phu bĩ thũng, phúc mãn thực giảm. Nhiệt phản thượng hành, đầu hạng tín đỉnh não hộ trung thống, mục như thoát, hàn nhập hạ tiêu, truyền vi nhu tả.
Dịch nghĩa
Khi Thái dương thắng, khí ngưng lạnh rét buốt sắp đến, nước đóng băng trái thời, loài chim chậm hóa, bệnh trĩ và sốt rét phát. Hàn quyết nhập vào Vị thì bên trong sinh đau Tâm, trong âm phần sinh lở loét, vùng kín không lợi, đau kéo đến âm bộ và đùi trong. Gân thịt co cứng, huyết mạch ngưng sáp, lạc mạch đầy, sắc biến đổi; hoặc thành huyết tiết, da phù bĩ thũng, bụng đầy, ăn giảm.
Nhiệt lại đi ngược lên trên, đau ở đầu, gáy, thóp, đỉnh đầu, Não hộ, mắt như muốn rơi ra. Hàn nhập hạ tiêu, truyền thành nhu tả.
Giải thích từ ngữ
Thái dương thắng: Hàn Thủy thắng quá mức.
Hàn quyết nhập Vị: hàn khí nghịch nhập trung tiêu, gây đau Tâm, nôn, bụng đầy.
Huyết mạch ngưng sáp: hàn làm huyết mạch co, lưu thông không lợi.
Nhu tả: tiêu chảy lỏng do hàn thấp.
Đoạn 26
Nguyên văn
帝曰:治之柰何。歧伯曰:厥阴之胜,治以甘清,佐以苦辛,以酸写之。少阴之胜,治以辛寒,佐以苦咸,以甘写之。太阴之胜,治以咸热,佐以辛甘,以苦写之。少阳之胜,治以辛寒,佐以甘咸,以甘写之。阳明之胜,治以酸温,佐以辛甘,以苦泄之。太阳之胜,治以甘热,佐以辛酸,以咸写之。
Hán Việt
Đế viết: Trị chi nại hà?
Kỳ Bá viết: Quyết âm chi thắng, trị dĩ cam thanh, tá dĩ khổ tân, dĩ toan tả chi.
Thiếu âm chi thắng, trị dĩ tân hàn, tá dĩ khổ hàm, dĩ cam tả chi.
Thái âm chi thắng, trị dĩ hàm nhiệt, tá dĩ tân cam, dĩ khổ tả chi.
Thiếu dương chi thắng, trị dĩ tân hàn, tá dĩ cam hàm, dĩ cam tả chi.
Dương minh chi thắng, trị dĩ toan ôn, tá dĩ tân cam, dĩ khổ tiết chi.
Thái dương chi thắng, trị dĩ cam nhiệt, tá dĩ tân toan, dĩ hàm tả chi.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Trị các chứng ấy thế nào?
Kỳ Bá nói:
Quyết âm thắng, trị bằng vị ngọt mát, tá bằng vị đắng cay, dùng vị chua để tả.
Thiếu âm thắng, trị bằng vị cay lạnh, tá bằng vị đắng mặn, dùng vị ngọt để tả.
Thái âm thắng, trị bằng vị mặn nóng, tá bằng vị cay ngọt, dùng vị đắng để tả.
Thiếu dương thắng, trị bằng vị cay lạnh, tá bằng vị ngọt mặn, dùng vị ngọt để tả.
Dương minh thắng, trị bằng vị chua ấm, tá bằng vị cay ngọt, dùng vị đắng để tiết.
Thái dương thắng, trị bằng vị ngọt nóng, tá bằng vị cay chua, dùng vị mặn để tả.
Giải thích từ ngữ
Thắng thì tả: khí nào thắng quá mức thì dùng vị tương ứng để bình và tả.
Quyết âm dùng chua tả: Mộc uất phong thắng, chua thu và tả Mộc.
Thái dương dùng ngọt nóng: hàn thắng thì cần ôn, ngọt để hoãn cấp, bảo trung.
LỤC KHÍ CHI PHỤC
Sáu khí phục lại sau khi bị thắng
Đoạn 27
Nguyên văn
帝曰:六气之复何如。歧伯曰:悉乎哉问也。厥阴之复,少腹坚满,里急暴痛,偃木飞沙,倮虫不荣,厥心痛,汗发呕吐,饮食不入,入而复出,筋骨掉眩,清厥,甚则入脾,食痹而吐。冲阳绝,死不治。
Hán Việt
Đế viết: Lục khí chi phục hà như?
Kỳ Bá viết: Tất hồ tai vấn dã! Quyết âm chi phục, thiếu phúc kiên mãn, lý cấp bạo thống, yển mộc phi sa, lõa trùng bất vinh, quyết Tâm thống, hãn phát ẩu thổ, ẩm thực bất nhập, nhập nhi phục xuất, cân cốt điệu huyễn, thanh quyết, thậm tắc nhập Tỳ, thực tý nhi thổ. Xung dương tuyệt, tử bất trị.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Sáu khí phục lại thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Câu hỏi thật đầy đủ thay!
Khi Quyết âm phục, bụng dưới cứng đầy, bên trong co gấp đau dữ. Cây nghiêng, cát bay, loài trùng không lông không tươi tốt. Người bệnh quyết Tâm thống, phát mồ hôi, nôn mửa, ăn uống không vào, vào rồi lại nôn ra. Gân xương run lắc, chóng mặt, thanh quyết. Nặng thì nhập vào Tỳ, gây thực tý mà nôn. Mạch Xung dương tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Phục: khí bị thắng trước đó quay lại phản phục.
Quyết âm phục: Phong Mộc phục lại, thường động, đau gấp, nôn, chóng mặt.
Xung dương tuyệt: Vị khí tuyệt, bệnh nguy.
Đoạn 28
Nguyên văn
少阴之复,燠热内作,烦躁鼽嚏,少腹绞痛,火见燔焫嗌燥,分注时止,气动于左,上行于右,咳,皮肤痛,暴喑心痛郁冒不知人,乃洒淅恶寒振栗谵妄,寒已而热,渴而欲饮,少气骨痿隔肠不便,外为浮肿哕噫,赤气后化,流水不冰,热气大行,介虫不复,病痱胗疮疡痈疽痤痔,甚则入肺,咳而鼻渊。天府绝,死不治。
Dịch nghĩa
Khi Thiếu âm phục, uất nhiệt phát ở trong, phiền táo, chảy nước mũi, hắt hơi, bụng dưới đau quặn. Hỏa hiện ra như đốt cháy, họng khô, tiểu tiện từng đợt lúc thông lúc dừng. Khí động ở bên trái, rồi đi lên bên phải. Người bệnh ho, da đau, bỗng câm tiếng, đau Tâm, uất mạo không biết người; rồi sợ lạnh, rét run, nói mê. Hết lạnh thì nóng, khát muốn uống, ít khí, xương teo, cách trường không tiện; bên ngoài phù thũng, nấc ợ. Xích khí sau đó hóa, nước chảy không đóng băng, nhiệt khí đại hành, loài có vỏ không sinh phục. Bệnh phát thành phỉ chẩn, sang dương, ung thư, mụn nhọt, trĩ. Nặng thì nhập Phế, ho mà mũi chảy đục. Mạch Thiên phủ tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Thiếu âm phục: Quân hỏa phục lại, nhiệt bạo phát.
Bạo âm: đột ngột mất tiếng.
Tỵ uyên: mũi chảy đục lâu, xoang mũi ứ trọc.
Đoạn 29
Nguyên văn
太阴之复,湿变乃举,体重中满,食饮不化,阴气上厥,胸中不便,饮发于中,咳喘有声,大雨时行,鳞见于陆,头顶痛重,而掉瘛尤甚,呕而密默唾吐清液,甚则入肾,窍写无度。太溪绝,死不治。
Dịch nghĩa
Khi Thái âm phục, thấp biến nổi lên, thân thể nặng, trung tiêu đầy, ăn uống không hóa. Âm khí nghịch lên, trong ngực không khoan khoái, thủy ẩm phát ở trong, ho suyễn có tiếng. Mưa lớn đúng thời vận hành, loài có vảy xuất hiện trên đất. Đầu đỉnh đau nặng, run lắc co giật càng nặng. Nôn và lặng lẽ khạc nhổ nước trong. Nặng thì nhập Thận, các khiếu tiết ra không có chừng mực. Mạch Thái khê tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Thái âm phục: Thấp Thổ phục lại, thấp trọc nặng nề.
Ẩm phát ở trong: thủy ẩm đình ở trung tiêu, lên Phế thành ho suyễn.
Khiếu tả vô độ: các đường tiết dịch mất kiểm soát, có thể là tiểu tiện, đại tiện, tinh dịch, khí dịch đều suy.
Đoạn 30
Nguyên văn
少阳之复,大热将至,枯燥燔爇,介虫乃耗,惊瘛咳衄,心热烦躁,便数憎风,厥气上行,面如浮埃,目乃瞤瘛,火气内发,上为口糜呕逆,血溢血泄,发而为疟,恶寒鼓栗,寒极反热,嗌络焦槁,渴引水浆,色变黄赤,少气脉萎,化而为水,传为胕肿,甚则入肺,咳而血泄。尺泽绝,死不治。
Dịch nghĩa
Khi Thiếu dương phục, đại nhiệt sắp đến, khô táo và lửa đốt bốc lên, loài có vỏ hao tổn. Người bệnh kinh sợ, co giật, ho, chảy máu cam, Tâm nhiệt phiền táo, đại tiểu tiện nhiều lần, ghét gió, quyết khí đi lên, mặt như phủ bụi nổi, mắt máy động co giật. Hỏa khí phát bên trong, ở trên thành miệng lở, nôn nghịch, huyết tràn, huyết tiết. Phát ra thành sốt rét, sợ lạnh, run mạnh; hàn cực lại hóa nhiệt. Mạch lạc ở họng khô cháy, khát uống nước, sắc biến vàng đỏ, ít khí, mạch nuy. Hóa thành thủy, truyền thành phù thũng. Nặng thì nhập Phế, ho mà huyết tiết. Mạch Xích trạch tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Thiếu dương phục: Tướng hỏa phục lại, hỏa nhiệt dữ.
Hàn cực phản nhiệt: hàn đến cực lại hóa nhiệt, biểu hiện thắng phục.
Mạch nuy: mạch yếu mềm, khí suy sau nhiệt thiêu đốt.
Đoạn 31
Nguyên văn
阳明之复,清气大举,森木苍乾,毛虫乃厉,病生胠脇,气归于左,善太息,甚则心痛否满,腹胀而泄,呕苦咳哕烦心,病在鬲中头痛,甚则入肝,惊骇筋挛。太冲绝,死不治。
Dịch nghĩa
Khi Dương minh phục, thanh khí nổi lớn, cây rừng xanh mà khô, loài có lông bị dịch hại. Bệnh sinh ở vùng hông sườn, khí quy về bên trái, hay thở dài. Nặng thì đau Tâm, bĩ mãn, bụng trướng mà tiết tả, nôn ra đắng, ho, nấc, Tâm phiền. Bệnh ở trong hoành cách, đau đầu. Nặng thì nhập Can, kinh hãi, gân co rút. Mạch Thái xung tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Dương minh phục: Táo Kim phục lại, thanh táo mạnh.
Khí quy về trái: trái thường liên hệ Can Mộc, nên hông sườn trái, Can khí bị ảnh hưởng.
Thái xung tuyệt: Can khí tuyệt, bệnh nguy.
Đoạn 32
Nguyên văn
太阳之复,厥气上行,水凝雨冰,羽虫乃死,心胃生寒,胸膈不利,心痛否满,头痛善悲,时眩仆,食减腰脽反痛,屈伸不便,地裂冰坚,阳光不治,少腹控睾,引腰脊上冲心,唾出清水及为哕噫,甚则入心,善忘善悲。神门绝,死不治。
Dịch nghĩa
Khi Thái dương phục, quyết khí đi lên, nước ngưng, mưa thành băng, loài có cánh chết. Tâm và Vị sinh hàn, ngực hoành cách không lợi, đau Tâm, bĩ mãn, đau đầu, hay buồn, thỉnh thoảng chóng mặt ngã quỵ. Ăn giảm, lưng eo và xương cùng lại đau, co duỗi không tiện. Đất nứt, băng cứng, ánh dương không cai trị. Bụng dưới đau kéo tinh hoàn, dẫn lên lưng cột sống rồi xung lên Tâm, khạc nước trong, nấc ợ. Nặng thì nhập Tâm, hay quên, hay buồn. Mạch Thần môn tuyệt thì chết, không trị được.
Giải thích từ ngữ
Thái dương phục: Hàn Thủy phục lại, hàn quyết mạnh.
Tâm Vị sinh hàn: hàn thủy phạm Tâm Vị, gây đau Tâm, bĩ mãn, nấc ợ, khạc nước trong.
Thần môn tuyệt: Tâm khí, thần khí tuyệt, bệnh rất nguy.
Đoạn 33
Nguyên văn
帝曰:善。治之柰何。歧伯曰:厥阴之复,治以酸寒,佐以甘辛,以酸写之,以甘缓之。少阴之复,治以咸寒,佐以苦辛,以甘写之,以酸收之,辛苦发之,以咸耎之。太阴之复,治以苦热,佐以酸辛,以苦写之,燥之泄之。少阳之复,治以咸冷,佐以苦辛,以咸耎之,以酸收之,辛苦发之,发不远热,无犯温凉,少阴同法。阳明之复,治以辛温,佐以苦甘,以苦泄之,以苦下之,以酸补之。太阳之复,治以咸热,佐以甘辛,以苦坚之。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Trị chi nại hà?
Kỳ Bá viết: Quyết âm chi phục, trị dĩ toan hàn, tá dĩ cam tân, dĩ toan tả chi, dĩ cam hoãn chi.
Thiếu âm chi phục, trị dĩ hàm hàn, tá dĩ khổ tân, dĩ cam tả chi, dĩ toan thu chi, tân khổ phát chi, dĩ hàm nhuyễn chi.
Thái âm chi phục, trị dĩ khổ nhiệt, tá dĩ toan tân, dĩ khổ tả chi, táo chi tiết chi.
Thiếu dương chi phục, trị dĩ hàm lãnh, tá dĩ khổ tân, dĩ hàm nhuyễn chi, dĩ toan thu chi, tân khổ phát chi. Phát bất viễn nhiệt, vô phạm ôn lương, Thiếu âm đồng pháp.
Dương minh chi phục, trị dĩ tân ôn, tá dĩ khổ cam, dĩ khổ tiết chi, dĩ khổ hạ chi, dĩ toan bổ chi.
Thái dương chi phục, trị dĩ hàm nhiệt, tá dĩ cam tân, dĩ khổ kiên chi.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Trị thế nào?
Kỳ Bá nói:
Quyết âm phục, trị bằng vị chua lạnh, tá bằng vị ngọt cay, dùng vị chua để tả, dùng vị ngọt để hoãn.
Thiếu âm phục, trị bằng vị mặn lạnh, tá bằng vị đắng cay, dùng vị ngọt để tả, dùng vị chua để thu, dùng vị cay đắng để phát, dùng vị mặn để làm mềm.
Thái âm phục, trị bằng vị đắng nóng, tá bằng vị chua cay, dùng vị đắng để tả, làm táo và làm tiết ra.
Thiếu dương phục, trị bằng vị mặn lạnh, tá bằng vị đắng cay, dùng vị mặn để làm mềm, dùng vị chua để thu, dùng vị cay đắng để phát. Khi phát thì không xa nhiệt, nhưng không phạm ôn lương. Thiếu âm cũng cùng phép.
Dương minh phục, trị bằng vị cay ấm, tá bằng vị đắng ngọt, dùng vị đắng để tiết, dùng vị đắng để hạ, dùng vị chua để bổ.
Thái dương phục, trị bằng vị mặn nóng, tá bằng vị ngọt cay, dùng vị đắng để kiên.
Giải thích từ ngữ
Phục khác thắng: thắng là khí lấn trước; phục là khí bị đè quay lại. Phép trị phục thường phải vừa tả, vừa thu, vừa hoãn, vừa phát tùy khí.
Phát bất viễn nhiệt: khi cần phát tán thì không hoàn toàn xa nhiệt, nhưng phải tránh phạm quá vào khí ôn lương đang chủ.
Dĩ khổ kiên chi: vị đắng làm kiên, giúp giữ lại, làm chắc khí bị hư tán sau hàn phục.
Đoạn 34
Nguyên văn
治诸胜复,寒者热之,热者寒之,温者清之,清者温之,散者收之,抑者散之,燥者润之,急者缓之,坚者耎之,脆者坚之,衰者补之,强者写之,各安其气,必清必静,则病气衰去,归其所宗,此治之大体也。
Hán Việt
Trị chư thắng phục, hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi, ôn giả thanh chi, thanh giả ôn chi, tán giả thu chi, ức giả tán chi, táo giả nhuận chi, cấp giả hoãn chi, kiên giả nhuyễn chi, thúy giả kiên chi, suy giả bổ chi, cường giả tả chi. Các an kỳ khí, tất thanh tất tĩnh, tắc bệnh khí suy khứ, quy kỳ sở tông, thử trị chi đại thể dã.
Dịch nghĩa
Trị các chứng thắng phục:
Hàn thì làm nóng.
Nhiệt thì làm lạnh.
Ôn thì làm thanh.
Thanh thì làm ấm.
Tán thì thu lại.
Bị ức thì tán ra.
Táo thì làm nhuận.
Cấp thì làm hoãn.
Cứng thì làm mềm.
Mỏng giòn thì làm chắc.
Suy thì bổ.
Mạnh thì tả.
Mỗi khí đều khiến nó được yên. Nhất định phải thanh, nhất định phải tĩnh, thì bệnh khí suy rồi lui đi, trở về nơi gốc của nó. Đó là đại thể của phép trị.
Giải thích từ ngữ
Đây là đoạn tổng cương rất quan trọng của phép trị trong Nội Kinh.
Hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi: dùng đối trị khi chứng thật rõ.
Tán giả thu chi, ức giả tán chi: khí tán thì thu, khí bị uất ức thì phát tán.
Các an kỳ khí: điều trị không nhằm thắng bệnh một cách thô bạo, mà làm cho từng khí trở lại yên vị.
Nhận xét cho phần này
Đoạn “tà khí phản thắng”, “lục khí tương thắng” và “lục khí chi phục” là phần then chốt của thiên Chí Chân Yếu Đại Luận.
Tà khí phản thắng là khi khí trái thường lấn khí đang chủ. Khi ấy không thể chỉ nhìn tên khí chủ, mà phải nhìn khí nào đang thật sự thắng. Ví dụ phong đang chủ mà thanh khí lại thắng, thì phép trị phải nhắm vào thanh khí phản thắng ấy.
Lục khí tương thắng là nói khi một khí thắng quá mức, sẽ làm tạng bị khắc sinh bệnh. Quyết âm thắng thì phong Mộc động, hông sườn, Vị quản, nôn, tiết, tiểu đỏ. Thiếu âm, Thiếu dương thắng thì Hỏa nhiệt bốc, phiền, nôn, huyết động. Thái âm thắng thì thấp trệ, thân nặng, phù, tiết. Dương minh thắng thì thanh táo, họng tắc, ho, sườn đau. Thái dương thắng thì hàn quyết, đau Tâm, huyết mạch ngưng, hạ tiêu lạnh.
Lục khí chi phục lại sâu hơn. Khí bị thắng không mất hẳn, mà ẩn phục rồi quay lại. Khi phục, bệnh thường dữ hơn, biến hóa phức tạp hơn. Vì vậy phép trị không chỉ tả một chiều, mà phải biết thu, phát, hoãn, nhuyễn, kiên, nhuận, tiết, hạ, bổ, tả.
Câu cuối “hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi…” tuy nghe đơn giản, nhưng không phải là phép trị thô sơ. Nó là tổng kết sau khi đã phân biệt tư thiên, tại tuyền, thắng, phục, phản thắng, chủ khách, tiêu bản. Nghĩa là phải biết rõ bệnh cơ rồi mới dùng đối trị. Mục tiêu sau cùng là “các an kỳ khí”, khiến mỗi khí trở về yên vị, bệnh khí tự suy và lui.
TIẾP THEO: KHÍ Ở TRÊN DƯỚI VÀ ĐẠO THẮNG PHỤC
Đoạn 35
Nguyên văn
帝曰:善。气之上下,何谓也。歧伯曰:身半以上,其气三矣,天之分也,天气主之。身半以下,其气三矣,地之分也,地气主之。以名命气,以气命处,而言其病,半所谓天枢也。故上胜而下俱病者,以地名之,下胜而上俱病者,以天名之。所谓胜至报气,屈伏而未发也,复至则不以天地异名,皆如复气为法也。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Khí chi thượng hạ, hà vị dã?
Kỳ Bá viết: Thân bán dĩ thượng, kỳ khí tam hĩ, thiên chi phận dã, thiên khí chủ chi. Thân bán dĩ hạ, kỳ khí tam hĩ, địa chi phận dã, địa khí chủ chi. Dĩ danh mệnh khí, dĩ khí mệnh xứ, nhi ngôn kỳ bệnh, bán sở vị thiên khu dã. Cố thượng thắng nhi hạ câu bệnh giả, dĩ địa danh chi; hạ thắng nhi thượng câu bệnh giả, dĩ thiên danh chi. Sở vị thắng chí báo khí, khuất phục nhi vị phát dã; phục chí tắc bất dĩ thiên địa dị danh, giai như phục khí vi pháp dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Khí ở trên và dưới là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Từ nửa thân trở lên có ba khí, thuộc phần của trời, do thiên khí làm chủ. Từ nửa thân trở xuống cũng có ba khí, thuộc phần của đất, do địa khí làm chủ.
Lấy tên mà gọi khí, lấy khí mà định nơi chốn, rồi căn cứ vào đó để nói bệnh, nửa thân ấy gọi là Thiên khu.
Cho nên, nếu khí ở trên thắng mà cả phần dưới cũng bệnh, thì lấy tên của đất để gọi. Nếu khí ở dưới thắng mà cả phần trên cũng bệnh, thì lấy tên của trời để gọi.
Điều gọi là “thắng đến thì có khí báo lại”, là khí bị khuất phục mà chưa phát. Đến khi khí phục phát ra, thì không cần lấy trời đất mà đặt tên khác nhau nữa; đều theo phép của phục khí mà xử lý.
Giải thích từ ngữ
Thân bán dĩ thượng: nửa thân trên, thuộc thiên phận, khí ở trên chủ.
Thân bán dĩ hạ: nửa thân dưới, thuộc địa phận, khí ở dưới chủ.
Thiên khu: ở đây không chỉ là huyệt Thiên khu, mà là trục phân chia trên dưới, nơi trời đất trong thân người giao nhau.
Thắng chí báo khí: khí này thắng thì khí kia bị ép, sau sẽ báo phục lại.
Đoạn 36
Nguyên văn
帝曰:胜复之动,时有常乎,气有必乎。歧伯曰:时有常位,而气无必也。帝曰:愿闻其道也。歧伯曰:初气终三气,天气主之,胜之常也。四气尽终气,地气主之,复之常也。有胜则复,无胜则否。帝曰:善。复已而胜何如。歧伯曰:胜至则复,无常数也,衰乃止耳。复已而胜,不复则害,此伤生也。帝曰:复而反病何也。歧伯曰:居非其位,不相得也,大复其胜则主胜之,故反病也,所谓火燥热也。帝曰:治之何如。歧伯曰:夫气之胜也,微者随之,甚者制之,气之复也,和者平之,暴者夺之,皆随胜气,安其屈伏,无问其数,以平为期,此其道也。
Hán Việt
Đế viết: Thắng phục chi động, thời hữu thường hồ, khí hữu tất hồ?
Kỳ Bá viết: Thời hữu thường vị, nhi khí vô tất dã.
Đế viết: Nguyện văn kỳ đạo dã.
Kỳ Bá viết: Sơ khí chung tam khí, thiên khí chủ chi, thắng chi thường dã. Tứ khí tận chung khí, địa khí chủ chi, phục chi thường dã. Hữu thắng tắc phục, vô thắng tắc phủ.
Đế viết: Thiện. Phục dĩ nhi thắng hà như?
Kỳ Bá viết: Thắng chí tắc phục, vô thường số dã, suy nãi chỉ nhĩ. Phục dĩ nhi thắng, bất phục tắc hại, thử thương sinh dã.
Đế viết: Phục nhi phản bệnh hà dã?
Kỳ Bá viết: Cư phi kỳ vị, bất tương đắc dã. Đại phục kỳ thắng, tắc chủ thắng chi, cố phản bệnh dã, sở vị hỏa táo nhiệt dã.
Đế viết: Trị chi hà như?
Kỳ Bá viết: Phu khí chi thắng dã, vi giả tùy chi, thậm giả chế chi. Khí chi phục dã, hòa giả bình chi, bạo giả đoạt chi. Giai tùy thắng khí, an kỳ khuất phục, vô vấn kỳ số, dĩ bình vi kỳ, thử kỳ đạo dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Sự động của thắng phục có thời cố định chăng? Khí có nhất định phải như vậy chăng?
Kỳ Bá nói:
Thời có vị trí thường, nhưng khí thì không nhất định tuyệt đối.
Hoàng Đế nói:
Xin được nghe đạo ấy.
Kỳ Bá nói:
Từ sơ khí đến hết tam khí, thiên khí làm chủ, đó là thường lệ của thắng khí. Từ tứ khí đến hết chung khí, địa khí làm chủ, đó là thường lệ của phục khí. Có thắng thì có phục, không có thắng thì không phục.
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Sau khi phục rồi lại thắng thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Thắng đến thì phục theo sau, không có số lần cố định, khi khí suy thì mới dừng. Nếu đã phục rồi lại thắng mà không có phục nữa, thì thành hại, đó là làm thương sinh khí.
Hoàng Đế hỏi:
Vì sao phục lại làm bệnh?
Kỳ Bá nói:
Vì khí ở không đúng vị, không tương đắc với nhau. Nếu khí phục quá mạnh mà thắng lại khí chủ, thì sinh bệnh trái thường. Đó gọi là hỏa, táo, nhiệt.
Hoàng Đế hỏi:
Trị thế nào?
Kỳ Bá nói:
Khi khí thắng, nhẹ thì thuận theo, nặng thì chế nó. Khi khí phục, hòa thì bình nó, bạo thì đoạt nó. Đều phải theo khí đang thắng, làm yên cái khí bị khuất phục, không cần hỏi số lần thắng phục bao nhiêu, chỉ lấy bình hòa làm kỳ hạn. Đó là đạo trị.
Giải thích từ ngữ
Thời hữu thường vị: sáu bước khí có thứ tự thời gian nhất định.
Khí vô tất: khí thực tế có thể biến động, không máy móc.
Có thắng thì có phục: một khí lấn quá mức thì khí bị lấn sẽ có phản ứng phục lại.
Dĩ bình vi kỳ: lấy bình hòa làm mục tiêu, không trị quá tay.
CHỦ KHÁCH THẮNG PHỤC
Khách khí và chủ khí thắng nhau, bệnh chứng và phép trị
Đoạn 37
Nguyên văn
帝曰:善。客主之胜复柰何。歧伯曰:客主之气,胜而无复也。帝曰:其逆从何如。歧伯曰:主胜逆,客胜从,天之道也。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Khách chủ chi thắng phục nại hà?
Kỳ Bá viết: Khách chủ chi khí, thắng nhi vô phục dã.
Đế viết: Kỳ nghịch tòng hà như?
Kỳ Bá viết: Chủ thắng nghịch, khách thắng tòng, thiên chi đạo dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Khách khí và chủ khí thắng phục thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Khí khách và khí chủ chỉ có thắng, mà không có phục.
Hoàng Đế hỏi:
Nghịch và thuận của chúng ra sao?
Kỳ Bá nói:
Chủ khí thắng là nghịch; khách khí thắng là thuận. Đó là đạo của trời.
Giải thích từ ngữ
Chủ khí: khí cố định theo từng bước trong năm.
Khách khí: khí thay đổi theo năm, đến làm khách.
Chủ thắng nghịch, khách thắng thuận: trong vận khí học, khách khí đến theo thiên thời của năm nên khách thắng là thuận theo thiên đạo; chủ khí cũ thắng lại khách khí thì thành nghịch.
Đoạn 38
Nguyên văn
帝曰:其生病何如。歧伯曰:厥阴司天,客胜则耳鸣掉眩,甚则咳,主胜则胸脇痛,舌难以言。
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Chúng sinh bệnh như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Khi Quyết âm tư thiên, nếu khách khí thắng thì tai ù, run lắc, chóng mặt; nặng thì ho. Nếu chủ khí thắng thì ngực sườn đau, lưỡi khó nói.
Giải thích từ ngữ
Quyết âm tư thiên: Phong Mộc chủ ở trên.
Khách thắng: khí đến theo năm thắng, bệnh thiên về động, chóng mặt, tai ù.
Chủ thắng: khí cũ chống lại, bệnh thiên về ngực sườn và lưỡi.
Đoạn 39
Nguyên văn
少阴司天,客胜则鼽嚏颈项强,肩背瞀热,头痛少气发热耳聋目瞑,甚则胕肿血溢,疮疡咳喘,主胜则心热烦躁,甚则脇痛支满。
Dịch nghĩa
Khi Thiếu âm tư thiên, nếu khách khí thắng thì chảy nước mũi, hắt hơi, cổ gáy cứng, vai lưng mờ nặng và nóng, đau đầu, ít khí, phát sốt, tai điếc, mắt mờ; nặng thì phù thũng, huyết tràn, sang dương, ho suyễn. Nếu chủ khí thắng thì Tâm nhiệt, phiền táo; nặng thì đau sườn, chi thể đầy.
Giải thích từ ngữ
Thiếu âm tư thiên: Quân hỏa chủ ở trên.
Khách thắng thì Hỏa nhiệt động trên, liên hệ đầu mặt, cổ gáy, Phế, huyết.
Chủ thắng thì hỏa uất ở Tâm và sườn.
Đoạn 40
Nguyên văn
太阴司天,客胜则首面胕肿,呼吸气喘,主胜则胸腹满,食已而瞀。
Dịch nghĩa
Khi Thái âm tư thiên, nếu khách khí thắng thì đầu mặt phù thũng, hô hấp suyễn. Nếu chủ khí thắng thì ngực bụng đầy, ăn xong thì mờ nặng, choáng váng.
Giải thích từ ngữ
Thái âm tư thiên: Thấp Thổ chủ ở trên.
Phù đầu mặt, suyễn: thấp khí ở trên làm Phế khí không tuyên.
Ăn xong thì mờ nặng: thấp trệ trung tiêu, thanh dương không lên.
Đoạn 41
Nguyên văn
少阳司天,客胜则丹胗外发,及为丹熛疮疡,呕逆喉痹,头痛嗌肿,耳聋血溢,内为瘛瘲,主胜则胸满咳仰息,甚而有血,手热。
Dịch nghĩa
Khi Thiếu dương tư thiên, nếu khách khí thắng thì ban đỏ phát ra ngoài, có thể thành đan phiêu, sang dương; nôn nghịch, hầu tý, đau đầu, họng sưng, tai điếc, huyết tràn, bên trong thành co giật. Nếu chủ khí thắng thì ngực đầy, ho, phải ngửa lên mà thở; nặng thì có huyết, tay nóng.
Giải thích từ ngữ
Thiếu dương tư thiên: Tướng hỏa chủ ở trên.
Đan chẩn, đan phiêu: các chứng ban đỏ, nhiệt độc phát ra da.
Nội vi khiết túng: bên trong sinh co giật, kinh phong do hỏa nhiệt động.
Đoạn 42
Nguyên văn
阳明司天,清复内馀,则咳衂嗌塞,心鬲中热,咳不止而白血出者死。
Dịch nghĩa
Khi Dương minh tư thiên, nếu thanh khí phục lại còn dư ở trong, thì ho, chảy máu cam, họng tắc, trong Tâm và hoành cách nóng. Nếu ho không dứt mà ra huyết trắng thì chết.
Giải thích từ ngữ
Dương minh tư thiên: Táo Kim chủ ở trên.
Thanh phục nội dư: thanh táo quá mức còn ẩn ở trong, làm Phế bị bế.
Bạch huyết: cách nói cổ chỉ huyết sắc nhợt, khí huyết bại, là chứng nguy.
Đoạn 43
Nguyên văn
太阳司天,客胜则胸中不利,出清涕感寒则咳,主胜则喉嗌中鸣。
Dịch nghĩa
Khi Thái dương tư thiên, nếu khách khí thắng thì trong ngực không lợi, chảy nước mũi trong, gặp lạnh thì ho. Nếu chủ khí thắng thì trong họng có tiếng kêu.
Giải thích từ ngữ
Thái dương tư thiên: Hàn Thủy chủ ở trên.
Khách thắng: hàn khí phạm Phế, chảy mũi trong, ho khi gặp lạnh.
Hầu ách trung minh: khí ở họng không thông, có tiếng khò khè hoặc âm vang.
Đoạn 44
Nguyên văn
厥阴在泉,客胜则大关节不利,内为痉强拘瘛,外为不便,主胜则筋骨繇并,腰腹时痛。
Dịch nghĩa
Khi Quyết âm tại tuyền, nếu khách khí thắng thì các khớp lớn không lợi, bên trong thành co cứng, câu cấp, co giật; bên ngoài vận động không tiện. Nếu chủ khí thắng thì gân xương lay động, lưng và bụng thỉnh thoảng đau.
Giải thích từ ngữ
Quyết âm tại tuyền: Phong Mộc ở dưới.
Khớp lớn không lợi, co giật: phong động ở dưới ảnh hưởng cân mạch, khớp xương.
Đoạn 45
Nguyên văn
少阴在泉,客胜则腰痛尻股膝髀腨䯒足病,瞀热以酸,胕肿不能久立,溲便变,主胜则厥气上行,心痛发热,鬲中众痹皆作,发于胠脇魄汗不藏,四逆而起。
Dịch nghĩa
Khi Thiếu âm tại tuyền, nếu khách khí thắng thì đau lưng, đau mông, đùi, gối, háng, bắp chân, ống chân và bàn chân; mờ choáng, nóng, có cảm giác chua mỏi, phù thũng, không đứng lâu được, đại tiểu tiện biến đổi. Nếu chủ khí thắng thì quyết khí đi lên, đau Tâm, phát sốt, các chứng tý trong hoành cách đều phát; bệnh phát từ hông sườn, mồ hôi phách không tàng, tứ chi quyết lạnh rồi phát lên.
Giải thích từ ngữ
Thiếu âm tại tuyền: Quân hỏa ở dưới.
Đau lưng, mông, chân: khí tại tuyền thường ảnh hưởng hạ tiêu, thắt lưng, chân.
Phách hãn bất tàng: mồ hôi không giữ được, biểu thị Phế phách và vệ khí không kín.
Đoạn 46
Nguyên văn
太阴在泉,客胜则足痿下重,便溲不时,湿客下焦,发而濡写,及为肿隐曲之疾,主胜则寒气逆满,食饮不下,甚则为疝。
Dịch nghĩa
Khi Thái âm tại tuyền, nếu khách khí thắng thì chân mềm yếu, phần dưới nặng, đại tiểu tiện không đúng lúc. Thấp làm khách ở hạ tiêu, phát thành nhu tả, và thành các bệnh sưng ở vùng kín. Nếu chủ khí thắng thì hàn khí nghịch lên gây đầy, ăn uống không xuống; nặng thì thành sán.
Giải thích từ ngữ
Thái âm tại tuyền: Thấp Thổ ở dưới.
Túc nuy hạ trọng: chân yếu, phần dưới nặng, thường do thấp.
Ẩn khúc chi tật: bệnh ở vùng kín, vùng âm bộ.
Đoạn 47
Nguyên văn
少阳在泉,客胜则腰腹痛而反恶寒,甚则下白溺白,主胜则热反上行而客于心,心痛发热,格中而呕,少阴同候。
Dịch nghĩa
Khi Thiếu dương tại tuyền, nếu khách khí thắng thì lưng bụng đau mà lại sợ lạnh; nặng thì hạ ra chất trắng, tiểu tiện trắng. Nếu chủ khí thắng thì nhiệt lại đi lên mà làm khách ở Tâm, gây đau Tâm, phát sốt, cách trung bế tắc mà nôn. Thiếu âm cũng có dấu hiệu tương tự.
Giải thích từ ngữ
Thiếu dương tại tuyền: Tướng hỏa ở dưới.
Hạ bạch, niệu bạch: thấp hàn hoặc thấp trọc ở hạ tiêu.
Nhiệt phản thượng hành: Hỏa ở dưới bốc nghịch lên Tâm.
Đoạn 48
Nguyên văn
阳明在泉,客胜则清气动下,少腹坚满而数便写,主胜则腰重腹痛,少腹生寒下为鹜溏,则寒厥于肠,上冲胸中,甚则喘不能久立。
Dịch nghĩa
Khi Dương minh tại tuyền, nếu khách khí thắng thì thanh khí động xuống dưới, bụng dưới cứng đầy, thường đi ngoài lỏng. Nếu chủ khí thắng thì lưng nặng, bụng đau, bụng dưới sinh hàn, đi ngoài phân lỏng như vịt. Hàn quyết ở ruột, xung lên trong ngực; nặng thì suyễn, không đứng lâu được.
Giải thích từ ngữ
Dương minh tại tuyền: Táo Kim, thanh khí ở dưới.
Thanh khí động hạ: khí thanh lạnh đi xuống, làm hạ tiêu và ruột bị lạnh.
Vụ đường: phân lỏng như phân vịt, thường chỉ hàn thấp tiết tả.
Đoạn 49
Nguyên văn
太阳在泉,寒复内馀,则腰尻痛屈伸不利,股胫足膝中痛。
Dịch nghĩa
Khi Thái dương tại tuyền, nếu hàn phục còn dư ở trong, thì lưng và xương cùng đau, co duỗi không lợi, đùi, ống chân, bàn chân và trong gối đều đau.
Giải thích từ ngữ
Thái dương tại tuyền: Hàn Thủy ở dưới.
Hàn phục nội dư: hàn khí phục lại và còn dư bên trong, thường đau vùng lưng, xương cùng, chân gối.
Đoạn 50
Nguyên văn
帝曰:善。治之柰何。歧伯曰:高者抑之,下者举之,有馀折之,不足补之,佐以所利,和以所宜,必安其主客,适其寒温,同者逆之,异者从之。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Trị chi nại hà?
Kỳ Bá viết: Cao giả ức chi, hạ giả cử chi, hữu dư chiết chi, bất túc bổ chi, tá dĩ sở lợi, hòa dĩ sở nghi, tất an kỳ chủ khách, thích kỳ hàn ôn, đồng giả nghịch chi, dị giả tòng chi.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Trị thế nào?
Kỳ Bá nói:
Cái ở cao thì ức chế xuống; cái ở thấp thì nâng lên. Hữu dư thì bẻ bớt; bất túc thì bổ thêm. Tá bằng điều có lợi, hòa bằng điều thích hợp. Nhất định phải làm yên chủ khí và khách khí, điều chỉnh hàn ôn cho thích đáng. Khí cùng loại thì trị nghịch; khí khác loại thì trị thuận.
Giải thích từ ngữ
Cao giả ức chi: bệnh khí bốc lên cao thì hạ xuống, bình xuống.
Hạ giả cử chi: khí hãm xuống thì nâng lên.
Đồng giả nghịch chi: khí bệnh và khí thời cùng loại, phải dùng phép đối nghịch để chế bớt.
Dị giả tòng chi: khí bệnh khác khí thời, có thể thuận theo mà điều hòa.
CHÍNH VỊ VÀ NGŨ VỊ BỔ TẢ
Đoạn 51
Nguyên văn
帝曰:治寒以热,治热以寒,气相得者逆之,不相得者从之,余以知之矣。其于正味何如。歧伯曰:木位之主,其写以酸,其补以辛。火位之主,其写以甘,其补以咸。土位之主,其写以苦,其补以甘。金位之主,其写以辛,其补以酸。水位之主,其写以咸,其补以苦。
Hán Việt
Đế viết: Trị hàn dĩ nhiệt, trị nhiệt dĩ hàn, khí tương đắc giả nghịch chi, bất tương đắc giả tòng chi, dư dĩ tri chi hĩ. Kỳ ư chính vị hà như?
Kỳ Bá viết: Mộc vị chi chủ, kỳ tả dĩ toan, kỳ bổ dĩ tân. Hỏa vị chi chủ, kỳ tả dĩ cam, kỳ bổ dĩ hàm. Thổ vị chi chủ, kỳ tả dĩ khổ, kỳ bổ dĩ cam. Kim vị chi chủ, kỳ tả dĩ tân, kỳ bổ dĩ toan. Thủy vị chi chủ, kỳ tả dĩ hàm, kỳ bổ dĩ khổ.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Trị hàn bằng nhiệt, trị nhiệt bằng hàn; khí tương đắc thì trị nghịch, khí không tương đắc thì trị thuận, điều ấy ta đã biết. Còn chính vị và ngũ vị thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Chủ của vị Mộc, tả bằng vị chua, bổ bằng vị cay.
Chủ của vị Hỏa, tả bằng vị ngọt, bổ bằng vị mặn.
Chủ của vị Thổ, tả bằng vị đắng, bổ bằng vị ngọt.
Chủ của vị Kim, tả bằng vị cay, bổ bằng vị chua.
Chủ của vị Thủy, tả bằng vị mặn, bổ bằng vị đắng.
Giải thích từ ngữ
Chính vị: vị trí chính của ngũ hành trong vận khí.
Tả bằng vị của hành mình: như Mộc tả bằng chua, Kim tả bằng cay, Thủy tả bằng mặn.
Bổ bằng vị có tác dụng điều hành tương ứng: đây là quy luật đặc biệt trong vận khí, không hoàn toàn giống cách nói thông thường “ngũ vị nhập ngũ tạng”.
Đoạn 52
Nguyên văn
厥阴之客,以辛补之,以酸写之,以甘缓之。少阴之客,以咸补之,以甘写之,以咸收之。太阴之客,以甘补之,以苦写之,以甘缓之。少阳之客,以咸补之,以甘写之,以咸耎之。阳明之客,以酸补之,以辛写之,以苦泄之。太阳之客,以苦补之,以咸写之,以苦坚之,以辛润之,开发腠理,致津液通气也。
Hán Việt
Quyết âm chi khách, dĩ tân bổ chi, dĩ toan tả chi, dĩ cam hoãn chi.
Thiếu âm chi khách, dĩ hàm bổ chi, dĩ cam tả chi, dĩ hàm thu chi.
Thái âm chi khách, dĩ cam bổ chi, dĩ khổ tả chi, dĩ cam hoãn chi.
Thiếu dương chi khách, dĩ hàm bổ chi, dĩ cam tả chi, dĩ hàm nhuyễn chi.
Dương minh chi khách, dĩ toan bổ chi, dĩ tân tả chi, dĩ khổ tiết chi.
Thái dương chi khách, dĩ khổ bổ chi, dĩ hàm tả chi, dĩ khổ kiên chi, dĩ tân nhuận chi, khai phát tấu lý, trí tân dịch thông khí dã.
Dịch nghĩa
Khách khí Quyết âm thì dùng vị cay để bổ, dùng vị chua để tả, dùng vị ngọt để hoãn.
Khách khí Thiếu âm thì dùng vị mặn để bổ, dùng vị ngọt để tả, dùng vị mặn để thu.
Khách khí Thái âm thì dùng vị ngọt để bổ, dùng vị đắng để tả, dùng vị ngọt để hoãn.
Khách khí Thiếu dương thì dùng vị mặn để bổ, dùng vị ngọt để tả, dùng vị mặn để làm mềm.
Khách khí Dương minh thì dùng vị chua để bổ, dùng vị cay để tả, dùng vị đắng để tiết.
Khách khí Thái dương thì dùng vị đắng để bổ, dùng vị mặn để tả, dùng vị đắng để làm chắc, dùng vị cay để nhuận, khai phát tấu lý, khiến tân dịch đến và khí được thông.
Giải thích từ ngữ
Khách khí: khí đến theo năm, không cố định như chủ khí.
Hoãn: làm thư hoãn, giảm cấp bách.
Nhuyễn: làm mềm chỗ cứng, kết.
Kiên: làm chắc, giữ lại, chống tán loạn.
Khai phát tấu lý: mở đường ngoài da để khí và tân dịch thông.
ÂM DƯƠNG CHI TAM, PHƯƠNG CHẾ LỚN NHỎ
Đoạn 53
Nguyên văn
帝曰:善。愿闻阴阳之三也何谓。歧伯曰:气有多少,异用也。帝曰:阳明何谓也。歧伯曰:两阳合明也。帝曰:厥阴何也。歧伯曰:两阴交尽也。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Nguyện văn âm dương chi tam dã hà vị?
Kỳ Bá viết: Khí hữu đa thiểu, dị dụng dã.
Đế viết: Dương minh hà vị dã?
Kỳ Bá viết: Lưỡng dương hợp minh dã.
Đế viết: Quyết âm hà dã?
Kỳ Bá viết: Lưỡng âm giao tận dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Xin được nghe “ba âm ba dương” là gì?
Kỳ Bá nói:
Khí có nhiều ít khác nhau, nên công dụng cũng khác.
Hoàng Đế hỏi:
Dương minh là gì?
Kỳ Bá nói:
Là hai dương hợp lại mà sáng rõ.
Hoàng Đế hỏi:
Quyết âm là gì?
Kỳ Bá nói:
Là hai âm giao nhau đến tận cùng.
Giải thích từ ngữ
Tam âm tam dương: Thái dương, Dương minh, Thiếu dương; Thái âm, Thiếu âm, Quyết âm.
Dương minh: “hai dương hợp minh”, dương khí sung mà sáng.
Quyết âm: “hai âm giao tận”, âm đến chỗ tận, rồi dương có thể sinh.
Đoạn 54
Nguyên văn
帝曰:气有多少,病有盛衰,治有缓急,方有大小,愿闻其约柰何。歧伯曰:气有高下,病有远近,证有中外,治有轻重,适其至所为故也。《大要》曰:君一臣二,奇之制也,君二臣四,偶之制也,君二臣三,奇之制也,君二臣六,偶之制也。故曰:近者奇之,远者偶之,汗者不以奇,下者不以偶,补上治上,制以缓,补下治下,制以急,急则气味厚,缓则气味薄,适其至所,此之谓也。
Hán Việt
Đế viết: Khí hữu đa thiểu, bệnh hữu thịnh suy, trị hữu hoãn cấp, phương hữu đại tiểu, nguyện văn kỳ ước nại hà?
Kỳ Bá viết: Khí hữu cao hạ, bệnh hữu viễn cận, chứng hữu trung ngoại, trị hữu khinh trọng, thích kỳ chí sở vi cố dã.
Đại Yếu viết: Quân nhất thần nhị, kỳ chi chế dã; quân nhị thần tứ, ngẫu chi chế dã; quân nhị thần tam, kỳ chi chế dã; quân nhị thần lục, ngẫu chi chế dã.
Cố viết: Cận giả kỳ chi, viễn giả ngẫu chi; hãn giả bất dĩ kỳ, hạ giả bất dĩ ngẫu. Bổ thượng trị thượng, chế dĩ hoãn; bổ hạ trị hạ, chế dĩ cấp. Cấp tắc khí vị hậu, hoãn tắc khí vị bạc. Thích kỳ chí sở, thử chi vị dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Khí có nhiều ít, bệnh có thịnh suy, trị có hoãn cấp, phương có lớn nhỏ. Xin được nghe điều ước lược của chúng là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Khí có cao thấp, bệnh có xa gần, chứng có trong ngoài, trị có nhẹ nặng, đều phải thích hợp với nơi bệnh đến.
Sách Đại Yếu nói:
Một quân, hai thần là chế phương số lẻ.
Hai quân, bốn thần là chế phương số chẵn.
Hai quân, ba thần là chế phương số lẻ.
Hai quân, sáu thần là chế phương số chẵn.
Cho nên nói: bệnh gần thì dùng phương lẻ; bệnh xa thì dùng phương chẵn. Phép phát hãn không dùng phương lẻ; phép công hạ không dùng phương chẵn.
Bổ phần trên, trị phần trên thì chế phương chậm. Bổ phần dưới, trị phần dưới thì chế phương gấp. Gấp thì khí vị dày mạnh; chậm thì khí vị mỏng nhẹ. Làm cho phù hợp nơi bệnh đến, chính là nghĩa ấy.
Giải thích từ ngữ
Quân, thần: vị chủ và vị phụ trong phương thuốc.
Kỳ, ngẫu: số lẻ, số chẵn, chỉ cách cấu thành phương.
Bệnh gần, bệnh xa: gần có thể hiểu là bệnh ở biểu, ở trên, ở nông; xa là bệnh ở lý, ở dưới, ở sâu.
Khí vị hậu, bạc: thuốc mạnh dày hay nhẹ mỏng tùy bệnh sâu nông, cấp hoãn.
Đoạn 55
Nguyên văn
病所远,而中道气味之者食而过之,无越其制度也。是故平气之道,近而奇偶,制小其服也。远而奇偶,制大其服也。大则数少,小则数多。多则九之,少则二之。奇之不去则偶之,是谓重方。偶之不去,则反佐以取之,所谓寒热温凉反从其病也。
Hán Việt
Bệnh sở viễn, nhi trung đạo khí vị chi giả, thực nhi quá chi, vô việt kỳ chế độ dã. Thị cố bình khí chi đạo, cận nhi kỳ ngẫu, chế tiểu kỳ phục dã; viễn nhi kỳ ngẫu, chế đại kỳ phục dã. Đại tắc số thiểu, tiểu tắc số đa. Đa tắc cửu chi, thiểu tắc nhị chi. Kỳ chi bất khứ tắc ngẫu chi, thị vị trùng phương. Ngẫu chi bất khứ, tắc phản tá dĩ thủ chi, sở vị hàn nhiệt ôn lương phản tòng kỳ bệnh dã.
Dịch nghĩa
Nếu nơi bệnh ở xa, mà khí vị của thuốc giữa đường đã tác động, thì dùng ăn uống để đưa thuốc đi qua, không được vượt chế độ của nó.
Vì vậy, đạo bình khí là: bệnh gần mà dùng kỳ hoặc ngẫu thì chế liều nhỏ. Bệnh xa mà dùng kỳ hoặc ngẫu thì chế liều lớn.
Liều lớn thì số lần dùng ít; liều nhỏ thì số lần dùng nhiều. Dùng nhiều thì đến chín lần, dùng ít thì hai lần.
Dùng phương lẻ mà bệnh không đi, thì dùng phương chẵn, gọi là trùng phương. Dùng phương chẵn mà bệnh không đi, thì dùng phản tá để lấy bệnh. Đó là phép hàn, nhiệt, ôn, lương có khi phải phản mà thuận theo bệnh.
Giải thích từ ngữ
Thực nhi quá chi: dùng ăn uống để dẫn thuốc qua nơi cần đến, tránh thuốc tác động quá sớm.
Trùng phương: thay đổi hoặc tăng tầng phương pháp khi phương trước không đủ.
Phản tá: dùng vị hoặc phép trái với chủ trị để giúp thuốc vào đúng bệnh, tránh bị bệnh khí chống lại.
Hàn nhiệt ôn lương phản tòng kỳ bệnh: có khi dùng thuốc theo biểu hiện bệnh để dẫn dụ, nhưng mục đích cuối vẫn là điều chính khí.
Đoạn 56
Nguyên văn
帝曰:善。病生于本,余知之矣。生于标者,治之柰何。歧伯曰:病反其本,得标之病,治反其本,得标之方。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Bệnh sinh vu bản, dư tri chi hĩ. Sinh vu tiêu giả, trị chi nại hà?
Kỳ Bá viết: Bệnh phản kỳ bản, đắc tiêu chi bệnh; trị phản kỳ bản, đắc tiêu chi phương.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Bệnh sinh từ bản, ta đã biết rồi. Nếu bệnh sinh từ tiêu thì trị thế nào?
Kỳ Bá nói:
Bệnh trái với bản mà biểu hiện ở tiêu, thì nhận là bệnh của tiêu. Phép trị trái với bản, thì được phương trị của tiêu.
Giải thích từ ngữ
Bản: gốc, khí chủ, nguyên nhân sâu.
Tiêu: ngọn, biểu hiện hiện tại, phần bệnh đang lộ ra.
Bệnh sinh ở tiêu: tuy gốc ở một khí, nhưng biểu hiện hiện thời thuộc khí khác hoặc ở phần ngọn.
Trị tiêu: khi tiêu chứng cấp hoặc rõ, phải theo tiêu mà trị, không chấp cứng vào bản.
Nhận xét tạm phần này
Phần này đi từ thắng phục sang chủ khách, rồi chuyển sang phép lập phương. Đây là chỗ rất hay của Nội Kinh: sau khi nói khí trời đất, sách liền kéo về cách dùng thuốc, dùng vị, lớn nhỏ, hoãn cấp.
Về thắng phục, điểm chính là “có thắng thì có phục”. Khí bị ép không mất đi, mà khuất phục chờ thời. Vì vậy bệnh không chỉ nhìn một lần phát, mà phải nhìn cả thế sau đó. Khí thắng nhẹ thì thuận theo, nặng thì chế; khí phục hòa thì bình, bạo thì đoạt. Mục tiêu vẫn là bình.
Về chủ khách, sách nói “chủ thắng nghịch, khách thắng thuận”. Khách khí là khí đến theo năm, nếu nó thắng thì còn thuận thiên thời. Chủ khí thắng lại khách khí thì dễ thành nghịch. Vì vậy trị bệnh phải “an kỳ chủ khách”, làm yên cả khí chủ và khí khách, không thiên lệch một bên.
Về ngũ vị bổ tả, thiên này đưa ra phép rất chặt: Mộc tả bằng chua, bổ bằng cay; Hỏa tả bằng ngọt, bổ bằng mặn; Thổ tả bằng đắng, bổ bằng ngọt; Kim tả bằng cay, bổ bằng chua; Thủy tả bằng mặn, bổ bằng đắng. Đây là quy luật vận khí, khi dùng cần đặt trong bối cảnh của khí chủ, khách khí, thắng phục, không nên tách riêng mà dùng máy móc.
Về lập phương, Nội Kinh nói bệnh có gần xa, trong ngoài, trên dưới, nên phương có lớn nhỏ, hoãn cấp, kỳ ngẫu. Bệnh ở trên dùng phép chậm, bệnh ở dưới dùng phép gấp; bệnh sâu xa thì liều lớn nhưng số lần ít, bệnh gần nông thì liều nhỏ mà số lần nhiều. Nếu một phép không thông, có thể dùng trùng phương hoặc phản tá. Đây là cách nhìn rất linh hoạt.
Sau cùng, câu “bệnh sinh ở bản” và “bệnh sinh ở tiêu” mở đường cho phần sau về tiêu bản. Ý chính là: biết gốc rất quan trọng, nhưng khi ngọn đang thành bệnh cấp hoặc biểu hiện chủ yếu, thì cũng phải biết theo tiêu mà trị. Không chấp bản, không bỏ tiêu, đó mới là chỗ tinh tế.
LỤC KHÍ TIÊU BẢN
Sáu khí có khí theo bản, theo tiêu bản, hoặc theo trung khí
Đoạn 57
Nguyên văn
帝曰:六气标本,所从不同,柰何。歧伯曰:气有从本者,有从标本者,有不从标本者也。帝曰:愿卒闻之。歧伯曰:少阳太阴从本,少阴太阳从本从标,阳明厥阴不从标本从乎中也。故从本者,化生于本,从标本者,有标本之化,从中者,以中气为化也。
Hán Việt
Đế viết: Lục khí tiêu bản, sở tòng bất đồng, nại hà?
Kỳ Bá viết: Khí hữu tòng bản giả, hữu tòng tiêu bản giả, hữu bất tòng tiêu bản giả dã.
Đế viết: Nguyện tốt văn chi.
Kỳ Bá viết: Thiếu dương, Thái âm tòng bản; Thiếu âm, Thái dương tòng bản tòng tiêu; Dương minh, Quyết âm bất tòng tiêu bản, tòng hồ trung dã.
Cố tòng bản giả, hóa sinh vu bản; tòng tiêu bản giả, hữu tiêu bản chi hóa; tòng trung giả, dĩ trung khí vi hóa dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Tiêu bản của sáu khí, chỗ theo không giống nhau, là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Có khí theo bản, có khí theo cả tiêu và bản, có khí không theo tiêu bản mà theo trung khí.
Hoàng Đế nói:
Xin được nghe đầy đủ.
Kỳ Bá nói:
Thiếu dương và Thái âm theo bản.
Thiếu âm và Thái dương vừa theo bản vừa theo tiêu.
Dương minh và Quyết âm không theo tiêu bản, mà theo trung khí.
Cho nên, khí theo bản thì sự hóa sinh ra từ bản. Khí theo tiêu bản thì có sự hóa của cả tiêu và bản. Khí theo trung thì lấy trung khí làm sự hóa.
Giải thích từ ngữ
Tiêu bản: bản là gốc khí, tiêu là biểu hiện ở ngọn, ở vị trí phát lộ ra ngoài.
Trung khí: khí ở giữa, là cầu nối điều hòa tiêu và bản. Với Dương minh, Quyết âm, nhiều khi phải xét trung khí mới hiểu được bệnh.
Thiếu dương, Thái âm theo bản: khi xét bệnh của hai khí này, trọng tâm ở bản khí.
Thiếu âm, Thái dương theo cả tiêu bản: bệnh có thể hiện cả gốc lẫn ngọn, phải xét hai mặt.
Dương minh, Quyết âm theo trung khí: không thể chỉ nhìn biểu hiện bên ngoài hoặc gốc khí, mà phải xét khí trung gian đang hóa bệnh.
Đoạn 58
Nguyên văn
帝曰:脉从而病反者,其诊何如。歧伯曰:脉至而从,按之不鼓,诸阳皆然。帝曰:诸阴之反,其脉何如。歧伯曰:脉至而从,按之鼓甚而盛也。
Hán Việt
Đế viết: Mạch tòng nhi bệnh phản giả, kỳ chẩn hà như?
Kỳ Bá viết: Mạch chí nhi tòng, án chi bất cổ, chư dương giai nhiên.
Đế viết: Chư âm chi phản, kỳ mạch hà như?
Kỳ Bá viết: Mạch chí nhi tòng, án chi cổ thậm nhi thịnh dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Mạch có vẻ thuận theo, mà bệnh lại trái ngược, thì chẩn thế nào?
Kỳ Bá nói:
Mạch đến có vẻ thuận, nhưng ấn vào không có sức bật, các chứng dương đều như vậy.
Hoàng Đế hỏi:
Các chứng âm mà phản lại thì mạch thế nào?
Kỳ Bá nói:
Mạch đến có vẻ thuận, nhưng ấn vào thì bật mạnh và thịnh.
Giải thích từ ngữ
Mạch tòng bệnh phản: mạch nhìn qua có vẻ thuận với bệnh, nhưng thực chất bệnh cơ lại trái.
Ấn vào không cổ: mạch không có sức bật, thường là dương biểu hiện mà bên trong hư.
Ấn vào cổ thậm mà thịnh: mạch có sức bật mạnh khi ấn sâu, có thể là âm chứng bên ngoài nhưng bên trong có thịnh thực hoặc uất nhiệt.
Đoạn 59
Nguyên văn
是故百病之起,有生于本者,有生于摽者,有生于中气者,有取本而得者,有取摽而得者,有取中气而得者,有取摽本而得者,有逆取而得者,有从取而得者。逆,正顺也。若顺,逆也。
Hán Việt
Thị cố bách bệnh chi khởi, hữu sinh vu bản giả, hữu sinh vu tiêu giả, hữu sinh vu trung khí giả; hữu thủ bản nhi đắc giả, hữu thủ tiêu nhi đắc giả, hữu thủ trung khí nhi đắc giả, hữu thủ tiêu bản nhi đắc giả, hữu nghịch thủ nhi đắc giả, hữu tòng thủ nhi đắc giả. Nghịch, chính thuận dã. Nhược thuận, nghịch dã.
Dịch nghĩa
Vì vậy, trăm bệnh khởi lên: có bệnh sinh từ bản, có bệnh sinh từ tiêu, có bệnh sinh từ trung khí.
Khi trị: có trường hợp lấy bản mà được, có trường hợp lấy tiêu mà được, có trường hợp lấy trung khí mà được, có trường hợp lấy cả tiêu bản mà được, có trường hợp dùng phép nghịch mà được, có trường hợp dùng phép tòng mà được.
Nghịch mà đúng thì chính là thuận. Nếu tưởng là thuận mà sai, thì lại là nghịch.
Giải thích từ ngữ
Lấy bản mà trị: trị vào gốc khí.
Lấy tiêu mà trị: trị vào biểu hiện đang cấp hoặc đang chủ yếu.
Lấy trung khí mà trị: điều khí trung gian, nhất là khi tiêu bản không giải thích hết bệnh.
Nghịch mà chính thuận: dùng phép đối trị có vẻ trái với biểu hiện ngoài, nhưng đúng bệnh cơ thì lại là thuận đạo.
Thuận mà nghịch: thuận theo biểu hiện ngoài nhưng sai bệnh cơ, thành trị nghịch.
Đoạn 60
Nguyên văn
故曰:知摽与本,用之不殆,明知逆顺,正行无问。此之谓也。不知是者,不足以言诊,足以乱经。故《大要》曰:粗工嘻嘻,以为可知,言热未已,寒病复始,同气异形,迷诊乱经,此之谓也。
Hán Việt
Cố viết: Tri tiêu dữ bản, dụng chi bất đãi; minh tri nghịch thuận, chính hành vô vấn. Thử chi vị dã. Bất tri thị giả, bất túc dĩ ngôn chẩn, túc dĩ loạn kinh.
Cố Đại Yếu viết: Thô công hy hy, dĩ vi khả tri, ngôn nhiệt vị dĩ, hàn bệnh phục thủy, đồng khí dị hình, mê chẩn loạn kinh, thử chi vị dã.
Dịch nghĩa
Cho nên nói: biết tiêu và bản thì dùng phép trị không nguy. Hiểu rõ nghịch và thuận thì cứ chính đáng mà làm, không còn nghi ngại. Chính là nghĩa ấy.
Người không biết điều này thì không đủ để bàn chẩn bệnh, chỉ đủ làm loạn kinh điển.
Cho nên sách Đại Yếu nói: thầy thuốc thô sơ cười cợt, tự cho là đã biết. Vừa nói bệnh nhiệt chưa xong thì bệnh hàn lại bắt đầu. Cùng một khí mà hình chứng khác nhau, khiến chẩn đoán mê lầm, làm loạn kinh pháp. Chính là nói điều này.
Giải thích từ ngữ
Dụng chi bất đãi: dùng phép trị mà không nguy hại.
Đồng khí dị hình: cùng một loại khí bệnh, nhưng biểu hiện khác nhau tùy tiêu, bản, trung khí, thắng phục, chủ khách.
Thô công: người làm thuốc còn thô, chưa hiểu tinh vi của bệnh cơ.
Đoạn 61
Nguyên văn
夫标本之道,要而博,小而大,可以言一而知百病之害,言摽与本,易而勿损,察本与摽,气可令调,明知胜复,为万民式,天之道毕矣。
Hán Việt
Phù tiêu bản chi đạo, yếu nhi bác, tiểu nhi đại, khả dĩ ngôn nhất nhi tri bách bệnh chi hại. Ngôn tiêu dữ bản, dị nhi vật tổn; sát bản dữ tiêu, khí khả linh điều; minh tri thắng phục, vi vạn dân thức, thiên chi đạo tất hĩ.
Dịch nghĩa
Đạo của tiêu bản vừa cốt yếu vừa rộng lớn, nhìn thì nhỏ mà nghĩa rất lớn. Có thể nói một điều mà biết được tai hại của trăm bệnh.
Nói rõ tiêu và bản thì dễ mà không làm tổn hại. Xét kỹ bản và tiêu thì có thể khiến khí được điều hòa. Hiểu rõ thắng phục thì có thể làm khuôn phép cho muôn dân. Đạo của trời đến đây là đầy đủ.
Giải thích từ ngữ
Yếu nhi bác: cốt yếu mà bao quát rộng.
Tiểu nhi đại: một nguyên tắc nhỏ nhưng ứng dụng rất lớn.
Thiên chi đạo tất: đạo trời trong trị bệnh, xét đến tiêu bản và thắng phục thì đã gần trọn vẹn.
THẮNG PHỤC SỚM MUỘN
Khí thắng và khí phục có khi đến sớm, đến muộn, cần xét thời vị
Đoạn 62
Nguyên văn
帝曰:胜复之变,早晏何如。歧伯曰:夫所胜者,胜至已病,病已愠愠,而复已萌也。夫所复者,胜尽而起,得位而甚,胜有微甚,复有少多,胜和而和,胜虚而虚,天之常也。
Hán Việt
Đế viết: Thắng phục chi biến, tảo yến hà như?
Kỳ Bá viết: Phù sở thắng giả, thắng chí dĩ bệnh, bệnh dĩ uẩn uẩn, nhi phục dĩ manh dã. Phù sở phục giả, thắng tận nhi khởi, đắc vị nhi thậm. Thắng hữu vi thậm, phục hữu thiểu đa; thắng hòa nhi hòa, thắng hư nhi hư, thiên chi thường dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Biến hóa của thắng phục đến sớm hay muộn thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Khí bị thắng, khi khí thắng đến thì đã sinh bệnh. Bệnh đã âm ỉ uất uất, mà khí phục cũng đã nảy mầm.
Còn khí phục thì khi khí thắng đã hết mới khởi lên; khi được đúng vị thì càng mạnh. Thắng có nhẹ có nặng, phục có ít có nhiều. Thắng hòa thì phục cũng hòa, thắng hư thì phục cũng hư. Đó là thường đạo của trời.
Giải thích từ ngữ
Bệnh đã uẩn uẩn: bệnh âm ỉ, uất lại chưa phát rõ.
Phục đã manh: khí phản phục đã bắt đầu nảy mầm trong lúc khí thắng còn đang làm bệnh.
Đắc vị nhi thậm: khi khí phục gặp đúng thời vị, sức phục càng mạnh.
Đoạn 63
Nguyên văn
帝曰:胜复之作,动不当位,或后时而至,其故何也。歧伯曰:夫气之生,与其化衰盛异也。寒暑温凉盛衰之用,其在四维。故阳之动,始于温,盛于暑,阴之动,始于清,盛于寒。春夏秋冬,各差其分。
Hán Việt
Đế viết: Thắng phục chi tác, động bất đương vị, hoặc hậu thời nhi chí, kỳ cố hà dã?
Kỳ Bá viết: Phù khí chi sinh, dữ kỳ hóa suy thịnh dị dã. Hàn thử ôn lương thịnh suy chi dụng, kỳ tại tứ duy. Cố dương chi động, thủy vu ôn, thịnh vu thử; âm chi động, thủy vu thanh, thịnh vu hàn. Xuân hạ thu đông, các sai kỳ phân.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Khi thắng phục phát ra, có khi động không đúng vị, có khi đến muộn sau thời, nguyên nhân là gì?
Kỳ Bá nói:
Sự sinh của khí và sự hóa suy thịnh của nó không giống nhau. Công dụng thịnh suy của hàn, thử, ôn, lương nằm ở bốn góc chuyển mùa.
Cho nên dương động bắt đầu từ ôn, thịnh ở thử. Âm động bắt đầu từ thanh, thịnh ở hàn. Xuân, hạ, thu, đông, mỗi mùa có phần sai biệt của nó.
Giải thích từ ngữ
Tứ duy: bốn góc chuyển tiếp của thời khí, nơi khí cũ mới giao nhau.
Dương động bắt đầu từ ôn: khí dương không bỗng thành thử nhiệt, mà khởi từ ôn.
Âm động bắt đầu từ thanh: khí âm không bỗng thành đại hàn, mà khởi từ thanh lương.
Đoạn 64
Nguyên văn
故《大要》曰:彼春之暖,为夏之暑,彼秋之忿,为冬之怒,谨按四维,斥候皆归,其终可见,其始可知。此之谓也。帝曰:差有数乎。歧伯曰:又凡三十度也。
Hán Việt
Cố Đại Yếu viết: Bỉ xuân chi noãn, vi hạ chi thử; bỉ thu chi phẫn, vi đông chi nộ. Cẩn án tứ duy, xích hậu giai quy, kỳ chung khả kiến, kỳ thủy khả tri. Thử chi vị dã.
Đế viết: Sai hữu số hồ?
Kỳ Bá viết: Hựu phàm tam thập độ dã.
Dịch nghĩa
Cho nên sách Đại Yếu nói: cái ấm của mùa xuân sẽ thành cái nóng của mùa hạ; cái giận dữ của mùa thu sẽ thành cái thịnh nộ của mùa đông. Cẩn thận xét bốn góc chuyển mùa, các dấu hiệu dò xét đều quy về đó. Nhìn cuối có thể thấy, xét đầu có thể biết. Chính là nghĩa ấy.
Hoàng Đế hỏi:
Sự sai lệch ấy có số chăng?
Kỳ Bá nói:
Thường khoảng ba mươi độ.
Giải thích từ ngữ
Xuân ấm thành hạ thử: khí nhỏ phát triển thành khí lớn.
Thu phẫn thành đông nộ: thanh sát mùa thu dần thành hàn nghiêm mùa đông.
Ba mươi độ: chỉ khoảng số độ thời khí sai biệt trong vận khí học, không nên hiểu quá máy móc như lịch hiện đại.
Đoạn 65
Nguyên văn
帝曰:其脉应皆何如。歧伯曰:差同正法,待时而去也。脉要曰:春不沈,夏不弦,冬不涩,秋不数,是谓四塞。沈甚曰病,弦甚曰病,涩甚曰病,数甚曰病,参见曰病,复见曰病,未去而去曰病,去而不去曰病,反者死。
Hán Việt
Đế viết: Kỳ mạch ứng giai hà như?
Kỳ Bá viết: Sai đồng chính pháp, đãi thời nhi khứ dã. Mạch Yếu viết: Xuân bất trầm, hạ bất huyền, đông bất sáp, thu bất sác, thị vị tứ tắc. Trầm thậm viết bệnh, huyền thậm viết bệnh, sáp thậm viết bệnh, sác thậm viết bệnh, tham kiến viết bệnh, phục kiến viết bệnh, vị khứ nhi khứ viết bệnh, khứ nhi bất khứ viết bệnh, phản giả tử.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Mạch ứng với các khí ấy như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Sự sai lệch cũng theo chính pháp, chờ đúng thời thì đi.
Sách Mạch Yếu nói: mùa xuân mạch không nên trầm, mùa hạ mạch không nên huyền, mùa đông mạch không nên sáp, mùa thu mạch không nên sác; đó gọi là bốn tắc.
Trầm quá thì gọi là bệnh; huyền quá thì gọi là bệnh; sáp quá thì gọi là bệnh; sác quá thì gọi là bệnh. Nhiều mạch xen hiện là bệnh; mạch phục hiện là bệnh; chưa nên đi mà đã đi là bệnh; đáng đi mà không đi cũng là bệnh. Mạch trái nghịch thì chết.
Giải thích từ ngữ
Bốn tắc: bốn loại mạch không hợp thời, khí bị bế tắc.
Chưa đi mà đi, đáng đi không đi: khí mạch không thuận thời vị, biểu hiện khí hóa rối loạn.
Phản giả tử: mạch hoàn toàn trái với thời khí và bệnh thế là dấu rất nguy.
Đoạn 66
Nguyên văn
故曰:气之相守司也,如权衡之不得相失也。夫阴阳之气,清静则生化治,动则苛疾起,此之谓也。
Hán Việt
Cố viết: Khí chi tương thủ tư dã, như quyền hành chi bất đắc tương thất dã. Phù âm dương chi khí, thanh tĩnh tắc sinh hóa trị, động tắc hà tật khởi, thử chi vị dã.
Dịch nghĩa
Cho nên nói: các khí giữ chức phận của nhau cũng như cân và quả cân, không được sai mất nhau. Khí âm dương nếu thanh tĩnh thì sinh hóa được trị; nếu động loạn thì bệnh nặng khởi lên. Chính là nghĩa ấy.
Giải thích từ ngữ
Quyền hành: cân và quả cân, ví sự cân bằng của khí.
Thanh tĩnh: khí yên, đúng vị, đúng thời.
Hà tật: bệnh nặng, bệnh khắc nghiệt.
Đoạn 67
Nguyên văn
帝曰:幽明何如。歧伯曰:两阴交尽故曰幽,两阳合明故曰明,幽明之配,寒暑之异也。帝曰:分至何如。歧伯曰:气至之谓至,气分之谓分,至则气同,分则气异,所谓天地之正纪也。
Hán Việt
Đế viết: U minh hà như?
Kỳ Bá viết: Lưỡng âm giao tận cố viết u; lưỡng dương hợp minh cố viết minh. U minh chi phối, hàn thử chi dị dã.
Đế viết: Phân chí hà như?
Kỳ Bá viết: Khí chí chi vị chí, khí phân chi vị phân. Chí tắc khí đồng, phân tắc khí dị, sở vị thiên địa chi chính kỷ dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
U và minh là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Hai âm giao nhau đến tận cùng nên gọi là u. Hai dương hợp lại sáng rõ nên gọi là minh. Sự phối hợp của u và minh chính là sự khác nhau giữa hàn và thử.
Hoàng Đế hỏi:
Phân và chí là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Khí đến gọi là chí. Khí phân chia gọi là phân. Khi chí thì khí đồng; khi phân thì khí khác. Đó gọi là chính kỷ của trời đất.
Giải thích từ ngữ
U: âm sâu, tối, tàng.
Minh: dương sáng, rõ, phát.
Phân chí: những điểm phân chia và đến cực của khí trong năm, như xuân phân, thu phân, hạ chí, đông chí theo ý rộng.
Đoạn 68
Nguyên văn
帝曰:夫子言春秋气始于前,冬夏气始于后,余已知之矣。然六气往复,主岁不常也,其补写柰何。歧伯曰:上下所主,随其攸利,正其味,则其要也,左右同法。《大要》曰:少阳之主,先甘后咸,阳明之主,先辛后酸,太阳之主,先咸后苦,厥阴之主,先酸后辛,少阴之主,先甘后咸,太阴之主,先苦后甘。佐以所利,资以所生,是谓得气。
Hán Việt
Đế viết: Phu tử ngôn xuân thu khí thủy vu tiền, đông hạ khí thủy vu hậu, dư dĩ tri chi hĩ. Nhiên lục khí vãng phục, chủ tuế bất thường dã, kỳ bổ tả nại hà?
Kỳ Bá viết: Thượng hạ sở chủ, tùy kỳ du lợi, chính kỳ vị, tắc kỳ yếu dã, tả hữu đồng pháp.
Đại Yếu viết: Thiếu dương chi chủ, tiên cam hậu hàm; Dương minh chi chủ, tiên tân hậu toan; Thái dương chi chủ, tiên hàm hậu khổ; Quyết âm chi chủ, tiên toan hậu tân; Thiếu âm chi chủ, tiên cam hậu hàm; Thái âm chi chủ, tiên khổ hậu cam. Tá dĩ sở lợi, tư dĩ sở sinh, thị vị đắc khí.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Phu tử nói khí xuân thu bắt đầu ở phía trước, khí đông hạ bắt đầu ở phía sau, ta đã biết rồi. Nhưng sáu khí qua lại phục hồi, chủ năm không thường định, vậy bổ tả thế nào?
Kỳ Bá nói:
Trên dưới khí nào làm chủ thì theo chỗ có lợi của nó, làm cho vị được chính, đó là điều cốt yếu. Bên trái bên phải cũng cùng phép.
Sách Đại Yếu nói:
Thiếu dương làm chủ thì trước dùng vị ngọt, sau dùng vị mặn.
Dương minh làm chủ thì trước dùng vị cay, sau dùng vị chua.
Thái dương làm chủ thì trước dùng vị mặn, sau dùng vị đắng.
Quyết âm làm chủ thì trước dùng vị chua, sau dùng vị cay.
Thiếu âm làm chủ thì trước dùng vị ngọt, sau dùng vị mặn.
Thái âm làm chủ thì trước dùng vị đắng, sau dùng vị ngọt.
Tá bằng điều có lợi, giúp bằng điều sinh ra khí ấy, gọi là đắc khí.
Giải thích từ ngữ
Chính kỳ vị: làm cho vị thuốc hợp với khí đang chủ.
Tiên cam hậu hàm: thứ tự dùng vị trước sau, không chỉ là phối vị đơn giản, mà là phép điều khí chủ.
Tư dĩ sở sinh: giúp khí ấy bằng cái sinh ra nó, tức dùng sinh hóa để hỗ trợ chính khí.
BỆNH CƠ
Mười chín điều bệnh cơ nổi tiếng trong Chí Chân Yếu Đại Luận
Đoạn 69
Nguyên văn
帝曰:善。夫百病之生也,皆生于风寒暑湿燥火,以之化之变也。经言盛者写之,虚者补之,余锡以方士,而方士用之尚未能十全,余欲令要道必行,桴鼓相应,犹拔刺雪污,工巧神圣,可得闻乎。歧伯曰:审察病机无失气宜,此之谓也。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Phù bách bệnh chi sinh dã, giai sinh vu phong hàn thử thấp táo hỏa, dĩ chi hóa chi biến dã. Kinh ngôn thịnh giả tả chi, hư giả bổ chi, dư tích dĩ phương sĩ, nhi phương sĩ dụng chi thượng vị năng thập toàn. Dư dục linh yếu đạo tất hành, phù cổ tương ứng, do bạt thích tuyết ô, công xảo thần thánh, khả đắc văn hồ?
Kỳ Bá viết: Thẩm sát bệnh cơ, vô thất khí nghi, thử chi vị dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Trăm bệnh sinh ra đều sinh từ phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, do sự hóa và biến của chúng. Kinh nói: thịnh thì tả, hư thì bổ. Ta đã trao điều ấy cho các phương sĩ, nhưng phương sĩ dùng vẫn chưa thể mười phần trọn vẹn.
Ta muốn khiến yếu đạo nhất định được thi hành, ứng nghiệm như dùi đánh trống, như nhổ gai, rửa sạch vết bẩn; kỹ xảo đến mức thần thánh. Có thể được nghe chăng?
Kỳ Bá nói:
Đó là phải xét kỹ bệnh cơ, không để mất điều thích nghi của khí.
Giải thích từ ngữ
Bệnh cơ: then máy sinh bệnh; không chỉ là triệu chứng, mà là quy luật khí hóa đằng sau triệu chứng.
Vô thất khí nghi: không để lỡ khí thích hợp, tức trị phải hợp thời, hợp khí, hợp hư thực.
Phù cổ tương ứng: dùi đánh thì trống vang ngay, ví trị đúng thì bệnh ứng.
Đoạn 70
Nguyên văn
帝曰:愿闻病机何如。歧伯曰:诸风掉胘,皆属于肝。诸寒收引,皆属于肾。诸气膹郁,皆属于肺。诸湿肿满,皆属于脾。诸热瞀瘛,皆属于火。诸病痒疮,皆属于心。
Hán Việt
Đế viết: Nguyện văn bệnh cơ hà như?
Kỳ Bá viết: Chư phong điệu huyễn, giai thuộc vu Can. Chư hàn thu dẫn, giai thuộc vu Thận. Chư khí phần uất, giai thuộc vu Phế. Chư thấp thũng mãn, giai thuộc vu Tỳ. Chư nhiệt mậu khiết, giai thuộc vu Hỏa. Chư bệnh dương sang, giai thuộc vu Tâm.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Xin được nghe bệnh cơ là thế nào?
Kỳ Bá nói:
Các chứng phong, run lắc, chóng mặt đều thuộc về Can.
Các chứng hàn, co rút, kéo giật đều thuộc về Thận.
Các chứng khí đầy uất đều thuộc về Phế.
Các chứng thấp, sưng, đầy đều thuộc về Tỳ.
Các chứng nhiệt, mê mờ, co giật đều thuộc về Hỏa.
Các bệnh ngứa và sang lở đều thuộc về Tâm.
Giải thích từ ngữ
Phong, run, chóng mặt thuộc Can: Can chủ phong, chủ cân, khai khiếu ở mắt, nên phong động dễ chóng mặt, run lắc.
Hàn thu dẫn thuộc Thận: Thận chủ thủy, hàn làm co rút, kéo lại.
Khí phần uất thuộc Phế: Phế chủ khí, chủ tuyên giáng; Phế khí không thông thì đầy uất.
Thấp thũng mãn thuộc Tỳ: Tỳ chủ vận hóa thủy thấp; Tỳ mất vận thì sưng đầy.
Nhiệt mê co giật thuộc Hỏa: Hỏa nhiệt nhiễu thần, động phong.
Ngứa sang thuộc Tâm: Tâm chủ huyết mạch, Hỏa nhiệt trong huyết dễ sinh sang ngứa.
Đoạn 71
Nguyên văn
诸厥固泄,皆属于下。诸痿喘呕,皆属于上。诸禁鼓栗,如丧神守,皆属于火。诸痉项强,皆属于湿。诸逆冲上,皆属于火。诸胀腹大,皆属于热。
Hán Việt
Chư quyết cố tiết, giai thuộc vu hạ. Chư nuy suyễn ẩu, giai thuộc vu thượng. Chư cấm cổ lật, như tang thần thủ, giai thuộc vu Hỏa. Chư kính hạng cường, giai thuộc vu thấp. Chư nghịch xung thượng, giai thuộc vu Hỏa. Chư trướng phúc đại, giai thuộc vu nhiệt.
Dịch nghĩa
Các chứng quyết, bế cố và tiết tả đều thuộc về phần dưới.
Các chứng nuy, suyễn, nôn đều thuộc về phần trên.
Các chứng cấm khẩu, rét run như đánh trống, như mất thần giữ, đều thuộc về Hỏa.
Các chứng co cứng, gáy cứng đều thuộc về thấp.
Các chứng nghịch xung lên trên đều thuộc về Hỏa.
Các chứng trướng, bụng to đều thuộc về nhiệt.
Giải thích từ ngữ
Quyết, cố, tiết thuộc hạ: quyết lạnh, bế tắc, tiết tả phần nhiều liên hệ hạ tiêu.
Nuy, suyễn, ẩu thuộc thượng: nuy có thể do Phế nhiệt, suyễn và nôn đều là khí nghịch lên.
Cấm cổ lật: răng cắn chặt, run rét dữ, thần khí rối loạn.
Nghịch xung thượng thuộc Hỏa: Hỏa tính thượng viêm, dễ xung nghịch lên trên.
Đoạn 72
Nguyên văn
诸躁狂越,皆属于火。诸暴强直,皆属于风。诸病有声鼓之如鼓,皆属于热。诸病胕肿疼酸惊骇,皆属于火。诸转反戾水液浑浊,皆属于热。诸病水液澄澈清冷,皆属于寒。诸呕吐酸暴注下迫,皆属于热。
Hán Việt
Chư táo cuồng việt, giai thuộc vu Hỏa. Chư bạo cường trực, giai thuộc vu phong. Chư bệnh hữu thanh cổ chi như cổ, giai thuộc vu nhiệt. Chư bệnh phù thũng, đông toan, kinh hãi, giai thuộc vu Hỏa. Chư chuyển phản lệ, thủy dịch hỗn trọc, giai thuộc vu nhiệt. Chư bệnh thủy dịch trừng triệt thanh lãnh, giai thuộc vu hàn. Chư ẩu thổ toan, bạo chú hạ bách, giai thuộc vu nhiệt.
Dịch nghĩa
Các chứng táo động, cuồng loạn, vượt quá thường đều thuộc về Hỏa.
Các chứng bỗng nhiên cứng thẳng đều thuộc về phong.
Các bệnh có tiếng vang như đánh trống đều thuộc về nhiệt.
Các bệnh phù thũng, đau nhức, ê mỏi, kinh hãi đều thuộc về Hỏa.
Các chứng xoay vặn, co quắp, thủy dịch đục đều thuộc về nhiệt.
Các bệnh có thủy dịch trong suốt, trong lạnh đều thuộc về hàn.
Các chứng nôn mửa ra chua, tiêu chảy bạo phát, mót rặn gấp đều thuộc về nhiệt.
Giải thích từ ngữ
Táo cuồng thuộc Hỏa: Hỏa nhiễu thần minh, làm tâm thần cuồng loạn.
Bạo cường trực thuộc phong: phong động gấp, làm gân co cứng đột ngột.
Thủy dịch đục thuộc nhiệt: nhiệt nung nấu làm thủy dịch biến trọc.
Thủy dịch trong lạnh thuộc hàn: hàn không hóa được thủy, dịch trong loãng lạnh.
Nôn chua, bạo chú hạ bách thuộc nhiệt: nhiệt uất ở Vị Trường làm nôn chua, tiêu chảy gấp, mót rặn.
Đoạn 73
Nguyên văn
故《大要》曰:谨守病机,各司其属,有者求之,无者求之,盛者责之,虚者责之,必先五胜,踈其血气,令其调达,而致和平,此之谓也。
Hán Việt
Cố Đại Yếu viết: Cẩn thủ bệnh cơ, các tư kỳ thuộc, hữu giả cầu chi, vô giả cầu chi, thịnh giả trách chi, hư giả trách chi, tất tiên ngũ thắng, sơ kỳ huyết khí, linh kỳ điều đạt, nhi trí hòa bình, thử chi vị dã.
Dịch nghĩa
Cho nên sách Đại Yếu nói:
Phải cẩn thận giữ bệnh cơ, mỗi loại quy về chỗ thuộc của nó. Có thì tìm ở cái có, không thì tìm ở cái không; thịnh thì xét ở thịnh, hư thì xét ở hư. Nhất định trước hết phải xét ngũ thắng, làm thông huyết khí, khiến huyết khí điều đạt, để đưa đến hòa bình. Chính là nghĩa ấy.
Giải thích từ ngữ
Có thì tìm ở cái có, không thì tìm ở cái không: có triệu chứng thì xét triệu chứng; không thấy rõ triệu chứng thì xét phần ẩn, phần hư, phần chưa phát.
Thịnh giả trách chi, hư giả trách chi: thịnh thì tìm nguyên nhân của thịnh, hư thì tìm nguyên nhân của hư.
Ngũ thắng: quy luật ngũ hành thắng khắc.
Sơ huyết khí: làm thông huyết khí, không để uất bế.
Nhận xét tạm phần này
Đây là một trong những phần quan trọng nhất của Chí Chân Yếu Đại Luận.
Phần “lục khí tiêu bản” nhắc rằng không phải khí nào cũng xét giống nhau. Thiếu dương và Thái âm nên theo bản; Thiếu âm và Thái dương phải xét cả tiêu bản; Dương minh và Quyết âm phải xét trung khí. Chỉ một câu này đã giúp tránh rất nhiều sai lầm, vì nếu cứ thấy biểu hiện ở ngọn mà trị ngay, hoặc cứ chấp vào gốc mà bỏ qua hiện chứng, đều có thể sai.
Phần “thắng phục sớm muộn” dạy rằng khí bệnh không đứng yên. Một khí thắng lên thì khí bị thắng đã âm thầm chuẩn bị phục lại. Có khi bệnh mới lộ ở hiện tại, nhưng khí phục đã manh nha bên trong. Vì vậy người học không chỉ xem hiện chứng, mà phải đoán thế đi tiếp của khí.
Phần “bệnh cơ” là đoạn nổi tiếng: “chư phong điệu huyễn, giai thuộc vu Can…”. Đoạn này không phải để chấp cứng rằng cứ chóng mặt là Can, cứ phù là Tỳ, cứ trướng là nhiệt. Ý sâu hơn là: từ triệu chứng phải tìm về loại khí đang chủ bệnh. Nhưng sau đó vẫn phải “cẩn thủ bệnh cơ”, xét có không, hư thực, ngũ thắng, rồi làm huyết khí thông đạt. Như vậy mới tránh được lối chẩn đoán máy móc.
Tóm lại, đến đây thiên này đã chuyển từ vận khí rất lớn của trời đất vào nguyên tắc thực dụng nhất của lâm sàng: biết tiêu bản, biết thắng phục, biết bệnh cơ, biết quy thuộc, rồi điều huyết khí cho hòa bình.
CÁCH NHẬN BIẾT LỤC KHÍ THẮNG
Đoạn 74
Nguyên văn
帝曰:善。六气之胜,何以候之。歧伯曰:乘其至也,清气大来,燥之胜也,风木受邪,肝病生焉。热气大来,火之胜也,金燥受邪,肺病生焉。寒气大来,水之胜也,火热受邪,心病生焉。湿气大来,土之胜也,寒水受邪,肾病生焉。风气大来,木之胜也,土湿受邪,脾病生焉。所谓感邪而生病也。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Lục khí chi thắng, hà dĩ hậu chi?
Kỳ Bá viết: Thừa kỳ chí dã. Thanh khí đại lai, táo chi thắng dã, Phong Mộc thụ tà, Can bệnh sinh yên. Nhiệt khí đại lai, Hỏa chi thắng dã, Kim Táo thụ tà, Phế bệnh sinh yên. Hàn khí đại lai, Thủy chi thắng dã, Hỏa Nhiệt thụ tà, Tâm bệnh sinh yên. Thấp khí đại lai, Thổ chi thắng dã, Hàn Thủy thụ tà, Thận bệnh sinh yên. Phong khí đại lai, Mộc chi thắng dã, Thổ Thấp thụ tà, Tỳ bệnh sinh yên. Sở vị cảm tà nhi sinh bệnh dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Sáu khí thắng thì lấy gì để nhận biết?
Kỳ Bá nói:
Là xét khi khí ấy thừa thời mà đến.
Thanh khí đến mạnh, đó là Táo thắng. Phong Mộc bị tà, bệnh ở Can sinh ra.
Nhiệt khí đến mạnh, đó là Hỏa thắng. Kim Táo bị tà, bệnh ở Phế sinh ra.
Hàn khí đến mạnh, đó là Thủy thắng. Hỏa Nhiệt bị tà, bệnh ở Tâm sinh ra.
Thấp khí đến mạnh, đó là Thổ thắng. Hàn Thủy bị tà, bệnh ở Thận sinh ra.
Phong khí đến mạnh, đó là Mộc thắng. Thổ Thấp bị tà, bệnh ở Tỳ sinh ra.
Đó gọi là cảm tà mà sinh bệnh.
Giải thích từ ngữ
Thừa kỳ chí: khí ấy nhân lúc đến mà lấn thắng.
Thanh khí đại lai: khí thanh lạnh, khô ráo đến mạnh, biểu thị Táo Kim thắng.
Tạng chịu tà: khí nào bị khắc, bị lấn thì tạng tương ứng sinh bệnh. Ví dụ Táo Kim thắng thì Mộc bị hại, nên Can bệnh; Hỏa thắng thì Kim bị hại, nên Phế bệnh.
Đoạn 75
Nguyên văn
乘年之虚,则邪甚也。失时之和,亦邪甚也。遇月之空,亦邪甚也。重感于邪,则病危矣。有胜之气,其必来复也。
Hán Việt
Thừa niên chi hư, tắc tà thậm dã. Thất thời chi hòa, diệc tà thậm dã. Ngộ nguyệt chi không, diệc tà thậm dã. Trùng cảm vu tà, tắc bệnh nguy hĩ. Hữu thắng chi khí, kỳ tất lai phục dã.
Dịch nghĩa
Nếu tà thừa lúc khí của năm hư, thì tà rất nặng.
Nếu mất sự hòa của thời tiết, tà cũng rất nặng.
Nếu gặp tháng rỗng hư, tà cũng rất nặng.
Nếu lại cảm tà nhiều lần, thì bệnh nguy.
Hễ có khí thắng, thì tất có khí phục trở lại.
Giải thích từ ngữ
Niên chi hư: năm khí bất cập, chính khí của năm yếu.
Thời chi hòa: sự hòa của mùa, khí hậu đúng thời.
Nguyệt chi không: tháng có khí hư, khí rỗng, chính khí không đầy.
Trùng cảm vu tà: cảm tà lặp lại, bệnh dễ sâu và nguy.
Hữu thắng tất phục: có khí thắng quá thì khí bị thắng sẽ quay lại phục báo.
Đoạn 76
Nguyên văn
帝曰:其脉至何如。歧伯曰:厥阴之至其脉弦,少阴之至其脉钩,太阴之至其脉沈,少阳之至大而浮,阳明之至短而涩,太阳之至大而长。至而和则平,至而甚则病,至而反者病,至而不至者病,未至而至者病,阴阳易者危。
Hán Việt
Đế viết: Kỳ mạch chí hà như?
Kỳ Bá viết: Quyết âm chi chí, kỳ mạch huyền. Thiếu âm chi chí, kỳ mạch câu. Thái âm chi chí, kỳ mạch trầm. Thiếu dương chi chí, đại nhi phù. Dương minh chi chí, đoản nhi sáp. Thái dương chi chí, đại nhi trường.
Chí nhi hòa tắc bình, chí nhi thậm tắc bệnh, chí nhi phản giả bệnh, chí nhi bất chí giả bệnh, vị chí nhi chí giả bệnh, âm dương dịch giả nguy.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Khi các khí đến thì mạch như thế nào?
Kỳ Bá nói:
Quyết âm đến thì mạch huyền.
Thiếu âm đến thì mạch câu.
Thái âm đến thì mạch trầm.
Thiếu dương đến thì mạch đại mà phù.
Dương minh đến thì mạch đoản mà sáp.
Thái dương đến thì mạch đại mà trường.
Khí đến mà mạch hòa thì bình.
Khí đến mà mạch quá thịnh thì bệnh.
Khí đến mà mạch trái ngược thì bệnh.
Đáng đến mà không đến thì bệnh.
Chưa đáng đến mà đã đến thì bệnh.
Âm dương đổi lẫn nhau thì nguy.
Giải thích từ ngữ
Mạch huyền: mạch căng như dây đàn, ứng Quyết âm Phong Mộc.
Mạch câu: mạch đến thịnh, đi suy, hơi giống móc câu, ứng Hỏa khí.
Mạch trầm: mạch chìm, ứng Thái âm thấp trọng.
Mạch đại mà phù: mạch lớn nổi, ứng Thiếu dương Tướng hỏa phát ra ngoài.
Mạch đoản mà sáp: mạch ngắn, rít, ứng Dương minh Táo Kim.
Mạch đại mà trường: mạch lớn dài, ứng Thái dương Hàn thủy.
Chí nhi hòa tắc bình: khí đến đúng thời, mạch ứng mà hòa thì không bệnh.
Chí nhi phản giả bệnh: khí và mạch trái nhau, biểu thị khí hóa không thuận.
Âm dương dịch giả nguy: âm dương đổi vị, mạch chứng đảo lộn, là dấu nguy.
Nhận xét tạm
Đoạn này bổ sung một nguyên tắc rất cần cho phần bệnh cơ: không chỉ nhìn triệu chứng, mà còn phải nhìn khí đến có đúng thời không, có hòa không, có quá mức không, mạch có ứng không.
Cùng là một khí đến, nếu đến đúng thời và mạch hòa thì là bình khí. Nếu đến quá mạnh, đến sớm, đến muộn, hoặc mạch trái với khí, thì thành bệnh. Đây là lý do Nội Kinh luôn nhắc “không mất khí nghi”, tức không được bỏ qua sự thích hợp của khí và thời.
Đoạn này cũng nối trực tiếp với câu “có thắng thì có phục”. Khi một khí thắng lên, khí bị thắng không mất hẳn, mà sẽ có lúc phục lại. Cho nên trị bệnh phải nhìn cả hiện tại và chiều hướng sắp tới của khí.
NGŨ VỊ ÂM DƯƠNG CHI DỤNG
Công dụng âm dương của năm vị
Đoạn 77
Nguyên văn
帝曰:善。五味阴阳之用何如。歧伯曰:辛甘发散为阳,酸苦涌泄为阴,咸味涌泄为阴,淡味渗泄为阳。六者,或收,或散,或缓,或急,或燥,或润,或耎,或坚,以所利而行之,调其气,使其平也。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Ngũ vị âm dương chi dụng hà như?
Kỳ Bá viết: Tân cam phát tán vi dương, toan khổ dũng tiết vi âm, hàm vị dũng tiết vi âm, đạm vị thấm tiết vi dương. Lục giả, hoặc thu, hoặc tán, hoặc hoãn, hoặc cấp, hoặc táo, hoặc nhuận, hoặc nhuyễn, hoặc kiên, dĩ sở lợi nhi hành chi, điều kỳ khí, sử kỳ bình dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Công dụng âm dương của năm vị thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Vị cay và vị ngọt có tác dụng phát tán, thuộc dương.
Vị chua và vị đắng có tác dụng dũng tiết, thuộc âm.
Vị mặn cũng có tác dụng dũng tiết, thuộc âm.
Vị nhạt có tác dụng thấm tiết, thuộc dương.
Sáu loại vị ấy, có khi thu, có khi tán; có khi hoãn, có khi cấp; có khi làm táo, có khi làm nhuận; có khi làm mềm, có khi làm chắc. Tùy điều có lợi mà dùng, để điều khí, khiến khí trở về bình hòa.
Giải thích từ ngữ
Tân cam phát tán vi dương: cay phát tán, ngọt hòa hoãn và phát ra, nên quy về dương.
Toan khổ dũng tiết vi âm: chua thu liễm, đắng có thể tiết hạ, nên quy về âm.
Đạm vị thấm tiết: vị nhạt thấm lợi thủy thấp, thông tiểu tiện, tuy tiết nhưng khí dụng nhẹ, nên quy về dương.
Thu, tán, hoãn, cấp, táo, nhuận, nhuyễn, kiên: đây là các tác dụng lớn của vị thuốc, không chỉ nhìn một vị cố định mà phải xét bệnh cơ.
Đoạn 78
Nguyên văn
帝曰:非调气而得者,治之柰何。有毒无毒,何先何后,愿闻其道。歧伯曰:有毒无毒,所治为主,适大小为制也。帝曰:请言其制。歧伯曰:君一臣二,制之小也,君一臣三佐五,制之中也,君一臣三佐九,制之大也。
Hán Việt
Đế viết: Phi điều khí nhi đắc giả, trị chi nại hà? Hữu độc vô độc, hà tiên hà hậu, nguyện văn kỳ đạo.
Kỳ Bá viết: Hữu độc vô độc, sở trị vi chủ, thích đại tiểu vi chế dã.
Đế viết: Thỉnh ngôn kỳ chế.
Kỳ Bá viết: Quân nhất thần nhị, chế chi tiểu dã. Quân nhất thần tam tá ngũ, chế chi trung dã. Quân nhất thần tam tá cửu, chế chi đại dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Nếu không thể chỉ điều khí mà đạt được hiệu quả, thì trị thế nào? Thuốc có độc, thuốc không độc, cái nào trước, cái nào sau? Xin được nghe đạo ấy.
Kỳ Bá nói:
Có độc hay không độc, đều lấy bệnh cần trị làm chủ. Tùy lớn nhỏ mà chế phương.
Hoàng Đế nói:
Xin nói rõ cách chế phương.
Kỳ Bá nói:
Một vị quân, hai vị thần là chế phương nhỏ.
Một vị quân, ba vị thần, năm vị tá là chế phương vừa.
Một vị quân, ba vị thần, chín vị tá là chế phương lớn.
Giải thích từ ngữ
Có độc, không độc: chỉ thuốc có sức mạnh, công phá, thiên lệch rõ, hoặc thuốc bình hòa. Không nên hiểu đơn giản là “độc” theo nghĩa hiện đại rồi tự dùng.
Sở trị vi chủ: bệnh cần trị là chủ, không phải cứ có độc là xấu, không độc là tốt; quan trọng là đúng bệnh, đúng mức.
Quân, thần, tá: quân là vị chủ trị bệnh chính; thần giúp quân; tá hỗ trợ, điều hòa, chế bớt thiên lệch hoặc dẫn thuốc.
Đoạn 79
Nguyên văn
寒者热之,热者寒之,微者逆之,甚者从之,坚者削之,客者除之,劳者温之,结者散之,留者攻之,燥者濡之,急者缓之,散者收之,损者温之,逸者行之,惊者平之,上之下之,摩之浴之,薄之劫之,开之发之,适事为故。
Hán Việt
Hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi, vi giả nghịch chi, thậm giả tòng chi, kiên giả tước chi, khách giả trừ chi, lao giả ôn chi, kết giả tán chi, lưu giả công chi, táo giả nhu chi, cấp giả hoãn chi, tán giả thu chi, tổn giả ôn chi, dật giả hành chi, kinh giả bình chi, thượng chi hạ chi, ma chi dục chi, bạc chi kiếp chi, khai chi phát chi, thích sự vi cố.
Dịch nghĩa
Hàn thì làm nóng.
Nhiệt thì làm lạnh.
Bệnh nhẹ thì trị nghịch.
Bệnh nặng thì có khi trị thuận theo.
Cứng chắc thì làm mòn bớt.
Tà làm khách thì trừ đi.
Lao tổn thì làm ấm.
Kết tụ thì làm tán.
Lưu trệ thì công phá.
Khô táo thì làm nhuận.
Cấp gấp thì làm hoãn.
Tán mất thì thu lại.
Tổn hư thì làm ấm.
Đình trệ, không vận hành thì làm cho vận hành.
Kinh sợ thì làm cho bình.
Cần đưa lên thì đưa lên, cần đưa xuống thì đưa xuống.
Có khi xoa bóp, có khi tắm rửa.
Có khi dùng phép nhẹ, có khi dùng phép mạnh.
Có khi mở ra, có khi phát ra.
Tất cả đều lấy sự thích hợp với bệnh làm căn cứ.
Giải thích từ ngữ
Vi giả nghịch chi: bệnh nhẹ, chính khí còn chịu được, có thể dùng phép đối trị trực tiếp.
Thậm giả tòng chi: bệnh nặng, tà thịnh hoặc có giả tượng, có khi phải dùng phép tòng trị để dẫn dắt rồi mới chuyển hóa.
Khách giả trừ chi: tà từ ngoài đến là khách tà, cần trừ bỏ.
Lưu giả công chi: tà lưu trệ, tích tụ lâu thì phải công.
Thích sự vi cố: không chấp một phép cố định; lấy bệnh thế thực tế làm căn cứ.
NGHỊCH TÒNG VÀ PHẢN TRỊ
Đoạn 80
Nguyên văn
帝曰:何谓逆从。歧伯曰:逆者正治,从者反治,从少从多,观其事也。帝曰:反治何谓。歧伯曰:热因寒用,寒因热用,塞因塞用,通因通用,必伏其所主,而先其所因,其始则同,其终则异,可使破积,可使溃坚,可使气和,可使必已。
Hán Việt
Đế viết: Hà vị nghịch tòng?
Kỳ Bá viết: Nghịch giả chính trị, tòng giả phản trị. Tòng thiểu tòng đa, quan kỳ sự dã.
Đế viết: Phản trị hà vị?
Kỳ Bá viết: Nhiệt nhân hàn dụng, hàn nhân nhiệt dụng, tắc nhân tắc dụng, thông nhân thông dụng. Tất phục kỳ sở chủ, nhi tiên kỳ sở nhân. Kỳ thủy tắc đồng, kỳ chung tắc dị. Khả sử phá tích, khả sử hội kiên, khả sử khí hòa, khả sử tất dĩ.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế hỏi:
Thế nào là nghịch và tòng?
Kỳ Bá nói:
Nghịch là chính trị. Tòng là phản trị. Theo ít hay theo nhiều, phải xem bệnh việc cụ thể.
Hoàng Đế hỏi:
Phản trị là gì?
Kỳ Bá nói:
Bệnh nhiệt mà nhân thuốc hàn để dùng.
Bệnh hàn mà nhân thuốc nhiệt để dùng.
Bệnh bế tắc mà nhân phép bế tắc để dùng.
Bệnh thông tiết mà nhân phép thông tiết để dùng.
Nhất định phải phục được cái khí làm chủ bệnh, và trước hết phải theo cái nguyên nhân làm bệnh. Ban đầu có thể giống nhau, nhưng kết cuộc thì khác. Như vậy có thể phá tích, có thể làm tan chỗ cứng, có thể khiến khí hòa, có thể làm bệnh dứt hẳn.
Giải thích từ ngữ
Nghịch là chính trị: dùng phép đối lại bệnh, như hàn dùng nhiệt, nhiệt dùng hàn.
Tòng là phản trị: thuận theo biểu hiện giả hoặc thế bệnh nhất thời để dẫn dắt, sau đó đạt mục tiêu trị bệnh.
Tắc nhân tắc dụng: bế tắc mà dùng phép có vẻ như bế tắc, thường để dẫn thuốc hoặc giữ khí trước khi phá bế; đây là phép khó, không thể dùng máy móc.
Thông nhân thông dụng: tiết nhiều mà lại dùng phép thông, khi gốc là thực trệ hoặc thấp nhiệt chưa hết.
Kỳ thủy tắc đồng, kỳ chung tắc dị: lúc đầu phép dùng có vẻ giống bệnh, nhưng kết quả lại làm bệnh chuyển khác và khỏi.
Đoạn 81
Nguyên văn
帝曰:善。气调而得者何如。歧伯曰:逆之,从之,逆而从之,从而逆之,踈气令调则其道也。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Khí điều nhi đắc giả hà như?
Kỳ Bá viết: Nghịch chi, tòng chi, nghịch nhi tòng chi, tòng nhi nghịch chi, sơ khí linh điều tắc kỳ đạo dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Nếu nhờ điều khí mà đạt hiệu quả thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Có khi trị nghịch.
Có khi trị tòng.
Có khi trước nghịch rồi sau tòng.
Có khi trước tòng rồi sau nghịch.
Cốt yếu là làm cho khí thông sơ và điều hòa. Đó là đạo trị.
Giải thích từ ngữ
Nghịch rồi tòng: trước dùng phép đối trị để chế tà, sau thuận khí để điều hòa.
Tòng rồi nghịch: trước thuận theo thế bệnh để dẫn dắt, sau dùng phép đối trị để giải quyết gốc.
Sơ khí: làm khí thông, không uất, không bế.
BỆNH Ở TRONG NGOÀI
Đoạn 82
Nguyên văn
帝曰:善。病之中外何如。歧伯曰:从内之外者调其内,从外之内者治其外,从内之外而盛于外者,先调其内而后治其外,从外之内而盛于内者,先治其外而后调其内,中外不相及,则治主病。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Bệnh chi trung ngoại hà như?
Kỳ Bá viết: Tòng nội chi ngoại giả điều kỳ nội; tòng ngoại chi nội giả trị kỳ ngoại; tòng nội chi ngoại nhi thịnh vu ngoại giả, tiên điều kỳ nội nhi hậu trị kỳ ngoại; tòng ngoại chi nội nhi thịnh vu nội giả, tiên trị kỳ ngoại nhi hậu điều kỳ nội; trung ngoại bất tương cập, tắc trị chủ bệnh.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Bệnh ở trong và ngoài thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Bệnh từ trong ra ngoài thì điều bên trong.
Bệnh từ ngoài vào trong thì trị bên ngoài.
Bệnh từ trong ra ngoài mà thịnh ở ngoài, thì trước điều bên trong, sau trị bên ngoài.
Bệnh từ ngoài vào trong mà thịnh ở trong, thì trước trị bên ngoài, sau điều bên trong.
Nếu trong ngoài không liên quan với nhau, thì trị bệnh chính.
Giải thích từ ngữ
Từ trong ra ngoài: gốc bệnh ở tạng phủ, khí huyết, rồi biểu hiện ra da, chi thể, đầu mặt.
Từ ngoài vào trong: ngoại tà vào biểu rồi nhập lý.
Thịnh ở ngoài hoặc thịnh ở trong: xét nơi bệnh đang mạnh nhất, nhưng vẫn không quên đường đi của bệnh.
Trị chủ bệnh: nếu trong ngoài không liên hệ, tập trung vào bệnh chính, không lan man.
HỎA NHIỆT PHỤC, HÀN NHIỆT NHƯ SỐT RÉT
Đoạn 83
Nguyên văn
帝曰:善。火热复恶寒,发热有如疟状,或一日发,或闲数日发,其故何也。歧伯曰:胜复之气,会遇之时,有多少也。阴气多而阳气少,则其发日远,阳气多而阴气少,则其发日近。此胜复相薄盛衰之节,疟亦同法。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Hỏa nhiệt phục ố hàn, phát nhiệt hữu như ngược trạng, hoặc nhất nhật phát, hoặc gian sổ nhật phát, kỳ cố hà dã?
Kỳ Bá viết: Thắng phục chi khí, hội ngộ chi thời, hữu đa thiểu dã. Âm khí đa nhi dương khí thiểu, tắc kỳ phát nhật viễn; dương khí đa nhi âm khí thiểu, tắc kỳ phát nhật cận. Thử thắng phục tương bạc thịnh suy chi tiết, ngược diệc đồng pháp.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Có chứng hỏa nhiệt phục lại mà lại sợ lạnh, phát sốt giống như sốt rét, có khi mỗi ngày phát, có khi cách vài ngày mới phát. Nguyên nhân là gì?
Kỳ Bá nói:
Đó là do khí thắng và khí phục gặp nhau theo thời, có nhiều có ít.
Âm khí nhiều mà dương khí ít, thì ngày phát bệnh cách xa.
Dương khí nhiều mà âm khí ít, thì ngày phát bệnh gần.
Đây là tiết độ thịnh suy khi thắng phục va chạm nhau. Bệnh sốt rét cũng cùng phép ấy.
Giải thích từ ngữ
Hỏa nhiệt phục mà sợ lạnh: nhiệt bị phục ở trong, biểu hiện ngoài có hàn, giống hàn nhiệt vãng lai.
Ngày phát xa hay gần: tùy âm dương nhiều ít, khí thắng phục gặp nhau nhanh hay chậm.
Ngược: sốt rét hoặc chứng hàn nhiệt phát từng cơn.
Đoạn 84
Nguyên văn
帝曰:论言治寒以热,治热以寒,而方士不能废绳墨而更其道也。有病热者,寒之而热,有病寒者,热之而寒,二者皆在新病复起,柰何治。歧伯曰:诸寒之而热者取之阴,热之而寒者取之阳,所谓求其属也。
Hán Việt
Đế viết: Luận ngôn trị hàn dĩ nhiệt, trị nhiệt dĩ hàn, nhi phương sĩ bất năng phế thằng mặc nhi canh kỳ đạo dã. Hữu bệnh nhiệt giả, hàn chi nhi nhiệt; hữu bệnh hàn giả, nhiệt chi nhi hàn. Nhị giả giai tại tân bệnh phục khởi, nại hà trị?
Kỳ Bá viết: Chư hàn chi nhi nhiệt giả thủ chi âm, nhiệt chi nhi hàn giả thủ chi dương, sở vị cầu kỳ thuộc dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Luận nói: trị hàn dùng nhiệt, trị nhiệt dùng hàn. Nhưng phương sĩ không thể bỏ quy củ để đổi đạo. Nay có bệnh nhiệt, dùng hàn mà lại càng nhiệt; có bệnh hàn, dùng nhiệt mà lại càng hàn. Hai trường hợp ấy đều ở lúc bệnh mới lại khởi. Trị thế nào?
Kỳ Bá nói:
Các trường hợp dùng hàn mà lại nhiệt thêm thì phải lấy ở âm.
Các trường hợp dùng nhiệt mà lại hàn thêm thì phải lấy ở dương.
Đó gọi là tìm về chỗ thuộc của nó.
Giải thích từ ngữ
Dùng hàn mà nhiệt thêm: có thể do âm không đủ, hàn thuốc làm dương bị uất, nhiệt càng bốc; cần cầu ở âm để nuôi âm, giữ nhiệt không bốc.
Dùng nhiệt mà hàn thêm: có thể do dương không đủ, nhiệt thuốc không vào gốc, hàn càng lộ; cần cầu ở dương để phục dương.
Cầu kỳ thuộc: tìm đúng chỗ bệnh thuộc về âm hay dương, không chỉ nhìn hàn nhiệt bên ngoài.
Đoạn 85
Nguyên văn
帝曰:善。服寒而反热,服热而反寒,其故何也。歧伯曰:治其王气,是以反也。帝曰:不治王而然者,何也。歧伯曰:悉乎哉问也。不治五味属也。夫五味入胃,各归所喜,攻酸先入肝,苦先入心,甘先入脾,辛先入肺,咸先入肾,久而增气,物化之常也。气增而久,夭之由也。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Phục hàn nhi phản nhiệt, phục nhiệt nhi phản hàn, kỳ cố hà dã?
Kỳ Bá viết: Trị kỳ vương khí, thị dĩ phản dã.
Đế viết: Bất trị vương nhi nhiên giả, hà dã?
Kỳ Bá viết: Tất hồ tai vấn dã. Bất trị ngũ vị thuộc dã. Phù ngũ vị nhập Vị, các quy sở hỷ. Toan tiên nhập Can, khổ tiên nhập Tâm, cam tiên nhập Tỳ, tân tiên nhập Phế, hàm tiên nhập Thận. Cửu nhi tăng khí, vật hóa chi thường dã. Khí tăng nhi cửu, yêu chi do dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Uống thuốc hàn mà lại nóng thêm, uống thuốc nhiệt mà lại lạnh thêm, nguyên nhân là gì?
Kỳ Bá nói:
Vì trị đúng vào khí đang vượng, nên sinh phản ứng trái lại.
Hoàng Đế hỏi:
Nếu không trị vào khí đang vượng mà vẫn như vậy, là vì sao?
Kỳ Bá nói:
Câu hỏi thật đầy đủ thay. Đó là vì không trị đúng chỗ thuộc của ngũ vị.
Năm vị vào Vị, mỗi vị đều quy về nơi nó ưa thích.
Vị chua trước vào Can.
Vị đắng trước vào Tâm.
Vị ngọt trước vào Tỳ.
Vị cay trước vào Phế.
Vị mặn trước vào Thận.
Dùng lâu thì làm tăng khí của tạng ấy, đó là lẽ thường của vật hóa. Nhưng khí tăng lâu ngày, lại là nguyên nhân làm tổn thọ.
Giải thích từ ngữ
Vương khí: khí đang vượng. Nếu đánh trực tiếp sai thời, có thể làm khí phản động.
Ngũ vị các quy sở hỷ: mỗi vị có khuynh hướng đi vào tạng tương ứng.
Khí tăng lâu ngày làm tổn thọ: dùng thiên lệch một vị lâu dài sẽ làm một khí quá thịnh, mất cân bằng mà sinh hại.
QUÂN THẦN TRONG PHƯƠNG VÀ PHÉP TRỊ TRONG NGOÀI
Đoạn 86
Nguyên văn
帝曰:善。方制君臣何谓也。歧伯曰:主病之谓君,佐君之谓臣,应臣之谓使,非上下三品之谓也。帝曰:三品何谓。歧伯曰:所以明善恶之殊贯也。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Phương chế quân thần hà vị dã?
Kỳ Bá viết: Chủ bệnh chi vị quân, tá quân chi vị thần, ứng thần chi vị sứ, phi thượng hạ tam phẩm chi vị dã.
Đế viết: Tam phẩm hà vị?
Kỳ Bá viết: Sở dĩ minh thiện ác chi thù quán dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Chế phương nói quân, thần là gì?
Kỳ Bá nói:
Vị chủ trị bệnh chính gọi là quân.
Vị giúp quân gọi là thần.
Vị ứng với thần, dẫn dắt và phối hợp gọi là sứ.
Đó không phải là nói đến thượng phẩm, trung phẩm, hạ phẩm.
Hoàng Đế hỏi:
Tam phẩm là gì?
Kỳ Bá nói:
Là để làm rõ sự khác nhau về tốt xấu, mạnh yếu, tính chất của thuốc.
Giải thích từ ngữ
Quân: vị chủ, nhắm vào bệnh chính.
Thần: vị phụ giúp quân, tăng lực trị hoặc trị chứng phụ quan trọng.
Sứ: vị dẫn đường, điều hòa, đưa thuốc đến nơi bệnh hoặc hòa hợp các vị.
Tam phẩm: cách phân loại thuốc thượng, trung, hạ phẩm trong bản thảo cổ; khác với quân thần tá sứ trong phương.
Đoạn 87
Nguyên văn
帝曰:善。病之中外何如。歧伯曰:调气之方,必别阴阳,定其中外,各守其乡。内者内治,外者外治,微者调之,其次平之,盛者夺之,汗者下之,寒热温凉,衰之以属,随其攸利,谨道如法,万举万全,气血正平,长有天命。帝曰:善。
Hán Việt
Đế viết: Thiện. Bệnh chi trung ngoại hà như?
Kỳ Bá viết: Điều khí chi phương, tất biệt âm dương, định kỳ trung ngoại, các thủ kỳ hương. Nội giả nội trị, ngoại giả ngoại trị. Vi giả điều chi, kỳ thứ bình chi, thịnh giả đoạt chi. Hãn giả hạ chi. Hàn nhiệt ôn lương, suy chi dĩ thuộc, tùy kỳ du lợi. Cẩn đạo như pháp, vạn cử vạn toàn, khí huyết chính bình, trường hữu thiên mệnh.
Đế viết: Thiện.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Hay thay. Bệnh ở trong ngoài thì thế nào?
Kỳ Bá nói:
Phương điều khí nhất định phải phân biệt âm dương, định rõ bệnh ở trong hay ngoài, mỗi bệnh giữ đúng nơi của nó mà trị.
Bệnh ở trong thì trị trong.
Bệnh ở ngoài thì trị ngoài.
Bệnh nhẹ thì điều hòa.
Nặng hơn thì làm cho bình.
Bệnh thịnh thì đoạt bớt.
Bệnh cần phát hãn thì phát hãn; bệnh cần công hạ thì công hạ.
Hàn, nhiệt, ôn, lương, đều làm suy bớt theo chỗ thuộc của nó, tùy điều có lợi mà dùng.
Cẩn thận giữ đạo, làm đúng phép, thì muôn lần làm đều trọn vẹn. Khí huyết chính bình, có thể sống trọn thiên mệnh lâu dài.
Hoàng Đế nói:
Hay thay.
Giải thích từ ngữ
Các thủ kỳ hương: bệnh ở đâu, khí thuộc đâu, thì trị đúng chỗ đó.
Vi giả điều chi: bệnh nhẹ thì điều khí, không cần công phạt.
Thịnh giả đoạt chi: bệnh thịnh, tà thực thì đoạt bớt, công trục.
Khí huyết chính bình: khí huyết trở lại chính thường, bình hòa.
Nhận xét cho phần này
Đoạn này đưa toàn bộ lý luận vận khí về phép dùng thuốc và lập phương. Sau khi nói bệnh cơ, Nội Kinh không khuyên trị máy móc, mà dạy phải hiểu âm dương của vị thuốc, hiểu quân thần tá sứ, hiểu bệnh ở trong hay ngoài, hiểu khi nào chính trị, khi nào phản trị.
Câu “tân cam phát tán vi dương, toan khổ dũng tiết vi âm” là nguyên tắc rất quan trọng. Vị thuốc không chỉ có tên gọi, mà có hướng đi: phát tán, thu liễm, tiết hạ, thấm lợi, làm táo, làm nhuận, làm mềm, làm chắc. Người dùng thuốc phải mượn hướng đi ấy để điều khí.
Đoạn “hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi” là chính trị, nhưng ngay sau đó lại nói “thậm giả tòng chi”. Nghĩa là bệnh nặng hoặc có giả tượng thì không thể chỉ dùng đối trị đơn giản. Có lúc phải phản trị, như nhiệt nhân hàn dụng, hàn nhân nhiệt dụng, tắc nhân tắc dụng, thông nhân thông dụng. Đây là chỗ rất tinh tế, nếu không hiểu tiêu bản, hư thực, chủ khách thì dễ dùng sai.
Đoạn “uống hàn lại nóng, uống nhiệt lại lạnh” cũng rất hay. Nó nhắc rằng thuốc không chỉ tác động theo tính hàn nhiệt bên ngoài, mà còn theo khí đang vượng, theo ngũ vị quy tạng, theo âm dương thuộc tính của người bệnh. Một vị dùng lâu có thể làm tăng khí của một tạng, lâu ngày lại thành thiên lệch, gây hại.
Cuối cùng, quân thần tá sứ trong phương không phải là thượng phẩm, trung phẩm, hạ phẩm của bản thảo, mà là vai trò trong phương. Vị chủ bệnh là quân, vị giúp quân là thần, vị dẫn và ứng là sứ. Phương tốt là phương biết bệnh chính, biết phụ chứng, biết dẫn thuốc, biết điều hòa.