VÔI HÓA TRUNG MÔ ĐỘNG MẠCH (动脉中膜钙化)& PHÌNH ĐỘNG MẠCH (动脉瘤 )
Tài liệu tham khảo:
Vôi hóa trung mô động mạch
Vôi hóa trung mô động mạch (medial calcification) còn được gọi là xơ hóa trung mô Mbnckeberg, là một bệnh lý thoái hóa có nguyên nhân không rõ, đặc trưng bởi sự vôi hóa do thiếu dinh dưỡng xảy ra ở trung mô của động mạch. Bệnh thường gặp ở động mạch lớn chi dưới ở người già, động mạch chi trên cũng có thể bị ảnh hưởng.
Nguyên nhân và cơ chế phát sinh:
Nguyên nhân và cơ chế của bệnh chưa được hiểu rõ, dường như có liên quan lớn đến quá trình lão hóa. Quá trình vôi hóa bắt đầu ở vùng giữa màng đàn hồi bên trong, sau đó lan rộng đến trung mô. Các nghiên cứu siêu cấu trúc cho thấy, tại vùng này, có sự tụ tập của các túi chất nền và vết nứt trong mô đàn hồi. Các túi chất nền này là những túi nhỏ có màng, có thể đến từ lysosome của tế bào cơ trơn (SMC), nơi muối canxi bắt đầu lắng đọng.
Tổn thương:
Dưới kính hiển vi, giai đoạn sớm, tế bào cơ trơn trung mô (SMC) trải qua biến đổi dạng kính, đôi khi xuất hiện các vùng hoại tử nhỏ; sau đó, muối canxi lắng đọng, xung quanh các khu vực vôi hóa có sự tăng sinh của mô liên kết, rất ít hoặc không có phản ứng tế bào viêm. Thỉnh thoảng, tại vùng vôi hóa, có thể xuất hiện hiện tượng xương hóa, trong đó xương biến đổi có thể chứa tủy đỏ. Lớp nội mạc động mạch thường không có thay đổi đáng kể. Quan sát bằng mắt thường, do các ổ vôi hóa trung mô xuất hiện dưới dạng dải vòng cách quãng, khiến toàn bộ động mạch bị cứng lại và có ngoại hình giống “cổ ngỗng”.
Aneurysm (phình động mạch) và Medial Calcification (vôi hóa trung mô động mạch)
Hai tình trạng này thuộc nhóm bệnh lý về mạch máu, với phình động mạch là sự giãn nở bất thường của thành mạch theo nhiều hình dạng và cơ chế khác nhau, trong khi vôi hóa trung mô động mạch là sự lắng đọng canxi bất thường chủ yếu xảy ra ở lớp trung mô, gây cứng động mạch và thay đổi hình dạng của mạch máu.
PHÌNH ĐỘNG MẠCH (Aneurysm )
Tài liệu tham khảo:
Phình động mạch
Sự giãn nở giới hạn về mặt bệnh lý của thành động mạch được gọi là phình động mạch (aneurysm). Phình động mạch có thể được phân loại theo nguyên nhân, hình dạng và cấu trúc của thành phình. Theo nguyên nhân, có thể chia thành: phình động mạch do xơ vữa động mạch, do giang mai, do vi khuẩn, do chấn thương, do bẩm sinh cũng như phình động mạch do phân tầng.
1. Phình động mạch dạng túi;
2. Phình động mạch hình liềm;
3. Phình động mạch dạng tròn trụ;
4. Phình động mạch dạng thuyền;
5. Phình động mạch do phân tầng;
6. Phình động mạch giả.
- Các loại hình hình thái của phình động mạch
- Phình động mạch dạng túi:
Phần động mạch bị tổn thương giãn nở theo hình cầu; ở trường hợp lớn, đường kính có thể đạt 15–20 cm. Do dòng máu qua tạo thành xoáy, nên loại phình này thường kèm theo hiện tượng hình thành cục máu đông.
- Phình động mạch hình liềm:
Thành động mạch giãn nở đều đặn, sau đó dần thu hẹp về một đầu cho đến đạt về đường kính ban đầu, tạo nên hình dạng liềm. Loại phình này ít gặp hiện tượng hình thành máu đông dính thành thành mạch.
- Phình động mạch dạng trụ:
Bắt đầu, động mạch đột ngột giãn nở như hình ống, sau đó lại chuyển tiếp đột ngột về với động mạch bình thường. Có thể xảy ra hình thành máu đông dính thành thành mạch.
- Phình động mạch dạng thuyền:
Thành động mạch giãn nở một bên, trong khi bên đối diện không có thay đổi; thường gặp ở phình động mạch do phân tầng.
- Phình động mạch dạng uốn sóng:
Các đoạn động mạch gần nhau liên tiếp giãn nở không đối xứng, khiến đoạn động mạch bị ảnh hưởng trở nên uốn sóng. Thường thấy ở các mạch máu mà hướng dòng máu thay đổi nhiều (ví dụ, động mạch vùng chậu).
- Phân loại theo cấu trúc thành phình động mạch
- Phình động mạch thật (aneurysma verum):
Thành của nó được cấu thành bởi đầy đủ ba lớp của thành động mạch; đa số phình động mạch thuộc loại này.
- Phình động mạch giả (aneurysma spurium):
Phần lớn do chấn thương động mạch, khi máu từ vị trí vỡ tràn vào mô xung quanh tạo thành máu ngoài, sau đó khi máu ngoài được cơ thể biến đổi và bọc lại bởi nội mô, nên phình động mạch giả được coi là một máu ngoài có bọc nội mô.
- Phình động mạch do phân tầng (aneurysma dissecans):
Thường gặp ở người già (trừ bệnh nhân hội chứng Marfan), nam nhiều hơn nữ. Phình thường bắt nguồn từ những vị trí có lực cắt của dòng máu mạnh và sự biến đổi huyết áp rõ rệt trong cây mạch (ví dụ, đoạn lên của động mạch chủ, arch động mạch chủ), khi dòng máu xuyên qua vết nứt ở nội mạc, chảy vào lớp trung mô bệnh lý bị giãn lỏng (ít trường hợp xuất huyết từ mạch nuôi dưỡng), và theo hướng dòng máu “mổ” theo chiều dọc trung mô, tạo thành một khoang máu giả. Khoang máu giả này có thể tái thông với khoang máu thật, dòng máu hoạt động như một lối dẫn vòng. Nguyên nhân và cơ chế hình thành phình động mạch này khá phức tạp, có thể thấy ở dị tật mạch bẩm sinh, bệnh mô liên kết chuyển hóa (như hội chứng Marfan, với sự đứt gãy, thiếu hụt sợi đàn hồi ở trung mô động mạch, tăng collagen và proteoglycan), tăng sản proteoglycan ở thành mạch trong suy giáp, viêm động mạch chủ do giang mai và do xơ vữa động mạch.
Ly Nguyễn Nghị dịch