Khái luận
Tim nằm bên phải, tiếng Trung gọi là Hữu vị tâm (右位心), trong y học hiện đại thường gọi là dextrocardia, là tình trạng Tâm nằm chủ yếu ở nửa phải lồng ngực và đỉnh Tâm hướng sang phải, thay vì hướng về bên trái như thông thường.
Đây phần lớn là một bất thường vị trí hình thành từ thời kỳ phôi thai. Bản thân việc Tâm nằm bên phải không nhất thiết gây bệnh hoặc làm người đó dễ mắc bệnh Tâm hơn. Nhiều người có cấu trúc và chức năng Tâm hoàn toàn bình thường, không có triệu chứng và chỉ tình cờ phát hiện khi chụp X-quang ngực, làm điện tâm đồ hoặc siêu âm Tâm.
Điều quan trọng không chỉ là xác định Tâm nằm bên phải, mà còn phải làm rõ toàn bộ cách sắp xếp của các tạng trong ngực và ổ bụng, cấu trúc các buồng Tâm, van Tâm, đại động mạch và hệ tĩnh mạch.
Có người chỉ có Tâm nằm bên phải, trong khi gan, dạ dày, lách và các tạng khác vẫn ở vị trí thông thường. Có người Tâm và toàn bộ phủ tạng đảo ngược theo hình ảnh soi gương. Có người lại có sự sắp xếp tạng không đồng nhất, kèm nhiều dị tật Tâm bẩm sinh phức tạp.
Cũng cần phân biệt Tâm nằm bên phải bẩm sinh với tình trạng Tâm vốn bình thường nhưng bị đẩy hoặc kéo sang phải do bệnh Phế, màng Phế, cơ hoành, lồng ngực hoặc sau phẫu thuật. Trường hợp này không phải Hữu vị tâm bẩm sinh thật sự.
Trong Trung y, Tâm nằm bên phải không phải một chứng thuộc hàn, nhiệt, hư, thực, khí trệ, huyết ứ hay đàm thấp. Đây là một bất thường vị trí giải phẫu bẩm sinh, không thể dùng thuốc, châm cứu hoặc bấm huyệt để đưa Tâm trở lại bên trái.
Nếu cấu trúc Tâm bình thường, không có rối loạn nhịp, suy tim, tím hoặc khó thở, người bệnh không cần điều trị Trung y. Khi có những triệu chứng kèm theo như hồi hộp, mệt, mất ngủ, tiêu hóa kém hoặc suy nhược sau phẫu thuật Tâm bẩm sinh, Trung y chỉ có thể hỗ trợ theo biểu hiện cụ thể, nhưng vẫn phải lấy đánh giá Tâm mạch hiện đại làm căn cứ.
Tim nằm bên phải là gì
Bình thường, phần lớn khối Tâm nằm ở trung thất giữa nhưng lệch sang trái, đỉnh Tâm hướng xuống dưới và sang trái.
Trong Hữu vị tâm, phần lớn khối Tâm nằm về phía phải và đỉnh Tâm hướng xuống dưới, sang phải.
Sự thay đổi có thể chỉ liên quan đến vị trí của Tâm hoặc là một phần của sự đảo ngược toàn bộ trục trái phải của cơ thể.
Hình ảnh X-quang có thể cho thấy bóng Tâm nằm bên phải. Điện tâm đồ ghi theo cách thông thường có thể xuất hiện những dấu hiệu bất thường do hướng điện học của Tâm bị đảo. Siêu âm, CT hoặc cộng hưởng từ giúp xác định rõ hơn cấu trúc và vị trí các tạng.
Các dạng thường gặp
Một. Hữu vị tâm đơn thuần
Tâm nằm ở nửa phải lồng ngực và đỉnh hướng phải, nhưng các tạng trong ổ bụng vẫn ở vị trí thông thường.
Dạng này cần được đánh giá kỹ vì nguy cơ đi kèm dị tật Tâm bẩm sinh có thể cao hơn so với trường hợp toàn bộ phủ tạng đảo ngược theo hình ảnh soi gương.
Các bất thường có thể liên quan đến vách ngăn, van Tâm, đại động mạch, tĩnh mạch chủ hoặc tuần hoàn Phế.
Hai. Hữu vị tâm kèm đảo ngược phủ tạng hoàn toàn
Tình trạng này còn gọi là situs inversus totalis.
Tâm nằm bên phải, gan thường nằm bên trái, dạ dày và lách nằm bên phải; các cơ quan trong ngực bụng được sắp xếp gần giống hình ảnh phản chiếu của cơ thể thông thường.
Nhiều người thuộc nhóm này có cấu trúc Tâm tương đối bình thường, không có triệu chứng và sống như người khác.
Tuy nhiên, vị trí các cơ quan khác thường có thể làm triệu chứng bệnh xuất hiện ở bên đối diện. Viêm ruột thừa có thể đau bên trái, bệnh túi mật có thể đau vùng hạ sườn trái.
Ba. Hữu vị tâm kèm sắp xếp tạng không đồng nhất
Trong tình trạng này, các tạng không sắp xếp hoàn toàn theo vị trí thông thường cũng không đảo ngược hoàn toàn theo hình ảnh soi gương.
Có thể xuất hiện bất thường số lượng hoặc vị trí lách, gan ở giữa, ruột xoay bất thường, tĩnh mạch bất thường hoặc dị tật Tâm phức tạp.
Nhóm này cần được theo dõi chuyên khoa Tâm bẩm sinh và đánh giá toàn diện các tạng.
Bốn. Tâm bị đẩy sang phải
Tình trạng này còn gọi là dextroposition.
Tâm không bị đảo trục bẩm sinh mà chỉ bị đẩy hoặc kéo sang phải do một bệnh khác.
Nguyên nhân có thể gồm:
Tràn dịch màng Phế trái.
Tràn khí màng Phế áp lực bên trái.
Khối u lớn trong lồng ngực.
Xẹp Phế phải kéo Tâm sang phải.
Cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ Phế.
Dị dạng lồng ngực.
Bất thường cơ hoành.
Bệnh Phế mạn tính.
Điều trị cần hướng vào nguyên nhân làm Tâm lệch vị trí.
Sự hình thành trong thời kỳ phôi thai
Trong giai đoạn đầu phát triển, ống Tâm nguyên thủy phải uốn cong và xoay theo một hướng nhất định để tạo thành các buồng Tâm và đại động mạch.
Đồng thời, gan, dạ dày, lách, ruột và các cơ quan khác cũng phải được sắp xếp theo trục trái phải của cơ thể.
Nếu quá trình xác định trục trái phải hoặc sự xoay của Tâm thay đổi, Hữu vị tâm có thể hình thành.
Ở một số trường hợp, bất thường chỉ tác động đến vị trí Tâm. Ở trường hợp khác, toàn bộ phủ tạng cùng đảo ngược. Nếu sự sắp xếp không hoàn toàn đồng bộ, nhiều dị tật phức tạp có thể cùng xuất hiện.
Phần lớn trường hợp không xác định được một nguyên nhân duy nhất. Một số trường hợp liên quan đến rối loạn chức năng lông chuyển, hội chứng di truyền hoặc bất thường phát triển phôi thai.
Hữu vị tâm có làm tăng nguy cơ mắc bệnh Tâm không
Nếu chỉ có Hữu vị tâm đơn thuần theo kiểu soi gương, cấu trúc Tâm bình thường, chức năng co bóp tốt và không có dị tật kèm theo, người bệnh không nhất thiết dễ mắc bệnh Tâm hơn người khác.
Họ vẫn có thể mắc tăng huyết áp, bệnh mạch vành, rối loạn mỡ máu hoặc rối loạn nhịp theo những yếu tố nguy cơ thông thường, nhưng không phải chỉ vì Tâm nằm bên phải.
Nguy cơ tăng lên khi Hữu vị tâm đi kèm:
Thông liên nhĩ.
Thông liên thất.
Kênh nhĩ thất.
Tứ chứng Fallot.
Chuyển vị đại động mạch.
Thất phải hai đường ra.
Hẹp động mạch Phế.
Hẹp hoặc không có van.
Bất thường hồi lưu tĩnh mạch Phế.
Bất thường tĩnh mạch chủ.
Dị dạng một thất.
Tăng áp động mạch Phế.
Rối loạn dẫn truyền.
Suy chức năng thất.
Do đó, đánh giá cấu trúc Tâm quan trọng hơn bản thân vị trí bên phải.
Biểu hiện lâm sàng
Không có triệu chứng
Nhiều người hoàn toàn khỏe mạnh, vận động bình thường và không cảm thấy sự khác biệt.
Hữu vị tâm chỉ được phát hiện trong một lần khám sức khỏe, chụp X-quang, siêu âm hoặc điện tâm đồ vì nguyên nhân khác.
Triệu chứng do dị tật Tâm bẩm sinh
Nếu có dị tật cấu trúc, biểu hiện phụ thuộc mức độ ảnh hưởng đến tuần hoàn.
Có thể gặp:
Tím môi.
Tím đầu ngón tay hoặc chân.
Khó thở.
Trẻ bú kém.
Ra nhiều mồ hôi khi bú.
Chậm tăng cân.
Chậm phát triển.
Mệt khi chơi hoặc đi bộ.
Hồi hộp.
Đau ngực.
Chóng mặt.
Ngất.
Tiếng thổi Tâm.
Phù chân.
Nhiễm trùng hô hấp tái phát.
Triệu chứng do suy tim
Khó thở khi gắng sức.
Khó thở khi nằm.
Phải kê cao gối.
Phù chân.
Tăng cân nhanh.
Tiểu ít.
Mệt lả.
Bụng căng.
Triệu chứng do rối loạn nhịp
Tim đập nhanh.
Tim đập chậm.
Cảm giác bỏ nhịp.
Choáng.
Ngất.
Mệt đột ngột.
Khó thở.
Hồi hộp kèm ngất hoặc đau ngực cần được khám khẩn cấp.
Triệu chứng do rối loạn lông chuyển
Một số người có Hữu vị tâm và đảo ngược phủ tạng còn mắc rối loạn vận động lông chuyển.
Biểu hiện có thể gồm:
Nghẹt mũi mạn tính.
Viêm xoang tái phát.
Ho đàm kéo dài.
Viêm tai giữa nhiều lần.
Viêm phế quản tái diễn.
Viêm Phế nhiều lần.
Giãn phế quản.
Khó sinh con.
Vô sinh nam do tinh trùng giảm hoặc mất khả năng vận động.
Khi Hữu vị tâm, viêm xoang mạn và giãn phế quản cùng xuất hiện, cần nghĩ đến hội chứng Kartagener.
Biểu hiện ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
Trẻ có Hữu vị tâm đơn thuần và cấu trúc Tâm bình thường có thể hoàn toàn không có triệu chứng.
Nếu có dị tật Tâm bẩm sinh nặng, trẻ có thể:
Tím ngay sau sinh hoặc trong những tháng đầu.
Thở nhanh.
Bú chậm.
Bú ngắt quãng vì mệt.
Ra mồ hôi khi bú.
Không tăng cân.
Nhiễm trùng hô hấp nhiều lần.
Lừ đừ.
Tay chân lạnh.
Phù.
Trẻ có những biểu hiện này cần được đánh giá Tâm bẩm sinh sớm.
Dấu hiệu cần khám khẩn cấp
Khó thở rõ.
Môi hoặc đầu chi tím.
Đau ngực dữ dội.
Ngất.
Hồi hộp kéo dài.
Tim đập rất nhanh hoặc rất chậm.
Phù tăng.
Mệt lả.
Trẻ bú kém đột ngột.
Trẻ thở nhanh, tím hoặc lừ đừ.
Không nên chỉ cho rằng các triệu chứng xuất phát từ vị trí Tâm bên phải. Người bệnh vẫn có thể mắc hội chứng vành cấp, thuyên tắc Phế, viêm cơ tim hoặc bệnh khác như mọi người.
Chẩn đoán
Khám lâm sàng
Bác sĩ có thể nghe thấy tiếng Tâm rõ hơn ở nửa phải lồng ngực, đặc biệt tại vùng đỉnh Tâm bên phải.
Tuy nhiên, nghe tiếng Tâm không đủ để xác định toàn bộ cấu trúc.
X-quang ngực
X-quang có thể cho thấy bóng Tâm và đỉnh Tâm ở bên phải.
Vị trí bóng hơi dạ dày và vòm hoành có thể giúp gợi ý các tạng trong ổ bụng có đảo ngược hay không.
Điện tâm đồ
Nếu điện cực được đặt theo cách thông thường, điện tâm đồ ở người Hữu vị tâm có thể xuất hiện:
Sóng P âm ở chuyển đạo I.
Phức bộ QRS chủ yếu âm ở chuyển đạo I.
Trục điện học lệch phải rõ.
Sóng R giảm dần bất thường từ V1 đến V6.
Hình ảnh giống mắc sai điện cực.
Để ghi chính xác hơn, các điện cực trước Tâm có thể cần được đặt sang bên phải theo hình ảnh đối xứng. Điện cực tay phải và tay trái cũng cần được kiểm tra để tránh nhầm với lỗi mắc điện cực.
Khi làm điện tâm đồ, người bệnh nên báo trước rằng mình có Hữu vị tâm.
Siêu âm Tâm
Siêu âm là phương pháp quan trọng để đánh giá:
Vị trí các buồng Tâm.
Sự kết nối giữa nhĩ và thất.
Sự kết nối giữa thất và đại động mạch.
Vách liên nhĩ.
Vách liên thất.
Van Tâm.
Động mạch Phế.
Động mạch chủ.
Tĩnh mạch Phế.
Tĩnh mạch chủ.
Chức năng co bóp.
Áp lực động mạch Phế.
CT và cộng hưởng từ
CT hoặc cộng hưởng từ có thể cho thấy rõ giải phẫu Tâm, mạch máu lớn, Phế, gan, lách, dạ dày và toàn bộ vị trí các tạng.
Phương pháp này đặc biệt hữu ích khi dị tật phức tạp hoặc trước phẫu thuật.
Siêu âm bụng
Siêu âm giúp xác định vị trí gan, túi mật, lách và các tạng khác.
Đánh giá lông chuyển và hô hấp
Nếu có viêm xoang, viêm Phế hoặc giãn phế quản tái phát, người bệnh có thể cần đánh giá chức năng lông chuyển, chụp CT Phế, xét nghiệm di truyền hoặc kiểm tra chuyên sâu khác.
Đánh giá trước phẫu thuật và thủ thuật
Vị trí đảo ngược của Tâm, mạch máu và các tạng có thể ảnh hưởng:
Đặt điện cực điện tâm đồ.
Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm.
Thông tim.
Chụp mạch vành.
Đặt máy tạo nhịp.
Phẫu thuật Tâm.
Phẫu thuật bụng.
Nội soi.
Chọc dò.
Cấp cứu hồi sinh.
Nhân viên y tế cần biết rõ giải phẫu trước khi thực hiện thủ thuật.
Điều trị theo y học hiện đại
Hữu vị tâm không triệu chứng
Nếu cấu trúc và chức năng Tâm bình thường, người bệnh thường không cần thuốc hoặc phẫu thuật.
Có thể sinh hoạt, học tập và vận động bình thường theo sức.
Điều quan trọng là lưu giữ thông tin chẩn đoán và báo cho nhân viên y tế khi cần.
Dị tật Tâm bẩm sinh kèm theo
Điều trị tùy loại dị tật và mức độ ảnh hưởng.
Có thể gồm:
Theo dõi định kỳ.
Thuốc điều trị suy tim.
Thuốc kiểm soát rối loạn nhịp.
Can thiệp qua catheter.
Đóng lỗ thông.
Nong hoặc đặt stent.
Phẫu thuật sửa chữa.
Phẫu thuật tạo đường tuần hoàn tạm thời hoặc lâu dài.
Điều trị tăng áp động mạch Phế.
Rối loạn nhịp
Người bệnh có thể cần thuốc, máy tạo nhịp, triệt đốt qua catheter hoặc thiết bị hỗ trợ khác.
Kỹ thuật thực hiện có thể khó hơn do giải phẫu đảo ngược và cần được tiến hành tại cơ sở có kinh nghiệm.
Suy tim
Điều trị căn cứ chức năng thất, van Tâm, áp lực động mạch Phế và dị tật nền.
Rối loạn lông chuyển
Điều trị thường gồm làm sạch đường thở, vật lý trị liệu hô hấp, điều trị nhiễm khuẩn khi có chỉ định và theo dõi Phế lâu dài.
Hữu vị tâm giả
Cần điều trị bệnh làm Tâm bị đẩy hoặc kéo sang phải, chẳng hạn tràn dịch màng Phế, tràn khí, xẹp Phế hoặc khối u.
Nhận thức của Trung y
Tâm chủ huyết mạch
Trong lý luận Trung y, Tâm có chức năng chủ huyết mạch, thúc đẩy huyết vận hành toàn thân.
Khái niệm này chủ yếu nói về công năng, không phải mô tả chính xác vị trí giải phẫu của Tâm.
Tâm tàng thần
Tâm liên quan đến thần chí, giấc ngủ, trí nhớ và trạng thái tinh thần.
Khi người có Hữu vị tâm xuất hiện hồi hộp hoặc mất ngủ, có thể biện chứng Tâm khí hư, Tâm huyết hư, Tâm âm hư hoặc đàm nhiệt nhiễu Tâm, nhưng không được xem những thể này là nguyên nhân khiến Tâm nằm bên phải.
Tiên thiên bất túc
Hữu vị tâm là bất thường bẩm sinh nên trong ngôn ngữ Trung y có thể liên hệ khái quát với tiên thiên bẩm phú.
Tuy nhiên, khái niệm tiên thiên bất túc không được dùng để thay thế chẩn đoán giải phẫu hoặc suy đoán rằng mọi người có Hữu vị tâm đều Thận hư.
Không phải chứng cần điều chỉnh vị trí
Không có phương thuốc nào đưa Tâm từ bên phải sang bên trái.
Không nên dùng hoạt huyết, phá ứ, ôn dương hoặc khai khiếu với mục đích “chỉnh Tâm”.
Biện chứng theo triệu chứng kèm theo
Nếu người bệnh có hồi hộp, mệt, ngủ kém, khó thở hoặc tiêu hóa kém, có thể biện chứng phần công năng và thể chất sau khi đã loại trừ bệnh cấu trúc, rối loạn nhịp và suy tim.
Nguyên tắc hỗ trợ theo Trung y
Không triệu chứng
Không cần dùng thuốc.
Tâm khí hư
Ích khí dưỡng Tâm, cố biểu, an thần nhẹ.
Tâm huyết hư hoặc Tâm Tỳ lưỡng hư
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần.
Tâm Phế khí hư
Ích khí dưỡng Tâm, bổ Phế, nhưng phải loại trừ dị tật Tâm và bệnh Phế.
Huyết ứ
Chỉ cân nhắc hoạt huyết khi có biểu hiện phù hợp và đã biết rõ thuốc chống đông đang sử dụng.
Tỳ hư đàm thấp
Kiện Tỳ hóa đàm, điều hòa ăn uống.
Một. Hữu vị tâm không triệu chứng
Chứng trạng
Tâm nằm bên phải được phát hiện tình cờ. Người bệnh không đau ngực, không khó thở, không hồi hộp, không tím, không ngất; sinh hoạt bình thường, siêu âm Tâm không phát hiện dị tật quan trọng.
Bệnh cơ
Đây là bất thường vị trí bẩm sinh, không phải chứng hư thực hoặc khí huyết cần điều trị.
Pháp trị
Không cần dùng thuốc Trung y.
Điều dưỡng
Ăn uống điều độ, ngủ đủ, vận động phù hợp, không hút thuốc và kiểm tra sức khỏe theo hướng dẫn.
Hai. Tâm khí hư
Chứng trạng
Hồi hộp nhẹ, mệt, thở ngắn khi gắng sức, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, tiếng nói nhỏ; lưỡi nhạt, mạch hư nhược.
Có thể gặp ở người thể chất yếu, sau bệnh hoặc sau phẫu thuật Tâm bẩm sinh.
Bệnh cơ
Tâm khí không đủ sức thúc đẩy huyết mạch, nên hồi hộp, thở ngắn và mệt. Khí hư không cố biểu nên tự ra mồ hôi.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, cố biểu, an thần nhẹ.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Sinh mạch tán gia giảm (保元汤合生脉散加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Phục linh (茯苓), Toan táo nhân (酸枣仁). Nhục quế (肉桂) chỉ cân nhắc lượng nhỏ khi hàn tượng rõ.
Gia giảm
Mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎), Ma hoàng căn (麻黄根); ăn kém gia Bạch truật (白术), Sơn dược (山药), Sa nhân (砂仁); hồi hộp gia Long cốt (龙骨), Bá tử nhân (柏子仁).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Phục linh kiện Tỳ; Toan táo nhân dưỡng Tâm an thần.
Chú ý
Hồi hộp hoặc khó thở mới xuất hiện cần được kiểm tra Tâm mạch trước, không chỉ căn cứ thể khí hư để dùng thuốc.
Ba. Tâm Tỳ lưỡng hư
Chứng trạng
Hồi hộp, mất ngủ, nhiều mộng, dễ giật mình, mệt, ăn kém, sắc mặt nhợt, môi nhạt, chóng mặt nhẹ, bụng đầy; lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Tỳ khí suy làm khí huyết sinh hóa không đủ. Tâm huyết thiếu khiến Tâm thần mất nuôi dưỡng, gây hồi hộp và ngủ kém.
Pháp trị
Kiện Tỳ ích khí, dưỡng huyết an thần.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣), Sinh khương (生姜).
Gia giảm
Mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Kê nội kim (鸡内金); hồi hộp gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ ích khí; Đương quy và Long nhãn nhục dưỡng huyết; Toan táo nhân và Viễn chí dưỡng Tâm an thần; Mộc hương giúp khí cơ không bị trệ.
Bốn. Tâm Phế khí hư
Chứng trạng
Dễ hụt hơi, thở ngắn, mệt khi vận động, tiếng nói yếu, tự ra mồ hôi, dễ cảm lạnh, sắc mặt nhợt; lưỡi nhạt, mạch hư.
Bệnh cơ
Tâm khí hư làm huyết vận hành thiếu lực; Phế khí hư làm hô hấp và tuyên phát túc giáng suy giảm.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, bổ Phế cố biểu.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Ngọc bình phong tán gia giảm (生脉散合玉屏风散加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phòng phong (防风), Phục linh (茯苓), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Ho đàm trắng gia Trần bì (陈皮), Bán hạ (半夏); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); ăn kém gia Sơn dược (山药), Sa nhân (砂仁).
Ý nghĩa
Đảng sâm và Hoàng kỳ ích khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm Phế định Tâm; Bạch truật kiện Tỳ; Phòng phong giúp cố biểu; Phục linh kiện Tỳ hóa thấp.
Chú ý
Khó thở, tím, mệt khi gắng sức hoặc chậm lớn ở trẻ phải được đánh giá dị tật Tâm, tăng áp Phế và bệnh hô hấp trước khi dùng thuốc.
Năm. Huyết ứ Tâm mạch
Chứng trạng
Ngực tức, hồi hộp, sắc mặt tối, môi hơi tím, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch sáp.
Có thể gặp ở người có dị tật Tâm phức tạp, sau phẫu thuật hoặc tuần hoàn không thuận.
Bệnh cơ
Tâm mạch vận hành bất lợi, khí huyết ứ trệ. Tuy nhiên, tím và ngực tức có thể phản ánh thiếu oxy, tăng áp Phế hoặc suy Tâm, không được chỉ giải thích bằng huyết ứ.
Pháp trị
Ích khí hoạt huyết, thông mạch nhẹ sau khi đã đánh giá Tâm mạch.
Phương thang
Đan sâm ẩm gia giảm (丹参饮加减): Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍), Hoàng kỳ (黄芪), Phục linh (茯苓).
Gia giảm
Ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Giới bạch (薤白); khí hư gia Đảng sâm (党参), Bạch truật (白术); mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁).
Ý nghĩa
Đan sâm và Xích thược hoạt huyết thông mạch; Đàn hương, Sa nhân và Uất kim hành khí; Hoàng kỳ ích khí; Phục linh kiện Tỳ.
Chú ý
Người đang dùng aspirin, warfarin, rivaroxaban, apixaban hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu không được tự dùng các vị hoạt huyết.
Sáu. Tỳ hư đàm thấp
Chứng trạng
Ăn kém, đầy bụng, buồn nôn nhẹ, thân thể nặng, đàm nhiều, đại tiện không đều; lưỡi rêu trắng nhầy, mạch nhu hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thủy thấp tụ lại thành đàm, làm ngực bụng đầy tức và tiêu hóa kém.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa thấp, lý khí hòa Vị.
Phương thang
Lục quân tử thang gia giảm (六君子汤加减): Đảng sâm (党参), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Chích cam thảo (炙甘草), Trần bì (陈皮), Bán hạ (半夏), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Sa nhân (砂仁).
Gia giảm
Bụng đầy gia Hậu phác (厚朴), Chỉ xác (枳壳); đàm nhiều gia Qua lâu (瓜蒌); ăn kém gia Kê nội kim (鸡内金), Sơn tra (山楂).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh và Chích cam thảo kiện Tỳ ích khí; Trần bì và Bán hạ hóa đàm; Sinh khương hòa Vị; Sa nhân lý khí tỉnh Tỳ.
Châm cứu hỗ trợ
Người Hữu vị tâm không triệu chứng không cần châm cứu.
Khi có hồi hộp, mất ngủ, mệt hoặc tiêu hóa kém và đã loại trừ bệnh Tâm nặng, có thể châm cứu hỗ trợ theo biện chứng.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Tâm-7 Thần môn (神门), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Nhâm-6 Khí hải (气海), Bàng quang-20 Tỳ du (脾俞), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-13 Phế du (肺俞), Vị-40 Phong long (丰隆), Nhâm-12 Trung quản (中脘) và An miên.
Hồi hộp, ngủ kém phối Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, An miên và Tỳ-6 Tam âm giao.
Mệt, khí hư phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-20 Tỳ du và Tâm bào-6 Nội quan.
Tiêu hóa kém, đàm thấp phối Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý, Vị-40 Phong long và Bàng quang-20 Tỳ du.
Khó thở nhẹ sau khi đã loại trừ bệnh Tâm Phế nặng có thể phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-13 Phế du và Vị-36 Túc tam lý.
Vị trí Tâm bên phải không có nghĩa phải châm sâu hoặc tác động trực tiếp vùng ngực phải. Cần tránh châm sâu vùng ngực, nhất là khi giải phẫu Tâm Phế bất thường.
Bấm huyệt
Có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao và Nhâm-12 Trung quản.
Không ấn mạnh vùng trước ngực phải hoặc vùng Tâm.
Nếu xuất hiện đau ngực, khó thở, tím, ngất hoặc hồi hộp dữ dội, không dùng bấm huyệt thay cấp cứu.
Cứu ngải
Chỉ cân nhắc khi người bệnh có thể hư hàn rõ, mệt, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiêu hóa kém, lưỡi nhạt và mạch trầm.
Có thể cứu nhẹ Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-4 Quan nguyên và Bàng quang-20 Tỳ du.
Không cứu vùng ngực phải tùy tiện.
Không cứu khi có sốt, Tâm đập nhanh, đau ngực, khó thở hoặc huyết áp chưa ổn định.
Phối hợp thuốc Trung y và thuốc hiện đại
Người có dị tật Tâm bẩm sinh hoặc từng phẫu thuật có thể đang dùng:
Thuốc chống đông.
Thuốc chống kết tập tiểu cầu.
Thuốc điều trị suy tim.
Thuốc lợi tiểu.
Thuốc chống rối loạn nhịp.
Thuốc điều trị tăng áp động mạch Phế.
Những vị Đan sâm (丹参), Tam thất (三七), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎) và Uất kim (郁金) có thể ảnh hưởng đến đông máu.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết sau phẫu thuật Tâm.
Không tự dùng Phụ tử, Nhục quế, Tế tân hoặc Nhân sâm liều cao khi có rối loạn nhịp, suy tim hoặc huyết áp không ổn định.
Không tự ngừng thuốc hiện đại để chuyển sang thuốc Trung y.
Ăn uống điều dưỡng
Người Hữu vị tâm không có bệnh kèm theo có thể ăn uống như người bình thường.
Nguyên tắc chung gồm:
Ăn đủ chất.
Không quá nhiều dầu mỡ.
Hạn chế thực phẩm chế biến sẵn.
Không hút thuốc.
Hạn chế rượu bia.
Giữ cân nặng phù hợp.
Người suy tim hoặc bệnh Thận cần tuân thủ hướng dẫn riêng về muối và lượng nước.
Thể khí hư
Cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể Tâm huyết hư
Cháo Long nhãn Liên tử: Long nhãn nhục (龙眼肉), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Người béo bụng, đàm thấp hoặc đường huyết cao không nên dùng nhiều Long nhãn.
Thể khí âm hư
Cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể Tỳ hư đàm thấp
Cháo Ý dĩ nhân Phục linh: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Phục linh (茯苓), gạo tẻ.
Dược thiện chỉ hỗ trợ thể chất, không điều chỉnh được vị trí Tâm và không thay thế điều trị dị tật Tâm bẩm sinh.
Sinh hoạt cần chú ý
Báo cho nhân viên y tế
Người có Hữu vị tâm nên báo rõ tình trạng này trong những lần:
Khám bệnh.
Cấp cứu.
Làm điện tâm đồ.
Chụp X-quang hoặc CT.
Thông tim.
Chụp mạch vành.
Đặt catheter.
Phẫu thuật.
Nội soi.
Châm cứu vùng ngực.
Có thể lưu thông tin trong điện thoại, hồ sơ sức khỏe hoặc thẻ y tế.
Khám Tâm bẩm sinh ít nhất một lần đầy đủ
Người phát hiện Tâm nằm bên phải nên được siêu âm Tâm để xác định cấu trúc.
Nếu kết quả bình thường và không có triệu chứng, việc theo dõi tiếp theo căn cứ hướng dẫn của bác sĩ.
Chú ý điện tâm đồ
Điện tâm đồ thông thường có thể bị nhầm với mắc sai điện cực hoặc bệnh lý khác.
Người bệnh nên nói rõ tình trạng Hữu vị tâm trước khi ghi điện tâm đồ.
Chú ý vị trí đau bụng
Ở người đảo ngược phủ tạng, đau do viêm ruột thừa, túi mật, dạ dày hoặc lách có thể xuất hiện ở phía đối diện vị trí thông thường.
Không nên tự kết luận bệnh chỉ dựa trên bên đau.
Theo dõi bệnh hô hấp
Nếu thường xuyên viêm xoang, ho đàm, viêm Phế hoặc giãn phế quản, cần đánh giá rối loạn lông chuyển.
Vận động
Nếu cấu trúc Tâm bình thường, không rối loạn nhịp, không suy tim hoặc tăng áp Phế, người bệnh thường có thể vận động bình thường.
Nếu có dị tật, tím, suy tim hoặc từng phẫu thuật, mức vận động phải theo hướng dẫn chuyên khoa.
Thai kỳ
Phụ nữ có Hữu vị tâm đơn thuần và chức năng Tâm bình thường thường có thể mang thai, nhưng vẫn nên được đánh giá trước thai kỳ.
Nếu có dị tật Tâm, tăng áp Phế, suy tim hoặc rối loạn nhịp, cần được tư vấn Tâm mạch và sản khoa chuyên sâu.
Khám răng và phòng viêm nội tâm mạc
Không phải mọi người có Hữu vị tâm đều cần kháng sinh trước thủ thuật nha khoa.
Chỉ những trường hợp dị tật hoặc can thiệp Tâm thuộc nhóm nguy cơ nhất định mới có chỉ định riêng. Người bệnh không nên tự dùng kháng sinh.
Những điều nên làm
Làm siêu âm Tâm để đánh giá cấu trúc và chức năng.
Xác định có đảo ngược phủ tạng hoặc dị hợp tạng hay không.
Báo cho bác sĩ và kỹ thuật viên biết Tâm nằm bên phải.
Lưu giữ hồ sơ hình ảnh và chẩn đoán quan trọng.
Khám chuyên khoa khi có khó thở, tím, hồi hộp, ngất hoặc đau ngực.
Theo dõi viêm xoang, viêm Phế hoặc giãn phế quản tái phát.
Ăn uống điều độ và vận động theo khả năng.
Tái khám định kỳ nếu có dị tật Tâm bẩm sinh.
Những điều không nên làm
Không hoảng sợ chỉ vì phát hiện Tâm nằm bên phải.
Không dùng thuốc để cố đưa Tâm về bên trái.
Không tự kết luận mọi hồi hộp hoặc khó thở là do vị trí Tâm.
Không bỏ qua tím, ngất, đau ngực hoặc khó thở.
Không để thực hiện điện tâm đồ hoặc thủ thuật mà không báo tình trạng giải phẫu.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết hoặc thuốc bổ Tâm.
Không tập luyện quá sức khi có dị tật, suy tim hoặc tăng áp Phế.
Không dùng châm cứu hoặc bấm huyệt thay thế đánh giá Tâm bẩm sinh.
Chú ý
Hữu vị tâm không nhất thiết là bệnh nặng. Nhiều người có thể sống hoàn toàn bình thường nếu cấu trúc và chức năng Tâm không có bất thường.
Tuy nhiên, khi có tím môi, khó thở, ngất, đau ngực, hồi hộp kéo dài, mệt khi gắng sức, phù, trẻ bú kém hoặc chậm lớn, cần được khám chuyên khoa Tâm bẩm sinh.
Người có Hữu vị tâm phải báo rõ cho nhân viên y tế trước khi ghi điện tâm đồ, đặt catheter, chụp mạch, phẫu thuật hoặc thực hiện thủ thuật.
Nếu có đảo ngược phủ tạng, vị trí đau của bệnh bụng cấp có thể khác thường. Không nên tự chẩn đoán chỉ dựa vào bên đau.
Kết luận
Tim nằm bên phải, hay Hữu vị tâm (右位心), là tình trạng Tâm nằm chủ yếu ở nửa phải lồng ngực và đỉnh Tâm hướng sang phải.
Bệnh có thể xuất hiện đơn độc, đi cùng đảo ngược phủ tạng hoàn toàn hoặc thuộc một tình trạng sắp xếp tạng phức tạp. Ngoài ra, cần phân biệt với Tâm bị đẩy sang phải do bệnh Phế, màng Phế, cơ hoành hoặc lồng ngực.
Nếu cấu trúc và chức năng Tâm bình thường, Hữu vị tâm thường không gây triệu chứng và không nhất thiết làm nguy cơ mắc bệnh Tâm cao hơn.
Điều quan trọng là đánh giá có dị tật Tâm bẩm sinh, rối loạn nhịp, suy tim, tăng áp Phế, rối loạn lông chuyển hoặc đảo ngược các tạng khác hay không.
Trong Trung y, Hữu vị tâm không phải chứng hàn, nhiệt, hư, thực hoặc huyết ứ có thể dùng thuốc để chỉnh sửa vị trí. Khi không có triệu chứng, không cần điều trị Trung y.
Nếu có hồi hộp, mệt, ngủ kém, khí huyết hư hoặc tiêu hóa kém, có thể hỗ trợ theo biện chứng sau khi đã loại trừ bệnh cấu trúc và rối loạn Tâm mạch.
Nói tóm lại, người có Tâm nằm bên phải không nhất thiết dễ mắc bệnh Tâm. Yếu tố quyết định là cấu trúc và chức năng Tâm có bình thường hay không. Việc hiểu rõ giải phẫu, lưu giữ hồ sơ và báo cho nhân viên y tế là những điều thiết thực nhất để bảo đảm an toàn lâu dài.
Trường Xuân Đường biên soạn và tổng hợp