Tứ Thập Nhất Nan
Điều khó thứ bốn mươi mốt
Hỏi: Riêng can có hai lá, là để ứng với điều gì?
Can hữu lưỡng diệp: Can có hai lá. Đây là mô tả theo giải phẫu cổ, dùng để liên hệ với mộc khí và sự sinh phát của mùa xuân.
Đáp: Can thuộc phương Đông, hành mộc. Mộc là mùa xuân, vạn vật bắt đầu sinh, còn non nhỏ, ý chưa có nơi thân thuộc rõ ràng; rời Thái âm còn gần, cách Thái dương chưa xa, giống như còn có hai lòng, cho nên can có hai lá, cũng để ứng với lá cây của mộc.
Đông phương mộc: Phương Đông thuộc mộc, ứng với mùa xuân, can tạng.
Mộc giả xuân dã: Mộc là mùa xuân, chủ sinh phát, nảy mầm, vươn lên.
Vạn vật thủy sinh: Vạn vật bắt đầu sinh trưởng, còn non yếu, chưa định hình đầy đủ.
Khứ Thái âm thượng cận, ly Thái dương bất viễn: Cách nói cổ để chỉ can nằm giữa âm và dương trong sự sinh phát; chưa hoàn toàn rời âm, cũng chưa hoàn toàn nhập dương.
Do hữu lưỡng tâm: “Còn có hai lòng”, chỉ trạng thái phân hóa chưa hoàn toàn, mang tính chuyển tiếp giữa âm và dương.
Ứng mộc diệp: Can thuộc mộc, lá cây cũng phân nhánh, nên dùng hình tượng lá để giải thích can có nhiều lá.
Tứ Thập Nhị Nan
Điều khó thứ bốn mươi hai
Hỏi: Ruột và dạ dày của con người dài ngắn bao nhiêu, chứa được thủy cốc nhiều ít, mỗi loại là bao nhiêu?
Trường vị: Ruột và dạ dày, chỉ hệ thống tiêu hóa trong cổ y.
Thủy cốc: Nước và thức ăn.
Thọ thủy cốc: Khả năng chứa đựng thức ăn nước uống.
Đáp: Vị rộng một thước năm tấc, đường kính năm tấc, dài hai thước sáu tấc, nằm cong ngang, chứa được thủy cốc ba đấu năm thăng; trong đó thường lưu lại thức ăn hai đấu, nước một đấu năm thăng. Tiểu trường rộng hai tấc rưỡi, đường kính tám phân hơn một chút, dài ba trượng hai thước, chứa được thức ăn hai đấu bốn thăng, nước sáu thăng ba hợp hơn một chút. Hồi trường rộng bốn tấc, đường kính một tấc rưỡi, dài hai trượng một thước, chứa được thức ăn một đấu, nước bảy thăng rưỡi. Quảng trường rộng tám tấc, đường kính hai tấc rưỡi, dài hai thước tám tấc, chứa được thức ăn chín thăng ba hợp một phần tám hợp. Cho nên ruột và dạ dày tổng cộng dài năm trượng tám thước bốn tấc, hợp lại chứa được thủy cốc tám đấu bảy thăng sáu hợp một phần tám hợp. Đây là số dài ngắn của ruột dạ dày và lượng thủy cốc có thể chứa.
Vị: Dạ dày, phủ của tỳ, chủ thu nạp và làm chín nhừ thủy cốc.
Tiểu trường: Ruột non, chủ thụ thịnh và hóa vật, phân biệt thanh trọc.
Hồi trường: Đoạn ruột cong vòng, trong văn cổ thường chỉ một phần ruột truyền đạo.
Quảng trường: Đại trường, ruột già, chủ truyền tống cặn bã.
Đấu, thăng, hợp: Đơn vị đo dung tích cổ. Ở đây dùng để mô tả sức chứa của các phủ tiêu hóa.
Trượng, thước, tấc, phân: Đơn vị đo độ dài cổ. Đây là cách mô tả giải phẫu theo cổ nhân, không nên đồng nhất hoàn toàn với số đo giải phẫu hiện đại.
Can nặng bốn cân bốn lạng, bên trái ba lá, bên phải bốn lá, tổng cộng bảy lá, chủ tàng hồn. Tâm nặng mười hai lạng, bên trong có bảy lỗ, ba lông, chứa tinh trấp ba hợp, chủ tàng thần. Tỳ nặng hai cân ba lạng, dẹt, rộng ba tấc, dài năm tấc, có tán cao nửa cân, chủ bọc huyết, làm ấm năm tạng, chủ tàng ý. Phế nặng ba cân ba lạng, sáu lá hai tai, tổng cộng tám lá, chủ tàng phách. Thận có hai quả, nặng một cân một lạng, chủ tàng chí.
Can tàng hồn: Can chứa hồn, liên hệ ý hướng, mộng, kế hoạch, sự phát triển tinh thần.
Tâm tàng thần: Tâm chứa thần, chủ ý thức, tư duy, tinh thần, giấc ngủ và thần minh.
Tỳ tàng ý: Tỳ chứa ý, chủ suy nghĩ, ghi nhớ, nhận thức.
Phế tàng phách: Phế chứa phách, chủ bản năng, cảm giác thân thể, phản xạ sinh tồn.
Thận tàng chí: Thận chứa chí, chủ ý chí, nghị lực, quyết tâm.
Tinh trấp: Dịch tinh vi trong tạng, ở đây nói theo cách mô tả sinh lý cổ.
Tán cao: Chất mỡ tán ở tỳ theo mô tả cổ, hàm ý tỳ có chức năng vận hóa, nuôi cơ nhục.
Đởm ở giữa lá ngắn của can, nặng ba lạng ba thù, chứa tinh trấp ba hợp. Vị nặng hai cân hai lạng, uốn cong co duỗi, dài hai thước sáu tấc, rộng một thước năm tấc, đường kính năm tấc, chứa thức ăn hai đấu, nước một đấu năm thăng. Tiểu trường nặng hai cân mười bốn lạng, dài ba trượng hai thước, rộng hai tấc rưỡi, đường kính hơn tám phân một chút, bên trái vòng gấp chồng mười sáu khúc, chứa thức ăn hai đấu bốn thăng, nước sáu thăng ba hợp hơn một chút. Đại trường nặng hai cân mười hai lạng, dài hai trượng một thước, rộng bốn tấc, đường kính một tấc, ở bên phải rốn vòng lại mười sáu khúc, chứa thức ăn một đấu, nước bảy thăng rưỡi. Bàng quang nặng chín lạng hai thù, dọc ngang rộng chín tấc, chứa nước tiểu chín thăng chín hợp.
Đởm: Mật, phủ của can, chủ quyết đoán, chứa mật, thuộc thanh tịnh chi phủ.
Bàng quang: Phủ của thận, chứa và bài tiết nước tiểu, liên hệ khí hóa thủy dịch.
Tiểu trường thụ thịnh: Tiểu trường nhận thức ăn đã tiêu hóa từ vị, phân biệt phần trong và phần đục.
Đại trường truyền đạo: Đại trường truyền tống cặn bã ra ngoài.
Khẩu rộng hai tấc rưỡi; từ môi đến răng dài chín phân; từ sau răng đến hội yếm sâu ba tấc rưỡi, chứa nhiều nhất năm hợp. Lưỡi nặng mười lạng, dài bảy tấc, rộng hai tấc rưỡi. Yết bên trong nặng mười lạng, rộng hai tấc rưỡi, đến vị dài một thước sáu tấc. Hầu lung nặng mười hai lạng, rộng hai tấc, dài một thước hai tấc, có chín đốt. Hậu môn bên trong nặng mười hai lạng, rộng tám tấc, đường kính hơn hai tấc rưỡi, dài hai thước tám tấc, chứa thức ăn chín thăng ba hợp một phần tám hợp.
Hội yếm: Nắp thanh môn, vùng đóng mở khi nuốt, giúp thức ăn không đi vào khí đạo.
Yết: Đường nuốt, vùng họng thực quản theo cổ văn.
Hầu lung: Đường hô hấp vùng họng, liên hệ khí đạo, phát âm.
Phách môn: Cửa ra sau, tức hậu môn, do phế phách liên hệ truyền tống trong một số cách nói cổ.
Tứ Thập Tam Nan
Điều khó thứ bốn mươi ba
Hỏi: Con người không ăn không uống, bảy ngày thì chết, là vì sao?
Đáp: Trong vị của con người thường lưu lại thức ăn hai đấu, nước một đấu năm thăng. Người bình thường mỗi ngày đi đại tiện hai lần, mỗi lần ra hai thăng rưỡi, trong ngày là năm thăng. Bảy ngày thì năm nhân bảy là ba đấu năm thăng, thủy cốc đều hết. Vì vậy người bình thường không ăn uống bảy ngày mà chết là do thủy cốc và tân dịch đều cạn hết, liền chết.
Bình nhân: Người bình thường, không mắc bệnh nặng.
Thủy cốc tận: Thức ăn nước uống trong cơ thể hết, nguồn sinh hóa khí huyết bị cạn.
Tân dịch câu tận: Dịch thể trong cơ thể cạn kiệt, không còn nuôi dưỡng tạng phủ, kinh lạc, da thịt.
Bất thực ẩm thất nhật nhi tử: Quan niệm cổ cho rằng bảy ngày không ăn uống thì nguồn thủy cốc tân dịch suy kiệt, sinh khí tuyệt.
Tứ Thập Tứ Nan
Điều khó thứ bốn mươi bốn
Hỏi: Thất xung môn ở đâu?
Thất xung môn: Bảy cửa xung yếu của đường tiêu hóa, chỉ những cửa ải quan trọng nơi thức ăn nước uống đi qua.
Đáp: Môi là phi môn, răng là hộ môn, hội yếm là hấp môn, vị là bí môn, cửa dưới của thái thương là u môn, chỗ đại trường và tiểu trường hội nhau là lan môn, hạ cực là phách môn, cho nên gọi là thất xung môn.
Phi môn: Cửa bay, chỉ môi, cửa đầu tiên tiếp nhận thức ăn.
Hộ môn: Cửa nhà, chỉ răng, nơi nghiền nát thức ăn, giữ cửa miệng.
Hấp môn: Cửa hút, chỉ hội yếm, nơi liên quan nuốt và phân biệt khí đạo, thực đạo.
Bí môn: Cửa vị trên, vùng tâm vị, nơi thức ăn vào dạ dày.
Thái thương: Tên khác của vị, kho lớn chứa thủy cốc.
U môn: Cửa dưới của vị, tức môn vị, nơi thức ăn từ vị xuống ruột.
Lan môn: Chỗ tiểu trường và đại trường giao hội, tương ứng vùng hồi manh theo cách hiểu hiện đại.
Phách môn: Hậu môn, cửa ra cuối cùng của cặn bã.
Tứ Thập Ngũ Nan
Điều khó thứ bốn mươi lăm
Hỏi: Kinh nói tám hội là gì?
Bát hội: Tám nơi hội trọng yếu của phủ, tạng, cân, tủy, huyết, cốt, mạch, khí.
Đáp: Phủ hội ở Thái thương; tạng hội ở quý hiếp; cân hội ở Dương lăng tuyền; tủy hội ở Tuyệt cốt; huyết hội ở Cách du; cốt hội ở Đại trữ; mạch hội ở Thái uyên; khí hội ở ngoài Tam tiêu, một đường gân thẳng giữa hai vú. Bệnh nhiệt ở bên trong thì lấy khí huyệt nơi hội ấy để trị.
Phủ hội Thái thương: Thái thương là vị, vì vị là biển thủy cốc, sáu phủ đều lấy thông giáng, truyền hóa làm chức năng, nên phủ hội ở vị.
Tạng hội quý hiếp: Quý hiếp là vùng dưới sườn, nơi can đởm và tạng khí liên hệ.
Cân hội Dương lăng tuyền: Dương lăng tuyền là huyệt của Đởm kinh, được xem là hội của cân, thường dùng trị bệnh gân.
Tủy hội Tuyệt cốt: Tuyệt cốt còn gọi là Huyền chung, hội của tủy, liên hệ xương tủy.
Huyết hội Cách du: Cách du thuộc Bàng quang kinh, là hội của huyết, thường dùng trong bệnh huyết.
Cốt hội Đại trữ: Đại trữ thuộc Bàng quang kinh, là hội của xương.
Mạch hội Thái uyên: Thái uyên thuộc Phế kinh, là hội của mạch, vì phế triều bách mạch.
Khí hội Đản trung: Đoạn “một gân thẳng giữa hai vú” chỉ vùng Đản trung, nơi tông khí hội tụ, là hội của khí.
Khí huyệt: Huyệt vị có tác dụng điều khí, thông kinh, giải nhiệt, hòa tạng phủ.
Tứ Thập Lục Nan
Điều khó thứ bốn mươi sáu
Hỏi: Người già nằm mà không ngủ được, người trẻ khỏe ngủ mà không dễ thức, là vì sao?
Đáp: Kinh nói: “Người trẻ khỏe thì huyết khí thịnh, cơ nhục trơn nhuận, khí đạo thông, doanh vệ vận hành không mất thường độ, cho nên ban ngày tinh thần sáng suốt, ban đêm ngủ sâu không thức. Người già huyết khí suy, cơ nhục không trơn nhuận, đường doanh vệ rít tắc, cho nên ban ngày không thể tinh sáng, ban đêm không ngủ được.” Vì vậy biết người già không ngủ được là do nguyên nhân ấy.
Thiếu tráng: Người trẻ khỏe, khí huyết sung mãn.
Huyết khí thịnh: Khí huyết đầy đủ, tạng phủ được nuôi dưỡng tốt.
Cơ nhục hoạt: Cơ nhục mềm nhuận, khí huyết lưu thông.
Khí đạo thông: Đường khí thông suốt, hô hấp, kinh lạc, doanh vệ đều điều hòa.
Doanh vệ chi hành bất thất ư thường: Doanh vệ vận hành đúng quy luật ngày đêm.
Trú nhật tinh: Ban ngày tinh thần tỉnh táo, sáng suốt.
Dạ bất ngộ: Ban đêm ngủ sâu, không thức giấc nhiều.
Lão nhân huyết khí suy: Người già khí huyết suy giảm, tạng phủ và kinh lạc nuôi dưỡng kém.
Doanh vệ chi đạo sáp: Đường vận hành doanh vệ rít tắc, không thông thuận, gây rối loạn ngủ thức.
Tứ Thập Thất Nan
Điều khó thứ bốn mươi bảy
Hỏi: Vì sao riêng mặt người có thể chịu lạnh?
Đáp: Đầu người là nơi hội của các dương. Các mạch âm đều đến cổ, trong ngực rồi quay về; riêng các mạch dương đều đi lên đến đầu và tai, cho nên khiến mặt chịu lạnh được.
Chư dương chi hội: Đầu là nơi các kinh dương hội tụ, dương khí thịnh.
Chư âm mạch chí cảnh hung nhi hoàn: Các kinh âm thường lên đến vùng cổ ngực rồi quay về, không phủ khắp mặt như dương kinh.
Chư dương mạch thượng chí đầu nhĩ: Các kinh dương đều lên đầu mặt, tai, mắt, mũi, miệng.
Diện năng nại hàn: Mặt chịu lạnh tốt hơn vì dương khí hội tụ ở đầu mặt, khí huyết tương đối thịnh.
Tứ Thập Bát Nan
Điều khó thứ bốn mươi tám
Hỏi: Con người có tam hư tam thực, nghĩa là gì?
Tam hư tam thực: Ba loại hư thực, gồm hư thực của mạch, hư thực của bệnh, hư thực của chẩn.
Đáp: Có hư thực của mạch, có hư thực của bệnh, có hư thực của chẩn. Hư thực của mạch là: mềm là hư, khẩn lao là thực. Hư thực của bệnh là: đi ra là hư, đi vào là thực; nói là hư, không nói là thực; hoãn là hư, cấp là thực. Hư thực của chẩn là: mềm là hư, chắc là thực; ngứa là hư, đau là thực; bên ngoài đau mà bên trong dễ chịu là ngoài thực trong hư; bên trong đau mà bên ngoài dễ chịu là trong thực ngoài hư. Vì vậy gọi là hư thực.
Mạch chi hư thực: Phân biệt hư thực qua mạch tượng.
Nhu giả vi hư: Mạch mềm yếu, không có lực, chủ hư.
Khẩn lao giả vi thực: Mạch căng chặt, chắc, có lực, chủ thực tà, hàn, tích, đau.
Bệnh chi hư thực: Phân biệt hư thực qua biểu hiện bệnh.
Xuất giả vi hư: Bệnh khí đi ra ngoài, tiết ra, hao tán, thuộc hư.
Nhập giả vi thực: Tà khí đi vào trong, kết tụ, thuộc thực.
Ngôn giả vi hư: Người bệnh còn nói nhiều hoặc tiếng yếu, trong văn cảnh này thuộc hư.
Bất ngôn giả vi thực: Không nói, bế tắc, tà thực hoặc khí kết.
Hoãn giả vi hư: Chứng chậm, thư hoãn, yếu, thường thuộc hư.
Cấp giả vi thực: Chứng gấp, co kéo, đau cấp, thường thuộc thực.
Chẩn chi hư thực: Phân biệt qua sờ nắn, cảm giác da thịt, đau ngứa.
Dương giả vi hư: Ngứa thường thuộc phong, huyết hư, hư tà ở biểu.
Thống giả vi thực: Đau thường do khí huyết bế tắc, tà thực, ứ trệ.
Ngoại thống nội khoái: Ngoài đau mà trong dễ chịu, là ngoài thực trong hư.
Nội thống ngoại khoái: Trong đau mà ngoài dễ chịu, là trong thực ngoài hư.
Tứ Thập Cửu Nan
Điều khó thứ bốn mươi chín
Hỏi: Có chính kinh tự bệnh, có bị năm tà làm thương tổn, làm sao phân biệt?
Chính kinh tự bệnh: Bệnh phát sinh từ chính kinh, chính tạng của nó do tình chí, ăn uống, lao lực, hàn thấp trực tiếp làm tổn thương.
Ngũ tà sở thương: Năm loại tà khí làm tổn thương cơ thể, có thể theo ngũ hành truyền vào tạng khác.
Đáp: Kinh nói: “Ưu sầu tư lự thì thương tâm; thân lạnh uống lạnh thì thương phế; giận dữ làm khí nghịch, bốc lên mà không xuống thì thương can; ăn uống lao mệt thì thương tỳ; ngồi lâu nơi đất ẩm, dùng sức mạnh xuống nước thì thương thận.” Đây là chính kinh tự bệnh.
Ưu sầu tư lự thương tâm: Lo buồn, suy nghĩ quá độ làm tâm thần tổn thương, có thể gây hồi hộp, mất ngủ, tâm phiền.
Hình hàn ẩm lãnh thương phế: Thân thể nhiễm lạnh, uống đồ lạnh làm phế khí bị tổn, dễ ho, lạnh, khí nghịch.
Huệ nộ khí nghịch thương can: Giận dữ khiến can khí nghịch lên, thương can.
Ẩm thực lao quyện thương tỳ: Ăn uống thất thường, lao lực quá mức làm tỳ mất vận hóa.
Cửu tọa thấp địa, cường lực nhập thủy thương thận: Ngồi lâu nơi ẩm thấp, gắng sức xuống nước làm hàn thấp xâm hạ tiêu, thương thận.
Hỏi: Thế nào gọi là ngũ tà?
Đáp: Có trúng phong, có thương thử, có ăn uống lao mệt, có thương hàn, có trúng thấp, đó gọi là ngũ tà.
Trúng phong: Bị phong tà xâm nhập.
Thương thử: Bị thử nhiệt mùa hè làm tổn thương.
Ẩm thực lao quyện: Do ăn uống không điều độ và lao lực.
Thương hàn: Bị hàn tà làm tổn thương.
Trúng thấp: Bị thấp tà xâm nhập.
Giả sử tâm bệnh, làm sao biết là do trúng phong mà mắc?
Đáp: Sắc của người bệnh phải đỏ.
Hỏi: Vì sao nói như vậy?
Can chủ sắc. Tà tự vào can thì màu xanh, vào tâm thì màu đỏ, vào tỳ thì màu vàng, vào phế thì màu trắng, vào thận thì màu đen. Can là tà của tâm, cho nên biết phải có sắc đỏ. Bệnh ấy thân nhiệt, dưới sườn đầy đau, mạch phù đại mà huyền.
Can chủ sắc: Can liên hệ màu sắc và mắt, ở đây dùng can tà để xét sắc.
Can tà nhập tâm: Can mộc sinh tâm hỏa, phong mộc tà vào tâm thì hiện sắc đỏ.
Thân nhiệt: Thân nóng, do phong tà vào tâm hóa nhiệt.
Hiếp hạ mãn thống: Dưới sườn đầy đau, liên hệ can đởm.
Phù đại nhi huyền: Mạch nổi, lớn mà huyền, có phong mộc và nhiệt.
Làm sao biết tâm bệnh do thương thử mà mắc?
Đáp: Người bệnh phải ghét mùi khét.
Hỏi: Vì sao nói như vậy?
Tâm chủ mùi. Tà tự vào tâm thì mùi khét, vào tỳ thì mùi thơm, vào can thì mùi khai tanh, vào thận thì mùi mục thối, vào phế thì mùi tanh. Cho nên biết tâm bệnh do thương thử thì phải ghét mùi khét. Bệnh ấy thân nhiệt mà phiền, đau tim, mạch phù đại mà tán.
Tâm chủ xú: Tâm ứng mùi, đặc biệt mùi khét thuộc hỏa.
Thương thử: Thử nhiệt làm tổn thương tâm khí, dễ gây sốt, phiền, khát, mồ hôi.
Ác tiêu xú: Ghét mùi khét, phản ánh tâm hỏa bị tà thử.
Phù đại nhi tán: Mạch nổi lớn mà tán, biểu thị hỏa nhiệt và khí tán.
Làm sao biết tâm bệnh do ăn uống lao mệt mà mắc?
Đáp: Người bệnh phải thích vị đắng. Hư thì không muốn ăn, thực thì muốn ăn.
Hỏi: Vì sao nói như vậy?
Tỳ chủ vị. Vào can là vị chua, vào tâm là vị đắng, vào phế là vị cay, vào thận là vị mặn, tự vào tỳ là vị ngọt. Cho nên biết tỳ tà vào tâm thì thích vị đắng. Bệnh ấy thân nhiệt mà thân thể nặng, thích nằm, tứ chi không thu giữ được, mạch phù đại mà hoãn.
Tỳ chủ vị: Tỳ khai khiếu ở miệng, chủ vị giác.
Tỳ tà nhập tâm: Tỳ thổ liên hệ vị, khi tà của tỳ vào tâm thì biểu hiện thích vị đắng.
Hỷ khổ vị: Thích vị đắng, vị đắng thuộc tâm hỏa.
Hư vi bất dục thực: Hư thì không muốn ăn.
Thực vi dục thực: Thực thì muốn ăn, nhưng có thể là tà thực hoặc vị khí còn.
Thể trọng thị ngọa: Thân nặng thích nằm, do tỳ thấp hoặc tỳ hư.
Tứ chi bất thu: Tứ chi yếu, vì tỳ chủ tứ chi, cơ nhục.
Phù đại nhi hoãn: Mạch nổi lớn mà hoãn, có tỳ thổ thấp trệ và nhiệt.
Làm sao biết tâm bệnh do thương hàn mà mắc?
Đáp: Người bệnh phải nói mê nói nhảm.
Hỏi: Vì sao nói như vậy?
Phế chủ tiếng. Vào can là hô, vào tâm là nói, vào tỳ là ca, vào thận là rên, tự vào phế là khóc. Cho nên biết phế tà vào tâm thì nói mê nói nhảm. Bệnh ấy thân nhiệt, lạnh run sợ lạnh, nặng thì suyễn ho, mạch phù đại mà sáp.
Phế chủ thanh: Phế chủ khí, khí phát ra thành tiếng.
Phế tà nhập tâm: Phế kim tà vào tâm hỏa, làm thần minh bị nhiễu, gây nói mê.
Thiềm ngôn vọng ngữ: Nói mê, nói nhảm, thần chí rối loạn.
Sái sái ác hàn: Lạnh run, sợ lạnh, biểu hiện hàn tà ở biểu.
Thậm tắc suyễn khái: Nặng thì suyễn ho, phế khí bị tổn.
Phù đại nhi sáp: Mạch nổi lớn mà sáp, biểu hiện hàn tà, khí huyết không thông, phế khí bị trở.
Làm sao biết tâm bệnh do trúng thấp mà mắc?
Đáp: Người bệnh phải thích ra mồ hôi không thể ngừng.
Hỏi: Vì sao nói như vậy?
Thận chủ dịch. Vào can là nước mắt, vào tâm là mồ hôi, vào tỳ là nước dãi, vào phế là nước mũi, tự vào thận là nước bọt. Cho nên biết thận tà vào tâm thì mồ hôi ra không ngừng. Bệnh ấy thân nhiệt, bụng dưới đau, chân ống quyển lạnh mà khí nghịch, mạch trầm nhu mà đại. Đây là phép của ngũ tà.
Thận chủ dịch: Thận chủ thủy dịch, liên hệ các loại dịch trong cơ thể.
Thận tà nhập tâm: Thận thủy tà ảnh hưởng tâm hỏa, làm mồ hôi thuộc tâm dịch thất thường.
Hãn xuất bất khả chỉ: Mồ hôi ra không ngừng, biểu hiện khí không cố nhiếp hoặc tâm dương bị nhiễu.
Tiểu phúc thống: Bụng dưới đau, liên hệ thận và hạ tiêu.
Túc hành hàn nhi nghịch: Cẳng chân lạnh, khí nghịch, biểu hiện thận khí hoặc hạ tiêu bị hàn thấp.
Trầm nhu nhi đại: Mạch chìm, mềm mà lớn, biểu thị thấp, thủy, hạ tiêu bệnh.
Ngũ Thập Nan
Điều khó thứ năm mươi
Hỏi: Bệnh có hư tà, có thực tà, có tặc tà, có vi tà, có chính tà, làm sao phân biệt?
Hư tà: Tà đến từ hành sinh ra tạng bệnh, tức “từ sau đến” theo quan hệ mẹ con; thường có ý khí mẹ truyền sang con.
Thực tà: Tà đến từ hành do tạng bệnh sinh ra, tức “từ trước đến”; thường có ý con làm thực mẹ hoặc tà từ con.
Tặc tà: Tà đến từ hành mà tạng bệnh không thắng được, tức hành khắc mình, là tà nguy hiểm nhất.
Vi tà: Tà đến từ hành mà tạng bệnh vốn khắc được, tức mình thắng được nó, nên tà nhẹ hơn.
Chính tà: Tự tạng bị bệnh, tà thuộc bản tạng.
Đáp: Tà từ phía sau đến gọi là hư tà; tà từ phía trước đến gọi là thực tà; tà từ cái mình không thắng được đến gọi là tặc tà; tà từ cái mình thắng được đến gọi là vi tà; tự mình bệnh gọi là chính tà.
Tòng hậu lai giả vi hư tà: Từ mẹ đến con, khí bệnh theo tương sinh từ sau truyền đến.
Tòng tiền lai giả vi thực tà: Từ con đến mẹ hoặc theo chiều sinh hóa phía trước, làm bệnh thực.
Tòng sở bất thắng lai giả vi tặc tà: Từ hành khắc mình truyền đến, như thủy khắc hỏa, là tặc tà.
Tòng sở thắng lai giả vi vi tà: Từ hành mà mình có thể khắc truyền đến, tà nhẹ hơn.
Tự bệnh giả vi chính tà: Bản tạng tự bệnh, không do tạng khác truyền đến.
Hỏi: Vì sao nói như vậy?
Giả sử tâm bệnh: do trúng phong mà mắc là hư tà; do thương thử mà mắc là chính tà; do ăn uống lao mệt mà mắc là thực tà; do thương hàn mà mắc là vi tà; do trúng thấp mà mắc là tặc tà.
Tâm bệnh trung phong vi hư tà: Tâm thuộc hỏa, can mộc sinh tâm hỏa; phong thuộc can mộc, từ mẹ mộc đến con hỏa, nên gọi hư tà.
Tâm bệnh thương thử vi chính tà: Thử nhiệt thuộc hỏa, cùng loại với tâm hỏa, là bản tạng tự bệnh, nên gọi chính tà.
Tâm bệnh ẩm thực lao quyện vi thực tà: Ăn uống lao mệt thuộc tỳ thổ; tâm hỏa sinh tỳ thổ, tà từ con thổ đến mẹ hỏa, gọi thực tà.
Tâm bệnh thương hàn vi vi tà: Hàn thuộc phế kim trong phối hệ này; hỏa khắc kim, tâm có thể thắng phế kim, nên tà này nhẹ, gọi vi tà.
Tâm bệnh trúng thấp vi tặc tà: Thấp thuộc thận thủy trong phối hệ này; thủy khắc hỏa, thận thủy là cái tâm hỏa không thắng được, nên gọi tặc tà, nguy hơn.
Tóm ý đoạn này: Từ Tứ Thập Nhất Nan đến Ngũ Thập Nan bàn về hình thể tạng phủ, tiêu hóa, thất xung môn, bát hội, ngủ nghỉ, đầu mặt chịu lạnh, hư thực và ngũ tà truyền biến. Điều 41 dùng mộc khí mùa xuân để giải thích can có lá. Điều 42 mô tả kích thước, sức chứa của ruột vị và trọng lượng, chức năng tàng thần của ngũ tạng lục phủ theo giải phẫu cổ. Điều 43 nói con người không ăn uống bảy ngày thì chết vì thủy cốc tân dịch đều hết. Điều 44 nêu bảy cửa của đường tiêu hóa từ môi đến hậu môn. Điều 45 giải thích tám hội: phủ, tạng, cân, tủy, huyết, cốt, mạch, khí đều có nơi hội trị riêng. Điều 46 nói người già khó ngủ do huyết khí suy, doanh vệ vận hành rít tắc; người trẻ ngủ sâu do khí huyết thịnh. Điều 47 nói mặt chịu lạnh vì đầu là nơi hội của các dương. Điều 48 phân biệt tam hư tam thực qua mạch, bệnh và chẩn. Điều 49 phân biệt chính kinh tự bệnh và ngũ tà, đồng thời lấy tâm bệnh làm ví dụ để xét phong, thử, ăn uống lao mệt, hàn, thấp qua sắc, mùi, vị, tiếng, dịch và mạch. Điều 50 phân biệt năm loại tà theo ngũ hành truyền biến: hư tà, thực tà, tặc tà, vi tà, chính tà; trong đó tặc tà là tà từ hành khắc mình đến, thường nguy hiểm nhất.