Tài liệu tham khảo:
Viêm cổ tử cung mạn tính là một trong nhiều tổn thương ở cổ tử cung. Thường biểu hiện là tăng tiết dịch âm đạo, dính hoặc có mủ, thậm chí gây cảm giác nặng ở eo và bụng, nặng hơn trước kỳ kinh nguyệt, khi đi đại tiện và quan hệ tình dục. Hơn nữa, nó cũng có thể gây ra các triệu chứng đi kèm như xói mòn cổ tử cung, polyp cổ tử cung, phì đại cổ tử cung và u nang cổ tử cung.
Cổ tử cung là tuyến phòng thủ quan trọng để ngăn chặn các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng. Do đó, cổ tử cung dễ bị các yếu tố gây bệnh và viêm nhiễm khác nhau. Đây là viêm cổ tử cung.
Có hai loại viêm cổ tử cung, cấp tính và mạn tính, trong đó viêm cổ tử cung mạn tính là loại phổ biến nhất. Các bệnh ở phụ nữ chủ yếu là do cổ tử cung bị tổn thương do sinh nở, phá thai và phẫu thuật, hoặc nhiễm trùng tại chỗ do vi khuẩn sau khi kích thích lâu dài. Nó cũng có thể chuyển từ viêm cổ tử cung cấp tính.
Khi bị viêm cổ tử cung mạn tính, biểu hiện quan trọng nhất của nó là khí hư tăng, dính và đôi khi có mủ. Trong những trường hợp nghiêm trọng, cũng có thể có cảm giác nặng ở eo và bụng, có xu hướng trở nên tồi tệ hơn trước kỳ kinh nguyệt, trong khi đi tiêu và quan hệ tình dục.
Khi khám âm đạo, sẽ thấy cổ tử cung của những bệnh nhân bị viêm cổ tử cung mạn tính có một số thay đổi bệnh lý, trong đó xói mòn cổ tử cung là phổ biến nhất. Trong quá trình viêm mạn tính, biểu mô vảy của phần âm đạo của cổ tử cung dần dần bong ra và được thay thế bằng biểu mô trụ của cổ tử cung. Biểu mô trụ mỏng hơn, do đó các mạch máu dưới da dễ bị lộ ra, do đó bề mặt cổ tử cung tại vị trí này luôn có màu đỏ, và vùng màu đỏ là vùng xói mòn cổ tử cung. Theo kích thước của bề mặt xói mòn, có thể chia thành ba mức độ: bề mặt xói mòn nhẹ không vượt quá một nửa bán kính cổ tử cung; vừa phải là bề mặt xói mòn đã đạt đến một nửa bán kính cổ tử cung; bề mặt xói mòn nặng vượt quá một nửa bán kính cổ tử cung hoặc đã đạt đến rìa cổ tử cung.
Polyp cổ tử cung là do tình trạng viêm mạn tính kéo dài ở cổ tử cung, khiến niêm mạc cổ tử cung tăng sinh và hình thành polyp. Polyp nhô ra khỏi lỗ cổ tử cung hoặc ống cổ tử cung, có một hoặc nhiều polyp, thường có cuống. Polyp có màu đỏ và có nhiều mạch máu nên dễ bị chảy máu khi tiếp xúc và đôi khi chảy máu âm đạo không đều. Chúng thường tái phát sau khi cắt bỏ.
Phì đại cổ tử cung là do tình trạng viêm mạn tính lặp đi lặp lại và kéo dài, gây tắc nghẽn, phù nề và tăng sản mô liên kết của mô cổ tử cung.
U nang tuyến cổ tử cung là do tình trạng viêm mạn tính ở cổ tử cung, khiến các tuyến và mô xung quanh tăng sinh và chặn lỗ mở của các ống tuyến, hình thành các nang lưu trữ, gọi là nang cổ tử cung.
Biện pháp khắc phục tại nhà cho viêm cổ tử cung mạn tính
(1) Thoa 20% bạc nitrat vào vùng bị xói mòn, sau đó lau sạch bằng tăm bông thấm nước muối, một lần một tuần, 2 đến 4 lần như một liệu trình điều trị. Nó có thể điều trị tình trạng xói mòn cổ tử cung nhẹ.
(2) Dùng dung dịch kali permanganat 1:5000 để vệ sinh âm hộ hằng ngày.
(3) Lấy mỗi loại Cnidium monnieri, Phellodendron chinense, Sophora flavescens và Cyathula capitata 15 gam, thêm nước đun sôi, vớt bỏ bã, rửa sạch âm đạo khi nước còn hơi ấm.
(4) Lấy các phần bằng nhau của Coptis chinensis, Phellodendron amurense và trà Phellodendron chinense, nghiền thành bột, và bôi 6 gam mỗi lần vào vùng cổ tử cung bị xói mòn, một lần một ngày.
(5) Lấy 500 gam lá ngải cứu và hành tươi, giã nát, xào, cho vào túi, đắp lên âm hộ, chườm nóng bằng túi nước nóng lên trên trong 1 đến 2 giờ.
Sau khi bị viêm cổ tử cung mạn tính, bạn nên chú ý những điều sau:
(1) Đảm bảo nghỉ ngơi, ăn nhiều trái cây, rau và thức ăn nhẹ.
(2) Chú ý vệ sinh kinh nguyệt và vệ sinh âm hộ để phòng ngừa viêm nhiễm
(3) Chú ý vệ sinh trong thời kỳ hậu sản để tránh nhiễm trùng.
(4) Viêm cổ tử cung mạn tính, đặc biệt là xói mòn cổ tử cung, nên được điều trị bằng cách nạo cổ tử cung trước khi điều trị để loại trừ ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu.
(5) Tránh quan hệ tình dục trong quá trình điều trị.
(6) Đối với những người không hồi phục sau khi điều trị lâu dài, có thể thực hiện điều trị phẫu thuật nếu cần thiết.
Các triệu chứng của viêm cổ tử cung mạn tính là gì?
Khi chúng ta khám phụ khoa tại bệnh viện, chúng ta thường nghe bác sĩ nói: “Bạn bị viêm cổ tử cung”. Viêm cổ tử cung được đề cập ở đây chủ yếu là viêm cổ tử cung mạn tính, đây là một căn bệnh phổ biến và thường gặp trong phụ khoa. Hơn một nửa phụ nữ đã kết hôn có thể mắc phải căn bệnh này. Có năm biểu hiện lâm sàng của viêm cổ tử cung mạn tính:
① Xói mòn cổ tử cung: Đây là loại viêm cổ tử cung mạn tính phổ biến nhất. Biểu hiện là một vùng đỏ dạng hạt mịn ở phần âm đạo của cổ tử cung tại lỗ cổ tử cung ngoài.
② Phì đại cổ tử cung: Do tình trạng viêm mạn tính kéo dài gây kích thích, cổ tử cung bị sung huyết và phù nề, các tuyến và mô đệm tăng sinh, khiến cổ tử cung phì đại ở các mức độ khác nhau.
③ Polyp cổ tử cung: Dưới sự kích thích lâu dài của tình trạng viêm mạn tính, niêm mạc ống cổ tử cung tăng sinh cục bộ. Do tử cung có tác dụng đào thải, niêm mạc tăng sinh dần dần nhô ra khỏi lỗ cổ tử cung tạo thành polyp.
④ U nang tuyến cổ tử cung: còn gọi là u nang Nabot, hay gọi tắt là u nang Nabot. Đây là một túi nhỏ màu trắng xanh nhô ra khỏi bề mặt cổ tử cung.
⑤ Viêm nội cổ tử cung: Viêm cổ tử cung. Tình trạng viêm chỉ giới hạn ở niêm mạc ống cổ tử cung và các mô bên dưới. Về mặt lâm sàng, phần âm đạo của cổ tử cung trơn tru, nhưng lỗ cổ tử cung bị tắc nghẽn hoặc bị chặn bởi dịch tiết mủ.
Viêm cổ tử cung mạn tính xảy ra như thế nào?
Viêm cổ tử cung mạn tính phổ biến hơn ở phụ nữ đã sinh nhiều con. Một số ít bệnh nhân bị viêm cổ tử cung cấp tính chưa được chữa khỏi và đã chuyển sang mạn tính; trong khi đại đa số bệnh nhân không có tiến triển bệnh rõ ràng, và một số bệnh nhân không có triệu chứng khó chịu nào sau khi mắc bệnh, hoặc chỉ thấy khí hư tăng lên và chỉ phát hiện ra mình bị viêm cổ tử cung mạn tính khi khám phụ khoa.
Trong trường hợp bình thường, phần âm đạo của cổ tử cung được bao phủ bởi biểu mô vảy tầng, có sức đề kháng mạnh; niêm mạc ống cổ tử cung là một lớp sóng trên hình trụ, có sức đề kháng viêm yếu. Biểu mô vảy và biểu mô trụ gặp nhau ở lỗ cổ tử cung ngoài. Khi cổ tử cung bị tổn thương do sinh nở, phá thai hoặc sinh nở, các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào mô cổ tử cung từ biểu mô trụ. Do niêm mạc cổ tử cung có nhiều nếp gấp nên các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập và ẩn núp ở đó, khiến chúng khó bị loại bỏ. Theo thời gian, chúng có thể gây viêm cổ tử cung mạn tính.
Trung y đối với bệnh viêm cổ tử cung mạn tính được nhìn nhận như thế nào?
Viêm cổ tử cung mạn tính thuộc phạm trù “Đới hạ bệnh” trong phụ khoa Trung y. Cơ chế phát bệnh là do tà khí thấp gây hại, ảnh hưởng đến hai mạch Nhâm và Đới, dẫn đến mạch Đới mất chức năng kiềm chế, mạch Nhâm không kiên cố từ đó phát sinh bệnh. Thấp tà có thể phát sinh do Tỳ hư vận hóa kém khiến thủy thấp không hóa; Hoặc do Thận hư mất chức năng bế tàng; Hoặc do không giữ gìn sức khỏe, bị tà khí thấp từ bên ngoài xâm nhập. Vì vậy, bệnh này có thể phân thành ba thể: Tỳ hư, Thận hư và Thấp nhiệt.
Thể Tỳ hư: Triệu chứng gồm khí hư ra nhiều, liên tục không dứt, màu trắng hoặc vàng nhạt, đặc dính không có mùi, sắc mặt vàng úa, tinh thần mệt mỏi, ăn ít, đại tiện lỏng. Lưỡi nhạt to, rìa có dấu răng, rêu trắng hoặc nhớt, mạch hoãn hoặc nhược.
Thể Thận hư: Có thể chia thành Thận dương hư và Thận âm hư.
– (1) Thận dương hư: Triệu chứng gồm khí hư ra nhiều, nhỏ giọt không dứt, màu trắng trong loãng, đau lưng như gãy, mệt mỏi không sức, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng. Lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch trầm trì.
– (2) Thận âm hư: Triệu chứng gồm khí hư ra nhiều, màu trắng đặc dính, lòng bàn tay chân nóng, phiền nhiệt, chóng mặt ù tai. Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế hoặc sác.
Thể Thấp nhiệt: Triệu chứng gồm khí hư ra nhiều, màu vàng hoặc lẫn máu, đặc dính, hôi thối, tiểu vàng ngắn, đại tiện dính nhớt không thoải mái, hậu môn nóng rát. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch sác hoặc hoạt sác.
Phương pháp điều trị viêm cổ tử cung mạn tính trong Trung y là gì?
Trung y điều trị viêm cổ tử cung mạn tính kết hợp nội trị và ngoại trị. Nội trị là biện chứng phân loại luận trị, ngoại trị gồm dùng thuốc tại chỗ, xông rửa và thụt rửa âm đạo.
Phép trị nội:
(1) Thể Tỳ hư: Trị bằng phép ích khí kiện Tỳ, trừ thấp chỉ đới. Dùng bài Hoàn đới thang (trích 《Phó Thanh Chủ nữ khoa》).
Thành phần: Bạch truật 30g, Sơn dược 30g, Nhân sâm 6g, Bạch thược 15g, Thương truật 10g, Cam thảo 3g, Trần bì 2g, Hắc giới tuệ 2g, Sài hồ 2g, Xa tiền tử (bọc) 10g.
Nếu khí hư ra liên tục không dứt, gia Kim anh tử 15g, Khiếm thực 10g, Long cốt 15g để cố sáp chỉ đới; nếu kèm đau bụng dưới lạnh, gia Ngải diệp 10g, Ô dược 10g để ôn kinh tán hàn.
(2) Thể Thận hư:
① Thận dương hư: Trị bằng phép ôn bổ Thận dương, cố sáp chỉ đới. Dùng bài Hữu quy hoàn (trích 《Cảnh Nhạc toàn thư》) gia giảm.
Thành phần: Thục địa 10g, Lộc giác giao 10g, Thỏ ty tử 10g, Đỗ trọng 10g, Nhục quế 6g, Chế phụ tử 10g, Bổ cốt chỉ 10g, Hoàng kỳ 10g.
Nếu đại tiện lỏng, thêm Nhục đậu khấu 15g để ôn Thận chỉ tả.
② Thận âm hư: Trị bằng phép tư bổ Thận âm, thanh nhiệt chỉ đới. Dùng bài Tri bá địa hoàng thang (trích 《Chứng nhân mạch trị》).
Thành phần: Thục địa 12g, Sơn thù nhục 10g, Sơn dược 10g, Trạch tả 10g, Phục linh 12g, Đan bì 10g, Tri mẫu 10g, Hoàng bá 10g, Câu kỷ tử 12g.
Nếu khí hư ra nhiều, gia Khiếm thực 15g, Ô tặc cốt 10g để cố sáp chỉ đới.
(3) Thể Thấp nhiệt: Trị bằng phép thanh nhiệt lợi thấp chỉ đới. Dùng bài Dịch hoàng thang (trích 《Phó Thanh Chủ nữ khoa》) gia vị.
Thành phần: Sơn dược 18g, Khiếm thực 10g, Hoàng bá 10g, Xa tiền tử (bọc) 10g, Bạch quả 10g, Đan bì 10g, Nhân trần 10g, Ngưu tất 6g.
Nếu kèm Tỳ hư, thêm Hoàng kỳ 30g, Bạch truật sao 10g để kiện Tỳ ích khí.
Phép ngoại trị:
(1) Dùng thuốc tại chỗ:
– Phương ① (trích 《Tân biên phụ nhân đại toàn lương phương》): Mộ đầu hồi 60g, Liên kiều 60g, Phèn chua 30g.
Tán mịn làm bột. Khi dùng, lau sạch dịch tiết âm đạo, lấy khoảng 1g thuốc bột đặt lên bông vô trùng, đưa vào âm đạo sát cổ tử cung, 3 ngày dùng một lần, 3 lần là một liệu trình.
– Phương ② (trích 《Thực dụng nam nữ bệnh tính bệnh lâm sàng thủ sách》): Kim ngân hoa, Cam thảo – lượng bằng nhau.
Tán mịn làm bột. Khi dùng, lau sạch dịch tiết âm đạo, dùng bông vô trùng thấm bột thuốc đặt vào âm đạo, hôm sau lấy ra, dùng liên tục 7 lần là một liệu trình.
Ngoài ra, có thể dùng Tây qua sương hoặc Song liệu hầu phong tán phun lên cổ tử cung để điều trị viêm cổ tử cung mạn tính.
(2) Phép xông rửa:
Phương thuốc (trích 《Nội bệnh ngoại trị》): Dã cúc hoa, Tử hoa địa đinh, Bán chi liên, Ty qua lạc – mỗi vị 30g.
Sắc chung các vị thuốc, dùng để xông và rửa vùng âm hộ, mỗi ngày 1 lần, 7 ngày là 1 liệu trình. Bài thuốc này có công hiệu thanh nhiệt giải độc, lợi thấp chỉ đới, thích hợp dùng cho viêm cổ tử cung thể thấp nhiệt.
(3) Phép thụt rửa âm đạo:
Phương thuốc (trích 《Trung Quốc Trung y độc đặc liệu pháp đại toàn》): Liễu ký nô, Bồ công anh – mỗi vị 60g; Bại tương thảo, Sơn từ cô, Hoàng bá, Khổ sâm, Kim ngân hoa – mỗi vị 30g; Bạch hoa xà thiệt thảo 100g.
Cho các vị thuốc trên sắc lấy 1000ml, đổ vào bình rửa. Khi nhiệt độ thuốc hạ xuống khoảng 20–30℃ thì cho bệnh nhân nằm tư thế bàng quang đẩy sỏi, dùng dụng cụ mở âm đạo rồi tiến hành thụt rửa vùng cổ tử cung, mỗi ngày 1 lần. Bài thuốc có công hiệu thanh nhiệt giải độc, lợi thấp chỉ đới.
Ăn uống điều trị cũng có thể dùng làm biện pháp hỗ trợ. Dưới đây giới thiệu 3 phương pháp ăn uống trị liệu:
Phương thuốc ① (trích 《Thường kiến bệnh chứng đích biện chứng dữ thực liệu》):
Một con gà ác trống; Liên nhục, Bạch quả, Gạo tẻ – mỗi vị 15g; Hồ tiêu 30g.
Làm sạch gà ác, cho các vị thuốc vào bụng gà, nấu nhừ trong nồi đất, ăn khi bụng đói. Bài thuốc có công hiệu kiện Tỳ lợi thấp chỉ đới, thích hợp dùng cho thể Tỳ hư.
Phương thuốc ② (trích 《Thực dụng nam nữ bệnh tính bệnh lâm sàng thủ sách》):
Phỉ thái căn (Rễ hẹ) 50g, trứng gà 2 quả, đường trắng 50g.
Nấu chung thành canh ăn, dùng liên tục vài ngày. Có công hiệu ôn bổ Thận dương, cố sáp chỉ đới, thích hợp với thể Thận dương hư.
Phương thuốc ③ (trích 《Nam nữ khoa dược thiện bí bảo đại toàn》):
Tích hiện căn (Cây dền gai) 30–60g, đường phèn lượng vừa đủ.
Rửa sạch rễ, thái nhỏ, sắc lấy nước, bỏ bã, thêm đường phèn rồi uống. Bài thuốc có công hiệu thanh nhiệt giải độc, lợi thấp chỉ đới, dùng cho thể thấp nhiệt.
Viêm cổ tử cung mạn tính là một bệnh lý rất thường gặp ở phụ nữ.
Phần lớn do viêm cổ tử cung cấp tính không được điều trị triệt để mà chuyển thành mạn tính, thường thấy ở phụ nữ đã lập gia đình, thể trạng yếu. Nguyên nhân thường do tổn thương cổ tử cung trong quan hệ tình dục hoặc khi sinh đẻ, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây bệnh.
Triệu chứng chính là khí hư ra nhiều, thường có dạng chất nhầy hoặc dịch mủ, đôi khi lẫn máu hoặc ra máu sau giao hợp; kèm theo ngứa âm hộ, đau bụng dưới hoặc đau vùng thắt lưng, triệu chứng thường nặng hơn sau khi giao hợp, trong kỳ kinh hoặc khi đi đại tiện.
Chủ yếu điều trị bằng phương pháp điều trị tại chỗ, như đốt điện cổ tử cung, dùng laser, áp lạnh, các chất ăn mòn (như axit cromic, thuốc tím loãng…).
【Hướng dẫn xử trí sau điều trị】
Cách phòng ngừa viêm cổ tử cung mạn tính như thế nào?
Viêm cổ tử cung mạn tính là do kích thích lâu dài của viêm nhiễm, vì vậy cần chú ý vệ sinh hằng ngày, giữ vùng âm hộ sạch sẽ, ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập.
Nên có biện pháp tránh thai phù hợp, cố gắng hạn chế nạo phá thai nhiều lần gây tổn thương cơ học đến cổ tử cung. Các thủ thuật phụ khoa cần được thực hiện bởi bác sĩ có kinh nghiệm, thao tác vô trùng, nhẹ nhàng, tránh nhiễm trùng hoặc tổn thương do y thuật.
Trong thời gian kinh nguyệt và sau sinh nên tuyệt đối kiêng quan hệ tình dục để tránh vi khuẩn xâm nhập khi cơ thể đang yếu.
Trong quá trình điều trị viêm cổ tử cung mạn tính cần kiêng quan hệ tình dục, ngừng dùng thuốc tại chỗ khi đang hành kinh. Trong thời gian điều trị nên tránh ăn đồ cay nóng, dầu mỡ để không làm bệnh kéo dài do thấp nhiệt liên miên không hết, gây tái phát.
Ly Trường Xuân dịch