Tài liệu tham khảo:
Bệnh thấp khớp có ảnh hưởng tới đời sống tình dục không?
Chức năng tình dục không bị mất đi do bệnh thấp khớp, nhưng nỗi đau và gánh nặng về mặt tinh thần do bệnh gây ra sẽ khiến mọi người có cảm giác rằng hoạt động tình dục trở nên khó khăn. Trên thực tế, điều này không đúng và mọi bệnh nhân đều có thể tận hưởng đời sống tình dục trọn vẹn và bình thường.
Ý nghĩa của đời sống tình dục rộng hơn quan hệ tình dục, nó bao gồm nhiều hình thức thể hiện tình yêu. Mỗi người có nhu cầu khác nhau về đời sống tình dục, điều này liên quan đến niềm tin, giá trị và cách nuôi dạy. Ví dụ, nếu người vợ bị viêm khớp và chồng cô ấy hạn chế quan hệ tình dục để tránh gây đau đớn cho cô ấy, người vợ có thể nghĩ rằng chồng không còn yêu cô ấy nữa. Điều này sẽ dẫn đến sự hiểu lầm giữa mọi người, không những không có lợi mà còn làm tổn thương tình cảm của nhau. Rõ ràng, sự giao tiếp giữa hai bên là rất quan trọng trong tình huống này. Điều chúng tôi muốn nói là tình dục thực sự tốt cho những người mắc bệnh thấp khớp vì nó kích thích cơ thể tiết ra hormone vỏ thượng thận và các hóa chất khác có tác dụng giảm đau tự nhiên.
Bệnh nhân mắc bệnh thấp khớp xây dựng kế hoạch vật lý trị liệu như thế nào?
Nhiều bệnh nhân mắc bệnh thấp khớp hy vọng sẽ sớm bình phục sau khi mắc bệnh hoặc cảm thấy rất thất vọng và bất lực. Cả hai thái độ đều không có lợi cho việc phục hồi bệnh tật. Chỉ có sự hợp tác tích cực với các biện pháp y tế và vật lý trị liệu mới có thể giúp vượt qua căn bệnh này. Đầu tiên, bạn sẽ lập kế hoạch điều trị cùng bác sĩ:
(1) Khám sức khỏe tổng quát: Kế hoạch vật lý trị liệu sẽ được xây dựng dựa trên tiền sử bệnh tật và thể thao của bạn, kết hợp với môi trường xã hội của bạn, chẳng hạn như nghề nghiệp, bản chất công việc, điều kiện làm việc, môi trường sống, tình trạng kinh tế, điều kiện dinh dưỡng và cơ sở thể thao.
(2) Khám lâm sàng: Ngoài việc khám bệnh liên quan đến bệnh bạn mắc phải, tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn cũng cần được đánh giá để xác định xem bạn có thể tập thể dục được không, bạn có mắc bệnh nền hoặc chống chỉ định nào khi tập thể dục không.
(3) Chọn 1 đến 2 loại bài tập phù hợp với bệnh nhân và đặt mục tiêu.
(4) Chọn thời gian và địa điểm vật lý trị liệu.
(5) Xem xét việc thực hiện kế hoạch vật lý trị liệu sau mỗi hai tuần hoặc một tháng, xác định bất kỳ khó khăn nào và tự kiểm tra xem các mục tiêu đã đạt được hay chưa.
Làm sao chúng ta có thể kiên trì vật lý trị liệu?
Vật lý trị liệu là một trong những biện pháp tăng cường sức khỏe, phòng ngừa và điều trị bệnh tật, mang lại niềm vui và sự thích thú cho người bệnh. Vì vậy, ngoài sự tự tin và kiên trì, cũng cần phải có một số kỹ năng.
(1) Chọn phương pháp và thời gian tập luyện phù hợp với bạn.
(2) Đặt ra kế hoạch và mục tiêu tập luyện, và kiểm tra xem bạn đã hoàn thành kế hoạch và đạt được mục tiêu hay chưa. Tất nhiên, mục tiêu phải đáng mơ ước và có thể đạt được, không quá cao hoặc quá thấp.
(3) Thực hiện cẩn thận theo kế hoạch. Giai đoạn vật lý trị liệu khó khăn nhất là 6 đến 8 tuần đầu tiên. Nếu bạn quyết tâm tuân thủ và hoàn thành kế hoạch vật lý trị liệu, các bài tập tiếp theo sẽ dễ dàng hơn. Từ tuần thứ 8 đến tuần thứ 10, hiệu quả sẽ xuất hiện, thói quen sẽ được hình thành và bạn sẽ háo hức tập luyện.
(4) Chú ý các hoạt động chuẩn bị trước khi vật lý trị liệu: Ở nước ngoài, loại hoạt động chuẩn bị này còn được gọi là hoạt động khởi động. Nó có thể cải thiện khả năng hưng phấn và phối hợp của hệ thần kinh, tăng cường trạng thái chức năng của các hệ thống và cơ quan khác nhau, đồng thời đóng vai trò khởi động để cơ thể chính thức bước vào trạng thái tập luyện. Tăng cường khả năng vận động của khớp và sự linh hoạt của cơ, ngăn ngừa chấn thương khi chơi thể thao như rách cơ và đứt gân. Các bài tập khởi động thường bao gồm đi bộ nhanh, chạy bộ và vận động nhiều khớp và chân tay, thường mất từ 10 đến 20 phút.
(5) Có động lực: đặt ra mục tiêu cho bản thân, tự lập hợp đồng với bản thân và để gia đình hoặc bạn bè giám sát việc thực hiện của bạn. Tất nhiên, mỗi người có động lực khác nhau. Câu chuyện hài hước sau đây kể về động lực đi vật lý trị liệu của một người đàn ông béo.
Một người đàn ông béo nặng 300 pound nói với người lập kế hoạch ăn kiêng, “Tôi quá béo và không thể tìm được bạn gái.” Người lập kế hoạch ăn kiêng bảo anh ấy ăn mặc chỉnh tề và đợi ở nhà vào sáng hôm sau.
Ngày hôm sau, người đàn ông béo nghe thấy tiếng chuông cửa đúng giờ. Anh mở cửa và nhìn thấy một cô gái xinh đẹp mặc đồ thể thao bó sát. Cô gái mỉm cười nói với anh: “Nếu anh đuổi kịp em, em sẽ cưới anh.” Sau đó, cô quay lại và bắt đầu chạy bộ. Người đàn ông béo không chút do dự, vừa ra ngoài đã đuổi theo cô.
Từ đó trở đi, cô gái ngày nào cũng đến và gã đàn ông béo ngày nào cũng đuổi theo cô. Sau 5 tháng, người đàn ông béo đã giảm được 150 pound và tràn đầy tự tin. Anh quyết định sẽ cố gắng hơn nữa để đuổi kịp cô gái vào ngày hôm sau.
Ngày hôm sau, người đàn ông béo mở cửa như thường lệ khi nghe thấy tiếng chuông. Ngoài cửa là một cô gái béo ú nặng 300 pound mỉm cười nói với anh: “Nếu em đuổi kịp anh, anh phải cưới em.” ——Đây chính là lời khuyên của chuyên gia dinh dưỡng.
Chống chỉ định của vật lý trị liệu đối với bệnh thấp khớp là gì?
Ở giai đoạn cấp tính của bệnh, tình trạng bệnh không được kiểm soát, xuất hiện tình trạng sốt, tình trạng toàn thân nghiêm trọng và rối loạn chức năng các cơ quan, có thể xảy ra các biến chứng nghiêm trọng khi vận động. Ví dụ, nếu bạn bị viêm khớp dạng thấp, bạn nên tránh vận động quá mức cột sống cổ và không tạo áp lực lên cổ, lưng và đầu. Những người bị viêm cột sống dính khớp và viêm khớp vảy nến nên tập thể dục nhẹ nhàng. Các bài tập nhảy và đẩy tạ rất nguy hiểm. Bệnh nhân mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống nên tránh các bài tập nhảy cao và bật nhảy trong khi dùng hormone. Người bệnh loãng xương không nên nâng vật nặng, tránh ngã và không cúi xuống chạm vào chân khi đứng. Hiện tượng Raynaud cần tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột và giữ ấm là rất hữu ích. Những người bị xơ cứng hệ thống nên tránh tắm nước lạnh và hạn chế bơi lội.
(1) Chống chỉ định tập luyện: ① Suy tim hoặc mới bị đau thắt ngực; ② Rối loạn dẫn truyền tim, block nhĩ thất độ 2, độ 3; ③ Nhồi máu cơ tim mới trong vòng 6 tuần; ④ Viêm cơ tim hoặc loạn nhịp tim không kiểm soát được do viêm cơ tim; ⑤ Tăng huyết áp do luyện tập, huyết áp tâm thu vượt quá 33,5 kPa hoặc huyết áp tâm trương vượt quá 16 kPa; ⑥ Rối loạn chuyển hóa đang hoạt động hoặc không kiểm soát được, cường giáp, suy thượng thận; ⑦ Đang mắc bệnh truyền nhiễm, viêm khớp cấp tính hoặc viêm tắc tĩnh mạch.
(2) Các yếu tố cần phải tập thể dục có giám sát: ① Cơn đau thắt ngực khi tập thể dục; ② Lắp máy tạo nhịp tim; ③ Thuốc, chẳng hạn như thuốc chẹn beta, thuốc chẹn hạch thần kinh, v.v.; ④ Béo phì quá mức; ⑤ Thiếu máu não thoáng qua; ⑥ Hen suyễn do tập thể dục; ⑦ Suy thận; ⑧ Thiếu máu, định lượng hemoglobin dưới 7g/dl.
Ly Nguyễn Nghị dịch