Viêm cột sống dính khớp
Viêm cột sống dính khớp (AS) còn được gọi là viêm cột sống loại phong thấp. Căn bệnh này là tình trạng viêm xâm lấn của các khớp cột sống và các mô xung quanh khớp. Thông thường, các khớp cùng chậu bị xâm lấn trước, sau đó đến cột sống thắt lưng, cột sống ngực và cột sống cổ do sự phát triển của tổn thương dần dần xâm lấn, dẫn đến không gian khớp bị mờ, biến mất sự hoà hợp, loãng xương phá hủy đốt sống và hóa thạch dây chằng, dẫn đến chứng dính khớp hoặc gù cột sống. Các triệu chứng chính là đau tại chỗ bị bệnh và hạn chế vận động. Đây là một bệnh phổ biến mà không rõ nguyên nhân.
Những tài liệu tham khảo:
Viêm cột sống dính khớp
Triệu chứng: Bệnh khởi phát chậm, các triệu chứng toàn thân nhẹ, giai đoạn đầu có thể mệt mỏi, các thể trưng (dấu hiệu sống) giảm nhẹ, hay buồn nôn, sốt v.v. Đau lưng dưới, co thắt cơ và dính khớp dần dần xuất hiện, các triệu chứng có xu hướng trầm trọng hơn sau khi nghỉ ngơi và thuyên giảm sau khi tập thể dục. Sau đó, cơn đau ở khớp cùng chậu điển hình sẽ dần dần xuất hiện, và nó sẽ liên quan đến cột sống theo hướng tăng dần, các bộ phận bị ảnh hưởng sẽ dần dần xuất hiện cảm giác đau, nhức, cứng và hạn chế cử động, đồng thời dần dần xuất hiện biến dạng uốn cong. Các triệu chứng trầm trọng hơn vào những ngày âm u hoặc sau khi gắng sức và thuyên giảm sau khi làm ấm hoặc nghỉ ngơi. Viêm mống mắt tái phát thường cùng tồn tại và một số bệnh nhân có thể bị đau thần kinh tọa. Nếu tổn thương lan đến các khớp sườn sống, cũng có thể có hạn chế hoặc mất khả năng mở rộng lồng ngực khi thở và đau dây thần kinh liên sườn.
Ở những bệnh nhân thời kỳ cuối, cột sống cứng ở vị trí biến dạng, cổ và thắt lưng không xoay được, phải xoay cả người khi nhìn nghiêng, trường hợp nặng có thể xảy ra chứng gù cột sống và không thể nhìn về phía trước. Đôi khi bệnh có thể lan sang khớp háng và khớp gối, khi khớp háng bị ảnh hưởng, dáng đi loạng choạng. Với độ cứng xương của vùng bị ảnh hưởng, cơn đau và các triệu chứng khác dần dần biến mất, để lại dị tật suốt đời.
Viêm cột sống dính khớp là gì?
Viêm cột sống dính khớp là một căn bệnh rất cổ xưa, ngay từ hàng nghìn năm trước, bằng chứng về bệnh viêm cột sống dính khớp đã được tìm thấy trong xương của người Ai Cập cổ đại. Trước đây, người ta cho rằng bệnh viêm cột sống dính khớp là loại hình trung khu của bệnh viêm khớp dạng thấp, nhưng với sự phát triển của y học và sự cải tiến của các phương pháp phát hiện, người ta nhận thấy bệnh rất khác với bệnh viêm khớp dạng thấp nên được xếp vào nhóm một căn bệnh độc lập.
Y học hiện đại nhận định, viêm cột sống dính khớp là bệnh viêm mạn tính, tiến triển nặng, tổn thương chủ yếu ở khớp xương cùng, cột sống, mô mềm paraspine và khớp các chi. Bệnh thường khởi phát từ khớp xương cùng, lan dần lên trên gai và các mô paraspine, cuối cùng gây cứng xương. Hiện nay, căn bệnh này được coi là một bệnh khớp âm tính của mô liên kết, và đây là một trong những bệnh đau thắt lưng phổ biến.
Nguyên nhân gây ra bệnh viêm cột sống dính khớp là gì?
Căn nguyên của bệnh viêm cột sống dính khớp vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn, và hiện nay người ta cho rằng có liên quan đến các yếu tố sau:
1/ Yếu tố di truyền: Tỷ lệ mắc bệnh này liên quan chặt chẽ đến yếu tố di truyền, tỷ lệ dương tính với HLA B27 trong bệnh viêm cột sống dính khớp cao từ 90% đến 96%, tỷ lệ dương tính với di truyền gia đình là 23,7%. Tỷ lệ mắc bệnh gia đình thấp khớp gấp 2-10 lần người bình thường, tỷ lệ mắc bệnh viêm cột sống dính khớp gia đình gấp 30 lần người bình thường.
2/ Yếu tố lây nhiễm: Nhiễm trùng niệu sinh dục là một trong những yếu tố quan trọng gây ra bệnh này. Nhiễm trùng vùng chậu lan đến các khớp xương cùng rồi đến cột sống theo đường bạch huyết. Nó cũng có thể lan đến đại tuần hoàn và gây ra các triệu chứng toàn thân ở xung quanh khớp và gân. Và những bệnh biến của màng sắc tố mắt.
3/ Rối loạn nội tiết hoặc rối loạn chuyển hóa: Thấp khớp thường gặp ở nữ giới, viêm cột sống dính khớp thường gặp ở nam giới nên rối loạn nội tiết được coi là có liên quan đến bệnh này. Tuy nhiên, việc sử dụng nội tiết tố để điều trị bệnh thấp khớp chưa đạt được kết quả đáng kể, và mối quan hệ giữa sự mất cân bằng nội tiết tố và căn bệnh này vẫn chưa được khẳng định. Không có sự tăng hoặc giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh thấp khớp hoặc viêm cột sống dính khớp ở bệnh nhân cường hoặc giảm thiểu chức năng tuyến thượng thận.
(4) Các yếu tố khác: Tuổi tác, thể chất, suy dinh dưỡng, khí hậu, thuỷ thổ (chỉ chung về hoàn cảnh tự nhiên và khí hậu), độ ẩm và lạnh. Những yếu tố khác bao gồm chấn thương, bệnh tuyến cận giáp, nhiễm trùng đường hô hấp trên, nhiễm trùng hoá mủ cục bộ, v.v., có thể liên quan đến bệnh này ở một mức độ nhất định, nhưng không đủ bằng chứng.
HLA-B27 là gì?
HLA là tên viết tắt của 3 từ tiếng Anh, H là viết tắt của người (Human), L là viết tắt của bạch tế bào (Leucocyte), A là viết tắt của kháng nguyên (Antigen), là kháng nguyên bạch cầu của loài người (từ đây trở xuống sẽ viết tắt là HLA). HLA là một loại kháng nguyên đặc hiệu cho từng cá nhân được kiểm soát di truyền trên các tế bào mô. Nó được phát hiện lần đầu tiên trên các tế bào bạch cầu và tiểu cầu. Hiện nay nó được tìm thấy phân bố rộng rãi trong màng tế bào của các tế bào có nhân ở các mô và cơ quan như da, thận, lá lách, phổi, ruột và tim. Hội nghị Tương thích Tổ chức Quốc tế lần thứ 8 đã xác định rằng có 92 HLA thuộc 5 locus A, B, C, D và DR, được gọi là HLA-A, HLA-B, HLA-C, HLA-D và HLA. -NS. Có 42 vị trí HLA-B, và B27 là một trong số đó. Người ta đã chứng minh rằng những người dương tính với HLA-B27 có nguy cơ mắc bệnh viêm cột sống dính khớp cao hơn nhiều so với những người âm tính với HLA-B27.
HLA-B27 có dương tính với viêm cột sống dính khớp không?
HLA-B27 có nghĩa là kháng nguyên bạch cầu của người B27, còn được gọi là W-27. Tỷ lệ dương tính có thể cao tới 90% ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp và khoảng 50% người thân cấp một của bệnh nhân viêm cột sống dính khớp HLA-B27 kháng nguyên dương tính, trong khi chỉ có 3% người bình thường dương tính. Đồng thời mắc các bệnh khác như vảy nến, viêm loét đại tràng, bệnh Crohn, bệnh Whipple và các bệnh khác Kháng nguyên HLA-B27 cũng dương tính. Do đó, HLA-B27 dương tính không hẳn là viêm cột sống dính khớp mà chỉ là có khả năng cao hơn. Hiện nay, HLA-B27 vẫn là một trong những phương pháp giúp phát hiện sớm bệnh viêm cột sống dính khớp.
Người âm tính với HLA-B27 cũng có thể bị viêm cột sống dính khớp không?
Tỷ lệ dương tính với HLA-B27 ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp được báo cáo rất khác nhau giữa các quốc gia, một số báo cáo thấp là 22%, đa số là 90% và một số báo cáo cao tới 100%. Mặt khác, những dữ liệu này cho thấy 10% đến 78% bệnh nhân viêm cột sống dính khớp không có HLA-B27, tức là những người âm tính với HLA-B27 thì họ cũng bị viêm cột sống dính khớp, điều này cho thấy rằng HLA-B27 là hoàn toàn không liên quan đến bệnh viêm cột sống dính khớp.
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm cột sống dính khớp là gì?
Chẩn đoán xác định bệnh viêm cột sống dính khớp chủ yếu có 6 chỉ số sau:
1/Viêm khớp sacroiliac là một trong những cơ sở chính để chẩn đoán bệnh này, và các khớp sacroiliac bình thường hầu như có thể loại trừ bệnh này. Những thay đổi trên X quang của khớp sacroiliac sớm hơn những thay đổi trên X quang của cột sống, điều này có lợi cho việc chẩn đoán sớm. Các biểu hiện X-quang của viêm xương cùng được chia thành ba giai đoạn. Ở giai đoạn đầu, rìa khớp bị mờ và hơi đặc, khe khớp bị giãn rộng. Ở thời kỳ giữa, khoang khớp hẹp lại, tăng sản mép khớp và ăn mòn xen kẽ, lởm chởm, dải đặc của xương cùng bên giãn rộng, chiều rộng tối đa có thể đạt tới 3cm. Ở giai đoạn muộn, có thể thấy khoang khớp biến mất, dải nén xương biến mất, ổ xương thông qua, lúc này đã bị dính khớp cổ chân.
2/ Đau và cứng cột sống ngực.
3/ Đau thắt lưng và dính khớp đã hơn 3 tháng và không thể thuyên giảm ngay cả khi nghỉ ngơi.
4/ Vận động cột sống thắt lưng hạn chế.
5/Hạn chế mở rộng lồng ngực.
6/Viêm mống mắt hoặc các bệnh thứ phát khác.
Mục đầu tiên của 6 chỉ số trên có thể được chẩn đoán bằng cách thêm một mục khác. Bốn trong số năm hạng mục cuối cùng cũng có thể được chẩn đoán.
Chụp X-quang khớp xương cùng ở vị trí nào tốt nhất cho bệnh nhân viêm cột sống dính khớp?
Viêm khớp Sacroiliac được xác nhận qua phim X-quang hiện được công nhận là điều kiện cần thiết để chẩn đoán bệnh viêm cột sống dính khớp. Vì vậy, việc lựa chọn một vị trí thích hợp để chụp phim khớp sacroiliac nhằm thể hiện rõ nhất vị trí và mức độ tổn thương có ý nghĩa rất lớn đối với việc xác định chẩn đoán. Theo kinh nghiệm nước ngoài, chụp phim trước khớp sacroiliac đủ thấy rõ bệnh lý khớp sacroiliac hai bên, phim xiên hay các phim khác đều không giúp tăng tỷ lệ dương tính nên không cần thiết dùng. Tại Bệnh viện trực thuộc Trường Cao đẳng Y tế Sán Đầu Quảng Đông, sau khi nghiên cứu so sánh phim xẹp khớp trước và xiên của bệnh nhân viêm cột sống dính khớp, người ta thấy rằng kết quả phim chụp trước tốt hơn phim xiên, điều này phù hợp với kết luận của các quan sát ở nước ngoài.
Các triệu chứng chính của bệnh viêm cột sống dính khớp là gì?
Căn bệnh này phần lớn xuất hiện ở nam giới trẻ, bệnh khởi phát chậm, khởi phát và thuyên giảm xen kẽ. Các triệu chứng ban đầu nhẹ và dễ bị bỏ qua. Bộ phận chính của bệnh là cột sống, tức là vùng thắt lưng, ngực và cổ xuất hiện các triệu chứng từ khớp xương cùng theo chiều từ dưới lên trên, khi bắt đầu bệnh, người bệnh thỉnh thoảng bị đau và cứng vùng lưng dưới, xương cùng và mông. Khoảng 10% bệnh nhân bị đau dọc theo hông, cơ gấp của đùi và bắp chân tỏa xuống dưới (phân bố dọc theo dây thần kinh tọa), nhưng khám thần kinh nói chung không có kết quả khả quan. Sau nhiều tháng hoặc nhiều năm, các triệu chứng của bệnh nhân dần trở nên tồi tệ hơn, đồng thời xuất hiện các cơn đau thắt lưng, ngực hoặc cổ dai dẳng, thường thức giấc vào nửa đêm và khó trở mình. Người bệnh cần đứng dậy và đi lại để giảm nhẹ. Khi bệnh tiến triển, cột sống ngực và các khớp đốt sống bên cạnh có thể bị thở kém hoặc đau ngực hình dải. Khi bệnh biến ảnh hưởng đến cột sống cổ thì hoạt động của cột sống cổ bị hạn chế. Cuối cùng, toàn bộ cột sống có thể bị cứng và một số có thể bị chứng gù lưng lệch (kyphosis ) nghiêm trọng. Khi đứng hoặc đi bộ, mắt không thể nhìn lên, chỉ có thể nhìn thấy một mảnh đất nhỏ trước bàn chân; thể tích của lồng ngực và khoang bụng giảm, tim phổi, chức năng và chức năng tiêu hóa bị suy giảm rõ rệt.
Bệnh nhân bị viêm cột sống dính khớp có bị viêm mắt không?
Hồng mạc tiệp trạng thể viêm (Iridocyclitis) là một tổn thương viêm của mắt, thường biểu hiện là đau nhãn cầu, sung huyết và sợ ánh sáng. Khoảng 25% bệnh nhân bị viêm cột sống dính khớp, Iridocyclitis (viêm mống mắt) có thể xảy ra trong quá trình của bệnh. Hầu hết bệnh nhân viêm cột sống dính khớp xảy ra vài ngày hoặc vài năm trước khi các triệu chứng của viêm cột sống dính khớp xuất hiện. Tại thời điểm này, rất khó để kết luận rằng viêm mống mắt có liên quan đến viêm cột sống dính khớp hay không; Cũng có một số bệnh nhân sau khi xuất hiện các triệu chứng của viêm cột sống dính khớp vài ngày đến 20 năm thì phát sinh chứng viêm mống mắt. Viêm mống mắt có thể gặp ở một bên hoặc cả hai bên, cũng có thể xảy ra xen kẽ cả hai bên. Tình trạng viêm kéo dài khoảng nửa tháng, cũng có thể rất ngoan cố, kéo dài không khỏi hoặc tái phát nhưng hiếm khi dẫn đến mù lòa. Sự xuất hiện của viêm mống mắt không có mối quan hệ rõ ràng với mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng viêm khớp ngoại biên hoặc viêm đốt sống trong viêm cột sống dính khớp.
Bệnh nhân viêm cột sống dính khớp nên chọn thuốc điều trị như thế nào?
Hiện nay, chưa có phương pháp đặc trị đặc hiệu để ngăn chặn hoàn toàn tiến triển của viêm cột sống dính khớp. Mục đích chính trong điều trị là giảm đau, giảm viêm, tăng cường vận động, cũng như duy trì tư thế và chức năng tốt. Thuốc Indomethacin (còn gọi là Tiêu Viêm Thống, hoạt chất indomethacin) có tác dụng kháng viêm, giảm đau và hạ sốt khá mạnh; liều dùng thường là 25mg, ngày 3 lần, uống ngay sau bữa ăn.
Diclofenac (biệt dược Voltaren, Feloran, F.th.a.l.i.n, thường gọi Futa Lin, “Futalin”) cũng có tác dụng kháng viêm, giảm đau mạnh hơn Indomethacin, ít tác dụng phụ hơn, lại có dạng thuốc giải phóng chậm (sustained-release), nên có thể giảm số lần dùng xuống 2 lần/ngày. Liều thường dùng dạng viên bao tan trong ruột (enteric-coated) là 25–50mg, ngày 3 lần. Đây là loại thuốc đáng được ứng dụng trên lâm sàng.
Những thuốc kháng viêm tốt khác trong viêm cột sống dính khớp còn có Naproxen, Ibuprofen v.v. Các thuốc nêu trên thường cần điều trị liên tục nhiều tháng, cho đến khi các triệu chứng được kiểm soát hoàn toàn hoặc biến mất, sau đó giảm liều từ từ. Tốt nhất, nên duy trì bằng liều tối thiểu có thể kiểm soát được triệu chứng, duy trì trạng thái không triệu chứng trong khoảng nửa năm. Khi dùng các thuốc này, phải chú ý tác dụng phụ như kích ứng tiêu hóa, tổn thương gan-thận, đau đầu, phù nề… Trước và sau điều trị nên định kỳ kiểm tra máu, nước tiểu, cũng như chức năng gan, thận.
Bệnh nhân viêm cột sống dính khớp có nên dùng corticoid không?
Tình trạng viêm khớp ngoại vi, viêm khớp cùng-chậu hay viêm cột sống trong viêm cột sống dính khớp không phải là chỉ định dành cho corticoid. Bởi lẽ, các triệu chứng này có thể đáp ứng rõ với thuốc kháng viêm không steroid và sulfasalazine (ví dụ: Salazopyrin). Về phương diện tổn thương khớp, dùng corticoid không phù hợp. Tuy vậy, khoảng 25% số bệnh nhân viêm cột sống dính khớp trong quá trình bệnh có thể gặp viêm mống mắt – thể mi (viêm mống mắt thể mi, hay iridocyclitis). Trường hợp này, sau khi bác sĩ nhãn khoa chẩn đoán xác định, cần bắt đầu điều trị với corticoid. Nếu nhẹ, có thể nhỏ mắt dung dịch hydrocortison 0,5% mỗi ngày 4 lần; một số ca nặng phải dùng prednisolon đường toàn thân. Mọi điều trị corticoid đều phải theo hướng dẫn của bác sĩ.
Trung y điều trị viêm cột sống dính khớp như thế nào?
Phương pháp điều trị viêm cột sống dính khớp bằng phương pháp Trung y dựa trên nguyên tắc bổ thận mạnh eo lưng, kèm theo trừ đàm hỏa. Đối với những người bị suy thận-dương, dùng Hữu quy hoàn hợp với thang Nhị trần gia giảm
; Đối với những người bị suy thận-âm, dùng Tri bá địa hoàng hoàn hợp thang Nhị trần gia giảm.
Đối với chứng nhiệt nặng thêm Hoàng bá, Tri mẫu (chắc là tăng lượng vì đã có sẵn), Sinh địa, Huyền sâm, Thạch cao để thanh nhiệt, tư âm: Đối với chứng đau nặng thì thêm Tế tân, Quế chi, Huyền hồ để thông lạc trị đau. Nước sắc vị thuốc Lôi công đằng có hiệu quả trị liệu nhất định. Cục bộ có thể dùng thuốc cao dán thư cân hoạt lạc như Bảo trân cao, Định thống cao, hoặc dùng dầu Xạ hương phong thấp bôi ngoài cũng có hiệu hiệu quả giảm đau nhất định.
Những phương pháp điều trị viêm cột sống dính khớp nào không dùng thuốc?
Vật lý trị liệu và xoa bóp có tác dụng bổ trợ cho việc điều trị căn bệnh này. Thường được sử dụng là bức xạ hồng ngoại, siêu âm, vi sóng, liệu pháp sáp, tắm nước nóng, Li tử đạo nhập, v.v. Người bệnh cũng có thể tự xoa bóp, xoa bóp vùng da khớp bằng lòng bàn tay, day véo các cơ. Cả vật lý trị liệu và xoa bóp đều có thể thúc đẩy tuần hoàn máu và loại bỏ máu ứ, thư giãn cơ, mở rộng mạch máu, cải thiện vận hành máu và thúc đẩy sự hấp thụ các sản phẩm gây viêm. Khi biến dạng tiến triển ngoan cố, nó có thể được điều chỉnh bằng stent hoặc thiết bị. Lực kéo da hoặc kéo xương phù hợp với những người dị tật không quá nghiêm trọng và tồn tại trong thời gian ngắn, khớp háng có thể dùng vật thể nặng từ 4 ~ 6kg, khớp gối từ 2 ~ 4kg. Có thể thực hiện phẫu thuật cắt bỏ bao hoạt dịch, cắt bỏ khớp, ly giải, hợp nhất, tạo hình và thay khớp nếu điều trị bảo tồn không thành công.
Bệnh nhân viêm cột sống dính khớp có nên kiên trì tập thể dục trị liệu?
Bệnh nhân viêm cột sống dính khớp và người nhà của họ thường giữ cho các khớp bị bệnh ở trạng thái bất động hoàn toàn hoặc cơ bản trong một thời gian dài nhằm tránh hoặc giảm bớt tình trạng đau khớp cho người bệnh, điều này dẫn đến teo cơ, co dính khớp, các khớp và các chi không tổn hại nghiêm trọng và có thể được phục hồi hoàn toàn nhưng thực tế lại tàn phế mất khả năng vận động hoặc ở trạng thái tàn phế. Phương pháp đúng là chủ động tiếp nhận điều trị bằng thuốc chống viêm để kiểm soát cơn đau khớp và thực hiện các hoạt động khớp một cách kịp thời, thận trọng và từ từ. Trong giai đoạn cấp của bệnh, giúp khớp vận động nhẹ nhàng 1, 2 lần trong ngày sao cho vừa tầm đau, giúp khớp giảm co rút. Khi không vận động, khớp bị viêm cấp tính nên được đặt ở vị trí thích hợp và hoặc cố định bằng nẹp, để duy trì một số chức năng trong trường hợp co rút và biến dạng không thể tránh khỏi mà không thể điều chỉnh trong tương lai. Trong giai đoạn bán cấp tính và mãn tính của bệnh, nên tuân thủ các bài tập kéo giãn tứ chi và cột sống, đồng thời tăng dần số lượng, thời gian và tần suất hoạt động tùy theo khả năng chịu đau. Cần cho người bệnh hiểu rằng việc kiên trì hoạt động của các bộ phận là rất quan trọng, sau khi các triệu chứng đau đã hoàn toàn biến mất và ngừng điều trị bằng thuốc thì nên tiếp tục vận động trong thời gian dài.
Dùng mọi khả năng để giữ cho các khớp ở trạng thái chức năng bình thường.
Chữa viêm cột sống dính khớp bằng phương pháp thủ công như thế nào?
Liệu pháp xoa nắn có hiệu quả đối với bệnh viêm cột sống dính khớp giai đoạn đầu, có tác dụng giảm đau, giúp cột sống và khớp háng phục hồi chức năng vận động, giảm dính khớp, ngăn ngừa xuất hiện biến dạng gù lưng hoặc làm chậm sự phát triển của biến dạng. Các phương pháp điều trị cụ thể như sau:
(1) Bệnh nhân nằm sấp: Kê lần lượt 2 đến 3 gối ở ngực trên và mặt trước của đùi, sao cho ngực và bụng lơ lửng trên không, đồng thời hai tay khuỵu trước đầu. Bác sĩ đứng sang một bên dùng cột sống và hai bên sống lưng của bệnh nhân thực hiện các động tác điều trị lên xuống, đồng thời dùng lòng bàn tay kia ấn dọc theo sống lưng, khi ấn thì ấn xuống theo nhịp thở của bệnh nhân. Khi thở ra thì nhấn xuống và hít vào, hít vào thì thả lỏng.
(2) Kết nối tiềm năng: Dùng ngón tay ấn vào kinh tuyến bàng quang ở cả hai bên cột sống và huyệt Trật biên, Hoàn khiêu, Cư liêu? ở mông.
(3) Bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa: Phần trước của khớp háng được điều trị theo phương pháp cổn (lăn), co gập khớp háng, vận động xoay ngoài thụ động. Sau đó nắm lấy cơ đùi trong và xoa đùi.
(4) Bệnh nhân ở tư thế ngồi: Y sinh đứng sau áp dụng phương pháp tài cổn (lăn) cho cả hai bên cổ và bả vai, đồng thời xoay cổ và chếch sang trái phải rồi ấn hoặc đẩy hai bên. của cột sống cổ lên xuống Sau đó ấn và day hoặc đẩy hai bên cột sống cổ lên xuống, qua lại vài lần, bấm huyệt Phong trì và day hai bên xương sống cổ đến huyệt Kiên tỉnh.
(5) Kết nối với tư thế trên: hướng dẫn bệnh nhân gập hai khuỷu tay, ôm lấy vùng chẩm sau đầu, hai ngón tay đan chéo nhau. Bác sĩ đứng phía sau, kê đầu gối vào lưng bệnh nhân, sau đó dùng hai tay giữ lấy khuỷu tay của bệnh nhân, đồng thời thực hiện các động tác ưỡn ngực, ưỡn người kéo ra sau, gập người về phía trước. Khi thực hiện hoạt động thụ động này, bệnh nhân nên phối hợp với động tác thở (thở ra khi cúi người về phía trước, hít vào khi ngả người ra sau). Cúi ngửa từ 5~8 lần.
(6) Bệnh nhân ở tư thế ngồi: Để hở lưng dưới, uốn cong thân trên về phía trước, bác sĩ đứng sang một bên, đồng thời dùng lực ép khuỷu tay vào hai bên cột sống. Sau đó xoa trực tiếp lên mạch đốc trên lưng và hai bên kinh bàng quang hai bên, xoa ngang xương cùng, xoa đều đến mức nóng lên, và có thể chườm nóng thêm.
Trung y nhận thức như thế nào về bệnh viêm cột sống dính khớp?
Trung y cho rằng bệnh phần lớn là do ngoại cảm hàn thấp, thấp nhiệt xâm nhập, tổn thương do té ngã, đánh đập, huyết ứ làm trở tắc lạc mạch, khí huyết vận hành không dễ dàng, hoặc bẩm sinh không đầy đủ, thận tinh hư thiểu, xương cốt không được nuôi dưỡng dẫn đến bệnh.
1/Phong hàn thấp xâm nhập từ bên ngoài: Do ở lâu nơi ẩm thấp giá lạnh , hay lội nước dầm mưa, lao động xuất mồ hôi mà gặp gió, quần áo ướt lạnh, hoặc khí hậu biến đổi mạnh, lạnh nóng đan xen nhau khiến phong hàn thấp xâm nhập cơ thể, xâm nhập kinh lạc lưu lại xương khớp, khí huyết bị trở ngại mà hình thành bệnh này.
2/ Thấp nhiệt tẩm dâm (tràn ngập) ẩm nóng quanh năm, hoặc suốt mùa hè dài, nóng ẩm bốc hơi hoặc lạnh ẩm lâu ngày tích tụ, trở trệ thành nhiệt, tà nhiệt ngấm vào kinh lạc, khí huyết vận hành tắc nghẽn, cơ xương không được nuôi dưỡng là căn nguyên của bệnh.
3/ Huyết ứ gây trở ngại lạc mạch: Tổn thướng do té ngã, tổn thương eo lưng, ứ huyết đình trệ ở trong, kinh mạch bị trở ngại nên khí huyết vận hành không thông suốt, gân xương không được nuôi dưỡng nên gây bệnh.
4/ Thận tinh suy hư: Bẩm thụ tiên thiên không đầy đủ, cộng thêm lao lực quá độ, hoặc bệnh lâu ngày thân thể hư nhược, hoặc người cao tuổi thân thể suy yếu, hoặc không tiết độ phòng thất dẫn đến thận tinh suy tổn, gân xương không được nuôi dưỡng mà phát bệnh.
Tóm lại, bẩm thụ tiên thiên không đầy đủ, thận tinh suy yếu, gân cốt không được nuôi dưỡng là cơ sở bệnh lý chủ yếu của bệnh, mà các yếu tố như hàn thấp gây trở ngại, quá nhiều thấp nhiệt, ứ huyết gây tắc nghẽn lạc mạch, khí huyết vận hành không thông suốt là những nhân tố cơ bản để phát sinh bệnh.
Tây y nhận thức bệnh viêm cột sống dính khớp như thế nào?
(1) Nguyên nhân
Căn nguyên của căn bệnh này hiện chưa rõ ràng, nhưng có lẽ nó liên quan đến các yếu tố sau đây trong các báo cáo nghiên cứu chung trong và ngoài nước.
① Yếu tố di truyền: Viêm cột sống dính khớp có khuynh hướng di truyền gia đình mạnh hơn so với bệnh viêm khớp dạng thấp. Mức độ sưu tập của gia đình là khoảng 40. Bệnh nhân AS dương tính với kháng nguyên HLA-B27, trong số những người thân cấp 1 của họ, khoảng 51% dương tính với kháng nguyên HLA-B27.
② Yếu tố lây nhiễm: Một số người cho rằng nhiễm trùng đường sinh dục là yếu tố quan trọng gây ra bệnh này. Bệnh nhân nam phần lớn là do tuyến tiền liệt viêm túi tinh, viêm nhiễm có thể qua bạch huyết hoặc tĩnh mạch đến các khớp xương cùng, sau đó đến cột sống, lan đến tuần hoàn chung tạo ra các triệu chứng toàn thân và các bệnh như khớp, gân ngoại biên.
③Các yếu tố khác: Bao gồm chấn thương, bệnh tuyến cận giáp, lao phổi, nhiễm độc chì, nhiễm trùng đường hô hấp trên, bệnh lậu, nhiễm trùng mủ cục bộ, khiếm khuyết nội tiết và chuyển hóa, dị ứng, v.v., tất cả đều có thể là nguyên nhân của bệnh này, nhưng bằng chứng là không đủ. Nó cần được xác nhận bằng nghiên cứu chuyên sâu.
(2) Bệnh lý
Mặc dù AS là một bệnh khác với bệnh viêm khớp dạng thấp, nhưng ở giai đoạn đầu, bệnh lý của cả hai rất giống nhau. Cả hai đều bắt đầu bằng viêm bao hoạt dịch được đặc trưng bởi mô hạt tăng sinh. Lúc này, soi bằng kính hiển vi cho thấy màng hoạt dịch dày lên, hình thành nhung mao, thâm nhiễm tế bào huyết tương và tế bào lympho, các tế bào viêm này hầu hết tập trung quanh các mạch máu nhỏ có hình dạng giống cái tổ. Không giống như viêm khớp dạng thấp, các tổn thương viêm mãn tính không liên quan đến tổn thương hoạt dịch cũng có thể xảy ra ở các xương lân cận.
Các tổn thương thường bắt đầu từ khớp xương cùng, rồi xâm lấn dần đến cột sống thắt lưng, cột sống ngực và cuối cùng là cột sống cổ. Các khớp như vai, hông, xương sườn, thân xương ức và xương mu cũng thường có liên quan. Có khoảng 25% bệnh nhân mắc cùng lúc các bệnh về khớp ngoại vi như khớp gối, cổ chân.
Các tổn thương giai đoạn cuối của bệnh viêm cột sống dính khớp hoàn toàn khác với bệnh viêm khớp dạng thấp. Trong bệnh viêm cột sống dính khớp, sự phá hủy khớp tương đối nhẹ nên tiêu xương hoặc trật khớp hiếm khi xảy ra, nhưng hiện tượng hóa lỏng bao khớp và dây chằng rất nổi bật. Vì vậy, sự cứng nhắc của xương dễ xảy ra cuối cùng.
Viêm cột sống dính khớp, các biến đổi bệnh lý của dây chằng, gân, bao khớp và bao khớp xương hủy hoại là rất đặc trưng. Mô hạt tại chỗ này không chỉ phá hủy xương hủy mà còn lan vào dây chằng, bao gân hoặc bao khớp. Trong quá trình sửa chữa mô, xương được tạo ra quá nhiều và quá mức, mô xương mới không chỉ lấp đầy chỗ khuyết của xương hủy mà còn kéo dài ra các dây chằng, gân hoặc bao khớp lân cận để tạo thành các tế bào sinh xương dây chằng.
Sự tăng sinh và phát triển của các tế bào tạo xương dây chằng (bao gồm cả gân và các tế bào tạo xương bao khớp) cuối cùng có thể dẫn đến chứng dính khớp. Sự thay đổi này rõ ràng nhất ở khớp háng.
Bệnh viêm cột sống dính khớp ở tim khá đặc trưng: đó là van động mạch chủ phì đại, xơ hóa nổi rõ nhất là vòng động mạch chủ phình to kèm theo phình xoang Va lsalva, các sợi đàn hồi ở lớp giữa của động mạch chủ bị phá hủy và thay thế bằng mô sợi.
Tỷ lệ mắc bệnh viêm cột sống dính khớp là bao nhiêu?
Viêm cột sống dính khớp (AS) là một bệnh phổ biến chưa rõ căn nguyên. Tỷ lệ mắc bệnh này thay đổi tùy theo thành phần giới tính và độ tuổi của dân số, nhưng bệnh thường gặp ở nam giới hơn, từ năm 1959 đến năm 1982, theo thống kê của 5 tác giả, tỷ lệ nam nữ từ 9: 1. và 14: 1. Theo các báo cáo tổng hợp của Kellgren từ các tác giả khác nhau, tỷ lệ mắc bệnh này chiếm trung bình khoảng 0,1% dân số, ước tính sẽ có khoảng 1 triệu bệnh nhân bị viêm cột sống nặng trên 1 tỷ dân của đất nước.
Chủ tịch Hiệp hội Thấp khớp học Quốc gia, Giáo sư Trương Nãi Tranh thuộc Đại học Y tế Công đoàn Bắc Kinh, đã điều tra tỷ lệ dân số bình thường ở ngoại ô Bắc Kinh từ 3 đến 5 trên 1.000; Tăng Độ Dư báo cáo rằng tỷ lệ mắc ở dân số bình thường là 1,97 trên 1.000, và Tôn Quý Điền báo cáo rằng nó là 1 trên 1.000 0,6, Trương Phong Sơn báo cáo 0,9 phần nghìn ở khu vực núi cao phía bắc; Sơn tây Giao Thành Quách Lai Vượng báo cáo 0,2 phần nghìn. Báo cáo trên thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 1% của người da trắng ở Châu Âu, Châu Mỹ và Canada. Tỷ lệ giới tính là 8,7: 1-19: 1.
AS nguyên phát thường phát triển ở tuổi 10 và 20, nhưng AS vị thành niên (một dạng phụ của bệnh đa bệnh mãn tính vị thành niên) có thể phát triển ở độ tuổi trẻ hơn và AS thứ phát xảy ra ở mọi lứa tuổi.
Cần kiểm tra những gì để chẩn đoán bệnh viêm cột sống dính khớp?
(1) Kiểm tra tốc độ lắng hồng cầu: Ở giai đoạn sớm và hoạt động, 80% bệnh nhân có tốc độ lắng hồng cầu nhanh, ở giai đoạn không hoạt động và muộn, tốc độ lắng hồng cầu hầu hết giảm xuống mức bình thường.
(2) Xét nghiệm dịch não tủy: Protein dịch não tủy tăng nhẹ (45mg%-60mg%), nhất là những trường hợp có đau thần kinh tọa phức tạp.
(3) Xét nghiệm kháng nguyên tương hợp mô: Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra rằng hơn 90% bệnh nhân dương tính với kháng nguyên tương hợp mô HLA-B27 và chỉ có 5% đến 6% người da trắng da trắng bình thường dương tính.
(4) Kiểm tra bằng tia X
① Thay đổi ở khớp sacroiliac (hai xương trong khung chậu): Viêm khớp sacroiliac là một trong những cơ sở chính để chẩn đoán bệnh này. Trong giai đoạn đầu, các rìa của khớp sacroiliac bị mờ và hơi đặc, khoang khớp bị giãn rộng. Khe khớp giữa hẹp, tăng sản mép khớp và ăn mòn xen kẽ, lởm chởm, giãn rộng, rộng tới 3cm, khoang khớp biến mất ở giai đoạn muộn, dải ép xương biến mất, xương trabecula đi qua, và nó đã trở thành chất xương cứng.
② Những thay đổi ở cột sống: a/ Những thay đổi trong xơ hoá vòng sợi: Xơ hóa hình khuyên là một trong những đặc điểm của bệnh này, và thường gặp nhất ở những trường hợp vào thời kỳ cuối. Khi vòng xơ của toàn bộ cột sống bị hoá xương, cột sống có hình dạng giống như cây tre nên được gọi là xương sống đốt tre. b/ Viêm thân đốt sống trước và đốt sống vuông: Bờ trước và trên của thân đốt sống bị ăn mòn và biến mất, xương được làm mới lại sau dây chằng dọc trước nên chỗ lõm bình thường của bờ trước thân đốt sống biến mất và trở thành thẳng nên thân đốt sống Trên phim chụp Xquang hình vuông, một số còn nhô ra phía trước nên gọi là đốt sống hình vuông. c/ Sự thay đổi của các khớp giữa các mặt khớp: Ăn mòn khớp xảy ra đầu tiên, sau đó là thu hẹp khoang khớp, cuối cùng là hiện tượng cứng khớp. d/ Cốt hóa các dây chằng dọc sống lưng: Sau khi hóa xương các đốt sống, các dây chằng trên, dây chằng liên đốt, dây chằng flavum, dây chằng dọc trước,… đều lần lượt bị cốt hóa. e. Phá hủy và trật khớp thân đốt sống: Sau khi toàn bộ cột sống bị cứng khớp, có thể xảy ra gãy xương do mỏi ở cột sống ngực. Trên phim X-quang của ổ gãy sớm có thể thấy tổn thương tương tự như lao cột sống, sau này sẽ xuất hiện mô sẹo bất thường, nhưng bóng của áp xe lạnh sẽ không bao giờ xuất hiện. Nếu bạn chụp ảnh uốn và duỗi, bạn có thể thấy vòm đốt sống bị nứt cũng có các đường gãy bất quy tắc đi qua. Ở những bệnh nhân riêng lẻ ở giai đoạn nặng, có thể xảy ra hiện tượng tràn dịch quanh trục tương tự như viêm khớp dạng thấp.
③ Thay đổi ở khớp háng và khớp gối: Có thể thấy tình trạng loãng xương, sưng bao khớp và giảm các màng đệm trong giai đoạn đầu của khớp háng. Ở giai đoạn giữa, có thể có hẹp khoang khớp, thay đổi dạng nang ở các mép khớp, hoặc tăng sản xương (u xương dây chằng) ở các mép ngoài của bao khớp và chỏm xương đùi. Ở giai đoạn muộn, ổ khớp bị xâm nhập hoặc khớp bị dính khớp. Sưng mô mềm và loãng xương có thể thấy ở giai đoạn đầu của khớp gối, hẹp khoang khớp ở giai đoạn giữa, cứng xương ở giai đoạn muộn, cứng chủ yếu ở tư thế gấp.
④ Thay đổi điểm bám của gân: Chất lượng xương của điểm bám gân của ống đẳng trục không mịn, có hiện tượng ăn mòn không đều và xương mới, hình dạng xương nhung mao. Tại chỗ đính kèm của apxe thần kinh thực vật của bao xương ống, có thể thấy các tế bào sinh xương dây chằng khổng lồ, với xương dày đặc và ăn mòn không đều.
Kiểm tra Xquang đặc biệt có ý nghĩa như thế nào trong chẩn đoán bệnh viêm cột sống dính khớp?
Chụp cắt lớp vi tính (CT): Đối với những trường hợp nghi ngờ về mặt lâm sàng nhưng không thể chẩn đoán bằng X-quang, có thể thực hiện CT. Nó có thể hiển thị rõ ràng không gian khớp sacroiliac, thuận tiện cho việc xác định xem không gian khớp được mở rộng, thu hẹp, cứng hay cứng một phần.
Cộng hưởng từ (MRI) và Chụp cắt lớp điện toán phát xạ đơn (SPECT): Các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu 36 bệnh nhân, trong đó 24 bệnh nhân bị đau thắt lưng do viêm và 12 bệnh nhân bị đau thắt lưng do áp lực cơ học. Khớp sacroiliac bình thường khi chụp X-quang tiêu chuẩn. Tuy nhiên, kiểm tra MRI: 54% bệnh nhân đau thắt lưng do viêm và 17% bệnh nhân đau thắt lưng cơ học có viêm khớp sacroiliac. Kiểm tra SPECT: Người ta thấy rằng 38% trường hợp đau thắt lưng do viêm có viêm xương cùng, nhưng không có phát hiện nào như vậy ở nhóm nguyên nhân cơ học. Tỷ lệ phát hiện dương tính của cả xét nghiệm MRI và SPECT đều tăng lên đáng kể. Viêm khớp Sacroiliac có ở 58% bệnh nhân bị đau thắt lưng do viêm và 17% bệnh nhân bị đau thắt lưng cơ học. Do đó, các nhà nghiên cứu cho rằng chụp MRI và xạ hình SPECT của khớp sacroiliac rất hữu ích cho việc chẩn đoán và điều trị rất sớm, Từ quan điểm này, nó rõ ràng là tốt hơn X-quang thông thường, nhưng nó đắt tiền, vì vậy nó không được khuyến khích như một cuộc kiểm tra định kỳ.
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh viêm cột sống dính khớp là gì?
(1) Tiêu chuẩn chẩn đoán được xây dựng bởi Hội nghị chuyên đề bệnh thấp khớp về y học phương Tây và Trung Quốc tổng hợp tại một số tỉnh và thành phố trên toàn quốc (1985) (Được Hội nghị học thuật về bệnh thấp khớp toàn diện của Trung Quốc và Tây y Côn Minh sửa đổi và thông qua vào tháng 4 năm 1988)
①Triệu chứng: Các triệu chứng chính là đau lặp đi lặp lại ở cả khớp xương cùng và lưng dưới.
② Dấu hiệu vật lý: Bệnh nhân giai đoạn đầu và giai đoạn giữa có mức độ hạn chế hoạt động cột sống khác nhau, bệnh nhân giai đoạn cuối cột sống có biểu hiện cứng cột sống kyphosis, độ hoạt động lồng ngực giảm hoặc mất hẳn.
③Kiểm tra cận lâm sàng: tốc độ lắng hồng cầu nhanh hơn và RF âm tính hơn. HLA-B27 dương tính mạnh hơn.
④Xquang kiểm tra: có những thay đổi điển hình của viêm cột sống dính khớp và các khớp xương cùng.
a. Giai đoạn sớm: Chức năng vận động cột sống hạn chế, chụp Xquang thấy khoang khớp cùng gai bị mờ, các khớp mặt gai bình thường hoặc thay đổi khoang khớp.
b. Thời kỳ giữa: Cử động cột sống hạn chế hoặc thậm chí cứng một phần; X-quang cho thấy những thay đổi hình răng cưa ở khớp xương cùng, vôi hóa một phần dây chằng, hủy xương của đốt sống vuông và các khớp mặt, và các khoảng trống bị mờ.
c. Giai đoạn muộn: Cột sống cứng hoặc cột sống gù cố định; X-quang cho thấy sự hợp nhất của các khớp xương cùng, và cột sống có dạng hình ống.
(2) Tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế
① Các tiêu chuẩn chẩn đoán được thiết lập bởi Hội nghị Rome (1963)
a. Đau thắt lưng và cứng thắt lưng kéo dài hơn 3 tháng mà không được nghỉ ngơi.
b. Đau và cảm giác ngực bị cứng.
c. Hạn chế vận động cột sống eo lưng.
d. Giới hạn giãn nở lồng ngực.
e. Bệnh sử, hiện tượng hoặc di chứng của bệnh viêm mống mắt.
Viêm túi thừa hai bên cộng với một trong các tiêu chuẩn lâm sàng, có thể coi là có viêm cột sống dính khớp.
②Tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng được sửa đổi bởi Hội nghị New York (1973)
A. Cột sống thắt lưng bị hạn chế khả năng vận động ở cả 3 khía cạnh (gập về phía trước, gập bên và ưỡn ra sau), xét nghiệm Schober là dương tính.
B. Tiền sử đau hoặc đau ở ngực, thắt lưng hoặc cột sống thắt lưng.
C. Sự giãn nở của lồng ngực bị hạn chế.
Chắc chắn viêm cột sống dính khớp (AS)
(1) Viêm xương cùng bên độ III và IV và có ít nhất một biểu hiện lâm sàng.
(2) Viêm khớp sacroiliac một bên độ III và IV hoặc viêm khớp sacroiliac hai bên độ II và đáp ứng các tiêu chuẩn lâm sàng ① (Schober test dương tính), hoặc đáp ứng các tiêu chí lâm sàng ② và ③.
Viêm cột sống dính khớp đáng ngờ (AS)
Viêm xương cùng bên độ III và IV không có tiêu chuẩn lâm sàng.
Các tiêu chí trên rất hữu ích cho việc chẩn đoán, nhưng chúng không thể được sao chép một cách máy móc và cần được quyết định sau khi xem xét toàn diện. Ví dụ, các triệu chứng xuất hiện lần đầu tiên sau 45 tuổi và hiếm khi là viêm cột sống dính khớp. Bệnh nhân bị viêm mống mắt, viêm tầng sắc tố mắt, viêm gân Achilles và tiền sử gia đình trong tiền sử bệnh đều ủng hộ chẩn đoán AS. Đây là những điều quan trọng hơn để chẩn đoán sớm.
Chẩn đoán phân biệt với viêm cột sống dính khớp cần phân biệt những bệnh gì?
Các bệnh cần được xác định là:
(1) Bệnh lao khớp Sacroiliac: Bệnh nhân thường có tiền sử tiếp xúc hoặc mắc bệnh lao, hoặc họ cũng bị bệnh lao ở phổi hoặc nơi khác. Đại đa số (98%) là một bên, và có nhiều bệnh nhân nữ hơn. Phim X-quang có hình ảnh phá hủy xương nhiều hơn ở một bên khớp, và thường thấy các mảnh xương chết. Bán thoát vị khớp có thể xảy ra trong trường hợp tổn thương khớp nghiêm trọng. Việc xác định áp xe hoặc xoang sẽ dễ dàng hơn.
(2) Viêm khớp nhiễm trùng Sacroiliac: Cũng thường gặp ở bệnh nhân nữ, vì phụ nữ có nhiều khả năng bị nhiễm trùng vùng chậu hơn. Lúc đầu, đau tại chỗ, sốt và tăng bạch cầu rõ rệt hơn, sau đó, tình trạng viêm có thể trở thành mãn tính. Trên phim Xquang, ở giai đoạn đầu, khoang khớp bị giãn rộng, rìa khớp bị ăn mòn, nén chặt, dính khớp hoặc dính khớp ở giai đoạn muộn. Tổn thương thường một bên, cử động thắt lưng và lồng ngực bình thường.
(3) Viêm xương chậu: Thường gặp ở phụ nữ trẻ và trung niên, tỷ lệ mắc nhiều hơn sau khi sinh con, thường là cả hai bên. Các triệu chứng thường nhẹ và tốc độ lắng hồng cầu nói chung là không nhanh. Mặt bên của xương chậu trên phim X quang rõ ràng là đặc, dải đặc rộng ở phía trên và hẹp ở phía dưới, hơi hình thận, mặt lõm của nó đối diện với các khớp. Không gian khớp tốt, vận động cột sống thắt lưng bình thường.
(4) Lao cột sống: Bệnh nhân cũng thường có tiền sử tiếp xúc hoặc mắc bệnh lao, đồng thời mắc bệnh lao ở phổi hoặc bị bệnh lao ở các cơ quan khác. Cử động cột sống hạn chế chỉ được nhìn thấy ở khu vực bị ảnh hưởng, và cột sống chủ yếu là hình góc cạnh. Các thân đốt sống và đĩa đệm rõ ràng đã bị tổn thương trên phim X-quang, thường thấy bóng của xương chết và ổ áp xe.
(5) Viêm tủy xương hoá mủ của cột sống: Bệnh phát đột ngột, thân nhiệt tăng nhanh, bạch cầu tăng, đau cục bộ, co cứng cơ đốt sống, hạn chế rõ rệt vận động của cột sống. Nhiễm trùng hoá mủ thường có thể được tìm thấy ở các bộ phận khác của cơ thể. Phim X-quang cho thấy sự phá hủy các thân đốt sống hoặc đĩa đệm, và thường thấy bóng của xương chết và áp xe. Xương đặc và lộ rõ ở giai đoạn muộn.
(6) Viêm khớp tăng sinh cột sống: Bệnh này chủ yếu xảy ra sau 40 tuổi, với biểu hiện hạn chế nhẹ cử động cột sống và chứng gù cột sống không rõ ràng. Xảy ra ở cột sống cổ và cột sống thắt lưng. Phim Xquang khớp sacroiliac bình thường, hoặc chỉ bờ dưới có tăng sản xương. Ở cột sống, có thể thấy hầu hết các khoảng trống và tăng sản tế bào xương, tế bào tạo xương phát triển theo hướng ngang, khác với tế bào tạo xương của dây chằng hình khuyên. Tốc độ lắng hồng cầu của bệnh nhân không nhanh.
Nguyên tắc điều trị của bệnh viêm cột sống dính khớp là gì?
(1) Mặc dù không có cách chữa trị trong giai đoạn này, hầu hết bệnh nhân có thể sống rất tốt.
(2) Thực hiện giáo dục khoa học phổ biến về bệnh tật cho bệnh nhân là có lợi cho việc kiểm soát bệnh tật.
(3) Chẩn đoán sớm là rất quan trọng, đặc biệt để nhận biết và điều trị sớm các biểu hiện ngoài khớp.
(4) Thuốc chống viêm không steroid có thể kiểm soát cơn đau và viêm.
(5) Vật lý trị liệu hàng ngày có lợi để duy trì độ cong sinh lý tốt, giảm dị tật và duy trì sự giãn nở tốt của lồng ngực; bơi lội là một bài tập toàn thân tốt.
(6) Phẫu thuật thay khớp háng và phẫu thuật chỉnh hình khớp cột sống có những lợi ích nhất định.
(7) Hỗ trợ về mặt tâm lý, xã hội và gia đình cho người bệnh có lợi cho việc điều trị.
(8) Tìm hiểu tiền sử gia đình về AS và khám sức khỏe thân nhân của bệnh nhân AS có thể tiết lộ các cụm gia đình và bệnh nhân được chẩn đoán nhầm hoặc không được chẩn đoán trong số những người thân của bệnh nhân AS.
Trung y biện chứng luận trị đối với chứng viêm cột sống dính khớp như thế nào?
1/ Phong hàn thấp từ bên ngoài xâm nhập
Chủ chứng: Eo lưng đau co rút, hoặc đau xuống hông đùi, hoặc xuống đầu gối và bắp chân, hoặc bệnh nhân nóng lạnh, eo lưng có cảm giác lạnh, gặp lạnh chứng trạng tăng nặng, chườm nóng giảm đau, mạch phù khẩn, rêu lưỡi trắng nhầy.
Phân tích chủ chứng: Bệnh tà hàn thấp, xâm phạm eo lưng, gây trở ngại kinh lạc, tính của hàn là thu dẫn (thu liễm), tính của thấp là ngưng trệ, vì thế eo lưng đau co rút mà có cảm giác lạnh; Khi chườm nóng thì khí huyết được khai thông nên giảm đau; Gặp lạnh thì huyết ngưng trệ vì thế cảm giác đau tăng nặng; Bệnh tà phong hàn thấp hoặc lưu lại hông đùi hay xuống đến đầu gối bắp chân, nên đau dẫn xuống hông đùi và đầu gối bắp chân; Phong hàn ảnh hưởng phần biểu (bên ngoài) khiến doanh vệ bất hoà, nên bệnh nhân ghét lạnh phát sốt. Mạch phù khẩn, rêu lưỡi trắng nhầy là biểu hiện của bệnh tà phong hàn thấp xâm phạm cơ thể.
Trị pháp: Sơ phong tán hàn, khứ thấp chỉ thống.
Phương dược: Tam tí thang gia giảm.
Độc hoạt 10g, Tần giao 12g, Tế tân 6g, Xuyên khung 10g, Đương quy 12g, Thục địa 15g, Thược dược 10g, Phục linh 12g, Quế chi 10g, Đỗ trọng 12g, Ngưu tất 10g, Đảng sâm 12g, Hoàng kỳ 12g, tục đoạn 12g, Phòng phong 10g, chế Xuyên Thảo ô đều 10g(đun trước trong nước sôi 1.30 giờ).
Giải thích phương: Trong phương có Độc hoạt, Tế tân, Xuyên ô, Thảo ô có tác dụng khứ phong thắng thấp, tán hàn trị đau, Quế chi ôn kinh thông lạc là chủ dược; Thục địa, Tục đoạn, Đỗ trọng, Ngưu tất bổ ích can thận, cường tráng gân xương là thuốc phụ trợ; Xuyên khung, Thược dược, Đương quy bổ huyết hoạt huyết; Hoàng kỳ, Đảng sâm, Phục linh, Cam thảo ích khí phù trợ tạng tỳ, đều là tá dược, khiến khí huyết thịnh vượng, để hỗ trợ chủ dược tống xuất bệnh tà ra ngoài; Sứ dược với Tần giao, Phòng phong trừ khứ phong hàn thấp trên toàn cơ thể để giải trừ bệnh. Hợp dụng tất cả vị thuốc có công dụng phù trì chính khí, khu trừ tà khí, khu phong tán hàn, khứ thấp giảm đau.
2/ Thấp nhiệt tẩm dâm (quá nhiều thấp nhiệt)
Chủ chứng: Đau ở eo lưng và đùi, sau khi hoạt động cảm giác đau giảm nhẹ, miệng khô nhưng không muốn uống, không ghét lạnh rõ rệt, nhưng ghét nóng, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng dầy và nhầy, mạch nhu sác.
Phân tích chủ chứng: Thấp nhiệt gây tắc nghẽn ở eo lưng và đùi nên kinh mạch bị trở ngại, khí huyết không thông sướng, nên bệnh nhân bị đau (bất thông tắc thống); Sau khi hoạt động có tác động nhất định đến khí huyết, sự đình trệ của thấp giảm nên cảm giác đau cũng giảm nhẹ; Thấp nhiệt bên trong quá nhiều, vì thế bệnh nhân không ghét lạnh, nhưng ghét nóng; Nhiệt ảnh hưởng tân dịch, nhưng vì bên trong có thấp (là sự ẩm thấp) vì thế dù miệng khô nhưng không muốn uống; Lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng dầy và nhầy, mạch nhu sác đều là biểu hiện của thấp nhiệt.
Trị pháp: Thanh nhiệt lợi thấp, thông lạc chỉ thống.
Phương dược: Tứ diệu hoàn gia vị.
Thương truật 10g, Hoàng bá 10g, Ngưu tất 15g, Ý rĩ nhân 30g, Kê huyết đằng 30g, Chi tử 10g, Tục đoạn 10g, Nhũ hương 8g, Một dược 8g, Đỗ trọng 10g.
Phương giải: Thương truật vị đắng ấm, táo thấp (khô ráo), Hoàng bá đắng lạnh trừ nhiệt ở hạ tiêu, phối Ý rĩ thanh lợi thấp nhiệt, lại cùng với Ngưu tất thông lợi gân mạch, dẫn thuốc đi xuống, kèm theo có tác dụng giúp gân xương cường tráng;Tục đoạn, Đỗ trọng hỗ trợ Ngưu tất bồi bổ gân xương, phối với Chi tử để hỗ trợ Hoàng bá thanh lợi thấp nhiệt; Nhũ hương, Một dược hành ứ giảm đau, Kê huyết đằng thông kinh lạc. Toàn phương có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, thông lạc mạch trị đau.
3/ Ứ huyết trở ngại lạc mạch
Chủ chứng: Eo lưng và đùi bị đau, đau ban đêm nặng hơn ban ngày, hoạt động của xương sống lưng bị hạn chế, chất lưỡi tím tối, hoặc có ban ứ, mạch tế sáp.
Phân tích: Ứ huyết gây trở ngại kinh mạch làm cho khí huyết không thể thông sướng, nên eo lưng và đùi bị đau (không thông tắc thống); Chất lưỡi tím tối hoặc có ban ứ (ban màu sẫm), mach tế sáp, ngày đau nhẹ và đau nặng về ban đêm tất cả các chứng trạng này đều là hiện tượng đặc trưng của ứ huyết đình trệ bên trong cơ thể.
Trị pháp: Hoạt huyết hoá ứ, thông lạc trị đau
Phương dược: Thân thống trục ứ thang gia giảm.
Đương quy 10g, Xuyên khung 12g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 10g, Một dược 10g, Ngũ linh chi 10g, Ngưu tất15g, Tần giao 10g, Thổ nguyên (Thổ miết trùng) 10g, Khương hoạt 10g, Địa long 15g, Hương phụ 15g.
Phương giải: Trong phương có Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa có tác dụng hoạt huyết hoá ứ, Một dược, Ngũ linh chi tiêu sưng giảm đau đồng thời tăng cường lực khứ ứ, Hương phụ hành khí để hoạt huyết, Ngưu tất dẫn dược đi xuống giúp eo gối mạnh mẽ, Tần giao, Khương hoạt để trừ tê thống toàn thân (tê= tê bại, thống=đau), gia Thổ nguyên phối với Địa long trong phương để thông lạc khứ ứ. Toàn phương có công dụng hoạt huyết hoá ứ, thông lạc mạch giảm đau.
4/ Thận tinh hư yếu
Chủ chứng: Eo lưng mỏi yếu đau ê ẩm, thích ấm áp, thích xoa bóp, eo gối vô lực, khi mỏi mệt chứng trạng tăng nặng; Nếu thuộc thận dương hư thị bệnh nhân sợ lạnh, tay chân lạnh, khi gặp lạnh cảm giác đau tăng lên, khi ấm áp thì thư thái dễ chịu, sắc mặt trắng nhạt, tay chân không ấm áp, chất lưỡi nhạt, mạch trầm tế; Thuộc thận âm hư có các chứng trạng như phiền muộn mất ngủ, miệng họng khô, lòng bàn tay bàn chân bị nóng, đnau ở mắt cá chân, chất lưỡi hồng, mạch huyền tế.
Phân tích chủ chứng: Eo là nơi ở của thận, thận chủ xương sinh ra tuỷ, tinh khí của thận suy yếu thì eo lưng không được nuôi dưỡng nên mỏi mệt không có lực, đau liên tục, thích ấm áp, thích ấn nắn, là hư chứng biểu hiện ở đây; Mệt mỏi thì háo khí vì thế khi mỏi mệt thì chứng trạng tăng nặng; Thận dương hư nên không thể sưởi ấm cột sống và kinh mạch vì thế bệnh nhân sợ lạnh, chân tay lạnh, tứ chi không được ôn dưỡng, nên tay chân không ấm, khi gặp lạnh càng lộ rõ tình trạng không đầy đủ của dương khí, nên đau nhiều hơn, khi cơ thể được ấm áp thì dương khí dễ lan toả nên giảm đau; Sắc mặt bệnh nhân trắng nhạt, chất lưỡi nhạt, mạch trầm tế đều là hiện tượng dương hư có hàn; Âm hư thì tân dịch không đầy đủ, hư hoả bốc lên, nên phiền muộn mất ngủ, miệng họng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng; Đau ở mắt cá chân là biểu hiện của thận âm suy hư; Chất lưỡi hồng, mạch huyền tế đều là đặc trưng của âm hư có nhiệt.
① Thận dương hư suy
Trị pháp: Ôn bổ thận dương, hoạt huyết khứ phong chỉ thống là phụ.
Phương dược: Ô đầu Quế chi thang gia vị.
Chế Xuyên, Thảo ô đều 9g (nấu trước trong nước sôi 1 giờ), Cam thảo 9g nướng, Thục địa 10g, Đương quy 10g, Xuyên khung 10g, Độc hoạt 12g, chế Nhũ hương 9g, chế Một dược 9g, Tang ký sinh 15g, Tế tân 3g, Phong phòng 9g, Hồng hoa 9g, Nhục quế 9g, Thố ti 12g, Xuyên đoạn 15g, Đỗ trọng 15g.
Phương giải: Trong phương có Thố ti, Nhục quế, Xuyên đoạn, Đỗ trọng ôn bổ thận dương, Thục địa, Đương quy, Xuyên khung, Hồng hoa dưỡng huyết hoá ứ, Độc hoạt, Tang ký sinh khứ phong thắng thấp, Xuyên ô, Thảo ô, chế Nhũ Một tán hàn hoá ứ trị đau, Tế tân để trừ khử phong tí ở thận kinh, Phong phòng khứ phong thấp và giải độc. Toàn phương có công dụng ôn bổ thận dương, hoạt huyết khứ phong và trị đau.
②Thận âm hư suy
Trị pháp: Tư bổ thận âm, phụ là hoạt huyết khứ phong chỉ thống.
Phương dược: Thược dược cam thảo thang gia vị.
Bạch thược 20g, Cam thảo 9g, Sinh địa 30g, Mạch đông 15g, Đan sâm 25g, Mộc qua 15g, Nhũ hương 9g, Một dược 9g, Phong phòng 9g, Xuyên đoạn 9g, Tang ký sinh 15g, Độc hoạt 9g, Kỷ tử 15g, Quy bản 10g.
Phương giải: Trong phương có Kỷ tử, Sinh địa, Mạch đông, Quy bản tư âm bổ thận, Thược dược, Cam thảo hoãn cấp chỉ thống, Đan sâm, Nhũ hương, Một dược hoá ứ tiêu thũng chỉ thống, Mộc qua thư cân hoạt lạc, tang ký sinh, Độc hoạt khứ phong thắng thấp trị tí thống (đau bại liệt), Xuyên đoạn bổ can thận, hành huyết mạch, lại có thể tiêu thũng chỉ thống. Các vị thuốc hợp lại, toàn phương có công dụng tư âm bổ thận, hoạt huyết khứ phong chỉ thống.
Sử dụng thành dược
1/ Lôi công đằng phiến
Công hiệu: Khứ phong trừ thấp, hoạt huyết thông lạc giảm đau.
Chủ trị : Viêm xương sống dính khớp loại hình phong thấp.
Sử dụng: Mỗi lần 1~2 phiến, mỗi ngày 3 lần.
2/ Phong thấp thống phiến
Thành phần: Thanh phong đằng, Quế chi, Phụ tử, Ý rĩ, Lộc nhung, Kỷ tử, Hoàng kỳ, Hoàng cầm.
Công hiệu: Khứ phong tán hàn, lợi thấp thông lạc, phù trì chính khí, củng cố căn bản.
Chủ trị: Viêm xương sống dính khớp thời kỳ đầu thuộc loại hình phong hàn thấp.
Dụng pháp: Mỗi lần 6~8 phiến, ngày 3 lần.
3/ Yêu thống ninh giao nang
Thành phần: Mã tiền, Thổ nguyên (Địa miết), Nhũ hương, Một dược, Toàn trùng, Ngưu tất, Ma hoàng, Thương truật.
Công hiệu:Khứ phong trừ thấp, ôn kinh thông lạc.
Chủ trị: Viêm xương sống dính khớp, loại hình ứ huyết kiêm hàn thấp.
Dụng lượng: Mỗi lần 3~5 viên, ngày 2 lần, dùng hoàng tửu (10~30ml) pha với nước để uống thuốc.
4/ Loại phong thấp linh dịch
Thành phần: Trọng lâu, Cẩu tích.
Công hiệu: Khứ phong tán hàn trừ thấp, tráng yêu kiện thận hoá ứ.
Chủ trị; Thận tinh suy yếu, viêm đốt sống dính khớp do phong hàn thấp.
Dụng pháp: Mỗi lần 20ml, ngày 2 lần.
5/ Tri bá địa hoàng hoàn
Thành phần: Tri mẫu, Hoàng bá, Thục địa, Sơn dược, Sơn thù , Phục linh, Đan bì, Trạch tả.
Công dụng: Tư âm giáng hoả.
Chủ trị: Viêm xương sống dính khớp thời kỳ đầu, thuộc âm hư hoả vượng.
Dụng pháp: Mỗi lần 1 hoàn, ngày 2 lần
6/ Cốt thích tiêu thống dịch
Thành phần: Xuyên ô, Uy linh tiên, Ngưu tất, Quế chi, Mộc qua.
Công hiệu: Khứ phong tán hàn, trừ thấp thông lạc.
Chủ trị: Viêm xương sống dính khớp loại hình hàn thấp.
Dụng pháp: Mỗi lần uống từ 10~15ml, ngày 2 lần.
7/ Hoạt lạc đan
Thành phần: Kỳ xà (Ngũ bộ xà), Thiên ma, Đương quy, Uy linh tiên, Hổ cốt (thay bằng beo cốt), Toàn yết, Xạ hương, Ngưu hoàng.
Công hiệu: Khứ phong trừ thấp, hoạt lạc quyên tí.
Chủ trị: Viêm xương sống dính khớp loại hình hàn thấp.
Dụng pháp: Tuổi trưởng thành mỗi lần 1 hoàn, ngày 2 lần, Trẻ em uống1/3~1/2, chiêu bằng rượu hoặc nước.
8/ Tráng yêu kiện thận hoàn
Thành phần: Cẩu tích, Kê huyết đằng, Hắc lão hổ, Kim anh tử, Thiên cân bạt, Ngưu đại lực, Tang ký sinh (chưng muối rượu), Nữ trinh tử (chưng), Thố ti tử (chế với nước muối).
Chế pháp: Tán các vị thuốc trên thành bột, luyện mật thành hoàn, mỗi hoàn nặng 5.6g.
Chủ trị: Viêm xương sống dính khớp loại hình thận hư yếu.Dụng pháp: Người trưởng thành mỗi lần uống 1 hoàn, ngày 2~3 lần.
9/ Cao Kê huyết đằng (Giao)
Thành phần:Kê huyết đằng nấu thành cao, Tục đoạn tươi, Ngưu tất tươi, Hắc đậu, Hồng hoa.
Công hiệu: Dưỡng huyết hoạt huyết thông lạc.
Chủ trị: Viêm xương sống dính khớp loại hình ứ huyết.
Dụng pháp: Dùng nước và rượu mỗi thứ một nửa hoà tan cao cứng, mỗi ngày uống từ 9~15g. Là cao lỏng thì hoà vào rượu và nước lượng bằng nhau để uống.
Các đơn nghiệm phương điều trị hiệu quả chứng viêm cột sống dính khớp.
1/ Phương Cường tích ninh số 1
Thành phần: Đan sâm 30g, Bạch thược 20g, Sinh địa 15g, Ý rĩ 30g, Uy linh tiên 10g, Độc hoạt 10g, Thiên niên kiện 10g, Toàn địa phong 10g, Ngưu tất 10g, Mộc qua 15g, Hương phụ 10g, Cam thảo sống 6g.
Công hiệu: Khứ phong trừ thấp, dưỡng huyết hoá ứ, mạnh eo gối.
Chủ trị: Viêm xương sống dính khớp thời kỳ đầu.
Dụng pháp: Sắc uống ngày 1 thang.
2/ Phương Cường tích ninh số 2
Thành phần: Dâm dương hoắc 10g, Hà thủ ô 10g, Tang ký sinh 15g, Ngưu tất 15g, Đương quy 15g, Đan sâm 25g, Kê huyết đằng 30g, Bạch thược 15g, Độc hoạt 10g, Mộc qua 15g, Uy linh tiên 15g, Cam thảo 10g, Hắc đậu 10g, Hoàng tửu 30g.
Công hiệu: Bổ ích can thận, dưỡng huyết hoạt huyết, khứ phong thông lạc, kèm theo thanh nhiệt lợi thấp.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp thời kỳ giữa và cuối.
Dụng pháp: Sắc mỗi ngày 1 thang phân 2 lần uống.
3/ Phù chính hoá đàm thang
Thành phần: Lộ phong phòng 10g, Bạch giới tử 6g, Hải tảo 9g, Côn bố 9g, Ngưu bàng (sao) 9g, Sơn giáp phiến 6g, Huyết kiệt 3g, Hoàng kỳ sống 60g, Đương quy 12g, Cát căn 12g, Quế chi 6g, Kỷ tử 30g.
Công hiệu: Bổ khí dưỡng huyết, hoá đàm thông lạc, nhuyễn kiên tán kết.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp thời kỳ đầu và thời kỳ giữa, thuộc loại hình chính khí không đầy đủ, đàm trọc nghẽn tắc lạc mạch.
Dụng pháp: Sắc uống, ngày 1 thang.
4/ Kháng phong thấp số 1
Thành phần: Uy linh tiên 30g, Khương hoạt 15g, Độc hoạt 15g, Hoàng kỳ sống 25g, Toàn yết 6g, Thổ nguyên (Địa miết) 20g, Xuyên luyện 25g, Huyền hồ 25g, Đương quy 20g, Viễn chí 20g.
Công hiệu: Khứ phong trừ thấp, dưỡng huyết hoạt huyết giảm đau.
Chủ trị: Huyết hư huyết ứ, viêm cột sống dính khớp loại hình phong thấp.
5/ Tiêu tí thang
Thành phần: Song hoa (Kim ngân hoa) 30g, Liên kiều 20g, Ký sinh 30g, Tục đoạn 30g, Kê huyết đằng 30g, Cẩu tích 20g, Kỷ tử 30g, Thố ti 15g, Quế chi 10g, Bạch truật 15g, Phục linh 30g, Phụ tử 15~20g, Uy linh tiên 30g, Hoàng cầm 15g, Mộc hương 6g, Xích thược 15g, Đan sâm 20g.
Công hiệu: Khứ phong tán hà, lợi thấp thông lạc, hoạt huyết hoá ứ, tiêu thũng giảm đau.
Chủ trị: Ứ huyết trở ngại lạc mạch, viêm cột sống dính khớp loại hình phong hàn.
Dụng pháp: Mỗi ngày 1 thang sắc uống 2 lần, sáng và tối.
6/ Thang Cường tích
Thành phần: Lôi công đằng 25g, Sinh địa hoàng 30g, Xuyên đoạn 15g, Kim ngân hoa 30g, Xuyên ngưu tất 18g, Xích thược 15g.
Công hiệu: Khứ phong trừ thấp, hoá ứ thông lạc.
Chủ trị: Phong thấp gây trở ngại kinh lạc, kèm theo viêm cột sống dính khớp loại hình ứ trệ.
Dụng pháp: Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
7/ Tán tí thang
Thành phần: Thanh phong đằng 40g, Ma hoàng sống, Quế chi, Sinh khương đều 10g, chế Phụ tử (ssawsc trước 1 giờ) 24g, Mộc thông 6g, Thạch cao 18g, Cam thảo 6g.
Công hiệu: Khứ phong tráng dương, hoạt lạc cường cân.
Chủ trị: Hàn thấp gây trở ngại, viêm cột sống dính khớp loại hình nghiêng về dương khí hư.
Dụng pháp: Sắc uống, ngày 1 thang.
8/ Thận tí thang
Thành phần: Thục địa, Thủ ô, Dâm dương hoắc, Tang ký sinh, Xuyên đoạn, Đan sâm mỗi vị 20g, Đỗ trọng, Địa long mỗi vị 15g, Xuyên khung, Hồng hoa mỗi vị 12g, 菝葜, Kim mao cẩu tích mỗi vị 30g.
Công hiệu: Ích thận dưỡng huyết, khứ tà hoá ứ.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp loại hình chính hư tà thực.
Dụng pháp: , sắc uống ngày 1 thang, liệu trình 3 tuần lễ.
Những loại thuốc tân dược nào thường được sử dụng trong điều trị viêm cột sống dính khớp?
(1) Thuốc chống viêm không steroid
①Aspirin: Có tác dụng chống viêm, hạ sốt và giảm đau. Người lớn ngày uống 3-5g, uống sau bữa ăn, chia làm 4 lần. Kích ứng dạ dày và một ít chảy máu dai dẳng hoặc loét dạ dày tá tràng có thể xảy ra sau khi dùng thuốc. Sử dụng lâu dài có thể ảnh hưởng đến thính giác và gây xu hướng chảy máu. Thận trọng khi dùng cho bệnh nhân suy giảm chức năng gan, thận.
②Phenylbutazone: Thuộc nhóm thuốc hạ sốt giảm đau pyrazolone, tương tự như aminopyrine, tác dụng hạ sốt giảm đau không bằng aminopyrine nhưng tác dụng chống viêm mạnh hơn, có tác dụng bài tiết axit uric nhẹ. Uống mỗi lần 0,1 ~ 0,2g, ngày 3 lần. Các phản ứng bất lợi của sản phẩm này bao gồm buồn nôn, nôn, khó chịu vùng thượng vị, tiêu chảy, phát ban, v.v. và đôi khi xuất huyết tiêu hóa, thậm chí thiếu máu, viêm thận, viêm gan, v.v.
(2) Corticosteroid tuyến thượng thận: Loại thuốc này không nên dùng thường quy nhưng có hiệu quả đối với những bệnh nhân nặng không thể kiểm soát bằng các thuốc chống thấp khớp khác, sử dụng phối hợp trên cơ sở điều trị toàn diện có hiệu quả tốt. Khi dùng có thể bắt đầu với liều nhỏ, và liều prednisone hàng ngày không được vượt quá 10 mg, chia làm 3 lần uống. Nếu dùng thuốc trong thời gian dài, khi ngừng thuốc phải áp dụng phương pháp giảm dần liều lượng để tránh hiện tượng dội ngược trở lại.
Những cao dán ngoài nào thường dùng trong điều trị viêm cột sống dính khớp?
(1) Lục Sinh Cao (六生膏)
Thành phần & bào chế Dược liệu: Sinh Thảo ô, Sinh Thảo Đại kích, Sinh Sơn Giáp, Sinh Đào Nhân, Hoài Ngưu Tất, Ma Hoàng, Đương Quy, Thiên Ma, Khương Hoạt, Tế Tân, U Dược, Bạch Chỉ, Lương Khương, Độc Hoạt, Xích Thược, Hải Phong Đằng, Hồng Hoa, Uy Linh Tiên – mỗi vị 75g; Sinh Địa, Thục Địa, Tục Đoạn, Tô Mộc – mỗi vị 36g; Sinh Xuyên Ô, Xà Thoái, Ngũ Gia Bì – mỗi vị 18g; Ngô Công 20 con. Cho toàn bộ dược liệu vào 7500ml dầu thơm (hương du / dầu vừng đã nấu với hương liệu) để “rán” đến khi “cháy khô”, lọc bỏ bã. Đợi sôi, thêm 2700g Chương Đan (dạng “đan” – bột chì đỏ), quấy đều thành cao. Mỗi 7500ml dầu thuốc tạo thành 1 mẻ cao. Thêm tiếp 75g bột Nhục Quế, 3.6g Băng phiến, 11g bột Một Dược, 11g bột Hùng Hoàng, 11g bột Đàn Hương, 11g bột Huyết Kiệt, 3.6g Xạ Hương, 11g bột Nhũ Hương, 3.6g Đinh Hương. Mỗi tấm cao lớn cần 30ml dầu đã nấu, tấm nhỏ cần 15ml.
Công hiệu: Thư cân hoạt huyết, truy phong tán hàn.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp do phong hàn tà bế tắc kinh lạc, đau nhiều vùng thắt lưng – lưng.
Cách dùng: Dán lên chỗ đau.
(2) Hương Đan Cao (香丹膏)
Thành phần & bào chế Dược liệu: Dầu vừng (ma dầu) 240ml, đun sôi rồi bỏ Hoàng lạp (sáp ong vàng) 7.5g cho tan; sau đó thêm Tùng hương (colophan) 30g; kế đến thêm Hoàng đan 30g, Đồng lục (gỉ đồng) 6g, Khinh phấn 3g, Chế Nhũ – Chế Một mỗi thứ 9g (Nhũ hương, Một dược đã chế), trộn đều thành cao.
Công hiệu: Thanh nhiệt lợi thấp, giảm đau.
Chủ trị: Thể thấp nhiệt của viêm cột sống dính khớp.
Cách dùng: Đắp (dán) vùng đau.
(3) Tùng Xuyên Cao (松川膏)
Thành phần & bào chế Dược liệu: Tùng hương (colophan) 1500g (luân phiên nấu 7 lần với nước gừng, nước hành, nước hoa Phượng Tiên trắng, rượu, nước hoa Náo Dương (độc thảo), nước Thương Lục căn, giấm); Thầu dầu (dầu Thông, đồng nghĩa “đồng du” hoặc “tung du”) 1500ml; Xuyên Ô, Thảo Ô, Bạch Giới Tử, Tỳ Ma Tử (hạt Thầu dầu?), Can Khương, Quan Quế, Thương Truật – mỗi vị 120g. Dùng Thầu dầu nấu các dược liệu đến khi “thuốc khô”, bỏ bã, thêm 120g da trâu (ngưu bì) đun chảy, rồi hòa từ từ Tùng hương đã chế; bắc ra khỏi lửa, thêm 30g Chương Não (long não), 9g Xạ Hương. Trải lên giấy dày để thành cao.
Công hiệu: Khu phong tán hàn trừ thấp, ôn kinh thông lạc giảm đau.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp thể hàn thấp.
Cách dùng: Dán chỗ đau vùng lưng, cột sống.
Liệu pháp xông – ngâm điều trị viêm cột sống dính khớp
(1) Cường Tích Viêm Chưng Xông Phương (强脊炎蒸熏方)
Thành phần: Uy Linh Tiên, Sinh Cam Thảo mỗi 60g; Khương Hoạt, Độc Hoạt, Xuyên Ô, Thảo Ô mỗi 30g; Địa Biển Trùng (Địa Bì Xung) 20g.
Công hiệu: Thông kinh lạc, hoạt huyết hóa ứ, hành khí chỉ thống.
Chủ trị: Bệnh nhân viêm cột sống dính khớp đau nhiều vùng thắt lưng – lưng.
Cách dùng: Dùng máy xông – hơi, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30–40 phút, 3–4 tuần thành 1 liệu trình.
(2) Cường Tích Viêm Tẩm Dục Phương (强脊炎浸浴方)
Thành phần: Xuyên Tiêu Mục (hạt tiêu Tứ Xuyên), Hải Tảo, Kê Huyết Đằng mỗi 30g; Khương Hoạt, Độc Hoạt, Chế Bán Hạ, Côn Bố, Mộc Qua, Quế Chi mỗi 15g; Chế Xuyên Ô, Chế Thảo Ô mỗi thứ 5g.
Công hiệu: Ôn thông kinh lạc, hóa ứ giảm đau.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp giai đoạn sớm, giữa (đau lưng, hạn chế vận động).
Cách dùng: Các dược liệu gói trong túi vải, thêm 3kg nước, nấu 20 phút, đổ vào bồn tắm, thêm nước ấm đủ ngập người. Mỗi lần ngâm ~30 phút, mỗi tuần 2 lần.
(3) Nhiệt Tý Ngoại Tẩy Phương (热痹外洗方)
Thành phần: Tang Chi 500g, Hải Phong Đằng, Lạc Thạch Đằng mỗi 200g, Hy Thiêm Thảo 100g, Hải Đồng Bì, Nhẫn Đông Đằng, Kê Huyết Đằng mỗi 60g.
Công hiệu: Thanh nhiệt lợi thấp, thông lạc giảm đau.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp do thấp nhiệt tắc lạc, nhiệt trội hơn thấp.
Cách dùng: Các vị nghiền thô, bọc vải, thêm 3000ml nước, sắc, lọc bỏ bã, dùng nước nóng tắm ngâm vùng đau. Mỗi ngày 1 lần, khoảng 1 giờ, 7–10 ngày là 1 liệu trình.
Liệu pháp đắp thuốc (ngoại phu) trị viêm cột sống dính khớp
(1) Trừ Tý Tán (除痹散)
Thành phần: Kinh Giới, Phòng Phong, Tần Giao, Đinh Hương, Nhục Quế, Thảo Ô, Một Dược, Hồ Tiêu, Tế Tân, mỗi 20g.
Công hiệu: Khu phong tán hàn trừ thấp, ôn kinh thông lạc giảm đau.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp do hàn thấp bế tắc kinh lạc.
Cách dùng: Tán mịn trộn đều. Bôi 1 lớp vaseline (hoặc tương tự) lên vùng đau ở lưng – thắt lưng, rồi rắc bột thuốc. Đắp vài lớp gạc tẩm giấm (hoặc 95% cồn / 65% rượu) lên, châm lửa đốt nhanh, khi bệnh nhân cảm thấy nóng rát thì dập lửa, phía ngoài thêm túi chườm nước ấm để giữ nhiệt.
(2) Ôn Kinh Thông Lạc Phương (温经通络方)
Thành phần: Nhục Quế 30g, Ngô Thù Du 90g, Thông Bạch (củ hành) 30g, Hoa Tiêu (xuyên tiêu) 60g.
Công hiệu: Ôn kinh tán hàn, thông lạc.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp thể hàn thấp bế lạc.
Cách dùng: Sao nóng các vị, bọc vải, chườm nóng liên tục vào vùng đau.
(3) Tiêu Thũng Khu Thống Linh (消肿祛痛灵)
Thành phần: Thất Diệp Nhất Chi Hoa, Hồng Hoa, Thấu Cốt Thảo…
Công hiệu: Giải độc tiêu thũng, hoạt huyết hóa ứ, trừ phong thấp hàn.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp đau nhiều vùng thắt lưng – lưng.
Cách dùng: Mở túi bột thuốc, dàn đều bột trong túi giấy, đắp lên chỗ đau. Mỗi ngày 2–3 giờ (trường hợp nặng có thể 6–8 giờ liên tục).
(4) Tiêu Nhĩ Thống Đĩnh (消尔痛酊)
Thành phần: Xuyên Ô, Mã Tiền Tử, Nhũ Hương, Chi Tử, đa peptide hoặc protein peptide…
Công hiệu: Khu phong tán hàn trừ thấp, hoạt huyết hóa ứ giảm đau.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp thể hàn thấp, sưng đau nặng.
Cách dùng:
I/ Liệu pháp châm cứu điều trị chứng viêm cột sống dính khớp
Liệu pháp①
a/ Dùng huyệt: Đại chuy, Thân trụ, Tích trung, Mệnh môn, Thận du, Dương quan. Hợp với đau thần kinh toạ thì tuyển dụng các huyệt : Uỷ trung, Hoàn khiêu, Thừa sơn.
b/ Thủ pháp: Dùng phép châm vê kim. Nếu thiên nhiều về phong thấp thì dùng phép tả; Nếu can thận suy hư thì dùng phép bổ. Mỗi lần dùng 4,5 vị trí huyệt, mỗi ngày 1 lần.
Liệu pháp②
a/ Dùng huyệt: Huyệt Nhân trung.
b/ Thủ pháp: Dùng tay hoặc điện tử niệp (vê,xe) khiến phát nhiệt trên xuống dưới, từ trong ra ngoài để khu trừ phong hàn.
Liệu pháp③
a/ Dùng huyệt: Huyệt Hoa đà giáp tích
b Thủ pháp: Trước khi châm kim, từ điểm bắt đầu của huyệt Hoa đà giáp tích (nửa inch dưới mỏm gai của đốt sống ngực thứ nhất), ấn xuống và trượt bằng ngón tay cái để tìm ra các điểm nhạy cảm (rất đau hoặc đau ê ẩm, tê và trướng) ). Sau đó, sử dụng kim 1,5 đến 2 inch để đâm xiên về phía cột sống. Khi cảm giác ngứa ran hoặc giống như điện giật xuất hiện dưới kim, hãy ngừng đâm kim và sử dụng các thao tác tương ứng để tăng cường cảm giác kim châm. Theo phương pháp trên, một cây kim cũng được đưa vào phía đối diện của cột sống, sau đó khum hai cán kim lại và giữ kim trong 20 phút.
Liệu pháp④
a/ Dùng huyệt: Thiên trụ, Phong trì, Đại chuy, Đại thư, Phong môn, Thân trụ, Tâm du, Chí dương, Cách du, Can du, Tích trung, Mệnh môn, Thận du, Quan nguyên du, Yêu dương quan, Bàng quang du, Bát…, Yêu du, Trật biên, Hoàn khiêu.
b/ Thủ pháp: Các huyệt nêu trên dùng phép bổ, không lưu kim, cách ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
II/ Liệu pháp cứu
① Ôn đông cứu
a/ Dùng huyệt: A thị.
b/ Phương pháp: Dùng Kinh giới, Phòng phong, Nhũ hương, Một dược, Hồ tiêu mỗi vị 60g, tán thành bột, dùng 500g ngải nhung trộn đều với bột thuốc, chia thành 20 phần. Một phần của thuốc được làm thành trụ thuốc, và nó được đặt trong một ống để đốt trên bộ phận bị bệnh. Châm cứu mỗi tối trước khi đi ngủ 40-50 phút, một liệu trình 20 lần.
②Cứu xạ hương
a.Chọn huyệt: Huyệt A thị.
b.Phương pháp: Lấy một khối bột xạ hương (được chế biến từ xạ hương 12g, chu sa 8g, lưu huỳnh 210g) to bằng hạt đậu nành, dùng nhíp kẹp lại, sau khi hơ nhanh chóng đặt vào huyệt Ashi, sao cho tiếp tục đốt, và dùng tay nhẹ nhàng xoa bóp xung quanh vùng chung quanh để giảm đau. Sau khi đốt ngải cứu, đắp cao dầu mè và vàng đan, đồng thời cho thêm thức ăn sinh dục (như gà trống, cá chép, hoa hiên , móng giò lợn, v.v.). Thông thường, mỗi lần có khoảng 10 điểm châm cứu, vào ngày thứ hai sau khi châm cứu, có thể thấy vết loét và bong tróc ở vùng châm cứu. Đắp một miếng cao dán lên chỗ châm cứu, sau đó thay băng 1-2 lần mỗi ngày cho đến khi vết thương lành hẳn (khoảng 40 ngày). Sau khi đốt ngải cứu, tránh thực phẩm sống lạnh, tránh gió lạnh, cấm giao hợp, vết thương không được ngâm nước để tránh bị thương. Chống chỉ định phụ nữ mang thai, thời kỳ cho con bú, thời kỳ kinh nguyệt, kèm theo các bệnh tim, não, gan và thận nặng, bệnh suy mòn mãn tính và viêm cột sống dính khớp do thấp nhiệt.
③ Cứu điếu ngải
a.Chọn huyệt: Mệnh môn, A thị.
b) Chế thuốc: Lấy 30g ngải cứu, nhũ hương, mộc dược, đinh hương, tê tê, Tạo giác, Tế tân, Quế chi, Xuyên khung, Độc hoạt, Đỗ trọng, Tùng hương, Cam tùng mỗi thứ 1g. Nghiền nhỏ thuốc rồi trộn với ngải cứu theo tỷ lệ 1:2 để tạo thành những điếu ngải cứu.
c.Phương pháp: Sử dụng phương pháp cứu lơ lửng và cứu trực tiếp . Ngày 1-2 lần, một liệu trình 10 lần.
(3) Tân châm liệu pháp
①(1) Phương pháp châm “thách/thiêu” kim (挑针)
②Chích huyệt
a. Chọn huyệt: Đại chuy, Thân trụ, Thiên thư, Chí dương, Dương quan, Mệnh môn.
b) Thuốc và phương pháp: Mỗi lần chọn từ 3 đến 6 huyệt, tiêm vào mỗi huyệt 0,5 đến 0,8ml thuốc tiêm Truy phong tốc, cách ngày 1 lần, 10 lần là một liệu trình.
③ Điện châm
a. Lựa chọn huyệt: Huyệt Hoa Đà Giáp tích.
b.Phương pháp: lấy huyệt Giáp Tích tương ứng, chọc xiên vào sống lưng, dùng phương phápbình bổ bình tả, dùng thiết bị trị liệu 6806 sau khi đắc khí kích thích liên tục xung với tần số 120 lần/phút, giữ kim 20 phút, cách ngày 1 lần, 10 lần là 1 đợt điều trị.
Các phương xoa bóp nào dùng để điều trị viêm cột sống dính khớp?
(1) Tổn thương ở cột sống
①Chọn huyệt: Tập trung vào các cơ ở hai bên cột sống, thường lấy các huyệt như: Thận du, Mệnh môn, Can du, Tỳ du, Yêu dương quan, Yêu nhãn.
②Kỹ thuật thực hiện: a. Người bệnh nằm nghiêng, hông và đầu gối co lại. Người thực hiện ở phía sau bệnh nhân. Một tay đặt phía trước vai bệnh nhân, một tay đặt trên mông. Đẩy nhẹ nhàng hai tay ngược hướng, khi người bệnh thả lỏng thắt lưng thì dùng lực thích hợp để lắc. b) Để người bệnh nằm sấp, dùng ngón cái của hai bàn tay ấn mạnh vào Yêu nhãn, đẩy cơ thắt lưng từ ngoài vào giữa cột sống, khi gần đến cột sống thì dùng ngón cái để ép vào nhau. Sau đó dùng lòng bàn tay xoa bóp thắt lưng theo chiều kim đồng hồ, đồng thời sử dụng phương pháp duỗi thẳng chân. c.Bệnh nhân ngồi trên một chiếc ghế đẩu vuông, hai bàn chân tách rời và cố định.Người điều khiển ngồi phía sau bệnh nhân, dùng ngón cái tay trái ấn vào mỏm gai ở một bên cột sống, sau đó dùng tay phải kéo cổ bệnh nhân. để xoay thân máy gần 90 độ đến mức tối đa Khi lắc hoặc di chuyển lại, đồng thời có thể nghe thấy âm thanh bằng ngón tay cái bên trái. d.Nối lên huyệt trên, ấn và nhào nặn 2 bên cột sống từ trên xuống dưới lặp lại 4-5 lần, ngón tay cái kép dọc 2 bên gai và ấn huyệt từ trên xuống dưới lặp lại 4-5 lần , và chia các then của cả hai tay ra ngoài dọc theo hai bên lưng Đẩy nó vào phần tư xương sườn 4 đến 5 lần và gõ dọc theo lưng. e.Hai tay lắc cổ chân, đồng thời khụy nhẹ hông cho duỗi, gập và duỗi 3 đến 4 lần. Lắc mắt cá chân bằng một tay, tay kia ấn vào đầu gối hơi cong và lắc hông sang trái và phải. Sau một lúc, ấn mạnh rồi dùng hai tay giữ cổ chân để duỗi và duỗi thẳng.
(2) Tổn thương ở hông
①Chọn huyệt: Huyệt Hoàn khiêu, Bễ Quan.
②Kỹ thuật thực hiện: a. Người bệnh nằm sấp, hai chi dưới duỗi thẳng, người thực hiện dùng khuỷu tay thay cho ngón tay ấn vào huyệt Hoàn khiêu, sau đó một tay đặt trước đầu gối của bệnh nhân, tay còn lại hơi giữ lấy hông bên ngoài, và nhẹ nhàng di chuyển nó về phía bệnh nhân. b) Người bệnh nằm ngửa, duỗi thẳng chi dưới. Phẫu thuật viên ấn ngón tay cái lên cơ mông lớn, bốn ngón tay còn lại đặt lên bẹn, dùng ngón tay cái ấn mạnh vào trong để bệnh nhân cảm thấy đau và trướng, sau đó xoa bóp nhẹ nhàng trong nửa phút để tách ra, sau đó sử dụng ngón tay cái ấn huyệt Bễ quan (tương đương với động mạch đùi), dùng lực dần dần giữ nguyên trong nửa phút, sau khi bệnh nhân cảm thấy chi dưới nóng lên thì dừng lại, cuối cùng là động tác rung lắc hông.
Các loại rượu thuốc nào điều trị chứng viêm cột sống dính khớp?
1/ Hoa đà diên thọ tửu
Thành phần: Cẩu kỷ tử, Thiên đông, Tùng diệp, Hoàng tinh (chế), Thương truật (tẩm nước gạo), Cẩu tích.
Công hiệu: Dưỡng can thận, mạnh gân cốt, ích tỳ phế, bổ hư tổn.
Chủ trị: Âm huyết khuy hư, viêm cột sống dính khớp loại hình hàn thấp.
Dụng pháp: Người trưởng thành mỗi lần uống 20~50ml, mỗi ngày 2~3 lần.
2/ Quy linh tập tửu
Thành phần: Lộc nhung 10g, Nhân sâm 10g, Giáp phiến 10g, Thục địa 15g, Sinh địa 15g, Thạch yến 10g, Địa cốt bì 15gh, Tinh đình 5 con (chuồn chuồn), bướm ngài 5 con, Kỷ tử 15g, Tước não 3 cái, Hải cẩu thận, Lư thận, Hoàng cẩu thận mỗi loại 1 cái, Cấp tính tử 10g, Bạc hà 10g, Băng đường 50g, Đại khúc tửu 1000g
Công hiệu: Bổ khí dưỡng huyết, bổ ích tinh tuỷ.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp loại hình thận dương bất túc.
Dụng pháp: Tuỳ tửu lượng nhưng không vượt quá 50ml. Nên uống trong bữa ăn.
Những món ăn – bài thuốc nào có thể dùng trong điều trị viêm cột sống dính khớp?
(1) Cháo Quế Tương (桂浆粥) Thành phần & cách dùng: Nhục quế 2–3g, gạo tẻ 50–100g, thêm đường đỏ (đường nâu) vừa đủ. Sắc Nhục Quế lấy nước đặc, bỏ bã, rồi dùng nước này nấu với gạo thành cháo. Khi cháo sôi, cho nước quế và đường đỏ vào nấu thành cháo. Hoặc cũng có thể dùng bột quế (1–2g) bỏ trực tiếp vào cháo. Công hiệu: Ôn ấm, tán hàn, hóa ẩm, thông kinh. Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp thể hàn thấp bế tắc kinh lạc.
(2) Cháo Ý Dĩ (薏苡粥) Thành phần & cách dùng: Ý dĩ 150g, Bạc hà 15g, Kinh giới 15g, Thông bạch (hành trắng) 15g, Đậu xị 50g. Đem Bạc hà, Kinh giới, Thông bạch, Đậu xị nấu với ~1500ml nước, đun sôi lửa nhỏ ~10 phút, lọc lấy nước cốt. Rửa sạch nồi, đổ Ý dĩ (đã rửa) vào, thêm nước thuốc vừa lọc, nấu đến khi hạt Ý dĩ nở bung, mềm dừ là ăn được. Công hiệu: Kiện tỳ, thanh nhiệt, lợi thấp, sơ phong… (theo gốc là “dùng cho can thận âm hư kiêm phong thấp bế lạc”). Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp, can thận âm hư kiêm phong thấp trở lạc.
(3) Tuyết Phong Lộc Cân Thang (雪凤鹿筋汤)Thành phần: Lộc cân khô (gân hươu) 200g, Tuyết Liên Hoa 3g, nấm mỡ (hoặc nấm rơm) 50g, chân gà 200g, thịt giăm bông (thịt muối) 25g, mì chính 5g, rượu Thiệu Hưng 10g, gừng tươi, hành trắng, muối, nước cốt hầm (thượng thang) lượng đủ.Cách làm:①Ngâm gân hươu nước sôi ~2 ngày, rồi thái thành khúc ngón tay, cho vào nồi với gừng, hành, rượu, nước, hầm nhừ, vớt ra.②Chân gà trụng qua nước sôi, lột lớp da vàng, chặt bỏ đầu móng, rút bớt xương to, cho vào nồi sành. Rửa sạch Tuyết Liên Hoa, bọc trong túi vải đặt vào nồi, rồi xếp gân hươu, giăm bông, nấm lên, thêm nước cốt, rượu, gừng, hành. Đưa hấp cách thủy đến khi gân hươu mềm nhừ (khoảng 2 giờ). Lọc nước ra, thêm mì chính, muối, quấy đều, đổ lại nồi hấp thêm nửa giờ nữa. Dùng nóng.Công hiệu: Bổ can thận, ôn kinh trừ hàn thấp. Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp do can thận hư, hàn thấp bế lạc.
(4) Tuyết Hoa Kê Thang (雪花鸡汤)Thành phần: Đảng sâm 150g, Tuyết Liên Hoa 30g, Nga sâm (峨参) 15g, Ý dĩ 1000g, thịt gà 10kg, gừng tươi 50g, hành trắng 50g. Cách làm: 1/ Làm sạch gà, bỏ nội tạng, rửa, cho khoảng 40 lít nước vào. 2/ Rửa Đảng sâm, Tuyết Liên Hoa cắt khúc 4cm, Nga sâm cắt lát 0,1cm, gói chung vào túi vải. Ý dĩ rửa, cũng gói vào một túi khác. Thả cả hai túi cùng gừng, hành vào nồi, nấu lửa to cho sôi, rồi hầm lửa nhỏ 2–3 giờ. 3/ Vớt gà ra, chặt miếng 2–3cm, chia theo phần vào bát. Lấy Ý dĩ ra, mở túi, rải đều vào bát đựng gà. Thêm nước thuốc, nêm muối. Dùng nóng. Công hiệu: Kiện tỳ, ôn thận, trừ phong thấp bế lạc.
Chủ trị: Viêm cột sống dính khớp thể tỳ thận hư hàn, phong thấp bế lạc.
Còn có những liệu pháp nào khác để điều trị viêm cột sống dính khớp?
1/ Liệu pháp phóng xạ: Chiếu X-quang sâu (deep X-ray) vào cột sống, khớp cùng-chậu. Tỷ lệ hữu hiệu đạt ~60–80%. Có thể giảm đau, bớt co cứng cơ. Nhưng do nguy cơ biến chứng nghiêm trọng, ít sử dụng, thường chỉ dành cho trường hợp đặc biệt, khi các phương pháp khác đều thất bại. Tổng liều phóng xạ cũng không vượt quá 1500 rad.
2/Phương pháp đeo nẹp cố định: Dùng khung hỗ trợ thân mình (thiết bị chỉnh hình lưng – cột sống) để phòng ngừa gù vẹo, biến dạng. Sau phẫu thuật cắt xương chỉnh hình cột sống, đeo nẹp để ngăn tái phát biến dạng.
3/Kéo giãn (traction): Những ca biến dạng chưa quá nặng, thời gian biến dạng chưa dài, có thể thử kéo giãn da (skin traction) hoặc kéo xương (skeletal traction). Với khớp háng, dùng lực 4–6kg, khớp gối 2–4kg. Nếu gù lưng chưa “cứng xương,” dùng lực kéo mạnh có thể sửa được phần lớn biến dạng. Sau đó dùng nẹp lưng, tập cơ duỗi lưng, chú ý tư thế để giữ kết quả. Khi kéo, người bệnh nằm ngửa, dùng đai chậu và đai ngực, kéo đối kháng lên–xuống, ngày 2 lần, mỗi lần 2 giờ. Tổng trọng lượng 20–30kg, chia cho 4 ròng rọc.
4/ Phẫu thuật: (1) Thay khớp háng nhân tạo toàn bộ, (2) Cắt xương chỉnh hình cột sống, (3) Hàn khớp cùng-chậu.
5/ Hỗ trợ toàn diện: Bao gồm chế độ ăn giàu đạm, vitamin, dễ tiêu. Nếu loãng xương thì bổ sung canxi, dầu gan cá. Trừ giai đoạn cấp cần nghỉ ngơi tuyệt đối, còn lại có thể làm việc nhẹ. Môi trường không nên lạnh ẩm, nhiều gió. Đặc biệt tránh công việc cúi nhiều, đề phòng gù lưng.
Viêm cột sống dính khớp và viêm khớp dạng thấp có phải một bệnh không?
Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh viêm mạn tính tiến triển ở chính cột sống và cấu trúc liên quan, thường tổn thương khớp cùng-chậu, khớp diện mấu, dây chằng cạnh cột sống và các khớp lớn gần thân. Cuối cùng có thể gây dính cứng sợi hoặc xương và biến dạng. Trước đây, y học coi nó là “thể trung tâm của viêm khớp dạng thấp,” nhưng nay xác định VCSDK là một bệnh độc lập, khác với viêm khớp dạng thấp.
Nguyên nhân của VCSDK chưa rõ, song yếu tố di truyền cao hơn. Khoảng 96% bệnh nhân có kháng nguyên hòa hợp mô HLA-B27 dương tính. Ngoài ra, có giả thuyết liên quan đến nhiễm khuẩn tiết niệu, môi trường, yếu tố khác…
Tổn thương bệnh lý: giai đoạn sớm giống viêm khớp dạng thấp (với tăng sản kiểu mô hạt, viêm màng hoạt dịch), nhưng khác ở chỗ có ổ viêm mạn tính ở xương lân cận không liên tục với màng hoạt dịch. Tổn thương thường khởi đầu từ khớp cùng-chậu, lan dần lên thắt lưng, ngực, rồi cổ. Cả vai, háng, sườn-cột sống, cán xương ức, khớp mu… cũng hay bị. Giai đoạn muộn, hủy hoại khớp của VCSDK ít hơn RA, hiếm khi tiêu xương hay trật khớp. Nhưng bao khớp, dây chằng vôi hóa rõ, cuối cùng xương hóa
Biểu hiện lâm sàng của chứng cột sống dính khớp: 1/ Nam nhiều hơn nữ, hay khởi phát 16–30 tuổi. 2/Hầu hết khởi phát âm ỉ, triệu chứng đầu tiên thường đau ở lưng, mông, háng, cứng khớp thắt lưng, nặng hơn khi trời âm u/làm việc nặng, giảm bớt khi nghỉ ngơi hoặc chườm nóng. Nếu lan lên ngực, sườn khớp, gây thắt ngực, khó thở; lan lên cổ gây cứng cổ, toàn bộ cột sống cứng đờ. 3/Diễn biến chậm, xen kẽ giai đoạn phát và lui, đa phần tổn thương lan dần lên. Ở đợt hoạt động, đau và cứng là chính. 4/Gù lưng (khom) do cột sống bị lực gấp mạnh hơn lực duỗi, lâu ngày bị cố định ở tư thế cong. Nếu ảnh hưởng cổ, cổ gù, đầu cúi, tầm nhìn hạn chế.
5/Nếu lan đến khớp háng, có thể dẫn đến cứng khớp, gấp co, dính, cố định ở tư thế gập kéo vào trong. 6/Xét nghiệm: ~80% bệnh nhân có ESR tăng; >90% dương tính HLA-B27; RF đa phần âm tính. 7/X-quang: Sớm thấy thay đổi ở khớp cùng-chậu, có loãng xương, mờ xương dưới sụn, khe khớp mở rộng hoặc xơ cứng mép khớp… Dần dần các đốt sống có hình “cầu xương” giữa các thân đốt, tạo diện mạo “cột tre”.
Ly Nguyễn Nghị dịch
4/7/2023