I. Chứng thích ứng với thang Ma hoàng
Thang Ma hoàng là chủ phương để trị chứng Thái dương thương hàn. “Thái dương thương hàn” là chỉ về sau khi hàn tà từ ngoài xâm nhập, trên cơ sở các chứng đề cương của bệnh Thái dương lại xuất hiện thêm các chứng trạng: đau người, đau lưng, đau nhức xương khớp, ố hàn, phát nhiệt, không ra mồ hôi mà suyễn… thì gọi là chứng Thái dương thương hàn. Vì vậy, nó khác với “thương hàn đường ruột” của y học hiện đại. Hàn tà trong lục dâm thuộc âm tà, xâm phạm cơ thể, dễ làm tổn thương dương khí nhất. Dương khí của cơ thể bị hàn tà làm hại, mất tác dụng ôn ấm bình thường, nên tất thấy ố hàn. ố hàn trong Thái dương thương hàn thường rất nặng; dù mặc nhiều áo, đắp nhiều chăn, hoặc sưởi ấm, phần nhiều vẫn không giảm. Hàn chủ ngưng trệ, chủ đau, lại chủ co rút, nên ngoài ố hàn còn thấy nhiều chứng đau nhức. Ngoại cảm hàn tà làm doanh vệ ngưng sáp bất lợi, bì mao tấu lý co rút bế tắc, nên thân thể không ra mồ hôi. Dù sờ da thấy nóng rát tay, nhưng hoàn toàn không có chút dấu hiệu mồ hôi nào, điều này trong chẩn đoán rất có giá trị. “Phế chi hợp bì dã, kỳ vinh mao dã”, bì mao, lỗ chân lông bị hàn tà bế uất thì phế khí không tuyên phát được; phế khí mất tuyên phát thì khí nghịch gây suyễn; nếu ảnh hưởng đến vị khí hòa giáng còn có thể thấy ẩu nghịch. Chứng này không mồ hôi mà biểu thực, lại do hàn tà làm thương, khiến mạch khẩn mà hữu lực, nên mạch phù khẩn, khác với trúng phong là phù hoãn. Chứng Quế chi và chứng Ma hoàng đều thuộc bệnh Thái dương, nên đều có mạch phù, đầu gáy cứng đau; ố phong hàn là chứng cùng thấy. Nhưng chứng Quế chi là biểu hư, lấy ra mồ hôi, ố phong, mạch phù hoãn làm chủ; chứng Ma hoàng là biểu thực, lấy không mồ hôi, ố hàn, mình đau, mạch phù khẩn làm chủ. Hai chứng có khác nhau, không được lẫn lộn.
Thang Ma hoàng gồm bốn vị: ma hoàng, quế chi, hạnh nhân, chích cam thảo. Ma hoàng cay ấm, có thể phát tán phong hàn, khai tấu lý mà phát hãn, tuyên phế bình suyễn; quế chi thông dương giải cơ, giúp ma hoàng phát tán phong hàn; hạnh nhân đắng ấm lợi phế, giúp ma hoàng tuyên phế bình suyễn; cam thảo điều hòa các vị thuốc và bảo hộ chính khí. Phương này là tân ôn phát hãn tuấn tễ, nhưng tỷ lệ liều lượng ma hoàng với cam thảo lấy ba so một làm chuẩn, dùng như vậy mới phát huy được tác dụng phát hãn.
Thang Ma hoàng không chỉ là thuốc phát hãn giải biểu, mà còn là thánh dược trị suyễn. Bác sĩ trên thế giới đều biết ma hoàng có thể trị suyễn, nhưng họ lại không biết người đầu tiên nêu ma hoàng trị suyễn chính là Trương Trọng Cảnh thời Đông Hán ở Trung Quốc. Điều đó cũng cho thấy y học cổ truyền quả là một kho tàng vĩ đại. Thang Ma hoàng ngoài phát hãn bình suyễn còn trị “tý thống” (đau khớp) và các loại đau thuộc hàn tính, vì vậy hậu thế hễ trị chứng tý đau nhức hầu như không thể thiếu ma hoàng, cũng có thể hiểu được. Phương này ảnh hưởng rất lớn đối với hậu thế, hiện nay vẫn có giá trị thực dụng, không nên xem nhẹ.
Người viết năm 1967 theo đoàn y tế đến Cam Túc, lúc ấy giữa mùa đông giá rét, vì vị bị phong hàn mà mắc “thương hàn” chứng, toàn thân khớp không chỗ nào không đau, ố hàn đặc biệt nặng, nhiệt độ 39,8℃, không mồ hôi, ho, mạch phù khẩn. Tôi tự kê một thang Ma hoàng, uống xong nằm trên giường đất có sưởi để phát hãn, khoảng hơn một canh giờ, toàn thân mồ hôi ra rồi khỏi. Theo ghi chép y án, phương này còn có tác dụng thúc sinh, đó là vì vào mùa đông lạnh, sản phụ bị nhiễm lạnh khiến khí huyết co rút mà sinh nở khó khăn; nếu dùng thang Ma hoàng thì hàn tán khí hòa, huyết mạch lưu thông mà đạt mục đích điều trị.
III. Vận dụng gia giảm của thang Ma hoàng
Gia giảm của thang Ma hoàng là để trị các kiêm chứng khác nhau của thương hàn; suy rộng ra cũng có thể trị nhiều chứng tạp bệnh. Nói về kiêm chứng thương hàn, trong đó gồm chứng thang Tiểu thanh long của thương hàn kiêm thủy ẩm gây ho suyễn, hội chứng thang Đại thanh long của dương uất không thư mà phiền táo, và hội chứng thang Cát căn của thái dương kinh du bất lợi. Nói về tạp bệnh, thang Tiểu thanh long có thể trị chi ẩm; thang Đại thanh long có thể trị dật ẩm; còn thang Cát căn lại có thể trị “cương kính” (cơ co cứng) v.v.
(1) Thang Tiểu thanh long
Phương này trị thương hàn lại kiêm chứng thủy ẩm. 《Thương hàn luận》 khái quát bệnh cơ của nó là: “Thương hàn biểu bất giải, tâm hạ hữu thủy khí”. “Thương hàn biểu bất giải” là nói còn có các biểu chứng Thái dương thương hàn như ố hàn, phát nhiệt, không mồ hôi, mình đau nhức… “Tâm hạ hữu thủy khí” là chỉ về việc vốn có thủy ẩm đình trệ bên trong phạm vị, vị khí không giáng thì thượng nghịch gây ẩu thổ; ngoại hàn nội ẩm, ảnh hưởng lên phế (xạ phế), phế mất tuyên giáng thì ho suyễn. Do thủy tà biến động không ở yên, có thể theo khí cơ thăng giáng mà gây hại khắp nơi, nên có thể thấy thủy hàn đình trệ ở dưới gây tiểu tiện bất lợi, bụng dưới đầy trướng; thủy hàn ủng trệ ở trên làm trở ngại khí cơ gây nghẹn; thủy ẩm nội đình khiến khí không hóa tân gây khát… đều có thể gặp. Vì thuộc hàn ẩm làm bệnh nên mạch huyền, rêu lưỡi trắng mà nhuận hoạt. Nếu biện theo đàm: thường ho khạc đàm loãng trong dạng bọt, rơi xuống đất hóa thành nước; hoặc đàm hàn trong sáng như lòng trắng trứng. Những mạch chứng này có ý nghĩa quan trọng để phân biệt bản chứng. Trị dùng thang Tiểu thanh long: ngoài giải phong hàn, trong tán thủy ẩm.
Thang Tiểu thanh long gồm: ma hoàng, quế chi, thược dược, tế tân, can khương, bán hạ, chích cam thảo, ngũ vị tử . Trong phương dùng ma hoàng phát tán phong hàn, bình suyễn lợi thủy; phối quế chi tăng công năng thông dương tuyên tán; can khương, tế tân tán hàn hóa ẩm; bán hạ trừ đàm giáng nghịch; chích cam thảo phù chính hòa trung. Sợ tân tán quá mức làm hao thương chính khí nên dùng ngũ vị tử toan thu để bảo vệ khí của phế thận; lại dùng thược dược toan khổ hơi hàn, liễm doanh âm mà phòng động huyết. Phối ngũ như vậy khiến tà đi mà chính khí không bị tổn thương.
Phương này trên lâm sàng không chỉ giới hạn trị chứng “biểu hàn nội ẩm”; dù không có biểu chứng, chỉ cần thuộc hàn ẩm ho suyễn vẫn có thể dùng. Nếu hàn ẩm có xu hướng hóa nhiệt, như thấy phiền táo mà suyễn, có thể gia sinh thạch cao. Chỉ cần biện chứng chính xác thì lâm sàng dùng phương này phần nhiều có hiệu quả. Nhưng vì nó không chỉ phát tán dương khí mà còn có thể thương âm động huyết; tuy có ngũ vị tử, thược dược để hộ chính, vẫn không nên dùng lâu. Với ho suyễn ở một số bệnh tim, lao phổi… càng phải thận trọng.
Nhớ có lần tôi dẫn sinh viên thực tập ngoại trú, gặp một nam bệnh nhân ho suyễn đàm nhiều không nằm ngửa được. Xem sắc mặt đen sạm, rêu lưỡi trắng trơn, mạch huyền cứng, khạc đàm bọt trắng loãng. Biện là hàn ẩm xạ phế. Lúc ấy mùa đông giá buốt, tôi kê thang Tiểu thanh long nguyên phương hai thang; bệnh nhân đi rồi không quay lại. Mùa xuân năm sau bệnh nhân lại đến, nhờ tôi khám. Thấy sắc mặt héo úa không nhuận, thân thể rất gầy yếu, tôi hỏi nguyên do. Bệnh nhân nói: mùa đông năm trước uống thuốc thấy hiệu quả, đêm đã nằm ngửa được, đàm suyễn đều giảm, mừng quá nên tự theo nguyên phương uống tiếp hơn mười thang; dần phát ra chóng mặt, hồi hộp, đêm không ngủ… Sau tiết Đông chí bỗng bị chảy máu mũi dữ dội không cầm, phải đốt điện cầm máu ở bệnh viện. Nhưng do mất máu nhiều, mệt lả, nên lại đến chữa. Tôi nói: thuốc trước là thang Tiểu thanh long, tuy tán hàn ẩm nhưng cũng động dương khí; dùng lâu thì “hạ phạt căn bản” (phạt xuống căn bản), khiến tinh khí Thiếu âm không tàng, nên thương âm động huyết là điều tất nhiên. Bèn dùng thang Nhân sâm dưỡng vinh gia long cốt, mẫu lệ… uống vài chục thang, thể lực mới dần hồi phục.
(2) Thang Đại thanh long
Phương này trị trường hợp “đáng ra phải ra mồ hôi mà không ra mồ hôi” (Đáng hãn bất hãn), tà biểu uất lại không giải, khiến dương uất hóa nhiệt, hình thành chứng “không mồ hôi mà phiền táo” : biểu hàn kiêm nội nhiệt. Biểu hàn chưa giải nên mạch phù khẩn, phát nhiệt, ố hàn, mình đau nhức… vẫn đầy đủ. Đáng ra phải ra mồ hôi mà không ra được, vệ dương bị uất mà hóa nhiệt, dương nhiệt quấy rối bên trong nên thấy phiền táo. Ở đây biểu hàn và nội nhiệt tuy là hai biến hóa bệnh lý khác nhau, nhưng giữa chúng có liên hệ nội tại mật thiết.
《Thương hàn luận》 nói “không mồ hôi mà phiền táo” chính là chỉ ra phiền táo do không ra được mồ hôi, dương uất không tuyên. Chỉ biểu hàn không giải thì dùng thang Ma hoàng phát hãn là đủ; nhưng chứng này là ngoại hàn kiêm nội nhiệt, nên thang Ma hoàng không còn thích hợp, mà phải dùng thang Đại thanh long: ngoài giải phong hàn, trong thanh phiền nhiệt.
Thang Đại thanh long là do thang Ma hoàng tăng gấp đôi ma hoàng, lại gia sinh khương, đại táo, sinh thạch cao , nên có thể nói là phương gia vị của thang Ma hoàng. Trong phương trọng dụng ma hoàng, phối quế chi, sinh khương để phát hãn giải biểu; dùng hạnh nhân lợi phế khí, giúp ma hoàng tuyên phát; sinh thạch cao tân cam đại hàn, phối ma hoàng giải cơ để khai dương khí uất bế, lại thanh nhiệt trừ phiền; cam thảo, đại táo hòa trung phù chính, trong thuốc phát hãn còn có tác dụng trợ giúp “hãn nguyên” (nguồn mồ hôi).
Thang Đại thanh long thuộc phát hãn “tuấn tễ” (thuốc mạnh mẽ), người thể chất cường tráng mới dùng được, người thể chất hư nhược thì không dùng. Nếu người bệnh mạch vi nhược, ra mồ hôi ố phong, thuộc trúng phong biểu hư, cũng không dùng. Nếu dùng nhầm có thể do phát hãn quá nhiều mà xảy ra tứ chi quyết nghịch, cơ nhục khiêu động là biến chứng“vong dương”. Để phòng “hãn đa vong dương”, Trương Trọng Cảnh đặc biệt chú sau phương: “Mồ hôi ra nhiều thì dùng ôn phấn phủ lên. Uống một lần ra mồ hôi thì ngừng, không uống tiếp.” Ôn phấn tức bột gạo sao ấm, phủ lên người để chỉ hãn.
Có một bác sĩ họ Khâu đến viện tôi dự thính lớp 《Thương hàn luận》, khi giảng đến chứng thang Đại thanh long, ông kể một nghiệm án: quê ông có một xã viên tráng niên, lúc chống hạn đánh giếng, trong tình trạng mồ hôi ra như tắm mà thả dây xuống giếng. Xuống đáy giếng thì hàn khí ép người, mồ hôi lập tức hết, rồi phát bệnh. Chứng thấy phát nhiệt, ố hàn, toàn thân đau nhức, phiền táo khó chịu… Khâu cho là chứng thang Đại thanh long, nhưng vì đang mùa hè nên không dám dùng thuốc vội. Sau được các bác sĩ khác khích lệ và giúp đỡ, ông kê thang Đại thanh long. Mới uống một thang, bệnh nhân liền mồ hôi ra khắp người, nhiệt lui thân mát, tinh thần yên.
Lại có một nữ, 32 tuổi, người Bắc Kinh, mắc chứng tay sưng, cánh tay đau lâu ngày không khỏi, rất khổ. Đến khám, nâng tay để bắt mạch cũng thấy khó. Điều trị nhiều cách đều không hiệu quả. Mạch phù huyền cứng, chất lưỡi đỏ, rêu nước trơn, ăn uống nhị tiện đều được, kinh nguyệt cũng điều. Hỏi bệnh nhân, tự kể trời lạnh giặt đồ, nước lạnh làm tay nhiễm lạnh; giặt vài lần thì thấy đau dữ, tay sưng, ê buốt không chịu nổi.
Biện chứng: thủy hàn tà uất lại dương khí không tuyên tiết được, nên khí trệ thủy kết, phù hợp với chứng “dật ẩm”. Vì lưỡi đỏ sẫm, thân lại tráng, nên có thể phát hãn thanh nhiệt để khứ ẩm.
Phương: thang Đại thanh long nguyên phương.
Uống một thang liền ra mồ hôi mà yên.
(3) Hội chứng thang Cát căn
Phương này có thể giải biểu, sinh tân dịch, sơ thông kinh mạch; dùng trị Thái dương bị hàn tà tổn thương, kinh mạch bất lợi, có các chứng trạng như “cổ gáy lưng co cứng, không mồ hôi, ố phong”…
Thang Cát căn gồm: cát căn, ma hoàng, quế chi, sinh khương, thược dược, chích cam thảo, đại táo . Dùng cát căn vừa giải tà ở cơ biểu, vừa thăng tân dịch, nhu dưỡng cân mạch để làm dịu sự co cứng ở cổ gáy lưng; ma hoàng, quế chi, sinh khương tân ôn tán hàn, có thể phát hãn giải biểu; thược dược trợ cát căn, có thể lợi huyết mạch để thư cân cấp; cam thảo, đại táo hòa doanh vệ mà thủ trung tiêu, cũng có thể chế ước sự phát tán của ma hoàng, quế chi. Uống phương này xong thường thấy lưng nóng, tiếp đó mồ hôi ra ở lưng, rồi lan khắp thân, cổ gáy lưng hết co cứng.
Bệnh Thái dương là tà ở biểu; đã ở biểu thì nên “đương hãn nhi phát chi” (phát hãn). Vì vậy, có mồ hôi là biểu hư, trị theo loại thang Quế chi; không mồ hôi là biểu thực, trị theo loại thang Ma hoàng. Tuy chưa thể nói là đầy đủ hết phép hãn, nhưng cũng có thể từ một góc mà suy ra ba góc.
Trường Xuân Nguyễn Nghị