Tam Thập Nhất Nan
Điều khó thứ ba mươi mốt
Hỏi: Tam tiêu nhận từ đâu, sinh ra từ đâu? Bắt đầu ở đâu, kết thúc ở đâu? Chỗ chủ trị thường ở nơi nào? Có thể hiểu rõ được không?
Tam tiêu: Một phủ đặc biệt trong Trung y, chia thành thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu; chủ thông hành nguyên khí, vận hành thủy dịch, làm đường đi của khí hóa.
Hà bẩm hà sinh: Nhận khí từ đâu, sinh hóa từ đâu, tức nguồn gốc và chức năng sinh lý của tam tiêu.
Hà thủy hà chung: Bắt đầu và kết thúc ở đâu, chỉ phạm vi vị trí và đường vận hành.
Kỳ trị: Chỗ chủ trị, tức nơi có thể dùng để chẩn trị hoặc huyệt vị liên hệ.
Đáp: Tam tiêu là đường đi của thủy cốc, là nơi khí bắt đầu và kết thúc. Thượng tiêu ở dưới tâm, dưới cơ hoành, trên miệng trên của vị, chủ nạp vào mà không xuất ra; chỗ chủ trị ở Đản trung. Trung tiêu ở Trung quản của vị, không trên không dưới, chủ làm chín nhừ thủy cốc; chỗ chủ trị ở bên cạnh rốn. Hạ tiêu ở miệng trên của bàng quang, chủ phân biệt trong đục, chủ xuất ra mà không nạp vào, dùng để truyền đạo. Vì vậy gọi là tam tiêu, phủ của nó ở Khí nhai.
Thủy cốc chi đạo lộ: Đường đi của thức ăn nước uống trong cơ thể, bao gồm thu nạp, tiêu hóa, hấp thu, vận chuyển và bài tiết.
Khí chi sở chung thủy: Nơi khí bắt đầu và kết thúc, chỉ tam tiêu là đường thông hành của nguyên khí và khí hóa toàn thân.
Thượng tiêu: Phần trên của tam tiêu, từ ngực đến trên vị, chủ hô hấp, tuyên phát, phân bố khí và tân dịch ra toàn thân.
Chủ nội nhi bất xuất: Chủ tiếp nhận, đưa tinh khí vào trong và phân bố, không chủ bài xuất chất cặn.
Đản trung: Huyệt ở giữa ngực, giữa hai núm vú, là nơi tông khí hội tụ, có tác dụng điều khí, lợi ngực, thông phế.
Trung tiêu: Phần giữa của tam tiêu, chủ yếu gồm tỳ vị, phụ trách tiêu hóa và vận hóa thủy cốc.
Trung quản: Vùng giữa dạ dày, cũng là huyệt Nhâm mạch quan trọng để điều vị khí, kiện tỳ vị.
Phủ thục thủy cốc: Làm chín nhừ và tiêu hóa thức ăn nước uống, tức chức năng của tỳ vị.
Hạ tiêu: Phần dưới của tam tiêu, gồm thận, bàng quang, ruột, hạ tiêu, chủ phân thanh giáng trọc, bài tiết nước tiểu, đại tiện và sinh dục.
Phân biệt thanh trọc: Phân chia tinh vi trong sạch để hấp thu, chất đục cặn để bài xuất.
Chủ xuất nhi bất nội: Chủ bài xuất ra ngoài, không chủ thu nạp vào.
Truyền đạo: Chuyển vận và bài tiết chất cặn, nước tiểu, đại tiện.
Khí nhai: Vùng bẹn, nơi khí của kinh mạch tụ hội; trong văn cảnh này nói phủ của tam tiêu ở khí nhai, liên hệ sự thông hành của khí.
Tam Thập Nhị Nan
Điều khó thứ ba mươi hai
Hỏi: Năm tạng đều ngang nhau, nhưng vì sao chỉ tâm và phế ở trên cơ hoành?
Ngũ tạng câu đẳng: Năm tạng đều là tạng, cùng giữ vai trò tàng chứa tinh khí, nhưng vị trí không giống nhau.
Cách thượng: Trên cơ hoành, tức vùng ngực.
Đáp: Tâm chủ huyết, phế chủ khí. Huyết là doanh, khí là vệ. Doanh và vệ theo nhau lên xuống, gọi là doanh vệ, thông hành kinh lạc, doanh vận hành chu khắp bên ngoài, vì vậy khiến tâm và phế riêng ở trên cơ hoành.
Tâm giả huyết: Tâm chủ huyết mạch, thúc đẩy huyết vận hành.
Phế giả khí: Phế chủ khí, chủ hô hấp, tuyên phát túc giáng.
Huyết vi doanh: Huyết và phần tinh vi nuôi dưỡng thuộc doanh, đi trong mạch để nuôi cơ thể.
Khí vi vệ: Khí bảo vệ thuộc vệ, đi ngoài mạch, ôn ấm cơ biểu, chống ngoại tà.
Doanh vệ tương tùy thượng hạ: Doanh và vệ theo nhau vận hành lên xuống, trong ngoài, duy trì sự sống.
Thông hành kinh lạc: Doanh vệ đi qua kinh lạc để nuôi dưỡng và bảo vệ toàn thân.
Tam Thập Tam Nan
Điều khó thứ ba mươi ba
Hỏi: Can có màu xanh, tượng mộc; phế có màu trắng, tượng kim. Can gặp nước thì chìm, nhưng gỗ gặp nước thì nổi; phế gặp nước thì nổi, nhưng kim loại gặp nước thì chìm. Ý nghĩa là gì?
Can thanh tượng mộc: Can ứng màu xanh, thuộc mộc.
Phế bạch tượng kim: Phế ứng màu trắng, thuộc kim.
Mộc đắc thủy nhi phù: Gỗ gặp nước thì nổi, đây là quy luật vật chất tự nhiên.
Kim đắc thủy nhi trầm: Kim loại gặp nước thì chìm, cũng là quy luật vật chất tự nhiên.
Can đắc thủy nhi trầm, phế đắc thủy nhi phù: Đây là chỗ Nan Kinh nêu ra nghịch lý để giải thích theo âm dương, can chi và khí hóa, không đơn thuần theo vật chất.
Đáp: Can không phải là thuần mộc, mà là Ất giác, là phần nhu của Canh. Nói lớn thì là âm với dương, nói nhỏ thì là chồng với vợ. Can giải phóng chút dương nhỏ của nó, mà hút lấy khí âm nhỏ; ý nó thích kim, lại đi theo âm đạo nhiều, cho nên khiến can gặp nước thì chìm. Phế không phải là thuần kim, mà là Tân thương, là phần nhu của Bính. Nói lớn thì là âm với dương, nói nhỏ thì là chồng với vợ. Phế giải phóng chút âm nhỏ của nó, kết hợp mà hướng về hỏa; ý nó thích hỏa, lại đi theo dương đạo nhiều, cho nên khiến phế gặp nước thì nổi.
Ất giác: Ất thuộc âm mộc trong thiên can, giác là âm thuộc mộc trong ngũ âm. Ý nói can không phải mộc thuần dương, mà là mộc có âm nhu.
Canh chi nhu: Canh thuộc dương kim, “nhu của Canh” chỉ quan hệ âm dương phối hợp trong can chi, dùng để giải thích can có yếu tố kim âm ẩn tàng.
Đại ngôn âm dữ dương: Nói theo phạm vi lớn là quan hệ âm dương.
Tiểu ngôn phu dữ phụ: Nói theo phạm vi nhỏ là quan hệ phối ngẫu, tương phối giữa can chi, ngũ hành.
Vi dương, vi âm: Chút dương, chút âm tiềm ẩn trong từng tạng, nói lên rằng tạng không phải một hành đơn thuần tuyệt đối.
Âm đạo: Đường thuộc âm, đi xuống, chìm, tàng.
Tân thương: Tân thuộc âm kim, thương là âm thuộc kim trong ngũ âm. Ý nói phế không phải kim thuần dương, mà có tính âm nhu.
Bính chi nhu: Bính thuộc dương hỏa, “nhu của Bính” chỉ trong phế kim có quan hệ với hỏa khí.
Dương đạo: Đường thuộc dương, đi lên, nổi, phát tán.
Phế chín rồi lại chìm, can chín rồi lại nổi là vì sao? Vì vậy biết rằng Tân phải quy về Canh, Ất phải quy về Giáp.
Phế thục phục trầm: Khi phế khí biến hóa đến cùng thì trở về tính kim, nên lại chìm.
Can thục phục phù: Khi can khí biến hóa đến cùng thì trở về tính mộc, nên lại nổi.
Tân quy Canh: Âm kim quy về dương kim, tức trở về bản hành kim.
Ất quy Giáp: Âm mộc quy về dương mộc, tức trở về bản hành mộc.
Ý chính đoạn này: Đoạn này dùng hệ thống can chi, ngũ âm, âm dương để giải thích rằng tạng phủ không chỉ tương ứng đơn giản với ngũ hành vật chất, mà có khí hóa âm dương phức tạp bên trong.
Tam Thập Tứ Nan
Điều khó thứ ba mươi tư
Hỏi: Năm tạng đều có thanh, sắc, xú, vị, dịch; có thể hiểu rõ được không?
Thanh: Âm thanh, tiếng phát ra tương ứng với tạng.
Sắc: Màu sắc biểu hiện của tạng.
Xú: Mùi khí tương ứng với tạng.
Vị: Vị trong ngũ vị tương ứng với tạng.
Dịch: Chất dịch do tạng chủ quản hoặc biểu hiện ra ngoài.
Đáp: Sách Thập Biến nói: Can có sắc xanh, mùi hôi tanh khai, vị chua, tiếng hô, dịch là nước mắt. Tâm có sắc đỏ, mùi khét, vị đắng, tiếng nói, dịch là mồ hôi. Tỳ có sắc vàng, mùi thơm, vị ngọt, tiếng ca, dịch là nước dãi. Phế có sắc trắng, mùi tanh, vị cay, tiếng khóc, dịch là nước mũi. Thận có sắc đen, mùi mục thối, vị mặn, tiếng rên, dịch là nước bọt. Đó là thanh, sắc, xú, vị, dịch của năm tạng.
Can sắc thanh: Can ứng màu xanh, thuộc mộc.
Can xú tao: Can ứng mùi khai tanh, mùi của mộc khí.
Can vị toan: Can ứng vị chua.
Can thanh hô: Can ứng tiếng hô, tiếng gọi lớn.
Can dịch khấp: Can khai khiếu ở mắt, dịch là nước mắt.
Tâm sắc xích: Tâm ứng màu đỏ, thuộc hỏa.
Tâm xú tiêu: Tâm ứng mùi khét, mùi của hỏa.
Tâm vị khổ: Tâm ứng vị đắng.
Tâm thanh ngôn: Tâm chủ thần minh, biểu hiện ở lời nói.
Tâm dịch hãn: Tâm chủ huyết mạch, mồ hôi là dịch của tâm.
Tỳ sắc hoàng: Tỳ ứng màu vàng, thuộc thổ.
Tỳ xú hương: Tỳ ứng mùi thơm.
Tỳ vị cam: Tỳ ứng vị ngọt.
Tỳ thanh ca: Tỳ ứng tiếng ca, giọng ngân nga.
Tỳ dịch diên: Tỳ dịch là nước dãi.
Phế sắc bạch: Phế ứng màu trắng, thuộc kim.
Phế xú tinh: Phế ứng mùi tanh.
Phế vị tân: Phế ứng vị cay.
Phế thanh khốc: Phế ứng tiếng khóc, vì bi thương phế.
Phế dịch thế: Phế khai khiếu ở mũi, dịch là nước mũi.
Thận sắc hắc: Thận ứng màu đen, thuộc thủy.
Thận xú hủ: Thận ứng mùi mục thối, mùi của thủy.
Thận vị hàm: Thận ứng vị mặn.
Thận thanh thân: Thận ứng tiếng rên.
Thận dịch thóa: Thận dịch là nước bọt đặc hoặc nước miếng sâu.
Hỏi: Năm tạng có bảy thần, mỗi thần tàng ở đâu?
Thất thần: Bảy yếu tố thần khí được tàng chứa trong ngũ tạng, ở đây gồm hồn, phách, thần, ý, trí, tinh, chí.
Đáp: Tạng là nơi thần khí của con người trú ngụ và cất giữ. Vì vậy can tàng hồn, phế tàng phách, tâm tàng thần, tỳ tàng ý và trí, thận tàng tinh và chí.
Can tàng hồn: Can chứa hồn, liên hệ ý hướng, mộng, kế hoạch, khả năng phát triển.
Phế tàng phách: Phế chứa phách, liên hệ bản năng, cảm giác thân thể, phản xạ sinh tồn.
Tâm tàng thần: Tâm chứa thần, chủ ý thức, tư duy, giấc ngủ, tinh thần.
Tỳ tàng ý dữ trí: Tỳ chứa ý và trí, liên hệ suy nghĩ, ghi nhớ, nhận thức, xử lý thông tin.
Thận tàng tinh dữ chí: Thận chứa tinh và chí, liên hệ căn bản sinh mệnh, ý chí, nghị lực, sinh sản, phát dục.
Tam Thập Ngũ Nan
Điều khó thứ ba mươi lăm
Hỏi: Năm tạng mỗi tạng đều có phủ tương ứng và đều gần nhau, nhưng riêng tâm phế lại cách xa đại trường, tiểu trường, vì sao?
Đáp: Kinh nói “tâm doanh, phế vệ thông hành dương khí, nên ở trên; đại trường, tiểu trường truyền âm khí xuống dưới, nên ở dưới”. Vì vậy chúng cách xa nhau.
Tâm doanh: Tâm chủ huyết mạch, liên hệ doanh khí đi trong mạch.
Phế vệ: Phế chủ khí, liên hệ vệ khí đi ngoài mạch.
Dương khí thông hành: Tâm phế ở thượng tiêu, chủ khí huyết vận hành và phát tán dương khí.
Đại trường, tiểu trường truyền âm khí nhi hạ: Đại trường, tiểu trường chủ truyền hóa chất cặn, đi xuống, thuộc chức năng giáng trọc.
Tạng phủ biểu lý tuy xa nhi thông: Tâm với tiểu trường, phế với đại trường tuy vị trí xa nhưng kinh khí biểu lý thông nhau.
Lại hỏi: Các phủ đều thuộc dương, là nơi thanh tịnh. Nay đại trường, tiểu trường, vị và bàng quang đều nhận chất không sạch, ý nghĩa là gì?
Chư phủ giai dương: Sáu phủ thuộc dương, chủ truyền hóa, thông giáng.
Thanh tịnh chi xứ: Phủ lấy thông làm thuận, không nên tích trệ lâu, chứ không phải luôn chứa vật sạch.
Bất tịnh: Chất không sạch, gồm thức ăn đang tiêu hóa, cặn bã, nước tiểu.
Đáp: Nói các phủ đều là nơi thanh tịnh là không đúng. Kinh nói: Tiểu trường là phủ thụ thịnh; đại trường là phủ truyền tả hành đạo; đởm là phủ thanh tịnh; vị là phủ thủy cốc; bàng quang là phủ tân dịch. Một phủ còn không có hai tên, cho nên biết cách nói trên là sai. Tiểu trường là phủ của tâm; đại trường là phủ của phế; đởm là phủ của can; vị là phủ của tỳ; bàng quang là phủ của thận. Tiểu trường gọi là xích trường, đại trường gọi là bạch trường, đởm gọi là thanh trường, vị gọi là hoàng trường, bàng quang gọi là hắc trường, đều do hạ tiêu chủ trị.
Tiểu trường thụ thịnh chi phủ: Tiểu trường nhận đồ đã tiêu hóa từ vị, phân biệt thanh trọc.
Đại trường truyền tả hành đạo chi phủ: Đại trường truyền tống và bài tiết cặn bã.
Đởm thanh tịnh chi phủ: Đởm chứa mật, không trực tiếp nhận thủy cốc cặn bã, nên gọi là thanh tịnh.
Vị thủy cốc chi phủ: Vị nhận thức ăn nước uống.
Bàng quang tân dịch chi phủ: Bàng quang chứa và bài tiết nước tiểu, liên hệ tân dịch sau khí hóa.
Xích trường: Tiểu trường gọi là ruột đỏ, ứng với tâm hỏa.
Bạch trường: Đại trường gọi là ruột trắng, ứng với phế kim.
Thanh trường: Đởm gọi là ruột xanh, ứng với can mộc.
Hoàng trường: Vị gọi là ruột vàng, ứng với tỳ thổ.
Hắc trường: Bàng quang gọi là ruột đen, ứng với thận thủy.
Hạ tiêu chi sở trị: Hạ tiêu chủ phân thanh trọc, bài tiết và truyền đạo.
Tam Thập Lục Nan
Điều khó thứ ba mươi sáu
Hỏi: Mỗi tạng đều chỉ có một, riêng thận lại có hai, vì sao?
Đáp: Hai thận không phải đều là thận. Bên trái là thận, bên phải là mệnh môn. Mệnh môn là nơi thần tinh trú ngụ, là nơi nguyên khí hệ thuộc. Nam dùng để tàng tinh, nữ dùng để buộc bào thai. Vì vậy biết rằng thận thực ra có một.
Tả giả vi thận: Bên trái là thận theo thuyết của Nan Kinh.
Hữu giả vi mệnh môn: Bên phải là mệnh môn, cửa của sinh mệnh.
Mệnh môn: Nơi nguyên khí nương tựa, liên hệ thận khí, tinh, sinh sản, bào cung và sinh mệnh lực.
Chư thần tinh chi sở xá: Nơi thần và tinh trú ngụ, chỉ căn bản sinh mệnh sâu xa.
Nguyên khí chi sở hệ: Nơi nguyên khí gắn vào, tức nguồn động lực sinh lý của toàn thân.
Nam tử dĩ tàng tinh: Ở nam, mệnh môn liên hệ tàng tinh và sinh sản.
Nữ tử dĩ hệ bào: Ở nữ, mệnh môn liên hệ bào cung, thai nghén.
Tam Thập Thất Nan
Điều khó thứ ba mươi bảy
Hỏi: Khí của năm tạng phát khởi ở đâu, thông đến nơi nào, có thể hiểu rõ được không?
Đáp: Năm tạng thường thông ra bảy khiếu ở trên. Vì vậy phế khí thông ra mũi, mũi hòa thì biết mùi thơm thối; can khí thông ra mắt, mắt hòa thì biết đen trắng; tỳ khí thông ra miệng, miệng hòa thì biết vị ngũ cốc; tâm khí thông ra lưỡi, lưỡi hòa thì biết ngũ vị; thận khí thông ra tai, tai hòa thì biết ngũ âm.
Thượng thất khiếu: Bảy khiếu ở đầu mặt, gồm hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi và miệng.
Phế khí thông ư tỵ: Phế khai khiếu ở mũi, phế khí hòa thì khứu giác tốt.
Can khí thông ư mục: Can khai khiếu ở mắt, can huyết đủ thì mắt sáng.
Tỳ khí thông ư khẩu: Tỳ khai khiếu ở miệng, tỳ hòa thì vị giác tốt.
Tâm khí thông ư thiệt: Tâm khai khiếu ở lưỡi, tâm hòa thì lời nói và vị giác rõ.
Thận khí thông ư nhĩ: Thận khai khiếu ở tai, thận tinh đủ thì nghe tốt.
Ngũ âm: Năm âm thanh, ở đây chỉ khả năng nghe phân biệt âm thanh.
Năm tạng không hòa thì bảy khiếu không thông; sáu phủ không hòa thì lưu kết thành ung. Tà ở sáu phủ thì dương mạch không hòa; dương mạch không hòa thì khí lưu lại; khí lưu lại thì dương mạch thịnh. Tà ở năm tạng thì âm mạch không hòa; âm mạch không hòa thì huyết lưu lại; huyết lưu lại thì âm mạch thịnh. Âm khí quá thịnh thì dương khí không thể cùng nuôi dưỡng, nên gọi là cách; dương khí quá thịnh thì âm khí không thể cùng nuôi dưỡng, nên gọi là quan; âm dương đều thịnh, không thể nuôi dưỡng lẫn nhau, gọi là quan cách. Quan cách thì không thể tận hưởng tuổi thọ mà chết.
Ngũ tạng bất hòa, thất khiếu bất thông: Tạng phủ rối loạn làm mắt, tai, mũi, miệng mất chức năng bình thường.
Lục phủ bất hòa, lưu kết vi ung: Phủ khí không thông, tà khí lưu kết có thể thành ung nhọt, tích tụ, viêm sưng.
Tà tại lục phủ: Bệnh ở phủ, thuộc dương phận.
Dương mạch bất hòa: Mạch dương không điều hòa, khí cơ bế tắc.
Khí lưu chi: Khí lưu lại không vận hành, sinh trướng, đau, thực.
Tà tại ngũ tạng: Bệnh ở tạng, thuộc âm phận.
Âm mạch bất hòa: Mạch âm không điều hòa, huyết vận hành không thuận.
Huyết lưu chi: Huyết lưu trệ, sinh ứ, đau, kết.
Cách: Âm quá thịnh, ngăn cách dương, làm âm dương không giao.
Quan: Dương quá thịnh, ngăn âm, làm âm dương không giao.
Quan cách: Âm dương đều thịnh và bế tắc, không giao thông, bệnh rất nguy.
Bất đắc tận kỳ mệnh: Không thể hưởng hết tuổi trời, tức chết sớm do bệnh nặng.
Hỏi: Kinh nói “khí chỉ đi ở năm tạng, không nuôi sáu phủ”, nghĩa là gì?
Đáp: Khí vận hành giống như nước chảy, không thể ngừng nghỉ. Vì vậy âm mạch nuôi năm tạng, dương mạch nuôi sáu phủ, như vòng không đầu mối, không biết đâu là kỷ hạn, kết thúc rồi lại bắt đầu. Nếu không bị lật úp hay tràn đầy, nhân khí bên trong làm ấm tạng phủ, bên ngoài làm nhuận tấu lý.
Khí hành như thủy lưu: Khí vận hành liên tục như nước chảy, không ngừng.
Âm mạch doanh ư ngũ tạng: Âm mạch nuôi dưỡng năm tạng.
Dương mạch doanh ư lục phủ: Dương mạch nuôi dưỡng sáu phủ.
Như hoàn vô đoan: Như vòng không đầu cuối, chỉ sự tuần hoàn liên tục.
Bất phúc dật: Không bị úp lấp, không bị tràn loạn, tức khí huyết vận hành đúng đường.
Nội ôn tạng phủ: Khí bên trong ôn dưỡng tạng phủ.
Ngoại nhu tấu lý: Khí bên ngoài làm nhuận da thịt, tấu lý, bảo vệ cơ biểu.
Tam Thập Bát Nan
Điều khó thứ ba mươi tám
Hỏi: Tạng chỉ có năm, riêng phủ lại có sáu, vì sao?
Đáp: Sở dĩ phủ có sáu là vì có tam tiêu. Tam tiêu có sự phân biệt của nguyên khí, chủ trì các khí, có tên mà không có hình, kinh của nó thuộc Thủ Thiếu dương. Đây là phủ ngoài, cho nên nói phủ có sáu.
Tam tiêu vi phủ: Tam tiêu được xếp vào sáu phủ, dù không có hình thể rõ như vị, ruột.
Nguyên khí chi biệt: Tam tiêu là đường riêng của nguyên khí, nơi nguyên khí thông hành toàn thân.
Chủ trì chư khí: Tam tiêu chủ quản sự vận hành của các khí, bao gồm khí hóa thủy dịch, nguyên khí, khí cơ.
Hữu danh vô hình: Có tên, có chức năng, nhưng không có hình thể cụ thể dễ thấy.
Thủ Thiếu dương: Kinh Tam tiêu thuộc Thủ Thiếu dương.
Ngoại phủ: Phủ đặc biệt, không trực tiếp tương ứng với một tạng theo cách thông thường như các phủ khác.
Tam Thập Cửu Nan
Điều khó thứ ba mươi chín
Hỏi: Kinh nói “phủ có năm, tạng có sáu”, nghĩa là gì?
Đáp: Lục phủ thực ra chính là năm phủ. Ngũ tạng cũng có thể nói là sáu tạng, vì thận có hai tạng: bên trái là thận, bên phải là mệnh môn. Mệnh môn là nơi tinh thần trú ngụ. Ở nam dùng để tàng tinh, ở nữ dùng để buộc bào thai. Khí của nó thông với thận, cho nên nói tạng có sáu.
Phủ hữu ngũ: Ở đây không tính tam tiêu vào năm phủ chính, vì tam tiêu không thuộc riêng một tạng hữu hình.
Tạng hữu lục: Tính thêm mệnh môn vào hệ tạng, nên thành sáu.
Mệnh môn tinh thần chi sở xá: Mệnh môn là nơi tinh và thần nương tựa, gốc của nguyên khí.
Kỳ khí dữ thận thông: Khí của mệnh môn thông với thận, nên liên hệ mật thiết với thận khí.
Hỏi: Phủ có năm là vì sao?
Đáp: Năm tạng mỗi tạng đều có một phủ, tam tiêu cũng là một phủ, nhưng không thuộc vào năm tạng, cho nên nói phủ có năm.
Ngũ tạng các nhất phủ: Can có đởm, tâm có tiểu trường, tỳ có vị, phế có đại trường, thận có bàng quang.
Tam tiêu bất thuộc ngũ tạng: Tam tiêu là phủ đặc biệt, không trực tiếp phối thuộc với một tạng hữu hình trong cách nói này.
Chú ý: Đoạn “Tam Thập Cửu Nan” trong bản bạn gửi bị lặp lại một lần, nội dung hai lần giống nhau. Bản dịch trên đã gộp một lần để tránh trùng lặp.
Tứ Thập Nan
Điều khó thứ bốn mươi
Hỏi: Kinh nói “can chủ sắc, tâm chủ xú, tỳ chủ vị, phế chủ thanh, thận chủ dịch”. Mũi là nơi biểu hiện của phế, nhưng lại biết mùi thơm thối; tai là nơi biểu hiện của thận, nhưng lại nghe âm thanh. Ý nghĩa là gì?
Can chủ sắc: Can liên hệ mắt và màu sắc.
Tâm chủ xú: Tâm liên hệ mùi theo hệ thống ngũ hành đặc biệt trong đoạn này.
Tỳ chủ vị: Tỳ liên hệ miệng và vị.
Phế chủ thanh: Phế liên hệ âm thanh, tiếng nói, khóc.
Thận chủ dịch: Thận liên hệ dịch, tân dịch, nước bọt và thủy.
Tỵ giả phế chi hậu: Mũi là biểu hiện, khiếu của phế.
Nhĩ giả thận chi hậu: Tai là biểu hiện, khiếu của thận.
Đáp: Phế là kim ở phương Tây. Kim sinh ở Tỵ, Tỵ là hỏa phương Nam; hỏa là tâm, tâm chủ mùi, cho nên khiến mũi biết mùi thơm thối. Thận là thủy ở phương Bắc. Thủy sinh ở Thân, Thân là kim phương Tây; kim là phế, phế chủ âm thanh, cho nên khiến tai nghe được âm thanh.
Phế Tây phương kim: Phế thuộc kim, ứng phương Tây.
Kim sinh ư Tỵ: Theo hệ thống trường sinh của ngũ hành, kim sinh tại Tỵ.
Tỵ giả Nam phương hỏa: Tỵ thuộc vị trí hỏa phương Nam trong can chi, liên hệ tâm.
Tâm chủ xú: Tâm chủ mùi trong phép phối thuộc này, nên mũi tuy thuộc phế nhưng nhận khả năng biết mùi qua quan hệ sinh hóa với tâm hỏa.
Thận Bắc phương thủy: Thận thuộc thủy, ứng phương Bắc.
Thủy sinh ư Thân: Theo hệ thống trường sinh, thủy sinh tại Thân.
Thân giả Tây phương kim: Thân thuộc kim phương Tây, liên hệ phế.
Phế chủ thanh: Phế chủ âm thanh, nên tai tuy thuộc thận nhưng nghe âm thanh qua quan hệ thủy sinh ở kim, thận thông với phế khí.
Ý chính đoạn này: Nan Kinh dùng ngũ hành, phương vị và địa chi để giải thích sự giao thoa chức năng giữa tạng và khiếu. Mũi tuy là khiếu của phế nhưng biết mùi do quan hệ với tâm hỏa; tai tuy là khiếu của thận nhưng nghe tiếng do quan hệ với phế kim. Điều này cho thấy chức năng trong Trung y không tách rời đơn tuyến, mà có sự tương sinh, tương thông giữa tạng phủ.
Tóm ý đoạn này: Từ Tam Thập Nhất Nan đến Tứ Thập Nan chủ yếu bàn về tam tiêu, tạng phủ, mệnh môn, ngũ tạng khai khiếu và quan hệ ngũ hành. Điều 31 giải thích tam tiêu là đường đi của thủy cốc và khí, gồm thượng tiêu chủ nạp, trung tiêu chủ tiêu hóa, hạ tiêu chủ phân thanh trọc và bài xuất. Điều 32 nói tâm phế ở trên cơ hoành vì tâm chủ huyết, phế chủ khí, doanh vệ thông hành kinh lạc. Điều 33 dùng âm dương, can chi để giải thích can mộc gặp nước lại chìm, phế kim gặp nước lại nổi, cho thấy tạng không chỉ là ngũ hành vật chất đơn thuần mà là khí hóa phức tạp. Điều 34 trình bày năm tạng ứng với thanh, sắc, xú, vị, dịch và bảy thần: can tàng hồn, phế tàng phách, tâm tàng thần, tỳ tàng ý trí, thận tàng tinh chí. Điều 35 bàn quan hệ tạng phủ biểu lý, giải thích vì sao tâm phế ở xa tiểu trường đại trường và phân loại các phủ. Điều 36 nêu thuyết mệnh môn: trái là thận, phải là mệnh môn, là nơi nguyên khí hệ thuộc, nam tàng tinh, nữ hệ bào. Điều 37 nói ngũ tạng thông ra thất khiếu, tạng phủ bất hòa thì khiếu không thông, tà ở phủ làm khí trệ, tà ở tạng làm huyết trệ, âm dương quá thịnh gây quan cách. Điều 38 và 39 giải thích vì sao có khi nói phủ sáu, tạng năm; có khi nói phủ năm, tạng sáu, do cách tính tam tiêu và mệnh môn khác nhau. Điều 40 dùng ngũ hành sinh hóa để giải thích mũi tuy thuộc phế nhưng biết mùi, tai tuy thuộc thận nhưng nghe tiếng, cho thấy các tạng phủ và khiếu có quan hệ sinh khắc, tương thông phức tạp.