Tham khảo tư liệu:
Phì đại tuyến tiền liệt trong Đông y được xếp vào phạm trù “Lung bế”. Danh mục bệnh “Lung bế” được ghi chép lần đầu trong sách Hoàng Đế Nội Kinh, như trong thiên Tố Vấn – Tuyên minh ngũ khí luận có nói: “Bàng quang bất hòa vi Lung, không kiềm chế được thì tiểu tiện không tự chủ.” Thiên Tố Vấn – Tiêu bản bệnh truyền luận lại viết: “Bàng quang có bệnh, tiểu tiện bế tắc.” Thiên Linh khu – Bản du cũng viết: “Tam tiêu thực thì lũng bế, hư thì tiểu tiện không tự chủ.” Như vậy, Đông y không chỉ sớm đưa ra bệnh danh mà còn xác định rõ vị trí bệnh ở bàng quang và luận bàn đến nguyên nhân – cơ chế bệnh sinh.Đến thời Hán, Trương Trọng Cảnh trong sách Thương hàn tạp bệnh luận do tránh húy mà gọi bằng “lâm bệnh” và “tiểu tiện bất lợi”, phân biệt các thể như: khí hóa không hành (Ngũ linh tán chứng), thủy nhiệt kết hợp (Bồ hoả tán hoặc Hoạt thạch bạch ngư tán chứng), tỳ thận lưỡng hư kiêm nhiệt (Phục linh nhung diêm thang chứng).Thời Đường, Tôn Tư Mạc trong Thiên kim yếu phương không chỉ ghi lại cách thông tiểu bằng ống thông, mà còn nhấn mạnh mức độ nguy hiểm của bệnh: “… cuối cùng dẫn đến yểu mệnh, không thể coi nhẹ.” Tổng kết:– Đông y cho rằng: người cao tuổi thể suy, thận khí hư suy là nền tảng phát bệnh.– Huyết ứ, đàm trọc, thấp nhiệt, tinh bại là những yếu tố bệnh lý cơ bản.– Lao lực quá độ, tình chí kích động, cảm nhiễm ngoại tà, ăn uống thất điều là các yếu tố dẫn phát.– Từ đó, bản hư tiêu thực được xem là đặc điểm bệnh cơ chủ yếu.
Lâm sàng thường phân tích theo 6 thể chứng cơ bản để điều trị gồm:Thấp nhiệt bàng quang-Phế nhiệt uất kết-Can uất khí trệ-Trung khí bất túc-Thận nguyên khuy hư-Hạ tiêu ứ trở.
Với sự phát triển của kỹ thuật thăm trực tràng bằng ngón tay, do có thể sờ thấy khối rắn dày nên ngày càng nhiều danh y xếp bệnh này vào phạm vi “tích” (积) của Đông y, coi huyết ứ là mắt xích bệnh lý chung.
Tuyến tiền liệt nằm tại vùng đan điền, là nơi tàng chứa thận tinh, là gốc phát sinh nguyên khí. Trong Tố vấn – Âm dương ứng tượng đại luận viết: “Niên tứ thập nhi âm khí tự bán” (年四十而阴气自半)Tuổi 40, âm khí giảm còn một nửa. Sau tuổi 50, chính khí suy, dương khí hư yếu, không đủ lực đẩy huyết hành dẫn đến huyết ứ, làm tuyến tiền liệt to ra.
Hoặc do thận âm không đủ, tướng hỏa vọng động, đốt cháy tân dịch, huyết mạch không thông, hình thành đàm ứ kết trệ, ảnh hưởng đến kinh can mà sinh bệnh. Hoặc do ưa ăn cay nóng, ngồi nằm lâu ngày, kinh mạch bế tắc gây nên.
Nghiên cứu hiện đại cho thấy: tỷ lệ huyết ứ tăng theo tuổi tác; ở người già, phì đại tuyến tiền liệt biểu hiện giảm thành phần mạch máu, trong khi lâm sàng lại thường thấy tiểu nhiều lần, tiểu khó, tiểu đêm – chính là biểu hiện chứng thận hư theo Đông y. Vì vậy, có thể nói thận hư khí hóa bất lợi và đàm ứ nội trở là hai yếu tố bệnh lý chủ đạo gây nên phì đại tuyến tiền liệt – điều này phù hợp với 3 biểu hiện biến đổi chính của bệnh này.
Phì đại tuyến tiền liệt có phải là “lung bế” trong Đông y không?
Đông y gọi “lung bế” là bệnh có chủ chứng tiểu tiện ít, nhỏ giọt, hoặc bí tắc không thông.
– Nếu tiểu tiện khó, nhỏ giọt, lượng ít, tiến triển chậm → gọi là “lung”.
– Nếu tiểu tiện bí tắc, không ra giọt nào, tiến triển nhanh → gọi là “bế”.
Do đó, “lung bế” là thuật ngữ tổng hợp.
Thuật ngữ này bao hàm nhiều bệnh trong y học hiện đại như:Phì đại tuyến tiền liệt; Bàng quang thần kinh; Xơ hóa cổ bàng quang; Hẹp niệu đạo; Sỏi tiết niệu; U tiết niệu; Và cả thiểu niệu/vô niệu do suy thận
=> Không nên đồng nhất phì đại tuyến tiền liệt với “lung bế”, bởi khái niệm và phạm vi hai bên không hoàn toàn giống nhau.
Danh mục “lung bế” đã xuất hiện từ Nội kinh, và qua hàng nghìn năm, Đông y tích lũy được nhiều kinh nghiệm trị liệu, trong đó có phần áp dụng rất hiệu quả cho bệnh phì đại tuyến tiền liệt, giúp tránh được can thiệp phẫu thuật cho nhiều bệnh nhân.
Với việc sờ nắn tuyến tiền liệt qua hậu môn thấy rõ khối cứng, ngày càng có nhiều thầy thuốc Đông y nhận định rằng bệnh này cũng thuộc phạm trù “tích” (积) trong Đông y.
Mắc phì đại tuyến tiền liệt có phải do thận hư không?
Không thể đơn giản cho rằng phì đại tuyến tiền liệt là do thận hư, nhưng giữa hai vấn đề này có liên hệ mật thiết không thể tách rời.Theo y học hiện đại, tuổi tác là yếu tố nguy cơ cơ bản của bệnh. Bệnh thường khởi phát sau tuổi 50. Tố vấn – Thượng cổ thiên chân luận viết: “… năm tám (40 tuổi), thận khí suy, tóc rụng, răng khô.”
Âm dương ứng tượng đại luận cũng nói: “Tuổi 40, âm khí giảm một nửa, sinh hoạt đã suy.”
Đông y cho rằng:– Thận chủ thủy, điều khiển đóng mở nhị tiện.– Người trên 50 tuổi, thận khí hư, chức năng khí hóa bàng quang suy giảm → xuất hiện tiểu nhiều lần, tiểu khó, tiểu đêm.Vì vậy, người già thể suy, thận khí hư tổn chính là cơ sở phát bệnh của phì đại tuyến tiền liệt.
Đông y nhìn nhận bệnh phì đại tuyến tiền liệt như thế nào?
Do thăm khám qua trực tràng có thể sờ thấy khối rắn dai, nên cơ chế bệnh lý của phì đại tuyến tiền liệt có liên hệ chặt với chứng “tích” (积) trong Đông y, và huyết ứ được xem là mắc xích bệnh lý chung. Theo tuổi tác tăng, tỷ lệ huyết ứ cũng tăng rõ rệt. Tuyến tiền liệt nằm ở đan điền, bên trong chứa thận tinh, là nguồn phát sinh của nguyên khí.– Thận dương hư → khí lực kém, huyết vận không thông → huyết ứ dần hình thành.
– Thận âm hư → hư nhiệt nung đốt lâu ngày → huyết dần dần sinh ứ trệ.
Đông y cho rằng: “Tích” hình thành do chính hư tà lưu, chính – tà giao tranh mà tà thắng chính suy, tà khí dần tích lại sinh ra bệnh. Phì đại tuyến tiền liệt tăng theo tuổi, và biểu hiện lâm sàng phần nhiều là chứng thận hư, do đó sự hình thành bệnh có liên hệ nội tại chặt chẽ với thận hư, nhưng đồng thời phải nhìn nhận huyết ứ là biến hóa tất yếu trong cơ chế bệnh lý, thì nhận thức mới đầy đủ và toàn diện.
Đông y điều trị phì đại tuyến tiền liệt trong những trường hợp nào?
Đông y điều trị phì đại tuyến tiền liệt phù hợp nhất với giai đoạn I, một phần trường hợp giai đoạn II cũng có thể áp dụng.
Một số bệnh nhân lẽ ra cần phẫu thuật nhưng do mắc bệnh lý đi kèm nghiêm trọng, không thể chịu đựng mổ, nếu điều trị bằng biện chứng Đông y có thể giúp cải thiện triệu chứng chính và cả bệnh kèm, mang lại lợi ích kép. Ví dụ:①Người già có bệnh tim mạch nặng (nhồi máu cơ tim, suy tim mất bù).②Suy thận nặng, kèm biến chứng tim mạch hoặc thần kinh.③Phổi tắc nghẽn mạn tính, khí phế thũng, hoặc các bệnh làm suy giảm chức năng hô hấp.
Đông y biện chứng điều trị phì đại tuyến tiền liệt như thế nào?
Chia làm 6 thể bệnh điển hình, dùng pháp điều trị và phương thuốc tương ứng:
(1) Hạ tiêu ứ trở
Chủ chứng: Tiểu nhỏ giọt, tia tiểu yếu, có khi bí tiểu, bụng dưới đầy tức đau, lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ huyết, mạch sáp.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, thông lợi thủy đạo.
Phương dược: Tiêu lung thông bế phương (theo bài thuốc Viện Trung Y Quảng An Môn).
(2) Thận dương hư
Chủ chứng: Tiểu nhiều, tiểu đêm tăng, có thể tự rỉ tiểu hoặc bí tiểu, mệt mỏi, lưng gối lạnh đau, mặt trắng bệch, sợ lạnh, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế hoặc trì nhược.
Trị pháp: Ôn bổ thận dương, hóa khí hành thủy.
Phương dược: Tế sinh thận khí hoàn gia giảm → thục địa sơn dược sao sơn thù trạch tả phục linh đan bì nhục quế phụ tử ngưu tất xa tiền tử
(3) Thấp nhiệt hạ chú
Chủ chứng: Tiểu rắt, nóng, vàng, có cảm giác rát buốt dương vật, nặng thì bí tiểu, bụng dưới trướng đau, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch sác.
Trị pháp: Thanh nhiệt lợi thấp.
Phương dược: Bát chính tán gia giảm → Xa tiền tử cù mạch bạch thược hoạt thạch sơn chi mộc thông đại hoàng cam thảo
(4) Trung khí bất túc
Chủ chứng: Bụng dưới trướng nặng, buồn tiểu mà tiểu không được, hoặc tiểu ít khó chịu, mệt mỏi, ăn kém, thở ngắn, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược.
Trị pháp: Thăng thanh giáng trọc, hóa khí lợi thủy.
Phương dược: Bổ trung ích khí thang hợp Xuân trạch thang → (Hoàng kỳ bạch truật nhân sâm đương quy trần bì thăng ma sài hồ cam thảo sao) ( bạch truật quế chi trư linh trạch tả phục linh nhân sâm)
(5) Can uất khí trệ
Chủ chứng:Tiểu khó, thậm chí bí tiểu, hay uất ức, cáu gắt, tức ngực, hạ sườn đầy, rêu mỏng hoặc hơi vàng, lưỡi đỏ, mạch huyền.
Trị pháp: Sơ can lý khí, thông tiểu tiện.
Phương dược: Trầm hương tán gia giảm → Trầm hương đương quy bạch thược thạch vi trần bì hoạt thạch cam thảo vương bất lưu hành đông quỳ tử
(6) Phế khí không tuyên
Chủ chứng: Tiểu khó, nhỏ giọt hoặc bí tắc, miệng họng khô, khó thở, ho khò khè, rêu mỏng, mạch sác.
Trị pháp: Tuyên phế khí, thông lợi thủy đạo.
Phương dược: Thanh phế ẩm → Hoàng cầm tang bạch bì mạch môn xa tiền tử sơn chi mộc thông gia thêm hạnh nhân cát cánh đình lịch tử
Có những loại thuốc Đông y thành phẩm nào điều trị phì đại tuyến tiền liệt?
(1) Kim quỹ thận khí hoàn (Kim Quỹ Yếu Lược)
Thành phần: can địa hoàng sơn dược sơn thù trạch tả phục linh đan bì quế chi phụ tử
Công năng: ôn bổ thận dương
Chỉ định: Thận dương hư → tiểu khó, tiểu đêm nhiều, bụng dưới co rút, nửa dưới cơ thể lạnh, mạch trầm tế, lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng.
(2) Bổ trung ích khí hoàn (Tỳ Vị Luận)
Thành phần: hoàng kỳ cam thảo nhân sâm đương quy trần bì thăng ma sài hồ bạch truật
Công năng: bổ trung ích khí, thăng dương cố sáp
Chỉ định: Trung khí hư → bụng dưới trướng nặng, buồn tiểu mà tiểu không ra, hoặc ít và nhỏ giọt, nặng thì tiểu không tự chủ hoặc són tiểu, ăn kém, thở ngắn, giọng yếu nhỏ, lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch tế nhược.
(3) Tiêu dao hoàn (Thái bình huệ dân hòa tễ cục phương)
Thành phần: Sài hồ đương quy bạch thược bạch truật phục linh cam thảo bạc hà sinh khương
Công năng: Sơ can giải uất, kiện tỳ hòa vị
Chỉ định: Phì đại tuyến tiền liệt thể can uất khí trệ → tiểu không thông hoặc tiểu không trôi chảy, uất ức, tức ngực đầy bụng, đau đầu hoa mắt, miệng khô họng rát, mệt mỏi, ăn ít, mạch huyền mà hư.
(4) Quế chi phục linh hoàn (Kim quỹ yếu lược)
Thành phần: Quế chi phục linh đan bì xích thược đào nhân
Công năng: Hoạt huyết hóa ứ, tiêu tích tán kết
Chỉ định: Phì đại tuyến tiền liệt thể ứ trở đường tiểu → tiểu nhỏ giọt, tia tiểu như chỉ, có lúc phân nhánh, nặng thì bí tiểu, bụng dưới đầy tức đau, lưỡi tím sẫm có ứ điểm, mạch sáp.
Vì sao Tiêu lung thông bế dạng viên nang lại có hiệu quả tốt trong điều trị phì đại tuyến tiền liệt?
Tiêu lũng thông bế dạng viên nang là chế phẩm thuần Đông dược do Giáo sư Giả Kim Minh và Giáo sư Lưu Do Phương (Viện Trung y học Trung Quốc – BV Quảng An Môn) bào chế sau nhiều năm thực nghiệm lâm sàng và dược lý.
Thành phần chính: Nga truật, ngưu tất, đào nhân, hoàng kỳ, thổ phục linh, ý dĩ nhân, sơn đậu căn
Công năng: Hoạt huyết ích khí, tiêu tích thông lung – phù hợp với thể chất người cao tuổi, điều trị vừa gốc vừa ngọn.
Lâm sàng: Đã chứng minh thuốc có khả năng:– Giảm rõ rệt điểm số I-PSS– Cải thiện chất lượng sống– Tăng lưu lượng nước tiểu cực đại– Giảm lượng nước tiểu tồn dư– Làm nhỏ thể tích tuyến tiền liệt ở một số bệnh nhân– Hiệu quả xuất hiện nhanh, sau 3 tháng dùng có thể đạt tổng hiệu quả >80%, không ghi nhận độc tính hay tác dụng phụ
Theo sự phát triển của kỹ thuật thăm khám hậu môn trong Đông y, ngày càng có nhiều thầy thuốc nhận thức rằng phì đại tuyến tiền liệt thuộc phạm vi chứng “lung bế” của Đông y, trong đó huyết ứ là mắt xích bệnh lý chung.
Các nghiên cứu cho thấy, đặc điểm chính của phì đại tuyến tiền liệt ở người cao tuổi là suy giảm thành phần mạch máu, do đó các thuốc Đông y hoạt huyết hóa ứ có thể chống đông, phá kết, cải thiện vi tuần hoàn để làm chậm hoặc đảo ngược quá trình bệnh lý.
Trong Tiêu lung thông bế dạng viên nang, nhóm thuốc hoạt huyết hóa ứ chiếm tỷ lệ lớn nhất, phối hợp thêm với hoàng kỳ để bổ khí, thổ phục linh và ý dĩ nhân để thanh nhiệt lợi thấp, do đó hiệu quả điều trị trên lâm sàng rất khả quan.
Về cơ chế tác dụng của Tiêu lũng thông bế trong điều trị phì đại tuyến tiền liệt, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy:Thí nghiệm trên chuột: thuốc ức chế phì đại tuyến tiền liệt do testosterone gây ra, làm giảm thể tích và trọng lượng tuyến, mô tuyến xuất hiện biến đổi thoái hóa. Kỹ thuật dòng chảy tế bào (flow cytometry): thuốc ức chế quá trình phân bào của tế bào biểu mô tuyến tiền liệt chuột. Miễn dịch hóa mô định lượng: thuốc ức chế rõ rệt biểu hiện của yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi kiềm (bFGF) trong mô tuyến tiền liệt chuột. Phóng xạ tự hiện ảnh (autoradiography): thuốc ức chế sự tăng trưởng, tái sinh và tổng hợp DNA của tế bào biểu mô tuyến tiền liệt chuột. Nghiên cứu enzym học: thuốc ức chế đáng kể hoạt tính men 5α-reductase trong mô tuyến tiền liệt phì đại của chó già. Thử nghiệm gắn thụ thể phóng xạ (radioligand binding assay): thuốc ức chế thụ thể α1 ở vỏ não chó.Tóm lại: thuốc Đông y Tiêu lũng thông bế không chỉ có hiệu quả rõ rệt trong điều trị phì đại tuyến tiền liệt, mà cơ chế cũng đã được làm rõ qua thực nghiệm. Sản phẩm từng đoạt Giải thưởng Tiến bộ Khoa học – Cục Quản lý Đông y Quốc gia Trung Quốc.
Ưu thế của Đông y trong điều trị phì đại tuyến tiền liệt là gì?
Đông y nhận định: đặc điểm bệnh cơ của phì đại tuyến tiền liệt là bản hư tiêu thực, bệnh vị thuộc phạm vi “lũng bế”.Thuốc hoạt huyết hóa ứ là chủ dược thường dùng; Thuốc bổ khí, bổ thận cũng hay được phối hợp
Ưu điểm của Đông y:– Hiệu quả điều trị rõ rệt– Dễ dung nạp khi dùng lâu dài
– Ít độc tính, ít tác dụng phụ– Điều chỉnh tổng thể thể trạng người bệnh→ Đông y chiếm vị trí không thể thay thế của tân dược trong điều trị bệnh lý mạn tính như phì đại tuyến tiền liệt.
Nhiều thực nghiệm trên động vật cũng cho thấy: Các bài thuốc Đông y có thể làm giảm trọng lượng và thể tích tuyến tiền liệt trong mô hình tăng sản tuyến tiền liệt trên động vật.
Ví dụ:
Thuốc “Lũng lâm an khang” có thể đối kháng với tình trạng:
– Testosterone tăng cao do dùng ngoại sinh ở chuột
– Testosterone giảm do dùng estrogen ngoại sinh
→ Nghĩa là thuốc có tác động toàn diện và điều hòa tổng thể lên cơ thể chuột, đặc biệt là trên hệ nội tiết và hormon sinh dục, giúp cân bằng và điều hòa hormon về mức bình thường.
Đối với thuốc Tiêu lũng thông bế, nghiên cứu cơ chế cho thấy:
– Ức chế hoạt tính 5α-reductase trong mô tuyến tiền liệt đã tăng sản ở chó già
– Ức chế thụ thể α1 ở vỏ não chó
– Ức chế tổng hợp DNA của tế bào biểu mô tuyến tiền liệt ở chuột, từ đó ức chế tăng sinh
– Ức chế quá trình phân bào do testosterone kích thích ở tế bào biểu mô tuyến tiền liệt chuột
– Ức chế biểu hiện yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi kiềm (bFGF) trong mô tuyến tiền liệt chuột
Những kết quả trên cho thấy: cơ chế điều trị phì đại tuyến tiền liệt bằng thuốc Đông y có thể bao gồm nhiều mắt xích, tuy nhiên vẫn cần được nghiên cứu sâu hơn.
Việc dùng thuốc từ thực vật để điều trị phì đại tuyến tiền liệt có chỉ là hiệu ứng giả dược?
Hiện nay có khá nhiều thuốc nguồn gốc thực vật được sử dụng trong điều trị phì đại tuyến tiền liệt, trong đó một số đã cho thấy hiệu quả rõ rệt và cơ chế dược lý ngày càng được làm sáng tỏ, ví dụ:
(1) Cerniton / Prostat / Tiền liệt thái / Phổ thích thái
– Chiết xuất từ phấn hoa lúa mạch đen
– Tác dụng:
+ Ức chế gắn kết giữa dihydrotestosterone (DHT) và thụ thể, từ đó ức chế tác dụng hormone
+ Ức chế hoạt động tăng sinh của nguyên bào sợi
(2) Pygeum africanum – Thông niệu linh
– Chiết xuất từ vỏ cây mận châu Phi
– Tác dụng:
+ Ức chế tăng sinh tế bào T3 do bFGF kích thích
+ Bảo vệ chức năng bàng quang khi có tắc nghẽn không hoàn toàn
Ngoài ra còn có:
– Chiết xuất cọ lùn (Saw palmetto)
– Vỏ cây mận châu Phi, củ tử tô, lá dương châu Âu, rễ hoa hình sao, hạt bí ngô, măng tre, v.v.
→ Một số loại chưa xác định rõ cơ chế.
Tuy hiệu quả điều trị bằng thực vật dược chưa thật sự ổn định hoặc hoàn hảo, nhưng không thể đánh đồng tất cả với hiệu ứng giả dược. Một số thuốc thực vật có tác dụng thực sự, khách quan, đã được chứng minh.
Châm cứu điều trị phì đại tuyến tiền liệt có hiệu quả không?
Châm cứu có hiệu quả nhất định trong việc giảm nhẹ hoặc cải thiện các triệu chứng tiểu khó do phì đại tuyến tiền liệt (bao gồm cả bí tiểu), nhưng ảnh hưởng đến kích thước tuyến thì chưa rõ rệt.
Các phương pháp châm cứu cụ thể:
(1) Châm huyệt Trật biên xuyên Thủy đạo, bổ sung châm sâu các huyệt Khí hải, Quan nguyên;
– Nếu kèm thấp nhiệt → thêm Hợp cốc
– Nếu kèm can uất khí trệ → thêm Âm lăng tuyền, Tam âm giao
→ Dùng phép châm trực châm, xuyên sâu
(2) Lấy Thủy đạo xuyên Quy lai làm huyệt chính, phối huyệt Mệnh môn, Âm lăng tuyền,
– Người hư yếu thêm Thần khuyết (cứu cách muối)
→ Dùng thủ pháp tả trước, bổ sau
(3) Dùng đại châm chích điểm vào các huyệt Khúc cốt, Hội âm, Tam âm giao
→ Kích thích đám rối thần kinh chậu, tăng cường điều tiết
(4) Dùng ngải cứu tại các huyệt Tam tiêu du, Tiểu trường du, Trung cực, Trung phong, Thái xung → thời gian 10–30 phút
→ Dùng trong bí tiểu cấp tính do phì đại tuyến tiền liệt
(5) Chọn 2–3 huyệt trong số: Mệnh môn, Thận du, Tam âm giao, Khí hải, Phục lưu, Quan nguyên, Âm cốc, Ủy trung, Trung cực
→ Dùng phép bình bổ bình tả, xen kẽ luân phiên, kết hợp ngải cứu
→ Dùng cho bí tiểu cấp tính do phì đại tuyến tiền liệt.
Ly Nguyễn Nghị dịch