Tiết Một – Vọng Chẩn
Vọng chẩn là phương pháp mà thầy thuốc sử dụng thị giác có mục đích để quan sát toàn thân và các bộ phận của cơ thể, cũng như các chất bài tiết, nhằm nhận biết tình trạng sức khỏe hoặc bệnh lý.
Nội dung của vọng chẩn chủ yếu bao gồm: quan sát thần sắc, khí sắc, hình thể, tư thế, thiệt tượng (hình lưỡi), lạc mạch, da, ngũ quan cửu khiếu, cùng với hình dạng, màu sắc, tính chất của các chất bài tiết và dịch tiết.
Vọng chẩn được chia thành năm phần: Vọng chẩn toàn thân, vọng chẩn bộ phận, vọng thiệt (quan sát lưỡi), vọng (quan sát) chất bài tiết, vọng (quan sát) chỉ văn ở trẻ nhỏ.
Trong đó, thiệt chẩn (khám lưỡi) và diện sắc chẩn (khám sắc mặt) tuy cũng thuộc ngũ quan, nhưng do phản ánh khá chính xác bệnh lý của tạng phủ, có giá trị thực tiễn cao, nên đã hình thành hai phương pháp vọng chẩn đặc thù của Trung y. Vì vậy, hai phương pháp này sẽ được trình bày riêng.
Vọng chẩn toàn thân là phương pháp quan sát sự biến đổi của thần, sắc, hình thể và tư thế để hiểu về tình trạng bệnh.
(1). Vọng thần (quan sát thần)
Vọng thần là quan sát biểu hiện bên ngoài của hoạt động sống của con người, tức là tinh thần và trạng thái chức năng. Thần là tổng thể của các hoạt động sống, có hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, thần là tất cả các biểu hiện bên ngoài của sự sống, có thể nói thần chính là sự sống; Theo nghĩa hẹp, thần là các hoạt động tinh thần, có thể hiểu thần là tinh thần.
Vì vậy, khi vọng thần, cần bao gồm cả hai khía cạnh trên. Thần là một loại chức năng dựa trên tinh khí làm nền tảng vật chất, là sự biểu hiện ra ngoài của tạng phủ.
Thông qua vọng thần, có thể hiểu được sự thịnh suy của tinh khí ngũ tạng, mức độ nặng nhẹ của bệnh và tiên lượng bệnh.
Khi vọng thần, cần đặc biệt chú ý đến tinh thần, ý thức, nét mặt, động tác, khả năng phản ứng của bệnh nhân, nhất là ánh mắt.
Nội dung của vọng thần bao gồm: Đắc thần; Thất thần; Giả thần; Thần khí bất túc; Thần chí dị thường.
Còn gọi là hữu thần, là biểu hiện của tinh khí đầy đủ, thần khí sung mãn.Đối với người bệnh, dù đang mắc bệnh nhưng chính khí vẫn chưa bị tổn thương, là biểu hiện bệnh nhẹ, tiên lượng tốt.
Biểu hiện: Tinh thần tỉnh táo, nói năng rõ ràng; Sắc mặt tươi nhuận, có thần, nét mặt sinh động tự nhiên; Ánh mắt sáng, nội thần ẩn hiện; Phản ứng nhanh, cử động linh hoạt, tư thế tự nhiên; Hô hấp điều hòa, cơ bắp không teo.
Còn gọi là vô thần, là biểu hiện của tinh hao, khí tổn, thần suy.
Khi bệnh tới mức này, bệnh tình đã nặng, tiên lượng xấu.
Biểu hiện: Tinh thần ủ rũ, nói năng không rõ, hoặc hôn mê, nói mê, lần áo sờ giường, chăn gối, vuốt dây tưởng tượng, hoặc đột ngột ngã, mắt nhắm, miệng há; Sắc mặt tối xám, nét mặt lãnh đạm hoặc ngơ ngác,
Ánh mắt mờ đục, vô thần, ngơ ngác; Phản ứng chậm, vận động không linh hoạt, phải giữ tư thế bắt buộc; Thở yếu hoặc thở dốc, cơ thể teo tóp.
Giả thần là hiện tượng bệnh nhân đang nguy kịch mà thần sắc bỗng tạm thời hồi phục, chỉ là ảo tượng, dấu hiệu báo nguy, không phải điềm lành.
Biểu hiện: Người bệnh lâu ngày nặng, vốn đã mất thần, bỗng nhiên tinh thần tạm tốt lên, mắt sáng, nói nhiều, đòi gặp người thân; Hoặc giọng nói vốn yếu đuối, nay bỗng to rõ lại; Hoặc sắc mặt vốn xám tối, nay bỗng hồng ửng như đánh phấn; Hoặc trước giờ không muốn ăn, nay lại ăn uống nhiều.
Phân biệt với hồi phục thực sự:
Giả thần xuất hiện đột ngột, không phù hợp với diễn tiến chung của bệnh, chỉ là hiện tượng cục bộ, tạm thời. Khi bệnh chuyển tốt thật sự, sẽ là sự hồi phục từ từ, có quá trình cải thiện toàn diện. Nguyên nhân của giả thần là do tinh khí đã cạn, âm không giữ được dương, dương không nơi nương tựa mà bốc lên, tạo nên ảo giác nhất thời.
Đó là dấu hiệu chia lìa nguy hiểm của âm dương, cổ nhân ví như “Tàn đăng phục minh” (残灯复明) đèn tàn bùng sáng, “Hồi quang phản chiếu” (回光反照) ánh sáng phản chiếu lúc tàn.
Là biểu hiện của mức độ nhẹ của thất thần, chỉ khác nhau về mức độ. Thường gặp ở người bị chứng hư nhược, nên phổ biến hơn. Biểu hiện: Tinh thần không hăng hái, hay quên, uể oải, giọng nói nhỏ, lười nói, mệt mỏi, yếu sức, động tác chậm chạp. Thường liên quan đến tâm tỳ hư hoặc thận dương bất túc.
Cũng là một dạng thất thần, nhưng khác với thất thần do tinh khí suy kiệt, mà là biểu hiện do cơ chế bệnh lý đặc biệt và quy luật phát bệnh khác nhau.
Không phải lúc nào cũng chỉ ra bệnh tình nghiêm trọng. Bao gồm: Phiền táo bất an: cảm giác bức bối, nóng ruột, chân tay bồn chồn. “Phiền” là cảm giác chủ quan như lo lắng, “Táo” là biểu hiện khách quan như kích động, bồn chồn, vội vã đến các bệnh như điên, cuồng.v.v..
Thường do tâm hỏa thịnh, tà nhiệt uất kết, đàm hỏa nhiễu tâm, âm hư hỏa vượng.
Điên bệnh (bệnh điên): biểu hiện lạnh nhạt, ít nói, trầm uất, đần độn, nói lảm nhảm, hoặc cười khóc thất thường, thường do đàm khí uất kết làm mờ thần trí, cũng có khi do thần không giữ được thần, tâm tỳ lưỡng hư.
Cuồng bệnh: thường biểu hiện là điên cuồng mắng chửi, đánh người phá nhà, hành vi loạn động không ngừng, ít ngủ không ăn, nặng thì leo cao mà hát, cởi áo mà chạy.
Nguyên nhân: thường do can uất hóa hỏa, đàm hỏa quấy nhiễu thần minh.
Giản bệnh (động kinh): biểu hiện là đột nhiên ngất xỉu, miệng sùi bọt, tứ chi co giật, khi tỉnh dậy lại như bình thường.
Nguyên nhân: thường do can phong kèm đàm bốc lên làm mờ thanh khiếu, hoặc đàm hỏa quấy nhiễu tâm, dẫn động can phong.
(2)Vọng sắc
Vọng sắc: tức là phương pháp vọng chẩn quan sát màu sắc và độ sáng bóng trên khuôn mặt bệnh nhân. Màu sắc: chỉ sự thay đổi về tông màu.
Sáng bóng: chỉ sự thay đổi về độ sáng. Người xưa chia màu sắc thành năm loại: xanh, đỏ, vàng, trắng, đen, gọi là ngũ sắc chẩn.
Ngũ sắc chẩn có thể áp dụng cho mặt hoặc toàn thân, nên có ngũ sắc chẩn trên mặt và ngũ sắc chẩn toàn thân, nhưng do sự biến đổi ngũ sắc biểu hiện rõ nhất trên khuôn mặt, nên thường dùng vọng diện sắc để giải thích nội dung ngũ sắc chẩn.
Khi vọng diện sắc cần chú ý phân biệt thường sắc với bệnh sắc.
Thường sắc có chủ sắc và khách sắc.
(1)Chủ sắc: là màu sắc da mặt cơ bản không thay đổi suốt đời.
Do chủng tộc, bẩm tố, thể chất khác nhau nên màu da mỗi người không hoàn toàn giống nhau. Người Trung Quốc thuộc chủng tộc da vàng, nên màu da vàng nhạt được xem là chính sắc.
Trên nền đó, có người hơi trắng, hơi đen, hoặc hơi hồng là điều bình thường.
(2)Khách sắc: là sự thay đổi màu sắc da mặt theo sự biến đổi của môi trường tự nhiên và điều kiện sống.Ví dụ: sự thay đổi của bốn mùa, ngày đêm, nắng mưa, sắc mặt cũng thay đổi theo.
Hoặc do tuổi tác, ăn uống, sinh hoạt, lạnh nóng, cảm xúc, cũng có thể làm thay đổi sắc mặt, đều thuộc khách sắc.
Tóm lại: Thường sắc gồm chủ sắc và khách sắc, đặc điểm chung là: sáng bóng, nhuận sắc, tiềm ẩn, không lộ liễu.
Bệnh sắc: là sắc mặt và độ sáng bóng bất thường khi cơ thể mắc bệnh.
Ngoài thường sắc đã kể trên, tất cả các sắc bất thường khác đều gọi là bệnh sắc.Bệnh sắc gồm năm loại: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen.
Dưới đây là sự phân tích ngũ sắc chủ bệnh:
(1)Xanh: chủ hàn chứng, thống chứng, ứ huyết chứng, kinh phong chứng, can bệnh.
Xanh biểu thị kinh mạch bị ứ trệ, khí huyết không thông.Hàn có tính thu liễm, ngưng trệ, khi hàn thịnh giữ lại trong huyết mạch, khiến khí trệ huyết ứ, nên mặt hiện màu xanh. Khí huyết không thông, không thông thì đau, nên đau cũng thấy sắc xanh. Bệnh can, khí cơ mất sơ tiết, khí trệ huyết ứ, cũng thường có sắc xanh. Bệnh can huyết không dưỡng cân, can phong nội động, nên kinh phong (hoặc tiền triệu kinh phong) cũng thấy sắc xanh.
Ví dụ: Mặt xanh đen hoặc xanh tái nhợt: thường do âm hàn nội thịnh; Mặt xanh xám, môi xanh tím: thường do tâm huyết ứ trệ, huyết hành không thông; Trẻ nhỏ sốt cao, mặt xanh tím, nổi bật ở sống mũi, giữa hai lông mày, quanh môi: là dấu hiệu báo trước của chứng kinh phong.
(2)Màu vàng: chủ thấp chứng, hư chứng.
Màu vàng là biểu hiện của tỳ hư thấp tụ.
Do tỳ chủ vận hóa, nếu tỳ mất kiện vận, thủy thấp không hóa; hoặc tỳ hư không vận, tinh vi thủy cốc không hóa thành khí huyết, da thịt không được dinh dưỡng, nên hiện sắc vàng.
Ví dụ: Mặt vàng nhạt, tiều tụy, gọi là nuy hoàng: thường do tỳ vị khí hư, doanh huyết không thăng lên nuôi dưỡng mặt;
Mặt vàng phù trướng, gọi là hoàng bạn: thường do tỳ hư mất vận, thấp tà ứ đọng; Vàng tươi sáng như da quýt: thuộc dương hoàng, do thấp nhiệt hun đốt; Vàng ám tối như bị hun khói: thuộc âm hoàng, do hàn thấp ứ trệ.
(3)Màu đỏ: chủ nhiệt chứng.
Khí huyết được nhiệt thì lưu thông, nhiệt thịnh làm huyết mạch tràn đầy (sung doanh), huyết sắc dâng lên mặt, nên mặt đỏ.
Phân biệt: Thực nhiệt chứng: mặt đỏ toàn bộ; Hư nhiệt chứng: chỉ hai gò má đỏ hồng. Ngoài ra: Nếu trong bệnh nặng nguy cấp, mặt đỏ như tô son: thường là đái dương chứng, nghĩa là tinh khí suy kiệt, âm không nhiếp dương, dương hư bốc lên.
(4)Màu trắng: chủ hư hàn chứng, huyết hư chứng.
Màu trắng là biểu hiện của khí huyết hư yếu không đủ nuôi dưỡng cơ thể.
Dương khí bất túc, khí huyết vận hành vô lực, hoặc hao khí mất huyết, dẫn đến khí huyết không đầy đủ, huyết mạch không hư (trống rỗng), nên mặt trắng.
Ví dụ:
Mặt trắng sáng, phù nề: thường do dương khí bất túc;
Mặt trắng nhạt, gầy ốm: thường do dinh huyết khuy tổn;
Mặt trắng bệch: thường do dương khí muốn tuyệt, hoặc xuất huyết quá nhiều.
(5)Đen: chủ thận hư chứng, thủy ẩm chứng, hàn chứng, thống chứng, ứ huyết chứng.
Đen là màu của âm hàn thủy thịnh. Do thận dương suy, thủy ẩm không hóa, khí hóa đình trệ, âm hàn nội thịnh, huyết mất ôn dưỡng, kinh mạch co rút, khí huyết không thông, nên mặt đen sạm.
Ví dụ: Mặt đen khô, như bị cháy: thường do thận tinh hao tổn lâu ngày, hư hỏa thiêu âm; Quầng mắt thâm đen: thường gặp ở thận hư thủy tràn, chứng thủy ẩm; Mặt xanh đen kèm đau dữ dội: thường do hàn ngưng, huyết ứ.
(3) Vọng hình thể
Vọng hình thể là quan sát ngoại hình tổng quát của con người, bao gồm sự mạnh yếu, béo gầy, đặc điểm thể hình, thân mình tứ chi, da thịt gân xương… Cấu tạo hình thể liên hệ với ngũ tạng bên trong, do đó vọng hình thể có thể nhận biết được tình trạng thịnh suy của tinh khí nội tạng. Nội tạng thịnh thì bên ngoài cường tráng, nội tạng suy thì bên ngoài yếu nhược.
Hình thể con người chia thành tráng, nhược, béo, gầy: Ai có hình thể tráng kiện: xương lớn, ngực rộng dày, cơ bắp chắc khỏe, da dẻ nhuận sắc — phản ánh tinh khí tạng phủ sung thực, dù có bệnh thì chính khí vẫn đủ, tiên lượng thường tốt.
Ai có hình thể suy nhược: xương nhỏ, ngực hẹp, cơ nhão, da khô ráp — phản ánh tinh khí tạng phủ bất túc, thể hư dễ mắc bệnh, đã mắc thì tiên lượng xấu.
Béo mà ăn ít là hình thịnh khí hư, thường da trắng kém sắc, hơi thở yếu, mệt mỏi, tinh thần không phấn chấn; do dương hư thủy thấp không hóa, dễ tích thấp sinh đàm, nên có câu “Phì nhân đa thấp” là người béo nhiều thấp.
Gầy mà ăn ít là do tỳ vị hư nhược; nếu gầy, da khô không nhuận, hai gò má đỏ, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, phiền nhiệt lòng bàn tay chân — thường là âm huyết bất túc, nội có hư hỏa, vì thế có câu “người gầy nhiều hỏa”.
Nếu gầy đến mức “đại nhục thoát thất” (cơ thịt tiêu kiệt), nằm liệt không dậy nổi — là dấu hiệu suy kiệt tinh khí tạng phủ, báo nguy.
(4) Vọng tư thái
Tư thái bình thường là: thoải mái tự nhiên, cử động linh hoạt, phản ứng nhạy bén, đi đứng nằm ngồi đều tùy ý, động tĩnh hợp lý.
Khi mắc bệnh, do thịnh suy của âm dương khí huyết, tư thái sẽ có biến đổi bất thường — mỗi loại bệnh có tư thái bệnh lý riêng.
Vọng tư thái là quan sát động tĩnh, cử động bất thường và các thay đổi tư thế liên quan đến bệnh tật:
Nếu mi mắt, mặt, môi, ngón tay (chân) co giật không ngừng — trong bệnh ngoại cảm là dấu hiệu tiền phát co giật, trong nội thương tạp bệnh là do huyết hư, âm tổn, kinh lạc mất dưỡng.
Tứ chi co giật hoặc co rút, cổ gáy cứng, ngửa người gồng lên thuộc chứng kinh, thường gặp trong can phong nội động, nhiệt cực sinh phong, trẻ sốt cao kinh quyết, ôn bệnh nhiệt nhập dinh huyết, khí huyết bất túc gân mạch không được dưỡng; cũng thấy ở giản chứng (độg kinh), phong đòn gánh, chó dại.
Run rẩy thường gặp trong sốt rét, hoặc ngoại cảm chính tà tranh đấu, sắp phát chứng run đổ mồ hôi.Tay chân mềm yếu, không đau, hành động bất tiện là chứng nuy.
Khớp sưng đau làm khó cử động là chứng tý. Tứ chi không cử động được, tê bì, co rút hoặc mềm yếu là bại liệt.
Bỗng nhiên ngất xỉu ngã ra, vẫn tiếp tục thở là chứng quyết.
Tư thế đau cũng có nét riêng: Ôm bụng, đi thì khom người, cúi lưng co thân: phần nhiều là đau bụng;
Ôm thắt lưng, lưng cứng, khó xoay trở, không cúi ngửa được: phần nhiều là đau lưng, đau chân; Đang đi bỗng ngừng, tay ôm ngực, không dám cử động: phần nhiều là chân tâm thống; Nhíu mày ôm đầu: thường là đau đầu.
Nếu bệnh nhân co rút, mặc nhiều áo: ắt ghét lạnh, thích ấm — là biểu hàn hoặc lý hàn;Nếu bệnh nhân hay vén áo, bỏ chăn: ắt ghét nóng, thích lạnh — là biểu nhiệt hoặc lý nhiệt. Cúi đầu sợ ánh sáng: thường do bệnh mắt;
Ngẩng đầu thích sáng: thường gặp trong nhiệt bệnh, dương chứng thích lạnh, thích gặp người; Âm chứng thì thích ấm, thích ở một mình, đóng cửa, ghét nghe tiếng người.
Về tư thế ngồi: Ngồi cúi rạp: thường do phế hư thiểu khí;
Ngồi ngửa ra sau: thường do phế thực khí nghịch; Ngồi không nằm được, nằm thì khí nghịch: thường là khái suyễn, phế trướng, hoặc thủy ẩm đình ngực bụng; Nằm không ngồi được, ngồi thì mệt hoặc chóng mặt: thường là khí huyết song hư, hoặc huyết tuyệt khí thoát; Ngồi mà không muốn dậy: thường do dương khí hư; Ngồi nằm không yên: là chứng phiền táo, hoặc do bụng đầy đau trướng.
Về tư thế nằm: Nằm nghiêng ra ngoài, thân nhẹ dễ xoay trở: thuộc dương chứng, nhiệt chứng, thực chứng; Nằm quay vào trong, thân nặng khó xoay trở: thuộc âm chứng, hàn chứng, hư chứng; Bệnh nặng không tự xoay trở được: là khí huyết đã suy kiệt, tiên lượng xấu. Nằm co quắp như tròn lại: phần nhiều do dương hư, sợ lạnh hoặc đau dữ dội; Ngửa mặt, duỗi chân mà nằm: là dương chứng nhiệt thịnh, ghét nóng.
II – Vọng chẩn bộ phận
Vọng bộ phận, còn gọi là phân bộ vọng chẩn, là dựa trên vọng chẩn toàn thân, căn cứ bệnh tình hoặc yêu cầu chẩn đoán, mà tập trung quan sát kỹ các bộ phận nhất định của cơ thể bệnh nhân.Vì bệnh lý toàn thân có thể phản ánh ở bộ phận, nên vọng bộ phận giúp hiểu rõ bệnh toàn thân.
(I)Vọng đầu mặt
(1)Vọng hình đầu: Trẻ nhỏ đầu to hoặc đầu nhỏ quá, kèm trí tuệ kém: thường do bẩm sinh bất túc, thận tinh khuy tổn; Đầu quá to: có thể do não tích thủy; Vọng đầu trẻ, đặc biệt phải xem thóp đầu (khẩu đỉnh): Thóp lõm (thốn thất): là tổn thương tân dịch, não tủy bất túc, hư chứng; Thóp phồng cao (tự điền): là nhiệt tà cực thịnh, thấy trong bệnh não tủy; Thóp chậm kín (giải lô): là thận khí bất túc, biểu hiện phát dục kém.
Dù người lớn hay trẻ nhỏ, nếu đầu lắc không tự chủ: là dấu hiệu can phong nội động.
(2) Vọng tóc: Người bình thường tóc dày, đen, bóng mượt là biểu hiện của thận khí sung mãn. Tóc thưa, mọc kém là dấu hiệu thận khí suy hư.
Tóc vàng khô xác, rụng lâu ngày là do tinh huyết bất túc. Nếu đột nhiên rụng tóc từng mảng, là do huyết hư nhiễm phong. Thanh thiếu niên rụng tóc thường do thận hư hoặc huyết nhiệt.
Người trẻ bạc tóc kèm hay quên, lưng gối mỏi yếu là thuộc thận hư; nếu không có biểu hiện bệnh lý khác thì không coi là bệnh.
Trẻ nhỏ tóc kết thành búi như bông lúa thường gặp trong chứng cam tích.
Mặt sưng phù thường gặp trong các chứng thủy thũng.
Hai bên mang tai hoặc một bên sưng to dần, đau không chịu sờ, kèm theo đau họng hoặc ù tai, phần nhiều là ôn độc, thường thấy trong bệnh quai bị.
Mặt méo, miệng mắt lệch là biểu hiện của trúng phong.
Mặt mang vẻ kinh hãi thường gặp ở trẻ bị kinh phong hoặc người bị bệnh dại.
Mặt mang vẻ nhăn nhó như cười gượng là biểu hiện của bệnh phong đòn gánh (uốn ván).
(二)Vọng ngũ quan
Vọng ngũ quan là quan sát mắt, mũi, tai, môi, miệng, lợi, yết hầu. Qua các bất thường ở ngũ quan, có thể hiểu được bệnh lý tạng phủ.
(1)Thần mắt:
Đôi mắt có thần hay không là trọng điểm của vọng thần.
Nếu nhìn rõ, ánh mắt có thần, thần quang sung mãn — là mắt có thần.
Nếu lòng trắng đục, lòng đen u ám, thiếu sinh khí, ánh mắt lờ đờ — là mắt vô thần.
(2)Màu mắt: Mi mắt viêm đỏ: tâm hỏa; Lòng trắng đỏ: phế hỏa; Lòng trắng nổi mạch máu đỏ: âm hư hỏa vượng; Mi mắt sưng đỏ, ướt, loét: tỳ hỏa; Mắt đỏ, sưng, ghèn nhiều, chảy nước mắt khi gặp gió: can kinh phong nhiệt; Ghèn mắt nhạt trắng: huyết hư; Lòng trắng ngả vàng: chứng hoàng đản;
Quầng mắt đen: thận hư thủy thũng hoặc đới hạ do hàn thấp hạ chú.
(3)Hình mắt:
Mi mắt hơi sưng như tằm ngủ: phù thũng khởi đầu, người già mặt dưới phù là thận khí suy; Mắt trũng sâu: hao tổn tân dịch hoặc tinh khí suy kiệt; Mắt lồi kèm thở dốc: phế trướng; Mắt lồi kèm bướu cổ: ngạnh thũng.
(4)Hình thái mắt: Mắt ngửa lên, không xoay được, gọi là “đái nhãn phản chiết”: thường gặp trong kinh phong, kinh quyết, tinh kiệt thần suy nặng;
Mắt liếc xéo là biểu hiện can phong nội động; Mí sụp gọi là “kiểm phế”: Cả hai mí sụp: thường do bẩm sinh, tỳ thận song hư; Một hoặc hai mí không đều: hậu thiên, do tỳ khí hư hoặc chấn thương làm khí huyết không điều hòa, mạch lạc không thông; Đồng tử giãn to: thận tinh hao kiệt, dấu hiệu nguy hiểm sắp chết.
(1)Màu sắc mũi: Mũi sáng bóng: vị khí chưa tổn, hoặc bệnh đã lui, vị khí phục hồi; Đầu mũi đỏ: phế nhiệt; Mũi trắng: khí hư, huyết thiếu; Mũi vàng: thấp nhiệt nội thịnh; Mũi xanh: đau bụng; Mũi hơi đen: thủy ẩm nội đình.
Đầu mũi khô héo là dấu hiệu tỳ vị hư suy, vị khí không thăng dưỡng.
Lỗ mũi khô là do âm hư nội nhiệt hoặc táo tà phạm phế. Nếu mũi khô kèm chảy máu: do dương khí thượng kháng.
(2)Hình thái mũi:
Đầu mũi đỏ kèm mụn: là chứng tửu sang (mụn trứng cá đỏ), do vị hỏa hun phế, huyết ứ phế lạc; Trong lỗ mũi mọc thịt chèn lỗ mũi, khó thở: gọi là tỵ trĩ, thường do phong nhiệt phế kinh; Cánh mũi phập phồng, thở gấp: gọi là “tỵ phiến”, nếu bệnh lâu thì là dấu hiệu nguy hiểm của phế thận tinh khí suy; bệnh mới thì do phế nhiệt.(3)Dịch tiết mũi: Nước mũi trong: ngoại cảm phong hàn; Nước mũi đục: ngoại cảm phong nhiệt; Nước mũi đục, tanh hôi: tỵ uyên, thường do phong nhiệt hoặc đởm kinh tích nhiệt.
(1)Vành tai và các bộ phận liên hệ tạng phủ:
Trên vành tai có các vùng tương ứng với các bộ phận trong cơ thể, giống hình thái một thai nhi trong tử cung, đầu dưới, tay chân trên.
Khi cơ thể có bệnh, các vùng tương ứng trên tai có thể xuất hiện: xung huyết, đổi màu, nốt sần, phỏng nước, bong vảy, trợt loét, hoặc đau nhói — là những thay đổi bệnh lý tham khảo cung cấp cho chẩn đoán.
(2)Màu sắc tai: Tai bình thường hơi vàng hồng là tốt; Tai trắng bệch là hàn chứng; Tai xanh đen là thống chứng; Vành tai cháy đen, khô quắt là thận tinh hao kiệt, tinh không thăng dưỡng; Mạch đỏ trên lưng tai, chân tai lạnh là dấu hiệu tiền phát của bệnh sởi.
Màu sắc tai lấy hồng nhuận làm tốt, nếu thấy vàng, trắng, xanh, đen là biểu hiện bệnh lý.
(3) Hình thái tai: Ở người bình thường, tai đầy đặn, bóng nhuận là biểu hiện thận khí bẩm sinh sung mãn.Vành tai dày to là hình thể thịnh;
Vành tai mỏng nhỏ là hình thể suy; Tai sưng to là tà khí thực;
Tai gầy nhỏ là chính khí hư;Tai mỏng đỏ hoặc đen là thận tinh hao tổn;Vành tai khô cháy thường gặp trong hạ tiêu chứng;Vành tai thô ráp sần sùi thường do bệnh lâu ngày, huyết ứ;Vành tai teo tóp là dấu hiệu nguy hiểm của thận khí suy kiệt.
(4) Bệnh lý trong tai:
Tai chảy mủ gọi là nùng nhĩ, do can đởm thấp nhiệt tụ lâu ngày.
Trong tai mọc nhú thịt nhỏ giống đầu vú dê, gọi là nhĩ trĩ; Hoặc giống hạt táo, thò ra ngoài, sờ vào đau, gọi là nhĩ đĩnh.
Nguyên nhân thường do can kinh uất hỏa, hoặc tướng hỏa thận kinh, hoặc vị hỏa uất kết.
Quan sát môi phải chú ý màu sắc và sự thay đổi động thái của môi và miệng.
(1) Quan sát môi:
Màu môi trong chẩn đoán có ý nghĩa như sắc mặt, nhưng do niêm mạc môi mỏng và trong nên dễ thấy hơn. Môi đỏ tươi, nhuận là bình thường; môi đỏ sẫm là thực chứng, nhiệt chứng; môi hồng nhạt là hư chứng, hàn chứng; môi đỏ sẫm khô là nhiệt cực tổn thương tân dịch; Môi hồng mềm mại là âm hư hỏa vượng; môi trắng bệch là khí huyết lưỡng hư; môi tím tái là dương khí suy, huyết ứ. Môi khô, nứt là tân dịch hao tổn. Môi miệng loét là tỳ vị tích nhiệt, nhiệt tà hun đốt tổn thương. Loét trong miệng, màu hồng nhạt là hư hỏa bốc lên. Loét mép, sưng đỏ đau là tâm tỳ tích nhiệt.
(2) Quan sát miệng:
Phải chú ý hình thái miệng. Miệng ngậm chặt không mở được là kinh bệnh hoặc kinh phong; kèm liệt nửa người là trúng phong nặng. Miệng mím chặt là rốn phong trẻ em hoặc uốn ván người lớn. Miệng lệch sang một bên là trúng phong. Miệng há không khép, khí chỉ ra không vào là phổi khí sắp tuyệt.
Quan sát răng và nướu phải chú ý màu sắc, hình thái và tình trạng khô hay ướt.
(1) Quan sát răng:
Răng bóng nhuận là tân dịch chưa tổn. Răng khô là vị dịch bị tổn. Răng khô như đá là vị tràng nhiệt cực, tân dịch đại thương. Răng khô như xương khô là thận tinh khô kiệt, không nuôi được răng. Răng lung lay, thưa, chân răng lộ là thận hư hoặc hư hỏa bốc lên. Đang bệnh mà nghiến răng là can phong nội động. Ngủ nghiến răng là vị nhiệt hoặc tích trùng. Răng sâu, hôi là sâu răng.
(2) Quan sát nướu:
Nướu đỏ nhuận là bình thường. Nướu trắng bệch là huyết hư. Nướu đỏ sưng chảy máu là vị hỏa bốc lên. Nướu hơi đỏ, hơi sưng, không đau, chảy máu kẽ răng là thận âm bất túc, hư hỏa bốc lên. Nướu trắng, không sưng đau, chảy máu kẽ răng là tỳ hư không nhiếp huyết. Nướu thối, chảy máu hôi là bệnh nha cam.
Quan sát họng chủ yếu dựa vào những dấu hiệu dễ thấy. Họng đỏ, sưng, đau là phế vị tích nhiệt. Họng đỏ sưng loét, có điểm trắng vàng là nhiệt độc rất sâu. Họng đỏ tươi mềm, sưng nhẹ đau nhẹ là âm hư hỏa vượng.
Hai bên họng đỏ sưng, nổi như hạt nhũ là nhũ nga (núm vú), do phế vị nhiệt thịnh, phong tà tụ lại. Họng có màng giả xám trắng, lau không sạch, lau mạnh chảy máu, mọc lại là bạch hầu, còn gọi là dịch hầu vì lây lan.
(三)Vọng thân thể
Vọng thân thể bao gồm quan sát cổ, ngực, bụng, lưng, thắt lưng và nhị âm (trước, sau).
Cổ gáy nối đầu và thân, trước gọi là cổ, sau gọi là gáy. Khi vọng cần chú ý hình dạng và động tác.
(1)Hình dạng thay đổi: Trước cổ, dưới cằm, trên yết hầu có khối u, di động theo nuốt, da không đổi màu, không đau, dai dẳng không tan, không vỡ — là cổ ngạnh (bướu cổ), dân gian gọi “cổ lớn”.
Cạnh cổ, dưới hàm có hạch nổi như chồng chất, nối nhau như chuỗi hạt, da không đổi màu, lúc đầu đau nhẹ — gọi là lỗi lịch.
(2)Thay đổi động tác:
Cổ gáy mềm yếu vô lực gọi là gáy mềm;Cổ gáy cứng, cúi ngửa, xoay khó gọi là gáy cứng; Ngủ dậy gáy cứng là lạc chẩm (rơi khỏi gối); Gáy cứng, ngửa lưng gồng người là giác cung phản trương (Người như cây cung kéo ngược) là can phong nội động.
Bụng là phần thân nằm dưới cơ hoành, trên khung chậu. Vọng bụng chủ yếu là quan sát sự thay đổi hình thái của bụng.
Nếu da bụng căng chặt, bụng phình to như trống gọi là bành trướng. Nếu bụng phình to ở cả tư thế đứng và nằm, ấn vào không cứng là khí cổ. Nếu bụng phình khi đứng, nằm thì xẹp, dạt sang hai bên là thủy cổ Nếu bụng lõm như chiếc thuyền gọi là phúc ao, thường gặp ở người bệnh lâu ngày, tỳ vị nguyên khí đại hư, hoặc người mới bệnh, âm tân hao tổn, không đủ làm đầy thân thể.
Trẻ nhỏ có khối lồi ở rốn, da bóng là rốn lồi hay thoát vị rốn.
Lưng là phần sau của thân mình, từ gáy đến eo. Vọng lưng chủ yếu quan sát hình thái.
Nếu cột sống gù, lưng nhô gọi là chung bối, thường do trẻ nhỏ bẩm sinh bất túc, hậu thiên nuôi dưỡng kém, xương không được nuôi dưỡng, cột sống biến dạng.
Nếu trong bệnh, đầu cổ cứng, lưng gập ra trước, ngửa ra sau như cây cung gọi là giác cung phản trương, thường gặp ở bệnh phong đòn gánh hoặc chứng kính.
Các loại nhọt, đinh, mụn độc mọc ở lưng gọi chung là phát bối, thường do hỏa độc ngưng trệ trong da thịt.
Phần thân sau nằm dưới bờ sườn, trên mào chậu gọi là eo lưng. Vọng thắt lưng chủ yếu quan sát hình dạng.
Nếu đau lưng, khó xoay trở gọi là lưng co cứng, do hàn thấp xâm nhập, kinh khí không thông, hoặc ngoại thương, huyết ứ, khí trệ.
Nếu da lưng nổi mụn nước, mọc thành dải như chuỗi ngọc là triền yêu hỏa đan (giời leo).
Tiền âm còn gọi là hạ âm, là bộ phận sinh dục ngoài và niệu đạo nam nữ, có chức năng sinh dục và bài tiết.
(1)Âm nang (Bìu): Bìu sưng to, không ngứa, không đau, da sáng bóng là thủy xán; Bìu sưng to, đau mà không cứng là đồi xán; Trong bìu có khối, khi nằm thì lên bụng, khi đứng thì sa xuống gọi là hồ xán.
(2) Dương vật: Dương vật mềm yếu, rút vào bụng gọi là âm súc, do dương khí hư tổn hoặc hàn tà ngưng trệ kinh mạch; Dương vật cứng, loét, chảy mủ thường gặp trong mai độc nội hãm, độc phát ra ngoài, gọi là hạ cam.
(3) Âm hộ nữ: Âm hộ sa lồi như trái lê gọi là âm đĩnh, do trung khí bất túc, sau sinh lao lực, khí hư không thăng, tử cung sa ra ngoài.
Trực tràng sa ra ngoài qua hậu môn gọi là thoát hậu;
Vùng quanh hậu môn lồi ra, đau, thậm chí chảy máu khi đi tiêu là bệnh trĩ: Trĩ ngoài mọc ngoài hậu môn;
Trĩ nội mọc trong hậu môn;
Trĩ hỗn hợp có cả trong lẫn ngoài.
Nếu trĩ loét lâu không khỏi, quanh hậu môn sinh đường rò (ngắn dài, nhiều nhánh, thông với trực tràng) là hậu môn rò (hậu môn lậu).
Hậu môn nứt, đau, chảy máu khi đại tiện là hậu môn liệt (nứt hậu môn).
(4) Vọng tứ chi
Tứ chi là tên chung chỉ hai tay, hai chân. Vọng tứ chi là quan sát bàn tay, bàn chân, cổ tay, ngón tay chân, chủ yếu về hình thái và màu sắc.
Tay chân co cứng, khó cử động là do hàn ngưng kinh mạch. Cong không duỗi được là kinh mạch co rút; Duỗi không co được là cứng khớp .
Tay chân co giật là do tà nhiệt thịnh, can phong nội động (chứng kinh).
Giơ tay quăng chân là do nội nhiệt thịnh, nhiệt nhiễu tâm thần.
Tay chân run rẩy không ngừng là do khí huyết hư, can cân mất dưỡng, hư phong nội động.Cơ tay chân teo tóp là do tỳ khí hư, dinh huyết bất túc, tứ chi mất nuôi dưỡng. Nửa người bất toại là bại chứng. Chân mềm yếu không đi được là hạ nuy chứng. Chân phù, mu chân phù, ấn lõm là thủy thũng. Đầu gối sưng, chân tay teo tóp là hạc tất phong (gối hạc).
Da ngón chân tím đen, loét, chảy nước hôi thối, thịt không tươi, đau kịch liệt là chứng “thoát thư” (脱疽) hoại tử.
(5) Vọng bì phu (da)
Vọng da cần chú ý màu sắc và hình thái.
Da cũng có thể hiện ngũ sắc, và ngũ sắc chẩn cũng áp dụng cho vọng da. Lâm sàng thường gặp và có ý nghĩa đặc biệt là đỏ da và vàng da.
(1)Da đỏ: Da đỏ đột ngột, như bôi phấn đỏ gọi là đan độc. Có thể xuất hiện khắp người, mới đầu đỏ tươi như đám mây, thường di chuyển, nặng thì lan toàn thân. Xuất hiện ở đầu mặt gọi là bão đầu hỏa đan; Ở thân mình gọi là đan độc;
Ở cẳng chân, mắt cá gọi là lưu hỏa.
Dù tên khác nhau, nguyên nhân đều do tâm hỏa thịnh, gặp phong nhiệt độc tà.
(2)Da vàng: Da, mặt, móng đều vàng là hoàng đản Chia thành dương hoàng, âm hoàng: Dương hoàng: vàng tươi như màu quýt, thường do tỳ vị hoặc can đởm thấp nhiệt; Âm hoàng: vàng tối như khói, thường do tỳ vị bị hàn thấp quấy nhiễu.
(1) Phù thũng, da khô
Da phù nề, mềm nhũn, khi ấn để lại vết lõm, phần nhiều do thủy thấp lan tràn. Da teo khô, héo úa, thường do tân dịch hao tổn hoặc tinh huyết suy kiệt.
Da khô ráp, thô cứng như vảy cá gọi là “Cơ phu giáp thác”, thường do huyết ứ trở ngại, cơ không được nuôi dưỡng gây nên.
(2) Đậu sang (mụn đậu, ban thủy đậu) Trên da nổi mụn nước nhỏ, hình như hạt đậu nên gọi là đậu sang. Thường đi kèm với các chứng ngoại cảm, bao gồm các bệnh như đậu mùa, thủy đậu…
(3) Ban chẩn (ban, phát ban) Ban và chẩn đều là tổn thương ngoài da, là biểu hiện trong quá trình bệnh.Ban: màu đỏ, đốm to, kết thành mảng, phẳng dưới da, sờ không thấy nổi. Khác nhau về cơ chế bệnh mà chia thành dương ban và âm ban.Chẩn: hình như hạt kê, màu đỏ, nổi cao lên, sờ thấy cộm tay. Do nguyên nhân khác nhau mà chia ra như: sởi, phong chẩn, ẩn chẩn…
(4) Bạch bào và thủy bào (mụn nước) Đều là những tổn thương nổi cao trên da, trong chứa dịch lỏng. Bạch bào là loại mụn nước nhỏ li ti.
Thủy bào là chỉ chung các loại mụn nước to nhỏ không đều.
(5) Ung, thư, đinh, nhọt Đều là những chứng viêm loét ngoài da có hình dạng rõ rệt, thuộc ngoại khoa.
Phân biệt:
Ung: phạm vi lớn, đỏ, sưng, nóng, đau, chân rễ cứng chặt.
Thư: sưng tán không đầu, chân rễ phẳng, da không đổi màu, ít nóng đau.
Đinh: phạm vi nhỏ, lúc đầu như hạt kê, chân cứng, sâu, tê hoặc ngứa, sau nổi đầu trắng và đau.
Nhọt: ở nông, nhỏ tròn, đỏ, sưng, nóng, đau nhẹ, dễ mưng mủ, mủ vỡ thì khỏi.
Vọng thiệt là một phần trong ngũ quan chẩn, nhưng do nội dung phong phú, ngày nay đã phát triển thành một bộ môn riêng – Thiệt chẩn.
Thiệt chẩn chủ yếu là vọng thiệt, nhưng còn bao gồm vấn chẩn vị giác và thiết chẩn (sờ, lau, cạo).Vọng thiệt là phương pháp chẩn đoán bằng cách quan sát hình tượng của lưỡi.
Hình tượng của lưỡi gồm hai phần: chất lưỡi và rêu lưỡi.
Vì vậy, vọng thiệt gồm hai nội dung chính: xem chất lưỡi và xem rêu lưỡi.
(1) Quan hệ giữa lưỡi và tạng phủ kinh lạc
Lưỡi liên hệ với nội tạng chủ yếu qua đường kinh mạch.
Theo Nội Kinh, các tạng tâm, can, tỳ, thận… và các phủ bàng quang, tam tiêu, vị đều qua kinh mạch hoặc kinh biệt, kinh cân mà liên hệ trực tiếp với lưỡi.
Phế, tiểu trường, đại trường, đởm tuy không trực tiếp liên hệ với lưỡi, nhưng do phối hợp âm dương của các kinh thủ túc nên khí kinh cũng gián tiếp thông với lưỡi.
Vì vậy, lưỡi không chỉ là “Miêu khiếu” của tâm, là biểu hiện ngoài của tỳ, mà còn là ngoại biểu của ngũ tạng lục phủ.
Sinh lý học cho rằng, tinh khí của tạng phủ qua kinh mạch liên hệ lên lưỡi để dưỡng nuôi và duy trì chức năng bình thường.
Bệnh lý học cho rằng, bệnh của tạng phủ cũng sẽ ảnh hưởng tinh khí và phản ánh lên lưỡi.
Theo quan điểm sinh vật toàn tức, bộ phận nào cũng phản chiếu toàn thể, lưỡi cũng vậy. Cho nên có thuyết các phần lưỡi ứng với tạng phủ.
Ba cách phân chia chính:
Tâm phế ở trên →đầu lưỡi chủ tâm phế. Tỳ vị ở giữa →giữa lưỡi chủ tỳ vị. Thận ở dưới →gốc lưỡi chủ thận
Can đởm ở hai bên → mép lưỡi chủ can đởm (trái can, phải đởm)
(Thường dùng cho bệnh nội thương tạp bệnh)
Đầu lưỡi chủ thượng tiêu; Giữa lưỡi chủ trung tiêu; Gốc lưỡi chủ hạ tiêu
(Thường dùng trong bệnh ngoại cảm)
Đầu lưỡi chủ thượng quản
Giữa lưỡi chủ trung quản
Gốc lưỡi chủ hạ quản
(Thường dùng trong bệnh tiêu hóa)
Sử dụng các bộ phận khác nhau của lưỡi để chẩn đoán các cơ quan nội tạng là một trong những chủ đề hiện tại trong nghiên cứu về các quy luật toàn ảnh sinh học. Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tất cả đều có giá trị tham khảo. Trong chẩn đoán lâm sàng, có thể kiểm chứng bằng cách kết hợp khám chất lượng lưỡi và phủ lưỡi, nhưng phải kết hợp với bốn lần khám và đánh giá toàn diện không nên quá máy móc.
(2) Nội dung vọng thiệt
Chia làm hai phần chính: vọng chất lưỡi và vọng rêu lưỡi. Chất lưỡi (hay thân lưỡi): là tổ chức cơ và mạch máu của lưỡi. Bao gồm vọng thần, sắc, hình, thái (thần khí, màu sắc, hình dạng, trạng thái).Rêu lưỡi: là lớp phủ trên bề mặt lưỡi. Xem màu rêu, chất rêu.
Hình tượng lưỡi bình thường gọi là “đạm hồng thiệt, bạc bạch đài:
Lưỡi mềm mại, vận động linh hoạt, màu hồng nhạt tươi tắn.
Kích thước vừa phải, không có hình dạng bất thường.
Rêu lưỡi mỏng trắng, bóng ẩm, hạt mịn đều, phủ đều trên mặt lưỡi, cạo không mất, dính chặt với lưỡi, khô ướt vừa phải, không dính không nhớt.
Tóm lại, sự phối hợp hài hòa giữa chất lưỡi và rêu lưỡi chính là biểu hiện của lưỡi bình thường.
(1) Thần của lưỡi (Thiệt thần): Thần của lưỡi chủ yếu thể hiện ở sự tươi nhuận và linh động của chất lưỡi. Phép xem thần của lưỡi cốt yếu là ở việc phân biệt được vinh hay khô.
Vinh: Lưỡi tươi nhuận, có ánh sắc, vận động linh hoạt, màu đỏ hồng tươi sáng, sáng bóng, đầy sinh khí, gọi là hữu thần, dù mắc bệnh cũng là dấu hiệu tốt. Khô: Lưỡi khô xám, không có ánh sắc, vận động kém linh hoạt, màu tối, không bóng, gọi là vô thần, là dấu hiệu hung hiểm.
Sự hiện diện hay thiếu vắng của thần trên lưỡi phản ánh tình trạng hưng suy của tạng phủ, khí huyết, tân dịch, liên quan mật thiết đến tiên lượng bệnh tật.
(2) Màu sắc của lưỡi (Thiệt sắc): Tức là màu của chất lưỡi, thường chia thành các loại: đạm bạch, đạm hồng, hồng, giáng, tử, thanh. Ngoài đạm hồng là bình thường, các màu khác đều chủ bệnh.
①Đạm hồng thiệt: Lưỡi màu hồng nhạt, trắng hồng vừa phải, biểu hiện khí huyết sung mãn, tâm khí đầy đủ, dương khí phân bố tốt, là màu lưỡi bình thường.②Đạm bạch thiệt: Màu nhạt hơn đạm hồng, thậm chí không còn huyết sắc, do dương hư, khả năng sinh hóa âm huyết kém, huyết không vận hành đến lưỡi — chủ hư hàn hoặc khí huyết lưỡng hư.
③Hồng thiệt: Màu đỏ tươi, đậm hơn đạm hồng, do nhiệt thịnh làm khí huyết sôi sục, mạch máu sung thịnh, thường gặp trong thực nhiệt hoặc hư nhiệt.
④Giáng thiệt: Màu đỏ sẫm đậm, đậm hơn hồng thiệt, gọi là giáng thiệt. Gặp trong bệnh ngoại cảm (nhiệt nhập doanh huyết) hoặc nội thương (âm hư hỏa vượng).
⑤Tử thiệt: Màu tím do huyết ứ, huyết hành không thông. Nhiệt thịnh thương tân, khí huyết ứ trệ — lưỡi tím sẫm, khô ráo ít tân dịch. Hàn ngưng huyết ứ hoặc dương hư sinh hàn — lưỡi tím nhạt hoặc xanh tím, ướt nhuận.
Thanh thiệt: Màu xanh như tĩnh mạch dưới da, không có sắc đỏ — do hàn tà thịnh, dương khí bị uất, huyết ứ, chủ hàn ngưng, dương uất, dương hư hàn ngưng, huyết ứ nội đình.
(3) Hình thể của lưỡi (Thiệt hình): Chỉ hình dạng của lưỡi, gồm già-non, mập-ốm, sưng-teo, nứt nẻ, gai nhọn, dấu răng…
①Thương lão thiệt: Lưỡi thô ráp, gân guốc, chắc cứng — thực chứng dù lưỡi có sắc hay rêu thế nào.
②Kiều nhuận thiệt: Lưỡi mềm mại, mịn màng, hơi phù béo — chủ hư chứng.
③Trướng đại thiệt (Lưỡi trướng to): Gồm hai loại là phì đại và sưng phù. Phì đại: Lưỡi to hơn bình thường, thè ra đầy kín miệng, hoặc có dấu răng ở mép lưỡi, gọi là phì đại thiệt. Sưng phù: Lưỡi sưng to, đầy kín miệng, không co lại được, khó ngậm miệng, gọi là sưng phù thiệt, cũng gọi là phì đại thiệt. Nguyên nhân: Thường do thủy ẩm, đàm thấp ứ trệ làm cản trở khí huyết. Đối với lưỡi sưng phù, phần nhiều do nhiệt độc, tửu độc gây khí huyết ứ trệ, khiến lưỡi sưng to, thường gặp trong nhiệt chứng hoặc chứng trúng độc.
④Tiêu bạc thiệt (Lưỡi teo mỏng): Lưỡi nhỏ, khô mỏng, teo lại, gọi là tiêu bạc thiệt. Nguyên nhân: Do khí huyết, âm dịch không đủ, không thể làm đầy đặn thân lưỡi.Thường gặp trong khí huyết lưỡng hư hoặc âm hư hỏa vượng.
⑤Mang thích thiệt (Lưỡi gai nhọn): Trên mặt lưỡi vốn có các nhú lưỡi mềm là trạng thái bình thường, nhưng khi các nhú này to lên, nhô cao như gai, sờ vào thấy nhọn, gọi là mang thích thiệt. Nguyên nhân: Thường do nhiều tà nhiệt.
Số lượng gai càng nhiều, chứng tỏ tà nhiệt cũng nhiều. Dựa vào vị trí xuất hiện có thể xác định vị trí nhiệt tà: Gai ở đầu lưỡi: Chủ tâm hỏa thịnh. Gai ở mép lưỡi: Chủ can đởm hỏa thịnh. Mang thích ở giữa lưỡi: Chủ vị tràng nhiệt thịnh.
Liệt văn thiệt (Lưỡi nứt nẻ): Trên mặt lưỡi có các rãnh nứt, các rãnh này không bị phủ bởi rêu lưỡi, gọi là liệt văn thiệt.Nguyên nhân: Thường do tinh huyết hao tổn, tân dịch khuy tổn, lưỡi không được nuôi dưỡng.
Thường chủ về tinh huyết khuy tổn. Ngoài ra, ở người khỏe mạnh cũng có khoảng 0.5% có các rãnh sâu chạy dọc ngang trên mặt lưỡi, gọi là lưỡi nứt bẩm sinh, các rãnh này thường có rêu phủ, cơ thể không có biểu hiện bất thường — khác với liệt văn thiệt bệnh lý.
Xỉ ngân thiệt (Lưỡi in dấu răng): Mép lưỡi có vết ấn của răng, gọi là xỉ ngân thiệt. Nguyên nhân: Chủ yếu do tỳ hư, không vận hóa được thủy thấp, nước ẩm tích lại ở lưỡi làm cho lưỡi phì đại, bị răng ép mà tạo thành dấu răng.
Xỉ ngân thiệt thường đi kèm với lưỡi phì đại, mềm béo, chủ về tỳ hư hoặc thấp thịnh.
(4) Trạng thái vận động của lưỡi (Thiệt thái):
Trạng thái vận động của lưỡi khi cử động. Bình thường: lưỡi linh hoạt, co duỗi tự nhiên. Bệnh lý có: cứng, mềm, sa, ngắn, tê, run, lệch, lè lưỡi…
① Cường ngạnh thiệt: Lưỡi cứng, không linh hoạt, nói năng khó khăn — do nhiệt nhiễu tâm thần, âm dịch tổn thương, đàm cản trở nghẹt tắc lưỡi — thường gặp trong nhiệt nhập tâm bào, sốt cao tổn thương tân dịch, đàm trọc nội trở, trúng phong hoặc tiên triệu trúng phong.
② Nuy nhuyễn thiệt: Lưỡi mềm yếu, không co duỗi được — do khí huyết hư cực độ, âm dịch bất túc — thường gặp trong khí huyết lưỡng hư, nhiệt thương tân, âm hư kiệt quệ.
③ Thiệt túng (舌纵): Lưỡi thè ra ngoài miệng, khó thu vào hoặc không thể co lại, gọi là lưỡi túng. Nguyên nhân chủ yếu do cơ và gân lưỡi bị trương dãn. Thường gặp trong thực nhiệt nội thịnh, đàm hỏa nhiễu tâm hoặc khí hư.
④ Lưỡi co ngắn (短缩): Lưỡi co rút, không thể thè dài ra, gọi là lưỡi ngắn. Có thể do hàn ngưng kinh mạch, khiến lưỡi co rút; do đàm thấp ứ trệ bên trong, khởi động can phong, phong tà kèm đàm ngăn cản gốc lưỡi; do nhiệt thịnh thương tân, làm gân mạch co cứng; do khí huyết đều hư, lưỡi mất nuôi dưỡng ôn nhuận. Dù là hư hay thực, đều là dấu hiệu nguy kịch.
⑤ Lưỡi tê (麻痹): Lưỡi có cảm giác tê, vận động không linh, gọi là lưỡi tê. Thường do doanh huyết không thăng lên nuôi dưỡng lưỡi. Nếu tê lưỡi không nguyên do, lúc có lúc không — là tâm huyết hư; nếu lưỡi tê kèm run hoặc có biểu hiện trúng phong — là dấu hiệu can phong nội động.
⑥ Lưỡi run (颤动): Lưỡi run rẩy, rung động không kiểm soát, gọi là lưỡi run. Thường do khí huyết lưỡng hư, gân mạch mất dưỡng, hoặc nhiệt cực sinh phong. Gặp trong các chứng huyết hư sinh phong hoặc nhiệt cực sinh phong.
⑦ Lưỡi lệch (歪斜): Lưỡi đưa ra bị lệch về một bên, thân lưỡi không thẳng, gọi là lưỡi lệch. Thường do phong tà trúng lạc mạch hoặc phong đàm ứ ở lạc mạch, cũng có thể là phong trúng tạng phủ, nhưng chủ yếu là do một bên kinh lạc, kinh cân bị ngăn trở, cơ lưỡi bên bệnh nhão, nên lệch về bên lành. Thường gặp trong trúng phong hoặc dự báo trúng phong.
⑧ Lưỡi thè lè, mấp máy (吐弄): Lưỡi thường xuyên thè ra ngoài là thè lưỡi; lưỡi liên tục liếm môi trên dưới hoặc đưa ra rồi rụt vào là mấp máy lưỡi. Cả hai gọi chung là thè lưỡi mấp máy. Thường do tâm, tỳ hai kinh có nhiệt, nhiệt tổn thương tân dịch, làm gân mạch co cứng, lưỡi cử động không yên. Mấp máy lưỡi hay gặp ở trẻ nhỏ trí tuệ chậm phát triển.
Rêu lưỡi bình thường sinh ra do vị khí bốc lên, nên sự thịnh suy của vị khí phản ánh rõ trên rêu lưỡi. Rêu lưỡi bệnh lý hình thành do hai nguyên nhân: Một là vị khí kèm khí trọc do ăn uống tích trệ bốc lên mà sinh.
Hai là tà khí bốc lên mà thành. Khi quan sát rêu lưỡi, cần chú ý đến chất của rêu (苔质) và màu của rêu (苔色).
(1) Chất của rêu (苔质): Chỉ hình dạng, tính chất của rêu lưỡi — bao gồm độ dày mỏng, khô ướt, thô dính, bợn nhầy, tróc lở, có gốc hay không.
① Dày mỏng: Lấy chuẩn là thấy đáy hoặc không thấy đáy.
Nếu có thể thấy lờ mờ thân lưỡi qua lớp rêu — gọi là thấy đáy, là rêu mỏng, do vị khí sinh, là rêu bình thường. Nếu có bệnh, rêu mỏng thường gặp lúc bệnh mới khởi, tà còn ở biểu, bệnh nhẹ.
Nếu không thấy thân lưỡi — gọi là không thấy đáy, là rêu dày, thường gặp khi tà khí đã vào lý hoặc vị tràng tích trệ, bệnh nặng.
Rêu từ mỏng dần dày lên: Chính khí không thắng được tà, bệnh từ biểu truyền vào lý, bệnh chuyển nặng.
Rêu từ dày mỏng dần: Chính khí phục hồi, tà tiêu tán, bệnh nhẹ dần, là dấu hiệu lui bệnh.
② Khô ướt (nhuận táo): Rêu ẩm ướt, khô ướt vừa phải là rêu nhuận, chứng tỏ tân dịch chưa bị tổn thương. Nếu quá ướt, sờ vào trơn láng, thậm chí nước dãi chảy — là rêu trơn, thường do dương hư, đàm ẩm thủy thấp ứ trệ.
Nếu nhìn khô ráp, sờ không thấy ướt — là rêu khô, do tân dịch không bốc lên, gặp trong nhiệt thịnh thương tân, âm dịch không đủ, dương hư không hóa được tân dịch, táo khí thương phế. Rêu từ nhuận thành khô: Dấu hiệu táo tà tổn thương tân dịch hoặc nhiệt thịnh tổn hao tân dịch, bệnh nặng. Rêu từ khô thành nhuận: Dấu hiệu táo nhiệt giảm, tân dịch phục hồi, bệnh thuyên giảm.
③ Bợn nhầy (腐腻): Rêu dày, hạt to thô, xốp, như cặn đậu phủ trên mặt lưỡi, lau đi được — gọi là rêu bợn (腐苔). Do dương nhiệt thịnh, khí trọc ở vị bốc lên, thường gặp trong đàm trọc, thực tích, vị tràng uất nhiệt.
Rêu hạt nhỏ, mịn, dính, lau không sạch, phủ lớp mỡ nhầy — gọi là rêu nhầy (腻苔), do tỳ hư không vận, bên trong nhiều thấp trọc (nội thịnh), dương khí bị âm tà áp chế, gặp trong các chứng như đàm ẩm, thấp trọc đình trệ bên trong.
④ Tróc lở (剥落):
Rêu đang có rồi đột ngột tróc hết hoặc tróc một phần, lộ thân lưỡi — gọi là rêu tróc lở (剥落苔). Nếu tróc toàn bộ, không sinh lại, mặt lưỡi trơn bóng như gương — gọi là “Kính diện thiệt” (镜面舌) lưỡi gương; Lưỡi bóng là Quang hoạt thiệt(光滑舌), do vị âm cạn kiệt, vị khí đại thương, không còn sinh khí, là dấu hiệu nguy kịch. Nếu tróc từng mảng, chỗ tróc láng bóng, chỗ còn rêu lấm tấm — gọi là rêu tróc từng mảng (花剥苔), do khí âm vị tổn thương.
Rêu từ có đến mất: Biểu hiện vị khí, vị âm suy kiệt, chính khí giảm sút. Nếu sau khi tróc lại mọc rêu mỏng trắng: Dấu hiệu tà lui, chính thắng, vị khí phục hồi. Cần lưu ý: Rêu lưỡi thay đổi dần là tốt; nếu rêu tăng giảm đột ngột — là dấu hiệu bệnh tình chuyển biến nguy kịch.
⑤ Rêu có gốc và không gốc: Dù rêu lưỡi dày hay mỏng, nếu bám chặt trên mặt lưỡi, như sinh ra từ trong lưỡi — gọi là rêu có gốc (còn gọi là rêu thật); nếu rêu bám hời hợt, giống như phủ lên mặt lưỡi, cạo dễ bong, không như mọc từ lưỡi — gọi là rêu không gốc (còn gọi là rêu giả).
Rêu có gốc biểu thị tà khí tuy thịnh nhưng vị khí chưa suy.
Rêu không gốc biểu thị vị khí đã suy yếu.
Tóm lại: Quan sát độ dày của rêu giúp biết bệnh nông hay sâu Quan sát tình trạng khô ướt của rêu giúp biết tình trạng tân dịch. Quan sát rêu bợn hay rêu nhầy giúp biết tình trạng thấp trọc. Quan sát rêu bong tróc, có gốc hay không giúp nhận định thịnh suy của khí âm và xu hướng phát triển của bệnh.
(2) Màu sắc của rêu:
Là màu của rêu lưỡi, chia làm bốn loại chính: trắng, vàng, xám và đen, và các dạng kết hợp màu.
Vì màu rêu liên quan đến tính chất của tà khí nên việc quan sát màu rêu giúp hiểu được tính chất của bệnh.
(1) Rêu trắng: Thường gặp trong biểu chứng hoặc hàn chứng . Khi ngoại tà chưa vào lý, rêu thường không thay đổi, vẫn là rêu trắng mỏng bình thường. Nếu lưỡi nhạt, rêu trắng, ướt nhuận — thường là chứng lý hàn hoặc hàn thấp. Nhưng trong trường hợp đặc biệt, rêu trắng cũng chủ nhiệt chứng. Ví dụ: Rêu trắng phủ đầy lưỡi như bột phấn, sờ không thấy khô — gọi là rêu bột — do ngoại cảm khí trọc, nhiệt độc thịnh — gặp trong ôn dịch hoặc nội ung.
Lại như rêu trắng, khô, nứt nẻ như đá, sờ vào thô ráp — gọi là rêu khô nứt — do bệnh thấp hóa nhiệt nhanh, nội nhiệt bốc mạnh, tân dịch tổn thương, rêu chưa kịp chuyển vàng mà nội nhiệt đã thịnh — thường gặp trong ôn bệnh hoặc do dùng nhầm thuốc bổ nhiệt.
(2) Rêu vàng: Chủ yếu gặp trong lý chứng , chứng nhiệt. Do nhiệt tà bốc lên, nên rêu chuyển vàng.Vàng nhạt: nhiệt nhẹ.Vàng đậm: nhiệt nặng. Vàng cháy: nhiệt kết. Trong bệnh ngoại cảm, rêu từ trắng chuyển vàng là dấu hiệu tà nhập lý hóa nhiệt.
Nếu rêu mỏng, vàng nhạt: có thể là ngoại cảm phong nhiệt hoặc phong hàn hóa nhiệt. Nếu lưỡi nhạt, phù, mềm, rêu vàng, trơn nhuận — thường do dương hư, thủy thấp không hóa.
(3) Rêu xám: Là màu xám hoặc đen nhạt. Thường là rêu trắng bị tối lại, cũng có thể đi kèm rêu vàng. Thường gặp trong lý chứng , nhất là nội nhiệt hoặc hàn nhiệt lẫn lộn. Rêu xám, khô — thường là nội nhiệt thịnh, tổn thương tân dịch— gặp trong nhiệt bệnh ngoại cảm, hoặc âm hư hỏa vượng. Rêu xám, ướt — gặp trong đàm ẩm nội đình (đình trệ bên trong) hoặc hàn thấp nội trở (cản trở bên trong).
(4) Rêu đen: Thường do rêu vàng cháy hoặc rêu xám tiến triển mà thành. Bất kể là hàn hay nhiệt, rêu đen đều thuộc chứng nguy kịch.
Rêu càng đen, bệnh càng nặng. Rêu đen, khô, nứt, kèm gai nhọn — là nhiệt cực làm tân dịch khô cạn. Rêu đen, khô, thấy ở giữa lưỡi — dấu hiệu ruột khô, đại tiện táo, hoặc vị khí sắp hoại.Thấy ở gốc lưỡi — nhiệt thịnh ở hạ tiêu.Thấy ở đầu lưỡi — tâm hỏa tự đốt.
Rêu đen, trơn nhuận, lưỡi nhạt — âm hàn nội thịnh, thủy thấp không hóa.Rêu đen, dính nhầy — đàm thấp nội trở.
Quá trình phát triển bệnh là quá trình biến đổi toàn diện và phức tạp, do đó sau khi nắm được đặc điểm của chất lưỡi và rêu lưỡi, cần phải phân tích mối liên hệ giữa chúng. Chất lưỡi chủ yếu phản ánh hư thực của chính khí, cũng phần nào phản ánh tính chất tà khí. Rêu lưỡi chủ yếu phản ánh độ nông sâu và tính chất tà khí, cũng bao gồm tình trạng tồn vong của vị khí.
Phải kết hợp cả hai, dù có thay đổi riêng rẽ hay đồng thời, cũng cần chẩn đoán tổng hợp. Thông thường, chất lưỡi và rêu lưỡi thay đổi đồng bộ, bệnh lý cũng là tổng hợp của chủ bệnh riêng rẽ.
Ví dụ: Chứng lý thực nhiệt — thường thấy lưỡi đỏ, rêu vàng, khô.
Chứng lý hư hàn — thường thấy lưỡi nhạt, rêu trắng, ướt.
Đây là nguyên tắc cơ bản để nắm bắt dễ dàng trong học tập, nhưng cũng có khi chất lưỡi và rêu lưỡi không đồng bộ, do đó cần kết hợp với tứ chẩn (vọng, văn, vấn, thiết).
Ví dụ:Rêu trắng thường chủ hàn, chủ thấp, nhưng nếu lưỡi đỏ sẫm, kèm rêu trắng khô — là táo nhiệt thương tân, do nhiệt hóa táo nhanh, rêu chưa kịp chuyển vàng đã vào doanh phần. Rêu trắng dày như bột — chủ tà nhiệt thịnh, không chủ hàn. Rêu xám, đen — có thể thuộc nhiệt chứng, cũng có thể hàn chứng, cần xét cùng với tình trạng khô ướt của lưỡi. Đôi khi chủ bệnh của chất lưỡi và rêu lưỡi mâu thuẫn, cũng cần kết hợp phân tích. Ví dụ: Lưỡi đỏ sẫm, rêu trắng, trơn, nhầy — trong ngoại cảm là nhiệt ở doanh phần, thấp ở khí phần; trong nội thương là âm hư hỏa vượng, kèm đàm trọc thực tích. Vì vậy, khi học nên nắm riêng từng phần, khi vận dụng phải chẩn đoán tổng hợp.
(3) Phương pháp và lưu ý khi vọng lưỡi:
Muốn vọng lưỡi chính xác, cần chú ý phương pháp và các điểm sau:
Là quan sát các chất bài tiết và tiết dịch của người bệnh như đờm dãi, chất nôn, đại tiện, nước tiểu, nước mũi, nước bọt, mồ hôi, nước mắt, khí hư…
Dưới đây chủ yếu giới thiệu cách quan sát đờm dãi, chất nôn và phân, nước tiểu, thông qua việc xem màu sắc, tính chất, hình dạng, số lượng để hiểu tình trạng tạng phủ và tính chất của tà khí.
Nhận định chung: Màu trong, trắng, loãng: thường là hàn chứng, hư chứng.
Màu vàng, đỏ, đặc dính, đục bẩn: thường là nhiệt chứng, thực chứng.
Màu đen, kèm khối cặn: thường là huyết ứ.
(1) Quan sát đờm dãi:
Đờm dãi là sản phẩm bệnh lý do rối loạn chuyển hóa nước dịch trong cơ thể, liên quan mật thiết với chức năng của tỳ và phế. Cổ nhân nói: Tỳ là nguồn sinh đờm, phế là nơi chứa đờm — nhưng cũng liên quan đến các tạng khác.
Trên lâm sàng chia làm đờm hữu hình (có hình dạng, khạc ra được) và đờm vô hình. Ở đây nói đến đờm hữu hình, là loại đờm khạc ra ngoài.
Đờm vàng, đặc dính, thành cục: do nhiệt tà nung nấu tân dịch, gọi là đờm nhiệt. Đờm trắng, trong loãng, có thể lẫn điểm xám đen: do hàn tà thương dương khí, khí không hóa tân dịch, thấp tụ thành đờm, gọi là đờm hàn.
Đờm trắng, trơn nhầy, nhiều, dễ khạc: do tỳ hư, thủy thấp không hóa, thấp tụ thành đờm, dễ khạc ra — gọi là đờm thấp. Đờm ít, đặc, dính, khó khạc: do tà táo thương phế, gọi là đờm táo. Đờm lẫn máu hoặc khạc ra máu tươi: do nhiệt thương phế lạc.
Miệng thường xuyên chảy nước dãi trong: do tỳ vị dương hư.
Miệng thường chảy dãi đặc, nhớt: do tỳ thấp, thấp nhiệt uất.
(2) Quan sát chất nôn:
Chất trong dạ dày đi ngược ra miệng gọi là chất nôn.
Bình thường vị khí giáng là thuận, nếu vị khí nghịch, đẩy thức ăn lên, gây nôn.
Tính chất và triệu chứng kèm theo thay đổi tùy theo nguyên nhân:
Nôn chất lỏng trong, loãng, không mùi: do hàn nôn, thường do tỳ vị hư hàn hoặc hàn tà phạm vị.
Nôn chua, thối, đục bẩn: do nhiệt nôn, vì nhiệt tà phạm vị hoặc thực nhiệt ở vị.
Nôn ra đờm dãi trong, lượng nhiều: do đàm ẩm đình trệ ở vị.
Nôn thức ăn chưa tiêu, có mùi chua thối: do thực tích.
Nôn liên tục, khó dứt, thức ăn không tiêu, ít chua, ít hôi: do can khí phạm vị.
Nôn nước vàng, xanh, vị đắng: do can đởm uất nhiệt hoặc thấp nhiệt ở can đởm.
Nôn ra máu tươi hoặc máu tím đen, lẫn cặn thức ăn: do tích nhiệt ở vị, hoặc can hỏa phạm vị, hoặc có sẵn huyết ứ.
(3) Quan sát đại tiện:
Chủ yếu xem màu sắc, tính chất, số lượng của phân.
Phân màu vàng, thành khuôn, khô ướt vừa phải, đi xong dễ chịu: là phân bình thường.Phân lỏng, có hạt thức ăn sống, như phân vịt: là tiết tả do hàn, thường do tỳ vị hư hàn. Phân lỏng, vàng, như cháo loãng, mùi hôi: là tả do nhiệt.Phân trắng: thường do tỳ hư hoặc hoàng đản. Phân táo bón: thường do thực nhiệt.
Phân khô, cứng như phân dê, khó đi, lâu ngày không đi, nhưng không đau: là do âm huyết hư.
Phân dính như mỡ đông, kèm mủ máu, đau bụng, mót rặn: là lỵ bệnh.
Phân đen như hắc ín: là xuất huyết ở vị lạc (lạc mạch của vị).
Trẻ em đại tiện xanh: dấu hiệu tiêu hóa kém.
Đi ngoài ra máu:
Ra máu trước, phân sau, máu tươi: xuất huyết gần, thường là trĩ.
Phân xong mới ra máu, máu sẫm: xuất huyết xa, thường do bệnh lý dạ dày, ruột.
(4) Quan sát tiểu tiện:
Chú ý màu sắc, tính chất, lượng tiểu.
Tiểu vàng nhạt, trong, thoải mái: là tiểu bình thường.
Tiểu trong, dài, lượng nhiều, kèm sợ lạnh, tay chân lạnh: là hàn chứng.
Tiểu ngắn, đỏ, ít, nóng rát đau: là nhiệt chứng.
Tiểu đục như mỡ, có chất nhầy: là cao lâm (tiểu buốt do thấp nhiệt).
Tiểu có cát sỏi, tiểu khó, đau: là thạch lâm.
Tiểu ra máu: là huyết lâm, do nhiệt thịnh ở hạ tiêu, nhiệt thương huyết lạc.
Tiểu ra máu, kèm tiểu khó, nóng rát, đau buốt: là huyết lâm kiêm nhiệt lâm.
Tiểu đục như nước vo gạo, người ngày càng gầy: là tỳ thận hư tổn.
Chỉ văn là đường mạch nổi trên mặt cạnh trước của ngón trỏ ở lòng bàn tay của trẻ nhỏ. Phương pháp quan sát sự thay đổi hình dạng và màu sắc của chỉ văn để chẩn đoán bệnh gọi là chẩn đoán chỉ văn, chỉ áp dụng cho trẻ dưới ba tuổi. Chỉ văn là một nhánh của kinh Phế Thái âm ở tay, vì vậy có ý nghĩa tương tự như bắt mạch ở bộ Thốn Khẩu.
Chỉ văn chia làm ba cửa là Phong quan, Khí quan, Mệnh quan:
Đốt thứ nhất (gần lòng bàn tay) là Phong quan. Đốt thứ hai là Khí quan. Đốt thứ ba (gần ngón tay) là Mệnh quan.
Chỉ văn trẻ em
(1) Phương pháp quan sát chỉ văn
Ôm trẻ ra chỗ sáng, người khám dùng ngón trỏ và ngón cái của tay trái giữ chặt đầu ngón trỏ của trẻ, tay phải dùng ngón cái đặt ở mặt cạnh ngón trỏ của trẻ, xoa vuốt nhẹ từ Mệnh quan lên đến Khí quan, Phong quan vài lần, lực vừa phải để làm nổi rõ chỉ văn, dễ quan sát.
(2) Ý nghĩa lâm sàng của chỉ văn
Chỉ văn bình thường có màu đỏ nhạt hơi tím, ẩn hiện trong phạm vi Phong quan, đa số không nổi rõ hoặc rất mờ, thường có hình xiên, chỉ một nhánh, độ to vừa phải.
Hiện ở Phong quan: tà khí còn nông, bệnh nhẹ.
Qua Phong quan đến Khí quan: tà khí đã vào sâu, bệnh nặng hơn.
Qua Khí quan đến Mệnh quan: tà khí đã xâm nhập sâu, bệnh tình nguy kịch.
Chỉ văn vượt cả ba quan, kéo dài đến móng tay: gọi là “xuyên quan xạ giáp”, là dấu hiệu nguy hiểm.
Đỏ tươi: chủ cảm phong hàn. Đỏ tím: chủ nhiệt chứngXanh: chủ phong chứng hoặc chứng đau.
Xanh tím hoặc tím đen: huyết lạc bế tắc.
Trắng nhạt : chủ tỳ hư.
Chỉ văn nổi rõ, nông: bệnh ở biểu.
Chỉ văn chìm, mờ: bệnh ở lý.
Chỉ văn nhỏ, nhạt: chủ hư chứng.
Chỉ văn to, đậm, ứ trệ: chủ thực chứng.
Tổng kết: Quan sát chỉ văn ở trẻ nhỏ cần chú ý: phân biệt biểu lý qua nông sâu, nhận định hàn nhiệt qua sắc đỏ tím, nhận định hư thực qua độ nhạt đậm, đoán mức độ bệnh qua ba quan, phối hợp quan sát hình dạng và màu sắc, cần cẩn thận, tỉ mỉ.
Phần thứ hai – Văn chẩn (Nghe để chẩn bệnh)
Văn (nghe) chẩn bao gồm hai nội dung là nghe tiếng và ngửi mùi. Đây là phương pháp giúp thầy thuốc nhận biết những âm thanh và mùi vị bất thường phát ra từ cơ thể người bệnh để chẩn đoán tình trạng bệnh. Nghe chẩn là phương pháp không thể thiếu, là con đường quan trọng để thu thập các dấu hiệu khách quan.
Nghe tiếng chủ yếu là nghe sự thay đổi về âm lượng, cường độ, trong đục, nhanh chậm của tiếng nói, tiếng thở, cùng với tiếng ho, tiếng nôn, tiếng nấc, tiếng ợ… để phân biệt hàn nhiệt, hư thực của bệnh tình.
(1) Tiếng bình thường:
Tiếng nói bình thường, dù khác nhau về cá nhân, nhưng đều phát ra tự nhiên, âm điệu hoà hợp, vừa mềm vừa cứng — đó là dấu hiệu của người khỏe mạnh.
Do khác biệt về giới tính, tuổi tác, thể chất, nên tiếng nói cũng khác nhau: nam thường trầm khàn, nữ thường cao thanh, trẻ em thì lanh lảnh, già thì khàn trầm. Tiếng nói cũng bị ảnh hưởng bởi cảm xúc: khi giận thì âm sắc gắt gỏng, khi buồn thì âm thanh ngắt quãng, đứt quãng. Những biến đổi này do xúc cảm nhất thời, không phải bệnh lý.
(2) Tiếng bất thường (bệnh âm):
Tiếng bệnh là những thay đổi âm thanh do bệnh lý gây ra.
Bất cứ âm thanh nào ngoài giới hạn sinh lý bình thường hoặc khác với cá nhân đều là tiếng bệnh.
Tiếng cao, to, lanh lảnh, nói nhiều, bứt rứt: thường là thực chứng, nhiệt chứng.
Tiếng nói nặng, khàn, trầm: khi nhiễm phong, hàn, thấp. Tiếng nói nhỏ, yếu, ít nói, trầm mặc: thường là hư chứng, hàn chứng hoặc chính khí suy yếu sau khi tà khí lui.
(1) Tiếng khàn (âm á) và mất tiếng (thất âm):
Âm á: nói khàn nhưng rõ tiếng.Thất âm: không phát ra được tiếng.
Hai trạng thái này thường có nguyên nhân và cơ chế bệnh giống nhau, cần phân biệt hư thực.
Mới bị bệnh thường là thực chứng, do ngoại cảm phong hàn hoặc phong nhiệt phạm phế, hoặc đàm trọc ngăn phế làm phế mất chức năng tuyên phát thanh khiết. Bệnh lâu ngày thường là hư chứng, do tinh khí nội thương, phế thận âm hư, hư hỏa đốt phế.
(2) Ngáy: Là âm thanh bất thường khi đường thở bị tắc nghẽn. Người bình thường cũng có thể ngáy khi ngủ say. Nếu ngáy không dứt, mê man không tỉnh: thường gặp trong cao nhiệt thần hôn hoặc trúng phong nhập tạng — tình trạng nguy kịch.
(3)Thân ngân (呻吟)Rên rỉ, la hét:
Rên rỉ: do đau đớn mà phát ra. Rên liên tục: cơ thể đau mỏi, khó chịu.
La hét bất ngờ: do kích thích mạnh hoặc đau dữ dội gây ra.
Trẻ nhỏ la hét, tiếng cao vút, đầy kinh hoàng: là dấu hiệu can phong nội động, thần trí bị quấy rối — chứng kinh phong.
(1) Lời nói cuồng điên
Đều là hiện tượng nói năng lộn xộn do thần chí rối loạn, tư duy bất thường.
Cuồng ngôn: Biểu hiện bằng chửi mắng, cười hát thất thường, nói năng lộn xộn, kích động, bồn chồn không yên, thường gặp trong chứng cuồng, dân gian gọi là “vũ si”, “phát cuồng”. Người bệnh ở trạng thái cực kỳ kích động, thuộc dương chứng, nhiệt chứng, phần nhiều do đàm hỏa nhiễu tâm, hoặc can đởm uất hỏa.
Điên ngữ: Biểu hiện bằng nói năng lộn xộn, tự nói một mình hoặc lặng thinh, khóc cười thất thường, tinh thần hoảng hốt, không muốn gặp người, thường gặp trong chứng điên, dân gian gọi là “văn si”. Người bệnh uất ức, tinh thần uể oải, thuộc âm chứng, phần nhiều do đàm trọc uất kết hoặc tâm tỳ lưỡng hư.
(2) Độc ngữ và Thác ngữ
Là hiện tượng rối loạn ngôn ngữ khi bệnh nhân còn tỉnh táo nhưng suy nghĩ chậm chạp.
Thường gặp ở người già hoặc bệnh lâu ngày, do tâm khí huyết hư, tâm thần không được nuôi dưỡng, tư duy chậm chạp — thường thuộc hư chứng.
Độc ngữ: Nói lẩm bẩm một mình, lặp đi lặp lại, nói không đầu đuôi, gặp người thì ngưng — do tâm khí huyết bất túc, tâm thần không được nuôi dưỡng, hoặc đàm trọc tụ lại làm tâm khiếu bị che lấp gây nên.
Thác ngữ: Nói lẫn, nói sai, hoặc tự biết mình nói sai mà không kiểm soát được — còn gọi là “nói lộn”, “nói đảo”. Thường do can uất khí trệ, đàm trọc ngăn trở, tâm tỳ lưỡng hư.
(3) Sảng ngôn và Trịnh thanh
Đều là hiện tượng rối loạn ngôn ngữ khi người bệnh ở trạng thái hôn mê hoặc nửa mê, là dấu hiệu nguy kịch, thất thần.
Sảng ngôn thường do tà khí quá thịnh, quấy nhiễu tâm thần.
Trịnh thanh thường do chính khí suy kiệt, tâm thần không được nuôi dưỡng.
Sảng ngôn: Thần trí mơ hồ, nói nhảm, tiếng nói to, có lực, thường kèm theo sốt cao, bồn chồn — phần nhiều thuộc thực chứng, nhiệt chứng, thường gặp trong nhiệt bệnh cấp tính do ngoại cảm.
Trịnh thanh: Thần trí hôn mê, nói lặp lại, tiếng nhỏ, yếu, lúc nói lúc ngừng — do tâm khí suy kiệt, tâm thần không có nơi nương tựa, thuộc hư chứng.
Rối loạn hô hấp và ho là triệu chứng phổ biến của các bệnh phổi.
Phế chủ hô hấp, khi chức năng bình thường, hơi thở điều hòa, không có ho hay khạc đờm.
Khi bị ngoại tà xâm nhập hoặc tạng phủ khác ảnh hưởng đến phế, phế khí bị trở ngại, sinh ra khó thở, ho.
(1) Rối loạn hô hấp — Thường biểu hiện dưới dạng khó thở, hen, thượng khí, đoản khí, thiểu khí, thở gấp, thở yếu.
① Suyễn (Khó thở) (thở gấp):
Hơi thở gấp, khó thở, phải há miệng, nhướn vai, phập phồng cánh mũi, ngồi thở, không nằm được. Gặp trong nhiều bệnh lý cấp tính hoặc mạn tính ở phổi.
Biện chứng lâm sàng bệnh suyễn:
Khởi phát nhanh, thở khó, tiếng thở to, thở ra mới dễ chịu, nặng có thể ngửa đầu, lồi mắt, mạch sốc mạnh — thường do ngoại tà phạm phế hoặc đàm trọc bế tắc phế.
Khó thở hư chứng: Khởi phát chậm, thở ngắn, như không đủ hơi, cần hít một hơi dài mới dễ chịu, vận động thì thở gấp hơn, tiếng thở yếu, người mệt, mạch yếu — thường do khí âm phế hư hoặc thận không nạp khí.
② Hen (khò khè):
Đặc trưng là thở gấp, trong họng có tiếng đàm kêu như còi.
Thường tái phát, khó khỏi hẳn.
Hay phát khi chuyển mùa, thay đổi thời tiết.
Cần phân biệt hen hàn và hen nhiệt.
Hen hàn (hen lạnh): Phát trong mùa đông xuân, gặp lạnh thì phát. Do dương hư, đàm ẩm ứ trệ hoặc hàn ẩm phạm phế.
Hen nhiệt (hen nóng): Phát trong mùa hè thu, thời tiết nóng khô. Do âm hư hỏa vượng hoặc đàm nhiệt phạm phế.
③ Thượng khí: Đặc trưng là hơi thở gấp, thở ra nhiều hơn hít vào, có thể kèm khó thở, mặt sưng phù — do phế khí bị trở ngại, khí nghịch lên họng.
Có cả thực chứng (do đàm ẩm, ngoại tà phạm phế) và hư chứng (do âm hư hỏa vượng).
④ Đoản khí (hơi ngắn):Hơi thở ngắn, không liền mạch — giống hư suyễn nhưng không nhướn vai, giống rên rỉ nhưng không do đau.
Thường do phế khí hư.
Nếu trong ngực có thủy ẩm ứ lại, cũng có thể gây đoản khí — do thủy ẩm cản trở khí cơ ở ngực, làm phế khí không thông.
⑤ Thiểu khí (hơi yếu):
Thở yếu, tiếng nói nhỏ, không có sức.
Kèm theo mệt mỏi, lười nói, sắc mặt nhợt, khi nói chuyện cảm thấy hơi không đủ, phải hít sâu mới nói tiếp — là dấu hiệu toàn thân dương khí suy.
⑥ Hơi thở gấp, hơi thở yếu:Hơi thở gấp, thô ráp: thuộc thực chứng, thường do ngoại cảm lục tà hoặc đàm trọc tụ trong, khí cơ không thông.
Hơi thở yếu, nhỏ: thuộc hư chứng, thường do phế thận khí hư.
(2) Ho
Ho là triệu chứng phổ biến nhất trong các bệnh về phổi, biểu hiện cho tình trạng phế mất chức năng tuyên giáng, khí phế nghịch lên.
“Khái” là ho có tiếng mà không có đờm“Thấu” là ho có đờm nhưng không có tiếng.“Khái thấu” là vừa có tiếng vừa có đờm.
Hiện nay, trên lâm sàng không phân biệt, đều gọi chung là ho.
Khi chẩn đoán ho, cần phân biệt ho do ngoại cảm hay ho do nội thương: Ngoại cảm ho: khởi bệnh nhanh, bệnh trình ngắn, thường kèm biểu chứng, đa số là thực chứng.
Nội thương ho: khởi bệnh chậm, bệnh kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, phần lớn thuộc hư chứng. Chẩn đoán ho còn cần chú ý đặc điểm tiếng ho:
Ho tiếng ngột ngạt, chặt nghẹt: thường thuộc hàn thấp Ho tiếng thanh, vang, trong: thường thuộc táo nhiệt.Ho nặng ban ngày, nhẹ về đêm: thường do nhiệt, táo.Ho nặng ban đêm, nhẹ ban ngày: thường do phế thận âm hư.Ho không có sức, tiếng ho yếu nhỏ: thường do phế khí hư.Chẩn đoán ho cần kết hợp với các biểu hiện của đờm (màu sắc, số lượng) và các triệu chứng kèm theo để phân biệt hàn, nhiệt, hư, thực.
Lâm sàng còn gặp các loại ho đặc biệt như Đốn khái và Khái tiếng giống chó sủa:
Đốn khái (ho gà, bách nhật khái): Đặc điểm: ho từng cơn, liên tục, mang tính co thắt, khi ho dữ dội, hơi nghẹn, chảy nước mũi, nước mắt, thậm chí nôn ói, sau cơn ho có tiếng kêu kỳ lạ, giống như tiếng chim cò kêu. Thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, phát nhiều vào mùa đông – xuân, bệnh kéo dài, khó khỏi nhanh. Nguyên nhân: phong tà kết với đàm phục, uất lại hóa nhiệt, làm tắc nghẽn khí đạo. Phân biệt: Mới phát thường thuộc thực chứng. Kéo dài dễ chuyển sang hư chứng. Đàm nhiều là thực, đàm ít là hư. Ho mạnh, có lực là thực, ho nhẹ, tiếng yếu là hư. Thực chứng đốn khái thường do phong hàn phạm phế hoặc đàm nhiệt bế phế. Hư chứng đốn khái thường gặp ở người phế tỳ khí hư. Khái tiếng giống chó sủa (bạch hầu): Đặc điểm: ho khan, từng cơn, tiếng ho như chó sủa, do dịch độc truyền nhiễm, nhiệt lý cực thịnh gây ra.
Đều là biểu hiện của vị khí nghịch lên, tùy theo vị trí ảnh hưởng của tà khí mà biểu hiện thành nôn, ợ hơi, hay nấc.
(1) Nôn Bao gồm nôn có tiếng có vật, nôn có vật không tiếng và nôn khan:
Nôn: có tiếng, có vật.
Thổ: không tiếng, có vật (như thổ chua, thổ đắng).
Nôn khan: muốn nôn mà không ra vật, chỉ có tiếng hoặc chỉ ít nước bọt.
Lâm sàng gọi chung là nôn.
Tùy nguyên nhân dẫn đến vị khí thượng nghịch, tiếng nôn và dạng nôn khác nhau, qua đó có thể phân biệt hàn, nhiệt, hư, thực:
Nôn chậm, tiếng nhỏ yếu: hư hàn.
Nôn nhanh, tiếng to vang: thực nhiệt.
Hư chứng nôn: do tỳ vị dương hư, vị âm bất túc.
Thực chứng nôn: do tà khí phạm vị, trọc khí thượng nghịch, thường gặp trong thực tích, ngoại tà phạm vị, đàm ẩm nội đình, can khí phạm vị.
(2) Ợ hơi
Còn gọi là đánh ợ, là tiếng khí từ vị nghịch lên họng.
Sau khi ăn no, thỉnh thoảng có ợ hơi là bình thường.
Cần phân biệt hư, thực:
Hư chứng ợ hơi: tiếng yếu, nhỏ, do tỳ vị hư nhược.
Thực chứng ợ hơi: tiếng to, vang, ợ xong bụng nhẹ — thường do thực tích ở vị, can khí phạm vị, hoặc hàn tà xâm phạm vị.
(3) Nấc
Còn gọi là đánh nấc, là tiếng do vị khí thượng nghịch, khí xông lên họng, gây ra tiếng vang ngắt quãng, không kiểm soát được — do vị khí xông lên, cơ hoành co thắt.
Phải phân biệt hư – thực – hàn – nhiệt:
Nấc tiếng cao, vang, có lực: thực chứng, nhiệt chứng.
Nấc tiếng nhỏ, yếu, khí yếu: hư chứng, hàn chứng.
Thực chứng nấc: khởi phát nhanh, thường do hàn tà trực trúng tỳ vị hoặc can hỏa phạm vị.
Hư chứng nấc: do tỳ thận dương suy hoặc vị âm bất túc.
Người khỏe mạnh đôi khi cũng nấc khi ăn xong, gặp lạnh, ăn nhanh, thường chỉ là nhất thời, tự khỏi.
Là hành động thở dài do cảm thấy ngực đầy bức bối, thở ra dài mới cảm thấy dễ chịu — do khí cơ không thông.Thường gặp trong can uất và khí hư.
Là phương pháp ngửi mùi trên thân người bệnh, chất thải, phòng bệnh… để nhận biết tình trạng bệnh, phán đoán hàn, nhiệt, hư, thực.
(1) Mùi cơ thể
Thường gặp trong bệnh lý tại miệng hoặc người có nhiệt ở vị tràng.
Nguyên nhân tại miệng: viêm lợi, sâu răng, vệ sinh kém.
Nguyên nhân ở vị tràng: do vị hỏa thượng viêm, thực tích, tỳ vị thấp nhiệt.
Khác nhau theo nguyên nhân gây đổ mồ hôi: Ngoại cảm phong tà, vệ khí hư, biểu hư: mồ hôi ra nhiều không mùi.
Khí phần thực nhiệt uất tích, hoặc âm hư hỏa vượng kéo dài: mồ hôi nhiều, có mùi chua, mùi khắm.
Phong thấp lưu lâu tại cơ biểu hóa nhiệt: mồ hôi vàng, mùi đặc biệt. Người bị thủy thũng (âm thủy), nếu ra mồ hôi kèm mùi khai như nước tiểu: dấu hiệu nguy kịch.
Là hiện tượng khi thở ra bằng mũi có mùi hôi thối khó chịu. Nguyên nhân chủ yếu gồm ba loại:
Một là do chảy nước mũi, nước mũi vàng, đục, dính, mùi tanh hôi, kéo dài lâu ngày, dễ tái phát — thuộc chứng tỵ uyên (viêm xoang mũi mãn tính).
Hai là do mũi bị loét, do giang mai, phong độc hoặc ung thư ở vùng mũi gây loét, sinh ra khí hôi thối.
Ba là do bệnh lý tạng phủ, như thở ra có mùi táo thối như mùi táo rữa, là dấu hiệu nặng của bệnh tiêu khát (tiểu đường). Nếu hơi thở có mùi khai như nước tiểu, thường gặp trong bệnh âm thủy (thủy thũng), là dấu hiệu nguy hiểm báo trước tình trạng nguy kịch.
(2) Mùi các chất bài tiết:
Mùi của các chất bài tiết, người bệnh đôi khi cũng tự cảm nhận được. Vì vậy, khi hỏi bệnh, cũng cần chú ý đến mùi bất thường của đờm, nước bọt, đại tiện, tiểu tiện, kinh nguyệt, khí hư… Thông thường, nhiệt tà, thấp nhiệt làm bệnh thì các chất bài tiết đục, hôi thối, mùi khó chịu.
Hàn tà hoặc hàn thấp gây bệnh thì các chất bài tiết trong, loãng, không có mùi đặc biệt.
Nôn ra có mùi hôi hám: phần nhiều do vị nhiệt thịnh.
Nôn ra có mùi chua thối, thức ăn chưa tiêu: do thực tích đình trệ trong dạ dày.
Nôn có mùi tanh, lẫn mủ máu: gặp trong vị ung (áp xe dạ dày).
Nôn ra nước đờm trong, loãng, không mùi hoặc tanh nhẹ: do tỳ vị hàn.
Ợ hơi chua thối: thường do vị nhiệt thịnh hoặc thực tích hóa nhiệt.
Ợ hơi không mùi: thường do can khí phạm vị hoặc hàn tà khách vị.
Nước tiểu khai hôi, vàng đục: thuộc thực nhiệt.
Nước tiểu trong, nhiều, có mùi khai nhẹ hoặc không có mùi: thuộc hư chứng, hàn chứng.
Phân thối khắm, lỏng vàng hoặc lẫn mủ máu: do đại tràng thấp nhiệt thịnh. Phân trẻ em có mùi chua, kèm thức ăn không tiêu: do thực tích đình trệ.
Phân lỏng, mùi tanh nhẹ: do tỳ vị hư hàn.
Đánh rắm có mùi trứng thối: thường do ăn uống bừa bãi, thực tích ở trung tiêu hoặc có phân tích ứ đọng trong ruột.
Đánh rắm nhiều, vang mà không hôi: thường do can uất khí trệ, khí cơ không thông. Kinh nguyệt hoặc sản hậu sản dịch hôi thối: do nhiệt tà nhập bào cung.
Khí hư hôi thối, màu vàng: do thấp nhiệt hạ chú.
Khí hư tanh, màu trắng: do hàn thấp hạ chú.
(3) Mùi trong phòng bệnh:
Khí mùi trong phòng bệnh chủ yếu do cơ thể người bệnh và các chất bài tiết phát ra. Bệnh ôn dịch, ngay từ lúc khởi phát đã có mùi hôi nồng, nhẹ thì tràn ngập trong màn, nặng thì đầy khắp phòng. Trong phòng có mùi tanh của máu: thường là do chứng mất máu. Trong phòng có mùi thối rữa: thường do chứng lở loét, thối rữa sinh trệ. Trong phòng có mùi tử thi: là dấu hiệu tạng phủ đã hoại tử. Trong phòng có mùi khai như nước tiểu: thường gặp ở bệnh phù thũng giai đoạn cuối.Trong phòng có mùi quả bèo: thường thấy ở bệnh tiêu khát (tiểu đường nặng).
Phần thứ ba — Hỏi bệnh (Vấn chẩn)
Hỏi bệnh là phương pháp mà thầy thuốc thông qua việc hỏi người bệnh hoặc người nhà để tìm hiểu về: Quá trình phát bệnh; Diễn tiến bệnh; Quá trình điều trị; Các triệu chứng hiện tại; Và các yếu tố khác có liên quan đến bệnh.
Nhằm giúp chẩn đoán bệnh chính xác.
Mục đích của hỏi bệnh: Là để thu thập những thông tin chẩn đoán mà ba phương pháp khác (vọng, văn, thiết) không thể cung cấp được.
Bao gồm: Thời gian, địa điểm phát bệnh; Nguyên nhân, yếu tố khởi phát; Quá trình điều trị; Các triệu chứng tự cảm nhận; Tình trạng sức khỏe trước kia…
Những thông tin này là cơ sở không thể thiếu trong biện chứng, giúp xác định chính xác nguyên nhân, vị trí, tính chất bệnh.
Ý nghĩa của hỏi bệnh:
Là bước đầu tiên trong chẩn đoán bệnh trên lâm sàng.
Có thể bổ sung những chỗ còn thiếu của ba phương pháp khác.
Đặc biệt quan trọng trong giai đoạn đầu của bệnh hoặc các bệnh do tình chí (tình cảm) gây nên, khi bệnh chỉ biểu hiện bằng các triệu chứng chủ quan như đau đầu, mất ngủ mà chưa có dấu hiệu khách quan.
Giúp chỉ ra trọng điểm bệnh lý, thuận lợi cho chẩn đoán sớm.
Hỏi bệnh đúng cách giúp định hướng tư duy chẩn đoán, góp phần đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác.
Đối với bệnh phức tạp, hỏi bệnh có thể cung cấp manh mối để tiếp tục khám xét.
Chủ quan của người bệnh thường phản ánh trung thực cảm giác bệnh lý.
Có những thông tin bệnh lý mà hiện nay chưa thể đo lường bằng máy móc, chỉ có thể thông qua hỏi bệnh mới biết được.
Trong biện chứng, thông tin từ hỏi bệnh chiếm tỉ lệ rất lớn, lại đầy đủ và phong phú nhất.
Nguyên tắc hỏi bệnh:
Phải chính xác, đầy đủ nhưng không lan man. Cần tuân thủ:
Xác định chủ chứng: Hỏi xoay quanh chủ chứng (triệu chứng chính).
Trước tiên phải xác định chủ chứng là gì, vì chủ chứng phản ánh mâu thuẫn chủ yếu của bệnh.
Khi đã nắm được chủ chứng, thì đi sâu phân tích, tổng hợp, suy luận để tìm ra các bệnh có thể có.
Sau đó tiếp tục hỏi xoay quanh các chẩn đoán có khả năng để cuối cùng đưa ra chẩn đoán lâm sàng hoặc chẩn đoán sơ bộ.
Hỏi kết hợp với biện chứng (hỏi và phân tích đồng thời):
Hỏi bệnh không phải là hỏi hết rồi mới tổng hợp, mà cần hỏi đến đâu, phân tích biện chứng đến đó. Khi hỏi, cần phân tích ngay câu trả lời của bệnh nhân hoặc người đi cùng, dùng phương pháp so sánh đối chiếu với các chứng bệnh tương tự, nếu thấy thiếu căn cứ ở mặt nào thì tiếp tục hỏi sâu vào điểm đó. Cách làm này giúp cho mục tiêu hỏi bệnh rõ ràng, vừa chi tiết nhưng không rườm rà, ngắn gọn mà không bỏ sót, đồng thời giúp thu thập tài liệu toàn diện và chính xác.Khi kết thúc hỏi bệnh, trong đầu thầy thuốc phải hình thành được chẩn đoán sơ bộ hoặc ấn tượng ban đầu.
Để đạt được hiệu quả như mong muốn khi hỏi bệnh, cần lưu ý những điểm sau:
Nội dung vấn chẩn (hỏi bệnh) chủ yếu bao gồm:
Thông tin chung. Hỏi chủ chứng và bệnh sử. Hỏi các triệu chứng hiện tại
Bao gồm: Họ tên, giới tính, tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, quê quán, đơn vị công tác, nơi ở hiện tại…
Mục đích của việc hỏi và ghi chép thông tin chung:
Tăng cường mối liên hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, phục vụ việc theo dõi bệnh nhân, chịu trách nhiệm với quá trình chẩn đoán và điều trị.
Là tài liệu tham khảo trong chẩn đoán: Giới tính khác nhau, bệnh tật cũng khác nhau: Nam có thể mắc bệnh di tinh, tảo tiết, dương nuy… Nữ có thể mắc bệnh liên quan đến kinh nguyệt, đới hạ, thai nghén, sinh nở; Độ tuổi khác nhau, bệnh tật cũng khác nhau:
Trẻ em dễ mắc sởi, thủy đậu, ho gà… Cùng một bệnh, tùy độ tuổi, chứng hư hay thực cũng khác nhau:
Thanh niên khí huyết vượng, bệnh thường là thực chứng Người già khí huyết suy, bệnh thường là hư chứng. Nghề nghiệp: giúp hiểu về nguyên nhân gây bệnh, ví dụ: Làm việc dưới nước dễ mắc thấp tà. Một số bệnh nghề nghiệp như nhiễm chì, nhiễm silic…
Tình trạng hôn nhân: Nữ đã lập gia đình cần biết có thai nghén, bệnh thai sản hay không. Nam đã kết hôn có thể bị suy giảm chức năng sinh lý hoặc tinh dục quá độ. Quê quán, địa chỉ: giúp biết về bệnh vùng miền.
Tất cả đều là tài liệu quan trọng trong chẩn đoán và điều trị.
(1) Chủ chứng
Chủ chứng là những triệu chứng chính mà bệnh nhân cảm nhận rõ nhất hoặc khó chịu nhất khi đến khám, kèm theo thời gian kéo dài của triệu chứng đó.
Chủ chứng thường là lý do chính khiến bệnh nhân đi khám, là mâu thuẫn chủ yếu trong bệnh tật.
Xác định chính xác chủ chứng giúp bác sĩ định hướng bệnh, xác định mức độ nặng nhẹ, diễn tiến.
Giúp điều tra, nhận biết, phân tích, xử lý bệnh — có giá trị chẩn đoán rất quan trọng.
Nếu có nhiều triệu chứng xuất hiện ở các thời điểm khác nhau, phải ghi theo thứ tự xuất hiện.
Một chủ chứng thường chỉ gồm một hoặc hai ba triệu chứng, không nên quá nhiều. Khi ghi chép, phải ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, tránh dài dòng, mơ hồ. Không dùng tên bệnh chính thức làm chủ chứng.Không ghi chép diễn biến bệnh trong phần chủ chứng.
(2) Hiện bệnh sử (bệnh sử hiện tại)
Bao gồm toàn bộ quá trình diễn biến bệnh từ lúc khởi phát đến khi đến khám, quá trình chẩn đoán và điều trị, cùng với tất cả các triệu chứng hiện tại.
Khởi phát bệnh: Hỏi về:
Môi trường phát bệnh, thời gian khởi phát; Có rõ nguyên nhân hay yếu tố khởi phát không; Có tiếp xúc với người mắc bệnh truyền nhiễm không; Diễn tiến bệnh cấp hay hoà hoãn; Các triệu chứng đầu tiên: vị trí, tính chất, thời gian kéo dài, mức độ…
Diễn biến bệnh:
Hỏi theo thứ tự thời gian các thay đổi chính trong bệnh tình,
Các triệu chứng có biến đổi gì không (tính chất, vị trí, mức độ),
Các biến đổi này có quy luật không,
Yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi là gì,
Xu hướng chung của bệnh ra sao.
Quá trình chẩn đoán và điều trị:
Từ khi mắc bệnh đến lúc đến khám đã chẩn đoán và điều trị ra sao.
Đã khám ở đâu?
Làm những xét nghiệm gì? Kết quả ra sao?
Được chẩn đoán bệnh gì? Đã điều trị như thế nào?
Dùng những loại thuốc gì? Liều lượng, cách dùng, thời gian, kết quả?
Có phản ứng phụ nào không?
Những nội dung này phải ghi chép ngắn gọn, rõ ràng, trọng tâm.
Triệu chứng hiện tại:
Hỏi toàn bộ các triệu chứng tự cảm nhận hiện tại — đây là nội dung chủ yếu trong hỏi bệnh, sẽ trình bày chi tiết riêng.
Hiện bệnh sử là phần chính trong toàn bộ bệnh sử.
Hiểu được bệnh sử hiện tại giúp thầy thuốc phân tích bệnh tình, tìm quy luật diễn biến, xác định cơ sở chẩn đoán chính xác.
Hỏi rõ thời gian khởi phát cũng có thể giúp định hướng chẩn đoán bệnh hiện tại.
Tính chất bệnh là biểu hay lý, thực hay hư:
Hỏi rõ nguyên nhân phát bệnh hoặc yếu tố khởi phát giúp suy đoán được căn nguyên gây bệnh cũng như tính chất của bệnh như hàn, nhiệt, thấp, táo… Nếu có tiếp xúc với nguồn bệnh truyền nhiễm, điều này cũng có thể cung cấp cơ sở cho chẩn đoán một số bệnh truyền nhiễm như bạch hầu, sởi, lỵ… Hỏi rõ quá trình diễn biến của bệnh giúp hiểu rõ tình trạng đấu tranh giữa chính khí và tà khí, từ đó có thể đưa ra nhận định sơ bộ về sự thịnh suy của chính khí và tiên lượng tốt xấu.
Việc hỏi kỹ quá trình khám và điều trị trước đó cũng giúp cho việc chẩn đoán hiện tại, cung cấp manh mối tiếp theo và là căn cứ quan trọng để quyết định phương pháp điều trị.
(3) Hỏi tiền sử, thói quen sinh hoạt và bệnh sử gia đình
Bao gồm tình trạng sức khỏe trước đây, đã từng mắc những bệnh chủ yếu nào (không bao gồm bệnh hiện tại được trình bày trong chủ chứng), quá trình điều trị, bệnh đã khỏi hay còn di chứng gì, có mắc bệnh truyền nhiễm không, có tiền sử dị ứng với thuốc hoặc các yếu tố khác không.
Đối với trẻ em, còn phải hỏi thêm về tình hình tiêm chủng trước đây.
Sức khỏe và bệnh tật trong quá khứ thường có liên quan nhất định đến bệnh hiện tại, có thể là tư liệu tham khảo trong chẩn đoán.
Bao gồm thói quen sống, quá trình sinh sống, sở thích ăn uống, chế độ lao động nghỉ ngơi, tình hình công việc…
Hỏi về nơi sinh, nơi ở, những vùng sinh sống lâu dài, đặc biệt chú ý nếu là vùng có bệnh địa phương hoặc vùng dịch.
Hỏi về tình trạng tinh thần, có từng chịu kích thích tinh thần lớn không.
Hỏi về thói quen sinh hoạt, sở thích ăn uống, có hút thuốc, uống rượu hay thói quen đặc biệt nào khác không.
Đối với phụ nữ, phải hỏi thêm về kinh nguyệt và sinh sản.
Hỏi về tính chất công việc, cường độ lao động, thời gian nghỉ ngơi có hợp lý không…
Những yếu tố xã hội này đều có ảnh hưởng nhất định đến bệnh tật. Phân tích kỹ lưỡng giúp làm căn cứ cho biện chứng luận trị.
Thói quen ăn uống có thể dẫn đến sự thiên thắng hoặc thiên suy của tạng khí.
Sự thay đổi tinh thần dễ là nguyên nhân dẫn đến bệnh do tình chí.
Lao lực quá độ dễ tổn thương thận, nhàn hạ quá độ dễ tổn thương tỳ, sinh hoạt thất thường dễ gây rối loạn tâm và dẫn đến các bệnh khác nhau.
Chỉ những bệnh tật xảy ra ở người thân trực hệ hoặc họ hàng gần có quan hệ huyết thống. Xem xét có mắc bệnh truyền nhiễm hay bệnh di truyền không.
Nhiều bệnh truyền nhiễm liên quan mật thiết đến sinh hoạt chung, ví dụ như bệnh lao.
Một số bệnh di truyền liên quan đến quan hệ huyết thống, như các bệnh hoa liễu (lậu, giang mai), hoặc hiện tượng hôn nhân cận huyết dẫn đến thể chất suy yếu, trí tuệ kém phát triển…
III. Hỏi về triệu chứng hiện tại
Hỏi triệu chứng hiện tại là hỏi toàn bộ các triệu chứng mà bệnh nhân cảm nhận được khi đến khám.
Triệu chứng là sự phản ánh bệnh lý, là cơ sở chính của biện chứng lâm sàng. Thông qua việc hỏi bệnh, nắm được các triệu chứng hiện tại giúp bác sĩ hiểu rõ mâu thuẫn chính trong bệnh trạng, từ đó biện chứng theo hướng chính xác, làm rõ bản chất bệnh và đưa ra chẩn đoán chính xác. Do đó, việc hỏi về các triệu chứng hiện tại là một phần quan trọng của buổi tư vấn y tế. Để có thể đặt câu hỏi một cách toàn diện và chính xác mà không bị bỏ sót.
Để hỏi đầy đủ, chính xác, tránh bỏ sót, thường dựa trên “Thập vấn ca” của Trương Cảnh Nhạc, bao gồm:“Một hỏi hàn nhiệt, hai hỏi hãn, ba hỏi đầu thân, bốn hỏi đại tiểu tiện, năm hỏi ẩm thực, sáu hỏi ngực, bảy hỏi tai điếc, tám hỏi khát, chín hỏi bệnh cũ, mười hỏi nguyên nhân, thêm hỏi dùng thuốc để xét biến hóa; phụ nữ phải hỏi kinh nguyệt, trễ, sớm, bế kinh, băng huyết đều có thể thấy; Lại thêm vài lời về nhi khoa, đậu mùa, sởi chẩn đoán đầy đủ.”
(1) Hỏi về hàn nhiệt
Là hỏi người bệnh có cảm giác lạnh hay nóng.
Hàn: là cảm giác sợ lạnh.Nhiệt: là cảm giác nóng, có thể kèm hoặc không kèm sốt. Nhiệt là khi thân nhiệt cao hơn bình thường, hoặc thân nhiệt bình thường nhưng cảm thấy nóng toàn thân hoặc cục bộ. Cảm giác hàn nhiệt chủ yếu liên quan đến tính chất tà khí và sự thịnh suy của âm dương trong cơ thể. Hỏi hàn nhiệt giúp nhận biết bản chất hàn nhiệt của bệnh và tình trạng âm dương.
Khi hỏi về hàn nhiệt, cần lưu ý:
Có hay không cảm giác hàn nhiệt?
Chúng có xuất hiện riêng lẻ hay đồng thời?
Mức độ nặng nhẹ, thời điểm xuất hiện, kéo dài bao lâu, đặc điểm lâm sàng và các triệu chứng kèm theo.
Các tình huống thường gặp trong lâm sàng:
Là trường hợp chỉ có cảm giác sợ lạnh mà không thấy sốt.
Thường gặp:
Ở giai đoạn đầu của bệnh ngoại cảm khi chưa phát sốt.
Hoặc khi hàn tà trực trúng tạng phủ kinh lạc.
Hoặc do chứng hư nội thương.
Dựa vào đặc điểm cảm giác sợ lạnh, lâm sàng chia thành: Ố phong (ghét gió), ố hàn (ghét lạnh), hàn chiến (rét run), uý hàn (sợ lạnh).
Ố phong: Gặp gió thì cảm thấy sợ lạnh, rùng mình, tránh gió thì bớt.
Thường do ngoại cảm phong tà, phong tà ở biểu, vệ khí bị tổn thương, không còn khả năng ôn ấm da thịt, điều tiết khai hợp.
Cũng gặp ở người có thể chất phế vệ khí hư, da lông không vững chắc.
Ố hàn: Là cảm giác người bệnh luôn thấy lạnh, dù đã mặc thêm áo, đắp chăn, sưởi ấm vẫn không thể làm hết lạnh. Thường gặp ở giai đoạn đầu của bệnh do ngoại cảm, vệ khí không phát tán ra ngoài, da thịt không được ôn ấm nên sinh ra ố hàn. Lúc này, dù tăng cường ủ ấm bằng áo chăn hay lửa, cũng không giúp dương khí cơ thể phát ra, nên cảm giác lạnh không thuyên giảm rõ rệt. Ố hàn thường thấy ở giai đoạn khởi đầu của nhiều bệnh do ngoại cảm, bệnh tính thường thuộc thực.
Hàn chiến: Là tình trạng ố hàn kèm theo run rẩy, gọi là hàn chiến, tức là mức độ nặng của ố hàn. Cơ chế và tính chất bệnh cũng giống như ố hàn.
Chú ý: Trong các bệnh do ngoại cảm, các triệu chứng như ác phong, ố hàn, hàn chiến thường chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn, rồi nhanh chóng kèm theo sốt, trở thành ố hàn phát nhiệt hoặc hàn nhiệt vãng lai. Dù hiếm, nhưng cũng có những trường hợp kéo dài hơn bình thường, song sau đó cũng thường xuất hiện sốt. Việc này có ích cho việc nắm bắt tiến trình bệnh.
Úy hàn: Là cảm giác sợ lạnh, nhưng nếu mặc thêm áo, đắp chăn, sưởi ấm thì cảm giác lạnh có thể giảm bớt, gọi là úy hàn, thường gặp trong chứng hàn ở lý. Thường do nội thương lâu ngày, dương khí hư suy; hoặc do hàn tà quá thịnh, trực trúng vào lý gây tổn thương dương khí, không đủ sức ôn ấm da thịt nên sinh cảm giác sợ lạnh.
Lúc này, nếu ủ ấm, giữ gìn dương khí, hoặc dùng nhiệt để giúp dương, thì dương khí được phục hồi tạm thời, da thịt được ôn ấm, úy hàn sẽ giảm nhẹ.
Người bệnh chỉ cảm thấy nóng hoặc sốt mà không thấy sợ lạnh, gọi là đãn nhiệt bất hàn. Thường gặp trong chứng nhiệt ở lý. Dựa theo mức độ nặng nhẹ của nhiệt, thời gian kéo dài và đặc điểm thay đổi, có thể chia thành các dạng sau:
Tráng nhiệt: Là tình trạng người bệnh sốt cao (nhiệt độ trên 39°C), kéo dài không giảm, thuộc chứng lý thực nhiệt. Thường do phong hàn tà xâm nhập vào trong mà hóa nhiệt, hoặc do ôn nhiệt tà khí đi sâu vào lý, tà thịnh chính thực, đấu tranh quyết liệt, lý nhiệt bốc lên ra ngoài.
Triều nhiệt: Là tình trạng sốt vào những giờ nhất định, có quy luật, giống như thủy triều lên xuống. Gặp trong cả bệnh do ngoại cảm lẫn nội thương. Tùy theo mức độ sốt và thời gian kéo dài mà chia thành ba loại:
Triều nhiệt dương minh:
Thường gặp trong chứng dương minh phủ thực. Đặc điểm là sốt cao, sốt không giảm hoàn toàn, nhiệt thường tăng mạnh vào buổi chiều (gọi là nhật bô triều nhiệt). Nguyên nhân do tà nhiệt tích tụ ở vị trường, táo kết bên trong, bệnh tại dương minh vị đại tràng.
Triều nhiệt thấp ôn:
Thường gặp trong ôn bệnh trong thấp ôn. Đặc điểm là người bệnh cảm thấy rất nóng, nhưng khi sờ vào da thì thấy không nóng lắm, phải sờ lâu mới thấy nóng rõ, gọi là thân nhiệt bất dương. Nhiệt thường tăng vào buổi trưa hoặc chiều, khi giảm thì không hết hẳn. Đây là dạng đặc trưng của bệnh thấp nhiệt, và cũng thuộc phạm trù triều nhiệt.
Triều nhiệt do âm hư:
Thường gặp trong các chứng âm hư. Đặc điểm là sốt tăng vào buổi chiều hoặc ban đêm, mức độ sốt không cao, đôi khi chỉ là cảm giác sốt nhẹ trong người, đo nhiệt độ không cao. Thường kèm theo phiền nhiệt trong ngực, nóng lòng bàn tay bàn chân, nên còn gọi là ngũ tâm phiền nhiệt. Trường hợp nặng có cảm giác nóng từ trong xương bốc ra ngoài, gọi là cốt chưng triều nhiệt. Nguyên nhân do âm dịch hao tổn, dương hư mất cân bằng sinh ra nội nhiệt.
Vi nhiệt:
Là sốt nhẹ kéo dài, nhiệt độ không quá 38°C, còn gọi là trường kỳ đê nhiệt. Thường gặp trong giai đoạn cuối của bệnh ôn nhiệt, nội thương khí hư, âm hư hoặc bệnh hạ nhiệt mùa hè ở trẻ nhỏ. Vi nhiệt sau ôn bệnh:Do tà khí chưa hết, dư nhiệt còn sót lại, nên vi nhiệt kéo dài không dứt.
Vi nhiệt do khí hư:
Còn gọi là khí hư phát nhiệt, đặc điểm là sốt nhẹ kéo dài, thường nặng lên khi mệt nhọc. Do tỳ khí hư, trung khí không đủ, không có sức nâng đỡ và điều tiết dương khí, dương khí bị uất lại ở biểu mà phát nhiệt. Khi mệt nhọc, khí càng hư, dương càng bị uất nên nhiệt càng tăng.
Vi nhiệt mùa hè ở trẻ em:
Trẻ nhỏ sốt dai dẳng trong mùa hè, đến khi trời mát thì tự khỏi, cũng thuộc vi nhiệt. Do trẻ có khí âm chưa đầy đủ, khả năng điều chỉnh thân nhiệt chưa hoàn thiện, không thích ứng được với khí hậu nóng nực mùa hè.
Khi vừa có cảm giác sợ lạnh vừa có sốt, gọi là ố hàn phát nhiệt. Đây là triệu chứng chủ yếu trong các chứng bệnh biểu do ngoại cảm.
Nguyên nhân chủ yếu là do tà khí xâm nhập giai đoạn đầu, chính khí vệ dương chống lại tà khí mà sinh ra.
Khi tà khí ngăn trở ở biểu, vệ dương bị ức chế, da thịt không được ôn ấm, sinh ố hàn. Vệ dương không phát tán được, uất lại mà phát sốt. Nếu bị hàn tà thì tà khí kìm hãm vệ dương mạnh, ố hàn càng rõ rệt. Nếu bị nhiệt tà thì nhiệt trợ dương sinh dương thịnh, nên phát nhiệt rõ rệt.
Khi hỏi về mức độ nặng nhẹ của ố hàn và phát nhiệt, có thể giúp nhận định tính chất tà khí:
Ố hàn nặng, phát nhiệt nhẹ, thường là biểu hàn do phong hàn. Phát nhiệt nặng, ố hàn nhẹ , thường là biểu nhiệt do phong nhiệt. Ố hàn phát nhiệt kèm ố phong, tự hãn, mạch phù hoãn thường thuộc ngoại cảm biểu hư. Ố hàn phát nhiệt kèm đầu đau, thân đau, không ra mồ hôi, mạch phù khẩn thuộc ngoại cảm biểu thực.Căn cứ vào mức độ nặng nhẹ của ố hàn và phát nhiệt cũng có thể đoán được mức độ tà khí và chính khí:Tà nhẹ chính thịnh => Ố hàn phát nhiệt đều nhẹ.
Tà mạnh chính thực => Ố hàn phát nhiệt đều nặng.
Tà mạnh chính hư => Ố hàn nặng, phát nhiệt nhẹ.
Người bệnh cảm giác lúc thì sợ lạnh, lúc thì phát sốt, hai trạng thái này thay phiên nhau xuất hiện. Khi lạnh thì cảm thấy lạnh mà không nóng, khi nóng thì cảm thấy nóng mà không lạnh. Đường ranh giới rõ rệt, có thể xảy ra mỗi ngày một lần hoặc nhiều lần trong ngày. Hiện tượng này thường gặp trong bệnh thiếu dương, ôn bệnh hoặc bệnh sốt rét.
Ngoại tà xâm nhập cơ thể, trong quá trình từ biểu nhập lý, nếu tà khí dừng lại ở khu vực bán biểu bán lý, tà không thể hoàn toàn vào trong, chính khí cũng không thể đẩy tà ra ngoài, lúc này tà chưa quá mạnh, chính cũng chưa suy, chính tà giằng co ở thế cân bằng, khi chính khí thắng tà thì nóng, tà thắng chính suy thì lạnh — chính thắng thì nóng, tà thắng thì lạnh — qua lại như vậy, nên xuất hiện hàn nhiệt vãng lai.
(2) Hỏi về mồ hôi
Mồ hôi là do tân dịch hóa sinh mà thành, trong cơ thể là tân dịch, dưới tác động của dương khí bốc hơi qua các lỗ chân lông ra ngoài bì phu trở thành mồ hôi.
Trong trạng thái bình thường, khi lao động mệt nhọc, vận động mạnh, môi trường hoặc ăn uống quá nóng, hoặc khi căng thẳng tinh thần đều có thể ra mồ hôi — đó là hiện tượng sinh lý. Khi mắc bệnh, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và điều tiết mồ hôi sẽ gây hiện tượng ra mồ hôi bất thường.
Mồ hôi khi mắc bệnh cũng có hai mặt: Một mặt là phát hãn giúp tà khí được bài xuất, cơ thể phục hồi, là phản ứng chính khí chống tà; Mặt khác, mồ hôi thuộc tân dịch, ra mồ hôi quá mức sẽ làm hao tổn tân dịch, dẫn đến mất cân bằng âm dương, gây hậu quả nghiêm trọng.
Khi hỏi về mồ hôi cần hỏi rõ: có ra mồ hôi không, ra vào lúc nào, ra ở vị trí nào, lượng mồ hôi nhiều hay ít, đặc điểm mồ hôi ra sao, có kèm triệu chứng gì, sau khi ra mồ hôi bệnh tình thay đổi thế nào. Những tình huống thường gặp như sau:
Ngoại cảm hay nội thương, bệnh mới mắc hay bệnh lâu ngày đều có thể thấy tình trạng toàn thân không ra mồ hôi. Trong bệnh ngoại cảm, tà khí uất ở bì phu, vệ khí không phát tán, mồ hôi không tiết ra được — do điều tiết vệ khí bị rối loạn. Khi tà nhập lý, hao tổn doanh âm, cũng không ra mồ hôi — do tân dịch khô kiệt, quá trình sinh mồ hôi bị cản trở. Trong bệnh nội thương lâu ngày, không ra mồ hôi có cơ chế phức tạp: hoặc do phế khí không phát tuyên, điều tiết mồ hôi rối loạn; hoặc do huyết ít tân dịch thiếu, không có nguồn để sinh mồ hôi, nên không ra.
Hiện tượng ra mồ hôi trong bệnh lý rất đa dạng. Khi vệ khí không kín, nội nhiệt ủng thịnh, âm dương mất điều hòa, đều có thể gây ra mồ hôi bất thường.
Hỏi kỹ về thời gian ra mồ hôi, lượng mồ hôi, tiến trình bệnh, sẽ giúp xác định bệnh ở biểu hay ở lý, âm dương thịnh suy và tiên lượng tốt xấu.
Nếu người bệnh có mồ hôi, bệnh ngắn ngày, kèm sốt, sợ gió… Thuộc chứng biểu hư do phong tà, là ngoại cảm phong tà gây ra.
Nếu mồ hôi ra nhiều không ngừng, kèm sốt cao, mặt đỏ, khát nước thích uống lạnh Thuộc chứng thực nhiệt, do lý nhiệt thịnh, nhiệt bốc hơi tân dịch mà ra mồ hôi. Khi này tà khí còn thực, chính khí chưa suy, chính tà giao tranh, mồ hôi ra mãi làm chính khí hao tổn dần.
Nếu mồ hôi lạnh chảy dầm dề, hoặc mồ hôi như dầu, kèm thở gấp (suyễn xúc), mặt trắng, tứ chi lạnh, mạch yếu muốn tuyệt — gọi là thoát hãn hoặc tuyệt hãn. Đó là lúc bệnh nặng lâu ngày, chính khí đại thương, dương khí suy, tân dịch mất nhiều, là chính khí đã suy, chứng hậu dương vong âm kiệt biểu hiện nguy kịch, tiên lượng xấu.
Nếu ra mồ hôi ban ngày, nhiều hơn khi vận động, gọi là tự hãn — thường kèm mệt mỏi, yếu sức, thở ngắn, sợ lạnh tay chân lạnh — do khí hư hoặc dương hư, không giữ được bì phu, lỗ chân lông hở, tân dịch dễ thất thoát. Khi vận động, dương khí tán ra ngoài càng làm mồ hôi tăng. Vì thế , chứng tự hãn thường gặp ở chứng khí hư hoặc dương hư.
Nếu mồ hôi ra khi ngủ, tỉnh dậy thì hết, gọi là đạo hãn — thường kèm triều nhiệt, gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt (lòng bàn tay chân và ngực), lưỡi đỏ, mạch tế sác — là do âm hư. Âm hư sinh nội nhiệt, lúc ngủ vệ dương nhập lý, lỗ chân lông không đóng, nhiệt hư bốc hơi tân dịch mà sinh mồ hôi. Tỉnh dậy, vệ dương ra biểu, lỗ chân lông đóng lại, nên mồ hôi ngừng.
Nếu người bệnh trước tiên rùng mình, lạnh run, co quắp, vật vã, sau đó mới ra mồ hôi, gọi là chiến hãn — thường gặp trong giai đoạn bệnh ngoại cảm nhiệt tà, lúc chính tà đấu tranh quyết liệt, là điểm chuyển của bệnh. Chiến hãn cho thấy chính tà giao tranh, chính hư tà thịnh, nhưng nếu dương khí hồi phục thì chính thắng tà lui, mồ hôi ra xong thân nhiệt hạ, mạch ổn định thân thể mát mẻ, hết phiền khát, là biểu hiện của chính khí thắng tà, bệnh đang dần dần thuyên giảm và là dấu hiệu tốt. Nếu sau chiến hãn nhiệt không giảm, phiền táo, mạch cấp tật, là dấu hiệu nguy hiểm vì chính khí suy không thắng tà, nhiệt tà xâm nhập sâu thêm.
Đầu hãn: Mồ hôi chỉ ra ở đầu hoặc đầu và cổ, do tà nhiệt ở thượng tiêu hoặc thấp nhiệt bốc lên ép tân dịch ra ngoài; Cũng có thể là dấu hiệu nguy hiểm khi dương khí suy, phù dương bốc lên.
Bán thân hãn: Mồ hôi ra một bên cơ thể hoặc chỉ một bên không ra mồ hôi, trên hoặc dưới, trái hoặc phải. Thường gặp trong tiền triệu đột quỵ, chứng liệt, liệt nửa người… Nguyên nhân thường do tắc nghẽn kinh lạc, khí huyết vận hành không điều hòa gây ra.
Thủ túc hãn: Mồ hôi nhiều ở lòng bàn tay, bàn chân. Thường do tà nhiệt tích lại hoặc âm hư dương vượng, bức tân dịch ra tứ chi.
(3) Hỏi về toàn thân
Hỏi toàn thân là hỏi người bệnh có đau nhức hay khó chịu gì không. Khi thăm khám lâm sàng, nên hỏi theo thứ tự từ đầu đến chân để không bỏ sót.
Đau là một triệu chứng tự cảm rất thường gặp trong lâm sàng, xuất hiện ở mọi chuyên khoa. Khi hỏi bệnh, cần làm rõ nguyên nhân gây đau, tính chất đau, vị trí đau, thời điểm đau, điều kiện làm giảm hoặc tăng đau.
(1) Nguyên nhân đau
Nguyên nhân gây đau rất đa dạng, gồm cả ngoại cảm và nội thương, cơ chế bệnh có hư có thực. Bất thông tắc thống (khí huyết không thông gây đau) thuộc thực chứng. Bất vinh tắc thống (khí huyết không nuôi dưỡng gây đau) thuộc hư chứng.
(2) Tính chất đau
Do căn nguyên và cơ chế bệnh khác nhau nên tính chất đau cũng khác nhau. Lâm sàng thường gặp các loại đau sau:
① Trướng thống (Đau căng tức): Đau kèm cảm giác căng tức. Có thể gặp ở nhiều vị trí trên cơ thể, thường gặp nhất là ngực, sườn, vùng vị quản, bụng — thường do khí cơ uất trệ.
② Thích thống (Đau như kim châm): Đau như bị châm kim, đặc điểm là phạm vi đau hẹp, vị trí cố định. Thường do ứ huyết gây ra. Có thể gặp khắp cơ thể nhưng hay thấy ở ngực, sườn, vùng vị quản, bụng dưới, tiểu phúc.
③ Giảo thống (Đau quặn thắt): Đau dữ dội như bị xoắn vặn, cảm giác như cắt, xoắn, đau không chịu nổi. Thường do tà thực có hình tướng đột ngột ngăn tắc kinh lạc, khí cơ bế tắc, hoặc do hàn tà xâm nhập làm khí trệ, huyết lưu không thông. Gặp trong chứng tâm thống do huyết ứ, đau bụng do giun hoặc hàn tà phạm vị tràng.
④ Quán thống: Cơn đau lan tỏa khắp cơ thể được gọi là quán thống. Đặc điểm của nó là cơn đau không cố định, hoặc không thể cảm nhận được vị trí đau chính xác. Nguyên nhân chủ yếu là do phong tà ở trong kinh lạc và khớp xương, gây tắc nghẽn khí, gây đau. Khí vô hình, thích lưu thông. Đau do khí ứ trệ, cũng thường gặp. Có thể gặp trong bệnh thấp khớp hoặc hội chứng khí ứ trệ.
⑤ Xế thống (Đau giật kéo): Đau có cảm giác giật hoặc đau kèm kéo sang chỗ khác. Đặc điểm là đau kiểu dải, hoặc lan tỏa, hoặc có điểm xuất phát rõ. Thường do cân mạch không được nuôi dưỡng hoặc kinh lạc bế tắc. Gặp trong chứng hung tý, can âm hư, can kinh thực nhiệt.
⑥ Chước thống (Đau nóng rát): Đau kèm cảm giác nóng như bị đốt. Đặc điểm là đau cảm giác nóng, nếu bệnh nông có thể sờ thấy nóng, thường thích lạnh. Do hỏa nhiệt tà nhập kinh lạc hoặc âm hư dương cang, hư nhiệt đốt kinh lạc. Thường gặp trong can hỏa phạm lạc gây đau sườn, vị âm hư gây đau vị quản hoặc các bệnh ngoại khoa có viêm sưng.
⑦ Lãnh thống (Đau lạnh): Đau kèm cảm giác lạnh. Đặc điểm là cảm thấy lạnh tại chỗ đau, nếu nông có thể sờ thấy lạnh, thường thích ấm. Thường do hàn tà ngưng tụ kinh lạc hoặc dương khí bất túc.
⑧ Trọng thống (Đau nặng nề): Đau kèm cảm giác nặng. Thường gặp ở đầu, tứ chi, thắt lưng. Thường do thấp tà ngăn trở khí cơ. Thường gặp trong chứng thấp.
⑨ Không thống (Đau trống rỗng): Đau kèm cảm giác trống trải. Đặc điểm là cảm giác đau rỗng, nhẹ, thích ấm thích xoa. Thường do tinh huyết không đầy đủ. Gặp trong các chứng dương hư, âm hư, huyết hư, âm dương lưỡng hư.
⑩ Ẩn thống (Đau âm ỉ):
Đau âm ỉ, kéo dài không dứt. Đặc điểm là đau nhẹ, chịu đựng được, âm ỉ dai dẳng. Thường do khí huyết bất túc, hoặc dương khí hư yếu khiến kinh lạc khí huyết lưu thông kém.
(3) Vị trí đau Hỏi kỹ vị trí đau giúp nhận định vị trí bệnh và các thay đổi liên quan đến kinh lạc, tạng phủ.
① Đầu thống (Đau đầu): Đau toàn bộ đầu hoặc từng phần trước, sau, hai bên đều gọi là đau đầu. Do cả ngoại cảm lẫn nội thương đều gây ra được.
Ngoại cảm: Do tà phạm não phủ, kinh lạc uất trệ — thuộc thực.
Nội thương: Do tạng phủ suy yếu, thanh dương không thăng, não phủ mất nuôi dưỡng, hoặc thận tinh bất túc, hải tủy không đầy — thuộc hư.
Nếu do rối loạn chức năng tạng phủ tạo ra bệnh lý như đàm ẩm, huyết ứ làm tắc kinh lạc gây đau thì có thể hư, thực hoặc cả hai. Đặc điểm: Đau dữ dội, không ngớt, kèm chứng ngoại cảm là: Ngoại cảm đầu thống.
Đau đầu nặng như bị trùm, nặng tứ chi thuộc: Phong thấp đầu thống.
Đau âm ỉ, dai dẳng, đau từng cơn là: Nội thương đầu thống.
Đau âm ỉ, nặng hơn khi mệt, thuộc: Khí hư đầu thống.
Đau âm ỉ, hoa mắt, mặt trắng thường thuộc Huyết hư đầu thống.
Đau đầu cảm giác trống rỗng, lưng gối mỏi là Thận hư đầu thống.
Đau đầu, chóng mặt, tự ra mồ hôi, tiêu lỏng => Tỳ hư đầu thống.
Đau như kim châm, cố định => Huyết ứ đầu thống.
Đau như bị quấn chặt, kèm buồn nôn, chóng mặt thuộc Đàm trọc đầu thống.
Đau căng đầu, miệng đắng, họng khô thường thuộc Can hỏa thượng viêm đầu thống.
Đau kèm buồn nôn, nôn, đầy tức tâm vị, ăn không vô là Thực tích đầu thống.
Vị trí đau trên đầu và liên quan kinh lạc:
Đau gáy, chẩm => Bệnh kinh Thái dương. Đau trán => Bệnh kinh Dương minh. Đau hai bên thái dương => Bệnh kinh Thiếu dương.
Đau đỉnh đầu => Bệnh kinh Quyết âm. Đau lan đến răng => Bệnh kinh Thiếu âm.
② Đau ngực: Là cảm giác đau tự cảm ở giữa ngực hoặc lệch về một bên. Ngực thuộc thượng tiêu, bên trong chứa tim và phổi, vì vậy bệnh ở ngực chủ yếu liên quan đến bệnh lý của tim và phổi. Nguyên nhân chung của bệnh ngực là do khí cơ vùng ngực không lưu thông. Đau ngực kèm sốt nhẹ, ra mồ hôi trộm, ho khạc đờm có lẫn máu: Là phế âm hư, do hư hỏa đốt thương phế lạc. Đau ngực tức bức, lan ra vai tay: Là chứng hung tý (đau ngực do khí huyết không lưu thông). Thường do tâm mạch khí huyết không lưu thông, có thể gặp trong dương hư, đàm trọc nội trở, khí hư huyết ứ. Đau ngực lan ra lưng, kịch liệt, mặt xanh xám, tay chân lạnh đến đầu ngón: Là chân tâm thống (cơn đau tim thực sự), do tâm mạch bị bế tắc đột ngột.Đau ngực kèm sốt cao, mặt đỏ, thở gấp, cánh mũi phập phồng: Là nhiệt tà uất phế, phế không tuyên giáng.
Đau ngực kèm ho, suyễn, đờm trắng nhiều: Là đàm thấp phạm phế, do tỳ hư tụ thấp sinh đàm, đàm trọc phạm thượng gây bệnh.
Đau ngực đầy tức, lan, dễ thở dài, dễ nổi giận: Là can khí uất trệ, do cảm xúc không điều hòa, khí cơ vùng ngực bị ngăn trở.
Đau ngực như châm, cố định, không di chuyển: Là do huyết ứ.
③ Đau sườn: Là đau một bên hoặc hai bên mạn sườn. Vì vùng sườn là nơi cư trú của can, đởm, cũng là nơi các kinh can, đởm đi qua nên đau sườn phần nhiều liên quan đến bệnh của can, đởm hoặc các kinh mạch đó.
Đau tức sườn, thở dài dễ nổi giận: Do can khí uất kết.
Đau rát sườn: Do can hỏa uất kết.
Đau tức sườn, vàng da toàn thân: Do thấp nhiệt uất kết ở can, đởm, thường gặp trong hoàng đản.
Đau như châm ở sườn, cố định: Do huyết ứ, kinh lạc không thông. Đau sườn, vùng sườn đầy tức, ho khạc đờm đau tăng: Do thủy ẩm lưu lại vùng ngực sườn, thường gặp trong chứng huyền ẩm.
④ Đau vùng thượng vị: Vùng thượng vị (胃脘) bao gồm toàn bộ dạ dày. Lỗ trên của dạ dày (tâm vị) gọi là thượng quản, lỗ dưới của dạ dày (môn vị) gọi là hạ quản, phần thân dạ dày nằm giữa hai lỗ trên dưới gọi là trung quản. Đau vùng thượng vị chính là chỉ chứng đau dạ dày.
Bất kể là do hàn, nhiệt, tích trệ thức ăn, khí trệ, hay do chức năng tạng phủ mất điều hòa ảnh hưởng đến dạ dày, đều có thể làm rối loạn sự thông suốt của khí cơ dạ dày và dẫn đến đau.Tính chất đau vùng thượng vị khác nhau sẽ phản ánh nguyên nhân bệnh khác nhau: Đau lạnh vùng thượng vị: Đau dữ dội, gặp ấm thì giảm đau, thuộc hàn tà phạm vị. Đau rát vùng thượng vị: Thường ăn nhiều, hay đói, miệng hôi, táo bón, thuộc vị hỏa thịnh. Đau trướng vùng thượng vị: Kèm ợ hơi không thông, thuộc khí trệ vị phủ, phần nhiều do can khí phạm vị. Đau nhói vùng thượng vị: Đau như kim châm, cố định không di chuyển, thuộc vị thống do huyết ứ. Đau trướng vùng thượng vị kèm ợ hơi chua, đầy bụng, chán ăn: Thuộc vị thống do thực tích ở vị. Đau âm ỉ vùng thượng vị kèm nôn nước trong: Thuộc vị dương hư.Đau rát, lâm râm vùng thượng vị, cảm giác rấm rứt, đói nhưng không muốn ăn: Thuộc vị âm hư.
⑤ Đau bụng: Vùng bụng có phạm vi khá rộng, có thể chia thành ba phần: đại phúc (大腹), tiểu phúc (小腹), thiếu phúc (少腹). Vùng quanh rốn gọi là rốn bụng (脐腹), thuộc tạng tỳ và ruột non. Phía trên rốn, gọi chung là đại phúc, bao gồm vùng thượng vị, hạ sườn trái, hạ sườn phải, liên quan đến tỳ vị và can đởm. Phía dưới rốn gọi là tiểu phúc, liên quan đến bàng quang, tử cung, đại tràng, tiểu tràng. Hai bên tiểu phúc gọi là thiếu phúc, là nơi đường kinh can đi qua.
Dựa vào vị trí đau khác nhau, có thể suy đoán tạng phủ bị bệnh. Dựa vào tính chất đau khác nhau, có thể xác định nguyên nhân và tính chất bệnh lý khác nhau: Đau âm ỉ vùng đại phúc, phân lỏng, thích ấm, thích chườm: Thuộc tỳ vị hư hàn. Đau trướng vùng tiểu phúc, tiểu tiện khó hoặc không thông: Thường là chứng lãnh bế, bệnh ở bàng quang. Đau nhói vùng tiểu phúc kèm tiểu tiện khó: Là chứng huyết tích trong bàng quang. Đau lạnh vùng thiếu phúc, lan kéo xuống bộ phận sinh dục: Thuộc hàn ngưng trên đường kinh can. Đau quanh rốn, kèm có khối u, ấn vào di động được: Là đau bụng do giun tích tụ. Nói chung: Đau bụng khởi phát cấp, đau dữ dội, trướng đau, không chịu ấn, đau tăng sau khi ăn: Đa phần là thực chứng. Đau bụng âm ỉ, khởi phát chậm, thích ấn, đau giảm sau khi ăn: Thường là hư chứng. Đau bụng giảm khi gặp ấm: Thường là hàn chứng. Đau bụng giảm khi gặp lạnh: Thường là nhiệt chứng.—
⑥Đau thắt lưng:
Dựa vào tính chất đau, có thể phán đoán nguyên nhân gây bệnh:
Đau lạnh vùng thắt lưng, chủ yếu đau cột sống, kèm hạn chế vận động, thường là do tý chứng phong hàn thấp.Đau lạnh vùng thắt lưng, tiểu tiện trong và dài, thuộc thận hư. Đau nhói vùng thắt lưng, vị trí đau cố định, không di chuyển, thuộc ứ huyết do ngã, va chạm, trật đả. Dựa vào vị trí đau, có thể suy đoán nơi tà khí lưu trú: Đau dọc cột sống, bệnh ở xương. Đau chủ yếu hai bên thắt lưng, bệnh ở thận. Đau vùng thắt lưng lan xuống chi dưới, bệnh ở kinh mạch chi dưới. Đau thắt lưng lan ra bụng, đau vòng quanh như đai thắt, bệnh ở đới mạch.
Đau trống rỗng vùng cột sống, không thể cúi ngửa, phần nhiều là tinh khí suy yếu, tổn thương Đốc mạch.
Đau tứ chi phần nhiều do phong hàn thấp tà xâm phạm kinh lạc, cơ nhục, khớp, làm khí huyết vận hành bị trở ngại. Cũng có trường hợp do tỳ hư, thận hư.
Dựa vào vị trí và tính chất đau, có thể đoán được nguyên nhân và vị trí bệnh:
Đau các khớp tứ chi, đau di chuyển, đau chạy lan, phần nhiều là phong tý.
Đau khớp kèm toàn thân nặng nề, là thấp tý. Đau khớp dữ dội, giảm khi gặp ấm, là hàn tý. Đau khớp như bỏng rát, thích lạnh, hoặc kèm đỏ, sưng, là nhiệt tý. Đau âm ỉ vùng gót chân hoặc ống chân, đầu gối, phần nhiều là thận khí hư.- ③ Đau toàn thân: Đau toàn thân là chỉ cảm giác đau nhức xuất hiện khắp các vị trí như tứ chi, thắt lưng, lưng, vai… Dựa vào tính chất đau và thời gian phát bệnh, có thể phán đoán là ngoại cảm hay nội thương: Nếu là bệnh mới, toàn thân đau nhức, cảm giác nặng nề, thường kèm theo triệu chứng biểu tà ngoại cảm, là tà khí ngoại cảm gây bế tắc vệ khí. Nếu bệnh đã lâu, nằm liệt giường, toàn thân đau nhức, thường là khí huyết hư tổn, kinh lạc không thông.
Là việc hỏi về những cảm giác bất thường khác trên toàn thân (ngoài đau), như ở đầu, ngực, vùng sườn, bụng… Các triệu chứng thường gặp gồm: chóng mặt, hoa mắt, khô mắt, giảm thị lực, ù tai, điếc tai, nghe kém, ngực đầy tức, hồi hộp, chướng bụng, tê bì… Khi vấn chẩn trên lâm sàng, cần làm rõ: có hay không, khởi phát thế nào, có hay không có nguyên nhân dụ phát rõ rệt, thời gian kéo dài, đặc điểm biểu hiện, triệu chứng chủ yếu kèm theo…
(1) Chóng mặt: Chỉ về cảm giác hoa mắt, mọi vật quay cuồng; nhẹ thì nhắm mắt sẽ đỡ, nặng thì cảm thấy đất trời quay đảo, không đứng vững, nhắm mắt cũng không giảm. Nguyên nhân do tà khí xâm nhập hoặc tạng phủ rối loạn, kinh mạch bị bế tắc, thanh dương không thăng, hoặc phong hỏa quấy nhiễu, gây não thất không được nuôi dưỡng. Thường gặp: Chóng mặt do phong hỏa quấy nhiễu. Chóng mặt do âm hư dương vượng. Chóng mặt do tâm tỳ hư. Chóng mặt do trung khí hư. Chóng mặt do thận tinh hư. Chóng mặt do đàm trọc ngăn trở.
(2) Đau mắt, hoa mắt, khô mắt, quáng gà:
① Đau mắt: Mắt đỏ, đau — can hỏa bốc lên. Đau đỏ, sưng, chói mắt, nhiều ghèn — phong nhiệt phạm can. Đau dữ dội, kèm đau đầu, buồn nôn, nôn, đồng tử giãn — cườm nước (glaucoma). Đau âm ỉ, lúc đau lúc không — âm hư hỏa vượng.
② Hoa mắt:Mắt nhìn lóa, như có điểm đen hoặc ánh sáng lấp lánh, do can thận âm hư, can dương thượng kháng, can huyết hư hoặc khí huyết hư, mắt không được nuôi dưỡng.
③ Khô mắt:Mắt khô, cộm, hoặc cảm giác như có dị vật. Nếu kèm đỏ mắt, chảy nước mắt — can hỏa bốc lên. Nếu kéo dài, nhắm mắt nghỉ đỡ hơn là do huyết hư, âm hư.
④ Quáng gà (nhược thị ban đêm):
Chiều tối nhìn mờ, sáng ra lại bình thường, gọi là quáng gà, do can huyết hư hoặc thận âm hao tổn, mắt mất dưỡng chất.
(3) Ù tai, điếc tai, nghe kém:
① Ù tai:
Tiếng kêu trong tai như ve kêu, tiếng sóng, một bên hoặc hai bên, lúc có lúc không hoặc liên tục. Khởi phát đột ngột, tiếng to, ấn không giảm thuộc thực chứng, can đởm hỏa vượng. Khởi phát dần dần, tiếng nhỏ, ấn vào tai giảm thuộc hư chứng, do thận hư tinh thiếu, não tủy bất túc Tai không được nuôi dưỡng mà thành bệnh.
② Điếc tai:
Mất khả năng nghe, thường do ù tai lâu ngày phát triển mà thành.
Điếc đột ngột thuộc thực chứng, tà khí bế khiếu.
Nghe kém từ từ thuộc hư chứng, tạng phủ hư tổn.
Nhìn chung, hư nhiều hơn thực, thực dễ trị, hư khó trị.
③ Nghe kém:
Nghe âm thanh không rõ, dễ nghe nhầm, là biểu hiện giảm thính lực. Thường do thận hư hoặc phong tà xâm nhập.
(4) Hung muộn (Tức ngực):
Cảm giác ngực đầy, bức bối, khó chịu — gọi là tức ngực, còn gọi là “hung bế”, “hung mãn”, thường do khí cơ không thông suốt ở ngực. Do nguyên nhân gây khí cơ bất lợi ở ngực rất nhiều nên tức ngực là biểu hiện của nhiều chứng bệnh khác nhau.
(5) Hồi hộp, tim đập nhanh (tâm quý, chinh xung):
Tự cảm thấy tim đập nhanh, hốt hoảng, không yên, là tâm quý. Nếu do sợ hãi mà phát thì gọi là kinh quý.
Tâm quý thường tự phát.
Kinh quý thường do bị kích thích.
Chinh xung là mức độ nặng hơn của tâm quý, cảm giác tim đập mạnh, kéo dài, tình trạng nguy hiểm hơn.
Nguyên nhân gây hồi hộp nhiều, chủ yếu do tâm thần không yên:
Tâm dương hư, không đủ sức thúc đẩy. Khí huyết hư, tâm thất dưỡng. Âm hư hỏa vượng, tâm thần bị quấy nhiễu. Thủy ẩm đình trệ, phạm tâm. Đàm trọc bế tắc, tâm khí bất điều. Khí trệ huyết ứ, tâm thần bất an.
(6) Trướng bụng:
Cảm giác bụng đầy, cứng, như có vật cản, có thể bụng phình to.
Nguyên nhân rất nhiều, bệnh có thể hư, thực, hàn, nhiệt, nhưng tắc nghẽn khí cơ là chủ yếu.
Hư: khí không vận chuyển. Thực: khí uất trệ.
Thực chứng: lạnh ẩm phạm vị, táo bón thực nhiệt, thực tích, can khí uất, đàm ẩm đình trệ… Hư chứng: phần nhiều do tỳ hư.
Phân vùng chướng bụng giúp xác định bệnh:
Thượng vị: bệnh tỳ vị.
Hạ vị: bệnh bàng quang.
Vùng sườn: bệnh can đởm.
(7) Tê bì:
Cảm giác da giảm nhạy cảm hoặc mất cảm giác, thường ở đầu, mặt, tứ chi.
Nguyên nhân: khí huyết hư hoặc phong, đàm, thấp tà làm bế tắc kinh lạc, khí trệ huyết ứ. Chủ yếu là do kinh mạch mất nuôi dưỡng.
(4) Hỏi về ăn uống và khẩu vị
Hỏi về ăn uống và khẩu vị bao gồm việc hỏi các vấn đề như khát nước, uống nước, ăn uống, khẩu vị… Cần chú ý hỏi có hay không các biểu hiện khát nước, lượng nước uống, thích uống nóng hay lạnh, tình trạng thèm ăn, số lượng ăn, sự ưa ghét món ăn, trong miệng có vị lạ hay mùi vị khác thường…
Việc hỏi về cảm giác khát và lượng nước uống giúp nhận biết tình trạng tân dịch của cơ thể và khả năng vận hóa của khí, cũng như để phân biệt tính chất hàn nhiệt, hư thực của bệnh.
(1) Không khát: Do tân dịch chưa tổn thương, thường gặp ở bệnh hàn hoặc những bệnh không có biểu hiện nhiệt rõ rệt.
(2) Khát: Do tân dịch không đủ hoặc vận hóa tân dịch bị cản trở, thường gặp các trường hợp sau:
①Khát và uống nhiều: Bệnh nhân khát nhiều, uống nhiều — biểu hiện tân dịch hao tổn nặng, thường thấy trong thực nhiệt, tiêu khát, sau khi ra mồ hôi, nôn, tả nhiều.
②Khát nhưng không uống nhiều: Miệng khô hoặc cảm giác khát nhưng không muốn uống hoặc uống ít — do tân dịch hao tổn nhẹ hoặc vận chuyển tân dịch bị cản trở, gặp ở âm hư, thấp nhiệt, đàm ẩm, ứ huyết…
Việc phân biệt chứng khát cần căn cứ vào đặc điểm khát, lượng nước uống và các triệu chứng đi kèm để chẩn đoán tổng hợp.
Việc hỏi bệnh nhân về cảm giác thèm ăn và lượng ăn giúp đánh giá được mức độ mạnh yếu của chức năng tỳ vị, mức độ nặng nhẹ của bệnh và tiên lượng.
(1) Giảm cảm giác thèm ăn và chán ăn:
Giảm cảm giác thèm ăn, còn gọi là “nạp ngốc”, “nạp thiểu” — nghĩa là bệnh nhân không muốn ăn uống.
Chán ăn, còn gọi là “ố thực” — tức là ghét ăn, không muốn nhìn thấy thức ăn.
Không muốn ăn và chán ăn nhìn chung có hai tình huống: Một là không có cảm giác đói, nên không muốn ăn. Hai là dù có cảm giác đói nhưng vẫn không muốn ăn hoặc thậm chí ghét thức ăn.
Cả hai đều do tỳ vị không điều hòa, chức năng tiêu hóa hấp thu suy giảm gây nên.
① Giảm cảm giác thèm ăn: Người bệnh không muốn ăn, lượng ăn giảm — thường gặp ở các chứng tỳ vị khí hư, thấp tà hãm tỳ.
② Chán ăn: Thường do thương thực (ăn uống không điều độ, thức ăn tích trệ) mà ra. Nếu phụ nữ mang thai trong những tháng đầu có hiện tượng chán ăn, buồn nôn — là biểu hiện của chứng ố nghén.
③ Đói nhưng không muốn ăn: Người bệnh cảm giác đói nhưng lại không muốn ăn hoặc ăn rất ít — cũng thuộc phạm vi ăn uống kém, thường gặp trong chứng vị âm bất túc (vị âm hư).
(2) Ăn nhiều dễ đói: Ăn khỏe, ăn nhiều nhưng nhanh đói, gọi là “tiêu cốc thiện cơ”, thường kèm theo gầy sút — do vị hỏa thịnh, vị cường tỳ nhược, hoặc tiêu khát, do vị khí tiêu hóa quá mạnh.
(3) Thèm ăn đặc biệt: Ưa thích một loại thức ăn hoặc ăn những thứ không phải thực phẩm (dị thích). Dị thích ở trẻ như ăn đất, ăn gạo sống — thường là do tích trùng. Phụ nữ đã có chồng, kinh nguyệt ngưng, thích ăn đồ chua — thường là dấu hiệu mang thai.
Khi hỏi về cảm giác thèm ăn và lượng ăn, cũng cần lưu ý đến tình hình ăn uống của bệnh nhân: nếu bệnh nhân thích ăn đồ nóng, phần nhiều thuộc chứng hàn; nếu thích ăn đồ lạnh, phần nhiều thuộc chứng nhiệt.Sau khi ăn mà cảm thấy dễ chịu, phần nhiều là hư chứng; sau khi ăn mà cảm thấy bệnh nặng thêm, phần nhiều là thực chứng hoặc chứng hư kèm thực.Trong quá trình bệnh, nếu cảm giác thèm ăn dần hồi phục, chứng tỏ vị khí đang dần phục hồi, tiên lượng tốt; ngược lại, nếu cảm giác thèm ăn giảm dần, lượng ăn ngày càng ít, chứng tỏ vị khí suy giảm, tiên lượng thường không tốt.
Nếu bệnh đã nặng, vốn không thể ăn uống, lại đột nhiên ăn nhiều, ăn khỏe bất thường, đó là dấu hiệu vị khí sắp tuyệt, gọi là “trừ trung”. Thực chất là do trung khí suy bại, là dấu hiệu báo trước cái chết, thuộc về hiện tượng “hồi quang phản chiếu”.
Khẩu vị là cảm giác bất thường trong miệng:
Miệng nhạt: Do tỳ vị khí hư. Miệng ngọt: Thường thấy trong tỳ vị thấp nhiệt. Miệng dính nhầy: Thường do thấp làm hại tỳ vị. Miệng chua: Thấy trong can đởm uất nhiệt. Miệng chua chát, ôi thiu: Thường do tích trệ, thương thực. Miệng đắng: Biểu hiện của chứng nhiệt, thường do hỏa tà hoặc can đởm uất nhiệt. Miệng mặn: Thường do bệnh ở thận hoặc chứng hàn.
(5) Hỏi về đại tiểu tiện
Hỏi về đại tiểu tiện là để biết tình trạng của phân, nước tiểu như tính chất, màu sắc, mùi, lượng, thời gian đi, khoảng cách giữa các lần đi, cảm giác khi đi và triệu chứng kèm theo…
Việc hỏi này giúp đánh giá công năng tiêu hóa, tình trạng chuyển hóa tân dịch và là căn cứ quan trọng để phân biệt hàn nhiệt, hư thực của bệnh.
Tính chất, màu sắc, mùi của đại tiểu tiện đã được đề cập trong Vọng chẩn, Văn chẩn, tại đây chỉ trình bày về tần suất, số lượng, cảm giác khi đại tiểu tiện và thời gian đi tiêu.
Người khỏe mạnh thường 1–2 ngày đi đại tiện một lần, phân vàng, mềm, thành khuôn, dễ đi. Nếu do bệnh lý, chức năng tiêu hóa mất điều hòa sẽ dẫn đến phân có chất nhầy, thức ăn chưa tiêu… Khi khí huyết tân dịch mất điều hòa, chức năng tạng phủ rối loạn, sẽ gây bất thường về số lần và cảm giác đi tiêu.
(1) Số lần đi tiêu dị thường: Là số lần đại tiện tăng lên hoặc giảm xuống, vượt qua phạm vi bình thường, có phân ra táo bón hoặc tiết tả
①Táo bón:
Đại tiện khó khăn, phân khô, phân lưu lại trong ruột quá lâu, thời gian giữa các lần đi tiêu kéo dài, 4–7 ngày hoặc lâu hơn, gọi là táo bón. Chủ yếu do đại trường truyền đạo kém. Thường gặp trong các chứng như tích nhiệt ở vị tràng, khí trệ, khí huyết tân dịch hư thiểu, âm hàn ngưng trệ…
② Tiêu chảy (溏泻): Còn gọi là đại tiện lỏng hoặc tiết tả, tức là phân mềm nhão, không thành khuôn, thậm chí loãng như nước, khoảng cách giữa các lần đại tiện rút ngắn, số lần đại tiện tăng lên, trong ngày có thể ba đến bốn lần hoặc nhiều hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do chức năng của tỳ vị bị rối loạn, nước ứ lại trong ruột, hoặc chức năng vận chuyển của đại trường bị tăng cường bất thường. Có thể gặp trong các chứng như tỳ hư, thận dương hư, can uất phạm tỳ, ăn uống không điều độ, thấp nhiệt ứ kết ở đại trường, hoặc do cảm thụ ngoại tà.
(2) Cảm giác bất thường khi đại tiện: Chỉ những cảm giác khó chịu rõ rệt trong quá trình đại tiện, tùy theo nguyên nhân bệnh mà cảm giác khác nhau.
① Cảm giác bỏng rát hậu môn: Là cảm giác bỏng rát vùng hậu môn khi đại tiện. Nguyên nhân là do thấp nhiệt ứ kết ở đại trường. Thường gặp trong các chứng thấp nhiệt tiết tả, thử thấp tiết tả.
② Cảm giác đại tiện không hết: Tức là có cảm giác đau bụng và đi đại tiện không thông suốt, cảm giác vướng víu, khó chịu. Nguyên nhân thường do khí cơ ở ruột không lưu thông. Thường gặp trong các chứng can uất phạm tỳ, ăn uống không tiêu, thấp nhiệt ứ kết.
③ Cảm giác mót rặn (lý cấp hậu trọng): Là cảm giác đau bụng dữ dội, liên tục muốn đi ngoài, hậu môn nặng trĩu, phân ra không hết. Khi đau bụng dữ dội, không chịu nổi, gọi là “lý cấp”; khi đại tiện được rất ít, hậu môn trĩu nặng, phân không ra hết hoặc muốn đi mà không được gọi là “hậu trọng”. Hai triệu chứng kết hợp gọi là “lý cấp hậu trọng”. Đây là triệu chứng chủ yếu của chứng lỵ, do thấp nhiệt uất kết, khí cơ ở ruột bị trở ngại.
④ Tiêu chảy không kiểm soát (Hoạt tả thất cấm): Là tiêu chảy lâu ngày không khỏi, phân chảy tự nhiên không kiềm chế được, gọi là “Hoạt tả”. Thường do bệnh lâu ngày, thể chất suy yếu, tỳ thận dương hư suy, hậu môn mất chức năng kiểm soát. Gặp trong các chứng tỳ dương hư suy, thận dương hư suy hoặc tỳ thận dương suy.
⑤ Sa trực tràng (hậu môn khí truỵ): Là cảm giác nặng trĩu vùng hậu môn, thậm chí trực tràng sa xuống. Nguyên nhân thường do tỳ khí hư nhược, trung khí hạ hãm. Thường gặp trong chứng trung khí hạ hãm.
Người khỏe mạnh thông thường mỗi ngày tiểu khoảng 1000 – 1800 ml, số lần tiểu ban ngày 3 – 5 lần, ban đêm 0 – 1 lần. Số lần tiểu tiện và lượng nước tiểu có thể thay đổi đôi chút do lượng nước uống, nhiệt độ, ra mồ hôi, tuổi tác. Khi mắc bệnh, nếu cơ thể thiếu tân dịch, chức năng khí hóa rối loạn, hoặc thủy ẩm ứ trệ, thì số lần đi tiểu, lượng nước tiểu và cảm giác khi đi tiểu sẽ thay đổi bất thường.
(1) Lượng nước tiểu bất thường: Là lượng nước trong một ngày đêm quá nhiều hoặc quá ít, vượt quá phạm vi bình thường
① Tiểu nhiều: Do hàn tà ngưng trệ khí cơ, thủy khí không được chuyển hóa hoặc thận dương hư suy, dương khí không đủ để khí hóa, nước tiểu thoát ra ngoài nhiều. Thường gặp trong các chứng hư hàn, thận dương hư và bệnh tiêu khát.
② Tiểu ít: Do tân dịch hao tổn, nguồn sinh ra nước tiểu không đủ hoặc đường tiểu bị tắc, hoặc dương khí hư suy, khí hóa không thông, thủy thấp không thể xuống bàng quang mà tràn ra da thịt. Thường gặp trong các chứng thực nhiệt, các chứng như ra mồ hôi, nôn, tả, thủy thũng, lâm chứng, long bế (bí tiểu).
(2) Số lần tiểu tiện bất thường:
① Tiểu nhiều lần:
Còn gọi là tiểu tiện tần suất cao, chủ yếu do khí hóa của bàng quang mất điều tiết. Thường gặp trong các chứng hạ tiêu thấp nhiệt, hạ tiêu hư hàn, thận khí không kiên cố.
② Tiểu ít lần: Có thể gặp trong chứng long bế (sẽ đề cập ở phần tiểu tiện bất thường).
(3) Các bất thường khi tiểu tiện: Là nói về cảm giác khi tiểu tiện và quá trình tiểu tiện phát sinh biến hoá, xuất hiện các tình huống bất thường như đau, lung bế, tiểu không cầm lại được, tiểu són, bí tiểu.
① Tiểu buốt, tiểu rát: Là tình trạng tiểu tiện không thông sướng, kèm cảm giác nóng rát đau buốt, do thấp nhiệt đi xuống bàng quang, thiêu đốt kinh lạc, khí cơ không thông. Thường gặp trong lâm chứng.
② Lung bế: Tiểu tiện khó, từng giọt một gọi là lung; không tiểu được gọi là bế; thường được gọi chung là lung bế. Nguyên nhân bệnh lý có hư có thực. Thực do thấp nhiệt uất kết, can khí uất kết, huyết ứ, sỏi tắc nghẽn niệu đạo. Hư thường do tuổi cao khí hư, thận dương hư suy, bàng quang khí hóa không thuận lợi mà gây bệnh.
③ Dư dịch không hết: Sau khi đi tiểu, nước tiểu vẫn còn nhỏ giọt. Nguyên nhân do thận khí bất cố.
④ Tiểu không tự chủ: Là tình trạng nước tiểu tự rỉ ra, không kiểm soát được. Thường do thận khí hư, hạ nguyên bất cố; hạ tiêu hư hàn, bàng quang không ấm, không kiềm chế được nước tiểu. Nếu bệnh nhân hôn mê mà tiểu tiện tự rỉ, là dấu hiệu bệnh nguy kịch.
⑤ Đái dầm (di niệu): Là hiện tượng đi tiểu không tự chủ khi ngủ, thường gặp ở trẻ em. Nguyên nhân chủ yếu là bàng quang mất chức năng kiềm chế. Thường gặp trong các chứng thận âm, thận dương bất túc, tỳ hư khí hãm.
(6) Hỏi về giấc ngủ
Giấc ngủ có liên quan mật thiết với sự vận hành của vệ khí và sự thịnh suy của âm dương trong cơ thể. Bình thường, vệ khí ban ngày vận hành ở dương kinh, dương khí thịnh thì tỉnh; ban đêm vận hành ở âm kinh, âm khí thịnh thì ngủ.
Khi hỏi về giấc ngủ, cần biết người bệnh có mất ngủ hay ngủ nhiều, thời gian ngủ dài hay ngắn, dễ ngủ hay khó ngủ, có mộng mị không… Những rối loạn giấc ngủ thường gặp là mất ngủ và ngủ nhiều.
Thị thuỵ (ngủ gà), còn gọi là đa miên, là chỉ tình trạng bệnh nhân luôn cảm thấy mệt mỏi, uể oải, buồn ngủ dữ dội, thường xuyên không tự chủ được mà thiếp đi. Nếu nhẹ thì tinh thần vẫn tỉnh táo, gọi có thể tỉnh và đáp lại, nhưng rất mệt mỏi, dễ ngủ, hoặc ở trạng thái nửa ngủ nửa tỉnh — gọi là “chỉ muốn ngủ” (但欲寐). Nếu ngày đêm mê man ngủ li bì, gọi dậy thì tỉnh nhưng đầu óc mơ màng, thỉnh thoảng mới có thể đáp lại, thì gọi là “hôn mê ngủ” (昏睡).
Thị thuỵ(ngủ gà) chủ yếu do thần khí bất túc. Thấp tà quấy nhiễu, thanh dương không thăng; tỳ khí hư yếu, trung khí bất túc, không thể vận hóa lên trên, khiến phủ tạng sáng suốt không được nuôi dưỡng bởi thanh dương, nên sinh ra thị thuỵ.
Thường gặp trong các chứng thấp tà quấy tỳ, tỳ khí hư nhược… Nếu tâm thận dương suy, âm hàn nội thịnh, thần khí không vượng thì có thể thấy trạng thái nửa ngủ nửa tỉnh. Thường gặp trong chứng tâm thận dương suy. Nếu tà khí quấy nhiễu thanh khiếu, nhiệt tà che lấp tâm thần thì có thể thấy thần trí mơ màng, ngủ mê không tỉnh. Thường gặp trong ôn nhiệt bệnh, tà nhập doanh huyết, tà nhập tâm bào. Cũng có thể thấy ở bệnh trúng phong. Sau bệnh nặng, tinh thần suy kiệt mà sinh ngủ gà là biểu hiện chính khí chưa hồi phục.
(7) Hỏi kinh nguyệt và đới hạ
Phụ nữ có đặc điểm sinh lý như kinh nguyệt, đới hạ, thai nghén, sinh đẻ… Khi mắc bệnh thường dễ ảnh hưởng đến các chức năng này. Do đó, đối với phụ nữ sau tuổi dậy thì, ngoài việc hỏi chẩn thông thường, cần chú ý hỏi thêm về kinh nguyệt, đới hạ, để làm cơ sở cho chẩn đoán phụ khoa và các bệnh liên quan.
Cần chú ý hỏi về chu kỳ kinh, số ngày hành kinh, lượng kinh, màu sắc, tính chất kinh, có hay không tình trạng vô kinh, đau bụng kinh…
(1) Chu kỳ kinh (经期): Chu kỳ kinh là khoảng cách giữa hai kỳ kinh, thông thường khoảng 28–32 ngày. Bất thường về kinh kỳ chủ yếu là: kinh nguyệt đến sớm, đến muộn hoặc không đều.
Kinh nguyệt đến sớm: Khi kỳ kinh đến sớm trên 8–9 ngày gọi là kinh đến sớm. Thường do huyết nhiệt vọng hành hoặc khí hư không nhiếp giữ.
Kinh nguyệt đến muộn: Khi kỳ kinh đến muộn trên 8–9 ngày gọi là kinh đến muộn. Thường do huyết hàn, huyết hư hoặc huyết ứ.
Kinh nguyệt không định kỳ:
Là khi kinh nguyệt lúc sớm lúc muộn, không có chu kỳ ổn định, chênh lệch thời gian trên 8–9 ngày, còn gọi là kinh nguyệt rối loạn. Thường do tình chí không thư sướng, can khí uất kết, khí cơ nghịch loạn, hoặc do tỳ thận hư suy, khí huyết bất túc, xung nhâm điều hòa kém, hoặc huyết ứ trở trệ, khí huyết không thông sướng, kinh kỳ rối loạn nên kinh kỳ tiên hậu bất định
(2) Lượng kinh (经量):
Là lượng máu kinh chảy ra. Bình thường khoảng 50ml, có thể dao động ít nhiều. Lượng kinh bất thường biểu hiện chủ yếu là kih nguyệt quá nhiều hoặc kinh nguyệt quá ít
Kinh nhiều:
Mỗi kỳ hành kinh vượt quá 100ml, gọi là kinh nhiều. Thường do huyết nhiệt vọng hành, huyết ứ nội trở, khí hư không nhiếp giữ.
Kinh ít:
Mỗi kỳ hành kinh ít hơn 30ml gọi là kinh ít. Thường do hàn ngưng, huyết không thông, huyết hư, huyết hóa không đủ, hoặc huyết ứ khiến kinh hành không thông.
(3) Băng lậu (崩漏):
Chỉ tình trạng ra máu âm đạo không theo chu kỳ. Thường gặp do huyết nhiệt hoặc khí hư. Huyết gặp nhiệt thì vọng hành, làm tổn thương xung nhâm, máu kinh không ngừng, thường ra gấp rút. Khí hư, trung khí hạ hãm hoặc khí hư khiến xung nhâm không bền, máu không được nhiếp giữ, ra liên tục nhưng ít, chảy rỉ rả. Ngoài ra, huyết ứ cũng có thể gây băng lậu.
(4) Vô kinh (经闭):
Là tình trạng phụ nữ đang có kinh thì ngừng trên 3 tháng không do mang thai, hoặc chưa từng có kinh. Do nhiều nguyên nhân nhưng bệnh cơ bản là kinh mạch không thông, huyết ứ, huyết hư, huyết nguồn cạn kiệt. Có thể gặp trong can khí uất kết, huyết ứ, thấp thịnh đàm trở, âm hư, tỳ hư…
Khi hỏi vô kinh, cần phân biệt với vô kinh sinh lý như mang thai, cho con bú, mãn kinh, hoặc vô kinh tạm thời do dậy thì, tiền mãn kinh, hoặc do tình chí, môi trường thay đổi…
(5) Đau bụng kinh (经行腹痛):
Là đau vùng bụng dưới khi hành kinh hoặc trước, sau kỳ kinh, còn gọi là thống kinh. Thường do mạch xung không thông, khí huyết vận hành không suôn sẻ hoặc do bào mạch không được nuôi dưỡng. Có thể gặp trong các chứng hàn ngưng, khí trệ huyết ứ, khí huyết hư… Đau trước kỳ kinh thường là thực chứng, đau sau kỳ kinh thường là hư chứng. Đau tăng khi ấn là thực, đau giảm khi ấn là hư. Đau giảm khi chườm ấm là hàn, đau không giảm hoặc tăng khi chườm ấm là nhiệt. Đau quặn từng cơn là hàn, đau nhói, âm ỉ là huyết ứ. Đau âm ỉ là huyết hư, đau kéo dài liên tục là huyết trệ, đau lúc có lúc không là khí trệ, đau căng tức là khí trệ huyết ứ. Nếu chủ yếu là khí trệ thì cảm giác đầy tức nhiều hơn đau, nếu là huyết ứ thì cảm giác đau rõ hơn đầy tức.
Cần hỏi về số lượng, màu sắc, tính chất, mùi… Đới hạ trắng, loãng, không mùi, thường là hư chứng hoặc hàn chứng. Đới hạ vàng hoặc đỏ, đặc, dính, hôi thối là thực chứng, nhiệt chứng. Đới trắng loãng nhiều, kéo dài, như nước mũi là do hàn thấp hạ chú. Đới vàng, đặc, hôi là do thấp nhiệt hạ chú.
Đới trắng lẫn máu là xích bạch đới, thường do can kinh uất nhiệt.
(8) Hỏi trẻ nhỏ
Khoa Nhi ngày xưa được gọi là “khoa câm” vì việc hỏi bệnh rất khó khăn và không nhất định chính xác. Khi hỏi bệnh, nếu trẻ nhỏ không thể tự nói, cần phải hỏi thân nhân của trẻ. Khi hỏi bệnh cho trẻ, ngoài các nội dung hỏi bệnh thông thường, cần đặc biệt lưu ý hỏi về tình hình trước và sau khi sinh, tình trạng nuôi dưỡng, quá trình sinh trưởng phát dục, tình trạng tiêm chủng, tiền sử bệnh truyền nhiễm và tiền sử tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm.
Tiết IV — Khám bằng tay (Thiết chẩn)
Thiết chẩn gồm hai phần: mạch chẩn (khám mạch) và án chẩn (khám bằng cách sờ, ấn). Mạch chẩn là dùng tay bắt mạch để khám mạch tượng. Án chẩn là dùng tay sờ, nắn, ấn vào những vùng nhất định trên thân thể người bệnh để tìm hiểu sự biến đổi bên trong hoặc phản ứng ngoài da, từ đó thu thập các thông tin cần thiết để biện chứng.
Mạch chẩn là phương pháp bác sĩ dùng ngón tay để ấn vào vị trí mạch nhất định, nhằm thăm dò mạch tượng. Qua việc bắt mạch, nhận biết các loại mạch tượng khác nhau để hiểu rõ tình trạng bệnh và chẩn đoán bệnh tật. Đây là phương pháp chẩn đoán bệnh độc đáo của y học cổ truyền.
(1) Nguyên lý hình thành mạch tượng
Mạch tượng là hình thái mạch đập cảm nhận dưới tay. Tim chủ huyết mạch, bao gồm huyết và mạch: mạch là nơi chứa huyết, tim liên kết với mạch. Tim đập đều đặn, đẩy máu lưu thông trong mạch, từ đó mạch cũng đập theo nhịp. Nhờ vậy, tay chạm vào có thể cảm nhận được mạch tượng.
Quá trình này được tông khí thúc đẩy. Máu lưu thông trong mạch, đi khắp toàn thân không ngừng nghỉ. Để hoàn thành việc đó, không chỉ có tim chủ đạo mà còn phải có sự phối hợp của các tạng phủ: Phế chủ bách mạch, toàn thân huyết mạch quy tụ về phế; phế chủ khí, thông qua khí của phế, máu mới phân bổ khắp cơ thể. Tỳ vị là nguồn sinh hóa khí huyết, tỳ còn chủ thống huyết. Can tàng huyết, chủ sơ tiết, điều hòa lượng huyết tuần hoàn.
Thận tàng tinh, tinh hóa khí, là gốc của dương khí toàn thân, là động lực cho mọi hoạt động của tạng phủ và là một trong những căn bản vật chất để sinh huyết.Vì vậy, sự hình thành mạch tượng liên quan mật thiết đến khí huyết và chức năng của tạng phủ.
(2) Ý nghĩa lâm sàng của mạch chẩn
Vì mạch tượng hình thành có liên quan chặt chẽ đến khí huyết và tạng phủ, nên khi khí huyết và tạng phủ bệnh biến, việc vận hành của huyết mạch bị ảnh hưởng sẽ làm thay đổi mạch tượng. Nhờ quan sát biến hóa của mạch tượng, có thể nhận định: Vị trí bệnh; Tính chất bệnh. Tình trạng chính – tà thịnh hay suy
Dự đoán tiến triển và tiên lượng bệnh
Biểu hiện của bệnh lý rất đa dạng, nhưng xét về vị trí, bệnh không ở biểu thì ở lý. Mạch phù: bệnh thường ở biểu Mạch trầm: bệnh thường ở lý
Về tính chất, bệnh có thể chia thành hàn chứng và nhiệt chứng.
Mạch trì thường chủ hàn chứng, mạch sác thường chủ nhiệt chứng
Sự tranh đấu giữa chính khí và tà khí sinh ra biến hóa hư – thực. Mạch vô lực là biểu hiện hư chứng do chính khí suy yếu. Mạch hữu lực là biểu hiện thực chứng do tà khí cường thịnh
Mạch chẩn còn giúp phán đoán được tiến triển và tiên lượng bệnh.
Nếu bệnh lâu ngày, thấy mạch hòa hoãn là dấu hiệu vị khí hồi phục, bệnh giảm và sắp khỏi. Nếu bệnh lâu ngày kèm khí hư, hư lao, xuất huyết, tiêu chảy kéo dài mà thấy mạch hồng, thường là dấu hiệu tà thịnh chính suy, nguy kịch.
Trong bệnh ngoại cảm nhiệt: Nếu nhiệt lui, mạch trở nên hòa hoãn là dấu hiệu sắp khỏi. Nếu mạch gấp, sắc mặt bứt rứt khó chịu là biểu hiện bệnh tình tiến triển xấu, nguy hiểm. Ví dụ như sau khi ra mồ hôi, mạch trở nên yên tĩnh, nhiệt lui, người mát là sắp khỏi. Ngược lại, nếu mạch gấp, người bứt rứt là bệnh nguy
(3) Vị trí bắt mạch
Có ba phương pháp bắt mạch: Biến chẩn pháp, Tam bộ chẩn pháp và Thốn khẩu chẩn pháp. Biến chẩn pháp: thấy trong Tố Vấn – Tam bộ cửu hậu luận, dùng các bộ vị trên đầu, tay và chân. Tam bộ chẩn pháp: xuất hiện trong Thương hàn tạp bệnh luận của Trương Trọng Cảnh đời Hán. Gồm: Nhân nghênh (động mạch cảnh hai bên cổ) Thốn khẩu, Phu dương (động mạch mu bàn chân). Hai phương pháp này về sau ít được dùng. Từ đời Tấn, thông dụng nhất là Thốn khẩu chẩn pháp.
Thốn khẩu chẩn pháp được ghi nhận từ Nội kinh, chủ trương bắt riêng thốn khẩu là từ Nan kinh, nhưng chưa được phổ biến rộng rãi cho đến đời Tấn khi Vương Thúc Hòa soạn Mạch kinh, phương pháp này mới được phổ biến.Thốn khẩu còn gọi là mạch khẩu hay khí khẩu, nằm ở phía sau cổ tay, chỗ động mạch quay đập.
Lý do lấy mạch ở thốn khẩu là vì: Đây là nơi động mạch của phế kinh thủ thái âm, nơi tụ hội của khí huyết
Khí huyết của ngũ tạng lục phủ và 12 kinh mạch đều bắt đầu và kết thúc ở phế Phế thông với trung tiêu qua tỳ, cùng thuộc Thái âm, tương thông với khí của tỳ vị là căn bản hậu thiên và nguồn sinh hóa khí huyết
Vì vậy, các biến hóa về khí huyết và tạng phủ trong toàn thân đều có thể phản ánh ở thốn khẩu, do đó bắt mạch ở thốn khẩu có thể nắm được tình hình bệnh toàn thân.
Thốn khẩu chia ba bộ: Thốn, Quan, Xích. Lấy chỗ cao cốt “Nhiêu cốt hành đột”(xương quay nhô – tức mỏm trâm quay), làm mốc. Vị trí ngay sát phía trong của mốc này là Quan; phía trước Quan (hướng về cổ tay) là Thốn; phía sau Quan (hướng về khuỷu tay) là Xích.Mỗi tay có Thốn – Quan – Xích, tổng cộng sáu bộ mạch cho hai tay. Ba bộ Thốn – Quan – Xích lại chia thành phù – trung – trầm để khám xét, gọi là tam bộ cửu hậu trong phương pháp bắt mạch ở thốn khẩu.
Cách quy định thốn – quan – xích ứng với tạng phủ tuy có nhiều thuyết qua các đời, hiện nay thông dụng là:
Thốn trái: chủ tâm và đản trung (vùng ngực giữa)Thốn phải: chủ phế và hung trung (vùng ngực)
Quan trái: chủ can – đởm và cách (vùng hoành cách) Quan phải: chủ tỳ – vị
Xích trái: chủ thận và tiểu phúc (dưới rốn) Xích phải: chủ thận và tiểu phúc
(4) Phương pháp và những điều cần lưu ý khi bắt mạch
Thời điểm bắt mạch tốt nhất là buổi sáng sớm, vì lúc này cơ thể ít chịu ảnh hưởng của ăn uống, vận động… Nội ngoại cảnh đều yên tĩnh, khí huyết kinh mạch ít bị xáo trộn, giúp dễ phân biệt mạch bệnh.
Tuy nhiên, không có nghĩa là các thời điểm khác không thể bắt mạch.
Điều quan trọng là khi bắt mạch phải đảm bảo môi trường yên tĩnh.
Trước khi bắt mạch, nên để người bệnh nghỉ ngơi để điều hòa khí huyết, thầy thuốc cũng cần giữ tâm thái bình tĩnh, rồi mới tiến hành bắt mạch.
Phòng khám cần giữ yên lặng. Trong các trường hợp đặc biệt, khi cần thiết vẫn có thể bắt mạch tại chỗ, không nhất thiết phải gò bó vào các điều kiện lý tưởng.
Người bệnh nên ngồi ngay ngắn hoặc nằm thẳng, cánh tay để ngang, gần bằng với mức tim, cổ tay duỗi thẳng, lòng bàn tay ngửa, phía dưới cổ tay kê một chiếc gối nhỏ.Cách đặt tay như vậy giúp khí huyết lưu thông bình thường, mạch tượng phản ánh đúng tình trạng thật của cơ thể.
Thầy thuốc và người bệnh ngồi đối diện, thầy thuốc dùng tay trái bắt mạch tay phải của người bệnh, tay phải bắt mạch tay trái của người bệnh.
Khi đặt ngón tay bắt mạch: Ngón giữa đặt vào Quan (vị trí trong của cao cốt)
Ngón trỏ đặt vào Thốn (trước Quan)Ngón áp út đặt vào Xích (sau Quan)
Sau khi xác định đúng vị trí, ba ngón tay phải cong tự nhiên, đầu ngón tay ngang nhau, dùng bụng ngón tay áp sát lên mạch.
Khoảng cách giữa các ngón phải phù hợp với tầm vóc của người bệnh:
Người cao lớn, tay dài thì khoảng cách giữa các ngón hơi rộng
Người thấp nhỏ, tay ngắn thì khoảng cách hẹp hơn. Điều chỉnh sao cho hợp lý là được. Khi bắt mạch, ba ngón cùng áp lực đều lên mạch, gọi là tổng án (按全部). Nếu muốn cảm nhận rõ một bộ mạch nào đó, có thể dùng đơn án (ấn riêng): Khi muốn cảm nhận mạch Thốn, hơi nhấc ngón giữa và ngón áp út. Khi muốn cảm nhận mạch Quan, nhấc ngón trỏ và ngón áp út. Khi muốn cảm nhận mạch Xích, nhấc ngón trỏ và ngón giữa. Trong thực tế, thường phối hợp tổng án và đơn án để đối chiếu, rất tiện dụng. Đơn án: để thăm dò từng bộ Thốn – Quan – Xích xem bệnh thuộc kinh nào, tạng nào.Tổng án: để đánh giá tổng quát sự biến hóa của ngũ tạng lục phủ.
Trẻ em có thể dùng phép một ngón cố định Quan (一指定关法), không cần chia ba bộ vì đoạn thốn khẩu của trẻ quá ngắn, không đủ chỗ cho ba ngón tay.
Đây là kỹ thuật sử dụng lực ngón tay nhẹ – nặng – tìm trong quá trình bắt mạch. Ba nguyên tắc chủ yếu: Cử – Án – Tầm. Cử (舉): dùng lực nhẹ đặt trên da, còn gọi là phù thủ hoặc khinh thủ (lấy nông). Án (按): dùng lực mạnh ấn sâu tới cơ và xương, còn gọi là trầm thủ hoặc trọng thủ (lấy sâu). Tầm (尋): lực vừa phải, hoặc linh hoạt điều chỉnh nhẹ – nặng để thăm dò kỹ, gọi là tầm thủ.
Ngoài ra, khi ba bộ mạch có biểu hiện đặc biệt, cần nhẹ nhàng di chuyển ngón tay để tìm kiếm đúng vị trí mạch, chứ không phải chỉ cố định lấy trung gian. Tầm nghĩa là dò tìm, không phải lấy ở giữa.
Một lần hít vào và thở ra gọi là một tức (一息). Khi bắt mạch, thầy thuốc phải giữ hơi thở tự nhiên – đều đặn, lấy một tức làm đơn vị để đếm số lần mạch đập của người bệnh. Các mạch bình thường hoặc các mạch bệnh lý như Trì – Sác – Hoãn – Cấp, đều dùng tức để tính (tương đương như dùng giây ở hiện đại). Hiện nay có đồng hồ bấm giây giúp việc chẩn mạch dễ dàng hơn. Nhưng Bình Tức không chỉ có ý nghĩa tính đếm. Bình còn nghĩa là bình hòa, yêu cầu thầy thuốc phải tập trung tinh thần, giữ tâm lý bình tĩnh, toàn tâm toàn ý khi bắt mạch. Bình tức nghĩa là vừa đếm bằng hơi thở, vừa giữ tâm thái điềm tĩnh, tập trung tuyệt đối.
Mỗi lần bắt mạch phải để đủ năm mươi lần mạch đập (50 động).
Có hai ý nghĩa:
Một là để đảm bảo trong 50 lần mạch đập, không bỏ sót các loại mạch đặc biệt như Xúc – Kết – Đại mạch. Hai là để nhấn mạnh việc bắt mạch không thể qua loa, phải lấy việc nhận diện rõ mạch tượng làm mục đích chính.
Nếu trong 50 động đầu tiên vẫn chưa nhận biết rõ mạch tượng, có thể tiếp tục đến 50 động thứ hai hoặc thứ ba.
Thời gian mỗi lần bắt mạch nên kéo dài từ 2 – 3 phút là hợp lý.
(5) Mạch tượng bình thường
Mạch bình thường còn gọi là Bình mạch (平脉), là mạch của người khỏe mạnh, không bệnh. Đặc điểm của mạch bình thường: Ba bộ đều có mạch; Một tức bốn lần mạch đập (hoặc năm lần với hơi thở dài), tương ứng 72–80 lần/phút. Không phù cũng không trầm, không đại cũng không tiểu. Từ tốn, khoan hòa, mềm mại nhưng có sức, nhịp nhàng, đồng đều. Mạch Xích khi ấn sâu vẫn có sức nhất định. Có thể dao động nhẹ tùy theo vận động, trạng thái sinh lý và điều kiện môi trường. Mạch bình thường phải đủ ba đặc điểm: Vị – Thần – Căn
Có Vị (胃): Mạch có Vị khí là dấu hiệu sống động của cơ thể. Người xưa nói rất nhiều về điều này, nhưng tóm lại, mạch không phù không trầm, không nhanh không chậm, từ tốn, khoan hòa, nhịp nhàng — đó là mạch có Vị khí.
Ngay cả mạch bệnh, dù là phù, trầm, trì, sác, nếu vẫn còn biểu hiện từ hòa, cũng là còn Vị khí.
Có Vị khí: Nếu mạch có Vị khí thì gọi là bình mạch (mạch bình thường). Nếu mạch ít Vị khí là dấu hiệu bệnh lý. Nếu hoàn toàn không có Vị khí thì đó là chân tạng mạch (mạch nguy hiểm), thường là biểu hiện bệnh khó chữa hoặc không thể chữa. Vì thế, việc mạch có hay không có Vị khí có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phán đoán cát – hung và tiên lượng bệnh.
Có Thần: Mạch có Thần là mạch có hình thái mềm mại, từ hòa. Ví dụ: Mạch Huyền Thực (弦实) nhưng trong sự cứng chắc đó vẫn có vẻ hòa hoãn; hoặc mạch Vi Nhược (微弱) nhưng trong sự yếu mềm đó vẫn còn chút sức — những trường hợp này đều gọi là mạch có Thần.Sự thịnh suy của Thần có giá trị nhất định trong việc nhận định tiên lượng bệnh.
Tuy nhiên, khi phán đoán phải kết hợp với Thanh (giọng nói), Sắc (sắc mặt), Hình (thể trạng) mới có thể đưa ra kết luận chính xác.Cả Vị khí và Thần khí đều là biểu hiện của sự sung mãn và hòa hoãn. Mạch có Vị thì tất có Thần. Vì vậy, trong lâm sàng, phép chẩn đoán Vị khí và Thần khí được coi là giống nhau.
Có Căn: Khi ba bộ mạch đều ấn sâu có lực, hoặc mạch Xích ấn sâu vẫn có lực, đó là dấu hiệu của mạch có Căn. Nếu đang bệnh mà thận khí vẫn còn, căn bản tiên thiên chưa tuyệt, mạch Xích trầm án vẫn có, đó là dấu hiệu còn sinh cơ.Ngược lại, nếu mạch phù đại, tán loạn, khi ấn sâu thì không còn, đó là mạch vô căn, cho thấy nguyên khí đã tiêu tán, là biểu hiện bệnh cực kỳ nguy cấp.
Mạch bình thường chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nội – ngoại và có sự biến đổi sinh lý tương ứng.
Khí hậu bốn mùa: Do ảnh hưởng của khí hậu, mạch bình thường sẽ thay đổi theo bốn mùa: Xuân: mạch Huyền (弦) Hạ: mạch Hồng (洪) Thu: mạch Phù (浮) Đông: mạch Trầm (沉)Điều này phản ánh sự hòa hợp giữa con người và tự nhiên, khi khí hậu thay đổi, chức năng sinh lý cũng thay đổi tương ứng. Vì thế, mạch bình thường theo mùa cũng có sự khác biệt.
Địa lý hoàn cảnh: Địa thế khác nhau cũng ảnh hưởng đến mạch tượng: Miền Nam: đất thấp, khí hậu ấm áp, không khí ẩm, cơ nhục mềm lỏng => mạch thường tế nhược hoặc hơi sác. Miền Bắc: đất cao, khí hậu khô lạnh, không khí khô, cơ nhục co chặt vì thế mạch thường trầm thực.
Giới tính:
Phụ nữ: mạch thường nhu nhược và hơi nhanh hơn nam giới.
Phụ nữ sau khi kết hôn hoặc mang thai: mạch thường hoạt sác nhưng vẫn hòa hoãn.
Tuổi tác: Tuổi càng nhỏ, mạch càng nhanh: Trẻ sơ sinh: 120 – 140 lần/phút; Trẻ 5 – 6 tuổi: 90 – 110 lần/phút
Tuổi càng lớn, mạch càng chậm lại.
Thanh niên khỏe mạnh: mạch có lực
Người già: khí huyết suy, tinh lực kém, mạch yếu hơn
Thể tạng:
Người cao lớn: vị trí mạch hiện ra dài hơn
Người thấp bé: vị trí mạch ngắn hơn
Người gầy: cơ nhục mỏng, mạch dễ nổi (phù)
Người béo: mỡ dưới da dày, mạch thường chìm (trầm)
Trường hợp sáu bộ mạch đều trầm tế nhưng không có bệnh: gọi là Lục Âm mạch. Trường hợp sáu bộ mạch đều hồng đại nhưng không bệnh: gọi là Lục Dương mạch
Tình chí (Cảm xúc): Tinh thần nhất thời kích thích, mạch cũng phát sinh biến hoá như:
Vui: tổn hại tâm, mạch hoãn; Giận: tổn hại can, mạch cấp; Kinh sợ: khí loạn, mạch động. Cảm xúc nhất thời có thể làm thay đổi mạch tượng. Nhưng khi cảm xúc trở lại bình thường, mạch cũng sẽ phục hồi.
Lao động – Nghỉ ngơi:
Vận động mạnh hoặc đi xa: mạch thường cấp; Khi ngủ: mạch thường hoãn; Người lao động trí óc: mạch yếu hơn người lao động chân tay
Ăn uống: Ăn no, uống rượu: mạch thường sác và có lực
Đói: mạch hoãn và yếu.
Ngoài ra, có một số người mạch không xuất hiện ở thốn khẩu, mà lại chạy xéo từ Xích về phía mu bàn tay, gọi là mạch Tà Phi (斜飞脉).Hoặc mạch xuất hiện phía mặt lưng của thốn khẩu, gọi là mạch Phản Quan (反关脉).Cũng có khi mạch xuất hiện ở vị trí khác quanh cổ tay — những trường hợp này đều là vị trí sinh lý đặc biệt của mạch, do biến dị giải phẫu của động mạch quay, không phải bệnh lý mạch.
(6) Mạch bệnh lý
Sự biến đổi của mạch do bệnh lý gọi là bệnh mạch. Thông thường, tất cả những mạch tượng nằm ngoài phạm vi sinh lý bình thường và không thuộc đặc điểm sinh lý riêng biệt đều được gọi là bệnh mạch. Khác biệt giữa các loại mạch bệnh phản ánh những chứng bệnh khác nhau.Tác phẩm cổ xưa nhất về mạch học của Trung Quốc là “Mạch Kinh” (脉经) nêu 24 loại mạch. “Cảnh Nhạc Toàn Thư” (景岳全书) nêu 16 loại mạch. “Tần Hồ Mạch Học” (濒湖脉学) nêu 27 loại mạch.
“Chẩn Gia Chính Nhãn” (诊家正眼) của Lý Sĩ Tài bổ sung thêm Cấp mạch, nên hiện nay đa số lấy 28 loại mạch làm chuẩn để luận.
Mạch tượng được quan sát trên 4 phương diện: Vị, số, hình, thế
Vị: vị trí (độ sâu) dưới da, phân thành
Phù: nông, gần da- Trầm: sâu, gần xương
Số: tần số (nhanh – chậm). Mạch Trì: dưới 4 lần/một tức
Mạch Sác: 5 – 6 lần/một tức
Hình: hình thái (kích thước, đặc điểm đặc biệt)
Ví dụ: Khâu mạch (芤) giống ống lá hành, Động mạch (动) giống hạt đậu…Thế: khí thế, sức lực. Mạch mạnh, có lực là Thực; Mạch yếu, vô lực là Hư
Trong 28 loại mạch bệnh, chia thành hai loại: Mạch đơn nhất và mạch phức hợp
Đơn nhất mạch: chỉ biến đổi ở một yếu tố (vị, số, hình, thế)
Ví dụ:
Hai mạch Phù, Trầm → biến đổi ở vị trí
Trì, Sác → biến đổi ở số lần mạch đập
Đây là những mạch chỉ thay đổi theo một đặc tính nhất định.
Phức hợp mạch: biến đổi đồng thời từ hai yếu tố trở lên
Ví dụ:
Mạch Nhược(弱): tổ hợp của Hư – Trầm – Tế
Mạch Lao (牢): tổ hợp của Trầm – Thực – Đại – Huyền – Trường
Mạch Hồng (洪): tổ hợp của Phù – Đại – Hữu lực – Thế mãnh liệt. Các mạch đơn thường khó phản ánh đầy đủ bản chất bệnh, trong khi các mạch phức hợp giúp phản ánh nhiều mặt của tình trạng bệnh lý.Ngoài ra còn có những trường hợp kiêm mạch — nhiều mạch đồng thời xuất hiện như:
Phù Khẩn-Phù Hoãn-Trầm Tế- Hoạt Sác.
(1) Nhóm mạch Phù
Nhóm mạch phù bao gồm sáu loại mạch: Phù, Hồng, Nhu, Tán, Khâu, Cách. Đặc điểm chung là vị trí mạch nông, bắt nhẹ tay đã cảm nhận được, nên được xếp chung một nhóm.
①Mạch Phù (浮脉)
Hình tượng mạch: Đặt nhẹ tay là cảm nhận được, ấn mạnh tay mạch có giảm nhưng không mất, nhấc tay lên cảm thấy trôi nổi đầy đặn, giống như khúc gỗ nổi trên mặt nước.
Chủ bệnh: Biểu chứng, hư chứng.
Mạch lý: Mạch Phù chủ biểu, phản ánh tà khí ở kinh lạc, cơ biểu. Khi ngoại tà xâm nhập vào cơ biểu, vệ dương nổi dậy chống đỡ, khí huyết vận động ra ngoài, mạch nổi lên, nên phù mà có lực. Nếu do bệnh lâu ngày, cơ thể suy yếu, dương khí hư không thể ẩn tàng, bốc lên bên ngoài, cũng xuất hiện phù mạch nhưng thường phù lớn mà vô lực.
②Mạch Hồng (洪脉)
Hình tượng mạch: Rất lớn, giống như sóng trào mạnh mẽ, khi đến thì mãnh liệt, khi đi thì yếu dần.
Chủ bệnh: chứng Lý nhiệt.
Mạch lý: Do dương khí quá thịnh, khí uất, hỏa vượng, nhiệt đầy bên trong, khiến mạch đạo giãn rộng, khí thịnh huyết tràn, nên xuất hiện mạch hồng.
Nếu người bệnh lâu ngày, khí hư hoặc hư lao, mất máu, tiêu chảy kéo dài mà xuất hiện hồng mạch, là biểu hiện của chính khí hư, tà khí thịnh — dấu hiệu nguy hiểm hoặc do âm dịch khô kiệt, cô dương độc kháng hoặc hư dương hư thoát.
Khi này, bắt nhẹ tay (phù thủ) thì thấy hồng thịnh, ấn sâu (trầm thủ) thì yếu ớt, vô thần.
③Mạch Nhu (濡脉)
Hình tượng mạch: Phù, nhỏ, mềm như tơ lụa thấm nước.
Chủ bệnh: Hư chứng, thấp chứng.
Mạch lý: Chủ về các chứng hư: Nếu do tinh huyết đều hư, âm hư không thể duy trì dương, nên mạch phù mềm. Nếu tinh huyết không đủ, mạch nhỏ. Nếu khí hư, dương suy, dương khí không thể thu liễm, mạch cũng phù mềm.Thấp tà ngăn trở, chèn ép mạch đạo, cũng sinh mạch nhu.
④ Mạch Tán (散脉)
Hình tượng mạch: Phù tán, không có gốc, nhịp không đều, giống như hoa liễu bay tán loạn.
Chủ bệnh: Nguyên khí ly tán (nguy cấp).
Mạch lý: Chủ về nguyên khí ly tán, khí của tạng phủ sắp tuyệt — dấu hiệu nguy hiểm. Do tâm lực suy kiệt, âm dương không thu liễm, dương khí tản ra, mạch nổi tán mà không chặt, ấn mạnh thì không thấy, không có gốc. Khi âm suy, dương tiêu, tâm khí không thể dẫn huyết lưu thông, mạch lúc nhanh lúc chậm, không đều.
⑤Mạch Khâu (芤脉)
Hình tượng mạch: Phù, lớn, giữa rỗng, giống như bóp vào lá hành.
Chủ bệnh: Mất máu, tổn thương âm.
Mạch lý: Thường gặp trong các chứng mất máu, âm bị tổn thương. Do âm huyết bị mất, mạch đạo trống rỗng. Như mất máu đột ngột, huyết lượng giảm nhanh, doanh huyết không đủ, không đủ để làm đầy mạch đạo, hoặc dịch thể thương tổn, huyết không đủ đầy, âm bị thương tổn khiến dương khí không chỗ nương mà nổi ra ngoài, tạo thành mạch phù lớn mà rỗng giữa.
⑥ Mạch Cách (革脉)
Hình tượng mạch: Phù, đập mạnh vào ngón tay, giữa rỗng, ngoài cứng chắc, giống như gõ vào mặt trống.
Chủ bệnh: Mất máu, thất tinh, sẩy thai, băng lậu.
Mạch lý: Mạch này là sự kết hợp của Huyền và Khâu. Do tinh huyết hao tổn, khí không thể nương, bốc lên bên ngoài, gặp phải âm hàn co rút, nên ngoài cứng, trong rỗng.
(2) Nhóm mạch Trầm
Nhóm mạch trầm bao gồm 4 mạch: Trầm, Phục, Nhược, Lao. Đặc điểm là mạch nằm sâu, phải ấn mạnh mới cảm nhận được, nên được xếp chung một nhóm.
① Mạch Trầm (沉脉)
Hình tượng mạch: Đặt nhẹ không cảm nhận được, ấn mạnh mới thấy, như đá chìm đáy nước.
Chủ bệnh: Lý chứng. Cũng có thể gặp ở người khỏe mạnh không bệnh.
Mạch lý: Khi tà khí ở trong (lý), chính khí giao tranh ở bên trong, khí huyết bị bế tắc nên mạch trầm mà có lực — là lý thực chứng. Nếu tạng phủ hư, dương suy, khí huyết kém, không đủ dẫn dắt ra biểu, mạch trầm mà vô lực — là lý hư chứng.
② Mạch Phục (伏脉)
Hình tượng mạch: Ấn mạnh đẩy sâu vào gân xương mới cảm nhận được, thậm chí có khi không thấy.
Chủ bệnh: Tà bế, chứng quyết, đau cực độ.
Mạch lý: Khi tà khí chìm sâu, mạch khí không thông, mạch ẩn sâu không hiện lên là phục mạch. Nếu dương khí suy kiệt, sắp tuyệt, không đủ sức dẫn huyết lưu thông cũng sinh phục mạch. Trường hợp thứ nhất thường gặp trong thực tà, bệnh cấp; trường hợp thứ hai thường gặp trong bệnh lâu ngày, chính khí suy.
③ Mạch Nhược (弱脉)
Hình tượng mạch: Rất mềm, trầm, nhỏ.
Chủ bệnh: Khí huyết âm dương đều hư.
Mạch lý: Âm huyết không đủ, không thể đầy mạch đạo.
Dương suy, khí thiếu, không đủ sức dẫn huyết lưu thông, mạch vì thế trầm, nhỏ, mềm vì thế thành mạch Nhược.
④ Lao mạch (牢脉)
Hình tượng mạch: Trầm, ấn sâu thấy lớn, huyền, dài, cứng chắc, không di động.
Chủ bệnh: Âm hàn tích tụ, thực tích cứng chắc.
Mạch lý: Do bệnh tà bám chặt, âm hàn tích tụ, dương khí bị dồn ép xuống dưới, mạch trầm, thực, đại, huyền, dài, cứng chắc không di động gọi là mạch Lao.
Mạch Lao biểu hiện thực, chia làm: Khối u có hình — thực ở huyết phần; Khối kết không hình — thực ở khí phần. Nếu Lao mạch xuất hiện ở người mất máu, âm hư… là dấu hiệu nguy kịch do âm huyết bị mất đột ngột.
(3) Nhóm mạch Trì Nhóm mạch trì bao gồm bốn mạch: Trì, Hoãn, Sáp, Kết. Đặc điểm là mạch chậm, một hơi thở chưa đủ bốn đến năm nhịp, nên xếp chung một nhóm.
①Mạch Trì (迟脉)
Hình tượng mạch: Mạch đến chậm, một hơi thở chưa đủ bốn nhịp (tương đương dưới 60 lần/phút).
Chủ bệnh: Hàn chứng. Trì mà có lực là Hàn thống, hàn tích. Trì mà vô lực là Hư hàn. Vận động viên luyện tập lâu năm có mạch trì mà hữu lực thì không phải bệnh mạch.
Mạch lý: Chủ hàn chứng, do dương khí bất túc, không đủ lực thúc đẩy huyết hành, nên một tức không đủ bốn nhịp. Nếu do âm hàn ngưng tụ, dương mất chức năng vận hành, huyết hành không thông, mạch trì mà có lực. Nếu do dương hư mà sinh hàn, mạch trì mà vô lực. Trong trường hợp nhiệt tà tụ kết, cản trở khí huyết lưu thông, cũng có thể thấy mạch trì, nhưng phải trì mà có lực, ấn vào thấy chắc. Vì vậy, mạch trì không thể chỉ dựa vào hình thái để coi là hàn chứng mà phải kết hợp mạch – chứng để phán đoán.
② Mạch Hoãn (缓脉)
Hình tượng mạch: Một hơi thở bốn nhịp, mạch đến chậm rãi, thong thả.
Chủ bệnh: Thấp chứng, tỳ vị hư nhược.
Mạch lý: Thấp tà niêm trệ, khí cơ bị thấp tà ngăn trở; Tỳ vị hư nhược, khí huyết không đủ, không đủ sức làm đầy và thúc đẩy mạch vận động, nên mạch đến chậm rãi, uể oải. Nếu là mạch hoãn mà hòa hoãn, là biểu hiện khí huyết sung mãn, bách mạch lưu thông. Trong khi đang bệnh, nếu mạch chuyển sang hoãn hòa, là dấu hiệu chính khí đang dần hồi phục.
③ Mạch Sáp (涩脉)
Hình tượng mạch: Chậm, nhỏ, ngắn, đi lại khó khăn, không trôi chảy, như lấy dao nhỏ cạo lên thân tre.
Chủ bệnh: Tinh huyết hư tổn, khí trệ huyết ứ, có đàm, có thực tích.
Mạch lý: Khi tinh thương, huyết thiếu, tân dịch suy, không thể nuôi dưỡng kinh mạch, huyết hành không thông, khí huyết vận hành trắc trở, nên mạch sáp và vô lực. Nếu do khí trệ huyết ứ, đàm tích, thực tích dính đọng, khí cơ không thông, huyết vận bị cản trở, thì mạch sáp mà có lực.
④ Kết mạch (结脉)
Hình tượng mạch: Mạch đi chậm, có lúc bỗng ngừng, dừng lại không có quy luật.
Chủ bệnh: Âm thịnh khí kết, hàn đàm huyết ứ, chứng tích tụ.
Mạch lý: Khi âm thịnh, khí cơ bị uất kết, dương khí bị trở ngại, huyết hành đình trệ, nên mạch đi chậm rãi, khí mạch không liền mạch (tương thuận tiếp), thỉnh thoảng dừng, sau đó lại tiếp tục, dừng không theo quy luật. Thường gặp ở các chứng do hàn, đàm, huyết ứ làm tắc nghẽn tâm mạch. Kết mạch nếu xuất hiện ở hư chứng, thường là do bệnh lâu ngày, hư lao, khí huyết suy, mạch khí không tiếp nối, nên bị đứt quãng, thỉnh thoảng mới trở lại, khi khí huyết khôi phục thì mạch lại thông, nhưng dừng không đều.
(4) Nhóm mạch Sác (数脉类) Nhóm mạch sác gồm bốn mạch: Sác, Cấp, Xúc, Động.Đặc điểm chung là mạch đập nhanh, một hơi thở trên năm nhịp, nên được xếp chung một nhóm.
① Mạch Sác (数脉)
Hình tượng mạch: Một hơi thở mạch đến năm nhịp trở lên.
Chủ bệnh: Nhiệt chứng. Có lực là Thực nhiệt. Vô lực là Hư nhiệt
Mạch lý: Tà nhiệt bên trong thịnh, khí huyết vận hành nhanh, nên sinh sác mạch. Khi tà nhiệt thịnh, chính khí chưa hư, chính tà giao tranh mạnh mẽ, nên mạch sác mà có lực → Thực nhiệt chứng. Nếu bệnh lâu ngày, âm thương tổn, âm hư sinh nội nhiệt, mạch tuy sác nhưng vô lực. Nếu mạch nổi, sác, ấn sâu không có gốc, là dấu hiệu nguy hiểm của hư dương bốc thoát.
② Mạch Tật (疾脉)
Hình tượng mạch: Mạch đến rất nhanh, một hơi thở bảy, tám nhịp.
Chủ bệnh: Dương cực âm kiệt, nguyên dương sắp thoát.
Mạch lý: Thực nhiệt chứng, dương khí thịnh cực không chế ngự được, chân âm nguy cấp, nên mạch đến cực nhanh và ấn vào càng cứng chắc. Nếu âm dịch kiệt quệ, dương khí bốc thoát sắp mất, mạch tật nhưng vô lực.
③ Xúc mạch (促脉)
Hình tượng mạch: Mạch đến nhanh, thỉnh thoảng ngừng lại, dừng không có quy luật.
Chủ bệnh: Dương nhiệt thịnh, khí huyết, đàm thực ứ trệ.
Mạch lý: Dương nhiệt cực thịnh, hoặc khí huyết, đàm ẩm, thực tích tụ trệ, hóa nhiệt, chính tà giao tranh, huyết hành gấp, nên mạch đến nhanh. Khi tà khí tắc nghẽn, âm dương không điều hòa, khí mạch không tiếp nối, nên thỉnh thoảng mạch dừng, sau đó lại tiếp tục, dưới ngón tay cảm thấy có lực, dừng không theo quy luật. Xúc mạch cũng có thể gặp ở hư chứng: nếu nguyên âm tổn thương, thì trong sự nhanh có lúc ngừng, ngừng không theo quy luật, mạch xúc mà vô lực, là dấu hiệu suy kiệt.
④ Mạch Động (动脉)
Hình tượng mạch: Mạch giống hạt đậu, lay động, trơn, nhanh, có lực.
Chủ bệnh: Chứng đau, chứng kinh sợ. Phụ nữ trong thời kỳ thai nghén có thể thấy mạch động, điều này có giá trị nhất định trong chẩn đoán sớm thai kỳ.
Mạch lý: mạch Động là do âm dương giao tranh, thăng giáng thất điều, khí huyết xung động, nên mạch cũng xung động. Khi đau, âm dương không hòa, khí huyết bế tắc; khi kinh sợ, khí huyết loạn động, tim đập mạnh, mạch cũng theo đó mà lay động — vì thế, đau và kinh sợ đều có thể thấy mạch động.
(5) Nhóm mạch Hư (虚脉类)
Gồm các loại mạch: Hư, Tế, Vi, Đại, Đoản.
Đặc điểm chung là mạch đập dưới tay không có lực, nên được xếp chung một nhóm.
① Mạch Hư (虚脉)
Hình tượng mạch: Ba bộ mạch đều yếu, ấn vào cảm giác trống rỗng.
Chủ bệnh: Hư chứng.
Mạch lý: Khí hư không đủ để vận huyết, nên mạch đến vô lực. Huyết hư không đủ làm đầy mạch đạo, nên ấn vào thấy trống rỗng. Vì khí hư không thu liễm mà bốc ra ngoài, huyết hư khiến khí không có chỗ dựa mà nổi ra ngoài, mạch đạo lỏng lẻo, nên mạch hình to nhưng thế yếu.
② Mạch Tế (细脉)
Hình tượng mạch: Mạch nhỏ như sợi tơ, nhưng dưới ngón tay vẫn cảm nhận rõ.
Chủ bệnh: Khí huyết lưỡng hư, các chứng hư lao, thấp chứng.
Mạch lý: Tế là do khí huyết đều hư, doanh huyết suy không đủ làm đầy mạch đạo, khí không đủ nên không có lực thúc đẩy huyết hành, nên mạch nhỏ và yếu. Thấp tà ngăn trệ, làm tổn thương dương khí, cũng sinh mạch tế.
③ Mạch Vi (微脉)
Hình tượng mạch: Rất nhỏ, rất mềm, ấn vào như muốn mất, tựa có tựa không.
Chủ bệnh: Âm dương khí huyết đều hư, dương khí suy vi.
Mạch lý: Dương khí suy vi, không đủ sức thúc đẩy, huyết suy nên không làm đầy mạch đạo, nên xuất hiện vi mạch. Nếu bắt nổi để xem dương, nhẹ thì như không — là dương suy. Nếu ấn sâu để xem âm, nặng mà như không — là âm kiệt. Bệnh lâu ngày, chính khí tổn thương, khí huyết hao kiệt, chính khí gần tuyệt, nên bệnh lâu mạch vi là dấu hiệu khí sẽ tuyệt. Bệnh mới mà mạch vi là do dương khí bốc thoát đột ngột, cũng có thể thấy ở người dương hư, tà khí suy.
④ Mạch Đại (代脉)
Hình tượng mạch: Mạch đến có lúc ngừng, ngừng có chu kỳ, dừng lâu mới trở lại.
Chủ bệnh: Tạng khí suy vi, phong chứng, chứng đau.
Mạch lý: Tạng khí suy, khí huyết hao tổn, khí mạch không nối tiếp được, bị ngừng lại, không tự trở lại, một lúc lâu mới tiếp tục. Trong phong chứng, đau chứng mà thấy đại mạch là do tà khí phạm vào, chặn ở kinh mạch, khiến khí mạch bị trở ngại, không liên tục — là thực chứng. Đại mạch cũng có thể thấy ở phụ nữ mang thai giai đoạn đầu, do ngũ tạng tinh khí tập trung vào tử cung để nuôi thai, khí mạch tạm thời không nối tiếp, nên xuất hiện đại mạch. Nhưng đây không phải là mạch tất yếu của thai kỳ, chỉ xuất hiện ở người mẹ thể chất vốn yếu, tạng khí không đủ, lại thêm nghén nặng, khí huyết dồn hết vào nuôi thai, khiến mạch khí tạm thời không nối tiếp.
⑤ Mạch Đoản (短脉)
Hình tượng mạch: Đầu mạch và đuôi mạch đều ngắn, không kéo dài đủ toàn bộ vị trí bắt mạch.
Chủ bệnh: Bệnh khí. Có lực là Khí trệ. Vô lực → Khí hư
Mạch lý: Nếu khí hư, không đủ lực vận hành huyết dịch, mạch không thể truyền đủ đến các bộ vị trên mạch đạo, nên mạch ngắn và vô lực. Nếu do khí uất, huyết ứ, hoặc đàm trệ, thực tích ngăn chặn mạch đạo, khiến khí mạch không thông suốt, sẽ thấy đoản mạch — nhưng nhất thiết phải đoản mà có lực. Vì vậy, đoản mạch không thể đơn giản xem là mạch hư, cần phải xét có lực hay không để phân biệt.
(6) Nhóm mạch Thực (实脉类)
Gồm các loại mạch: Thực, Hoạt, Huyền, Khẩn, Trường.
Đặc điểm chung là mạch đập dưới tay có lực, nên được xếp chung một nhóm.
① Mạch Thực (实脉)
Hình tượng mạch: Cả ba bộ mạch, khi nhấc lên hoặc ấn xuống, đều cảm nhận được lực mạnh.
Chủ bệnh: Thực chứng.
Mạch lý: Khi tà khí thịnh, chính khí chưa suy, chính tà giao tranh mạnh mẽ, khí huyết bị uất lại, mạch đạo đầy đặn, nên mạch đến dưới tay thấy cứng chắc, có lực. Người khỏe mạnh cũng có thể thấy thực mạch — đó là biểu hiện chính khí sung mãn, chức năng tạng phủ tốt. Thực mạch ở người khỏe thường tĩnh, hòa hoãn, khác với thực mạch trong bệnh — cứng, khẩn, mạnh.
② Mạch Hoạt (滑脉)
Hình tượng mạch: Mạch đi trôi chảy, như hạt châu lăn trên đĩa, dưới tay cảm thấy tròn trịa, trơn láng.
Chủ bệnh: Đàm ẩm, thực tích, thực nhiệt.
Mạch lý: Khi tà khí uất lại bên trong, chính khí chưa suy, khí đầy, huyết tràn, nên mạch vận hành rất trôi chảy, dưới tay cảm giác tròn trịa, trơn tru. Nếu gặp hoạt mạch ở người khỏe, thường là hoạt mà hòa hoãn, nguyên do là khí huyết sung mãn. Khí đầy thì mạch trôi chảy, huyết nhiều thì mạch đầy đặn.
Ở phụ nữ có thai, nếu xuất hiện hoạt mạch là biểu hiện khí huyết sung mãn, điều hòa — dấu hiệu sinh lý bình thường.
③ Huyền mạch (弦脉)
Hình tượng mạch: Thẳng, dài, căng, giống như sờ vào dây đàn.
Chủ bệnh: Bệnh can đởm, đàm ẩm, chứng đau, bệnh sốt rét.
Mạch lý: Huyền là biểu hiện của mạch khí bị căng thẳng. Can chủ sơ tiết, điều hòa khí cơ, lấy hòa hoãn làm quý. Nếu tà khí xâm nhập, can khí mất điều hòa, khí uất, khí cơ không thông, sẽ sinh huyền mạch. Các chứng đau, đàm ẩm, khí cơ bị tắc, âm dương không hòa, khí mạch căng cứng, sinh huyền mạch. Tà khí sốt rét ẩn náu ở bán biểu bán lý, thiếu dương bị cản trở, cũng sinh huyền mạch. Bệnh hư lao nội thương, trung khí bất túc, can bệnh liên lụy sang tỳ, cũng có thể thấy huyền mạch. Nếu huyền mà nhỏ, căng như dao sắc, là dấu hiệu vị khí kiệt, bệnh khó chữa.
④ Khẩn mạch (紧脉)
Hình tượng mạch: Mạch căng, co rút, giống như sợi dây căng bị xoắn.
Chủ bệnh: Hàn chứng, chứng đau.
Mạch lý: Khi hàn tà xâm nhập cơ thể, giao tranh với chính khí, làm cho mạch đạo căng chặt, co rút, nên xuất hiện khẩn mạch. Khi có các chứng đau mà gặp khẩn mạch, cũng là do hàn tà kết tụ, chính khí chống lại mà sinh khẩn mạch.
⑤ Mạch Trường (长脉)
Hình tượng mạch: Mạch dài, đầu và đuôi mạch vượt quá phạm vi bình thường.
Chủ bệnh: Can dương có thừa, tà khí hỏa nhiệt thịnh.
Mạch lý: Người khỏe mạnh, chính khí đầy đủ, bách mạch thông suốt, khí cơ thăng giáng điều hòa, mạch đến dài mà hòa hoãn. Nếu can dương thịnh, dương khí quá thừa, nội nhiệt, tà khí thịnh, tràn ngập mạch đạo, cộng thêm chính tà giao tranh, mạch đến dài mà cứng, hoặc kèm các loại mạch khác — là bệnh mạch.
(7) Tổng hợp các loại Tương kiêm mạch (相兼脉) và Chủ bệnh
Tương kiêm mạch là chỉ mạch tượng đồng thời xuất hiện từ hai loại mạch trở lên.
Từ thời Từ Linh Thai (徐灵胎) đã gọi là “Hợp mạch” (合脉), chia làm: Nhị hợp mạch. Tam hợp mạch. Tứ hợp mạch
Chủ bệnh của các mạch tương kiêm thường là tổng hợp các bệnh chủ của từng mạch. Ví dụ: Phù chủ biểu Sác chủ nhiệt,Phù Sác → chủ biểu nhiệt
Dưới đây là các mạch tương kiêm thường gặp và chủ bệnh:
| Tương kiêm mạch | Chủ bệnh |
| ——————- | ——————————— |
| Phù Khẩn (浮紧) | Biểu hàn, phong tý |
| Phù Hoãn (浮缓) | Thương hàn biểu hư |
| Phù Sác (浮数) | Biểu nhiệt |
| Phù Hoạt (浮滑) | Phong đàm, biểu chứng kiêm đàm |
| Trầm Trì (沉迟) | Lý hàn |
| Huyền Sác (弦数) | Can nhiệt, can hỏa |
| Hoạt Sác (滑数) | Đàm nhiệt, nội nhiệt, thực tích |
| Hồng Sác (洪数) | Khí phần nhiệt thịnh |
| Trầm Huyền (沉弦) | Can uất khí trệ, thủy ẩm nội đình |
Chủ bệnh: Huyết ứ.
Chủ bệnh: Can thận âm hư, can uất tỳ hư.
Chủ bệnh: Tỳ hư, thủy thấp đình lưu.
Chủ bệnh: Âm hư, huyết hư.
Chủ bệnh: Can hỏa kèm đàm, đàm hỏa nội uẩn.
Chủ bệnh: Âm hư, huyết hư có nhiệt.
Chủ bệnh: Đau do hàn, hàn ứ can mạch.
(7) Bắt mạch ở trẻ em
Việc bắt mạch ở trẻ em khác với người lớn, vì vị trí thốn khẩu ở trẻ nhỏ hẹp, khó chia làm ba bộ Thốn – Quan – Xích.
Ngoài ra, khi khám bệnh, trẻ dễ hoảng sợ và khóc, mà hoảng sợ thì khí loạn, khí mạch cũng rối loạn, vì thế rất khó nắm bắt chính xác.
Do đó, các thầy thuốc đời sau thường dùng cách một ngón tay tổng hợp thăm ba bộ:
Phương pháp: Bác sĩ dùng tay trái giữ tay trẻ, tay phải dùng ngón cái ấn lên mạch ở chỗ cao cốt (mỏm trâm quay) sau gan bàn tay của trẻ, ấn theo ba vị trí để đếm số nhịp.
Đối với trẻ trên 4 tuổi: Lấy đường giữa cao cốt làm mốc, dùng một ngón tay lăn sang hai bên để tìm ba bộ mạch.
7 – 8 tuổi: Có thể di chuyển ngón cái để bắt riêng từng bộ mạch.
9 – 10 tuổi trở lên: Có thể bắt mạch theo thứ tự từng bộ Thốn – Quan – Xích.
16 tuổi trở lên: Bắt mạch hoàn toàn theo cách của người lớn.
Chủ bệnh của mạch tượng trẻ em: Dùng các mạch Phù – Trầm – Trì – Sác để định biểu, lý, hàn, nhiệt;
Dùng mạch có lực – vô lực để định hư, thực;
Không đi sâu vào phân biệt đủ 28 loại mạch như người lớn.
Lưu ý thêm: Trẻ nhỏ thận khí chưa đủ, mạch khí chỉ dừng ở trung hậu, nên dù là mạch vốn phù hay vốn trầm, khi ấn sâu thường không thấy.
Nếu ấn sâu mới thấy, phải luận như mạch Lao Thực của người lớn.
(8) Mạch – Chứng thuận nghịch và Tòng – Xá (Theo – bỏ)
Mạch – Chứng thuận nghịch là chỉ sự đánh giá sự tương ứng hay không tương ứng giữa mạch tượng và biểu hiện bệnh lý, để xác định bệnh tình thuận hay nghịch. Thông thường, mạch và chứng tương ứng (mạch chứng phù hợp) là bệnh thuận.
Khi mạch và chứng không tương ứng hoặc trái ngược là bệnh nghịch, mà nghịch thì chủ về nguy hiểm. Nguyên tắc tổng quát:
Nếu là bệnh thực (có tà khí thịnh), thấy mạch Hồng, Sác, Hoạt, Thực là biểu hiện của Mạch – Chứng phù hợp là Thuận, chứng tỏ tà thịnh mà chính khí đủ, có khả năng chống tà.
Ngược lại, nếu bệnh thực mà mạch lại Tế, Vi, Nhược thì thuộc Mạch – Chứng không tương ứng là Nghịch, biểu hiện tà thịnh mà chính hư, dễ khiến tà khí xâm nhập sâu.
Ví dụ khác: Bệnh cấp tính (bạo bệnh): Mạch Phù, Hồng, Sác, Thực → là thuận, phản ánh chính khí đủ sức kháng tà.
Bệnh lâu ngày (cửu bệnh): Mạch Trầm, Vi, Tế, Nhược → là thuận, biểu hiện tà suy chính hồi phục.
Nhưng nếu: Bệnh mới mà thấy Trầm, Vi, Tế, Nhược → nghĩa là chính khí đã suy, là nghịch.Bệnh lâu ngày mà lại thấy Phù, Hồng, Sác, Thực → nghĩa là chính khí đã suy mà tà không lui, cũng là nghịch.
Vì trong lâm sàng có những trường hợp mạch và chứng không tương ứng, nên nhất định trong đó sẽ có một thật một giả:
Hoặc là chứng thật, mạch giả. Hoặc là chứng giả, mạch thật
Vì vậy, khi chẩn bệnh cần phải phân biệt rõ thật – giả của mạch và chứng để quyết định nên tòng (theo) hay xả (bỏ): Hoặc bỏ mạch theo chứng. Hoặc bỏ chứng theo mạch
Bỏ mạch theo chứng (舍脉从症)
Khi chứng là thật, mạch là giả, phải bỏ mạch mà theo chứng. Ví dụ: Người bệnh có các biểu hiện: Bụng trướng đầy Đau bụng, không cho ấn vào. Đại tiện táo kết. Lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, dày, khô cháy. Mạch trì tế (chậm, nhỏ)
Trong trường hợp này: Chứng trạng phản ánh thực nhiệt kết lại trong dạ dày – ruột, là thật. Mạch tượng trì tế là do nhiệt kết ở bên trong làm tắc nghẽn khí huyết, khiến mạch trì tế (chậm nhỏ) và đó là hiện tượng giả. Trường hợp này phải bỏ mạch mà theo chứng.
Bỏ chứng theo mạch (舍症从脉)
Khi chứng là giả, mạch là thật, phải bỏ chứng mà theo mạch.
Ví dụ: Bệnh nhân bị thương hàn, tà nhiệt bế ở trong, xuất hiện triệu chứng: Tứ chi lạnh ngắt nhưng mạch lại hoạt sác (trơn, nhanh)
Trong trường hợp này: Mạch tượng phản ánh chân nhiệt, là thật. Chứng trạng tứ chi lạnh là do nhiệt tà ẩn phục bên trong, chặn âm khí lại bên ngoài nên mới biểu hiện giả hàn — là giả.
Trường hợp này phải bỏ chứng mà theo mạch.
(一) Phương pháp và ý nghĩa của Án chẩn (按诊 — Khám bằng tay)
① Tư thế: Khi ấn chẩn, người bệnh nên nằm hoặc ngồi.
Khi khám vùng ngực và bụng, thường yêu cầu người bệnh nằm ngửa, toàn thân thả lỏng, hai chân duỗi thẳng, hai tay để xuôi theo thân. Thày thuốc đứng bên phải người bệnh, dùng tay phải hoặc cả hai tay để sờ, ấn. Nếu cần khám các khối u trong ổ bụng hoặc kiểm tra mức độ căng cơ bụng, có thể yêu cầu bệnh nhân co đầu gối lại để làm mềm cơ bụng, giúp dễ ấn chẩn.
② Thủ pháp (kỹ thuật):
Các thủ pháp trong án chẩn thường gồm bốn loại: Chạm, Sờ, Đẩy, Ấn. Chạm (触): Dùng ngón tay hoặc lòng bàn tay nhẹ nhàng chạm vào vùng cần khám, như trán, da tứ chi, để cảm nhận nóng – lạnh, ẩm – khô… Sờ (摸): Dùng tay vuốt nhẹ lên vùng cần khám, như chỗ bị sưng, để đánh giá cảm giác tại chỗ, hình dạng, kích thước của khối sưng. Đẩy (推): Dùng tay ấn nhẹ và di chuyển tới lui hoặc sang ngang trên vùng cần khám để kiểm tra mức độ di động của khối sưng và mối liên quan với các tổ chức xung quanh. Ấn (按): Dùng tay ấn xuống trên ngực, bụng hoặc tại vị trí khối sưng để kiểm tra xem có đau khi ấn, xác định hình dạng, độ cứng, mức độ và tính chất của sưng tấy.Trên lâm sàng, các thủ pháp này thường kết hợp sử dụng: Thường bắt đầu từ chạm, sờ, sau đó là đẩy, ấn, Thực hiện từ nhẹ đến mạnh, Từ nông đến sâu, Khám theo từng lớp để nắm bắt rõ ràng tình trạng bệnh lý.
Khi khám, thầy thuốc cần thấu hiểu người bệnh, thao tác phải nhẹ nhàng, tránh động tác đột ngột, mạnh bạo. Vào mùa lạnh, cần làm ấm tay trước khi khám. Nên chạm trước, sau đó mới ấn, Dùng lực từ nhẹ đến mạnh, từ nông đến sâu. Đồng thời, nên nhắc bệnh nhân chủ động phối hợp, phản hồi cảm giác kịp thời. Khi khám phải quan sát nét mặt của người bệnh để nhận biết mức độ đau đớn. Cần khám tỉ mỉ, cẩn thận, không bỏ sót bất kỳ vùng nào liên quan đến bệnh.
Án chẩn là một phần của thiết chẩn, là mắt xích không thể thiếu trong tứ chẩn. Trên cơ sở vọng, văn, vấn, án chẩn giúp khám phá sâu hơn về vị trí và tính chất của bệnh.
Đặc biệt hữu ích trong các bệnh đau ngực, bụng, sưng tấy, đàm ẩm, các khối cục… Nhờ sờ ấn, có thể cung cấp thông tin chẩn đoán và biện chứng cần thiết.
(二) Nội dung của Án chẩn
Án chẩn được áp dụng trong nhiều trường hợp, thường gặp là: án da, án tay chân, án ngực bụng, án huyệt não… Dưới đây là chi tiết:
Mục đích: khám xét tình trạng lạnh – nóng, ẩm – khô, sưng tấy trên bề mặt cơ thể.
Dương khí thịnh thì người nóng. Dương khí suy thì người lạnh
Ngoài việc phân biệt hàn – nhiệt, án da còn giúp xác định hàn nhiệt ở biểu hay lý, hư hay thực: Nếu mới chạm đã rất nóng, nhưng giữ lâu thì giảm bớt là nhiệt ở biểu
Nếu giữ lâu càng nóng, nhiệt từ trong bốc ra là nhiệt ở lý
Da mềm, ấn vào dễ chịu là Hư chứng
Chỗ đau cứng, không cho ấn là Thực chứng
Chạm nhẹ đã đau → Bệnh ở nông
Ấn sâu mới đau → Bệnh ở sâu
Da khô → Chưa ra mồ hôi hoặc thiếu tân dịch
Da teo tóp, khô héo → Tân dịch thiếu nghiêm trọng
Da ẩm → Đã ra mồ hôi hoặc tân dịch chưa tổn thương
Da nhăn nheo, thô ráp như vảy cá (giáp thác) → Tổn thương âm, có huyết khô bên trong
Phân biệt phù thũng và khí thũng: Ấn lõm, buông ra vẫn lõm, không hồi phục ngay là Phù thũng (thủy thũng)
Ấn lõm, buông ra hồi phục ngay là Khí thũng
Phân biệt bệnh thuộc âm hay dương, đã hóa mủ hay chưa:
Sưng cứng, lạnh, không nóng → Hàn chứng
Sưng nóng, đau khi ấn → Nhiệt chứng
Sưng lan rộng, mềm, rễ bằng phẳng → Hư
Sưng cao, rễ chặt, tập trung → Thực
Khối rắn chắc → Chưa hóa mủ
Bờ cứng, chóp mềm → Bên trong chắc chắn có mủ
Đối với áp xe sâu trong cơ, căn cứ vào “ứng tay hay không” để xác định có mủ:
Cách làm: Dùng hai tay đặt hai bên khối sưng, một tay ấn nhẹ – mạnh luân phiên, tay kia giữ yên cảm nhận xem có sóng động hay không. Nếu có sóng động, tức là có mủ Dựa vào độ rộng của sóng, có thể ước lượng lượng mủ nhiều hay ít.
Chủ yếu để thăm dò lạnh – nóng của tay chân, nhằm xác định bệnh lý thuộc hư – thực, biểu – lý, và tiên lượng.
Bệnh mới phát, tay chân đều lạnh → Dương hư, hàn thịnh, thuộc Hàn chứng
Tay chân sợ nóng là Dương thịnh, nhiệt bốc, thuộc Nhiệt chứng
Chẩn đoán ngoại cảm hay nội thương bằng tay chân:
Mu tay – mu chân nóng hơn lòng → Ngoại cảm phát nhiệt
Lòng tay – lòng chân nóng hơn mu → Nội thương phát nhiệt
Phương pháp đối chiếu giữa tay và trán:
Trán nóng hơn tay → Biểu nhiệt
Tay nóng hơn trán → Lý nhiệt
Phép này có giá trị tham khảo.
Trong nhi khoa:Ngón tay lạnh → Chủ kinh quyết. Ngón giữa nóng → Ngoại cảm phong hàn. Chót ngón giữa lạnh → Dấu hiệu sắp phát ban đậu (ma đậu)Khám nhiệt độ tay chân giúp xác định sự tồn tại của dương khí: Nếu dương hư mà tứ chi còn ấm → Dương khí còn, còn khả năng cứu chữa Nếu tứ chi lạnh cứng → Dương khí đã suy kiệt, bệnh nặng, tiên lượng xấu
Phân định các vùng trên ngực – bụng như sau: Phía trên cơ hoành là ngực, Phía dưới cơ hoành là bụng,
Vùng hai bên ngực từ nách đến ngang xương sườn thứ 11 – 12 là hạ sườn (hông sườn), Phía dưới mũi kiếm xương ức gọi là tâm hạ, Vị trí thượng vị tương ứng với vùng thượng bụng, Đại phúc là vùng trên rốn; Tiểu phúc là vùng dưới rốn;Thiếu phúc là hai bên vùng tiểu phúc.
Ấn chẩn vùng ngực – bụng là thao tác có mục đích, dựa vào bệnh trạng mà tiến hành chạm, sờ, ấn, cần thiết thì gõ tại vùng trước ngực, hạ sườn, bụng, nhằm tìm hiểu tổn thương tại chỗ.
Nội dung ấn chẩn vùng ngực – bụng có thể chia thành ba phần: Ấn Hư Lý, Ấn ngực – hạ sườn, Ấn bụng.
(1) Ấn Hư Lý Hư Lý nằm dưới vú bên trái, ngay vị trí tim đập, là nơi các mạch hội tụ. Khám hư lý động giúp nhận biết tình trạng tông khí, sự hư thực của bệnh và tiên lượng cát hung. Người xưa rất coi trọng khám hư lý.
Các tình trạng: Ấn vào có cảm giác đập nhẹ, đều, không gấp → Biểu hiện sức khỏe tốt. Đập yếu, không có lực → Hư, biểu hiện tông khí bên trong suy. Đập mạnh chạm đến áo → Quá mức, dấu hiệu tông khí thoát ra ngoài. Ấn vào bật ngón tay, đập lớn, mạnh mẽ → Dấu hiệu nguy trọng.
Đặc biệt lưu ý nếu gặp ở phụ nữ có thai, sản phụ sau sinh hoặc bệnh lao phổi — cần cảnh giác cao.
Nếu do sợ hãi, tức giận, vận động mạnh mà mạch hư lý tăng, sau nghỉ ngơi lại bình thường → là sinh lý. Nếu không còn động, các mạch khác cũng ngừng → là dấu hiệu tử vong.
Khám hư lý rất quan trọng trong các trường hợp không bắt được mạch ở tay, giúp quyết định sinh – tử.
(2) Ấn ngực – hạ sườn
Trước ngực phồng cao, ấn vào thở gấp (suyễn) → Bệnh phổi.
Hạ sườn ấn vào thấy đầy trướng, đau → Có thể là đàm nhiệt kết tụ hoặc thủy ẩm ứ đọng bên trong.
Gan nằm ở hạ sườn phải, bờ trên ngang xương sườn 5 trên đường trung đòn, bờ dưới ngang bờ dưới khung sườn. Bình thường không sờ thấy gan dưới bờ sườn.
Nếu sờ thấy gan to, mềm hoặc cứng → Thường do khí trệ huyết ứ. Nếu bề mặt gan lồi lõm không đều → Cần cảnh giác với ung thư gan.
Hạ sườn phải đầy, đau, ấn vào cảm giác nóng, không chịu được là áp xe gan (can ung). Nếu bị sốt rét lâu ngày, hạ sườn xuất hiện khối sưng → Gọi là ngược mẫu (khối sưng do sốt rét cũ).
(3) Ấn bụng: Chủ yếu để thăm dò: nóng lạnh, độ mềm – cứng, trướng, khối u, đau khi ấn — để hiệp trợ chẩn đoán và biện chứng.
Phân biệt lạnh – nóng: Thông qua án chẩn vùng bụng, có thể phân biệt các đặc điểm hư thực hàn nhiệt của bệnh. Bụng lạnh, thích được tay ấm xoa thuộc Hư hàn; Bụng nóng, thích chườm mát thuộc Thực nhiệt
Phân biệt đau: Đau, thích được ấn vào thuộc Hư; Đau, không cho ấn thuộc Thực; Ấn vào cảm giác nóng, đau không chịu nổi → Áp xe trong ổ bụng (nội ung)
Phân biệt trướng bụng: Bụng trướng đầy, ấn vào cảm giác chắc, có đau khi ấn, gõ nghe tiếng trầm đục thuộc Thực mãn. Bụng trướng phồng, ấn vào không chắc, không đau, gõ nghe rỗng thuộc Hư trướng (khí trướng)
Phân biệt chướng nặng (báng bụng): Bụng căng lớn như trống là Báng (bành trướng) là bệnh chứng nghiêm trọng, có thể phân thành thuỷ báng và khí báng.
Thuỷ báng: Dùng hai tay đặt hai bên bụng, một tay gõ nhẹ, tay kia cảm nhận sóng — có sóng, ấn vào thấy lõm là biểu hiện của Thủy báng
Khí báng: Gõ như trống, không có sóng, ấn không lõm là biểu hiện của Khí báng
Người béo phì có bụng lớn → Ấn mềm, không có rốn lồi hay dấu hiệu bệnh nặng → Không phải báng bụng.
Phân biệt bĩ mãn (đầy tức vùng trên rốn hoặc thượng vị): Ấn mềm, không đau thuộc Hư.
Ấn cứng, có sức cản, đau nhẹ thuộc Thực; Ấn thấy có hình khối, đầy, đau, khi đẩy nghe tiếng nước róc rách là có thủy ẩm trong dạ dày
Phân biệt khối u: Khám cần xác định kích thước, hình dạng, độ cứng, có đau khi ấn không.
Tích tụ: Tích và tụ là hai khối bệnh khác nhau:
Tích: Đau cố định, sờ thấy khối, không di chuyển — liên quan đến huyết (thực huyết)
Tụ: Đau không cố định, sờ không rõ, khối lúc có lúc không — liên quan đến khí (thực khí)
Đau bụng dưới bên trái, ấn vào thấy nhiều cục rắn là biểu hiện của phân tích tụ ở ruột. Đau bụng dưới bên phải, ấn đau, thấy khối rõ → Áp xe ruột thừa (tràng ung)
Khối giun trong bụng: Án chẩn gồm 3 đặc điểm: 1. Giống như sợi gân, ấn lâu có thể di chuyển; 2. Tinh tế cảm nhận sẽ thấy như giun ngo ngoe dưới tay; 3. Bụng không phẳng, ấn vào có cảm giác nổi lồi, di động không cố định
Là thao tác ấn vào các huyệt vị đặc biệt trên cơ thể để kiểm tra sự thay đổi và phản ứng nhằm suy đoán bệnh lý tạng phủ bên trong.
Các thay đổi ở du huyệt thường là nổi cục, dải gân, hoặc đau khi ấn, nhạy cảm bất thường.
Theo lâm sàng:
Bệnh phổi → Có thể sờ thấy nốt ở Phế du, hoặc đau khi ấn Trung phủ.
Bệnh gan → Đau khi ấn Can du, Kỳ môn.
Bệnh dạ dày → Đau khi ấn Vị du, Túc tam lý.
Viêm ruột thừa → Đau khi ấn Ruột thừa huyệt (Tràng ung lan vĩ huyệt.)
Ngoài ra, có thể dùng ấn thử huyệt vị để hỗ trợ chẩn đoán:
Ví dụ: Đau bụng do giun đường mật, nếu ấn Đởm du hai bên thì đỡ đau, còn do nguyên nhân khác thì không.
Có giá trị hỗ trợ chẩn đoán phân biệt.
Lương y Trường Xuân dịch