Lục Thập Nhất Nan
Điều khó thứ sáu mươi mốt
Hỏi: Kinh nói “nhìn mà biết bệnh gọi là thần, nghe mà biết bệnh gọi là thánh, hỏi mà biết bệnh gọi là công, bắt mạch mà biết bệnh gọi là xảo”, nghĩa là gì?
Vọng nhi tri chi vị chi thần: Nhìn mà biết bệnh gọi là thần, tức chỉ trình độ chẩn đoán rất cao, thông qua sắc mặt, thần thái, hình thể mà biết bệnh.
Văn nhi tri chi vị chi thánh: Nghe mà biết bệnh gọi là thánh, tức nghe tiếng nói, tiếng thở, tiếng ho, tiếng rên, đồng thời ngửi mùi mà phân biệt bệnh.
Vấn nhi tri chi vị chi công: Hỏi mà biết bệnh gọi là công, tức thông qua hỏi bệnh sử, cảm giác, ăn uống, đại tiểu tiện, ngủ nghỉ, sở thích vị mà biết bệnh.
Thiết mạch nhi tri chi vị chi xảo: Bắt mạch mà biết bệnh gọi là xảo, tức dùng kỹ thuật chẩn mạch tinh tế để xét hư thực, tạng phủ, âm dương.
Đáp: Nhìn mà biết bệnh là nhìn thấy năm sắc để biết bệnh. Nghe mà biết bệnh là nghe năm âm để phân biệt bệnh. Hỏi mà biết bệnh là hỏi người bệnh thích năm vị nào, để biết bệnh khởi phát từ đâu và ở nơi nào. Bắt mạch mà biết bệnh là chẩn thốn khẩu, xem hư thực, để biết bệnh ở tạng phủ nào. Kinh nói “từ bên ngoài mà biết thì gọi là thánh, từ bên trong mà biết thì gọi là thần”, chính là ý này.
Ngũ sắc: Năm màu xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, lần lượt ứng với can, tâm, tỳ, phế, thận.
Ngũ âm: Năm loại âm thanh như hô, tiếu/ngôn, ca, khóc, rên; phản ánh tạng khí khác nhau.
Ngũ vị: Chua, đắng, ngọt, cay, mặn, tương ứng với ngũ tạng, dùng để xét bệnh khí và sở thích bất thường.
Thốn khẩu: Vị trí bắt mạch ở cổ tay, nơi hội của mạch khí.
Hư thực: Hư là chính khí thiếu, thực là tà khí thịnh hoặc khí huyết ứ trệ.
Dĩ ngoại tri chi: Từ biểu hiện bên ngoài như sắc, thanh, hình thái mà biết bệnh.
Dĩ nội tri chi: Từ mạch khí bên trong, tạng phủ, khí huyết mà biết bệnh.
Lục Thập Nhị Nan
Điều khó thứ sáu mươi hai
Hỏi: Tạng có năm huyệt tỉnh, huỳnh, du, kinh, hợp; riêng phủ lại có sáu huyệt, nghĩa là gì?
Tỉnh huỳnh du kinh hợp: Năm du huyệt của mỗi kinh, ví như dòng nước từ nguồn ra: tỉnh là nơi khí xuất, huỳnh là nơi khí chảy, du là nơi khí rót, kinh là nơi khí đi, hợp là nơi khí vào sâu.
Tạng hữu ngũ: Kinh âm thuộc tạng có năm du huyệt.
Phủ độc hữu lục: Kinh dương thuộc phủ ngoài năm du huyệt còn có nguyên huyệt.
Đáp: Phủ thuộc dương, tam tiêu vận hành ở các dương, cho nên đặt thêm một huyệt du, gọi là nguyên. Phủ có sáu huyệt là vì cùng một khí với tam tiêu.
Phủ giả dương dã: Phủ thuộc dương, chủ thông giáng, truyền hóa.
Tam tiêu hành ư chư dương: Tam tiêu thông hành nguyên khí ở các kinh dương.
Nguyên huyệt: Huyệt nơi nguyên khí lưu trú, đặc biệt quan trọng trong chẩn trị tạng phủ.
Dữ tam tiêu cộng nhất khí: Lục phủ và tam tiêu cùng liên hệ với nguyên khí, nên kinh dương có thêm nguyên huyệt.
Lục Thập Tam Nan
Điều khó thứ sáu mươi ba
Hỏi: Sách Thập Biến nói huyệt huỳnh, hợp của ngũ tạng lục phủ đều lấy tỉnh làm bắt đầu, là vì sao?
Đáp: Tỉnh thuộc phương Đông, thuộc mùa xuân, là lúc vạn vật bắt đầu sinh. Các loài sâu bọ bò đi thở động, loài bay lượn, loài nhúc nhích, mọi vật đáng sinh không gì không sinh vào mùa xuân. Cho nên số của năm bắt đầu ở xuân, số của ngày bắt đầu ở Giáp, vì vậy lấy tỉnh làm bắt đầu.
Tỉnh: Huyệt đầu của ngũ du huyệt, nơi kinh khí bắt đầu xuất ra, ví như nguồn nước.
Đông phương xuân: Phương Đông, mùa xuân, thuộc mộc, chủ sinh phát.
Vạn vật thủy sinh: Vạn vật bắt đầu sinh trưởng, tương ứng ý nghĩa “sở xuất vi tỉnh”.
Giáp: Thiên can đầu tiên, thuộc mộc, tượng trưng sự khởi đầu.
Dĩ tỉnh vi thủy: Lấy huyệt tỉnh làm đầu vì tỉnh ứng với sinh phát đầu tiên của kinh khí.
Lục Thập Tứ Nan
Điều khó thứ sáu mươi tư
Hỏi: Sách Thập Biến lại nói “âm tỉnh thuộc mộc, dương tỉnh thuộc kim; âm huỳnh thuộc hỏa, dương huỳnh thuộc thủy; âm du thuộc thổ, dương du thuộc mộc; âm kinh thuộc kim, dương kinh thuộc hỏa; âm hợp thuộc thủy, dương hợp thuộc thổ”. Âm dương đều khác nhau, ý nghĩa là gì?
Âm tỉnh mộc, dương tỉnh kim: Ngũ du huyệt của kinh âm bắt đầu từ mộc, còn kinh dương bắt đầu từ kim.
Âm huỳnh hỏa, dương huỳnh thủy: Huyệt huỳnh của kinh âm thuộc hỏa, của kinh dương thuộc thủy.
Âm du thổ, dương du mộc: Huyệt du của kinh âm thuộc thổ, của kinh dương thuộc mộc.
Âm kinh kim, dương kinh hỏa: Huyệt kinh của kinh âm thuộc kim, của kinh dương thuộc hỏa.
Âm hợp thủy, dương hợp thổ: Huyệt hợp của kinh âm thuộc thủy, của kinh dương thuộc thổ.
Đáp: Đây là việc của cương nhu. Âm tỉnh là Ất mộc, dương tỉnh là Canh kim. Dương tỉnh là Canh, Canh là phần cương của Ất; âm tỉnh là Ất, Ất là phần nhu của Canh. Ất là mộc, cho nên nói âm tỉnh mộc; Canh là kim, cho nên nói dương tỉnh kim. Các huyệt còn lại đều phỏng theo như vậy.
Cương nhu: Cương là mạnh, dương; nhu là mềm, âm. Ở đây dùng quan hệ thiên can âm dương để giải thích ngũ hành của du huyệt.
Ất mộc: Ất là âm mộc, thuộc nhu.
Canh kim: Canh là dương kim, thuộc cương.
Canh giả Ất chi cương: Canh là mặt cương trong quan hệ phối hợp với Ất.
Ất giả Canh chi nhu: Ất là mặt nhu trong quan hệ phối hợp với Canh.
Dư giai phỏng thử: Các cặp âm dương khác cũng lấy nguyên tắc cương nhu phối hợp như vậy để suy ra.
Lục Thập Ngũ Nan
Điều khó thứ sáu mươi lăm
Hỏi: Kinh nói “nơi xuất ra là tỉnh, nơi đi vào là hợp”, phép ấy như thế nào?
Đáp: Nơi xuất ra là tỉnh. Tỉnh thuộc phương Đông, mùa xuân, là lúc vạn vật bắt đầu sinh, cho nên nói nơi xuất ra là tỉnh. Nơi đi vào là hợp. Hợp thuộc phương Bắc, mùa đông, là lúc dương khí đi vào tàng chứa, cho nên nói nơi đi vào là hợp.
Sở xuất vi tỉnh: Kinh khí bắt đầu phát xuất ở huyệt tỉnh, như nguồn nước vừa phun ra.
Tỉnh giả Đông phương xuân: Tỉnh ứng với mùa xuân sinh phát, phương Đông mộc.
Sở nhập vi hợp: Kinh khí đi vào sâu ở huyệt hợp, như dòng nước nhập vào biển.
Hợp giả Bắc phương đông: Hợp ứng với mùa đông bế tàng, phương Bắc thủy.
Dương khí nhập tàng: Dương khí thu vào trong, cất giữ ở sâu, giống kinh khí nhập vào hợp huyệt.
Lục Thập Lục Nan
Điều khó thứ sáu mươi sáu
Hỏi: Kinh nói “nguyên của phế xuất ở Thái uyên; nguyên của tâm xuất ở Đại lăng; nguyên của can xuất ở Thái xung; nguyên của tỳ xuất ở Thái bạch; nguyên của thận xuất ở Thái khê; nguyên của Thiếu âm xuất ở Đoái cốt; nguyên của đởm xuất ở Khâu khư; nguyên của vị xuất ở Xung dương; nguyên của tam tiêu xuất ở Dương trì; nguyên của bàng quang xuất ở Kinh cốt; nguyên của đại trường xuất ở Hợp cốc; nguyên của tiểu trường xuất ở Uyển cốt”. Mười hai kinh đều lấy du làm nguyên là vì sao?
Phế nguyên Thái uyên: Thái uyên là nguyên huyệt của Phế kinh.
Tâm nguyên Đại lăng: Đại lăng trong hệ này được nêu làm nguyên của tâm, thường thuộc Tâm bào kinh trong châm cứu hiện nay.
Can nguyên Thái xung: Thái xung là nguyên huyệt của Can kinh.
Tỳ nguyên Thái bạch: Thái bạch là nguyên huyệt của Tỳ kinh.
Thận nguyên Thái khê: Thái khê là nguyên huyệt của Thận kinh.
Thiếu âm nguyên Đoái cốt: Đoái cốt chỉ Thần môn vùng xương cổ tay, nguyên huyệt của Tâm kinh trong hệ thống hiện nay.
Đởm nguyên Khâu khư: Khâu khư là nguyên huyệt của Đởm kinh.
Vị nguyên Xung dương: Xung dương là nguyên huyệt của Vị kinh.
Tam tiêu nguyên Dương trì: Dương trì là nguyên huyệt của Tam tiêu kinh.
Bàng quang nguyên Kinh cốt: Kinh cốt là nguyên huyệt của Bàng quang kinh.
Đại trường nguyên Hợp cốc: Hợp cốc là nguyên huyệt của Đại trường kinh.
Tiểu trường nguyên Uyển cốt: Uyển cốt là nguyên huyệt của Tiểu trường kinh.
Đáp: Huyệt du của năm tạng là nơi tam tiêu đi qua, là nơi khí lưu lại và dừng lại.
Ngũ tạng du: Huyệt du của kinh âm ngũ tạng, cũng là nơi nguyên khí lưu trú.
Tam tiêu chi sở hành: Tam tiêu là đường đi của nguyên khí, nguyên khí qua đó đến các kinh.
Khí chi sở lưu chỉ: Nơi khí dừng lại, lưu trú, nên gọi là nguyên.
Hỏi: Huyệt du nơi tam tiêu đi qua được gọi là nguyên, vì sao?
Đáp: Động khí giữa hai thận dưới rốn là sinh mệnh của con người, là căn bản của mười hai kinh, cho nên gọi là nguyên. Tam tiêu là biệt sứ của nguyên khí, chủ thông hành ba khí, đi qua ngũ tạng lục phủ. Nguyên là tôn hiệu của tam tiêu, cho nên nơi nó dừng lại đều gọi là nguyên. Ngũ tạng lục phủ có bệnh thì đều lấy nguyên huyệt của nó để trị.
Tề hạ thận gian động khí: Động khí giữa hai thận dưới rốn, là nguồn nguyên khí, gốc sinh mệnh.
Nhân chi sinh mệnh: Căn bản sống còn của con người.
Thập nhị kinh chi căn bản: Gốc của mười hai kinh, vì kinh khí dựa vào nguyên khí mà vận hành.
Nguyên: Gốc, nguồn, nơi nguyên khí phát ra và lưu trú.
Tam tiêu giả nguyên khí chi biệt sứ: Tam tiêu là sứ giả phân bố nguyên khí đi khắp cơ thể.
Tam khí: Có thể hiểu là khí của thượng, trung, hạ tiêu, hoặc các khí vận hành trong tam tiêu.
Kinh lịch ngũ tạng lục phủ: Đi qua, phân bố đến ngũ tạng lục phủ.
Nguyên giả tam tiêu chi tôn hiệu: Nguyên là danh hiệu tôn quý của tam tiêu vì tam tiêu chủ nguyên khí.
Ngũ tạng lục phủ hữu bệnh giai thủ kỳ nguyên: Khi tạng phủ có bệnh, có thể dùng nguyên huyệt để điều chỉnh nguyên khí và tạng phủ.
Lục Thập Thất Nan
Điều khó thứ sáu mươi bảy
Hỏi: Mộ huyệt của năm tạng đều ở âm, mà du huyệt đều ở dương là vì sao?
Mộ huyệt: Huyệt nơi tạng phủ chi khí tụ ở phía trước thân, phần ngực bụng, thuộc âm.
Du huyệt: Huyệt Bối du ở lưng, nơi khí tạng phủ thông ra sau lưng, thuộc dương.
Âm: Phía trước, bụng ngực, phần trong.
Dương: Phía sau, lưng, phần ngoài.
Đáp: Bệnh âm đi sang dương, bệnh dương đi sang âm, cho nên khiến mộ huyệt ở âm, du huyệt ở dương.
Âm bệnh hành dương: Bệnh ở tạng âm có thể phản ánh ra vùng lưng dương qua du huyệt.
Dương bệnh hành âm: Bệnh ở phủ dương có thể phản ánh ra vùng ngực bụng âm qua mộ huyệt.
Mộ tại âm: Mộ huyệt nằm ở mặt trước thân, dùng để chẩn trị bệnh tạng phủ.
Du tại dương: Bối du huyệt nằm ở lưng, thuộc dương, thông với tạng phủ.
Lục Thập Bát Nan
Điều khó thứ sáu mươi tám
Hỏi: Ngũ tạng lục phủ đều có tỉnh, huỳnh, du, kinh, hợp; mỗi loại chủ điều gì?
Đáp: Kinh nói “nơi xuất ra là tỉnh, nơi chảy là huỳnh, nơi rót vào là du, nơi đi qua là kinh, nơi đi vào là hợp. Tỉnh chủ đầy dưới tim, huỳnh chủ thân nhiệt, du chủ thân nặng khớp đau, kinh chủ suyễn ho hàn nhiệt, hợp chủ khí nghịch mà tiêu chảy”. Đây là bệnh mà tỉnh, huỳnh, du, kinh, hợp của ngũ tạng lục phủ chủ trị.
Sở xuất vi tỉnh: Kinh khí mới phát ra, như nước từ giếng.
Sở lưu vi huỳnh: Kinh khí bắt đầu chảy nhỏ, như dòng nước nông.
Sở chú vi du: Kinh khí rót vào sâu hơn, nơi khí lưu trú mạnh hơn.
Sở hành vi kinh: Kinh khí đi qua, dòng chảy lớn.
Sở nhập vi hợp: Kinh khí nhập vào sâu, hợp với tạng phủ.
Tỉnh chủ tâm hạ mãn: Huyệt tỉnh trị đầy tức dưới tim, khí kết cấp.
Huỳnh chủ thân nhiệt: Huyệt huỳnh trị nhiệt bệnh, thân nóng.
Du chủ thể trọng tiết thống: Huyệt du trị thân nặng, khớp đau, thường liên hệ thấp, tý, tỳ thổ.
Kinh chủ suyễn khái hàn nhiệt: Huyệt kinh trị ho suyễn, hàn nhiệt, bệnh ở khí đạo và kinh khí.
Hợp chủ nghịch khí nhi tiết: Huyệt hợp trị khí nghịch, tiêu chảy, bệnh vào sâu phủ tạng.
Lục Thập Cửu Nan
Điều khó thứ sáu mươi chín
Hỏi: Kinh nói “hư thì bổ, thực thì tả, không thực không hư thì lấy ở kinh”, nghĩa là gì?
Hư giả bổ chi: Chính khí hư thì dùng phép bổ.
Thực giả tả chi: Tà khí thực thì dùng phép tả.
Bất thực bất hư: Không rõ hư cũng không rõ thực, bệnh do chính kinh tự sinh.
Dĩ kinh thủ chi: Lấy huyệt ngay trên kinh bị bệnh để điều trị.
Đáp: Hư thì bổ mẹ của nó, thực thì tả con của nó; phải trước bổ rồi sau tả. Không thực không hư, lấy ở kinh, tức là chính kinh tự sinh bệnh, không trúng tà khác, nên tự lấy kinh ấy mà trị, vì vậy nói lấy ở kinh.
Hư bổ kỳ mẫu: Theo ngũ hành, hư thì bổ hành mẹ sinh ra nó. Ví dụ can mộc hư thì bổ thận thủy vì thủy sinh mộc.
Thực tả kỳ tử: Thực thì tả hành con mà nó sinh ra. Ví dụ can mộc thực thì tả tâm hỏa vì mộc sinh hỏa.
Tiên bổ hậu tả: Khi vừa có hư vừa có thực hoặc cần điều chỉnh, phải nâng chính khí trước rồi mới tả tà.
Chính kinh tự sinh bệnh: Bệnh phát từ chính kinh đó, không do tà từ kinh khác truyền đến.
Bất trung tha tà: Không bị tà khác xâm phạm hay truyền biến.
Tự thủ kỳ kinh: Lấy huyệt của chính kinh bị bệnh để trị.
Thất Thập Nan
Điều khó thứ bảy mươi
Hỏi: Kinh nói “mùa xuân mùa hạ châm nông, mùa thu mùa đông châm sâu”, nghĩa là gì?
Đáp: Mùa xuân mùa hạ, dương khí ở trên, nhân khí cũng ở trên, cho nên nên lấy nông. Mùa thu mùa đông, dương khí ở dưới, nhân khí cũng ở dưới, cho nên nên lấy sâu.
Xuân hạ thích thiển: Mùa xuân hạ dương khí phát ra ngoài, khí người ở biểu, châm nên nông để ứng khí ở ngoài.
Thu đông thích thâm: Mùa thu đông dương khí thu tàng vào trong, khí người ở lý, châm nên sâu để ứng khí ở trong.
Dương khí tại thượng: Dương khí bốc lên, phát ra ngoài.
Nhân khí diệc tại thượng: Khí của người cũng theo mùa mà nổi lên biểu.
Dương khí tại hạ: Dương khí thu xuống, tàng vào trong.
Nhân khí diệc tại hạ: Khí của người cũng theo mùa mà chìm vào lý.
Hỏi: Mùa xuân mùa hạ mỗi lần phải dẫn đến một âm, mùa thu mùa đông mỗi lần phải dẫn đến một dương, nghĩa là gì?
Đáp: Mùa xuân mùa hạ ấm, nhưng nhất định phải dẫn đến một âm, nghĩa là khi mới hạ kim, đưa kim chìm xuống đến bộ vị thận can, đắc khí rồi dẫn giữ phần âm. Mùa thu mùa đông lạnh, nhưng nhất định phải dẫn đến một dương, nghĩa là khi mới đưa kim vào, châm nông và nổi đến bộ vị tâm phế, đắc khí rồi đẩy vào phần dương. Đây gọi là mùa xuân mùa hạ phải dẫn đến một âm, mùa thu mùa đông phải dẫn đến một dương.
Xuân hạ tất trí nhất âm: Mùa xuân hạ dương thịnh ở ngoài, khi châm vẫn phải chú ý dẫn giữ âm bên trong để tránh làm dương quá phát tán.
Sơ hạ châm, trầm chi chí thận can chi bộ: Mới hạ kim, đưa sâu đến bộ vị thận can, tức phần âm sâu.
Đắc khí: Khi châm cảm nhận được khí đến, như căng, tức, nặng, tê, lan; là dấu hiệu châm đã tác động đến kinh khí.
Dẫn trì chi âm: Dẫn và giữ âm khí, điều hòa âm để cân bằng dương mùa xuân hạ.
Thu đông tất trí nhất dương: Mùa thu đông âm hàn thịnh, khi châm cần dẫn dương để tránh khí quá chìm lạnh.
Sơ nội châm, thiển nhi phù chi chí tâm phế chi bộ: Mới đưa kim vào, châm nông đến bộ vị tâm phế, tức phần dương nông.
Thôi nội chi dương: Đẩy dương khí vào trong, giúp dương khí được khơi động và bảo tồn trong mùa thu đông.
Tóm ý đoạn này: Từ Lục Thập Nhất Nan đến Thất Thập Nan chuyển trọng tâm sang chẩn pháp và du huyệt châm cứu. Điều 61 nói bốn phép chẩn đoán: vọng, văn, vấn, thiết; nhìn năm sắc, nghe năm âm, hỏi sở thích ngũ vị, bắt thốn khẩu để xét hư thực tạng phủ. Điều 62 đến 65 giải thích hệ thống tỉnh, huỳnh, du, kinh, hợp: kinh âm có năm du huyệt, kinh dương thêm nguyên huyệt vì tam tiêu vận hành nguyên khí ở các dương; huyệt tỉnh được xem là khởi đầu vì ứng mùa xuân, phương Đông, vạn vật mới sinh. Điều 66 bàn nguyên huyệt của mười hai kinh và nhấn mạnh nguyên khí ở động khí giữa hai thận dưới rốn là căn bản sinh mệnh, tam tiêu là sứ giả phân bố nguyên khí, nên bệnh tạng phủ đều có thể lấy nguyên huyệt để trị. Điều 67 nói mộ huyệt ở âm, du huyệt ở dương vì âm bệnh có thể đi sang dương, dương bệnh có thể đi sang âm. Điều 68 nêu chủ trị của ngũ du huyệt: tỉnh trị tâm hạ mãn, huỳnh trị thân nhiệt, du trị thân nặng khớp đau, kinh trị suyễn ho hàn nhiệt, hợp trị khí nghịch tiêu chảy. Điều 69 trình bày nguyên tắc hư bổ mẹ, thực tả con; nếu không hư không thực thì lấy chính kinh bị bệnh mà trị. Điều 70 giải thích châm theo mùa: xuân hạ dương khí ở ngoài nên châm nông nhưng phải dẫn giữ âm; thu đông dương khí tàng trong nên châm sâu nhưng phải dẫn khơi dương.
Thất Thập Nhất Nan
Điều khó thứ bảy mươi mốt
Hỏi: Kinh nói “châm vào doanh thì không làm thương vệ, châm vào vệ thì không làm thương doanh”, nghĩa là gì?
Thích doanh vô thương vệ: Khi châm vào phần doanh, tức phần âm, phần huyết, phần sâu hơn, phải tránh làm tổn thương vệ khí ở biểu.
Thích vệ vô thương doanh: Khi châm vào phần vệ, tức phần dương, phần biểu, phần nông hơn, phải tránh làm tổn thương doanh huyết ở trong.
Doanh: Doanh khí đi trong mạch, nuôi dưỡng tạng phủ, kinh lạc, cơ thể.
Vệ: Vệ khí đi ngoài mạch, ôn ấm cơ biểu, bảo vệ thân thể khỏi ngoại tà.
Đáp: Châm dương thì đặt kim nằm mà châm; châm âm thì trước dùng tay trái nắm giữ, ấn vào nơi huyệt huỳnh, du định châm, đợi khí tán rồi mới đưa kim vào. Đây gọi là châm doanh không làm thương vệ, châm vệ không làm thương doanh.
Châm dương: Châm phần dương, phần nông, phần biểu, thường dùng phép châm nông, kim nghiêng hoặc nằm.
Ngọa châm: Đặt kim nằm nghiêng, châm nông để tác động phần vệ, tránh vào sâu làm thương doanh.
Châm âm: Châm phần âm, phần sâu, phần huyết, cần chuẩn bị huyệt vị, điều khí trước khi đưa kim.
Tả thủ nhiếp án: Dùng tay trái giữ và ấn vùng huyệt, giúp định vị, làm khí tụ hoặc tán theo ý.
Huỳnh du chi xứ: Vị trí các huyệt huỳnh và du, nơi kinh khí lưu chú mạnh hơn huyệt tỉnh.
Khí tán nãi nội châm: Đợi khí tán ra hoặc điều hòa rồi mới đưa kim vào, tránh làm tổn thương khí huyết.
Thất Thập Nhị Nan
Điều khó thứ bảy mươi hai
Hỏi: Kinh nói “biết được khí nghênh tùy thì có thể khiến khí điều hòa; phương pháp điều khí tất phải ở âm dương”, nghĩa là gì?
Nghênh tùy: Phép châm thuận nghịch theo hướng vận hành của kinh khí. Nghênh là đón ngược để tả, tùy là theo thuận để bổ.
Điều khí: Điều chỉnh sự vận hành của khí, làm khí cơ thông thuận, hư thực được cân bằng.
Đáp: Cái gọi là nghênh tùy là biết sự lưu hành của doanh vệ, sự đi lại của kinh mạch. Theo nghịch thuận của nó mà lấy huyệt, cho nên gọi là nghênh tùy. “Phương pháp điều khí tất phải ở âm dương” là biết trong ngoài, biểu lý, rồi theo âm dương của bệnh mà điều chỉnh. Vì vậy nói “phương pháp điều khí tất phải ở âm dương”.
Doanh vệ lưu hành: Doanh khí và vệ khí vận hành theo quy luật trong ngoài, ngày đêm, kinh mạch.
Kinh mạch vãng lai: Kinh khí đi lại, lên xuống, ra vào trong kinh lạc.
Nghịch thuận nhi thủ chi: Căn cứ khí đi thuận hay nghịch mà chọn cách châm bổ hoặc tả.
Nội ngoại biểu lý: Trong ngoài, biểu lý, dùng để xác định bệnh ở nông sâu, tạng phủ hay kinh lạc.
Tùy kỳ âm dương nhi điều chi: Theo bệnh thuộc âm hay dương, hư hay thực, hàn hay nhiệt để điều khí.
Thất Thập Tam Nan
Điều khó thứ bảy mươi ba
Hỏi: Các huyệt tỉnh ở nơi cơ nhục nông mỏng, khí ít không đủ để dùng, vậy châm như thế nào?
Chư tỉnh: Các huyệt tỉnh, thường nằm ở đầu ngón tay chân, nơi kinh khí mới phát xuất.
Cơ nhục thiển bạc: Cơ thịt nông mỏng, ít mô, khó châm sâu.
Khí thiểu bất túc sử: Kinh khí ở huyệt tỉnh còn ít, không đủ để thao tác mạnh.
Đáp: Các huyệt tỉnh thuộc mộc; huyệt huỳnh thuộc hỏa. Hỏa là con của mộc. Khi đáng châm huyệt tỉnh thì dùng huyệt huỳnh để tả. Vì vậy kinh nói “bổ thì không thể dùng làm tả, tả thì không thể dùng làm bổ”, chính là ý này.
Tỉnh giả mộc: Huyệt tỉnh của kinh âm ứng mộc, là nơi kinh khí mới sinh.
Huỳnh giả hỏa: Huyệt huỳnh của kinh âm ứng hỏa, là con của mộc theo ngũ hành mộc sinh hỏa.
Hỏa giả mộc chi tử: Hỏa là con của mộc.
Đương thích tỉnh, dĩ huỳnh tả chi: Khi huyệt tỉnh khí ít, không tiện tả trực tiếp, có thể tả huyệt con là huỳnh theo nguyên tắc “thực tả kỳ tử”.
Bổ bất khả dĩ vi tả, tả bất khả dĩ vi bổ: Bổ và tả phải phân biệt rõ, không thể dùng lẫn lộn, vì thao tác và ý nghĩa điều trị trái nhau.
Thất Thập Tứ Nan
Điều khó thứ bảy mươi tư
Hỏi: Kinh nói “mùa xuân châm tỉnh, mùa hạ châm huỳnh, cuối mùa hạ châm du, mùa thu châm kinh, mùa đông châm hợp”, nghĩa là gì?
Xuân thích tỉnh: Mùa xuân châm huyệt tỉnh, ứng với mộc khí sinh phát.
Hạ thích huỳnh: Mùa hạ châm huyệt huỳnh, ứng với hỏa nhiệt.
Quý hạ thích du: Cuối mùa hạ châm huyệt du, ứng với thổ, tỳ.
Thu thích kinh: Mùa thu châm huyệt kinh, ứng với kim, phế.
Đông thích hợp: Mùa đông châm huyệt hợp, ứng với thủy, thận.
Đáp: Mùa xuân châm tỉnh là vì tà ở can. Mùa hạ châm huỳnh là vì tà ở tâm. Cuối mùa hạ châm du là vì tà ở tỳ. Mùa thu châm kinh là vì tà ở phế. Mùa đông châm hợp là vì tà ở thận.
Tà tại can: Mùa xuân can mộc vượng, tà dễ ở can, nên lấy tỉnh ứng mộc.
Tà tại tâm: Mùa hạ tâm hỏa vượng, tà dễ ở tâm, nên lấy huỳnh ứng hỏa.
Tà tại tỳ: Cuối mùa hạ thổ vượng, tà dễ ở tỳ, nên lấy du ứng thổ.
Tà tại phế: Mùa thu kim vượng, tà dễ ở phế, nên lấy kinh ứng kim.
Tà tại thận: Mùa đông thủy vượng, tà dễ ở thận, nên lấy hợp ứng thủy.
Hỏi: Can, tâm, tỳ, phế, thận lại hệ thuộc với xuân, hạ, thu, đông là vì sao?
Đáp: Năm tạng hễ một tạng bệnh thì liền có năm loại biểu hiện. Giả sử can bệnh, sắc xanh là can, mùi khai tanh là can, thích chua là can, thích hô gọi là can, thích khóc chảy nước mắt là can. Bệnh của nó rất nhiều, không thể nói hết. Bốn mùa có số, nên đều hệ thuộc với xuân, hạ, thu, đông. Điều tinh yếu vi diệu của châm pháp nằm ở chỗ nhỏ như sợi lông mùa thu.
Ngũ tạng nhất bệnh triếp hữu ngũ: Một tạng bệnh có thể biểu hiện qua năm phương diện: sắc, xú, vị, thanh, dịch.
Can sắc thanh: Can bệnh hiện sắc xanh.
Tao xú: Mùi khai tanh thuộc can.
Hỷ toan: Thích vị chua, vị của can mộc.
Hỷ hô: Hay hô gọi, âm thanh thuộc can.
Hỷ khấp: Hay khóc chảy nước mắt, dịch của can là nước mắt.
Tứ thời hữu số: Bốn mùa có quy luật số và khí riêng, ứng với ngũ hành, ngũ tạng.
Châm chi yếu diệu tại ư thu hào: Tinh vi của châm pháp ở chỗ rất nhỏ, rất tinh tế, phải xét kỹ thời khí, tạng khí, huyệt tính, hư thực.
Thất Thập Ngũ Nan
Điều khó thứ bảy mươi lăm
Hỏi: Kinh nói “phương Đông thực, phương Tây hư; tả phương Nam, bổ phương Bắc”, nghĩa là gì?
Đông phương thực, Tây phương hư: Can mộc thực, phế kim hư.
Tả Nam phương: Tả hỏa ở phương Nam, tức tả tâm hỏa.
Bổ Bắc phương: Bổ thủy ở phương Bắc, tức bổ thận thủy.
Đáp: Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ phải thay nhau bình hòa. Phương Đông là mộc, phương Tây là kim. Mộc muốn thực thì kim phải bình nó; hỏa muốn thực thì thủy phải bình nó; thổ muốn thực thì mộc phải bình nó; kim muốn thực thì hỏa phải bình nó; thủy muốn thực thì thổ phải bình nó. Phương Đông là can, vậy biết can thực; phương Tây là phế, vậy biết phế hư. Tả phương Nam hỏa, bổ phương Bắc thủy. Phương Nam là hỏa, hỏa là con của mộc; phương Bắc là thủy, thủy là mẹ của mộc. Thủy thắng hỏa, con có thể làm mẹ thực, mẹ có thể làm con hư, cho nên tả hỏa, bổ thủy là muốn khiến kim không thể bình mộc. Kinh nói “không thể trị cái hư, còn hỏi gì những điều khác”, chính là ý này.
Cánh tương bình: Các hành phải chế ước lẫn nhau để giữ cân bằng.
Mộc thực, kim bình chi: Mộc quá thực thì dùng kim để khắc chế mộc.
Hỏa thực, thủy bình chi: Hỏa quá thực thì dùng thủy để khắc chế hỏa.
Thổ thực, mộc bình chi: Thổ quá thực thì dùng mộc để khắc chế thổ.
Kim thực, hỏa bình chi: Kim quá thực thì dùng hỏa để khắc chế kim.
Thủy thực, thổ bình chi: Thủy quá thực thì dùng thổ để khắc chế thủy.
Can thực phế hư: Mộc thực mà kim hư, tức bên bị khắc chế không đủ sức bình mộc.
Hỏa giả mộc chi tử: Hỏa là con của mộc, vì mộc sinh hỏa.
Thủy giả mộc chi mẫu: Thủy là mẹ của mộc, vì thủy sinh mộc.
Tử năng lệnh mẫu thực: Tả con có thể làm mẹ bớt thực; trong phép trị, tác động vào con để điều mẹ.
Mẫu năng lệnh tử hư: Bổ mẹ có thể điều con, làm hệ thống trở lại cân bằng.
Tả hỏa bổ thủy: Tả tâm hỏa, bổ thận thủy để điều mộc thực kim hư theo quan hệ sinh khắc phức hợp.
Kim bất đắc bình mộc: Nếu phế kim hư thì không thể khắc chế can mộc; cần trị hư trước, tức bổ thủy, tả hỏa để hỗ trợ cân bằng.
Bất năng trị kỳ hư, hà vấn kỳ dư: Không biết trị phần hư thì không thể bàn đến điều trị cao hơn; nhấn mạnh trị hư là then chốt.
Thất Thập Lục Nan
Điều khó thứ bảy mươi sáu
Hỏi: Thế nào gọi là bổ tả? Khi cần bổ thì lấy khí ở đâu? Khi cần tả thì đặt khí ở đâu?
Bổ: Phép làm đầy phần hư, nâng chính khí, giúp khí huyết phục hồi.
Tả: Phép làm giảm phần thực, tiết tà khí, thông ứ trệ.
Thủ khí: Lấy khí, dẫn khí vào để bổ.
Trí khí: Đặt khí, đưa khí ra hoặc làm khí tán để tả.
Đáp: Khi cần bổ thì lấy khí từ vệ; khi cần tả thì đặt khí từ doanh. Nếu dương khí bất túc, âm khí hữu dư, trước phải bổ dương, sau đó tả âm. Nếu âm khí bất túc, dương khí hữu dư, trước phải bổ âm, sau đó tả dương. Doanh vệ thông hành, đó là điều cốt yếu.
Tòng vệ thủ khí: Khi bổ, lấy khí từ vệ phận, khơi dương khí bảo vệ, làm chính khí đầy lên.
Tòng doanh trí khí: Khi tả, tác động vào doanh phận để tiết thực tà, làm khí huyết lưu thông.
Dương khí bất túc, âm khí hữu dư: Dương hư âm thịnh, cần bổ dương trước.
Tiên bổ kỳ dương, hậu tả kỳ âm: Nâng dương khí rồi mới tả âm tà, tránh làm chính khí tổn thêm.
Âm khí bất túc, dương khí hữu dư: Âm hư dương thịnh, cần bổ âm trước.
Tiên bổ kỳ âm, hậu tả kỳ dương: Dưỡng âm trước rồi mới tả dương nhiệt.
Doanh vệ thông hành: Mục tiêu cuối cùng là làm doanh vệ lưu thông, âm dương điều hòa.
Thất Thập Thất Nan
Điều khó thứ bảy mươi bảy
Hỏi: Kinh nói “thượng công trị bệnh khi chưa bệnh, trung công trị bệnh đã thành”, nghĩa là gì?
Thượng công: Thầy thuốc bậc cao, biết phòng bệnh, biết bệnh truyền biến trước khi phát.
Trị vị bệnh: Trị khi bệnh chưa phát hoặc chưa truyền sang tạng khác.
Trung công: Thầy thuốc bậc trung, chỉ biết chữa bệnh đã hiện rõ.
Trị dĩ bệnh: Chữa bệnh đã thành, đã biểu hiện ở tạng hiện tại.
Đáp: Cái gọi là trị vị bệnh là thấy bệnh ở can thì biết can sẽ truyền sang tỳ, cho nên trước làm cho tỳ khí thực vững, không để tỳ nhận tà của can, vì vậy gọi là trị vị bệnh. Bậc trung công thấy bệnh ở can, không hiểu sự truyền biến, chỉ một lòng chữa can, cho nên gọi là trị bệnh đã thành.
Kiến can chi bệnh: Thấy can đã bệnh.
Can đương truyền tỳ: Theo ngũ hành, can mộc khắc tỳ thổ, nên can bệnh có thể truyền sang tỳ.
Tiên thực kỳ tỳ khí: Trước bồi bổ, củng cố tỳ khí để phòng tà truyền.
Vô lệnh đắc thụ can chi tà: Không để tỳ nhận tà từ can.
Bất hiểu tương truyền: Không hiểu quy luật bệnh truyền giữa tạng phủ.
Đãn nhất tâm trị can: Chỉ chữa tạng đang bệnh, chưa biết phòng tạng sắp bị truyền.
Thất Thập Bát Nan
Điều khó thứ bảy mươi tám
Hỏi: Châm có bổ tả, nghĩa là gì?
Đáp: Phép bổ tả không nhất định chỉ ở hô hấp và ra vào kim. Người biết châm thì tin ở tay trái; người không biết châm thì chỉ tin ở tay phải. Khi châm, trước dùng tay trái đè ấn nơi huyệt huỳnh, du định châm, gõ nhẹ làm khí nổi lên, dùng móng tay ấn xuống; khi khí đến như trạng thái động mạch, thuận theo kim mà châm. Đắc khí rồi nhân đó đẩy mà đưa kim vào, đó gọi là bổ; làm động rồi kéo duỗi ra, đó gọi là tả. Không đắc khí thì mới cho thêm, nam ngoài nữ trong. Không đắc khí là mười chết không trị được.
Hô hấp xuất nội châm: Dùng nhịp thở ra, hít vào và thời điểm đưa kim, rút kim để bổ tả.
Tín kỳ tả: Tin ở tay trái, nghĩa là tay trái giữ, ấn, dò khí, dẫn khí rất quan trọng trong châm pháp.
Tín kỳ hữu: Chỉ tin tay phải cầm kim, là chưa hiểu tinh yếu của châm.
Yếm án: Đè ấn vùng huyệt.
Đàn nhi nỗ chi: Gõ hoặc kích thích để khí tập trung, làm vùng huyệt phản ứng.
Trảo nhi hạ chi: Dùng móng tay ấn xuống để dẫn khí.
Khí lai như động mạch chi trạng: Khí đến có cảm giác động, nảy, căng, như mạch đập.
Thuận châm nhi thích chi: Theo khí và hướng kim mà châm.
Đắc khí: Kim đã cảm được kinh khí, bệnh nhân hoặc thầy thuốc cảm nhận căng, tức, tê, nặng, lan.
Thôi nhi nội chi vi bổ: Đẩy và đưa kim vào để dẫn khí vào, là bổ.
Động nhi thân chi vi tả: Làm khí động rồi kéo kim ra, là tả.
Nam ngoại nữ nội: Nguyên tắc thao tác khác nhau theo nam nữ trong cổ pháp; thường hiểu là vị trí, thứ tự hoặc hướng khí trong ngoài khác biệt.
Thập tử bất trị: Nói rất nặng để nhấn mạnh không đắc khí thì châm trị khó có hiệu quả, bệnh nguy không trị được.
Thất Thập Cửu Nan
Điều khó thứ bảy mươi chín
Hỏi: Kinh nói “nghênh mà đoạt đi, sao có thể không hư? tùy mà giúp thêm, sao có thể không thực? Hư và thực như được như mất; thực và hư như có như không”, nghĩa là gì?
Nghênh nhi đoạt chi: Châm ngược chiều khí đến để tả, đoạt bớt tà khí.
Tùy nhi tế chi: Châm thuận chiều khí đi để bổ, giúp chính khí.
Nhược đắc nhược thất: Như được như mất, chỉ cảm giác khí đến hay mất trong bổ tả.
Nhược hữu nhược vô: Như có như không, chỉ hư thực biến hóa vi tế, cần cảm nhận bằng tay.
Đáp: Nghênh mà đoạt đi là tả con của nó; tùy mà giúp thêm là bổ mẹ của nó. Giả sử tâm bệnh, tả huyệt du của Thủ Tâm chủ, đó gọi là nghênh mà đoạt đi. Bổ huyệt tỉnh của Thủ Tâm chủ, đó gọi là tùy mà giúp thêm. Cái gọi là thực và hư là ý nói mạch chắc và mềm. Khí đến thực chắc là được, mềm hư là mất, cho nên nói như được như mất.
Tả kỳ tử: Thực thì tả con theo ngũ hành.
Bổ kỳ mẫu: Hư thì bổ mẹ theo ngũ hành.
Tâm bệnh: Bệnh thuộc tâm hoặc Tâm bào.
Thủ Tâm chủ: Tâm bào kinh.
Tả Thủ Tâm chủ du: Tả huyệt du của Tâm bào để tiết thực theo quan hệ ngũ du.
Bổ Thủ Tâm chủ tỉnh: Bổ huyệt tỉnh của Tâm bào để giúp chính khí.
Lao nhu chi ý: Lao là chắc cứng, có lực, chủ thực; nhu là mềm yếu, chủ hư.
Khí lai thực lao vi đắc: Khí đến chắc, có lực, là đắc khí.
Nhu hư vi thất: Khí mềm yếu, hư, không có lực, là khí chưa đủ hoặc mất khí.
Bát Thập Nan
Điều khó thứ tám mươi
Hỏi: Kinh nói “có thấy như vào, có thấy như ra”, nghĩa là gì?
Hữu kiến như nhập: Thấy khí đến thì đưa kim vào.
Hữu kiến như xuất: Thấy khí hết thì rút kim ra.
Đáp: Cái gọi là “có thấy như vào, có thấy như ra” là nói tay trái thấy khí đến thì mới đưa kim vào; kim đã vào, thấy khí hết thì mới rút kim ra. Đây gọi là “có thấy như vào, có thấy như ra”.
Tả thủ kiến khí lai chí: Tay trái cảm nhận khí đã đến vùng huyệt.
Nãi nội châm: Khi khí đến mới đưa kim vào, để châm đúng lúc kinh khí hội tụ.
Châm nhập kiến khí tận: Sau khi kim vào, cảm thấy khí đã hết hoặc tà khí đã được xử lý.
Nãi xuất châm: Khi khí hết mới rút kim, tránh rút sai thời điểm làm tổn chính khí hoặc lưu tà.
Bát Thập Nhất Nan
Điều khó thứ tám mươi mốt
Hỏi: Kinh nói “không làm thực thêm chỗ đã thực, không làm hư thêm chỗ đã hư; không làm tổn phần bất túc mà làm ích thêm phần hữu dư”. Đây là nói mạch thốn khẩu chăng? Hay bệnh tự có hư thực? Việc tổn ích ấy như thế nào?
Thực thực hư hư: Chỗ thực lại làm cho thực thêm, chỗ hư lại làm cho hư thêm, là sai lầm lớn trong điều trị.
Tổn bất túc nhi ích hữu dư: Làm tổn phần vốn thiếu, bồi thêm phần vốn đã thừa.
Thốn khẩu mạch: Mạch ở cổ tay; câu này hỏi đây là lỗi trong chẩn mạch hay trong trị bệnh.
Bệnh tự hữu hư thực: Bản thân bệnh chứng có hư và thực, không chỉ dựa vào mạch thốn khẩu.
Đáp: Đây là nói bệnh, không phải nói mạch thốn khẩu; nghĩa là bệnh tự có hư thực. Giả sử can thực mà phế hư: can thuộc mộc, phế thuộc kim, kim và mộc phải thay nhau bình hòa, phải biết kim bình mộc. Giả sử phế thực mà can hư, khí đã nhỏ yếu, dùng châm lại không bổ can, ngược lại còn làm phế càng thực thêm, cho nên nói “thực thực hư hư, tổn bất túc mà ích hữu dư”. Đây là điều mà bậc trung công gây hại.
Can thực phế hư: Mộc quá thực, kim lại hư; phế kim không đủ sức chế can mộc.
Kim mộc cánh tương bình: Kim và mộc cần chế ước, cân bằng lẫn nhau.
Kim bình mộc: Dùng kim khí để bình mộc khí, tức phế kim chế can mộc.
Phế thực can hư: Phế kim thực mà can mộc hư; nếu không bổ can mà lại làm phế càng thực thì sai.
Vi thiểu khí: Khí nhỏ yếu, chính khí bất túc.
Bất bổ kỳ can, phản trọng thực kỳ phế: Không bổ nơi hư là can, lại làm nơi thực là phế càng thực hơn.
Trung công chi sở hại: Sai lầm do thầy thuốc bậc trung chưa hiểu hư thực, sinh khắc, bổ tả tinh vi.
Tóm ý đoạn này: Từ Thất Thập Nhất Nan đến Bát Thập Nhất Nan kết thúc Nan Kinh bằng các nguyên tắc châm pháp, bổ tả, trị vị bệnh và tránh sai lầm hư thực. Điều 71 nói châm doanh không làm thương vệ, châm vệ không làm thương doanh, nhấn mạnh độ sâu nông và thao tác trước khi đưa kim. Điều 72 giải thích nghênh tùy là biết dòng vận hành của doanh vệ, kinh mạch, rồi theo nghịch thuận, âm dương, biểu lý mà điều khí. Điều 73 nói huyệt tỉnh khí ít, khi cần tả có thể dùng huyệt huỳnh là con của tỉnh để tả, theo nguyên tắc thực tả kỳ tử. Điều 74 phối mùa với ngũ du huyệt: xuân tỉnh, hạ huỳnh, quý hạ du, thu kinh, đông hợp, vì tà theo mùa hệ với can, tâm, tỳ, phế, thận. Điều 75 dùng ngũ hành để giải thích can thực phế hư thì cần tả hỏa bổ thủy, nhấn mạnh trị phần hư là then chốt. Điều 76 nói bổ tả phải lấy khí từ vệ hoặc đặt khí ở doanh, và phải tùy âm dương hư thực mà trước bổ sau tả. Điều 77 nêu tinh thần thượng công trị vị bệnh: thấy can bệnh phải biết sẽ truyền tỳ, nên trước củng cố tỳ khí. Điều 78 đến 80 nói kỹ thuật châm: tay trái giữ vai trò cảm khí, đắc khí là then chốt, khí đến thì vào kim, khí hết thì ra kim. Điều 81 cảnh báo không được thực thực hư hư, không làm tổn phần bất túc mà ích phần hữu dư; điều trị phải dựa trên hư thực thật của bệnh và quan hệ sinh khắc giữa tạng phủ.