Dẫn nhập
Thiên “Tuế lộ luận” nói về sự cảm nhiễm của con người trước thời khí trong năm. “Tuế” là năm, là khí vận của một năm; “lộ” có thể hiểu là sự phơi nhiễm, gặp phải, bị khí tà trong năm thấm vào. Thiên này nối tiếp các thiên trước về vệ khí, phong phủ, hư phong, bát phong, cho thấy bệnh không chỉ do một lúc nhiễm tà, mà còn do tà theo vệ khí, kinh lạc, tấu lý, trăng tháng, thời tiết mà vào sâu hay nông, phát sớm hay muộn.
Ý chính của thiên là: tà khí muốn làm bệnh phải gặp cửa mở. Cửa ấy có thể là tấu lý mở khi vệ khí đến, có thể là lúc trăng khuyết khí huyết hư, có thể là năm suy, tháng rỗng, thời khí mất hòa. Nếu ba điều hư cùng gặp, lại bị tặc phong làm thương, thì bệnh có thể bạo phát, thậm chí tử vong.
1
黃帝問於歧伯曰:經言夏日傷暑,秋病瘧,瘧之發以時,其故何也?
Hoàng Đế vấn ư Kỳ Bá viết: Kinh ngôn hạ nhật thương thử, thu bệnh ngược, ngược chi phát dĩ thời, kỳ cố hà dã?
Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá rằng: Kinh nói mùa hạ bị thương bởi thử khí, mùa thu phát bệnh sốt rét. Bệnh sốt rét phát ra có giờ có thời, nguyên nhân là gì?
Giải thích
“Thử” là khí nóng mùa hạ. “Ngược” là chứng sốt rét, phát từng cơn, có lúc rét, lúc nóng, có chu kỳ. Hoàng Đế hỏi vì sao tà bị cảm từ mùa hạ mà đến mùa thu mới phát, lại phát theo thời điểm nhất định.
歧伯對曰:邪客於風府,病循膂而下,衛氣一日一夜,常大會於風府,其明日日下一節,故其日作晏,此其先客於脊背也。
Kỳ Bá đối viết: Tà khách ư Phong phủ, bệnh tuần lữ nhi hạ, vệ khí nhất nhật nhất dạ, thường đại hội ư Phong phủ, kỳ minh nhật nhật hạ nhất tiết, cố kỳ nhật tác yến, thử kỳ tiên khách ư tích bối dã.
Kỳ Bá đáp: Tà khí làm khách ở Phong phủ, bệnh theo đường lữ ở lưng mà đi xuống. Vệ khí trong một ngày một đêm thường hội lớn ở Phong phủ; sang ngày hôm sau lại hạ xuống một đốt, cho nên ngày phát bệnh càng muộn. Đó là vì tà trước hết làm khách ở vùng sống lưng và lưng.
Giải thích
“Phong phủ” là nơi phong tà dễ vào, cũng là chỗ vệ khí thường hội. “Lữ” chỉ dải cơ dọc hai bên sống lưng. Tà khí trước ở Phong phủ và lưng, rồi theo đường lưng đi xuống từng đốt. Vì vệ khí mỗi ngày đi đến chỗ khác nhau, nên lúc tà và vệ khí gặp nhau cũng lùi dần, khiến cơn sốt rét phát ngày càng muộn.
故每至於風府則腠理開,腠理開則邪氣入,邪氣入則病作,此所以日作尚晏也。
Cố mỗi chí ư Phong phủ tắc tấu lý khai, tấu lý khai tắc tà khí nhập, tà khí nhập tắc bệnh tác, thử sở dĩ nhật tác thượng yến dã.
Cho nên mỗi khi vệ khí đến Phong phủ thì tấu lý mở; tấu lý mở thì tà khí vào; tà khí vào thì bệnh phát. Đó là lý do mỗi ngày bệnh phát lại càng muộn.
Giải thích
Tấu lý mở là cửa cho tà vào và cũng là lúc tà có thể giao tranh với vệ khí. Khi vệ khí đến nơi tà ẩn, tà bị động mà phát bệnh. Vì đường đi của vệ khí ngày sau hạ xuống một tiết, nên thời điểm giao tranh cũng muộn hơn.
衛氣之行風府,日下一節,二十一日下至尾底,二十二日入脊內,注于伏沖之脈,其行九日,出於缺盆之中,其氣上行,故其病稍益至。
Vệ khí chi hành Phong phủ, nhật hạ nhất tiết, nhị thập nhất nhật hạ chí vĩ để, nhị thập nhị nhật nhập tích nội, chú vu Phục xung chi mạch, kỳ hành cửu nhật, xuất ư Khuyết bồn chi trung, kỳ khí thượng hành, cố kỳ bệnh tiệm ích chí.
Vệ khí đi qua Phong phủ, mỗi ngày hạ xuống một đốt. Đến ngày thứ hai mươi mốt thì xuống đến xương cụt; ngày thứ hai mươi hai thì vào trong sống lưng, rót vào mạch Phục xung. Nó đi chín ngày, rồi ra ở giữa Khuyết bồn. Khí ấy đi lên, cho nên bệnh dần dần nặng hơn.
Giải thích
Đoạn này nói đường tà và vệ khí chuyển từ ngoài lưng xuống dưới, rồi vào trong sống lưng, liên hệ Phục xung, sau đó ra vùng Khuyết bồn ở trên ngực cổ. Khi khí từ sâu lại đi lên, bệnh có xu hướng tăng. Đây là cách Nội kinh giải thích chu kỳ và sự biến đổi nặng nhẹ của cơn ngược.
其內搏於五藏,橫連募原,其道遠,其氣深,其行遲,不能日作,故次日乃蓄積而作焉。
Kỳ nội bác ư ngũ tạng, hoành liên mộ nguyên, kỳ đạo viễn, kỳ khí thâm, kỳ hành trì, bất năng nhật tác, cố thứ nhật nãi súc tích nhi tác yên.
Khi tà vào trong đánh vào ngũ tạng, ngang nối với mộ nguyên, đường đi xa, khí ở sâu, vận hành chậm, không thể phát mỗi ngày; cho nên cách ngày mới tích tụ mà phát.
Giải thích
Khi tà còn ở nông, gặp vệ khí thì có thể phát hằng ngày. Khi tà vào sâu, liên hệ ngũ tạng và mộ nguyên, đường xa, khí sâu, vận hành chậm, nên không phát mỗi ngày nữa. Nó phải tích tụ đủ rồi mới phát, vì vậy có cơn cách nhật. Đây là giải thích cổ về sốt rét cách ngày.
Tiểu kết phần sốt rét phát có thời
Phần đầu thiên này giải thích rằng bệnh sốt rét phát theo thời là do tà khí ẩn ở Phong phủ, sống lưng, rồi theo vệ khí mà chuyển. Vệ khí mỗi ngày hội ở Phong phủ, rồi ngày sau hạ một tiết; khi vệ khí gặp nơi tà ẩn, tấu lý mở, tà khí động, bệnh phát. Vì vị trí gặp nhau mỗi ngày lùi xuống, nên giờ phát bệnh cũng muộn dần.
Nếu tà vào sâu trong sống lưng, Phục xung, ngũ tạng, mộ nguyên, thì đường xa, khí sâu, đi chậm, bệnh không phát mỗi ngày, mà tích lại rồi cách ngày mới phát.
Tóm lại, sốt rét không chỉ là hàn nhiệt phát ngẫu nhiên. Theo Nội kinh, nó liên hệ đến vệ khí, Phong phủ, sống lưng, tấu lý, ngũ tạng và mộ nguyên. Tà ở nông thì phát mau; tà vào sâu thì phát chậm, phát cách ngày.
2
黃帝曰:衛氣每至於風府,腠理乃發,發則邪入焉。
Hoàng Đế viết: Vệ khí mỗi chí ư Phong phủ, tấu lý nãi phát, phát tắc tà nhập yên.
Hoàng Đế hỏi: Vệ khí mỗi khi đến Phong phủ thì tấu lý liền mở; tấu lý mở thì tà khí nhân đó mà vào.
Giải thích
Hoàng Đế nhắc lại điểm then chốt: vệ khí đến đâu thì tấu lý nơi đó có sự khai mở. Khi tấu lý mở, nếu gặp tà khí thì tà có thể thừa cơ xâm nhập. Đây là cơ sở để giải thích vì sao tà ẩn trong người lại phát bệnh theo thời của vệ khí.
其衛氣日下一節,則不當風府,奈何?
Kỳ vệ khí nhật hạ nhất tiết, tắc bất đương Phong phủ, nại hà?
Nhưng vệ khí mỗi ngày hạ xuống một đốt, như vậy thì không còn đúng ở Phong phủ nữa, vậy phải hiểu thế nào?
Giải thích
Hoàng Đế thấy có chỗ cần làm rõ: nếu vệ khí ngày nào cũng xuống thấp hơn một đốt, thì sao vẫn nói “đến Phong phủ tấu lý mở”? Có phải Phong phủ chỉ là một huyệt cố định ở gáy, hay còn có ý nghĩa rộng hơn?
歧伯曰:風府無常,衛氣之所應,必開其腠理,氣之所舍節,則其府也。
Kỳ Bá viết: Phong phủ vô thường, vệ khí chi sở ứng, tất khai kỳ tấu lý, khí chi sở xá tiết, tắc kỳ phủ dã.
Kỳ Bá đáp: Phong phủ không có chỗ cố định. Nơi nào vệ khí ứng đến thì tấu lý nơi đó tất mở; đốt nào khí ở lại, thì nơi ấy chính là phủ của nó.
Giải thích
Đây là câu rất quan trọng. “Phong phủ” không chỉ nên hiểu cứng là một huyệt cố định, mà còn có nghĩa là nơi phong tà và vệ khí gặp nhau, nơi tấu lý mở ra. Vệ khí dừng ở đốt nào, nơi ấy trở thành “phủ” cho khí; nếu gặp tà, bệnh phát ở đó.
Ý này rất tinh tế: bệnh không chỉ do vị trí giải phẫu cố định, mà do khí đến đâu, tà ẩn ở đâu, tấu lý mở lúc nào. Vì vậy cùng là tà phong, nhưng mỗi ngày phát ở thời khác, vùng khác, sâu nông khác.
3
黃帝曰:善。夫風之與瘧也,相與同類,而風常在,而瘧特以時休,何也?
Hoàng Đế viết: Thiện. Phù phong chi dữ ngược dã, tương dữ đồng loại, nhi phong thường tại, nhi ngược đặc dĩ thời hưu, hà dã?
Hoàng Đế nói: Hay thay. Phong và sốt rét vốn cùng một loại, nhưng bệnh phong thì thường ở đó, còn sốt rét lại đặc biệt có lúc phát, có lúc nghỉ, là vì sao?
Giải thích
Hoàng Đế hỏi sự khác nhau giữa phong bệnh và ngược bệnh. Cả hai đều liên hệ phong tà, nhưng phong bệnh thường kéo dài liên tục; còn ngược bệnh phát từng cơn, có chu kỳ, có lúc nghỉ. Vấn đề nằm ở chỗ tà khí lưu ở đâu và gặp vệ khí như thế nào.
歧伯曰:風氣留其處,瘧氣隨經絡,沉以內搏,故衛氣應,乃作也。
Kỳ Bá viết: Phong khí lưu kỳ xứ, ngược khí tùy kinh lạc, trầm dĩ nội bác, cố vệ khí ứng, nãi tác dã.
Kỳ Bá đáp: Phong khí lưu lại tại chỗ của nó; còn ngược khí thì theo kinh lạc, chìm sâu vào trong mà giao tranh. Vì vậy khi vệ khí ứng đến, bệnh mới phát.
Giải thích
Phong bệnh thường là tà lưu tại một nơi, nên triệu chứng có thể kéo dài liên tục. Ngược bệnh thì tà theo kinh lạc vào sâu, ẩn phục bên trong, không phải lúc nào cũng phát. Chỉ khi vệ khí vận hành đến, chính tà giao tranh, bệnh mới phát ra thành cơn.
Đây là lý do bệnh sốt rét có thời phát và thời nghỉ. Khi vệ khí chưa ứng đến nơi tà ẩn, bệnh tạm yên; khi vệ khí đến, tà bị khuấy động, hàn nhiệt phát ra.
帝曰:善。
Đế viết: Thiện.
Hoàng Đế nói: Hay thay.
Tiểu kết phần Phong phủ vô thường và ngược khí theo kinh lạc
Đoạn này giải thích thêm rằng “Phong phủ” không chỉ là một chỗ cố định. Nơi nào vệ khí đến, tấu lý mở, khí ở lại, thì nơi ấy có thể gọi là phủ của khí. Nếu tà ẩn ở đó, khi vệ khí đến thì bệnh phát.
Phong bệnh và ngược bệnh cùng liên hệ phong tà, nhưng khác nhau ở chỗ: phong khí thường lưu tại chỗ nên bệnh kéo dài; ngược khí theo kinh lạc vào sâu, trầm phục bên trong, chỉ khi vệ khí ứng đến mới phát. Vì vậy sốt rét có cơn, có giờ, có lúc nghỉ.
Tóm lại, muốn hiểu bệnh ngược phải hiểu sự vận hành của vệ khí. Không phải tà lúc nào cũng bộc phát; nó ẩn trong kinh lạc, đợi vệ khí đến giao tranh mới phát. Đây là phép giải thích rất đặc sắc của Nội kinh về bệnh phát theo chu kỳ.
4
黃帝問於少師曰:余聞四時八風之中人也,故有寒暑,寒則皮膚急而腠理閉;暑則皮膚緩而腠理開。
Hoàng Đế vấn ư Thiếu Sư viết: Dư văn tứ thời bát phong chi trúng nhân dã, cố hữu hàn thử, hàn tắc bì phu cấp nhi tấu lý bế; thử tắc bì phu hoãn nhi tấu lý khai.
Hoàng Đế hỏi Thiếu Sư rằng: Ta nghe bốn mùa, tám gió trúng vào người, cho nên có lạnh và nóng. Lạnh thì da căng gấp, tấu lý đóng; nóng thì da mềm lỏng, tấu lý mở.
Giải thích
Bốn mùa và tám gió là khí hậu từ bên ngoài. Hàn làm co rút, thu liễm, nên da căng, tấu lý đóng. Thử nhiệt làm thư giãn, phát tán, nên da mềm, tấu lý mở. Tấu lý đóng mở chính là cửa nông sâu để tà khí có thể vào thân hay không.
賊風邪氣,因得以入乎?將必須八正虛邪,乃能傷人乎?
Tặc phong tà khí, nhân đắc dĩ nhập hồ? Tương tất tu Bát chính hư tà, nãi năng thương nhân hồ?
Tặc phong tà khí có thể nhân đó mà vào chăng? Hay nhất định phải là hư tà của Bát chính mới có thể làm thương người?
Giải thích
Hoàng Đế hỏi: tà khí vào người là do tấu lý mở thông thường, hay phải đúng loại hư phong, hư tà từ Bát chính mới làm hại? Đây là câu hỏi về điều kiện để tà nhập: do thời khí, do tấu lý, hay do tà khí đặc biệt mạnh.
少師答曰:不然。
Thiếu Sư đáp viết: Bất nhiên.
Thiếu Sư đáp: Không hẳn như vậy.
Giải thích
Thiếu Sư phủ định cách hiểu quá cứng. Không phải chỉ khi gặp Bát chính hư tà mới bệnh; tặc phong tà khí nếu gặp đúng cửa mở, đúng lúc thân hư, cũng có thể vào và gây bệnh.
賊風邪氣之中人也,不得以時,然必因其開也,其入深,其內極病,其病人也,卒暴。
Tặc phong tà khí chi trúng nhân dã, bất đắc dĩ thời, nhiên tất nhân kỳ khai dã, kỳ nhập thâm, kỳ nội cực bệnh, kỳ bệnh nhân dã, tốt bạo.
Tặc phong tà khí trúng vào người không nhất thiết theo đúng thời; nhưng nhất định phải nhân lúc tấu lý mở. Khi đã nhân lúc mở mà vào, tà vào sâu, bên trong gây bệnh rất nặng, làm người bệnh phát đột ngột và dữ dội.
Giải thích
Tà không phải lúc nào cũng theo quy luật mùa tiết rõ ràng. Nhưng muốn vào sâu thì phải gặp tấu lý mở. Khi cửa biểu mở, tà khí đi sâu vào trong, bệnh thường bạo phát, dữ, nhanh, vì tà vượt qua được lớp bảo vệ bên ngoài.
因其閉也,其入淺以留,其病也,徐以遲。
Nhân kỳ bế dã, kỳ nhập thiển dĩ lưu, kỳ bệnh dã, từ dĩ trì.
Nếu nhân lúc tấu lý đóng, tà chỉ vào nông rồi lưu lại; bệnh phát chậm và tiến triển từ từ.
Giải thích
Khi tấu lý đóng, da thịt co chặt, vệ khí còn giữ ngoài biểu, tà khó vào sâu. Tà nếu vào được cũng chỉ ở nông, lưu lại ngoài biểu hoặc phân nhục, nên bệnh không bạo phát mà kéo dài, chậm chạp. Như vậy, sâu hay nông, cấp hay hoãn, đều tùy lúc tấu lý mở hay đóng.
Tiểu kết phần tấu lý mở đóng và tà khí vào nông sâu
Đoạn này nói rất rõ cơ chế tà khí xâm nhập.
Hàn làm da căng, tấu lý đóng.
Thử nhiệt làm da mềm, tấu lý mở.
Tặc phong tà khí không nhất thiết chỉ theo một thời cố định, nhưng muốn vào sâu thì phải nhân lúc tấu lý mở.
Nếu tà vào lúc tấu lý mở, bệnh dễ sâu, nội thương nặng, phát đột ngột dữ dội.
Nếu tà gặp lúc tấu lý đóng, chỉ vào nông rồi lưu lại, bệnh phát chậm.
Tóm lại, không phải gặp gió là bệnh, cũng không phải chỉ có Bát chính hư tà mới bệnh. Điều quyết định là tà khí gặp thân thể ở trạng thái nào: tấu lý mở hay đóng, vệ khí mạnh hay yếu, khí huyết đầy hay hư. Người biết dưỡng sinh phải đặc biệt tránh gió khi đang ra mồ hôi, sau mệt nhọc, sau tắm, sau lao lực, hoặc lúc thời khí nóng làm tấu lý mở.
5
黃帝曰:有寒溫和適,腠理不開,然有卒病者,其故何也?
Hoàng Đế viết: Hữu hàn ôn hòa thích, tấu lý bất khai, nhiên hữu tốt bệnh giả, kỳ cố hà dã?
Hoàng Đế hỏi: Có khi khí hậu lạnh ấm điều hòa, dễ chịu, tấu lý không mở, vậy mà vẫn có người đột nhiên phát bệnh, nguyên nhân là gì?
Giải thích
Hoàng Đế hỏi thêm một tầng sâu hơn. Nếu không lạnh quá, không nóng quá, tấu lý không mở rõ ràng, vậy vì sao vẫn có bệnh bạo phát? Câu hỏi này dẫn đến thuyết con người ứng với trời đất, nhật nguyệt, đặc biệt là trăng tròn và trăng khuyết.
少師答曰:帝弗知邪入乎。雖平居其腠理開閉緩急,其故常有時也。
Thiếu Sư đáp viết: Đế phất tri tà nhập hồ. Tuy bình cư kỳ tấu lý khai bế hoãn cấp, kỳ cố thường hữu thời dã.
Thiếu Sư đáp: Bệ hạ chưa biết hết cách tà khí vào người chăng? Dù lúc bình thường, sự mở đóng, lỏng chặt của tấu lý cũng vốn có thời của nó.
Giải thích
Không phải chỉ có nóng lạnh bên ngoài mới làm tấu lý mở đóng. Trong thân người, tấu lý còn theo thời: theo ngày đêm, theo vệ khí, theo trăng tháng, theo sự đầy vơi của khí huyết. Vì vậy khi nhìn bên ngoài tưởng là khí hậu điều hòa, bên trong vẫn có lúc tấu lý dễ mở, vệ khí dễ suy.
黃帝曰:可得聞乎?
Hoàng Đế viết: Khả đắc văn hồ?
Hoàng Đế hỏi: Có thể được nghe chăng?
少師曰:人與天地相參也,與日月相應也。
Thiếu Sư viết: Nhân dữ thiên địa tương tham dã, dữ nhật nguyệt tương ứng dã.
Thiếu Sư nói: Con người tham dự cùng trời đất, tương ứng với mặt trời và mặt trăng.
Giải thích
Đây là cương lĩnh của đoạn này. Thân người không tách khỏi thiên địa. Mặt trời chủ ngày đêm, dương khí; mặt trăng chủ đầy vơi, thủy triều, âm huyết. Khí huyết, vệ khí, tấu lý của con người cũng có lúc đầy, lúc vơi theo nhịp ấy.
故月滿則海水西盛,人血氣積,肌肉充,皮膚致,毛髮堅,腠理郗,煙垢著,當是之時,雖遇賊風,其入淺不深。
Cố nguyệt mãn tắc hải thủy tây thịnh, nhân huyết khí tích, cơ nhục sung, bì phu trí, mao phát kiên, tấu lý khích, yên cấu trước, đương thị chi thời, tuy ngộ tặc phong, kỳ nhập thiển bất thâm.
Cho nên khi trăng đầy thì nước biển thịnh về phía Tây; ở người, huyết khí tích đầy, cơ nhục sung mãn, da kín chắc, lông tóc bền, tấu lý khép chặt, bụi bẩn dễ bám. Vào lúc ấy, dù gặp tặc phong, tà cũng chỉ vào nông, không vào sâu.
Giải thích
Trăng tròn tượng cho âm huyết đầy đủ. Khi huyết khí đầy, cơ nhục chắc, da kín, tấu lý khép, vệ khí giữ ngoài biểu tốt hơn. Vì vậy gặp tà phong cũng khó vào sâu. “Yên cấu trước” là bụi bẩn bám lại, hàm ý da lông kín, không tán mở.
至其月郭空,則海水東盛,人氣血虛,其衛氣去,形獨居,肌肉減,皮膚縱,腠理開,毛髮殘,膠理薄,煙垢落,當是之時,遇賊風則其入深,其病人也,卒暴。
Chí kỳ nguyệt quách không, tắc hải thủy đông thịnh, nhân khí huyết hư, kỳ vệ khí khứ, hình độc cư, cơ nhục giảm, bì phu túng, tấu lý khai, mao phát tàn, giao lý bạc, yên cấu lạc, đương thị chi thời, ngộ tặc phong tắc kỳ nhập thâm, kỳ bệnh nhân dã, tốt bạo.
Đến khi vành trăng rỗng khuyết, thì nước biển thịnh về phía Đông; ở người, khí huyết hư, vệ khí rời đi, hình thể như trơ lại một mình, cơ nhục giảm, da lỏng, tấu lý mở, lông tóc suy, lớp kết cấu giữa da thịt mỏng, bụi bẩn rơi đi. Vào lúc ấy, nếu gặp tặc phong thì tà vào sâu, làm người bệnh đột ngột và dữ dội.
Giải thích
Trăng khuyết tượng cho khí huyết vơi, vệ khí không giữ biểu mạnh. Khi da lỏng, tấu lý mở, cơ nhục giảm, tà phong dễ nhân hư mà vào sâu. Vì vào sâu nên bệnh phát gấp, dữ, có thể thành bạo bệnh.
Đoạn này không nên hiểu máy móc rằng cứ trăng khuyết là tất bệnh, mà nên hiểu theo tinh thần Nội kinh: khi khí huyết suy, vệ khí yếu, tấu lý mở, gặp tà phong thì nguy cơ bệnh sâu và cấp cao hơn. Trăng đầy trăng khuyết là cách cổ nhân nói về nhịp đầy vơi của khí huyết trong thân người.
Tiểu kết phần trăng đầy trăng khuyết và tấu lý
Đoạn này giải thích rằng tấu lý không chỉ mở đóng do nóng lạnh bên ngoài. Nó còn theo thời của trời đất, nhật nguyệt.
Khi trăng đầy, huyết khí con người tích đầy, cơ nhục sung, da kín, lông tóc chắc, tấu lý khép. Gặp tà phong thì tà vào nông, khó vào sâu.
Khi trăng khuyết, khí huyết hư, vệ khí suy, cơ nhục giảm, da lỏng, tấu lý mở. Gặp tặc phong thì tà dễ vào sâu, bệnh phát đột ngột và dữ.
Tóm lại, cùng một luồng gió nhưng gặp lúc chính khí đầy thì chỉ gây bệnh nông; gặp lúc khí huyết hư, vệ khí yếu thì có thể vào sâu, thành bạo bệnh. Đây là lý do Nội kinh luôn đặt phòng bệnh lên trước trị bệnh: phải biết lúc nào thân mình đang hư để tránh tà.
6
黃帝曰:其有卒然暴死暴病者,何也?
Hoàng Đế viết: Kỳ hữu tốt nhiên bạo tử bạo bệnh giả, hà dã?
Hoàng Đế hỏi: Có người bỗng nhiên chết đột ngột, hoặc phát bệnh dữ dội đột ngột, là vì sao?
Giải thích
Hoàng Đế hỏi về nguyên nhân của “bạo tử, bạo bệnh”. Ở đây không chỉ nói một tà khí đơn lẻ, mà nói khi nhiều điều bất lợi cùng gặp: năm suy, tháng rỗng, thời khí mất hòa, lại bị tặc phong làm thương.
少師答曰:三虛者,其死暴疾也;得三實者邪不能傷人也。
Thiếu Sư đáp viết: Tam hư giả, kỳ tử bạo tật dã; đắc tam thực giả, tà bất năng thương nhân dã.
Thiếu Sư đáp: Gặp ba điều hư thì người ấy dễ chết nhanh, bệnh dữ. Gặp ba điều thực thì tà khí không thể làm thương người.
Giải thích
“Tam hư” là ba tầng bất lợi cùng rỗng hư; “tam thực” là ba tầng thuận lợi cùng đầy đủ. Khi trời đất, thời tiết, trăng tháng và thân người đều bất lợi, tà dễ vào sâu. Khi các điều kiện đều đầy đủ, chính khí vững, tà khó làm hại.
黃帝曰:願聞三虛。
Hoàng Đế viết: Nguyện văn tam hư.
Hoàng Đế nói: Xin được nghe về tam hư.
少師曰:乘年之衰,逢月之空,失時之和,因為賊風所傷,是謂三虛。
Thiếu Sư viết: Thừa niên chi suy, phùng nguyệt chi không, thất thời chi hòa, nhân vi tặc phong sở thương, thị vị tam hư.
Thiếu Sư nói: Gặp lúc khí của năm suy, gặp lúc mặt trăng rỗng khuyết, lại mất sự điều hòa của thời khí, nhân đó bị tặc phong làm thương, gọi là tam hư.
Giải thích
Tam hư gồm ba điều.
Một là năm suy, tức khí vận của năm không thuận, thời khí yếu hoặc lệch.
Hai là tháng rỗng, tức lúc trăng khuyết, khí huyết con người cũng dễ hư, vệ khí không giữ biểu chắc.
Ba là mất hòa của thời, tức lạnh nóng không điều, thời tiết trái thường.
Ba điều ấy cùng gặp, lại bị tặc phong làm thương, thì tà dễ vào sâu, bệnh phát gấp và nặng.
故論不知三虛,工反為麤。
Cố luận bất tri tam hư, công phản vi thô.
Cho nên bàn bệnh mà không biết tam hư, người thầy thuốc trái lại thành thô vụng.
Giải thích
Người thầy thuốc chỉ nhìn triệu chứng mà không xét năm, tháng, thời khí, chính khí hư thực thì chưa tinh. “Thô” là thô sơ, chưa sâu. Nội kinh muốn người trị bệnh phải biết bệnh trong thân người nhưng cũng phải biết khí ngoài trời đất.
帝曰:願聞三實。
Đế viết: Nguyện văn tam thực.
Hoàng Đế nói: Xin được nghe về tam thực.
少師曰:逢年之盛,遇月之滿,得時之和,雖有賊風邪氣,不能危之也。
Thiếu Sư viết: Phùng niên chi thịnh, ngộ nguyệt chi mãn, đắc thời chi hòa, tuy hữu tặc phong tà khí, bất năng nguy chi dã.
Thiếu Sư nói: Gặp lúc khí của năm thịnh, gặp trăng đầy, được thời khí điều hòa, thì dù có tặc phong tà khí, cũng không thể làm nguy hại người ấy.
Giải thích
Tam thực là đối lại với tam hư.
Năm thịnh thì đại khí trong năm thuận.
Trăng đầy thì khí huyết con người tích đầy, cơ nhục sung, tấu lý kín.
Thời hòa thì lạnh nóng đúng mức, không nghịch mùa.
Khi ba điều ấy đầy đủ, chính khí được trợ, vệ khí giữ biểu tốt, tà khí dù đến cũng khó vào sâu, khó gây nguy hiểm.
黃帝曰:善乎哉論!明乎哉道!請藏之金匱,命曰三實。然,此一夫之論也。
Hoàng Đế viết: Thiện hồ tai luận! Minh hồ tai đạo! Thỉnh tàng chi kim quỹ, mệnh viết Tam thực. Nhiên, thử nhất phu chi luận dã.
Hoàng Đế nói: Hay thay lời luận ấy! Sáng rõ thay đạo ấy! Xin cất vào rương vàng, đặt tên là “Tam thực”. Nhưng đó là lời bàn của một người vậy.
Giải thích
“Kim quỹ” là rương vàng, chỉ điều quý cần cất giữ. Hoàng Đế khen thuyết tam hư, tam thực là đạo lý sáng rõ về phòng bệnh. Câu cuối “thử nhất phu chi luận” có thể hiểu là lời bàn riêng biệt của một bậc thầy, nhưng có giá trị đáng ghi nhớ.
Tiểu kết phần tam hư và tam thực
Đoạn này nêu nguyên nhân của bạo bệnh, bạo tử.
Tam hư là: năm suy, trăng khuyết, thời khí mất hòa; lại gặp tặc phong làm thương. Khi ấy khí trời không trợ, khí người không đầy, tấu lý dễ mở, vệ khí suy, tà dễ vào sâu, nên bệnh phát nhanh và dữ.
Tam thực là: năm thịnh, trăng đầy, thời khí điều hòa. Khi ấy khí huyết sung, cơ nhục đầy, da kín, vệ khí vững, nên dù gặp tặc phong tà khí cũng khó bị nguy hại.
Tóm lại, bệnh nặng đột ngột không chỉ do tà mạnh, mà do tà gặp đúng lúc người và trời đều hư. Người biết dưỡng sinh phải biết tránh gió độc khi thân mệt, khi thời tiết trái thường, khi khí huyết suy, khi sau ra mồ hôi hoặc sau lao lực. Đây là tinh thần “phòng trước khi bệnh vào sâu” của Nội kinh. 7
黃帝曰:願聞歲之所以皆同病者,何因而然?
Hoàng Đế viết: Nguyện văn tuế chi sở dĩ giai đồng bệnh giả, hà nhân nhi nhiên?
Hoàng Đế hỏi: Ta muốn nghe vì sao trong một năm, mọi người thường mắc những bệnh giống nhau, nguyên nhân do đâu mà như vậy?
Giải thích
Hoàng Đế chuyển từ bệnh của một người sang bệnh của cả một năm, cả dân chúng. Khi nhiều người cùng mắc một loại bệnh, Nội kinh cho rằng phải xét thời khí của năm, bát phong, hư phong, hàn ôn có hòa hay không.
少師曰:此八正之候也。
Thiếu Sư viết: Thử Bát chính chi hậu dã.
Thiếu Sư đáp: Đó là do sự chờ xét của Bát chính.
Giải thích
“Bát chính” là tám tiết khí, tám phương chính, cũng liên hệ tám gió. Muốn biết vì sao dân chúng cùng bệnh trong một năm, phải xét gió mưa và thời khí vào những thời điểm trọng yếu.
黃帝曰:候之奈何?
Hoàng Đế viết: Hậu chi nại hà?
Hoàng Đế hỏi: Chờ xét như thế nào?
少師曰:候此者,常以冬至之日,太一立於葉蟄之宮,其至也,天必應之以風雨者矣。
Thiếu Sư viết: Hậu thử giả, thường dĩ Đông chí chi nhật, Thái Nhất lập ư Diệp Trập chi cung, kỳ chí dã, thiên tất ứng chi dĩ phong vũ giả hĩ.
Thiếu Sư nói: Muốn chờ xét điều này, thường lấy ngày Đông chí làm mốc. Ngày ấy Thái Nhất đứng ở cung Diệp Trập; khi Thái Nhất đến, trời tất ứng bằng gió mưa.
Giải thích
Đông chí là mốc lớn của một năm, âm cực mà dương sinh. Thái Nhất đứng ở Diệp Trập là phép Cửu cung đã nói ở thiên trước. Nếu gió mưa ứng đúng, khí vận có thể thuận; nếu gió mưa từ phương hư, trái thời, thì thành dấu của hư phong, dễ gây bệnh trong năm.
風雨從南方來者,為虛風,賊傷人者也。
Phong vũ tùng nam phương lai giả, vi hư phong, tặc thương nhân giả dã.
Gió mưa từ phương Nam đến thì là hư phong, là tặc tà làm thương người.
Giải thích
Trong phép này, vào ngày Đông chí, nếu gió mưa đến từ phương không thuận thì gọi là hư phong. Hư phong là gió trái thời, trái phương, dễ thừa lúc người hư mà vào, làm thương dân chúng.
其以夜半至也,萬民皆臥而弗犯也,故其歲民少病。
Kỳ dĩ dạ bán chí dã, vạn dân giai ngọa nhi phất phạm dã, cố kỳ tuế dân thiểu bệnh.
Nếu gió ấy đến lúc nửa đêm, muôn dân đều đang nằm ngủ nên không phạm phải, vì vậy năm ấy dân ít bệnh.
Giải thích
Cùng là hư phong, nhưng nếu đến lúc mọi người đang ngủ trong nhà, ít tiếp xúc, thì không bị phạm nhiều. Điều này rất thực tế: tà khí có hại hay không còn tùy người có bị phơi nhiễm hay tránh được.
其以晝至者,萬民懈惰而皆中於虛風,故萬民多病。
Kỳ dĩ trú chí giả, vạn dân giải nọa nhi giai trúng ư hư phong, cố vạn dân đa bệnh.
Nếu gió ấy đến ban ngày, muôn dân đang buông lỏng, nhàn tản, đều trúng hư phong, nên dân trong năm ấy nhiều bệnh.
Giải thích
Ban ngày con người đi lại, làm việc, tiếp xúc với gió mưa nhiều hơn. Nếu hư phong đến lúc ấy, nhiều người cùng bị cảm, nên trong năm dễ có nhiều bệnh tương tự. Đây là cách Nội kinh giải thích bệnh khí hậu có tính quần thể.
虛邪入客於骨而不發於外,至其立春,陽氣大發,腠理開,因立春之日,風從西方來,萬民又皆中於虛風,此兩邪相搏,經氣結代者矣。
Hư tà nhập khách ư cốt nhi bất phát ư ngoại, chí kỳ Lập xuân, dương khí đại phát, tấu lý khai, nhân Lập xuân chi nhật, phong tùng tây phương lai, vạn dân hựu giai trúng ư hư phong, thử lưỡng tà tương bác, kinh khí kết đại giả hĩ.
Hư tà vào làm khách ở xương mà chưa phát ra ngoài. Đến tiết Lập xuân, dương khí phát mạnh, tấu lý mở; nhân ngày Lập xuân, gió từ phương Tây đến, muôn dân lại đều trúng hư phong. Hai tà ấy giao tranh với nhau, khiến kinh khí kết lại và thay đổi.
Giải thích
Tà thứ nhất vào sâu ở xương, ẩn mà chưa phát. Đến Lập xuân, dương khí bốc lên, tấu lý mở, tà có cơ hội động. Nếu lúc ấy lại gặp hư phong từ phương Tây, tà mới và tà cũ cùng giao tranh, kinh khí bị kết, vận hành không đều, bệnh phát ra rộng. Đây là bệnh do “phục tà” cộng với “tân tà”.
故諸逢其風而遇其雨者,命曰遇歲露焉。
Cố chư phùng kỳ phong nhi ngộ kỳ vũ giả, mệnh viết ngộ tuế lộ yên.
Cho nên những người gặp phải gió ấy, lại gặp mưa ấy, gọi là gặp phải “tuế lộ”.
Giải thích
“Tuế lộ” là sự phơi nhiễm với tà khí của năm: gió mưa trái thời, hư phong, thời khí không hòa. Khi con người gặp đúng loại gió mưa ấy, tà khí của năm thấm vào thân, về sau có thể phát bệnh.
因歲之和,而少賊風者,民少病而少死。
Nhân tuế chi hòa, nhi thiểu tặc phong giả, dân thiểu bệnh nhi thiểu tử.
Nếu nhờ khí của năm điều hòa, ít tặc phong, thì dân ít bệnh và ít chết.
歲多賊風邪氣,寒溫不和,則民多病而死矣。
Tuế đa tặc phong tà khí, hàn ôn bất hòa, tắc dân đa bệnh nhi tử hĩ.
Nếu trong năm có nhiều tặc phong tà khí, lạnh ấm không điều hòa, thì dân nhiều bệnh và nhiều người chết.
Giải thích
Đoạn cuối nêu rõ ảnh hưởng của khí vận một năm. Năm thuận, hàn ôn điều hòa, ít tặc phong, thì bệnh ít. Năm nghịch, gió độc nhiều, nóng lạnh thất thường, thì bệnh nhiều và nặng. Đây là tư tưởng y học khí hậu rất rõ trong Nội kinh.
Tiểu kết phần tuế lộ và bệnh cùng năm
Đoạn này giải thích vì sao trong cùng một năm, nhiều người có thể mắc bệnh giống nhau.
Muốn xét bệnh của năm phải lấy Đông chí làm mốc, xem Thái Nhất, gió mưa, bát phong, hư phong.
Nếu hư phong đến nửa đêm, dân ít phạm phải, nên bệnh ít.
Nếu hư phong đến ban ngày, nhiều người gặp gió, nên bệnh nhiều.
Nếu hư tà cũ ẩn ở xương, đến Lập xuân dương khí phát, tấu lý mở, lại gặp hư phong mới, thì hai tà giao tranh, kinh khí kết lại, bệnh phát rộng.
Gặp gió mưa trái thời ấy gọi là gặp “tuế lộ”.
Tóm lại, bệnh của một năm không chỉ do từng người riêng lẻ, mà còn do thời khí chung. Năm nào hàn ôn điều hòa, ít tặc phong thì dân ít bệnh. Năm nào nhiều gió tà, nóng lạnh thất thường thì dân dễ bệnh, bệnh cũng dễ nặng.
8
黃帝曰:虛邪之風,其所傷貴賤何如,候之奈何?
Hoàng Đế viết: Hư tà chi phong, kỳ sở thương quý tiện hà như, hậu chi nại hà?
Hoàng Đế hỏi: Gió hư tà làm thương người sang kẻ hèn khác nhau như thế nào, và phải chờ xét ra sao?
Giải thích
Hoàng Đế hỏi về cách quan sát hư phong trong năm. Ở đây “quý tiện” không chỉ là địa vị xã hội, mà cũng hàm ý mức độ nặng nhẹ, phạm vào ai, ảnh hưởng rộng hay hẹp. Thiếu Sư dùng ngày Sóc tháng Giêng, hướng gió, mưa hay không mưa, lạnh ấm điều hòa hay không để đoán khí bệnh trong năm.
少師答曰:正月朔日,太一居天留之宮,其日西北風,不雨,人多死矣。
Thiếu Sư đáp viết: Chính nguyệt sóc nhật, Thái Nhất cư Thiên Lưu chi cung, kỳ nhật tây bắc phong, bất vũ, nhân đa tử hĩ.
Thiếu Sư đáp: Ngày mồng một tháng Giêng, Thái Nhất ở cung Thiên Lưu. Ngày ấy nếu có gió Tây Bắc mà không mưa, thì nhiều người chết.
Giải thích
Ngày mồng một tháng Giêng là đầu năm, khí của năm mới vừa mở. Nếu gặp gió Tây Bắc khô dữ mà không có mưa điều hòa, cổ nhân xem là dấu thời khí bất lợi, hư phong có thể làm thương người rộng.
正月朔日,平旦北風,春,民多死。
Chính nguyệt sóc nhật, bình đán bắc phong, xuân, dân đa tử.
Ngày mồng một tháng Giêng, lúc sáng sớm có gió Bắc, thì mùa xuân dân nhiều người chết.
Giải thích
Gió Bắc chủ hàn. Đầu xuân dương khí đáng sinh phát, nếu sáng sớm gặp gió Bắc lạnh mạnh thì dương khí bị ngăn, sinh khí bị thương. Vì vậy cổ văn nói mùa xuân dân dễ nhiều bệnh nặng.
正月朔日,平旦北風行,民病多者,十有三也。
Chính nguyệt sóc nhật, bình đán bắc phong hành, dân bệnh đa giả, thập hữu tam dã.
Ngày mồng một tháng Giêng, lúc sáng sớm gió Bắc thổi, số dân mắc bệnh nhiều, có thể đến mười phần có ba.
Giải thích
Đây là cách cổ nhân ước đoán mức lan rộng của bệnh theo khí tượng đầu năm. Không nên hiểu như con số thống kê hiện đại tuyệt đối, mà là lời cảnh báo: đầu năm gặp gió lạnh trái sinh khí, nhiều người dễ nhiễm bệnh.
正月朔日,日中北風,夏,民多死。
Chính nguyệt sóc nhật, nhật trung bắc phong, hạ, dân đa tử.
Ngày mồng một tháng Giêng, giữa trưa có gió Bắc, thì mùa hạ dân nhiều người chết.
Giải thích
Giữa trưa là lúc dương khí thịnh, nếu lại gặp gió Bắc hàn thì hàn dương tương nghịch. Cổ nhân lấy đó để đoán đến mùa hạ, khi dương khí phát mạnh, tà khí bị động mà bệnh nặng phát ra.
正月朔日,夕時北風,秋,民多死。
Chính nguyệt sóc nhật, tịch thời bắc phong, thu, dân đa tử.
Ngày mồng một tháng Giêng, lúc chiều tối có gió Bắc, thì mùa thu dân nhiều người chết.
Giải thích
Chiều tối là lúc dương thu, âm tăng. Gió Bắc hàn đến lúc ấy, khí âm hàn dễ phục lại, đến mùa thu khi khí thu liễm, tà phục có thể phát thành bệnh nặng.
終日北風,大病死者十有六。
Chung nhật bắc phong, đại bệnh tử giả thập hữu lục.
Nếu cả ngày gió Bắc thổi, thì người mắc bệnh lớn và chết có thể đến mười phần có sáu.
Giải thích
Gió Bắc suốt ngày biểu thị hàn tà mạnh và kéo dài. Khí đầu năm bị hàn phong áp chế, nên cổ văn xem là điềm bệnh nặng trong dân. Một lần nữa, đây là phép chiêm hậu khí vận, không phải con số y dịch học hiện đại.
正月朔日,風從南方來,命曰旱鄉;從西方來,命曰白骨,將國有殃,人多死亡。
Chính nguyệt sóc nhật, phong tùng nam phương lai, mệnh viết Hạn hương; tùng tây phương lai, mệnh viết Bạch cốt, tương quốc hữu ương, nhân đa tử vong.
Ngày mồng một tháng Giêng, gió từ phương Nam đến, gọi là Hạn hương; từ phương Tây đến, gọi là Bạch cốt, báo rằng nước sắp có tai ương, người nhiều tử vong.
Giải thích
Phương Nam chủ hỏa, đầu năm gặp gió Nam trái thường thì có thể ứng với khô hạn, nên gọi Hạn hương. Phương Tây chủ kim, chủ táo sát, nên gọi Bạch cốt, biểu thị khí sát hại mạnh. Đây là ngôn ngữ chiêm hậu cổ, nhưng ý dưỡng sinh là: khí hậu trái thời ở đầu năm có thể báo trước bệnh dịch, mất mùa, dân bệnh.
正月朔日,風從東方來,發屋,揚沙石,國有大災也。
Chính nguyệt sóc nhật, phong tùng đông phương lai, phát ốc, dương sa thạch, quốc hữu đại tai dã.
Ngày mồng một tháng Giêng, gió từ phương Đông đến, làm tốc mái nhà, tung cát đá, thì trong nước có đại tai.
Giải thích
Phương Đông vốn ứng xuân mộc, chủ sinh phát. Nhưng nếu gió Đông quá dữ, đến mức tốc mái, tung cát đá, thì không còn là sinh phong thuận hòa mà là tặc phong bạo liệt. Gió quá mức thì sinh khí cũng thành hại khí.
正月朔日,風從東南方行,春有死亡。
Chính nguyệt sóc nhật, phong tùng đông nam phương hành, xuân hữu tử vong.
Ngày mồng một tháng Giêng, gió từ phương Đông Nam thổi, thì mùa xuân có tử vong.
Giải thích
Đông Nam thường liên hệ phong thấp, khí ẩm. Nếu đầu xuân gặp gió Đông Nam trái thường, thấp phong có thể làm trở ngại sinh phát, gây bệnh trong mùa xuân.
正月朔日,天利溫不風糶賤,民不病;天寒而風,糶貴,民多病。
Chính nguyệt sóc nhật, thiên lợi ôn bất phong, điều tiện, dân bất bệnh; thiên hàn nhi phong, điều quý, dân đa bệnh.
Ngày mồng một tháng Giêng, trời thuận lợi, ấm mà không có gió, giá thóc rẻ, dân không bệnh; nếu trời lạnh lại có gió, giá thóc đắt, dân nhiều bệnh.
Giải thích
Câu này rất thực tế. Đầu năm trời ấm thuận, không gió dữ, thì mùa màng dễ tốt, giá thóc rẻ, dân ít bệnh. Trời lạnh gió mạnh thì sinh khí bị tổn, mùa màng kém, dân vừa thiếu ăn vừa dễ bệnh. Nội kinh đặt sức khỏe con người trong khí hậu và sinh kế xã hội.
此所謂候歲之風,殘傷人者也。
Thử sở vị hậu tuế chi phong, tàn thương nhân giả dã.
Đó gọi là phép chờ xét gió của năm, loại gió làm tàn hại con người.
Giải thích
“Hậu tuế chi phong” là quan sát gió đầu năm để biết khí bệnh trong năm. “Tàn thương nhân” là loại gió làm tổn hại con người, khác với gió thuận thời nuôi dưỡng vạn vật.
二月丑不風,民多心腹病;三月戌不溫,民多寒熱;四月已不暑,民多癉病;十月申不寒,民多暴死。
Nhị nguyệt Sửu bất phong, dân đa tâm phúc bệnh; tam nguyệt Tuất bất ôn, dân đa hàn nhiệt; tứ nguyệt Tỵ bất thử, dân đa đản bệnh; thập nguyệt Thân bất hàn, dân đa bạo tử.
Tháng hai, ngày Sửu mà không có gió, dân nhiều bệnh tâm phúc. Tháng ba, ngày Tuất mà không ấm, dân nhiều hàn nhiệt. Tháng tư, ngày Tỵ mà không nóng, dân nhiều bệnh đản nhiệt. Tháng mười, ngày Thân mà không lạnh, dân nhiều bạo tử.
Giải thích
Đoạn này nói mỗi tháng có khí đáng đến. Nếu đến lúc đáng có gió mà không có gió, đáng ấm mà không ấm, đáng nóng mà không nóng, đáng lạnh mà không lạnh, thì đều là thời khí không đúng. Thời khí trái thường thì khí cơ trong người cũng trái, nên sinh các bệnh tương ứng.
“Đản bệnh” thường chỉ bệnh nhiệt thịnh, sốt nóng, có thể kèm vàng da hoặc nhiệt uất tùy văn cảnh. Ở đây nên hiểu rộng là bệnh nhiệt do thời khí không hóa đúng.
諸所謂風者,皆發屋,折樹木,揚沙石起毫毛,發腠理者也。
Chư sở vị phong giả, giai phát ốc, chiết thụ mộc, dương sa thạch, khởi hào mao, phát tấu lý giả dã.
Những loại gọi là gió ấy đều là gió có thể tốc mái nhà, bẻ gãy cây cối, tung cát đá, làm lông tơ dựng lên, mở tấu lý.
Giải thích
Đây không phải gió nhẹ bình thường, mà là gió dữ, gió trái thời, làm cây gãy nhà tốc, khiến lông tơ người dựng lên, tấu lý mở ra. Khi tấu lý mở, tà dễ vào thân. Vì vậy cổ nhân đặc biệt sợ hư phong, tặc phong.
Tiểu kết phần xét gió đầu năm và thời khí trái thường
Phần cuối thiên này dạy cách xét hư phong theo ngày đầu năm và các tháng.
Ngày mồng một tháng Giêng là mốc quan trọng để xem khí của năm. Nếu trời ấm, không gió dữ, khí thuận, dân ít bệnh. Nếu trời lạnh, gió mạnh, hoặc gió từ phương trái thường, thì báo hiệu năm có nhiều bệnh, nhiều tai họa.
Gió gây hại không phải gió nhẹ, mà là gió dữ: tốc mái, bẻ cây, tung cát đá, làm lông tơ dựng, tấu lý mở. Chính lúc tấu lý mở ấy, tà khí dễ thừa cơ vào sâu.
Đoạn này cũng nhấn mạnh rằng thời khí phải đến đúng lúc. Tháng đáng ấm mà không ấm, đáng nóng mà không nóng, đáng lạnh mà không lạnh, đều là trái thời; trái thời thì con người dễ bệnh.
Tổng kết thiên 《歲露論》
Thiên “Tuế lộ luận” nối các ý về vệ khí, Phong phủ, hư phong và thời khí thành một hệ thống phòng bệnh.
Phần đầu giải thích sốt rét phát có thời: tà khí ẩn ở Phong phủ, lưng, sống lưng, rồi theo vệ khí mà phát. Vệ khí mỗi ngày đi xuống một tiết, nên giờ phát bệnh ngày càng muộn. Khi tà vào sâu ngũ tạng, mộ nguyên, đường xa khí sâu, bệnh không phát hằng ngày mà tích lại rồi cách ngày mới phát.
Tiếp đó thiên này nói “Phong phủ vô thường”: nơi nào vệ khí ứng đến, tấu lý mở, khí ở lại, nơi ấy là phủ của khí. Vì vậy bệnh không chỉ phụ thuộc một huyệt cố định, mà phụ thuộc nơi vệ khí và tà khí gặp nhau.
Thiên này cũng phân biệt phong bệnh và ngược bệnh. Phong khí lưu tại chỗ nên bệnh thường dai dẳng; ngược khí theo kinh lạc, chìm vào trong, chỉ khi vệ khí ứng đến mới phát thành cơn.
Phần giữa bàn về tấu lý mở đóng. Hàn làm da căng, tấu lý đóng; thử nhiệt làm da mềm, tấu lý mở. Tà khí gặp tấu lý mở thì vào sâu, bệnh bạo phát; gặp tấu lý đóng thì vào nông, bệnh chậm.
Sau đó thiên này nói con người ứng với nhật nguyệt. Khi trăng đầy, khí huyết sung, cơ nhục đầy, da kín, tấu lý khép, tà khó vào sâu. Khi trăng khuyết, khí huyết hư, vệ khí suy, da lỏng, tấu lý mở, gặp tặc phong thì tà vào sâu, bệnh phát dữ.
Từ đó nêu thuyết tam hư, tam thực. Tam hư là năm suy, tháng rỗng, thời khí mất hòa, lại bị tặc phong làm thương; bệnh dễ bạo phát, nặng, thậm chí chết. Tam thực là năm thịnh, trăng đầy, thời khí hòa; dù có tà phong cũng khó làm nguy.
Phần sau nói bệnh của cả một năm. Nếu năm có nhiều tặc phong, lạnh ấm không điều, dân dễ cùng mắc bệnh, bệnh nhiều và nặng. Nếu năm hòa, ít tặc phong, dân ít bệnh, ít chết. Đó là “tuế lộ”, tức con người gặp và bị phơi nhiễm với khí tà của năm.
Tóm lại
Ý nghĩa của thiên “Tuế lộ luận” là: bệnh không chỉ do tà, mà do tà gặp đúng lúc thân hư, thời hư, tháng hư, tấu lý mở. Cùng một ngọn gió, gặp người khí huyết đầy thì vào nông; gặp người khí huyết hư thì vào sâu. Cùng một tà khí, ở nông thì phát hằng ngày; vào sâu ngũ tạng, mộ nguyên thì phát cách ngày.
Người học Nội kinh nên tìm hiểu về vệ khí, tấu lý, Phong phủ, nhật nguyệt, năm tháng, hàn ôn, hư phong, tặc phong. Trị bệnh là một việc; biết tránh lúc hư, tránh gió độc, giữ vệ khí, thuận thời khí lại là việc căn bản hơn. Đó chính là tinh thần “thánh nhân không trị bệnh đã thành, mà trị khi bệnh chưa sinh”.