Hướng dưỡng sinh hỗ trợ theo tinh thần Trung y
Dẫn nhập
Trong Trung y, thấp không chỉ là độ ẩm bên ngoài cơ thể. Thấp là sự đình trệ của thủy dịch, là trạng thái nặng, dính, trệ, khó hóa. Khi thấp tích lâu ngày, nó có thể làm khí cơ không thông, Tỳ Vị vận hóa kém, đờm trọc sinh ra, nhiệt uất lại, cơ thể trở nên nặng nề và nhiều chứng bệnh dai dẳng dễ xuất hiện.
Lý Đông Viên đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Tỳ Vị. Tỳ Vị là gốc của hậu thiên, là nơi sinh hóa khí huyết, cũng là nơi vận hóa thủy dịch. Nếu Tỳ hư, thấp dễ sinh. Nếu thấp lâu ngày không hóa, có thể thành đàm, thành thấp nhiệt, thành thấp trệ, làm bệnh kéo dài và dễ tái phát.
Nhiều danh y hiện đại khi quan sát bệnh mạn tính cũng nhận thấy rất nhiều người có biểu hiện của thấp, đàm thấp hoặc thấp nhiệt, nhất là trong bối cảnh ăn uống dư thừa, ít vận động, thức khuya, stress, dùng nhiều đồ lạnh, đồ ngọt, đồ béo và sống lâu trong môi trường điều hòa.
Tuy nhiên, cần nói rõ ngay từ đầu: chương này không phải là hướng dẫn chẩn đoán hay điều trị bệnh. Các bệnh như tiểu đường, tăng huyết áp, mỡ gan, viêm da, mất ngủ, đau khớp, viêm xoang, hội chứng ruột kích thích đều cần được đánh giá y khoa khi cần thiết. Những gợi ý dưới đây chỉ là hướng dưỡng sinh, điều chỉnh ăn uống, vận động, giấc ngủ và lối sống theo tinh thần Trung y.
Mục tiêu của chương này là giúp người đọc hiểu:
Vì sao thấp có thể liên quan đến một số bệnh mạn tính.
Dấu hiệu nào gợi ý cơ thể đang có thấp, đàm thấp, thấp nhiệt hoặc Tỳ hư.
Nên điều chỉnh ăn uống, sinh hoạt thế nào cho phù hợp.
Có thể dùng món ăn, trà uống, xoa bóp, vận động nhẹ ra sao để hỗ trợ.
Không tự ý ngưng thuốc, không thay thế điều trị bác sĩ, không dùng dược thiện như thuốc chữa bệnh.
IBS
Thể thường gặp theo Trung y: Tỳ hư, thấp trệ, Can khí uất
Hội chứng ruột kích thích là một rối loạn tiêu hóa mạn tính thường có biểu hiện đau bụng, đầy hơi, tiêu chảy, táo bón hoặc tiêu chảy táo bón xen kẽ. Theo Trung y, không phải mọi trường hợp IBS đều giống nhau, nhưng rất nhiều người có thể liên quan đến Tỳ hư, thấp trệ và Can khí uất.
Cơ chế theo Trung y
Tỳ chủ vận hóa. Khi Tỳ yếu, thức ăn và thủy dịch không được chuyển hóa tốt, dễ sinh thấp, làm ruột nặng, bụng đầy, đại tiện không thành khuôn.
Can chủ sơ tiết. Khi stress, lo nghĩ, uất ức kéo dài, Can khí dễ uất, làm khí cơ ở ruột bị rối loạn. Vì vậy nhiều người cứ căng thẳng là đau bụng, tiêu chảy hoặc đi ngoài nhiều lần.
Khi Tỳ hư gặp Can uất, lại thêm thấp trệ, tiêu hóa sẽ càng thất thường.
Dấu hiệu thường gặp
Đầy bụng, bụng sôi.
Đau bụng giảm sau khi đi ngoài.
Tiêu chảy, táo bón hoặc hai trạng thái xen kẽ.
Đại tiện nát, dính, không khoan khoái.
Ăn đồ lạnh, đồ béo hoặc stress thì nặng hơn.
Lưỡi bệu, rêu trắng dày hoặc nhớt.
Người mệt, ăn xong buồn ngủ.
Hướng dưỡng sinh
Ăn ấm, mềm, dễ tiêu.
Ăn đúng giờ, không bỏ bữa rồi ăn bù quá nhiều.
Không uống nước đá.
Hạn chế đồ sống lạnh, đồ chiên, sữa lạnh, trà sữa, đồ nếp.
Ăn chậm, nhai kỹ.
Không ăn tối quá muộn.
Giảm stress, tập thở bụng.
Giữ bụng ấm, nhất là khi ngủ.
Món ăn gợi ý
Trà Ý rĩ (sao vàng) 30g, Táo đỏ 5 quả (bổ) Gừng 2 lát, liệu trình 10 ngày có thể dùng nhiêu liệu trình (tác dụng với IBS (chứng ruột kích thích) đáng kinh ngạc)
Cháo Ý dĩ (sao vàng) – Hoài sơn.
Cháo Bạch biển đậu.
Canh Củ cải – Gừng dùng nhẹ nếu bụng lạnh.
Cháo gạo tẻ nấu loãng với ít gừng nếu tiêu chảy do lạnh.
Nếu người có thấp nhiệt, đại tiện hôi dính, miệng đắng, rêu vàng nhớt thì không nên dùng nhiều gừng. Khi đó nên ăn thanh đạm, giảm dầu mỡ và đường.
Thực hành hỗ trợ
Xoa bụng theo chiều kim đồng hồ 100 đến 200 vòng mỗi tối.
Thở bụng 10 phút.
Đi bộ nhẹ sau ăn 10 đến 15 phút.
Bát đoạn cẩm động tác “Điều lý Tỳ Vị tu đơn cử”.
Chú ý
Nếu đi ngoài ra máu, sụt cân không rõ nguyên nhân, đau bụng dữ dội, sốt, tiêu chảy kéo dài, thiếu máu hoặc thay đổi đại tiện bất thường ở người lớn tuổi, cần đi khám.
Thể thường gặp theo Trung y: thấp nhiệt, đàm thấp, Tỳ hư, Phế khí không tuyên
Viêm da tiết bã thường biểu hiện bằng da nhờn, đỏ, bong vảy, ngứa nhẹ, hay gặp ở da đầu, mặt, quanh mũi, lông mày, sau tai, vùng ngực. Theo Trung y, tình trạng này thường không chỉ do da bên ngoài, mà có thể liên quan đến thấp nhiệt, đàm thấp, Tỳ Vị vận hóa kém và Phế khí tuyên phát không thông.
Cơ chế theo Trung y
Tỳ yếu thì thấp sinh.
Ăn nhiều dầu mỡ, đường ngọt, cay nóng, rượu bia, thức khuya làm thấp dễ hóa nhiệt.
Thấp nhiệt bốc lên phần da mặt, da đầu, làm da nhờn, đỏ, ngứa, bong vảy.
Phế chủ bì mao. Phế khí không tuyên phát thì da lông kém thông thoáng, thấp nhiệt càng khó giải ra ngoài.
Tuy nhiên, bệnh da không chỉ thuộc Phế. Cần xét cả Tỳ Vị, Can uất, huyết nhiệt, đàm thấp và thói quen sinh hoạt.
Dấu hiệu thường gặp
Da nhờn, tóc nhanh bết.
Da đỏ, bong vảy, ngứa nhẹ.
Nặng hơn khi thức khuya, stress, ăn dầu mỡ, ăn ngọt, uống rượu bia.
Có thể kèm mụn, miệng đắng, tiểu vàng.
Rêu lưỡi vàng nhớt hoặc trắng dày nhớt.
Đại tiện dính, hôi hoặc không khoan khoái.
Hướng dưỡng sinh
Giảm dầu mỡ, đồ chiên, đồ nướng.
Giảm đường, trà sữa, bánh ngọt.
Không uống rượu bia.
Ngủ sớm hơn.
Giữ da sạch, khô thoáng, không cào gãi.
Không tự bôi nhiều loại thuốc hoặc kem không rõ nguồn gốc.
Vận động nhẹ cho ra mồ hôi vừa phải.
Món uống, món ăn gợi ý
Nước Bí đao – Lá sen, dùng cho người thấp nhiệt nhẹ, da dầu, tiểu vàng.
Cháo Đậu xanh dùng ấm, lượng vừa phải, nếu không lạnh bụng.
Cháo Ý dĩ (sao) – Xích tiểu đậu, nếu người nặng nề, thấp trệ, phù nhẹ.
Trà Hoa cúc dùng nhẹ nếu đầu mặt hơi nóng, mắt mỏi.
Không nên dùng nhiều Kỷ tử nếu bụng đầy, rêu lưỡi dày nhớt, đàm thấp nặng.
Thực hành hỗ trợ
Vỗ Phế nhẹ 3 phút.
Thở sâu 5 đến 10 phút.
Đi bộ 20 phút mỗi ngày.
Xoa bụng nếu kèm đầy bụng, đại tiện dính.
Chú ý
Nếu da đỏ nhiều, rỉ dịch, nhiễm trùng, ngứa dữ dội, lan rộng hoặc tái phát nặng, nên đi khám da liễu. Dưỡng sinh chỉ là hỗ trợ, không thay thế điều trị.
Thể thường gặp theo Trung y: đàm thấp, thấp trệ, Tỳ hư
Gan nhiễm mỡ trong y học hiện đại liên quan đến chuyển hóa chất béo, cân nặng, đề kháng insulin, rượu bia, chế độ ăn và vận động. Theo Trung y, nhiều trường hợp có thể quy vào đàm thấp, thấp trệ, Tỳ hư vận hóa kém.
Cơ chế theo Trung y
Tỳ vận hóa kém, thức ăn không hóa thành khí huyết tốt, thấp sinh ra.
Thấp tích lâu ngày đặc lại thành đàm.
Đàm thấp và trọc khí tích lại, làm cơ thể nặng, bụng béo, tiêu hóa chậm.
Nếu thêm ăn nhiều dầu mỡ, uống rượu bia, thức khuya, thấp có thể hóa nhiệt, làm tình trạng nặng hơn.
Dấu hiệu thường gặp
Béo bụng, bụng nặng.
Ăn chậm tiêu.
Mệt mỏi, uể oải.
Rêu lưỡi dày, nhớt.
Miệng nhạt hoặc đắng.
Đại tiện dính.
Hay buồn ngủ sau ăn.
Hướng dưỡng sinh
Ăn khoảng bảy phần no.
Giảm đường, bánh ngọt, nước ngọt, trà sữa.
Giảm tinh bột trắng quá nhiều.
Giảm đồ chiên, đồ béo, rượu bia.
Ăn nhiều rau nấu chín, thức ăn thanh đạm.
Đi bộ sau ăn.
Duy trì vận động đều.
Không thức khuya.
Món uống, món ăn gợi ý
Trà Lá sen – Ý dĩ dùng nhẹ nếu không lạnh bụng.
Cháo Ý dĩ (sao vàng) – Xích tiểu đậu.
Cháo Hoài sơn – Bạch biển đậu nếu Tỳ hư.
Nước Đậu đen rang dùng lượng vừa phải nếu không hư hàn.
Thực hành hỗ trợ
Đi bộ nhanh vừa phải 20 đến 30 phút.
Xoa bụng 100 đến 200 vòng.
Bát đoạn cẩm.
Thở sâu giúp giảm stress và giảm ăn do căng thẳng.
Chú ý
Gan nhiễm mỡ cần theo dõi xét nghiệm, siêu âm, men gan, đường huyết, mỡ máu và hướng dẫn y khoa. Không dùng trà hoặc món ăn thay cho kế hoạch điều trị.
Thể thường gặp theo Trung y: đàm thấp che thanh khiếu
Có nhiều loại đau đầu. Không phải đau đầu nào cũng do thấp. Nhưng có một dạng rất thường gặp trong Trung y gọi là đàm thấp che thanh khiếu, biểu hiện bằng đầu nặng, chóng mặt, buồn ngủ, đờm nhiều, rêu lưỡi dày nhớt.
Cơ chế theo Trung y
Tỳ hư sinh thấp.
Thấp lâu ngày thành đàm.
Đàm thấp đi lên, che lấp thanh khiếu.
Thanh dương không thăng, đầu trở nên nặng, mờ, chóng mặt.
Dấu hiệu thường gặp
Đầu nặng như đội mũ.
Chóng mặt, đầu óc mờ.
Ngủ dậy không tỉnh.
Đờm nhiều, ngực nặng.
Ăn xong buồn ngủ.
Bụng đầy, tiêu hóa chậm.
Lưỡi bệu, rêu dày nhớt.
Hướng dưỡng sinh
Giảm sữa lạnh, phô mai, kem, bơ sữa béo.
Giảm đồ chiên, đồ nếp, đồ ngọt.
Không ăn tối muộn.
Không nằm điều hòa lạnh quá lâu.
Tập thở, mở ngực.
Vận động đều để khí cơ thông.
Món uống gợi ý
Trà Trần bì – Phục linh.
Trà Trần bì – Gừng nhẹ nếu bụng lạnh, đờm trắng.
Nước ấm thay nước lạnh.
Không tự dùng Bán hạ nếu không có hướng dẫn chuyên môn.
Thực hành hỗ trợ
Vỗ Phế 3 phút.
Thở sâu 10 phút.
Xoa mũi, day nhẹ huyệt Nghinh hương nếu có nghẹt mũi.
Đi bộ 20 phút.
Chú ý
Nếu đau đầu dữ dội đột ngột, đau đầu kèm yếu liệt, nói khó, sốt cao, nôn ói, nhìn mờ, chấn thương, huyết áp cao, cần đi khám ngay.
Thể thường gặp theo Trung y: Tỳ hư, đàm thấp, tâm thần bất an
Mất ngủ có nhiều thể: tâm huyết hư, âm hư hỏa vượng, Can uất hóa hỏa, đàm nhiệt nhiễu tâm, Tỳ hư… Trong phạm vi chương này, chúng ta chỉ nói đến mất ngủ có liên quan thấp, đàm thấp và Tỳ hư.
Cơ chế theo Trung y
Tỳ hư làm khí huyết sinh hóa kém, tâm thần không được nuôi dưỡng đầy đủ.
Tỳ hư sinh thấp, thấp thành đàm, đàm trọc làm đầu nặng, ngực tức, tâm thần không yên.
Ăn tối muộn, ăn quá no, dùng cà phê, trà đặc, thức khuya làm khí cơ rối loạn, giấc ngủ khó yên.
Dấu hiệu thường gặp
Khó ngủ hoặc ngủ chập chờn.
Đầu nặng buổi sáng.
Ngực bụng đầy, ăn tối muộn thì khó ngủ hơn.
Mơ nhiều, dễ tỉnh.
Người mệt nhưng đầu không yên.
Rêu lưỡi dày, nhớt.
Hướng dưỡng sinh
Không ăn tối muộn.
Không ăn quá no vào buổi tối.
Không uống cà phê, trà đặc sau buổi chiều.
Giảm điện thoại trước ngủ.
Ngâm chân ấm nếu thiên hàn.
Thở chậm hoặc thiền thở 10 phút.
Giữ bụng và chân ấm.
Món ăn, món uống gợi ý
Cháo Hạt sen.
Trà Táo đỏ dùng nhẹ nếu Tỳ hư, không thấp nhiệt.
Trà Hoa cúc nhẹ nếu đầu mặt nóng, mắt mỏi.
Không dùng Kỷ tử nhiều nếu bụng đầy, rêu lưỡi dày nhớt.
Thực hành hỗ trợ
Ngâm chân 10 phút nước ấm.
Xoa lưng nhẹ.
Xoa bụng nếu đầy bụng.
Thiền thở 10 phút.
Chú ý
Mất ngủ kéo dài, lo âu nặng, trầm cảm, hoảng loạn, ngưng thở khi ngủ hoặc dùng thuốc ngủ lâu dài cần được tư vấn chuyên môn.
Thể thường gặp theo Trung y: Phế khí không tuyên, đàm thấp, hàn thấp hoặc thấp nhiệt
Viêm mũi dị ứng, viêm xoang, nghẹt mũi, chảy nước mũi có thể có nhiều cơ chế. Theo Trung y, Phế khai khiếu ở mũi. Khi Phế khí không tuyên, đàm thấp hoặc phong hàn, phong nhiệt, thấp nhiệt ngăn trở, mũi xoang dễ bị bế tắc.
Cơ chế theo Trung y
Phế khí không tuyên phát, mũi không thông.
Tỳ hư sinh thấp, thấp thành đàm, đàm trọc tụ ở mũi xoang.
Hàn thấp làm dịch mũi trong, nghẹt khi gặp lạnh.
Thấp nhiệt làm dịch vàng, mùi nặng, đầu mặt nóng nặng.
Dấu hiệu thường gặp
Nghẹt mũi.
Chảy nước mũi trong hoặc đặc.
Đầu nặng, vùng trán mặt nặng.
Hắt hơi khi gặp lạnh.
Đờm nhiều.
Rêu lưỡi dày nhớt.
Hướng dưỡng sinh
Tránh uống lạnh.
Giữ ấm cổ gáy, ngực, lưng.
Không để điều hòa thổi trực tiếp vào mặt.
Giữ nhà cửa khô thoáng.
Giảm sữa lạnh, đồ ngọt, đồ béo nếu đờm nhiều.
Ngủ đủ, không thức khuya.
Món uống, món ăn gợi ý
Trà Gừng – Trần bì nếu thiên hàn, đờm trắng, sợ lạnh.
Cháo Củ cải nếu đờm nhiều, ăn chậm tiêu.
Nước ấm.
Nếu dịch mũi vàng, miệng đắng, rêu vàng nhớt thì không nên dùng nhiều gừng; cần thiên về thanh nhẹ và đi khám nếu có nhiễm trùng.
Thực hành hỗ trợ
Xoa hai bên sống mũi 100 lần.
Day nhẹ huyệt Nghinh hương.
Vỗ Phế nhẹ.
Thở sâu bằng mũi nếu mũi thông.
Chú ý
Nếu sốt, đau mặt nhiều, dịch mũi vàng xanh hôi, đau đầu nặng, viêm xoang kéo dài, hen suyễn hoặc khó thở, cần đi khám.
Thể thường gặp theo Trung y: phong hàn thấp tý, hàn thấp, khí huyết trệ
Đau khớp và thoái hóa khớp có nhiều nguyên nhân trong y học hiện đại như tuổi tác, thoái hóa sụn, viêm, chấn thương, thừa cân, tự miễn. Theo Trung y, khi đau tăng lúc trời lạnh ẩm, khớp nặng, co duỗi khó, có thể liên quan đến hàn thấp và khí huyết trệ.
Cơ chế theo Trung y
Thấp làm khớp nặng.
Hàn làm khí huyết co lại, đau tăng khi lạnh.
Phong làm đau di chuyển.
Khí huyết trệ làm đau cố định, co duỗi khó.
Nếu Tỳ hư, thấp dễ sinh bên trong; nếu môi trường ẩm lạnh, ngoại thấp dễ xâm nhập.
Dấu hiệu thường gặp
Đau tăng khi trời lạnh, mưa, ẩm.
Khớp nặng, cứng.
Cứng buổi sáng.
Gặp ấm thì dễ chịu hơn.
Chân nặng, cơ thể nặng.
Lưỡi nhạt, rêu trắng ướt nếu hàn thấp.
Hướng dưỡng sinh
Giữ ấm khớp.
Tránh ngồi lâu nơi ẩm lạnh.
Không đi chân trần trên nền lạnh.
Vận động nhẹ đều đặn.
Giảm cân nếu thừa cân.
Tránh tập quá sức khi khớp đang đau.
Món uống, món ăn gợi ý
Trà Gừng nhẹ nếu hàn thấp, sợ lạnh.
Canh Gừng – Thịt nạc nếu bụng lạnh, người hàn.
Nước Đậu đen rang dùng vừa phải nếu không lạnh bụng.
Nếu khớp sưng nóng đỏ, đau nhiều, không nên dùng đồ ấm nóng tùy tiện; cần đi khám.
Thực hành hỗ trợ
Ngâm chân nước ấm.
Xoa khớp nhẹ.
Đi bộ nhẹ nếu không đau tăng.
Bát đoạn cẩm chậm.
Chú ý
Khớp sưng nóng đỏ, đau dữ dội, biến dạng, sốt, chấn thương, đau kéo dài, nghi viêm khớp dạng thấp hoặc gout cần khám chuyên khoa.
Thể thường gặp theo Trung y: Tỳ hư, đàm thấp, thấp trệ
Béo bụng và mỡ nội tạng thường liên quan đến chế độ ăn, ít vận động, rối loạn chuyển hóa, stress, ngủ kém. Theo Trung y, tình trạng này rất hay liên quan đến Tỳ hư, đàm thấp và thấp trệ.
Cơ chế theo Trung y
Tỳ yếu, vận hóa kém.
Thức ăn không hóa thành khí huyết tốt, chuyển thành thấp trọc.
Thấp lâu ngày thành đàm.
Đàm thấp tích ở bụng, làm bụng mềm, nặng, khó giảm.
Dấu hiệu thường gặp
Béo bụng, bụng mềm.
Ăn xong buồn ngủ.
Người nặng, lười vận động.
Đại tiện dính.
Rêu lưỡi dày nhớt.
Thèm ngọt, thích đồ béo.
Hướng dưỡng sinh
Ăn bảy phần no.
Giảm đường và tinh bột tinh chế.
Giảm ăn tối muộn.
Đi bộ sau ăn.
Tập sức bền nhẹ và đều.
Ngủ đủ.
Giảm stress, vì stress dễ làm ăn nhiều và khí cơ trệ.
Món uống, món ăn gợi ý
Trà Lá sen dùng nhẹ nếu không hư hàn.
Cháo Ý dĩ (sao vàng).
Cháo Hoài sơn – Bạch biển đậu nếu Tỳ hư.
Nước ấm thay trà sữa, nước ngọt.
Thực hành hỗ trợ
Đi bộ 20 đến 30 phút.
Xoa bụng.
Bát đoạn cẩm.
Thở bụng trước khi ăn để giảm ăn do stress.
Chú ý
Béo bụng đi kèm tăng đường huyết, mỡ máu, gan nhiễm mỡ, huyết áp cao cần kiểm tra sức khỏe định kỳ.
Thể có thể gặp theo Trung y: thấp nhiệt, đàm trọc, Tỳ hư, âm hư, khí âm lưỡng hư tùy giai đoạn
Tiểu đường type 2 là bệnh chuyển hóa cần theo dõi y khoa nghiêm túc. Không thể xem đơn giản là “do thấp”. Tuy nhiên, ở nhiều người hiện đại, nhất là người béo bụng, ăn nhiều dầu ngọt, ít vận động, có thể thấy biểu hiện đàm thấp, thấp nhiệt, Tỳ hư vận hóa kém.
Cơ chế theo Trung y
Ăn uống dư thừa làm Tỳ Vị quá tải.
Tỳ vận hóa kém sinh thấp.
Thấp lâu ngày thành đàm trọc.
Đàm trọc và thấp nhiệt làm khí cơ rối loạn, chuyển hóa kém.
Về lâu dài có thể tổn thương khí âm, sinh khát, mệt, khô, tiểu nhiều tùy người.
Dấu hiệu gợi ý thấp nhiệt, đàm trọc
Béo bụng.
Da dầu, mụn, miệng đắng.
Tiểu vàng, đại tiện dính hôi.
Rêu lưỡi vàng nhớt hoặc dày nhớt.
Mệt sau ăn.
Ăn nhiều đồ ngọt, thèm tinh bột.
Hướng dưỡng sinh
Không tự ngưng thuốc tiểu đường.
Giảm đường, nước ngọt, trà sữa, bánh kẹo.
Giảm tinh bột trắng quá mức.
Ăn đủ đạm, rau nấu chín, chất xơ phù hợp.
Đi bộ sau ăn nếu sức khỏe cho phép.
Ngủ sớm.
Theo dõi đường huyết theo hướng dẫn bác sĩ.
Món ăn gợi ý
Cháo hoặc canh cần điều chỉnh theo đường huyết, không ăn cháo trắng quá nhiều.
Hoài sơn, Bạch biển đậu có thể dùng trong bữa ăn phù hợp, nhưng không xem là thuốc hạ đường.
Rau củ nấu chín, món thanh đạm, ít dầu.
Nước ấm thay đồ ngọt.
Thực hành hỗ trợ
Đi bộ nhẹ sau ăn 10 đến 20 phút.
Thở sâu giảm stress.
Xoa bụng nhẹ nếu đầy bụng.
Bát đoạn cẩm.
Chú ý
Người tiểu đường cần được bác sĩ theo dõi. Cẩn thận với các món cháo, táo đỏ, Kỷ tử, mật ong, nước đậu nếu ảnh hưởng đường huyết. Không dùng bài thuốc hoặc dược thiện thay thuốc điều trị.
Thể có thể gặp theo Trung y: đàm thấp, thấp trệ, Can dương thượng cang, âm hư, khí huyết ứ tùy người
Tăng huyết áp là bệnh cần theo dõi và điều trị y khoa. Trong Trung y, không thể quy tất cả tăng huyết áp về thấp. Tuy nhiên, ở người béo bụng, đờm thấp, rêu lưỡi dày nhớt, đầu nặng, ngực tức, thấp trệ và đàm thấp có thể là một phần cơ chế.
Cơ chế theo Trung y
Tỳ hư sinh đàm thấp.
Đàm thấp làm khí cơ không thông.
Khí cơ không thông, thanh dương không thăng đúng, trọc âm không giáng đúng, có thể gây đầu nặng, chóng mặt.
Nếu kèm Can dương vượng, stress, mất ngủ, huyết áp càng dễ dao động.
Dấu hiệu gợi ý đàm thấp, thấp trệ
Đầu nặng, chóng mặt.
Ngực nặng, bụng đầy.
Béo bụng.
Rêu lưỡi dày nhớt.
Mệt, buồn ngủ.
Ăn nhiều dầu ngọt, ít vận động.
Hướng dưỡng sinh
Không tự ngưng thuốc huyết áp.
Giảm muối theo hướng dẫn.
Giảm rượu bia.
Giảm dầu mỡ, đồ chế biến sẵn.
Đi bộ đều.
Thở sâu, giảm stress.
Ngủ đủ.
Theo dõi huyết áp tại nhà nếu được bác sĩ khuyên.
Món uống, món ăn gợi ý
Ăn thanh đạm, rau nấu chín, giảm mặn.
Trà Hoa cúc dùng nhẹ nếu đầu mặt nóng, mắt đỏ, stress, nhưng không thay thuốc.
Trần bì dùng nhẹ nếu đầy bụng, đàm thấp.
Không dùng gừng, quế, rượu thuốc tùy tiện nếu huyết áp không ổn định.
Thực hành hỗ trợ
Thở chậm 10 phút.
Đi bộ nhẹ.
Bát đoạn cẩm nhẹ.
Xoa vai gáy nhẹ, không day bấm mạnh nếu huyết áp đang cao.
Chú ý
Huyết áp rất cao, đau ngực, khó thở, yếu liệt, nói khó, đau đầu dữ dội, nhìn mờ cần cấp cứu hoặc đi khám ngay.
Thể thường gặp theo Trung y: Tỳ hư, thấp trệ, Vị khí không giáng
Rối loạn tiêu hóa là khái niệm rộng, gồm đầy bụng, khó tiêu, ợ hơi, buồn nôn, đại tiện thất thường, ăn kém. Theo Trung y, nhóm này thường liên quan Tỳ Vị vận hóa kém và thấp trệ ở trung tiêu.
Cơ chế theo Trung y
Tỳ không vận hóa, thức ăn đình trệ.
Vị khí không giáng, sinh ợ hơi, buồn nôn, đầy tức.
Thấp trệ làm bụng nặng, đại tiện dính hoặc nát.
Ăn lạnh, ăn nhanh, ăn nhiều, stress làm tình trạng nặng hơn.
Dấu hiệu thường gặp
Ăn ít cũng đầy.
Chậm tiêu.
Ợ hơi, buồn nôn nhẹ.
Đại tiện dính hoặc nát.
Ăn đồ lạnh thì khó chịu.
Rêu lưỡi dày.
Mệt sau ăn.
Hướng dưỡng sinh
Ăn ấm.
Ăn chậm, nhai kỹ.
Ăn bảy phần no.
Không uống nước đá trong bữa ăn.
Không nằm ngay sau ăn.
Không ăn tối muộn.
Giảm đồ nếp, đồ chiên, đồ ngọt.
Món ăn gợi ý
Cháo Hoài sơn.
Cháo Bạch biển đậu.
Canh Củ cải – Gừng nhẹ nếu bụng lạnh.
Trà Trần bì – Gừng nhẹ nếu đầy bụng, không có nhiệt.
Thực hành hỗ trợ
Xoa bụng 100 đến 200 vòng.
Đi bộ sau ăn.
Bát đoạn cẩm điều lý Tỳ Vị.
Thở bụng 10 phút.
Chú ý
Đau bụng dữ dội, nôn nhiều, đi ngoài ra máu, sụt cân, khó nuốt, thiếu máu, đau kéo dài cần đi khám.
Thể thường gặp theo Trung y: khí hư, Tỳ hư, thấp trệ, đàm thấp
Mệt mỏi mạn tính có nhiều nguyên nhân: thiếu ngủ, stress, thiếu máu, bệnh tuyến giáp, nhiễm trùng, trầm cảm, bệnh tự miễn, bệnh tim phổi, rối loạn chuyển hóa… Theo Trung y, một nhóm người mệt mỏi kéo dài có thể liên quan đến Tỳ hư, khí hư, thấp trệ.
Cơ chế theo Trung y
Tỳ là nguồn sinh khí huyết. Tỳ yếu thì khí huyết sinh kém, người mệt.
Tỳ hư sinh thấp. Thấp làm cơ thể nặng, đầu nặng, buồn ngủ, lười vận động.
Đàm thấp làm đầu óc mờ, ngực bụng nặng, tinh thần không sáng.
Thức khuya và lo nghĩ làm Tỳ khí càng suy.
Dấu hiệu thường gặp
Mệt kéo dài.
Ngủ dậy vẫn mệt.
Đầu nặng, người nặng.
Ăn kém hoặc ăn xong buồn ngủ.
Đại tiện nát, dính.
Lưỡi bệu, dấu răng, rêu dày.
Béo bụng hoặc người mềm nhão.
Hướng dưỡng sinh
Ngủ sớm hơn.
Ăn ấm, dễ tiêu.
Không ăn quá no.
Giảm đồ lạnh, ngọt, béo.
Đi bộ nhẹ mỗi ngày.
Phơi nắng sáng nhẹ nếu phù hợp.
Giảm lo nghĩ, tập thở chậm.
Món ăn, món uống gợi ý
Cháo Hoài sơn – Bạch biển đậu.
Cháo Hạt sen nếu ngủ kém, Tỳ hư.
Canh Gừng nhẹ nếu bụng lạnh.
Nước ấm.
Tránh dùng nhiều trà mát nếu cơ thể hư hàn.
Thực hành hỗ trợ
Đi bộ 10 đến 20 phút.
Thở bụng.
Xoa bụng.
Ngâm chân nếu chân lạnh.
Bát đoạn cẩm nhẹ.
Chú ý
Mệt mỏi kéo dài không rõ nguyên nhân cần kiểm tra y khoa, nhất là nếu kèm sụt cân, sốt, đau ngực, khó thở, trầm cảm, thiếu máu, rối loạn kinh nguyệt, đau kéo dài hoặc suy giảm khả năng làm việc nghiêm trọng.
Tổng kết 12 bệnh thường gặp
Trong 12 nhóm bệnh và triệu chứng trên, thấp không phải là nguyên nhân duy nhất, càng không phải là lời giải thích thay thế cho y học hiện đại. Nhưng theo Trung y, thấp, đàm thấp, thấp nhiệt, Tỳ hư, khí trệ là những cơ chế rất thường gặp trong bệnh mạn tính hiện đại.
Có thể tóm tắt như sau:
IBS thường liên quan Tỳ hư, thấp trệ, Can khí uất.
Viêm da tiết bã thường liên quan thấp nhiệt, đàm thấp, Tỳ Vị vận hóa kém.
Mỡ gan thường liên quan đàm thấp, thấp trệ.
Đau đầu nặng, chóng mặt có thể liên quan đàm thấp che thanh khiếu.
Mất ngủ có thể liên quan Tỳ hư, đàm thấp, tâm thần bất an.
Viêm mũi xoang có thể liên quan Phế khí không tuyên, đàm thấp, hàn thấp hoặc thấp nhiệt.
Đau khớp tăng khi trời ẩm lạnh thường liên quan hàn thấp, khí huyết trệ.
Béo bụng thường liên quan Tỳ hư, đàm thấp, thấp trệ.
Tiểu đường type 2 có thể kèm thấp nhiệt, đàm trọc, Tỳ hư, nhưng cần điều trị y khoa.
Tăng huyết áp có thể kèm đàm thấp, thấp trệ, nhưng không được tự ngưng thuốc.
Rối loạn tiêu hóa thường liên quan Tỳ hư, thấp trệ, Vị khí không giáng.
Mệt mỏi mạn tính có thể liên quan khí hư, Tỳ hư, thấp trệ, nhưng cần loại trừ bệnh lý khác.
Kết luận chương 11
Thấp là một cơ chế bệnh sinh quan trọng trong Trung y. Khi thấp tích lại, cơ thể trở nên nặng, dính, trệ, khó thông. Nếu thấp lâu ngày hóa nhiệt, có thể sinh thấp nhiệt. Nếu thấp đặc lại, có thể thành đàm thấp. Nếu thấp làm khí cơ đình trệ, tiêu hóa, da, đầu mặt, khớp, giấc ngủ và tinh thần đều có thể bị ảnh hưởng.
Vì vậy, trong dưỡng sinh phòng bệnh và hỗ trợ bệnh mạn tính, trừ thấp không nên hiểu là uống một loại trà hay dùng một vị thuốc. Trừ thấp đúng nghĩa là:
Kiện Tỳ để thấp không sinh thêm.
Khai Phế để khí cơ và bì mao thông thoáng.
Ôn Thận đúng thể để thủy dịch được khí hóa.
Điều khí để thấp không đình trệ.
Ăn uống điều độ để Tỳ Vị không quá tải.
Ngủ sớm, vận động nhẹ, giữ ấm, giảm stress để cơ thể tự phục hồi.
Điều quan trọng nhất là không cực đoan. Người lạnh không dùng quá nhiều đồ mát. Người nóng không dùng quá nhiều đồ cay ấm. Người bệnh mạn tính không tự bỏ thuốc. Người có triệu chứng nặng không trì hoãn đi khám.
Trung y quý ở biện chứng. Cùng là thấp, nhưng mỗi người một gốc bệnh, một thể trạng, một cách điều chỉnh. Khi hiểu đúng thể thấp của mình, người đọc sẽ biết cách ăn đúng hơn, uống đúng hơn, vận động đúng hơn và sống nhẹ hơn.
Tiết 1 – Tiểu luận về chứng bệnh lâm bồn
Khi thai kỳ đã đủ tháng, trong quá trình chuyển dạ và 4 giờ sau sinh, nếu xuất hiện các bệnh lý liên quan đến sinh nở, được gọi là “chứng bệnh lâm bồn”.
Các bệnh thường gặp trong giai đoạn lâm bồn gồm có: Khó sinh do khí huyết thất điều. Khó sinh do khớp mu không mở. Khó sinh do thai sai ngôi. Khó sinh do dị dạng thai nhi. Nhau không sổ v.v.Chương này chủ yếu bàn về chứng khó sinh do khí huyết thất điều và chứng nhau không sổ, phân tích biện chứng luận trị.
Cơ chế bệnh sinh của chứng bệnh lâm bồn khá phức tạp, chủ yếu do: Bẩm tố yếu, phòng sự không điều độ, tổn thương thận khí
Ăn uống thất điều, lao lực quá mức làm tổn thương tỳ khí, trung khí hư suy Tính tình uất ức, tình chí không thư thái dẫn đến khí trệ huyết ứ
Những nguyên nhân này ảnh hưởng đến chức năng của xung – nhâm, tử cung, gây ra các chứng bệnh lâm bồn.
Cụ thể: Bẩm tố bất túc, phòng sự không điều độ làm tổn thận khí, khí ở Đan điền yếu, tử cung co bóp vô lực → khó sinh do khí huyết hư. Khung chậu hẹp bẩm sinh dẫn đến khó sinh do khớp mu không mở hoặc ngôi thai bất thường. Thai nhi dị dạng, não úng thủy, thai to nên khó sinh do dị thường thai nhi. Ăn uống thất điều, lao lực quá độ tổn thương tỳ khí, trung khí hư yếu vì thế khó sinh do khí huyết suy; Thấp trọc ngưng trệ, thai to nên khó sinh. Uất ức, tình chí không điều hòa dẫn đến khí trệ huyết ứ, khó sinh
Chứng bệnh lâm bồn có hai đặc điểm nổi bật:1. Phát sinh đột ngột, tiến triển nhanh2. Nếu xử lý không thích đáng, có thể nguy hiểm đến tính mạng cả mẹ và con.Trong lâm sàng, thông qua khám thai trước sinh có thể phát hiện sớm một số bệnh như: khớp mu không mở (hẹp khung chậu), thai sai ngôi, thai nhi dị dạng… Tùy theo tuổi thai phụ, số lần sinh, sức khỏe, và mức độ dị thường để lựa chọn phương pháp sinh thích hợp.
Tuy nhiên, có một số chứng bệnh lâm bồn như nhau thai không hạ thường phát sinh trong quá trình sinh nở, vì vậy cần phải theo dõi chặt chẽ quá trình chuyển dạ, phát hiện bất thường thì xử trí kịp thời. Để điều trị và phòng ngừa hiệu quả chứng bệnh lâm bồn, khám thai trước sinh là yếu tố rất quan trọng (xem chương XVI).
Nguyên tắc điều trị: Bổ thận cố xung; Kiện tỳ ích khí; Sơ can lý huyết
Khi cần thiết phối hợp thêm thủ thuật hoặc phẫu thuật.
Tiết 2 – Chứng khó sinh
Khi thai đủ tháng lâm bồn, thai nhi không thể sinh ra thuận lợi thì gọi là khó sinh (cổ gọi là “sản nan”).
Lý luận của Trung y về chứng khó sinh khá tương đồng với y học hiện đại về các dạng khó sinh do: Cơn co tử cung bất thường; Đường sinh dục bất thường; Ngôi thai bất thường; Dị dạng thai nhi.Phần này chủ yếu bàn về: Khó sinh do khí huyết thất điều, tương đương với suy yếu cơn co tử cung trong Tây y.
[Nguyên nhân – Cơ chế bệnh sinh]
Khó sinh do khí huyết thất điều có cơ chế bệnh lý gồm hai mặt:
Hư: Khí hư không vận hành được dẫn đến khó sinh
Thực: Thấp – ứ ngăn trở nên khó sinh
Các thể bệnh thường gặp:1. Thận khí hư nhược 2. Khí huyết hư nhược 3. Khí trệ huyết 4. Khí trệ thấp uất
Do thai phụ bẩm tố bất túc, kết hôn sớm, sinh nhiều, hoặc phòng sự không điều độ làm tổn thận khí, xung nhâm bất túc, tử cung không đủ lực vận thai → gây khó sinh.
Do thể chất vốn yếu, khí huyết hư, khi chuyển dạ ra nhiều mồ hôi, dùng sức quá sớm nên hao khí thương tân, tổn thương khí huyết dẫn đến tử cung vô lực mà khó sinh.
Do thai phụ thường hay uất ức, hoặc sống quá nhàn rỗi khiến khí huyết không lưu thông; hoặc khi sinh tâm lý căng thẳng dẫn đến khí kết huyết trệ; hoặc nhiễm hàn mà hàn ngưng huyết trệ cho nên xung nhâm không thông, tử cung ứ trệ dẫn đến không vận được thai mà khó sinh.
Do thai phụ vốn dễ uất ức, khí cơ không thông; hoặc thai lớn dần gây cản trở thăng giáng khí cơ dẫn đến khí trệ thấp uất, thấp ngưng ở xung nhâm, làm tắc tử cung nên không vận thai mà khó sinh.
[Biện chứng luận trị]
Nguyên tắc xử trí: Thúc đẩy và điều hòa co bóp tử cung, Đẩy nhanh quá trình chuyển dạ; Giảm tổn thương, kết thúc cuộc sinh an toàn, hợp lý.Khi biện chứng cần phân biệt rõ với các loại khó sinh do: Khớp mu không mở; Ngôi thai bất thường; Thai nhi bất thường
Nguyên tắc điều trị: Thể hư : Bổ khí hành huyết để vận thai
Thể thực (thấp, ứ) : Hành khí hoạt huyết để trơn thai
Lưu ý: Thuốc bổ hư không nên dùng loại quá bổ béo (tư nị), tránh gây đình trệ chuyển dạ. Thuốc phá ứ không nên dùng nhiều thuốc hoạt huyết phá huyết mạnh, tránh tổn thương thai nhi
I, Thể thận khí hư nhược
Chủ chứng: Khi sinh, cơn co tử cung yếu, tử cung co bóp không mạnh, chuyển dạ kéo dài; đau lưng nhiều, chóng mặt, ù tai, rặn yếu; lưỡi nhạt, rêu mỏng ướt, mạch tế hoạt.
Phân tích: Thận khí hư, xung nhâm bất túc nên cơn co tử cung yếu, rặn không có lực; Tử cung không đủ sức vận thai nên co bóp yếu, chuyển dạ kéo dài; Thận chủ xương sinh tủy, não là bể của tủy, lưng là phủ ngoài của thận, thận hư thì đau lưng, chóng mặt, ù tai. Lưỡi nhạt, rêu mỏng ướt, mạch tế hoạt là biểu hiện của thận khí hư.
Trị pháp: Bổ thận giáng khí, khai khiếu thúc sinh.
Phương dược: Thần hiệu xúc sinh đan (trích từ 《Vệ Sinh Gia Bảo Sản Khoa Bị Yếu》).
Thành phần: Não thỏ tháng Chạp 1 cái (bỏ màng, tán nhuyễn như bùn), Băng phiến 5g (nghiền riêng, thay Xạ hương), Nhũ hương tán mịn 12,5g, Mẫu đinh hương 5g (tán cực mịn).
Cách dùng: Tất cả nghiền mịn, trộn với não thỏ thành viên cỡ hạt kê, phơi khô, bảo quản kín trong lọ sứ. Khi lâm bồn, dùng nước sắc Đinh hương ấm chiêu uống 1 hoàn.
Phân tích phương thuốc Thần hiệu xúc sinh đan:
Trong phương: Não thỏ có tác dụng bổ thận ích tinh, giúp thúc sinh, hoạt thai; Công đinh hương, Mẫu đinh hương có tác dụng ôn thận giáng nghịch, khai khiếu thúc sinh;
Nhũ hương, Băng phiến hoạt huyết tán kết, thông khiếu thúc sinh.Toàn phương có công hiệu bổ thận giáng khí, khai khiếu thúc sinh.
II, Thể khí huyết hư nhược
Chủ chứng: Khi sinh, cơn đau co thắt yếu, tử cung co bóp không mạnh, chuyển dạ kéo dài, mệt mỏi kiệt sức, tim hồi hộp, thở ngắn; có thể rặn quá sớm, rặn yếu, mặt nhợt nhạt; lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hư đại hoặc tế nhược.
Phân tích: Khí huyết hư nhược, lại rặn sớm hao tổn nguyên khí, xung nhâm bất túc khiến co thắt tử cung yếu, rặn không có lực nên chuyển dạ kéo dài; khí huyết hư không nuôi dưỡng lên trên làm cho mặt trắng nhợt; Khí hư, dương không vượng nên mệt mỏi, thở ngắn; Huyết hư tâm không được nuôi dưỡng cho nên hồi hộp. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hư đại hoặc tế nhược là biểu hiện của khí huyết hư nhược.
Trị pháp: Bổ khí dưỡng huyết, nhuận thai xúc sinh.
Phương dược: Tống tử đan (trích 《Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa》).Thành phần: Sinh hoàng kỳ, Đương quy, Mạch môn, Thục địa, Xuyên khung.
Giải thích phương: Sinh hoàng kỳ bổ ích trung khí, khí đầy thì đẩy thai ra ngoài; Thục địa, Mạch môn, Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết ích âm, huyết thịnh thì nhuận thai.
Khí đầy đủ thì huyết có chỗ dựa, huyết đầy đủ thì khí được nuôi dưỡng khi khí huyết cùng vượng, đạt hiệu quả nhuận thai thôi sản.
III, Thể khí trệ huyết ứ
Chủ chứng: Khi sinh, đau trướng bụng lưng kéo dài, đau dữ dội; tử cung co bóp mạnh nhưng không đều, không có lực đẩy, chuyển dạ kéo dài không sinh được; tinh thần căng thẳng, bứt rứt, ngực đầy, bụng chướng, buồn nôn; sắc mặt tím tái, lưỡi sẫm đỏ, rêu mỏng trắng, mạch huyền đại hoặc sác không đều.
Phân tích: Khí cơ không thông, xung nhâm bế tắc, huyết ứ trệ ở tử cung gây đau kéo dài dữ dội; tử cung bị ứ huyết, co bóp tuy mạnh nhưng vô lực, không đều, không đưa được thai ra; Tâm tình u uất, khí cơ không thông nên bứt rứt, ngực đầy, bụng chướng; Khí nghịch thăng giáng rối loạn gây buồn nôn. Lưỡi sẫm đỏ, rêu mỏng trắng, mạch huyền đại hoặc sác không đều là biểu hiện khí trệ huyết ứ.
Trị pháp: Hành khí hóa ứ, hoạt thai thôi sản.
Phương dược: Xúc sinh lập ứng tán (trích 《Tế Âm Cương Mục》).
Thành phần: Xa tiền tử, Đương quy, Đông quỳ tử, Bạch chỉ, Ngưu tất, Đại phúc bì, Chỉ xác, Xuyên khung, Bạch thược.
Giải thích phương: Đương quy, Xuyên khung, Ngưu tất hoạt huyết hóa ứ, nhuận thai xúc sinh (chủ dược);
Đại phúc bì, Chỉ xác khoan trung hạ khí, hành trệ xúc sinh;
Xa tiền tử, Đông quỳ tử lợi thủy trơn thai;
Bạch chỉ, Bạch thược dưỡng huyết tiêu thũng, hòa cấp chỉ thống.
Toàn phương có tác dụng hành khí hóa ứ, trơn thai xúc sinh.
Nếu huyết ứ nghiêm trọng, đau kéo dài không ngừng, hét to, đau khó chịu, mặt tím tái, mạch hoạt đại:
Điều trị nên:Hoạt huyết hóa ứ, trơn thai xúc sinh làm chủ, dùng Trần thị Thất Thánh tán (trích 《Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương》).Thành phần: Diên hồ sách, Một dược, Bạch phàn, Bạch chỉ, Khương hoàng, Đương quy, Quế tâm – lượng bằng nhau. Dùng rượu sắc thuốc, uống 10g, 1–2 chén là sinh con.
Diên hồ sách, Một dược, Khương hoàng, Đương quy, Quế tâm ôn kinh hóa ứ, hành khí chỉ thống, trơn thai xúc sinh; Bạch chỉ tiêu thũng chỉ thống; Bạch phàn tiêu thũng chỉ huyết.Toàn phương công hiệu hoạt huyết hóa ứ, trơn thai xúc sinh.
IV, Thể khí trệ thấp uất
Chủ chứng: Khi sinh, đau trướng bụng lưng kéo dài, đau kịch liệt; Tử cung co bóp mạnh nhưng không đều, không có lực đẩy, sinh khó kéo dài; Mặt và tay chân phù, chóng mặt hoa mắt, tim hồi hộp, thở ngắn, tức ngực, buồn nôn; Lưỡi sẫm, rêu trắng nhớt, mạch huyền hoạt hoặc hoạt đại.
Phân tích: Khí trệ thấp uất, thấp đọng ở xung nhâm gây bế tắc tử cung nên đau kéo dài và kịch liệt, co bóp mạnh nhưng vô lực vì thế sinh khó kéo dài; Thấp trọc lan ra cơ thể nên phù mặt và tay chân; Thủy khí ở hoành cách gây hồi hộp, thở ngắn, tức ngực, buồn nôn; Thấp trọc ở trung tiêu làm thanh dương không thăng làm cho chóng mặt hoa mắt. Lưỡi sẫm, rêu trắng nhớt, mạch huyền hoạt hoặc hoạt đại là biểu hiện của khí trệ thấp uất.
Trị pháp: Lý khí hóa thấp, hoạt thôi sản.
Phương dược: Thần hiệu đạt sinh tán (trích 《Đạt Sinh Biên》).
Thành phần: Tô cành, Đương quy, Bạch thược, Cam thảo, Xuyên khung, Chỉ xác, Bạch truật, Trần bì, Bối mẫu, Đại phúc bì, Đông quỳ tử, Thông bạch.
Giải thích phương: Bạch truật, Trần bì, Bối mẫu kiện tỳ hóa thấp, lý khí điều trung, hóa đàm tán kết Tô cành, Chỉ xác lợi hoành cách, khoan trung, thuận khí xúc sinh
Đại phúc bì, Đông quỳ tử hạ khí lợi thủy, tiêu phù trơn thai
Thông bạchthông dương tán kết Toàn phương công hiệu lý khí hóa thấp, trơn thai xúc sinh.
Tiết 3 – Chứng nhau thai không hạ
Sau khi thai nhi sinh ra, quá 30 phút mà nhau thai không tự sổ ra thì gọi là “chứng nhau không hạ” (còn gọi là “tức bào”).
Chứng này tương ứng với “nhau sót” trong y học hiện đại. “Bào y” là tên gọi chung của nhau thai và màng thai.
[Nguyên nhân – cơ chế bệnh sinh]
Cơ chế gây bệnh: Thể hư: Khí hư không có lực thúc đẩy
Thể thực: Huyết ứ ngăn trở hoặc hàn ngưng huyết trệ
dẫn đến nhau không sổ. Phân loại thường gặp:1. Khí hư,
Do cơ thể vốn suy yếu, trung khí bất túc, hoặc trong lúc sinh dùng sức quá độ, hoặc chuyển dạ kéo dài khiến khí huyết hao tổn, không đủ sức đưa nhau thai ra ngoài.
Cơ thể vốn suy yếu, khí không nhiếp được huyết, hoặc do ưu uất lâu ngày khiến kinh mạch không thông, huyết không quy kinh, đều có thể gây xuất huyết trong quá trình sinh, tạo thành huyết ứ trong tử cung, dẫn đến nhau thai bị cản trở không sổ ra được.
III. Thể hàn ngưng
Dương khí vốn hư, âm hàn thịnh nội sinh, hoặc phòng sinh lạnh lẽo không hợp thời tiết, hàn tà xâm phạm tử cung làm khí huyết ngưng trệ khiến nhau không sổ ra.
[Biện chứng luận trị]
Bệnh này phát sinh ngay sau sinh, khi biện chứng không chỉ căn cứ vào triệu chứng toàn thân mà còn cần đặc biệt lưu ý đến tình trạng chảy máu âm đạo đi kèm. Nếu ra máu âm đạo nhiều có thể gây huyết hư khí thoát mà ngất xỉu. Có khi âm đạo ra máu không nhiều, nhưng trong tử cung lại tích đầy huyết, khi ấn bụng hoặc tử cung sẽ thấy máu cục và máu tươi trào ra, sản phụ cũng có thể ngất do huyết hư khí thoát. Nếu không xử lý đúng, mất máu nhiều trong thời điểm “huyết thất chính khai” dễ bị nhiễm độc tà khí gây sốt hậu sản, đau bụng sau sinh… Vì vậy, xử lý kịp thời, thích đáng chứng nhau thai không hạ là vô cùng quan trọng.
Nguyên tắc xử lý:
Phương pháp điều trị: Chứng hư: nên bổ khí, đưa nhau ra ngoài, để nhiếp huyết. Chứng thực: nên hóa ứ ôn kinh, đưa nhau ra và dẫn huyết quy kinh.
Chủ chứng: Sau sinh con, nhau thai lâu không ra, bụng dưới trướng tức, có khối rắn mềm, ấn không cứng; âm đạo ra máu nhiều, màu nhạt, có thể có máu cục; mệt mỏi, chóng mặt, hoa mắt, hồi hộp, thở ngắn, mặt trắng nhợt; lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch hoãn nhược.
Phân tích: Sản phụ vốn suy nhược, sau sinh trung khí càng hư, không đủ sức đẩy nhau ra nên nhau không sổ; Khí hư hạ hãm làm cho bụng dưới trướng tức; Khí hư khiến tử cung không co hồi nên có khối mềm, ấn không cứng; Khí hư không nhiếp huyết nên ra máu nhiều, màu nhạt; Khí hư vận huyết yếu cho nên xuất hiện máu cục; Khí hư trung dương bất vượng dẫn đến mệt mỏi, thở ngắn; thanh dương không thăng nên hoa mắt, mặt nhợt; khí hư, mất máu nhiều gây hồi hộp, hoa mắt. Lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hoãn nhược đều là biểu hiện của khí hư.
Trị pháp: Bổ khí dưỡng huyết, lý khí đưa nhau ra.
Phương dược: Sinh hóa gia sâm thang (trích 《Phụ Thanh Chủ Nữ Khoa》).Thành phần: Nhân sâm, Đương quy, Xuyên khung, Bạch truật, Hương phụ.
Giải thích: Nhân sâm, Bạch truật đại bổ nguyên khí, nhiếp huyết đưa nhau; Đương quy, Xuyên khung, Hương phụ dưỡng huyết hoạt huyết, lý khí đưa nhau.Toàn phương có công hiệu bổ khí dưỡng huyết, lý khí hạ bào.
Chủ chứng: Sau sinh con, nhau thai không ra, bụng dưới đau, có khối rắn, ấn đau, âm đạo ra máu nhiều, màu sẫm có cục, sau khi máu cục ra thì đau giảm; lưỡi tím sẫm, có điểm ứ huyết; rêu mỏng, mạch huyền sáp hữu lực.
Phân tích: Huyết ứ ngăn trở nên nhau không sổ; Huyết ứ tích lại gây đau bụng dưới, có khối, ấn đau; Huyết không quy kinh vì thế ra máu nhiều, màu sẫm, có cục; Máu cục ra nên ứ được thông và đau giảm. Lưỡi tím, có ứ điểm, mạch huyền sáp hữu lực là dấu hiệu huyết ứ.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, thông lợi đưa nhau ra.
Phương dược: Ngưu tất thang (trích 《Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương》)
Thành phần: Ngưu tất, Khúc mạch, Đương quy, Thông thảo, Hoạt thạch, Đông quỳ tử.
Giải thích:
Đương quy, Ngưu tất hoạt huyết hóa ứ, đưa nhau ra;
Khúc mạch, Thông thảo, Hoạt thạch, Đông quỳ tử thông lợi thủy đạo, trơn nhuận tử cung.
Toàn phương có hiệu quả hoạt huyết hóa ứ, thông lợi hạ bào.
III. Thể hàn ngưng
Chủ chứng: Sau sinh con, nhau thai lâu không ra, bụng dưới đau lạnh, có khối rắn, ấn đau, gặp ấm thì giảm đau; âm đạo ra máu ít, máu đỏ sẫm; sợ lạnh, tay chân lạnh, mặt trắng xanh; lưỡi sẫm, rêu trắng, mạch trầm khẩn.
Phân tích: Hàn tà xâm nhập tử cung, khí huyết ngưng trệ làm cho nhau không sổ, bụng dưới đau lạnh, có khối, ấn đau; gặp ấm nên ứ được thông phần nào vì thế đau giảm; huyết bị hàn ngưng nên ra máu ít, máu sẫm; Hàn thương dương dẫn đến sợ lạnh, tay chân lạnh, mặt xanh trắng. Lưỡi sẫm, rêu trắng, mạch trầm khẩn là biểu hiện của huyết hàn.
Trị pháp: Ôn kinh hành ứ, hoạt huyết đưa nhau ra.
Phương dược: Bát vị hắc thần tán (trích 《Vệ Sinh Gia Bảo Sản Khoa Bị Yếu》)Thành phần: Thục địa hoàng, Bạch thược, Đương quy, Can khương, Nhục quế, Phù hoàng, Hắc đại đậu, Chích cam thảo.
Giải thích: Can khương, Nhục quế ôn kinh tán hàn, thông huyết mạch; Đương quy, Phù hoàng, Hắc đại đậu dưỡng huyết hoạt huyết, lợi thủy hạ bào;
Thục địa hoàng, Bạch thược bổ huyết hoãn cấp, giảm đau;
Chích cam thảo ích khí hòa trung.
Toàn phương có công hiệu ôn kinh hành ứ, hoạt huyết hạ bào.
Nếu nhau để lâu không ra, sản phụ mệt mỏi kiệt sức: nên gia thêm Nhân sâm, Hoàng kỳ, giúp khí vượng thì bệnh tà dễ lui, huyết dễ vận hành, nhau có thể ra.
Lương y Trường Xuân dịch