Chương IV Mạch chứng & điều trị bệnh ngược (sốt rét)
Khái thuyết
Thiên này trình bày biện chứng luận trị bệnh sốt rét, đồng thời căn cứ các chứng trạng khác nhau của bệnh, phân bệnh thành ba loại hình: Đơn ngược, Ôn ngược và Mẫu ngược, đồng thời chỉ ra rằng khi bệnh sốt rét (ngược) lâu ngày không khỏi, có thể hình thành trưng hà (chứng kết khối) và Ngược mẫu. Trong thiên tổng cộng có 5 điều văn, có 6 phương thang, trong đó bao gồm phụ phương 3 bài. Trong thiên có điều 1 và điều 3 thảo luận về mạch chứng, bệnh cơ, biến chứng và nguyên tắc trị liệu bệnh sốt rét. Các điều 2,4 và 5 là hội chứng và phương dược của bệnh sốt rét. Bộ vị bệnh biến của bệnh sốt rét tuy ở bán biểu bán lý, nhưng thường kèm theo phục tà (bệnh tà tiềm phục) gây bệnh, vì thế, với bệnh chứng ở kinh Thiếu dương cũng có những khác biệt, cho nên phép điều trị cũng không giống nhau. Như bệnh ở kinh Thiếu dương thường cấm dùng 3 phép là cấm hãn, cấm thổ và cấm hạ, nhưng khi điều trị ngược tật (bệnh sốt rét) thì vẫn có thể dùng ba phép này.
1.师曰:疟脉自弦,弦数者多热,弦迟者多寒。弦小紧者下之差,弦迟者可温之,弦紧者可发汗、针灸也,浮大者可吐之,弦数者风发也,以饮食消息止之.
1/ Sư viết: Ngược mạch tự huyền, huyền sác giả đa nhiệt, huyền trì giả đa hàn. Huyền tiểu khẩn giả hạ chi sai, huyền trì giả khả ôn chi, huyền khẩn giả khả phát hãn, châm cứu dã, phù đại giả khả thổ chi, huyền sác giả phong phát dã, dĩ ẩm thực tiêu tức chỉ chi.
[Từ giải]
Huyền tiểu khẩn: Là chỉ hình tượng mạch huyền tế mà lại khẩn cấp có lực.
Sai (差): giống như sái (瘥) là khỏi bệnh.
Phong phát: Chỉ về hiện tượng động phong của dương tà.
Tiêu tức: Có ý là quan sát châm chước.
【Giải thích】
Điều văn này trình bày biện chứng luận trị bệnh sốt rét. Bệnh sốt rét (ngược) là bệnh tà nằm ẩn ở vị trí bán biểu bán lý của kinh Thiếu dương, nếu bệnh tà nhập lý tranh chấp với âm thì bệnh nhân sợ lạnh; Nếu xuất ra ngoài tranh chấp với dương thì bệnh nhân phát sốt, vì thế gọi là chứng hàn nhiệt vãng lai (qua lại). Bệnh tà sốt rét ở kinh Thiếu dương, Thiếu dương mạch huyền, nên mạch của sốt rét cũng là mạch huyền. Ngoài ra, do thể chất bệnh nhân khác biệt, hoá hàn hoá nhiệt cũng không giống nhau. Do đó mạch huyền sác thường thấy có nhiệt, mạch huyền trì thường thấy có hàn. Vì thế trong điều trị cũng phải có sự khác biệt, không thể lẫn lộn. Như chứng ngược có mạch huyền nhưng khẩn nhẹ, mạch khẩn chủ lý (bên trong) chủ thực chứng, chính là bệnh sốt rét kèm theo ẩm thực tích trệ. Điều trị nên tả hạ tích trệ trong vị tràng, nếu bệnh sốt rét xuất hiện mạch huyền mà trì, là bệnh có phản ảnh kèm theo hàn lãnh, thì có thể dùng phép ôn trung tán hàn, nếu mạch sốt rét huyền khẩn mà không huyền tế, chính là biểu hiện của bệnh kèm theo phong hàn, nên dùng phép châm cứu để phát hãn; Nếu bệnh sốt rét có mạch phù đại, là biểu hiện bệnh tại vị trí cao, có thể dùng thổ pháp để bệnh tà vượt lên ra ngoài mà nhân thế lợi đạo (因势利导) Là theo xu hướng phát triển của sự tình và hướng dẫn chúng theo hướng thuận lợi. Nếu thấy mạch huyền mà sác, là bệnh ngược mà dương nhiệt bên trong rất nhiều, khiến âm bị tổn thương mà động phong và biến thành “Phong phát” (风发)có ý nghĩa là phát rất nhanh, nhanh như gió, có thể dựa theo phương diện ẩm thực châm chước điều chỉnh như uống nước quả lê, nước mía, ngọt lạnh sinh tân dịch, để tức (dập tắt) phong thì khỏi bệnh.
Đặc điểm của điều văn này là luận bệnh dựa theo hình tượng mạch, và những ý tưởng và trị pháp được căn cứ theo hội chứng khác nhau, đồng thời còn dựa theo ý nghĩa của biện chứng mạch.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Bệnh ngược (sốt rét) là bệnh tà của kinh Thiếu dương, huyền là mạch của kinh Thiếu dương, có bệnh tà thì cũng có mạch, nơi ở của ngược là tại bán biểu bán lý, mà khí của ngược, có khác biệt là lúc nhiều lúc ít. Vì thế bệnh có lúc nóng nhiều, có lúc lạnh nhiều, bên trong (lý) nhiều thì có thể công hạ, bên ngoài (biểu) nhiều thì có thể phát hãn, có thể dùng thổ pháp; Có phong theo nhiệt xuất mà không thể tán, nên tuỳ theo mạch mà đề ra phép trị. Họ Từ viết: “Mạch đại giả vi dương, tiểu giả vi âm, khẩn tuy hàn mạch, tiểu khẩn tắc nội nhập nhi vi âm hĩ. Âm bất khả tòng biểu tán, cố viết hạ chi dũ. Trì ký vi hàn, ôn chi vô nghi. Huyền khẩn bất trầm, vi hàn mạch nhi phi âm mạch, phi âm cố khả phát hãn châm cứu dã. Ngược mạch khái huyền, nhi hốt phù đại, tri tà tại cao phận, cao giả dẫn nhi việt chi, cố khả thổ.” (脉大者为阳,小者为阴,紧虽寒脉,小紧则内入而为阴矣。阴不可从表散,故曰下之愈。
迟既为寒,温之无疑。弦紧不沉,为寒脉而非阴脉,非阴故可发汗针灸也。疟脉概弦,而忽 浮大,知邪在高分,高者引而越之,故可吐。)Mạch đại (lớn) là dương, mạch nhỏ là âm, mạch khẩn tuy là mạch hàn, mạch tiểu khẩn nhập vào trong nên thuộc âm mạch, âm không thể tán theo biểu, nên có câu: Dùng phép công hạ thì khỏi bệnh. Mạch trì là hàn, phải dùng ôn pháp là không thể hoài nghi. Mạch huyền khẩn mà không trầm, là hàn mạch nhưng không thuộc âm mạch, không thuộc âm nên cũng có thể phát hãn châm cứu. Mạch của bệnh ngược đều là mạch huyền, mà bỗng nhiên phù đại là biểu hiện của bệnh tà ở trên cao, vị trí cao thì dẫn vượt lên, vì vậy có thể dùng phép thổ.
Họ Dụ viết: Trọng Cảnh đã nói mạch sác là nóng nhiều, mà có ý nói rõ: Mạch huyền sác là phong phát (phong phát nhanh chóng), nếu nhiệt liên tục không ngừng, tất sẽ dẫn đến nóng cực độ, mà nhiệt cực độ tất sẽ sinh phong, phong sinh khiến can mộc vũ (lấn át) thổ, và chuyển nhiệt vào vị, hao phí tân dịch, như thế không thể cầu tìm ở thuốc, cần châm chước điều chỉnh ẩm thực để giảm bớt nóng nhiệt, là dùng lê trấp, giá trấp (nước lê nước mía) để sinh tân dịch trị khát, như {Nội Kinh} viết: “Phong dâm vu nội, trị dĩ cam hàn chi chỉ dã” (风淫于内,治以甘寒之旨也。) Bên trong nhiều phong, điều trị dùng vị cam hàn (ngọt lạnh).
2/Bệnh ngược, dĩ nguyệt nhất nhật phát, đương dĩ thập ngũ nhật dũ, thiết bất sai, đương nguyệt tận giải; Như kỳ bất sai, đương vân hà? Sư viết: Thử kết vi chưng hà, danh viết ngược mẫu, cấp trị chi, nghi Miết giáp tiễn hoàn.
Phương Miết giáp tiễn hoàn
Miết giáp 12 phân, nướng Ô phiến (xạ can) 3 phân, đốt, Hoàng cầm 3 phân, Sài hồ 6 phân, Thử phụ 3 phân, ngao Đại hoàng 3 phân Thược dược 5 phân Quế chi 3 phân, Đình lịch 1 phân, ngao Thạch vi 3 phân, khứ mao Hậu phác 3 phân, Cù mạch 2 phân, Tử uy 3 phân Bán nhạ 1 phân Nhân sâm 1 phân Quảng trùng 5 phân ngao A giao 3 phân Xích tiêu 12 phân Khương lang 6 phân, ngao Đào nhân 2 phân
Tán bột 23 vị trên, lấy 3 phân can khương, Mẫu đan 5 phân, khứ tâm, Phong khoà 4 phân, cứu hạ thán 1 đấu, thanh tửu 1 hộc 5 đấu, ngâm than, đợi hết ½ rượu, cho Miết giáp vào, nấu nhừ như cao sơn, vắt lấy nước, cho hết thuốc vào, nấu làm hoàn như hạt ngô đồng, uống lúc bụng đói 7 hoàn, ngày 3 lần. {Thiên Kim Phương} dùng Miết giáp 12 phiến, lại có Hải tảo 3 phân, Đại kích 1 phân, Dao trùng 5 phân, không có hai vị Thử phu và Xích tiêu, dùng Miết giáp nấu hoà với thuốc làm hoàn.
[Từ giải]
癥瘕 (Trưng hà) Kết khối trong bụng, vững chắc không biến đổi, gọi là trưng, lúc tụ lúc tán, không có vật, không có hình thì gọi là hà (瘕).
Ngược mẫu, ngược lâu ngày không khỏi, mà can và tỳ sưng lớn, khí huyết ở dưới cạnh sườn kết thành khối, ấn vào thấy cứng đau, gọi là “Ngược mẫu” (疟母).
{Giải thích}
Điều văn này trình bày hội chứng và phương pháp điều trị ngược mẫu (bệnh sốt rét gây hòn khối tích tụ). Bệnh ngược (sốt rét) tính bằng thời gian tháng, ngày đầu tháng phát bệnh, ngày 15 khỏi bệnh. Dựa vào đâu mà thấy như vậy? Với 5 ngày là một hậu, ba hậu là 1 khí, một khí là 15 ngày. Con người bẩm thụ khí trời hằng ngày, luôn luôn tương thông, vì thế, khi thiên khí thay đổi thì nhân khí cũng thay đổi, thay đổi mà khí vượng thịnh thì không thụ bệnh tà mà tự khỏi bệnh. Nếu bệnh chưa khỏi, thì đến cuối tháng sẽ khỏi bệnh, đó là do đổi sang một khí tốt, nếu đã qua hai khí mà bệnh vẫn chưa khỏi, là do bệnh tà không suy giảm, bên trong kết với khí huyết can tỳ hình thành trưng hà, và có tên là ngược mẫu. Mẫu cũng có ý là già, là chứng ngược (sốt rét) là chứng hữu hình với thế bệnh nặng, vì vậy cần nhanh chóng điều trị để tiêu trừ bệnh. Nếu như để bệnh kéo dài khiến chính khí suy yếu và tà khí thực và sẽ không có năng lực để kháng bệnh. Điều trị bệnh dùng phương Miết giáp tiễn hoàn.
Phương Miết giáp tiễn hoàn có tác dụng hoạt huyết phá ứ, điều hoà doanh vệ. Trong phương có vị Miết giáp nhập vào can, làm mềm vả tiêu trừ kết tụ, khứ bệnh tà và nuôi dưỡng chính khí, kết hợp với Đoán Táo khôi (tro trong lò có chứa sắt) tẩm rượu là chủ dược khứ ứ tiêu tích; Đại hoàng, Mang tiêu, Đào nhân, Quế chi trừ nhiệt trong máu, phá ứ huyết, thông khí trệ, Khương lang, Thổ miết trùng, Phong khoà hiệp trợ Tiêu Hoàng, Đào nhân để tiêu kiên phá ứ, Tử uy, Mẫu đơn hành huyết phá huyết, để trừ phục nhiệt trong huyết, Ô phiến, Đình lịch khai tí lợi phế, hợp Thạch vi, Cù mạch để thanh lợi thấp nhiệt kết tụ; Nhân sâm, A giao, Thược dược bổ khí dưỡng huyết, phù chính khí để hoà vinh vệ, Sài hồ, Hoàng cầm, Quế chi, Can khương, Bán hạ, Hậu phác điều chỉnh khí của can đảm, điều trị hàn nhiệt để vận hoá đàm thấp, phối hợp các vị thuốc trên có tác dụng hoạt ứ tiêu trưng hà (hòn khối), sử dụng đồng thời hai phép công và bổ, để điều chỉnh hàn nhiệt, vận dụng tất cả để tiêu tán khu trừ bệnh ngược (bệnh sốt rét).
{Tuyển chú}
[Y Tông Kim Giám] “Bệnh ngược (sốt rét) tính thời gian bằng tháng, như phát bệnh vào ngày 1, thường khỏi bệnh vào ngày 15, với thời gian 15 ngày là đổi sang một khí, con người bẩm thụ khí của trời, khí trời đổi thì khí của người cũng đổi, đổi khí vượng thịnh thì không thụ bệnh tà, nên khỏi bệnh, nếu bệnh không khỏi thì đến cuối tháng bệnh sẽ được giải trừ, chính là đổi sang một khí vượng thịnh. Nếu như đổi hai khí mà bệnh không khỏi, đó là ngược tà không suy yếu, cùng với khí huyết đàm ẩm của người bệnh đã kết thành trưng hà, có gọi là ngược mẫu, phải nhanh chóng điều trị bệnh, nên dùng Miết giáp tiễn hoàn để công phá trưng hà tích tụ.
[Trương Thị Y Thông] Sự kỳ diệu của thuốc này nằm ở việc nấu Miết giáp với khôi lâm tửu (rượu với tro) cho đến khi nó trở thành cao. Miết giáp không chỉ có tác dụng tiêu trừ tích tụ, mà nước tro ngâm với rượu còn có tác dụng loại bỏ tích tụ hiệu quả gấp trăm lần so với ngược mẫu hoàn nấu với giấm.
[Kim Quỹ Ngọc Hàm Yếu Lược Tập Nghĩa]: Phương này hợp với ba thang Tiểu sài hồ, Quế chi, Đại thừa khí, khứ Cam thảo, Chỉ thực, chính yếu là vị Miết giáp, dùng thêm các dược phẩm trên, để công trục bệnh tà ở bán biểu và kết tụ ở bán lý, không nơi nào là (thuốc) không thể đến “Vô sở bất chí yên” (无所不至焉).
[Bệnh án]
Họ Trương, nam, 34t Bị bệnh sốt rét đã hai năm, với những cơn tái phát. Mùa hè năm nay, bệnh phát đến mùa thu, bệnh vẫn chưa dứt sốt. Hình thể gầy gò, nước da vàng vọt, chân tay yếu ớt, bụng chướng, ăn uống kém, tuỵ và lách sưng to, đo 4 cm tính từ xương sườn. Sốt rét bắt đầu bằng chứng ghét sợ lạnh, sau đó là sốt với nhiệt độ cơ thể khoảng 38°C, sau hai giờ bệnh nhân xuất mồ hôi và hạ sốt. Mạch hơi huyền, rêu lưỡi mỏng và trắng. Bệnh tà ở kinh Thiếu dương chưa được giải trừ, bên trong tích tụ đàm thấp, khí trệ và huyết ứ, kết tụ ở hạ sườn phải. Việc điều trị trước tiên phải cắt được cơn sốt rét, sau đó mới chữa trị chứng bĩ tắc tích tụ, đề xuất phương Miết giáp thang gia giảm. Đơn thuốc: Miết giáp 15g, Sài hồ, Hoàng cầm, Bán hạ mỗi vị 10g, Thường Sơn, Binh lang và Thảo quả mỗi loại 6 gam Sinh khương 3 lát, Đại táo 2 quả. Uống thuốc trước khi phát cơn sốt rét. Sau khi uống ba thang, bệnh sốt rét đã ngừng. Sử dụng thuốc Miết giáp tiễn hoàn để điều trị các triệu chứng. Uống 30 gam thuốc Miết giáp tiễn hoàn mỗi ngày, chia làm ba lần. Sau khi dùng thuốc được hai tháng, không có cơn đau nào, lách to thu nhỏ xuống còn 2 cm dưới xương sườn. Sau khi uống thuốc Miết giáp tiễn hoàn thêm một tháng nữa, bệnh sốt rét về cơ bản đã được kiểm soát và tình trạng lách to giảm xuống còn 1 cm. Thân thể cường tráng, tăng cường ăn uống, bệnh đã khỏi. Nhưng bệnh nhân vẫn tiếp tục uống Miết giáp tiễn hoàn để đề phòng bệnh tái phát.
3/ Âm khí cô tuyệt, dương khí độc phát, tắc nhiệt nhi thiểu khí phiền oan, thủ túc nhiệt nhi dục ẩu, danh viết đan ngược. Nhược đãn nhiệt bất hàn giả, tà khí nội tàng vu tâm, ngoại xá phân nhục chi gian, linh nhân tiêu thước cơ nhục.
[Từ giải] (Giải thích từ)
Âm khí (阴气): Chỉ các vật chất như tân dịch tinh huyết.
Dương khí (阳气): Chỉ về tà nhiệt và nói về cơ năng mạnh quá mức.
Phiền oan (烦寃): Trong ngực phiền muộn không thoải mái
Ngoại xá (外舍): Tà khí lưu giữ ở ngoài
Phân nhục (分肉): Là chỉ phần thịt phía trong da và gần xương, phân biệt với xương; chỉ về cơ nhục. Người xưa gọi cơ nhục ở tầng bên ngoài là bạch nhục, tầng bên trong là xích nhục, xích bạch phân ra, gọi là phân nhục.
Tiêu thước (消铄): Nhiệt tà gây tổn thương gọi là thước (铄), cơ nhục bị cướp đoạt hao mòn gọi là tiêu (消), 铄và烁 hai chữ giống nhau đều đọc là thước.
【Giải thích】
Đoạn văn này trình bày nguyên nhân, chứng trạng và biến hoá bệnh lý của đan ngược (瘅疟). Ngược bệnh (bệnh sốt rét) thường chỉ về chứng trạng rét hoặc sốt có định giờ, là một loại phản ảnh của chính tà đấu tranh qua lại. Do bệnh tà bên trong uất nóng ở tim, bên ngoài ở giữa da và xương (phân nhục), tà nhiệt trong ngoài đều quá mức, gây tổn háo âm và tổn thương tân dịch, hao mòn tổn thương cơ nhục, tay chân phát nhiệt. Nhiệt tổn thương chính khí nên thiểu khí và lồng ngực phiền muộn. Nhiệt gây tổn thương vị âm, trong vị (dạ dày) bất an, nên muốn ẩu thổ. Âm khí bị hư tổn, dương khí độc thịnh vì thế chỉ nóng mà không lạnh (nhiệt mà không hàn), gọi là đan ngược (瘅疟), đan là nhiệt nên cũng gọi là nhiệt ngược (热疟).
Điều trị chứng này, có thể dùng thang Bạch hổ gia Nhân sâm hoặc thang Trúc diệp Thạch cao, hoặc dùng nước lê, nước mía ngọt lạnh để dưỡng âm.
【Tuyển chú】(chú thích tuyển chọn)
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Khi âm khí hư thì dương khí tất phát (dấy lên), phát là đủ để tổn thương khí và tổn háo tinh thần, khí bị tổn thương nên thiểu khí và lồng ngực không thư thái. Tứ chi là căn bản của chư dương, dương thịnh thì tay chân nóng, muốn ẩu thổ cũng là do nhiệt xâm phạm vị. Tà khí tàng trong tâm, đan là dương tà, tâm là dương tạng, với dương theo dương, nên bệnh tà ở ngoài phân nhục (dưới da và sát xương), mà khí thì thông vào trong với tạng tâm, hao mòn thiêu đốt cơ nhục, cơ nhục là âm, dương cực thì âm cũng tiêu.
4.温疟者,其脉如平,身无寒但热,骨节疼烦,时呕,白虎加桂枝汤主之。
4/ Ôn ngược giả, kỳ mạch như bình, thân vô hàn đãn nhiệt, cốt tiết đông phiền, thời ẩu, Bạch hổ gia quế chi thang chủ chi.
Phương thang Bạch hổ gia Quế chi
Tri mẫu 6 lạng Cam thảo 2 lạng, nướng Thạch cao 1 cân Cánh mễ 2 hợp Quế chi bỏ vỏ 3 lạng.
Cắt nhỏ các vị thuốc trên, lấy 20g, dùng 1 chén nhỏ nước, nấu còn 8 phân, bỏ bã, uống khi thuốc còn ấm, xuất mồ hôi thì khỏi bệnh
[Từ giải]
Đông phiền (疼烦) phiền là có ý là rất nặng, ở đây là rất đau.
【Giải thích】
Điều văn này trình bày hội chứng và trị pháp chứng ôn ngược (một loại hình sốt rét). Hội chứng này là ôn nhiệt kết tụ bên trong, nhiệt thịnh bên trong, vì thế thân thể không lạnh nhưng chỉ nóng. Nhiệt gây tổn thương vị (dạ dày), nên khí nghịch lên, nên lúc nào cũng nôn, nhiệt tà nung nấu bên trong, tấu lý (da thịt) không kín đáo vững vàng, cảm thụ hàn lãnh bên ngoài, lưu lại trong khớp xương, nên xương khớp rất đau. “Kỳ mạch như bình” (其脉如平), là chỉ về mạch của bệnh ôn ngược (sốt rét) nhưng không huyền, mà mạch cũng như bình thường. Chứng này chính là nhiệt bên trong nhiều, kèm theo biểu hàn (bên ngoài lạnh), là chứng ôn ngược nhiệt đa hàn thiểu (nhiệt nhiều lạnh ít), cung cấp chi tiết để dễ phân biệt hỗ tương với chứng đan ngược (nhiệt ngược). Điều trị dùng thang Bạch hổ gia Quế chi, bên trong có tác dụng thanh nhiệt sinh tân dịch, bên ngoài giải biểu tán hàn. Thanh trừ được nội nhiệt là ngưng ẩu thổ, giải tán biểu hàn để xương khớp hết đông phiền (đau đớn khó chịu). Chứng ôn ngược và đan ngược đều thuộc hội chứng nhiệt thịnh, nhưng lại có khác biệt. Ôn ngược là chứng lý nhiệt kèm theo ngoại hàn đình trệ ở khớp xương, chủ yếu là khi phát sốt thì ẩu thổ, xương khớp bứt rứt khó chịu, vì thế dùng thang Bạch hổ gia Quế chi để thanh trừ nội nhiệt, giải tán biểu tà. Chứng Đan ngược chính là âm khí cô tuyệt (cô lập không được hỗ trợ), dương khí độc phát (dấy lên một mình), với tình trạng chỉ có nhiệt mà không có hàn, nên thiểu khí và ngực buồn bực, tay chân nóng buồn nôn, chủ yếu là hao mòn da thịt, vì thế dùng thang Bạch hổ gia nhân sâm hoặc thang Trúc diệp Thạch cao có tác dụng thanh nhiệt ích khí sinh tân dịch. Như vậy có thể thấy tình trạng bệnh của chứng ôn ngược khá nhẹ, chứng đan ngược bệnh tình khá nặng. Ngoài ra, thang Bạch hổ gia Quế chi có phần ghi chú “Ôn phục hãn xuất dũ” (温服汗出 愈) Uống thuốc ấm nóng để xuất mồ hôi thì khỏi bệnh, Có thể hiểu, chứng ôn ngược tuy rất nóng, nhưng thường không có mồ hôi, hoặc mồ hôi xuất ra không triệt để, vì thế biểu tà còn chưa thông thấu ra ngoài, đó chính là điểm khác biệt.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Tâm Điển] Bệnh ôn ngược, tà khí tàng trữ trong thận, đến Xuân Hạ thì bắt đầu phát bệnh, là hội chứng phục khí xuất ra ngoài, hàn lãnh tồn trữ lâu nên biến thành nhiệt, vì thế cũng không gây lạnh. Mạch như bình thường nên bệnh không đột phát, vì thế mạch cũng như bình thường. Ẩu thổ khi xương khớp đau nhức là nhiệt theo thận xuất ra ngoài kết hợp với dương minh. Thang Bạch hổ ngọt lạnh có tác dụng trừ nhiệt, Quế chi thuận thế thông đạt ra ngoài để giải tán biểu tà.
[Bệnh án 1]
Họ Thạch, nữ, 38 tuổi. Trong 10 ngày sốt rét xảy ra 5 lần. Lúc đầu hơi lạnh, sau đó sốt cao, nhiệt độ cơ thể 40°C, khát nước, khó chịu và đổ mồ hôi, thậm chí mê sảng, đau khớp khắp người, mạch hồng sác, rêu lưỡi khô vàng, sau sốt từ 3 đến 5 giờ. Đổ mồ hôi đầm đìa, hạ sốt, theo {Kim Quỹ} đây là chứng Ôn ngược, bệnh ở ba kinh dương. Điều trị bằng thang Bạch hổ gia Quế chi gia giảm.
Xử phương: Thạch cao 40g, Tri mẫu 12g, Cam thảo 4g, Quế chi 6g, Sài hồ 12g, Hoàng cầm 10g, Thường sơn 6g, Điềm trà 6g.
Nên uống thuốc trước khi phát bệnh 2 giờ, uống liền 3 thang, bệnh ngừng phát tác. Sau đó điều trị bằng phép hoà giải Thiếu đương đề phòng bệnh tái phát.
[Bệnh án 2]
Họ Trương x x, nữ, 32 tuổi, Vào ngày thứ 9 của thai kỳ, sản phụ lần đầu ra ngoài cảm thấy gió lạnh, đột nhiên có cảm giác ớn lạnh và run rẩy, sau đó đổ mồ hôi ở phần trên cơ thể, khó chịu và nóng bức nhưng không có mồ hôi ở phần dưới cơ thể. Lạnh thấu xương, miệng khô khát nước, liên tục đòi uống nước. Người bệnh sắc mặt đỏ bừng, lưỡi hồng thẫm, rêu trắng mỏng, mạch phù ấn vào mạch nổi lớn (mạch đại). Tôi hỏi: Bạn có đau đầu không? Câu trả lời là: Đau ở bên trái. Tôi cũng hỏi, có phải là sợ gió không? Đáp là ở lưng
Quan sát toàn diện hội chứng mạch cho thấy trong cơ thể có phục nhiệt, sau khi sinh khí huyết suy yếu, huyết nhược khí tận, nên phong tà xâm nhập gây bệnh dễ dàng như “Thụ như trì hư” (受如持虚) như xếp đồ đạc vào chỗ trống . Nếu dương khí uất ở phần trên, khác với phần dưới, thì chi dưới sẽ cảm thấy lạnh, nóng trong cơ thể sẽ làm tổn thương dịch, do đó sẽ khát và muốn uống nước; Bệnh mới gò bó bên ngoài nên lưng lại sợ lạnh, và mạch lại phù.
Xử phương: Quế chi 10g, Bạch vi 10g, Ngọc trúc 10g, Thạch cao sống 30g, Tri mẫu 10g, Cam thảo 6g, Gạo tẻ 1 nắm to.
(Kinh nghiệm điều trị của Lưu Độ Châu).
5/ Ngược đa hàn giả, danh viết mẫu ngược, Độc tất tán chủ chi.
Phương Độc tất tán
Độc tất rửa hết vị tanh Vân mẫu Long cốt lượng bằng nhau
Tán thành bột, trước khí phát bệnh uống 2g với nước. Chứng ôn ngược gia Độc tất 0.5 phân, khi bệnh phát tác uống nhất tiền chuỷ
[Từ giải]
Mẫu ngược: Bệnh tà hàn khí đàm ẩm ẩn phục ở khe tim mà không thấu lộ ra ngoài, vì thế chỉ thấy chứng trạng hàn lãnh, trường hợp nặng chỉ thấy hàn không thấy nhiệt. Tâm là “Mẫu tạng” (牡脏), nên viết là mẫu ngược.
【Giải thích】
Điều văn này trình bày hội chứng và trị pháp của chứng mẫu ngược (牡疟) là một loại hình sốt rét. Do khí lạnh vô hình và đàm ẩm hữu hình, ẩn phục ở tâm, dương khí không thấu lộ vào cơ biểu, nên nhiệt ít hàn nhiều, hoặc chỉ hàn mà không nhiệt, tâm dương bị cản trở, gọi là mẫu ngược.
Điều trị dùng Độc tất tán, có tác dụng khứ đàm, hỗ trợ dương khí, phù trợ chính khí. Trong phương có Độc tất trừ đàm, tiệt ngược (trị dứt sốt rét), nôn ra đàm trọc để dương khí vượt phát, là vị thuốc điều trị chủ yếu của chứng ngược; Long cốt trấn tĩnh an thần, thu liễm tân dịch, giảm bớt lực vượt lên quá mãnh liệt của Độc tất; Vân mẫu tính ấm áp, khứ đàm hoá thấp, dùng nước để hoà vị, hỗ trợ tác dụng thổ đàm ngoan cố của Độc tất. Chư dược thích hợp, trừ khứ âm tà, tuyên phát dương khí, thì chứng mẫu ngược có thể khỏi. Khi sử dụng phương dược này, trước khi phát bệnh (từ 1~2 giờ) dùng nước tương (nước chua lên men) uống thuốc. Nếu uống thuốc quá sớm thì không thu được hiệu quả, nếu uống quá chậm thì ngược (sốt rét) lại phát tác, mà càng tệ hại hơn, vì vậy nên uống thuốc trước khi bệnh phát tác là thích hợp. Ngoài ra để giảm nhẹ, tránh ẩu thổ sau khi uống thuốc, có thể chế Độc tất với giấm hoặc sao Độc tất với nước là tốt nhất.
{Tuyển chú}
[Trương Thị Y Thông] Tà khí tàng trữ ở trong tim thì chỉ nóng mà không lạnh, chính là chứng đan ngược (瘅疟), tà khí tàng phục ở thận thì lạnh nhiều mà nóng ít, là chứng tẫn ngược (牝疟). Tà khí phục kết thì dương khí không đi ra ngoài, vì thế bên ngoài lạnh; Tân dịch tích tụ thành đàm, chính là lạnh nhiều, khác với {Tố Vấn} hội chứng nóng nhiều lạnh ít của kinh thiếu âm. Dùng phương Độc tất uống với nước tương để ẩu thổ giúp dương khí phát việt (vượt phát); Long cốt củng cố thu liễm âm dịch; Vân mẫu nâng dương khí từ dưới lên mang ý nghĩa của núi xuyên qua mây và sương mù. Mà Vân mẫu là gốc của Dương khởi thạch, tính ấm chủ thăng lên, có khả năng khứ thấp vận đàm rất mạnh, gia thêm một lượng nhỏ Độc tất thì có thể trị chứng thấp ngược của kinh Thái âm. Dưới phương thang có chú thích: “Thấp ngược, gia Độc tất bán phân” (湿疟,加蜀漆半分) chứng thấp ngược gia Độc tất ½ phân, mà bản in lại in nhầm là chứng ôn ngược, là một sai lầm lớn. Trương đã ghi chú chuẩn bị một đoạn văn để tham khảo.
Phụ {Ngoại đài bí yếu}phương:
[Thang Mẫu lệ] trị Mẫu ngược.
Mẫu lệ 4 lạng, rang Ma hoàng bỏ đốt, 4 lạng Cam thảo 2 lạng Độc tất 3 lạng
4 vị trên, dùng 8 thăng nước nấu trước 2 vị Độc tất và Ma hoàng, vớt bỏ bọt, còn 6 thăng, bỏ hết thuốc còn lại vào nấu còn 2 thăng, uống ấm 1 thăng, nếu ẩu thổ thì không uống thêm.
【Giải thích】 Phương này theo Vưu Tại Kính viết: Có liên hệ Tôn Lỳ và những người khác thời Tống, có ý nghĩa của Độc tất tán, mà lực công phá bên ngoài khá mãnh liệt. Họ Triệu viết: “Mẫu lệ nhuyễn kiên tiêu kết, Ma hoàng phi độc tán hàn, thả khả phát việt dương khí, sử thông vu ngoại, tán kết dương thông, kỳ bệnh tự dũ” (牡蛎软坚消结,麻黄非独散寒,且可发越阳气,使通于外。结散阳通,其病自愈) Mẫu lệ có tác dụng làm mềm và tiêu kết tụ, Ma hoàng không chỉ có tác dụng tán hàn mà còn thúc đẩy dương khí vượt phát thông ra ngoài. Tán kết tụ và thông được dương thì bệnh tự khỏi.
[Tuyển chú]
[Kim Quỹ Yếu Lược Luận Chú] “Mẫu ngược là do bệnh tà quấy nhiễu tâm bào, khiến cho quân hoả không thể thông đạt ra ngoài, dùng Mẫu lễ lạnh mặn có tác dụng nhuyễn kiên tán kết, kèm theo có khả năng an thận mà giao với tâm là quân hoả, dựa vào Độc tất thổ kỳ bệnh tà, gia Ma hoàng, Cam thảo để hỗ trợ quân hoả thông đạt ra ngoài.”
[Thang Sài hồ khứ Bán hạ gia Qua lâu] Trị chứng ngược (sốt rét) khát nước, cũng trị chứng Lao ngược.
Sài hồ 8 lạng Nhân sâm Hoàng cầm Cam thảo mỗi vị 3 lạng, Qua lâu căn 4 lạng Sinh khương 2 lạng Đại táo 12 quả.
7 vị thuốc trên dùng 1 đấu 2 thăng nước, nấu còn 6 thăng, bỏ bã, tiếp tục nấu còn lại 3 thăng, uống ấm 1 thăng, ngày uống 2 lần.
[Từ giải]
Lao ngược (劳疟) Là bệnh sốt rét lâu ngày không khỏi, chính khí bị tổn hại, gọi la Lao ngược.
【Giải thích】Điều văn này thảo luận phương pháp sử dụng thang Sài hồ khứ Bán hạ gia Qua lâu, điều trị bệnh sốt rét khát nước và bệnh sốt rét lâu ngày (Lao ngược) không khỏi. Từ Trung có thể cho rằng: “Ngược tà diệc tại bán biểu lý, cố nhập nhi dữ âm tranh tắc hàn, xuất nhi dữ dương tranh tắc nhiệt, thử Thiếu dương chi tượng dã…..Sở dĩ Tiểu sài hồ diệc vi trị ngược chủ phương. Khát dĩ Bán hạ dịch Qua lâu căn, diệc trị Thiếu dương thành pháp dã, công bổ kiêm cố diệc chủ lao ngược” (疟邪亦在半表里,故入而与阴争则寒,出而与阳争则热,此少阳之象也……。所以小 柴胡亦为治疟主方。渴以半易易栝楼根,亦治少阳成法也。攻补兼施,故亦主劳疟)Bệnh sốt rét ở bán biểu lý, nhập vào trong tranh với âm thì lạnh (rét), xuất ra ngoài tranh với dương thì nhiệt (sốt), cũng là hình tượng bệnh ở kinh Thiếu dương…. Vì thế thang Tiểu sài hồ cũng là phương dược chủ trị bệnh sốt rét. Khát nước thì thay Bán hạ bằng Qua lâu căn, cũng là phương pháp điều trị bệnh ở kinh Thiếu dương. Công bổ kiêm dụng, nên cũng chủ trị chứng sốt rét lâu ngày (lao ngược) chính khí đã bị hư tổn. Trong phương có Sài hồ, Hoàng cầm để hoà giải Thiếu dương mà thấu tà thanh nhiệt, Nhân sâm, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo bổ tỳ sinh tân dịch, điều hoà doanh vệ, phù hộ chính khí, chống cự bệnh tà, Qua lâu sinh tân dịch trừ khô táo, thanh nhiệt trị khát. Vì phương này có tác dụng bổ khí và âm, nên có thể dùng điều trị chứng sốt rét lâu ngày không khỏi, còn gọi là chứng “Lao ngược”.
[Tuyển chú]
[Trương Thị Y Thông] Khát là tân dịch ở Dương minh suy kiệt, mà tân dịch dương minh suy kiệt là do mộc hoả Thiếu dương cướp đoạt tân dịch ở dạ dày mà ra, vì thế bệnh sốt rét tiến thoái (tiến ra biểu nhập vào lý) ở Thiếu dương, nên thang Tiểu sài hồ cũng tiến thoái để điều trị. Đến nguyên nhân của chứng sốt rét lâu ngày (lao ngược), cũng do mộc hoả mạnh dẫn đến tân dịch suy mà khát nước, nên điều trị bệnh cũng chính là dùng phương này.
[Sài hồ Quế Khương thang] Trị chứng sốt rét lạnh nhiều nóng ít, hoặc chỉ rét mà không sốt. Uống 1 thang kiến hiệu như thần
Sài hồ ½ cân Quế chi 3 lạng bỏ vỏ Can khương 2 lạng, Qua lâu căn 4 lạng Hoàng cầm 3 lạng Mẫu lệ 3 lạng nướng Cam thảo 2 lạng chích.
7 vị thuốc trên, dùng 1 đấu 2 thăng nước, nấu còn 6 thăng, bỏ bã, nấu còn 3 thăng, uống ấm 1 thăng, ngày 3 lần. Uống lần đầu hơi khó chịu, uống tiếp xuất mồ hôi thì khỏi bệnh.
【Giải thích】
Tật bệnh, mùa hè tổn thương vì nắng nóng, doanh âm bị tổn hại, lại cảm thụ gió mát trong mùa thu. Có liên quan đến vệ phận bị tổn thương. Doanh vệ lưỡng thương làm cho âm dương mất điều hoà, vì thế hàn nhiều nhiệt ít hoặc chỉ lạnh mà không nhiệt.
Điều trị dùng thang Sài hồ Quế Khương. Quế chi hoà biểu của Thái dương, Can khương có tác dụng ấm áp bên trong kinh Thái âm, Qua lâu căn tư bổ tân dịch, nhuyễn kiên hoà âm; Sài hồ sơ tiết lợi can đảm, để giải bệnh tà ở kinh Thiếu dương, Hoàng cầm thanh (mát) đảm để chấn chỉnh nhiệt của tam tiêu; Cam thảo hoà trung để điều hoà âm dương. Cảm giác khó chịu nhẹ sau khi uống thuốc là do cơ chế dương phục cũng chính là biểu hiện của thuốc đã đúng bệnh. Lần uống thuốc kế tiếp bệnh nhân xuất mồ hôi là biểu hiện của tam tiêu thông đạt, chính khí tuần hành, tân dịch phân bố và khỏi bệnh.
[Tuyển chú
[Kim Quỹ Ngọc Hàm Kinh Nhị Chú] Cũng là bệnh ngược (sốt rét) là nói về chứng lạnh nhiều, nếu nói về loại mẫu ngược, luận theo thuốc thì không phải như vậy. Chứng mẫu ngược bệnh tà ở dưới tim, là phong hàn thấp tí ở cơ biểu. Cơ biểu hành dương để ấm áp da thịt, chứng tí khiến dương khí không thông ra ngoài, lại uất phục ở vinh huyết, cũng là bộ phận bán biểu bán lý. Dương hoá khí nhiệt, huyết trệ thành ứ, hiện rõ tại chỗ, khi vệ khí vận hành 25 độ thì phát bệnh, bệnh tà ở doanh phận nên không thể xuất ra ngoài, nên bệnh tí của vinh phận không không xuất ra mà tương tranh với dương, vì thế nên sốt nhẹ hoặc không sốt. Vì vậy dùng Sài hồ là quân dược để phát việt dương uất, các vị Quế chi, Can khương là tá dược để giải tán chứng tê ở cơ biểu; Qua lâu căn, Mẫu lệ là thần dược để trừ nhiệt bị đình lưu, tiêu huyết ứ , tá dược có Hoàng cầm hỗ trợ Sài hồ trị chứng bán biểu bán lý; Cam thảo điều hoà các vị thuốc, cũng điều hoà âm dương, xuất mồ hôi là biểu hiện bệnh tà tê liệt đã giải, huyết nhiệt đã hành và khỏi bệnh.
[Bệnh án]
Vương mỗ, 40 tuổi, khám lần 1 16/5/1980, hàn nhiệt vãng lai, hàn nhiều nhiệt ít, phát cách nhật, thổ ra rất nhiều đàm, miệng đắng, tức ngực, trống ngực, tiết tả, nước tiểu ít. Rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền tế. Đây là chứng hàn ngược. Nên dùng thang Sài hồ Quế chi Can khương gia vị: Sài hồ Quế chi Can khương Hoàng cầm Cam thảo Binh lang Thanh, Trần bì mỗi vị 10g Qua lâu căn Thảo quả Phục linh Bạch truật mỗi vị 12g Mẫu lệ nướng 30g Thường sơn 6g. Tái chẩn Ngày 21/5: Uống 2 thang trên. Hết nóng lạnh. Thổ ra rất nhiều đàm dãi, trống ngực, hay mơ, lưỡi trắng, mạch phù hoãn. Chính là biểu hiện của huyết bất túc và tâm dương suy nhược. Nên dùng thang Quế chi gia Long cốt Mẫu lệ gia vị. Xuyên Quế chi Chích Cam thảo Sinh khương mỗi vị 10g Bạch thược Hồng táo sinh Bạch truật Táo nhân Phục linhmỗi vị 12g Long cốt Mẫu lệ mỗi vị 30g Viễn chí Can khương Ngũ vị tử Tế tân mỗi vị 6g.
31/5 chẩn lần 3; Bện đã hết, chỉ còn thân thể hư nhược, thiếu máu, mạch tế nhược, lưỡi trắng nhạt, còn lại ăn ngủ còn tốt, có thể điều lý bằng thang Quy tỳ.
Lời kết
Thiên này thảo luận về mạch chứng, cơ chế bệnh và trị pháp của bệnh ngược (sốt rét). Biện chứng bệnh ngược phân thành các chứng ngược như: Đan ngược, Ôn ngược, Mẫu ngược, Ngược mẫu, Hàn thấp ngược, Lao ngược, Doanh vệ lưỡng thương ngược. Như chứng Đan ngược chỉ sốt mà không rét, nên thanh nhiệt sinh tân, điều trị bằng thang Bạch hổ gia Nhân sâm hoặc thang Trúc diệp Thạch cao; Chứng Ôn ngược sốt nhiều rét ít nên thanh nhiệt sinh tân, giải tán biểu tà, dùng thang Bạch hổ gia Quế chi, Chứng Mẫu ngược rét nhiều sốt ít, nên khứ đàm thông dương, Độc tất tán chủ trị bệnh này. Bệnh sốt rét lâu ngày không khỏi, xâm nhập huyết lạc, kết thành hòn khối gọi là “Ngược mẫu” (疟母) dùng trị pháp hoạt huyết hoá ứ, điều hoà doanh vệ, dùng Miết giáp tiễn hoàn chủ trị bệnh này; Nếu chứng mẫu ngược kèm theo rất nhiều hàn thấp, có thể dùng thang Mẫu lệ, để vượt phát dương uất, khứ đàm tiêu ẩm; Bệnh ngược phát khát, hoặc bệnh lâu ngày thành chứng Lao ngược, có thể dùng thang Sài hồ khứ Bán hạ gia Qua lâu căn, bổ tỳ sinh tân dịch, giải nhiệt nhuận táo; Bệnh ngược doanh vệ lưỡng thương, rét nhiều sốt ít, hoặc chỉ rét không sốt, có thể dùng thang Sài hồ Quế Khương, ôn thông dương khí, điều hoà âm dương ở can và tỳ.
Trường Xuân Nguyễn Nghị