Ngũ Thập Nhất Nan
Điều khó thứ năm mươi mốt
Hỏi: Bệnh có loại muốn được ấm, có loại muốn được lạnh; có loại muốn gặp người, có loại không muốn gặp người, mỗi loại khác nhau như vậy thì bệnh ở tạng hay ở phủ?
Dục đắc ôn: Muốn được ấm, thích ấm, sợ lạnh; thường thuộc âm bệnh, hàn chứng, bệnh ở tạng.
Dục đắc hàn: Muốn được lạnh, thích mát, sợ nóng; thường thuộc dương bệnh, nhiệt chứng, bệnh ở phủ.
Dục kiến nhân: Muốn gặp người, thích sáng, thích giao tiếp; thường thuộc dương chứng, phủ bệnh.
Bất dục kiến nhân: Không muốn gặp người, thích đóng cửa ở một mình; thường thuộc âm chứng, tạng bệnh.
Đáp: Bệnh muốn được lạnh mà lại muốn gặp người là bệnh ở phủ. Bệnh muốn được ấm mà không muốn gặp người là bệnh ở tạng.
Hỏi: Vì sao nói như vậy?
Đáp: Phủ thuộc dương, dương bệnh thì muốn được lạnh, lại muốn gặp người. Tạng thuộc âm, âm bệnh thì muốn được ấm, lại muốn đóng cửa ở một mình, ghét nghe tiếng người. Cho nên dựa vào đó có thể phân biệt biết bệnh ở tạng hay ở phủ.
Phủ giả dương dã: Phủ thuộc dương, chủ truyền hóa, thông giáng, bệnh thường thiên về thực, nhiệt, động.
Tạng giả âm dã: Tạng thuộc âm, chủ tàng tinh khí, bệnh thường thiên về hư, hàn, tĩnh, sâu.
Dương bệnh dục hàn: Dương nhiệt thịnh thì người bệnh thích lạnh, thích mát.
Âm bệnh dục ôn: Âm hàn thịnh hoặc dương khí hư thì người bệnh thích ấm.
Bế hộ độc xử: Đóng cửa ở một mình, biểu hiện bệnh thuộc âm, thần khí suy hoặc khí cơ uất sâu.
Ác văn nhân thanh: Ghét nghe tiếng người, thường do tạng khí suy, âm bệnh, thần khí không yên.
Ngũ Thập Nhị Nan
Điều khó thứ năm mươi hai
Hỏi: Bệnh của tạng và bệnh của phủ, căn bản có giống nhau không?
Đáp: Không giống nhau.
Hỏi: Không giống nhau như thế nào?
Đáp: Bệnh ở tạng thì dừng lại mà không di chuyển, bệnh không rời khỏi chỗ của nó. Bệnh ở phủ thì mơ hồ như có tiếng sôi réo, chạy lên chạy xuống, chỗ ở không cố định. Vì vậy dùng điều này để biết căn bản bệnh của tạng và phủ không giống nhau.
Tạng bệnh chỉ nhi bất di: Bệnh của tạng thường cố định, sâu, âm, đau hoặc triệu chứng không di chuyển nhiều.
Bất ly kỳ xứ: Không rời khỏi vị trí của nó, biểu thị bệnh thuộc tạng, thuộc âm, có tính cố định.
Phủ bệnh phảng phất bôn hưởng: Bệnh của phủ thường có khí chạy, tiếng sôi, tiếng réo, trướng động, vì phủ chủ truyền hóa.
Thượng hạ hành lưu: Chạy lên chạy xuống, khí cơ di động, triệu chứng không cố định.
Cư xứ vô thường: Chỗ đau hoặc cảm giác bệnh thay đổi, biểu thị phủ khí không thông, khí trệ, thực tích.
Tạng phủ căn bản bất đồng: Tạng chủ tàng, phủ chủ thông; vì chức năng khác nhau nên biểu hiện bệnh cũng khác.
Ngũ Thập Tam Nan
Điều khó thứ năm mươi ba
Hỏi: Kinh nói “thất truyền thì chết, gián tạng thì sống”, nghĩa là gì?
Thất truyền: Bệnh truyền theo đường tương khắc, truyền đến tạng mà mình thắng, bệnh thế nghịch, tiên lượng xấu.
Gián tạng: Bệnh truyền cách tạng theo đường tương sinh, mẹ con truyền nhau, còn sinh cơ.
Đáp: Thất truyền là truyền đến tạng mà mình thắng. Gián tạng là truyền đến con của mình. Vì sao nói vậy? Giả sử tâm bệnh truyền sang phế, phế truyền sang can, can truyền sang tỳ, tỳ truyền sang thận, thận truyền sang tâm, mỗi tạng không bị thương lần thứ hai, cho nên nói thất truyền thì chết. Gián tạng là truyền đến tạng mà mình sinh. Giả sử tâm bệnh truyền sang tỳ, tỳ truyền sang phế, phế truyền sang thận, thận truyền sang can, can truyền sang tâm, đó là mẹ con truyền nhau, hết rồi lại bắt đầu, như vòng không đầu mối, cho nên nói là sống.
Truyền kỳ sở thắng: Truyền đến hành mà mình khắc. Ví dụ tâm hỏa khắc phế kim, nên tâm bệnh truyền phế là truyền sở thắng.
Tâm truyền phế: Hỏa khắc kim, là truyền theo tương khắc.
Phế truyền can: Kim khắc mộc.
Can truyền tỳ: Mộc khắc thổ.
Tỳ truyền thận: Thổ khắc thủy.
Thận truyền tâm: Thủy khắc hỏa.
Nhất tạng bất tái thương: Mỗi tạng chỉ bị truyền qua một lần, bệnh đi theo vòng khắc, thế bệnh dữ, dễ tuyệt.
Truyền kỳ tử: Truyền đến con, tức truyền theo tương sinh.
Tâm truyền tỳ: Hỏa sinh thổ.
Tỳ truyền phế: Thổ sinh kim.
Phế truyền thận: Kim sinh thủy.
Thận truyền can: Thủy sinh mộc.
Can truyền tâm: Mộc sinh hỏa.
Mẫu tử tương truyền: Mẹ con truyền nhau, tức quan hệ tương sinh, còn sinh hóa, tiên lượng tốt hơn.
Như hoàn vô đoan: Như vòng tròn không đầu cuối, biểu thị sinh cơ nối tiếp.
Ngũ Thập Tứ Nan
Điều khó thứ năm mươi tư
Hỏi: Bệnh tạng khó chữa, bệnh phủ dễ chữa, nghĩa là gì?
Đáp: Bệnh tạng khó chữa là vì nó truyền đến tạng mà nó thắng; bệnh phủ dễ chữa là vì nó truyền đến con của nó. Cùng một phép với thất truyền và gián tạng.
Tạng bệnh nan trị: Bệnh ở tạng thường sâu, âm, liên hệ tinh khí, dễ truyền theo tương khắc nên khó chữa.
Phủ bệnh dị trị: Bệnh ở phủ thường thuộc dương, thực, thông giáng; nếu còn truyền theo tương sinh thì dễ điều trị hơn.
Truyền sở thắng: Truyền theo đường khắc, bệnh thế nghịch, khó trị.
Truyền kỳ tử: Truyền theo đường sinh, bệnh thế thuận, dễ trị hơn.
Dữ thất truyền, gián tạng đồng pháp: Cùng nguyên lý với điều 53: tương khắc là nguy, tương sinh là thuận.
Ngũ Thập Ngũ Nan
Điều khó thứ năm mươi lăm
Hỏi: Bệnh có tích, có tụ, làm sao phân biệt?
Tích: Khối tích thuộc âm, cố định, lâu ngày, thường do ngũ tạng sinh ra.
Tụ: Khí tụ thuộc dương, di động, không cố định, thường do lục phủ hình thành.
Đáp: Tích là âm khí; tụ là dương khí. Vì vậy âm thì trầm mà phục, dương thì phù mà động. Khí tích lại gọi là tích; khí tụ lại gọi là tụ. Cho nên tích là do ngũ tạng sinh ra; tụ là do lục phủ tạo thành. Tích thuộc âm khí, lúc mới phát có nơi cố định, đau không rời khỏi bộ vị ấy, trên dưới có đầu cuối, trái phải có giới hạn. Tụ thuộc dương khí, lúc mới phát không có gốc rễ, lên xuống không có nơi dừng lại, đau không có chỗ cố định, gọi là tụ. Vì vậy dùng điều này để phân biệt tích và tụ.
Âm trầm nhi phục: Âm có tính chìm sâu, ẩn phục, cố định; nên tích thường ở sâu và không di chuyển.
Dương phù nhi động: Dương có tính nổi, động, di chuyển; nên tụ thường lúc có lúc không, đau chạy.
Ngũ tạng sở sinh: Tích do bệnh ở tạng, khí huyết đàm ứ lâu ngày kết lại.
Lục phủ sở thành: Tụ do phủ khí không thông, khí trệ, thực tích, đàm khí di chuyển.
Thường xứ: Vị trí cố định.
Thống bất ly kỳ bộ: Đau không rời vị trí, đặc điểm của tích.
Thượng hạ hữu chung thủy, tả hữu hữu cùng xứ: Khối tích có giới hạn trên dưới, trái phải rõ.
Thủy phát vô căn bản: Tụ khởi phát không có gốc rõ, triệu chứng không cố định.
Thống vô thường xứ: Đau không cố định, lúc chỗ này lúc chỗ khác.
Ngũ Thập Lục Nan
Điều khó thứ năm mươi sáu
Hỏi: Tích của năm tạng mỗi loại có tên riêng không? Mắc vào tháng nào, ngày nào?
Ngũ tạng chi tích: Năm loại tích tụ do năm tạng sinh ra, gồm can tích, tâm tích, tỳ tích, phế tích, thận tích.
Dĩ hà nguyệt hà nhật đắc chi: Hỏi theo thời khí và can ngày nào bệnh kết thành tích.
Đáp: Tích của can tên là Phì khí, ở dưới sườn trái, giống cái chén úp, có đầu có chân. Lâu ngày không khỏi khiến người bệnh phát ho nghịch, sốt rét, nhiều năm không dứt. Mắc vào ngày Mậu Kỷ của cuối mùa hạ.
Phì khí: Tên can tích, khối tích ở hạ sườn trái, hình như chén úp, có đầu chân.
Tả hiếp hạ: Dưới sườn trái, vùng can khí liên hệ trong cổ pháp.
Phúc bôi: Như cái chén úp.
Hữu đầu túc: Có đầu có chân, chỉ khối tích có hình thế rõ.
Khái nghịch: Ho và khí nghịch.
Ngược: Sốt rét, hàn nhiệt phát cơn.
Quý hạ Mậu Kỷ: Cuối mùa hạ thuộc thổ, Mậu Kỷ cũng thuộc thổ.
Hỏi: Vì sao nói vậy?
Bệnh phế truyền sang can, can đáng lẽ truyền sang tỳ, nhưng tỳ đang vượng vào cuối mùa hạ, tạng đang vượng thì không nhận tà. Can lại muốn quay về phế, phế không chịu nhận, cho nên tà lưu kết thành tích. Vì vậy biết Phì khí mắc vào ngày Mậu Kỷ cuối mùa hạ.
Phế bệnh truyền can: Kim truyền mộc theo khắc.
Can đương truyền tỳ: Mộc khắc thổ, can muốn truyền sang tỳ.
Tỳ quý hạ thích vương: Tỳ thổ vượng ở cuối mùa hạ.
Vương giả bất thụ tà: Tạng đang vượng không nhận tà khí.
Lưu kết vi tích: Tà khí không truyền được, cũng không quay lại được, nên lưu lại kết thành tích.
Tích của tâm tên là Phục lương, khởi từ trên rốn, lớn như cánh tay, lên đến dưới tim. Lâu ngày không khỏi khiến người bệnh phiền tâm. Mắc vào ngày Canh Tân mùa thu.
Phục lương: Tên tâm tích, khối tích từ trên rốn lên đến dưới tim, hình lớn như cánh tay.
Tề thượng: Trên rốn.
Đại như tý: Lớn như cánh tay.
Tâm hạ: Dưới tim, vùng thượng vị.
Phiền tâm: Trong lòng bứt rứt, tâm thần không yên.
Thu Canh Tân: Mùa thu thuộc kim, Canh Tân thuộc kim.
Hỏi: Vì sao nói vậy?
Bệnh thận truyền sang tâm, tâm đáng lẽ truyền sang phế, nhưng phế đang vượng vào mùa thu, tạng đang vượng không nhận tà. Tâm lại muốn quay về thận, thận không chịu nhận, cho nên lưu kết thành tích. Vì vậy biết Phục lương mắc vào ngày Canh Tân mùa thu.
Thận bệnh truyền tâm: Thủy khắc hỏa, bệnh từ thận truyền tâm.
Tâm đương truyền phế: Hỏa khắc kim, tâm muốn truyền phế.
Phế thu thích vương: Phế kim vượng mùa thu.
Tích của tỳ tên là Bĩ khí, ở vị quản, úp lớn như cái mâm. Lâu ngày không khỏi khiến người bệnh tứ chi không thu giữ được, phát hoàng đản, ăn uống không hóa thành cơ da. Mắc vào ngày Nhâm Quý mùa đông.
Bĩ khí: Tên tỳ tích, khối bĩ đầy ở vị quản.
Vị quản: Vùng thượng vị, dạ dày.
Phúc đại như bàn: Úp lớn như cái mâm, chỉ khối đầy to ở trung tiêu.
Tứ chi bất thu: Tứ chi yếu, không linh hoạt, do tỳ chủ tứ chi cơ nhục.
Hoàng đản: Vàng da, vàng mắt, do thấp nhiệt hoặc tỳ thấp uất.
Ẩm thực bất vi cơ phu: Ăn uống không chuyển thành cơ thịt da dẻ, biểu thị tỳ vận hóa suy.
Đông Nhâm Quý: Mùa đông thuộc thủy, Nhâm Quý thuộc thủy.
Hỏi: Vì sao nói vậy?
Bệnh can truyền sang tỳ, tỳ đáng lẽ truyền sang thận, nhưng thận đang vượng vào mùa đông, tạng đang vượng không nhận tà. Tỳ lại muốn quay về can, can không chịu nhận, cho nên lưu kết thành tích. Vì vậy biết Bĩ khí mắc vào ngày Nhâm Quý mùa đông.
Can bệnh truyền tỳ: Mộc khắc thổ.
Tỳ đương truyền thận: Thổ khắc thủy.
Thận đông thích vương: Thận thủy vượng mùa đông.
Tích của phế tên là Tức bôn, ở dưới sườn phải, úp lớn như cái chén. Lâu ngày không khỏi khiến người bệnh ớn lạnh phát nóng, suyễn ho, phát phế ung. Mắc vào ngày Giáp Ất mùa xuân.
Tức bôn: Tên phế tích, biểu hiện khí bôn lên, suyễn tức, khối tích dưới sườn phải.
Hữu hiếp hạ: Dưới sườn phải.
Sái tích hàn nhiệt: Ớn lạnh phát nóng, lạnh run.
Suyễn khái: Suyễn và ho.
Phế ung: Ung ở phế, có thể hiểu là phế khí uất nhiệt, mủ, viêm nặng theo cổ y.
Xuân Giáp Ất: Mùa xuân thuộc mộc, Giáp Ất thuộc mộc.
Hỏi: Vì sao nói vậy?
Bệnh tâm truyền sang phế, phế đáng lẽ truyền sang can, nhưng can đang vượng vào mùa xuân, tạng đang vượng không nhận tà. Phế lại muốn quay về tâm, tâm không chịu nhận, cho nên lưu kết thành tích. Vì vậy biết Tức bôn mắc vào ngày Giáp Ất mùa xuân.
Tâm bệnh truyền phế: Hỏa khắc kim.
Phế đương truyền can: Kim khắc mộc.
Can xuân thích vương: Can mộc vượng mùa xuân.
Tích của thận tên là Bôn đồn, phát từ thiếu phúc, lên đến dưới tim, giống hình con lợn con chạy, lúc lên lúc xuống không theo thời. Lâu ngày không khỏi khiến người bệnh suyễn nghịch, xương nuy, ít khí. Mắc vào ngày Bính Đinh mùa hạ.
Bôn đồn: Chứng khí từ bụng dưới bốc lên như lợn con chạy, thường liên hệ thận khí, xung khí nghịch.
Thiếu phúc: Bụng dưới.
Nhược đồn trạng: Như hình con lợn con chạy, mô tả khí chạy lên xuống.
Hoặc thượng hoặc hạ vô thời: Lúc lên lúc xuống không cố định.
Suyễn nghịch: Thở suyễn, khí nghịch.
Cốt nuy: Xương yếu, chân tay mềm yếu, do thận chủ cốt.
Thiểu khí: Ít khí, hụt hơi, khí yếu.
Hạ Bính Đinh: Mùa hạ thuộc hỏa, Bính Đinh thuộc hỏa.
Hỏi: Vì sao nói vậy?
Bệnh tỳ truyền sang thận, thận đáng lẽ truyền sang tâm, nhưng tâm đang vượng vào mùa hạ, tạng đang vượng không nhận tà. Thận lại muốn quay về tỳ, tỳ không chịu nhận, cho nên lưu kết thành tích. Vì vậy biết Bôn đồn mắc vào ngày Bính Đinh mùa hạ.
Tỳ bệnh truyền thận: Thổ khắc thủy.
Thận đương truyền tâm: Thủy khắc hỏa.
Tâm hạ thích vương: Tâm hỏa vượng mùa hạ.
Đó là yếu pháp của năm loại tích.
Ngũ tích chi yếu pháp: Phép quan trọng để nhận biết năm loại tích của năm tạng theo vị trí, tên gọi, triệu chứng và thời ngày phát bệnh.
Ngũ Thập Thất Nan
Điều khó thứ năm mươi bảy
Hỏi: Tiết tả có mấy loại? Đều có tên không?
Tiết: Tiêu chảy, đại tiện lỏng hoặc chảy nước.
Đáp: Tiết có năm loại, tên gọi khác nhau. Có vị tiết, có tỳ tiết, có đại trường tiết, có tiểu trường tiết, có đại hà tiết, còn gọi là hậu trọng. Vị tiết là ăn uống không tiêu, phân màu vàng. Tỳ tiết là bụng đầy trướng, tiêu chảy ào xuống, ăn vào liền nôn ói nghịch lên. Đại trường tiết là ăn xong thì bức bách muốn đi ngoài, đại tiện màu trắng, ruột sôi, đau cắt. Tiểu trường tiết là đại tiện ra mủ máu, bụng dưới đau. Đại hà tiết là lý cấp hậu trọng, nhiều lần muốn đi mà không đại tiện được, đau trong thân dương vật. Đây là yếu pháp của năm loại tiết.
Vị tiết: Tiêu chảy do vị không tiêu hóa thủy cốc, thức ăn không hóa.
Thực bất hóa: Ăn uống không tiêu.
Sắc hoàng: Phân màu vàng, liên hệ vị thổ.
Tỳ tiết: Tiêu chảy do tỳ vận hóa suy hoặc thấp trệ.
Phúc trướng mãn: Bụng đầy trướng.
Tiết chú: Tiêu chảy như rót xuống, nhanh và nhiều.
Thực tức ẩu thổ nghịch: Ăn vào liền nôn ói, vị khí nghịch.
Đại trường tiết: Tiêu chảy do đại trường truyền đạo thất thường.
Thực dĩ quẫn bách: Ăn xong bức bách muốn đi ngoài.
Đại tiện sắc bạch: Phân màu trắng, có thể liên hệ hàn hoặc đại trường khí bất hóa.
Trường minh thiết thống: Ruột sôi và đau cắt.
Tiểu trường tiết: Tiêu chảy do tiểu trường phân thanh trọc thất thường.
Tiện nùng huyết: Đại tiện ra mủ máu.
Thiếu phúc thống: Đau bụng dưới.
Đại hà tiết: Một loại tiết tả nặng, có lý cấp hậu trọng, thường gần với chứng lỵ.
Lý cấp hậu trọng: Bụng dưới mót gấp, hậu môn nặng trệ, muốn đi nhiều lần nhưng không thoải mái.
Sác chí cố nhi bất năng tiện: Nhiều lần đến nhà xí nhưng không đi được.
Hành trung thống: Đau trong niệu đạo hoặc thân dương vật, biểu thị thấp nhiệt hoặc hạ tiêu liên lụy.
Ngũ Thập Bát Nan
Điều khó thứ năm mươi tám
Hỏi: Thương hàn có mấy loại? Mạch của chúng có biến hóa không?
Thương hàn: Nói rộng chỉ các bệnh ngoại cảm hàn nhiệt, không chỉ riêng cảm lạnh.
Đáp: Thương hàn có năm loại: có trúng phong, có thương hàn, có thấp ôn, có nhiệt bệnh, có ôn bệnh; chỗ khổ của chúng đều khác nhau. Mạch trúng phong: dương phù mà hoạt, âm nhu mà nhược. Mạch thấp ôn: dương nhu mà nhược, âm tiểu mà cấp. Mạch thương hàn: âm dương đều thịnh mà khẩn sáp. Mạch nhiệt bệnh: âm dương đều phù; lấy nổi thì hoạt, lấy chìm thì tán sáp. Mạch ôn bệnh: vận hành ở các kinh, không biết kinh nào động, tùy kinh nơi bệnh mà lấy huyệt.
Trúng phong: Ngoại cảm phong tà, thường có sợ gió, ra mồ hôi, mạch phù.
Dương phù nhi hoạt: Tầng dương mạch nổi mà trơn, biểu thị phong ở biểu.
Âm nhu nhi nhược: Tầng âm mềm yếu, chính khí bên trong hơi hư.
Thấp ôn: Bệnh thấp nhiệt hoặc thấp ôn, có nặng đầu, thân nặng, sốt không rõ, thấp tà quấn trở.
Dương nhu nhi nhược: Dương phận bị thấp làm mềm yếu.
Âm tiểu nhi cấp: Âm phận mạch nhỏ mà gấp, biểu thị thấp nhiệt uất.
Thương hàn chi mạch âm dương câu thịnh nhi khẩn sáp: Hàn tà bó biểu, âm dương đều bị căng chặt, mạch khẩn sáp.
Nhiệt bệnh: Bệnh nhiệt, mạch phù hoạt ở ngoài, chìm vào tán sáp do nhiệt làm hao tân dịch.
Ôn bệnh: Bệnh ôn nhiệt, tà có thể đi vào các kinh khác nhau, cần tùy kinh mà trị.
Hỏi: Thương hàn có loại ra mồ hôi thì khỏi, dùng hạ pháp thì chết; có loại ra mồ hôi thì chết, dùng hạ pháp thì khỏi, vì sao?
Đáp: Dương hư âm thịnh, ra mồ hôi thì khỏi, dùng hạ pháp thì chết. Dương thịnh âm hư, ra mồ hôi thì chết, dùng hạ pháp thì khỏi.
Dương hư âm thịnh: Dương khí không đủ, âm hàn thịnh; cần phát hãn nhẹ để thông dương giải biểu, nếu hạ sẽ tổn dương thêm.
Hãn xuất nhi dũ: Ra mồ hôi đúng lúc, tà theo biểu giải, bệnh khỏi.
Hạ chi tức tử: Dùng phép hạ sai lúc, làm chính khí sụp, nguy hiểm.
Dương thịnh âm hư: Nhiệt thịnh, âm dịch hư; nếu phát hãn sẽ hao âm, nguy; dùng hạ pháp để tiết nhiệt thực thì có thể khỏi.
Hỏi: Bệnh hàn nhiệt thì quan sát như thế nào?
Đáp: Hàn nhiệt ở da thì da không thể gần chiếu, lông tóc khô cháy, mũi khô, không ra mồ hôi. Hàn nhiệt ở cơ thì da thịt đau, môi lưỡi khô, không có mồ hôi. Hàn nhiệt ở xương thì bệnh không có chỗ yên, mồ hôi chảy không dứt, chân răng khô đau.
Bì hàn nhiệt: Hàn nhiệt ở tầng da, biểu tà ở bì mao.
Bì bất khả cận tịch: Da khó chịu, không thể gần chiếu giường, chạm vào khó chịu.
Mao phát tiêu: Lông tóc khô cháy, tân dịch không nhuận.
Tỵ cảo: Mũi khô.
Bất đắc hãn: Không ra được mồ hôi, biểu bế.
Cơ hàn nhiệt: Hàn nhiệt ở cơ nhục.
Bì phu thống: Da thịt đau.
Thần thiệt cảo: Môi lưỡi khô.
Cốt hàn nhiệt: Hàn nhiệt vào sâu đến xương.
Bệnh vô sở an: Người bệnh bứt rứt, không nằm yên được.
Hãn chú bất hưu: Mồ hôi chảy không ngừng.
Xỉ bản cảo thống: Chân răng khô đau, liên hệ thận chủ cốt, răng là phần dư của xương.
Ngũ Thập Cửu Nan
Điều khó thứ năm mươi chín
Hỏi: Bệnh cuồng và điên phân biệt thế nào?
Cuồng: Chứng thần chí kích động, hưng phấn, nói cười, ca hát, hành động không nghỉ; thường thuộc dương thịnh, đàm hỏa, nhiệt nhiễu tâm thần.
Điên: Chứng thần chí trầm uất, ngã cứng, nhìn trừng, ý chí không vui; thường thuộc âm thịnh, đàm trọc, khí uất che lấp tâm thần.
Đáp: Bệnh cuồng lúc mới phát thì ít ngủ mà không đói, tự cho mình cao quý hiền tài, tự cho mình biện luận thông minh, tự kiêu quý, cười bậy, thích ca hát vui chơi, đi lại bừa bãi không nghỉ, đó là cuồng. Bệnh điên lúc mới phát thì ý không vui, ngã cứng, nhìn thẳng, mạch ba bộ âm dương đều thịnh, đó là điên.
Thiểu ngọa bất cơ: Ít ngủ mà không đói, dương khí hưng phấn, thần chí không yên.
Tự cao hiền: Tự cho mình cao minh, hiền tài.
Tự biện trí: Tự cho mình thông minh, biện luận giỏi.
Tự cứ quý: Tự kiêu, cho mình tôn quý.
Vọng tiếu hiếu ca nhạc: Cười vô cớ, thích hát, vui chơi bừa bãi.
Vọng hành bất hưu: Đi lại lung tung, không dừng.
Ý bất lạc: Tâm ý không vui, uất trệ.
Cương phó trực thị: Ngã cứng, mắt nhìn thẳng, thần chí bị che lấp.
Tam bộ âm dương câu thịnh: Mạch thốn, quan, xích ở các tầng âm dương đều thịnh, biểu thị khí tà bế tắc mạnh.
Lục Thập Nan
Điều khó thứ sáu mươi
Hỏi: Bệnh đầu và bệnh tim có quyết thống, có chân thống, nghĩa là gì?
Quyết thống: Đau do khí nghịch, kinh khí bế, phong hàn phục lưu; tuy đau nặng nhưng chưa hẳn là tổn thương căn bản đến nơi trọng yếu.
Chân thống: Đau thật vào nơi cốt lõi, bệnh tà nhập sâu, liên hệ não hoặc tâm thật sự; tiên lượng rất nặng.
Đáp: Mạch thủ tam dương nhận phong hàn, tà phục lưu lại không đi, thì gọi là quyết đầu thống. Nếu tà nhập vào liên hệ với não thì gọi là chân đầu thống. Khí của năm tạng xâm phạm lẫn nhau thì gọi là quyết tâm thống. Nếu đau rất dữ dội, chỉ ở tim, tay chân xanh thì gọi là chân tâm thống. Chân tâm thống thì sáng phát chiều chết, chiều phát sáng chết.
Thủ tam dương chi mạch: Ba kinh dương ở tay, đều lên vùng đầu mặt, có thể liên quan đau đầu.
Thụ phong hàn: Bị phong hàn xâm nhập.
Phục lưu bất khứ: Tà khí ẩn phục lưu lại, không giải.
Quyết đầu thống: Đau đầu do kinh khí nghịch, phong hàn lưu trệ ở kinh dương.
Nhập liên tại não: Tà nhập sâu liên hệ với não.
Chân đầu thống: Đau đầu thật sự nguy hiểm, bệnh vào não, cổ y xem là trọng chứng.
Ngũ tạng khí tương can: Khí của năm tạng xung phạm lẫn nhau, gây đau vùng tim do tạng khí liên lụy.
Quyết tâm thống: Đau vùng tim do khí nghịch, tạng khí xung phạm, chưa phải tâm tuyệt.
Đãn tại tâm: Đau chỉ khu trú ở tim, đau dữ dội.
Thủ túc thanh: Tay chân xanh tím, biểu thị khí huyết tuyệt, dương khí không đến tứ chi.
Chân tâm thống: Đau tim thật, tâm khí tuyệt hoặc huyết mạch nguy cấp, tiên lượng cực xấu.
Đán phát tịch tử, tịch phát đán tử: Sáng phát thì chiều chết, chiều phát thì sáng chết; cách nói cổ chỉ bệnh cực kỳ nguy hiểm.
Tóm ý đoạn này: Từ Ngũ Thập Nhất Nan đến Lục Thập Nan bàn về phân biệt bệnh tạng phủ, tích tụ, tiết tả, thương hàn, cuồng điên và các chứng đau nguy hiểm. Điều 51 dùng sở thích lạnh ấm và muốn gặp người hay không để phân biệt phủ bệnh thuộc dương và tạng bệnh thuộc âm. Điều 52 nói tạng bệnh cố định, phủ bệnh di động, vì tạng chủ tàng, phủ chủ thông. Điều 53 và 54 dùng ngũ hành truyền biến để giải thích “thất truyền thì chết, gián tạng thì sống”, bệnh tạng khó trị vì hay truyền theo tương khắc, bệnh phủ dễ trị hơn khi truyền theo tương sinh. Điều 55 phân biệt tích và tụ: tích thuộc âm, cố định, do ngũ tạng sinh; tụ thuộc dương, di động, do lục phủ thành. Điều 56 trình bày năm tích của ngũ tạng: can tích Phì khí, tâm tích Phục lương, tỳ tích Bĩ khí, phế tích Tức bôn, thận tích Bôn đồn, đều hình thành khi tà khí không truyền được sang tạng đang vượng và bị lưu kết. Điều 57 nói năm loại tiết: vị tiết, tỳ tiết, đại trường tiết, tiểu trường tiết, đại hà tiết. Điều 58 phân năm loại thương hàn và mạch tương ứng, đồng thời nói phép hãn, hạ phải tùy âm dương hư thực. Điều 59 phân biệt cuồng là dương thịnh kích động, điên là thần chí u trệ. Điều 60 phân biệt quyết đầu thống với chân đầu thống, quyết tâm thống với chân tâm thống; trong đó chân tâm thống là chứng cực nguy, sáng phát chiều chết, chiều phát sáng chết.