Khái luận
Nhồi máu cơ tim là một cấp cứu Tâm mạch nguy hiểm, xảy ra khi dòng máu nuôi một vùng cơ tim bị giảm nghiêm trọng hoặc gián đoạn đột ngột, khiến tế bào cơ tim thiếu oxy kéo dài và bắt đầu tổn thương, hoại tử.
Nguyên nhân thường gặp nhất là mảng xơ vữa trong động mạch vành bị nứt hoặc vỡ. Tiểu cầu và các yếu tố đông máu tập trung tại vị trí tổn thương, hình thành huyết khối làm lòng mạch bị tắc một phần hoặc hoàn toàn.
Nếu dòng máu không được khôi phục kịp thời, vùng cơ tim bị tổn thương sẽ tiếp tục lan rộng. Người bệnh có thể gặp suy tim cấp, phù phổi, rối loạn nhịp nguy hiểm, sốc tim, ngừng tuần hoàn hoặc tử vong.
Triệu chứng thường gặp là đau hoặc khó chịu vùng ngực, có cảm giác đè ép, bóp nghẹt, siết chặt hoặc nặng ngực. Đau có thể lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm, răng hoặc vùng thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi lạnh, buồn nôn, chóng mặt, hồi hộp, mệt lả hoặc ngất.
Không phải người bệnh nào cũng có cơn đau điển hình. Phụ nữ, người cao tuổi, người đái tháo đường và người mắc bệnh Thận có thể chỉ thấy khó thở, buồn nôn, đau lưng, đau hàm, đầy tức thượng vị, mệt bất thường, vã mồ hôi hoặc giảm sức chịu đựng đột ngột.
Trong Trung y, nhồi máu cơ tim có thể thuộc phạm vi Chân tâm thống (真心痛), Quyết tâm thống (厥心痛), Thốt tâm thống (卒心痛), Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡) và Thoát chứng (脱证).
Bệnh cơ chủ yếu là Tâm mạch đột nhiên bế tắc. Huyết ứ, đàm trọc, khí trệ và hàn ngưng kết lại làm mạch đạo không thông. Khi bệnh nặng, Tâm dương có thể bạo thoát, khí âm đại thương, âm dương ly quyết.
Nhồi máu cơ tim không được tự điều trị tại nhà bằng thuốc Trung y, châm cứu, bấm huyệt, cạo gió, dầu xoa hoặc rượu thuốc. Khi nghi ngờ bệnh, cần gọi cấp cứu ngay.
Thời gian chính là cơ tim
Cơ tim cần được cung cấp máu liên tục. Khi động mạch vành bị tắc, vùng cơ tim phía sau vị trí tắc lập tức thiếu oxy.
Trong thời gian đầu, tế bào cơ tim còn có khả năng được cứu nếu dòng máu được khôi phục. Nếu sự thiếu máu kéo dài, tổn thương trở nên không hồi phục và vùng hoại tử ngày càng rộng.
Vì vậy, mục tiêu quan trọng trong điều trị là đưa người bệnh đến cơ sở có khả năng chẩn đoán và tái thông mạch càng sớm càng tốt.
Không nên chờ cơn đau tự hết, không cố tự lái xe đến bệnh viện và không mất thời gian tìm thuốc dân gian. Việc chậm trễ có thể làm mất cơ hội cứu cơ tim.
Dấu hiệu thường gặp
Đau hoặc nặng vùng ngực
Người bệnh có thể thấy sau xương ức hoặc vùng trước Tâm bị đè ép, bóp chặt, siết, nặng hoặc nóng rát.
Cơn đau thường rộng, khó chỉ chính xác bằng một ngón tay và có thể kéo dài hơn những cơn đau thắt ngực trước đây.
Đau lan
Đau có thể lan ra một hoặc hai vai, cánh tay, đặc biệt mặt trong cánh tay trái, lưng, cổ, hàm, răng hoặc vùng thượng vị.
Khó thở
Người bệnh có thể hụt hơi, thở gấp, không nằm được hoặc có cảm giác thiếu không khí.
Vã mồ hôi lạnh
Mồ hôi ra đột ngột, da lạnh, sắc mặt tái xám là biểu hiện đáng chú ý, nhất là khi đi cùng đau ngực hoặc khó thở.
Buồn nôn và nôn
Một số người biểu hiện chủ yếu bằng đầy tức thượng vị, buồn nôn hoặc nôn, dễ bị nhầm với bệnh dạ dày.
Mệt lả
Người bệnh có thể đột nhiên yếu sức, chân tay rã rời, không thể tiếp tục hoạt động hoặc cảm thấy sắp ngất.
Rối loạn nhịp
Tim có thể đập quá nhanh, quá chậm, loạn nhịp hoặc người bệnh thấy hồi hộp dữ dội.
Choáng hoặc ngất
Tụt huyết áp, rối loạn nhịp hoặc giảm cung lượng Tâm có thể làm người bệnh chóng mặt, lơ mơ hoặc mất ý thức.
Cảm giác bất an
Một số người có cảm giác sợ hãi, bồn chồn hoặc như sắp xảy ra điều nghiêm trọng.
Biểu hiện không điển hình
Nhồi máu cơ tim có thể không biểu hiện bằng đau ngực rõ. Những biểu hiện cần chú ý gồm:
Khó thở mới xuất hiện.
Mệt bất thường không giải thích được.
Đau lưng hoặc đau giữa hai bả vai.
Đau hàm hoặc đau răng không rõ nguyên nhân.
Buồn nôn và đầy tức thượng vị.
Vã mồ hôi lạnh.
Chóng mặt hoặc gần ngất.
Rối loạn giấc ngủ kèm khó chịu vùng ngực.
Giảm khả năng đi bộ hoặc làm việc đột ngột.
Ở người có nhiều yếu tố nguy cơ, những biểu hiện này cần được xem xét thận trọng, không nên mặc nhiên quy cho dạ dày, mãn kinh, cảm cúm hoặc lo âu.
Nhồi máu cơ tim thầm lặng
Một số trường hợp nhồi máu cơ tim có rất ít triệu chứng hoặc người bệnh không nhận biết được cơn đau.
Tình trạng này thường gặp hơn ở người đái tháo đường, người cao tuổi, người mắc bệnh thần kinh tự chủ hoặc đã có nhiều bệnh mạn tính.
Người bệnh có thể chỉ thấy mệt, khó thở, vã mồ hôi, chóng mặt hoặc giảm sức chịu đựng. Đến khi kiểm tra điện tâm đồ, siêu âm tim hoặc xét nghiệm mới phát hiện từng có tổn thương cơ tim.
Không đau không có nghĩa bệnh nhẹ. Mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào vị trí, diện tích cơ tim tổn thương, chức năng Tâm và các biến chứng, không chỉ phụ thuộc cảm giác đau.
Nhồi máu cơ tim và đau thắt ngực
Đau thắt ngực ổn định thường xảy ra khi gắng sức, có tính chất tương đối quen thuộc và giảm khi nghỉ hoặc dùng thuốc đã được kê.
Nhồi máu cơ tim thường có một hoặc nhiều đặc điểm khác trước:
Đau mạnh hơn.
Đau kéo dài hơn.
Đau xảy ra khi nghỉ.
Cơn đau xuất hiện thường xuyên hơn.
Mức hoạt động gây đau nhẹ hơn trước.
Thuốc cắt cơn không còn giúp như thường lệ.
Có thêm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng hoặc mệt lả.
Không nên cố phân biệt tại nhà giữa đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim. Cả hai đều thuộc hội chứng vành cấp và cần được đánh giá khẩn cấp.
Nguyên nhân
Xơ vữa và huyết khối động mạch vành
Đây là nguyên nhân thường gặp nhất. Mảng xơ vữa trong thành mạch bị nứt vỡ, kích hoạt quá trình đông máu và hình thành huyết khối.
Huyết khối có thể làm mạch tắc hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn, dẫn đến thiếu máu cơ tim cấp.
Co thắt động mạch vành
Mạch vành co thắt mạnh và kéo dài có thể làm dòng máu giảm nghiêm trọng, ngay cả khi lòng mạch không có mảng xơ vữa lớn.
Co thắt cũng có thể làm mảng xơ vữa không ổn định bị tổn thương và thúc đẩy hình thành huyết khối.
Bóc tách động mạch vành tự phát
Thành động mạch vành có thể bị tách lớp, tạo tụ máu trong thành mạch và chèn ép lòng mạch.
Tình trạng này có thể gặp ở người trẻ, đặc biệt một số phụ nữ trong hoặc sau thai kỳ, nhưng không chỉ giới hạn ở nhóm này.
Thuyên tắc động mạch vành
Cục máu đông hoặc vật liệu từ nơi khác có thể di chuyển đến động mạch vành và gây tắc.
Mất cân bằng cung cầu oxy cơ tim
Nhồi máu cơ tim không phải lúc nào cũng do huyết khối làm tắc mạch hoàn toàn. Thiếu máu nặng, mất máu, sốc, tụt huyết áp, nhiễm trùng nặng, nhịp tim quá nhanh hoặc tăng huyết áp nghiêm trọng có thể khiến lượng oxy cung cấp không đủ nhu cầu cơ tim.
Chất kích thích
Một số chất kích thích có thể làm co mạch mạnh, nhịp tim tăng và huyết áp dao động, từ đó gây thiếu máu hoặc nhồi máu cơ tim.
Các yếu tố nguy cơ
Tăng huyết áp.
Rối loạn mỡ máu.
Đái tháo đường.
Hút thuốc lá.
Béo phì, đặc biệt béo bụng.
Ít vận động.
Bệnh Thận mạn.
Rối loạn hô hấp khi ngủ.
Tuổi cao.
Tiền sử gia đình mắc bệnh Tâm mạch sớm.
Căng thẳng kéo dài.
Ăn uống nhiều béo ngọt, thức ăn chế biến sẵn và muối.
Đã từng có bệnh mạch vành, đặt stent hoặc nhồi máu cơ tim.
Ở phụ nữ, cần chú ý thêm tiền sử tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ, mãn kinh sớm và một số bệnh tự miễn.
Yếu tố thúc đẩy cơn bệnh
Nhồi máu cơ tim có thể xuất hiện mà không có yếu tố khởi phát rõ. Tuy nhiên, một số tình huống có thể làm bệnh dễ phát tác hơn.
Gắng sức quá mức
Lao động nặng, mang vác, leo dốc nhanh hoặc tập luyện vượt sức làm nhu cầu oxy của cơ tim tăng mạnh.
Xúc động
Giận dữ, hoảng sợ, căng thẳng và quá kích động làm giao cảm hưng phấn, huyết áp và nhịp tim tăng, mạch máu co.
Ăn quá no
Bữa ăn lớn, đặc biệt nhiều dầu mỡ, làm Tỳ Vị phải vận hóa nhiều, huyết dịch và chuyển hóa thay đổi, Tâm phải làm việc nặng hơn.
Uống nhiều rượu
Rượu có thể làm huyết áp, nhịp tim và đông máu biến đổi, đồng thời làm người bệnh quên hoặc bỏ thuốc.
Táo bón và rặn mạnh
Nín thở, gắng sức khi đại tiện làm huyết áp và gánh nặng lên Tâm thay đổi đột ngột.
Lạnh
Gió rét hoặc thay đổi nhiệt độ đột ngột làm mạch ngoại vi và mạch vành co, huyết áp tăng và nhu cầu oxy cơ tim tăng.
Mất ngủ và lao lực kéo dài
Thiếu ngủ làm giao cảm tăng hoạt động, huyết áp và nhịp tim dễ dao động.
Nhiễm trùng, chảy máu và phẫu thuật lớn
Những tình trạng này làm nhu cầu chuyển hóa tăng hoặc lượng máu cung cấp cho cơ tim giảm.
Chẩn đoán
Điện tâm đồ
Điện tâm đồ giúp phát hiện những thay đổi liên quan đến thiếu máu và tổn thương cơ tim.
Một số người có biểu hiện ST chênh lên, một số không có. Điện tâm đồ ban đầu bình thường cũng không loại trừ hoàn toàn nhồi máu cơ tim nếu triệu chứng còn nghi ngờ.
Troponin
Troponin là dấu ấn quan trọng của tổn thương cơ tim. Xét nghiệm thường được thực hiện nhiều lần để theo dõi sự thay đổi.
Troponin tăng cần được giải thích trong bối cảnh triệu chứng và các xét nghiệm khác, vì một số bệnh khác cũng có thể làm troponin tăng.
Siêu âm tim
Siêu âm giúp đánh giá khả năng co bóp của cơ tim, vùng vận động bất thường, chức năng van, dịch màng ngoài Tâm và các biến chứng.
Chụp động mạch vành
Chụp mạch giúp xác định vị trí và mức độ tắc hẹp, đồng thời có thể tiến hành can thiệp tái thông bằng bóng và stent khi phù hợp.
Các xét nghiệm khác
Người bệnh có thể được kiểm tra công thức máu, chức năng Thận, điện giải, đường huyết, mỡ máu, chức năng gan và các chỉ số đông máu.
Các loại nhồi máu cơ tim thường được nhắc đến
Nhồi máu cơ tim ST chênh lên
Thường liên quan đến tình trạng động mạch vành bị tắc hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn trong thời gian đủ dài, gây tổn thương cơ tim rộng.
Người bệnh thường cần được tái thông mạch khẩn cấp.
Nhồi máu cơ tim không ST chênh lên
Điện tâm đồ không có ST chênh lên điển hình nhưng xét nghiệm cho thấy cơ tim đã bị tổn thương.
Tình trạng này vẫn nguy hiểm và cần đánh giá, điều trị trong bệnh viện.
Không nên dùng cách gọi “không có sóng Q” để cho rằng bệnh nhẹ. Phân loại và tiên lượng hiện nay cần căn cứ toàn bộ tình trạng lâm sàng, điện tâm đồ, troponin, chức năng Tâm và giải phẫu mạch vành.
Nhồi máu cơ tim tái phát
Người từng nhồi máu cơ tim vẫn có nguy cơ tái phát nếu bệnh mạch vành và các yếu tố nguy cơ không được kiểm soát.
Cơn tái phát có thể ở cùng vị trí hoặc liên quan đến một nhánh mạch khác.
Nhồi máu cơ tim không đau
Người bệnh không có cơn đau điển hình nhưng vẫn có tổn thương cơ tim. Chẩn đoán thường dựa vào điện tâm đồ, troponin và hình ảnh học.
Nhồi máu thất phải
Thường liên quan đến vùng dưới của Tâm và có thể làm huyết áp thấp, tĩnh mạch cổ nổi, buồn nôn hoặc choáng.
Việc sử dụng thuốc giãn mạch và bù dịch trong trường hợp này cần được bác sĩ cân nhắc rất thận trọng.
Nhồi máu cơ nhĩ
Đây là tình trạng ít gặp hơn và thường đi cùng nhồi máu cơ thất. Người bệnh có thể xuất hiện rối loạn nhịp nhĩ, giảm khả năng co bóp của nhĩ và nguy cơ huyết khối.
Chẩn đoán thường khó và phải căn cứ điện tâm đồ, siêu âm tim cùng tình trạng lâm sàng.
Biến chứng
Rối loạn nhịp
Nhồi máu cơ tim có thể gây ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất, rung thất, rung nhĩ, nhịp chậm hoặc block dẫn truyền.
Một số rối loạn nhịp có thể gây ngất, ngừng tuần hoàn và tử vong trong thời gian ngắn.
Suy tim
Vùng cơ tim tổn thương mất khả năng co bóp, làm cung lượng Tâm giảm. Người bệnh có thể khó thở, phù, mệt, tiểu ít hoặc không nằm được.
Phù phổi cấp
Áp lực trong tuần hoàn Phế tăng làm dịch tràn vào phế nang, gây khó thở dữ dội, ho, tím tái và có thể khạc bọt hồng.
Sốc tim
Tâm không còn đủ khả năng bơm máu nuôi các cơ quan. Người bệnh tụt huyết áp, tay chân lạnh, tiểu ít, lơ mơ và có nguy cơ tử vong cao.
Vỡ thành Tâm hoặc thủng vách liên thất
Tổn thương cơ tim sâu có thể gây rách thành Tâm hoặc vách liên thất, làm huyết động suy sụp nhanh.
Hở van hai lá cấp
Tổn thương cơ nhú hoặc dây chằng có thể làm van hai lá mất chức năng, gây phù phổi và sốc.
Viêm màng ngoài Tâm
Tổn thương cơ tim có thể gây phản ứng viêm ở màng ngoài Tâm và làm đau ngực thay đổi theo tư thế hoặc nhịp thở.
Huyết khối trong buồng Tâm
Vùng cơ tim co bóp kém có thể tạo điều kiện hình thành huyết khối, dẫn đến thuyên tắc não hoặc các cơ quan khác.
Phình thành thất
Vùng cơ tim bị tổn thương có thể mỏng và phình ra, làm chức năng Tâm giảm hoặc gây rối loạn nhịp.
Xử trí khi nghi nhồi máu cơ tim
Gọi cấp cứu
Cần gọi cấp cứu ngay khi xuất hiện đau ngực hoặc triệu chứng nghi ngờ, đặc biệt khi cơn đau mới, nặng, kéo dài hoặc kèm khó thở, vã mồ hôi, choáng hay ngất.
Không tự lái xe
Người bệnh có thể đột ngột rối loạn nhịp hoặc mất ý thức trên đường. Cần sử dụng xe cấp cứu hoặc nhờ người khác đưa đi theo hướng dẫn của cơ quan y tế.
Dừng mọi hoạt động
Cho người bệnh ngồi hoặc nằm ở tư thế dễ chịu, nới lỏng quần áo và giữ môi trường thông thoáng.
Không để người bệnh tự đi bộ, leo cầu thang hoặc cố hoàn thành công việc.
Dùng thuốc đã được kê đúng hướng dẫn
Nếu người bệnh đã được bác sĩ kê thuốc dùng khi lên cơn, có thể dùng theo đúng hướng dẫn cá nhân.
Không tự dùng thuốc của người khác, không tự tăng liều và không để việc dùng thuốc làm chậm gọi cấp cứu.
Không tự xử trí bằng Trung y
Không xoa dầu, cạo gió, giác hơi, châm cứu, bấm huyệt hoặc uống thuốc hoạt huyết để chờ cơn đau giảm.
Nếu người bệnh bất tỉnh
Nếu người bệnh không phản ứng và không thở bình thường, cần gọi cấp cứu, bắt đầu hồi sinh tim phổi theo hướng dẫn của nhân viên điều phối và sử dụng máy khử rung tự động nếu có.
Không dùng những cách truyền miệng như đập mạnh vùng ngực, gây ho hoặc châm kim vào đầu ngón tay thay cho hồi sinh tim phổi.
Điều trị trong bệnh viện
Tái thông mạch vành
Can thiệp động mạch vành qua da giúp mở chỗ tắc bằng bóng và có thể đặt stent.
Khi can thiệp không thể thực hiện kịp thời và người bệnh phù hợp, thuốc tiêu sợi huyết có thể được cân nhắc.
Một số trường hợp tổn thương phức tạp cần phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.
Thuốc chống kết tập tiểu cầu
Thuốc giúp giảm tiểu cầu kết dính và hạn chế huyết khối phát triển.
Sau đặt stent, người bệnh thường phải dùng phối hợp thuốc trong khoảng thời gian nhất định. Không được tự ngừng.
Thuốc chống đông
Được sử dụng trong giai đoạn cấp hoặc một số tình trạng đặc biệt nhằm hạn chế huyết khối tiếp tục hình thành.
Thuốc hạ mỡ máu
Statin thường được dùng để giảm cholesterol và ổn định mảng xơ vữa.
Thuốc điều hòa Tâm và huyết áp
Tùy tình trạng, bác sĩ có thể sử dụng thuốc làm chậm nhịp Tâm, giảm huyết áp, giảm gánh nặng cho Tâm và bảo vệ chức năng Tâm Thận.
Oxy
Oxy được sử dụng khi người bệnh thiếu oxy hoặc có tình trạng hô hấp, tuần hoàn cần hỗ trợ. Không phải mọi người đều cần thở oxy thường quy.
Điều trị biến chứng
Rối loạn nhịp, suy tim, sốc, hở van cấp, tổn thương cơ học và ngừng tuần hoàn cần được xử trí chuyên biệt.
Nhận thức của Trung y
Chân tâm thống
Chân tâm thống là chứng đau ở Tâm với bệnh thế nguy cấp, đau dữ dội, có thể lan ra lưng, kèm tay chân lạnh, mồ hôi ra và sắc mặt biến đổi.
Trong bối cảnh hiện đại, những biểu hiện này cần được xem là dấu hiệu của tình trạng Tâm mạch nghiêm trọng, không dùng khái niệm cổ để trì hoãn cấp cứu.
Tâm mạch bế tắc
Huyết ứ, đàm trọc, khí trệ và hàn ngưng làm Tâm mạch không thông. Khi sự bế tắc đột ngột và nghiêm trọng, người bệnh đau dữ dội, khó thở và huyết hành mất điều hòa.
Tâm dương bạo thoát
Nếu Tâm dương suy sụp, người bệnh có thể mồ hôi lạnh đầm đìa, tay chân lạnh, sắc mặt tái xám, tinh thần lơ mơ và mạch vi nhược.
Đây là tình trạng nguy kịch, có thể tương ứng sốc tim, rối loạn nhịp nặng hoặc ngừng tuần hoàn.
Khí âm đại thương
Sau cơn bệnh nặng, khí và âm đều bị tổn thương. Người bệnh thường mệt, thở ngắn, miệng khô, hồi hộp, ngủ kém và ra mồ hôi.
Bản hư tiêu thực
Giai đoạn cấp, phần tiêu thực bế tắc nổi bật.
Sau cấp cứu, bản hư dần biểu hiện rõ, thường là khí hư, khí âm lưỡng hư, Tâm Tỳ lưỡng hư hoặc Tâm dương hư, đồng thời huyết ứ và đàm trọc có thể còn tồn tại.
Vai trò của Trung y
Trong giai đoạn cấp
Trung y không thay thế cấp cứu, tái thông mạch, thuốc chống huyết khối, hồi sức và điều trị biến chứng.
Những phương như hồi dương cứu nghịch, khai bế thông mạch hoặc hoạt huyết mạnh chỉ có ý nghĩa lý luận và không được tự sử dụng tại nhà.
Sau khi bệnh ổn định
Trung y có thể hỗ trợ cải thiện mệt mỏi, hồi hộp, ăn ngủ kém, đàm thấp, khí hư và khả năng phục hồi, nhưng phải căn cứ thuốc hiện đại đang sử dụng và nguy cơ chảy máu.
Giai đoạn lâu dài
Có thể chú ý ích khí dưỡng Tâm, dưỡng âm phục mạch, kiện Tỳ hóa đàm, điều khí, an thần và hoạt huyết ở mức độ phù hợp.
Một. Khí trệ huyết ứ, Tâm mạch bế tắc
Chứng trạng
Sau giai đoạn cấp hoặc ở người bệnh đã ổn định, vẫn còn đau tức ngực tương đối cố định, sắc mặt tối, môi hơi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, tĩnh mạch dưới lưỡi tím giãn, mạch huyền sáp hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Khí trệ làm huyết không hành; huyết ứ làm Tâm mạch mất thông lợi.
Pháp trị
Lý khí hoạt huyết, thông mạch giảm đau.
Phương thang
Huyết phủ trục ứ thang hợp Đan sâm ẩm gia giảm (血府逐瘀汤合丹参饮加减): Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Ngưu tất (牛膝), Sài hồ (柴胡), Chỉ xác (枳壳), Cát cánh (桔梗), Cam thảo (甘草), Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Ngực đau gia Huyền hồ sách (玄胡索); đàm trọc kèm theo gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白); khí hư gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参).
Ý nghĩa
Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược, Xuyên khung và Đan sâm hoạt huyết; Đương quy và Sinh địa dưỡng huyết; Sài hồ, Chỉ xác, Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí vùng ngực; Ngưu tất dẫn huyết đi xuống.
Chú ý
Người sau nhồi máu cơ tim thường đang dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc chống đông. Không tự dùng phương này.
Hai. Đàm trọc huyết ứ
Chứng trạng
Ngực nặng, khó thở, thân thể nặng nề, béo bụng, đàm nhiều, buồn nôn, bụng đầy, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, rêu dày nhầy, mạch hoạt sáp.
Bệnh cơ
Tỳ hư sinh đàm. Đàm trọc kết với huyết ứ làm Tâm mạch khó thông và cơ thể phục hồi chậm.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa đàm, hoạt huyết thông mạch, khoan hung.
Phương thang
Qua lâu giới bạch bán hạ thang hợp Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (瓜蒌薤白半夏汤合血府逐瘀汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Phục linh (茯苓), Chỉ xác (枳壳), Đan sâm (丹参), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Uất kim (郁金), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Đàm nhiều, buồn nôn gia Trúc nhự (竹茹), Sinh khương (生姜); thân thể nặng gia Trạch tả (泽泻), Ý dĩ nhân (薏苡仁); ngực tức gia Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁).
Ý nghĩa
Qua lâu, Giới bạch và Bán hạ hóa đàm, khoan hung; Trần bì và Phục linh kiện Tỳ hóa đàm; Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược và Xuyên khung hoạt huyết; Uất kim hành khí hóa ứ.
Ba. Hàn ngưng Tâm mạch
Chứng trạng
Trong giai đoạn ổn định, người bệnh đau hoặc tức ngực khi gặp lạnh, được ấm thì giảm, sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt tím, rêu trắng, mạch trầm trì.
Bệnh cơ
Hàn làm khí huyết co rút và Tâm mạch mất ôn thông.
Pháp trị
Ôn thông Tâm dương, tán hàn thông mạch.
Phương thang
Qua lâu giới bạch quế chi thang gia giảm (瓜蒌薤白桂枝汤加减): Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白), Quế chi (桂枝), Bán hạ (半夏), Chỉ thực (枳实), Hậu phác (厚朴), Đan sâm (丹参), Xuyên khung (川芎), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Sợ lạnh rõ gia Can khương (干姜); khí hư gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参); đau nhẹ dai dẳng gia Huyền hồ sách (玄胡索).
Ý nghĩa
Qua lâu và Giới bạch khoan hung thông dương; Quế chi ôn thông; Bán hạ hóa đàm; Chỉ thực và Hậu phác hành khí; Đan sâm và Xuyên khung thông mạch.
Chú ý
Phụ tử, Tế tân và các vị ôn dương mạnh không được tự sử dụng ở người bệnh Tâm mạch.
Bốn. Tâm dương bạo thoát
Chứng trạng
Đau ngực dữ dội, khó thở, mồ hôi lạnh đầm đìa, tay chân lạnh, sắc mặt tái xám, môi tím, người lả, tinh thần lơ mơ, mạch vi nhược hoặc không bắt được.
Bệnh cơ
Tâm mạch đột nhiên bế tắc, Tâm dương suy sụp, chính khí muốn thoát.
Pháp trị theo lý luận
Hồi dương cứu nghịch, ích khí cố thoát.
Phương thang lý luận
Tham phụ thang hợp Sinh mạch tán (参附汤合生脉散): Nhân sâm (人参), Phụ tử chế (制附子), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Hoàng kỳ (黄芪), Chích cam thảo (炙甘草).
Chú ý
Đây chỉ là nội dung lý luận Trung y. Người có các biểu hiện này phải được hồi sinh, cấp cứu, tái thông mạch và xử trí sốc, không được sắc thuốc hoặc chờ thầy thuốc đến nhà.
Năm. Khí âm lưỡng hư sau nhồi máu
Chứng trạng
Sau giai đoạn cấp, người bệnh mệt, hồi hộp, thở ngắn, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém, ngực tức âm ỉ, lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Bệnh nặng làm khí và âm cùng tổn thương. Khí hư không đủ vận huyết; âm hư làm Tâm mạch mất nhu dưỡng.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch thông lạc, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); miệng khô gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹), Huyền sâm (玄参).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông, Sinh địa và A giao dưỡng âm huyết; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo phục mạch; Quế chi thông dương mạch; Đan sâm thông mạch; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Sáu. Tâm khí hư sau cấp cứu
Chứng trạng
Người bệnh mệt, thở ngắn, hồi hộp, vận động nhẹ đã mệt, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, tiếng nói nhỏ, lưỡi nhạt, mạch hư nhược.
Bệnh cơ
Sau biến cố Tâm mạch, Tâm khí hao tổn, không đủ sức thúc đẩy huyết và nâng đỡ hoạt động cơ thể.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, cố biểu, thông mạch nhẹ.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Sinh mạch tán gia giảm (保元汤合生脉散加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Phục linh (茯苓), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁). Nhục quế (肉桂) chỉ dùng lượng nhỏ khi hàn tượng rõ.
Gia giảm
Mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Ma hoàng căn (麻黄根), Mẫu lệ (牡蛎); ăn kém gia Bạch truật (白术), Sơn dược (山药), Sa nhân (砂仁); hồi hộp gia Long cốt (龙骨), Bá tử nhân (柏子仁).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Phục linh kiện Tỳ; Đan sâm thông mạch; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Bảy. Tâm Tỳ lưỡng hư
Chứng trạng
Sau nằm viện, người bệnh mệt, ăn kém, bụng đầy, hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng, dễ lo lắng, sắc mặt nhợt, đại tiện không đều, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Bệnh nặng và lo sợ làm Tâm Tỳ cùng suy. Tỳ khí hư khiến khí huyết sinh hóa không đủ; Tâm huyết thiếu làm hồi hộp và mất ngủ.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣), Sinh khương (生姜), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Kê nội kim (鸡内金), Sơn dược (山药); mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); ngực tức gia Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ ích khí; Đương quy và Long nhãn nhục dưỡng huyết; Toan táo nhân và Viễn chí dưỡng Tâm; Mộc hương hành khí; Đan sâm thông mạch.
Phối hợp Trung y và thuốc hiện đại
Sau nhồi máu cơ tim, người bệnh thường phải sử dụng nhiều thuốc lâu dài.
Các thuốc có thể bao gồm thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc chống đông trong một số trường hợp, thuốc hạ mỡ máu, thuốc kiểm soát huyết áp, thuốc làm chậm nhịp Tâm, thuốc suy tim và thuốc điều trị đái tháo đường.
Các vị Đan sâm (丹参), Tam thất (三七), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金), Nhũ hương (乳香) và Một dược (没药) có thể ảnh hưởng đến huyết hành và làm tăng nguy cơ chảy máu.
Không nên tự dùng thuốc Trung y chỉ vì thấy lưỡi tím hoặc cho rằng cần “hoạt huyết”. Trước khi dùng phải cung cấp đầy đủ danh sách thuốc đang uống.
Châm cứu hỗ trợ
Trong giai đoạn nhồi máu cơ tim cấp, châm cứu không phải phương pháp điều trị thay thế.
Sau khi tình trạng ổn định và người bệnh được phép phục hồi, châm cứu có thể hỗ trợ hồi hộp, mất ngủ, mệt và ngực tức nhẹ.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Nhâm-6 Khí hải (气海), Vị-40 Phong long (丰隆) và An miên.
Hồi hộp, ngực tức phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du và Tâm-7 Thần môn.
Khí hư phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-20 Tỳ du và Tâm bào-6 Nội quan.
Huyết ứ còn rõ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Đàm trọc phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý và Nhâm-17 Chiên trung.
Mất ngủ, lo sợ phối Tâm-7 Thần môn, An miên, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không châm cứu khi đau ngực cấp, huyết áp không ổn định, rối loạn nhịp nặng, suy tim mất bù, sốc hoặc có nguy cơ chảy máu chưa được đánh giá.
Bấm huyệt
Trong giai đoạn ổn định, có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao và Vị-40 Phong long.
Không ấn mạnh vùng trước Tâm. Không dùng bấm huyệt để xử trí cơn đau cấp hoặc thay thuốc đã được kê.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ cân nhắc khi bệnh đã ổn định, người bệnh thuộc dương hư, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt và mạch trầm tế.
Có thể cân nhắc Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-4 Quan nguyên, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Không cứu khi đau ngực cấp, tim đập nhanh, huyết áp chưa ổn định, sốt, miệng khô, lưỡi đỏ hoặc ra mồ hôi bất thường.
Ăn uống sau nhồi máu cơ tim
Giai đoạn nằm viện
Ăn uống cần theo chỉ định của cơ sở điều trị, căn cứ tình trạng suy tim, huyết áp, đường huyết, chức năng Thận và khả năng tiêu hóa.
Không tự dùng thuốc bổ, rượu thuốc, dược thiện hoặc các vị hoạt huyết.
Giai đoạn sau ổn định
Ăn đủ chất nhưng thanh đạm và không quá no.
Nên dùng rau củ, ngũ cốc, các loại đậu, cá, đậu phụ và thịt nạc lượng vừa phải.
Cần hạn chế mỡ động vật, nội tạng, đồ chiên rán, thịt chế biến sẵn, bánh ngọt, nước ngọt, rượu và thức ăn quá mặn.
Người suy tim, bệnh Thận hoặc đái tháo đường cần chế độ ăn riêng phù hợp.
Thể khí hư
Cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể khí âm lưỡng hư
Cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể đàm thấp
Cháo Ý dĩ nhân Phục linh: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Phục linh (茯苓), gạo tẻ.
Tâm thần bất an
Cháo Bách hợp Liên tử: Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Dược thiện chỉ hỗ trợ ăn uống, không thay thế thuốc và không dùng trong cơn cấp.
Phục hồi chức năng
Phục hồi Tâm mạch là một phần quan trọng sau nhồi máu cơ tim.
Chương trình thường bao gồm đánh giá sức chịu đựng, vận động có giám sát, tư vấn ăn uống, kiểm soát thuốc lá, hỗ trợ tâm lý và quản lý các bệnh kèm theo.
Nguyên tắc vận động
Bắt đầu nhẹ, tăng dần.
Tập đều hơn tập nặng.
Khởi động trước và thả lỏng sau tập.
Không nín thở hoặc gồng sức.
Không tập đến vã mồ hôi nhiều hoặc kiệt sức.
Không chỉ căn cứ công thức nhịp tim chung, vì thuốc và chức năng Tâm có thể làm nhịp tim thay đổi.
Đi bộ thường là hình thức phù hợp ban đầu. Sau đó có thể cân nhắc đạp xe tại chỗ, thái cực quyền hoặc Bát đoạn cẩm khi tình trạng ổn định.
Dấu hiệu phải dừng tập
Đau hoặc tức ngực.
Khó thở rõ.
Chóng mặt hoặc choáng.
Tim đập loạn.
Vã mồ hôi lạnh.
Buồn nôn.
Sắc mặt tái.
Mệt kéo dài sau tập.
Không nên tập khi đang đau ngực, suy tim mất ổn định, sốt, rối loạn nhịp rõ, huyết áp chưa kiểm soát hoặc vừa mất ngủ nghiêm trọng.
Sinh hoạt sau xuất viện
Dùng thuốc đúng giờ
Không tự ngừng thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc hạ mỡ máu, thuốc huyết áp, thuốc kiểm soát nhịp hoặc thuốc suy tim.
Sau đặt stent, tự ngừng thuốc chống kết tập tiểu cầu có thể gây huyết khối trong stent và tái nhồi máu.
Tái khám
Cần tái khám theo hẹn và kiểm tra huyết áp, nhịp tim, đường huyết, mỡ máu, chức năng gan Thận, điện tâm đồ hoặc siêu âm tim khi có chỉ định.
Bỏ thuốc lá
Cần bỏ hoàn toàn thuốc lá và tránh khói thuốc thụ động.
Ngủ nghỉ
Nên giữ giờ ngủ thức tương đối ổn định, tránh thức khuya và không làm việc quá sức.
Quản lý tình chí
Lo âu sau nhồi máu cơ tim là tình trạng thường gặp. Người bệnh không nên bị ép phải tỏ ra hoàn toàn bình thường, nhưng cũng không nên nằm bất động vì sợ hãi.
Cần được giải thích rõ mức hoạt động an toàn và dấu hiệu phải đi khám. Nếu lo âu, mất ngủ hoặc trầm buồn kéo dài, nên tìm hỗ trợ chuyên môn.
Đại tiện
Cần giữ đại tiện thông thuận, tránh nín thở và rặn mạnh.
Không tự dùng thuốc xổ mạnh, nhất là khi có suy tim hoặc bệnh Thận.
Sinh hoạt vợ chồng
Chỉ nên trở lại khi bệnh đã ổn định, hoạt động thường ngày không gây đau ngực hoặc khó thở và đã được hướng dẫn phù hợp.
Không sinh hoạt khi quá mệt, đau ngực, sau ăn no hoặc sau uống rượu.
Không sử dụng thuốc điều trị rối loạn cương cùng nitrate khi chưa được bác sĩ đánh giá.
Trở lại công việc
Thời điểm trở lại phụ thuộc mức độ tổn thương Tâm, loại công việc và khả năng gắng sức.
Công việc mang vác, leo trèo, làm ngoài trời nóng lạnh hoặc ca đêm cần được cân nhắc kỹ hơn.
Khi trở lại nên bắt đầu từng bước, tránh làm thêm giờ và có thời gian nghỉ xen kẽ.
Đi xa
Cần chuẩn bị đủ thuốc, danh sách thuốc và thông tin bệnh.
Không nên đi xa khi đau ngực chưa ổn định, suy tim tăng hoặc rối loạn nhịp chưa kiểm soát.
Dấu hiệu cần tái khám sớm
Cơn đau ngực xuất hiện lại hoặc tăng hơn.
Khó thở tăng.
Phù chân.
Tăng cân nhanh trong thời gian ngắn.
Hồi hộp hoặc nhịp tim bất thường.
Ngất hoặc gần ngất.
Mệt tăng rõ.
Huyết áp quá cao hoặc quá thấp.
Bầm tím, chảy máu kéo dài, phân đen hoặc tiểu máu.
Đau cơ hoặc yếu cơ bất thường.
Dấu hiệu tái nhồi máu
Cơn đau giống hoặc nặng hơn cơn trước.
Đau xảy ra khi nghỉ.
Đau lan vai, tay, lưng, cổ hoặc hàm.
Khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn.
Choáng hoặc ngất.
Thuốc dùng khi lên cơn không còn hiệu quả như trước.
Khi nghi tái nhồi máu, cần gọi cấp cứu, không tự đến phòng khám thông thường hoặc chờ lịch tái khám.
Phòng ngừa tái phát
Dùng thuốc đều đặn.
Không hút thuốc.
Kiểm soát huyết áp.
Kiểm soát LDL cholesterol và mỡ máu.
Kiểm soát đường huyết.
Duy trì cân nặng phù hợp.
Vận động theo chương trình phục hồi.
Ăn uống điều độ.
Ngủ đủ.
Giảm căng thẳng.
Điều trị rối loạn hô hấp khi ngủ nếu có.
Tái khám định kỳ.
Không xem đặt stent là khỏi hoàn toàn. Stent chỉ xử lý vị trí hẹp hoặc tắc cụ thể; nền tảng xơ vữa và nguy cơ Tâm mạch vẫn cần được kiểm soát.
Những điều nên làm
Gọi cấp cứu ngay khi nghi nhồi máu cơ tim.
Dừng hoạt động và giữ người bệnh ở tư thế an toàn.
Dùng thuốc đã được kê đúng hướng dẫn nhưng không trì hoãn cấp cứu.
Sau điều trị, dùng thuốc đều.
Tham gia phục hồi chức năng khi được giới thiệu.
Bỏ thuốc lá.
Theo dõi huyết áp, mỡ máu và đường huyết.
Ăn thanh đạm, không quá no.
Vận động từng bước.
Ngủ đủ và điều hòa tình chí.
Những điều không nên làm
Không tự lái xe khi nghi nhồi máu cơ tim.
Không chờ xem đau có tự hết.
Không cạo gió, châm cứu, bấm huyệt hoặc uống thuốc Đông y trong cơn cấp.
Không dùng rượu thuốc để thông mạch.
Không tự ngừng thuốc sau đặt stent.
Không tự dùng nhiều vị hoạt huyết.
Không ăn quá no rồi vận động hoặc tắm.
Không tập mạnh khi chưa được đánh giá.
Không xem nhẹ khó thở, mệt lả, đau thượng vị hoặc đau hàm ở người có nguy cơ.
Chú ý
Nhồi máu cơ tim là cấp cứu Tâm mạch. Khi xuất hiện đau hoặc khó chịu vùng ngực mới, dữ dội, kéo dài, xảy ra khi nghỉ hoặc lan ra vai, cánh tay, lưng, cổ, hàm hay vùng thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng ngất, sắc mặt tái xám hoặc tay chân lạnh, cần gọi cấp cứu ngay.
Không dùng thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt, dầu xoa, cạo gió hoặc dược thiện để trì hoãn việc xử trí.
Nếu người bệnh bất tỉnh và không thở bình thường, cần bắt đầu hồi sinh tim phổi và sử dụng máy khử rung tự động khi có thể, theo hướng dẫn của nhân viên cấp cứu.
Kết luận
Nhồi máu cơ tim xảy ra khi dòng máu nuôi một vùng cơ tim bị gián đoạn hoặc giảm nghiêm trọng, khiến cơ tim thiếu oxy và hoại tử. Nguyên nhân thường gặp nhất là mảng xơ vữa nứt vỡ và hình thành huyết khối trong động mạch vành.
Bệnh thường biểu hiện bằng đau hoặc nặng ngực, đau lan vai tay, lưng, cổ hoặc hàm, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn và choáng. Tuy nhiên, người cao tuổi, phụ nữ và người đái tháo đường có thể không đau rõ.
Trong Trung y, bệnh thuộc phạm vi Chân tâm thống, Quyết tâm thống, Thốt tâm thống và Hung tý. Bệnh cơ chủ yếu là Tâm mạch bế tắc do huyết ứ, đàm trọc, khí trệ và hàn ngưng; nặng thì Tâm dương bạo thoát, khí âm đại thương.
Giai đoạn cấp phải lấy cấp cứu, tái thông mạch, chống huyết khối, xử trí rối loạn nhịp, suy tim và sốc làm trọng tâm. Trung y không thay thế những phương pháp này.
Sau khi người bệnh đã ổn định, có thể căn cứ thể bệnh để hỗ trợ. Khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm; Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm; Tâm Tỳ lưỡng hư thì kiện Tỳ dưỡng huyết; đàm trọc thì hóa đàm khoan hung; huyết ứ thì thông mạch nhưng phải đặc biệt thận trọng với nguy cơ chảy máu.
Việc phục hồi cần phối hợp dùng thuốc đúng, bỏ thuốc lá, kiểm soát huyết áp, mỡ máu, đường huyết, ăn uống điều độ, vận động có mức độ, ngủ đủ và theo dõi lâu dài.
Nói tóm lại, điều quan trọng nhất trong nhồi máu cơ tim là nhận biết sớm, gọi cấp cứu ngay, tái thông mạch kịp thời và duy trì phòng ngừa tái phát sau khi xuất viện.
Trường Xuân biên soạn và tổng hợp