Tài liệu tham khảo:
Viêm màng ngoài tim
Viêm màng ngoài tim có thể do vi sinh vật gây bệnh gây ra thông qua nhiễm trùng đường máu hoặc tác động của các chất chuyển hóa độc hại của chúng. Hoại tử cơ tim cũng có thể lan đến màng ngoài tim và gây ra phản ứng viêm. Ngoài ra, viêm màng ngoài tim cũng có thể xảy ra do chấn thương. Nhìn chung, viêm màng ngoài tim không phải là một bệnh độc lập mà chủ yếu là bệnh đi kèm.
Viêm màng ngoài tim cấp tính chủ yếu là tình trạng viêm xuất tiết, thường tạo thành dịch màng ngoài tim, bản chất của dịch này thay đổi tùy thuộc vào nguyên nhân gây viêm màng ngoài tim. Ở một mức độ nào đó, bản chất của dịch tiết có thể được sử dụng để xác định căn bệnh tiềm ẩn.
Tổn thương
Loại viêm màng ngoài tim này là viêm màng ngoài tim có tơ huyết, có thể hình thành dịch tiết xuất huyết có tơ huyết hoặc có tơ huyết tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tổn thương. Dưới kính hiển vi, màng ngoài tim bị sung huyết và có thể thấy sự thâm nhiễm của tế bào lympho và tế bào plasma. Một phần ba số trường hợp có thể tái phát, có thể dẫn đến tình trạng sung huyết màng ngoài tim và viêm màng ngoài tim co thắt.
(1) Viêm màng ngoài tim do virus: Hầu hết viêm cơ tim do virus (đặc biệt là viêm cơ tim do Coxsackievirus) thường gây viêm màng ngoài tim ngoài các tổn thương cơ tim. Các tổn thương khá giống với viêm màng ngoài tim vô căn và thường xảy ra tình trạng canxi hóa, tạo thành viêm màng ngoài tim co thắt canxi.
(2) Viêm màng ngoài tim do lao: Viêm màng ngoài tim do lao thường gặp hơn ở nam giới trẻ tuổi, chiếm khoảng 7% trong tổng số các trường hợp viêm màng ngoài tim. Bệnh khởi phát âm thầm, với triệu chứng sốt nhẹ, tốc độ lắng hồng cầu tăng nhanh và không có bạch cầu tăng.
Viêm màng ngoài tim do lao chủ yếu lây truyền qua đường máu hoặc lây lan từ lao hạch rốn phổi. Nhiễm trùng qua đường bạch huyết rất hiếm gặp.
Tổn thương
Loại viêm màng ngoài tim này thường gây ra tràn dịch màng ngoài tim dạng thanh dịch hoặc xuất huyết. Do tình trạng viêm mãn tính, mô màng ngoài tim trở nên lỏng lẻo và lượng dịch tràn đôi khi có thể lên tới hơn 1L. Trong một số trường hợp, có thể có một lượng lớn dịch tiết fibrin, bề mặt màng ngoài tim có thể bị sung huyết và đục, và sau khi lau sạch fibrin, có thể nhìn thấy các nốt lao có kích thước khác nhau. Dưới kính hiển vi, các nốt lao có thể được phát hiện ở cả màng ngoài tim và thành màng ngoài tim. Cơ tim thường bị ảnh hưởng ngay từ đầu. Dịch có thể được hấp thụ hoàn toàn hoặc một phần, và hai lớp màng ngoài tim có thể dính vào nhau và lành lại hoàn toàn. Từ khi có phương pháp hóa trị chống lao, tình trạng vôi hóa màng ngoài tim trở nên hiếm gặp hơn, trong khi trước đây đây là hiện tượng bình thường.
(3) Viêm màng ngoài tim mủ: Do điều trị sớm các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn bằng kháng sinh nên tỷ lệ viêm màng ngoài tim mủ đã giảm đáng kể, chỉ chiếm khoảng 0,5% trong tổng số các trường hợp viêm màng ngoài tim, chủ yếu gặp trong nhiễm trùng huyết hoặc nhiễm trùng huyết.
Loại viêm màng ngoài tim này chủ yếu do vi khuẩn sinh mủ gây ra, chẳng hạn như liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn và phế cầu khuẩn, nhưng đôi khi nấm cũng có thể gây ra bệnh này.
Tổn thương
Đây chủ yếu là tình trạng viêm mủ có tơ huyết, thường dẫn đến áp xe màng ngoài tim và có thể ảnh hưởng đến cơ tim. Toàn bộ bề mặt màng ngoài tim được bao phủ bởi một lớp dày dịch mủ có tơ huyết.
(1) Viêm màng ngoài tim do thấp khớp: Sốt thấp khớp thường xâm nhập vào tim, màng ngoài tim hầu như luôn bị ảnh hưởng, gây viêm màng ngoài tim do thấp khớp, nhưng chỉ có khoảng 15% trường hợp được chẩn đoán lâm sàng. Ở giai đoạn đầu, những thay đổi bệnh lý thường biểu hiện dưới dạng viêm màng ngoài tim có tơ huyết thanh. Ở giai đoạn cuối, hai lớp màng ngoài tim có thể bị sẹo và lành lại cùng nhau (xem phần bệnh thấp khớp để biết thêm chi tiết).
(2) Viêm màng ngoài tim do lupus: Ở bệnh lupus ban đỏ hệ thống, màng ngoài tim thường bị ảnh hưởng nhất, với viêm màng ngoài tim do lupus xảy ra ở gần 50% các trường hợp. Biểu hiện phổ biến nhất là viêm màng ngoài tim xơ hóa, cũng có thể là viêm màng ngoài tim tơ huyết hoặc tơ huyết thanh. Hai loại sau đặc biệt phổ biến ở những bệnh nhân bị viêm thận lupus và bệnh niệu quản. Loại viêm màng ngoài tim này có thể có hoặc không gây ra triệu chứng. Dưới kính hiển vi, có thể thấy hoại tử dạng fibrin của mô liên kết màng ngoài tim, kèm theo thâm nhiễm tế bào viêm và hình thành mô hạt, và thỉnh thoảng có thể thấy các thể hematoxylin. Những bệnh nhân như vậy thường bị viêm nội tâm mạc lupus.
Qua phân tích về cơ chế bệnh sinh, bệnh này là viêm màng ngoài tim bài tiết. Khi thận bị suy, “độc tố urê” (các độc tố cụ thể chưa được xác định, có thể là urê, guanidine, polyamines, v.v.) tích tụ trong cơ thể và các mao mạch của màng ngoài tim, niêm mạc dạ dày và phổi đều tham gia vào quá trình giải độc, dẫn đến tổn thương các tế bào nội mô mao mạch của các cơ quan này.
Tổn thương
Loại viêm màng ngoài tim này là tình trạng viêm có tơ huyết. Ở giai đoạn cấp tính, bằng mắt thường, có thể nhìn thấy các lớp cellulose rất mịn trên bề mặt màng ngoài tim, sau đó chúng kết tụ thành nhung mao. Dưới kính hiển vi, có thể thấy sự thâm nhiễm thưa thớt của bạch cầu trung tính và tế bào lympho trong mô màng ngoài tim. Khoảng 5 ngày sau, mô hạt giàu mao mạch phát triển từ màng ngoài tim và thành màng ngoài tim vào dịch tiết fibrin. Nếu bệnh urê huyết được điều trị kịp thời, viêm màng ngoài tim có thể được chữa khỏi hoàn toàn. Nếu không, sẹo có thể hình thành và hai lớp màng ngoài tim sẽ tự lành lại với nhau.
Về mặt lâm sàng, viêm màng ngoài tim mạn tính là tình trạng viêm màng ngoài tim kéo dài trên 3 tháng, chủ yếu chuyển từ viêm màng ngoài tim cấp tính; Loại viêm màng ngoài tim này có thể được chia thành hai loại:
Tổn thương
Đặc điểm bệnh lý của loại viêm màng ngoài tim này là sự lành lại của màng ngoài tim. Có thể chia thành hai phân nhóm: ① Dính màng ngoài tim (concretio pericardii): Hai lớp màng ngoài tim tự lành lại với nhau, khoang màng ngoài tim bị mô sẹo che phủ nhưng không có vôi hóa. Loại viêm màng ngoài tim này là một thay đổi điển hình sau khi điều trị thuốc chống lao. ② Viêm màng ngoài tim vôi hóa (viêm màng ngoài tim có sỏi): Trong viêm màng ngoài tim co thắt mạn tính, tình trạng vôi hóa xảy ra ở khoảng một nửa số trường hợp. Sự lắng đọng muối canxi thường xảy ra ở rãnh động mạch vành, rãnh liên thất, tâm thất phải và gần cơ hoành. Mô sẹo thường trải qua quá trình chuyển đổi trong suốt (có vẻ ngoài phủ đường), và cơ tim bị chèn ép và teo lại. Vôi hóa thường là do xuất huyết màng ngoài tim, nhưng cũng có thể do chấn thương hoặc viêm do vi-rút.
Trường Xuân Đường