Khi hành kinh, trong máu kinh có lẫn các cục máu đông, gọi là “Kinh lai thành khối” (经来成块). Chứng này thường đi kèm với các rối loạn kinh nguyệt khác, cần được chú ý trong lâm sàng, không nên xem xét một cách cô lập.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của hiện tượng kinh đến thành cục thường liên quan đến khí trệ, hàn ngưng, khí hư, huyết nhiệt v.v.
(1) Khí trệ: Khí là tướng soái của huyết, khí hành thì huyết hành, khí trệ thì huyết ứ. Do tình chí uất kết, can khí uất trệ, khí cơ bất lợi nên kinh hành không thông mà thành cục.
(2) Hàn ngưng: “Khí ôn thì huyết hoạt, khí hàn thì huyết kết”, “huyết thụ hàn tắc ngưng kết thành khối”. Ngoại cảm hàn tà, hoặc nội thương do ăn đồ sống lạnh, hoặc thể chất dương hư nội hàn, hàn tà ngưng tụ ở xung nhâm, huyết gặp hàn thì ngưng tụ thành cục khi hành kinh.
(3) Huyết nhiệt: Ngoại cảm nhiệt tà, hoặc ăn nhiều đồ cay nóng, hoặc uống nhiều thuốc ôn cung (ấm tử cung), hoặc do tình chí uất kết, ngũ chí hóa hỏa, nhiệt ẩn ở xung nhâm, huyết bị nhiệt nung đốt mà hành kinh thành cục.
(4) Khí hư: Lao lực quá độ, hoặc bị bệnh lâu ngày làm tổn thương chính khí, khí hư không vận được huyết, huyết hành trì trệ, do đó khi hành kinh huyết ứ mà thành cục.
Làm thế nào dùng thuốc thành phẩm và phương thuốc đơn giản để điều trị kinh đến thành cục?
(1) Thuốc thành phẩm:
① Thất chế hương phụ hoàn, mỗi lần uống 9g, ngày 2 lần (thích hợp với người khí trệ là chính).
② Phụ khoa điều kinh phiến, mỗi lần 4 viên, ngày 3 lần (thích hợp với huyết ứ là chính).
③ Ngải phụ noãn cung hoàn, mỗi lần 6g, ngày 3 lần (thích hợp với hư hàn ngưng trệ).
④ Bát trân ích mẫu hoàn, mỗi lần 6g, ngày 2 lần (thích hợp với khí hư huyết ứ).
⑤ Cố kinh hoàn, mỗi lần 6g, ngày 2 lần (thích hợp với huyết nhiệt).
(2) Phương thuốc đơn giản và hiệu nghiệm:
① Phật thủ, Xuyên khung, Hương phụ mỗi vị 15g. Sắc nước uống mỗi ngày 1 thang (thích hợp với khí trệ huyết ứ).
② Ngải diệp, Quế chi mỗi vị 10g, Kê huyết đằng 15g. Sắc nước uống (thích hợp với hàn ngưng huyết ứ).
③ Hoàng kỳ 30g, Kê huyết đằng 15g. Sắc nước uống (thích hợp với khí hư huyết ứ).
④ Đại hoàng 6g, Hoàng cầm, Đan bì, Ngũ linh chi mỗi vị 10g. Sắc nước uống (thích hợp với huyết ứ do nhiệt đốt).
⑤ Đương quy 30g, Hồng hoa, Xuyên khung, Nguyệt quý hoa mỗi vị 15g. Tán thành bột mịn, cất vào lọ. Mỗi lần lấy 6g bột, hòa với nước ấm thành hồ, đắp lên rốn, bên ngoài phủ gạc, thay thuốc cách ngày một lần, bắt đầu dùng từ 3 ngày trước khi hành kinh đến khi sạch kinh (thích hợp cho mọi thể huyết ứ).
(3) Liệu pháp ăn uống:
① Ngải diệp, Ích mẫu thảo mỗi vị 30g, Sinh khương 15g, trứng gà 6 quả. Cho tất cả vào nồi nấu với nước, khi trứng chín bóc vỏ, nấu tiếp 30 phút. Sáng tối mỗi lần ăn một ít nước, kèm 1 quả trứng.
② Ích mẫu thảo, Đường đỏ mỗi vị 30g, Rượu vàng 500ml. Nấu sôi 20 phút rồi lọc bỏ bã, mỗi lần uống 30ml, sáng tối mỗi ngày uống 1 lần (thích hợp với hàn ngưng huyết ứ).
③ Hoàng kỳ 30g, Đương quy 10g, Thịt dê 100g. Nấu chín, nêm gia vị, ăn thịt uống canh (thích hợp với khí huyết đều hư).
④ Hương phụ 50g giã nát, cho vào Rượu vàng 500ml, nấu 30 phút, bỏ bã, mỗi lần uống 30ml, ngày 2 lần (thích hợp với khí trệ huyết ứ).
⑤ Cần tây, Kim châm mỗi vị 30g, nấu canh uống, mỗi ngày 1 lần.
⑥ Sinh địa tươi 60g, Gạo tẻ 100g, nấu cháo ăn (thích hợp với huyết nhiệt).
Tư vấn liên quan:
Nữ, 23 tuổi, Thượng Hải:
Kính gửi bác sĩ, tháng trước tôi có quan hệ với chồng trong kỳ kinh nguyệt, nhưng đã dùng bao cao su. Tuy nhiên tháng này khi có kinh, tôi thấy kinh toàn là máu đen, có cục to nhỏ khác nhau, không đau, xin hỏi tôi có bị bệnh gì không? Mong bác sĩ trả lời sớm.
Trả lời: Nếu chỉ xảy ra một lần thì chưa coi là bất thường. Nếu kèm theo khó chịu, bạn có thể uống Ích mẫu thảo cao trong kỳ kinh. Nếu triệu chứng nặng nên đến bệnh viện khám. (GS Lý Đại Lâm)
KINH NHƯ MÀNG BÒ (經如牛膜)
Khi hành kinh, trong máu kinh có màng giống như màng bò, gọi là “kinh như ngưu mạc” (经如牛膜) kinh như màng bò. Y học hiện đại gọi là “thống kinh dạng màng”, tức là chứng bệnh mà niêm mạc tử cung bong ra nhưng không vỡ vụn, thường gặp ở thiếu nữ tuổi dậy thì, sau khi kết hôn thường kèm theo vô sinh. Cần phân biệt với các cục máu trong kinh nguyệt.
Căn nguyên: gốc bệnh là thận khí bất túc, âm dương thất điều, khí hóa bất lợi; biểu hiện là huyết ứ trở trệ. Nguyên nhân thường do khí uất và hàn ngưng ở xung nhâm.
(1) Khí trệ huyết ứ: Tình chí u uất, can khí uất kết, khí cơ xung nhâm bất lợi, huyết hành không thông, niêm mạc tử cung không vỡ vụn được, hình thành chứng bệnh này.
(2) Hàn ngưng xung nhâm: Trong kỳ kinh hoặc sau sinh không giữ gìn cẩn thận, hoặc dầm mưa, ngâm nước, hoặc ở nơi lạnh ẩm lâu ngày, hàn tà thừa hư mà xâm nhập, dương khí bị ngăn trở, tử cung mất sự sưởi ấm, khí huyết vận hành không thông, niêm mạc tử cung không vỡ vụn được, do đó phát bệnh.
(3) Tỳ thận dương hư: “Sự vận hành của huyết trên dưới hoàn toàn dựa vào tỳ”, “xung nhâm, huyết hải đều do dương minh chủ quản”. Thận dương là gốc của toàn thân dương khí, mọi hoạt động chức năng của cơ thể – bao gồm sự bong tróc của nội mạc tử cung – đều nhờ thận dương thúc đẩy. Khi tỳ thận dương hư, âm hàn nội thịnh, bào cung mất sự ôn ấm, âm kết không hóa, dẫn đến niêm mạc tử cung bong ra thành mảng lớn.
Các phương pháp điều trị đơn giản chứng kinh như màng bò
(1) Phương thuốc đơn giản và hiệu nghiệm
① Huyết kiệt (uống sống) 3g, Bồ hoàng (gói), Nguyên hồ, Sơn tra, Xuyên liên tử mỗi vị 9g, Liễu ký nữ, Ngũ linh chi (gói) mỗi vị 12g, Sài hồ, Thanh bì mỗi vị 6g. Sắc uống, bắt đầu dùng trước kỳ kinh 7 ngày, liên tục 7–10 thang, dùng trong 3 chu kỳ kinh nguyệt. Nếu kinh ra nhiều thì bỏ Sài hồ, Xuyên liên tử, thêm thán Khương, Đại hoàng thán, Tam thất mạt tùy tình hình; nếu kinh ít thì bỏ Thanh bì, Sơn tra, thêm Tam lăng, Nga truật, Nhũ hương, Một dược đã chế.
Chú thích: Đây là phương thuốc kinh nghiệm của Chu Nam Tôn, hiệu quả tốt, thích hợp với nhiều thể bệnh khác nhau.
② Bồ hoàng, Ngũ linh chi, Tam lăng, Nga truật, Nhũ hương, Một dược, Tam thất mỗi vị 10g, Sơn tra, Thanh bì, Nguyên hồ mỗi vị 12g, Huyết kiệt (uống sống) 2g. Sắc uống, mỗi ngày một thang (thích hợp với khí trệ huyết ứ).
③ Dâm dương hoắc, Tiên mao, Kê huyết đằng, Hương phụ, Nguyên hồ mỗi vị 12g, Tam lăng, Nga truật mỗi vị 9g, Phụ tử 6g. Sắc uống, mỗi ngày một thang (thích hợp với tỳ thận dương hư kiêm hàn ngưng xung nhâm).
④ Nhục quế 15g, Ngô thù du, Tiểu hồi hương mỗi vị 30g. Tán mịn, đựng trong lọ. Mỗi lần lấy 20g, sao nóng, đắp lên rốn, phủ gạc cố định bằng băng keo, thay thuốc mỗi 24 giờ, bắt đầu dùng trước kỳ kinh 3 ngày, liên tục 3 ngày (thích hợp với hàn ngưng và khí trệ).
(2) Liệu pháp ăn uống
① Rượu nấu trứng: Trứng gà 6 quả, bã rượu 50g, Hương phụ, Đào nhân, Xuyên khung mỗi vị 12g, bọc trong vải. Trứng gà luộc chín, bóc vỏ, cho vào nồi cùng với túi thuốc, đổ nước vừa đủ, đun nhỏ lửa 1 giờ. Trước kỳ kinh ăn mỗi sáng tối 1 quả trứng, uống nước thuốc, dùng liên tục 3 ngày.
② Ích mẫu thảo, Nguyên hồ mỗi vị 30g, nấu trứng gà ăn (thích hợp với khí trệ huyết ứ).
③ Hồng hoa, Đương quy, Xuyên khung, Hắc hồ tiêu mỗi vị 10g, Ích mẫu thảo 60g, rượu vàng 1000ml. Đun sôi vài lần rồi lọc bỏ bã, mỗi lần uống 25ml, ngày 3 lần (thích hợp với hàn ngưng huyết ứ).
④ Đương quy, Quế bì, Sinh khương mỗi vị 15g, thịt dê 200g. Hầm chín, ăn thịt uống nước (thích hợp với hàn ngưng huyết ứ kiêm huyết hư).
⑤ Quế bì 6g, Tiểu hồi hương, Sơn tra, Sinh khương mỗi vị 10g, Đường đỏ 50g. Sắc nước uống thay trà.
⑥ Ngải diệp 20g, sắc lấy 150ml nước, cho thêm Đường đỏ 50g, uống ấm. Dùng mỗi ngày 1 thang trước và trong kỳ kinh, liên tục 5–7 ngày (thích hợp với hàn ngưng xung nhâm).
(3) Châm cứu
① Huyệt thể: Quan nguyên, Mệnh môn, Thận du, Tỳ du, Túc tam lý, Huyết hải, Khí hải, Trung cực, Thiên khu, Thái xung. Mỗi lần chọn 3–4 huyệt để châm cứu, hoặc kết hợp cứu ngải.
② Huyệt tai: Tử cung, Nội phân tiết, Vỏ não dưới, Can, Tỳ, Thận, Bụng. Mỗi lần chọn 2–3 huyệt để châm cứu hoặc dùng phương pháp chôn kim.
KINH CHẤT LOÃNG NHẠT (經質清稀)
Khi hành kinh, máu kinh loãng và nhạt, gọi là “kinh chất thanh hy” (经质清稀) chất kinh trong loãng. Chứng này phần nhiều do thể hư hàn gây ra, chủ yếu có các thể bệnh như huyết hư, khí hư, hàn thấp ngưng trệ, tỳ thận dương hư, can thận tinh tổn… Có thể lựa chọn các phương thuốc sau:
(1) Thuốc thành phẩm:
① Tứ quân tử hoàn, mỗi lần 6g, ngày 3 lần (thích hợp với khí hư).
② A giao cao, mỗi lần 15g, ngày 3 lần (thích hợp với huyết hư).
③ Nhân sâm quy tỳ hoàn, mỗi lần 9g, ngày 2 lần (thích hợp với khí huyết đều hư).
④ Lục vị địa hoàng hoàn, mỗi lần 9g, ngày 2 lần (thích hợp với can thận bất túc).
⑤ Kim quỹ thận khí hoàn, mỗi lần 6g, ngày 3 lần (thích hợp với thận dương bất túc).
⑥ Sâm nhung đại bổ hoàn, mỗi lần 6g, ngày 3 lần (thích hợp với tỳ thận dương hư).
⑦ Nữ bảo, mỗi lần 4 viên, ngày 3 lần (thích hợp với huyết hư hàn ngưng).
(2) Phương thuốc đơn giản và hiệu nghiệm:
① Kê huyết đằng, Thục địa mỗi vị 30g. Sắc nước uống, mỗi ngày một thang (thích hợp với huyết hư là chính).
② Hoàng kỳ 30g, Đảng sâm, Bạch truật mỗi vị 12g, Kinh giới tuệ 6g. Sắc uống (thích hợp với khí hư và kinh nhiều).
③ Hoàng kỳ 30g, Đương quy, Kê huyết đằng mỗi vị 10g. Sắc uống (thích hợp với khí huyết đều hư).
④ Kỷ tử 30g, Thục địa 24g, Phúc bồn tử, Nhục thung dung mỗi vị 10g. Sắc nước uống (thích hợp với thận hư tinh tổn).
⑤ Hoàng kỳ 30g, Tục đoạn, Bổ cốt chỉ mỗi vị 12g, Quế chi, Bạch thược mỗi vị 10g. Sắc uống (thích hợp với tỳ thận dương hư).
⑥ Quế chi, Thương truật, Bạch truật mỗi vị 10g, Xuyên khung, Trần bì mỗi vị 6g. Sắc nước uống (thích hợp với hàn thấp ngưng trệ).
(3) Liệu pháp ăn uống
① Đương quy 10g, Kỷ tử 20g, thịt dê 100g. Hầm thành canh dùng.
② Hồ đào nhục, đậu đen mỗi vị 30g, thêm lượng vừa đủ đường đỏ. Nấu chín rồi ăn (phương này thích hợp với thể thận hư).
③ Hoàng kỳ, Đương quy mỗi vị 10g, thịt dê 100g. Hầm thành canh dùng (thích hợp với thể khí huyết đều hư).
④ Ngải diệp, Ích mẫu thảo mỗi vị 30g. Nấu cùng trứng gà ăn.
⑤ Quế bì, Sơn tra mỗi vị 10g, thêm lượng vừa đủ đường đỏ. Sắc nước uống thay trà (phương này thích hợp với thể hàn thấp ngưng trệ).
⑥ Đảng sâm, Tiên mao, Bổ cốt chỉ mỗi vị 30g, rượu vàng 1000ml. Đun sôi vài lần rồi lọc bỏ bã, mỗi lần uống 30ml, ngày 2 lần (thích hợp với thể tỳ thận dương hư).
⑦ Nhân sâm 10g, Kỷ tử 30g. Hãm uống thay trà (thích hợp với thể khí huyết hư kiêm thận tinh khuy tổn).
KINH CHẤT ĐẶC DÍNH
Khi hành kinh, huyết kinh đặc sánh hoặc nhớt dính, gọi là “kinh chất đặc dính”. Chứng này cần phân biệt với “kinh đến có cục máu” và “kinh như màng bò”. Bệnh này thường liên quan mật thiết đến tà nhiệt và đàm thấp.
(1) Nhiệt uất ở xung nhâm: Thể chất dương thịnh hoặc ăn nhiều đồ cay nóng khiến dương nhiệt uất lại ở xung nhâm, nung nấu huyết kinh dẫn đến kinh chất đặc dính.
(2) Can uất hóa hỏa: Tình chí không thông, khí cơ uất trệ, lâu ngày hóa hỏa, làm tổn âm huyết khiến huyết đặc dính.
(3) Tâm thận hỏa vượng: Lao tâm quá độ làm tổn tâm âm, tâm hỏa thiên thịnh; hoặc phòng sự quá độ làm hao tổn thận tinh, âm hư hỏa động, tâm thận đồng động, huyết bị hỏa nung nên đặc dính.
(4) Thấp nhiệt uất kết: Ăn uống mệt nhọc làm tổn thương tỳ vị, tỳ mất kiện vận khiến thủy thấp nội đình lâu ngày hóa nhiệt; hoặc vốn ưa béo ngọt sinh thấp nhiệt; hoặc ngoại cảm thấp nhiệt tà uất lại bào cung, kết hợp với huyết gây nên kinh đặc dính.
(5) Đàm thấp hạ chú: Tỳ hư thấp tụ gây trệ tắc kinh mạch, hóa thành đàm trọc, không thông với xung nhâm, giao kết với huyết dẫn đến kinh đặc dính.
(6) Ứ nhiệt kết trong: Kỳ kinh hoặc hậu sản cảm phải nhiệt tà, hoặc can uất huyết trệ lâu ngày hóa nhiệt; hoặc vốn có huyết ứ, ngày càng tích nhiệt, ứ nhiệt uất tại bào cung gây nên kinh chất đặc dính.
Các phương thuốc điều trị kinh chất đặc dính
(1) Thuốc thành phẩm:
① Tri bá địa hoàng hoàn: mỗi lần 9g, ngày 3 lần (thích hợp với âm hư hỏa vượng).
② Long đởm tả can hoàn: mỗi lần 6g, ngày 3 lần (thích hợp với thể hạ tiêu thấp nhiệt hoặc can hỏa vượng).
③ Thất chế hương phụ hoàn: mỗi lần 9g, ngày 3 lần (thích hợp với khí huyết ứ trệ).
④ Đan chi tiêu dao hoàn: mỗi lần 6g, ngày 3 lần (thích hợp với thể can uất hóa nhiệt).
⑤ Tam hoàng hoàn: mỗi lần 9g, ngày 2 lần (thích hợp với thể nhiệt uất xung nhâm).
⑥ Nhị diệu hoàn: mỗi lần 9g, ngày 3 lần (thích hợp với thể hạ tiêu thấp nhiệt).
⑦ Nhị trần hoàn: mỗi lần 6g, ngày 3 lần (thích hợp với thể đàm thấp hạ chú).
(2) Phương đơn giản và hiệu nghiệm:
① Đại hoàng 6g, Sinh địa 15g, Xuyên khung 10g. Sắc nước uống, mỗi ngày một thang (thích hợp với thể ứ nhiệt kết trong).
② Xuyên liên tử, Thanh trần bì mỗi vị 10g, Đan bì, Xuyên khung, Trùng vĩ tử mỗi vị 10g. Sắc nước uống (thích hợp với thể can uất hóa nhiệt).
③ Thương truật, Bạch truật mỗi vị 12g, Ý dĩ nhân 15g, Hoàng bá, Xuyên ngưu tất mỗi vị 10g. Sắc nước uống (thích hợp với thể thấp nhiệt hạ chú).
④ Thương truật, Bạch truật, Xuyên khung, Trần bì mỗi vị 12g, Ý dĩ nhân 30g. Sắc nước uống (thích hợp với thể đàm thấp hạ chú).
⑤ Trúc diệp, Sinh địa mỗi vị 15g, Xích thược, Đan bì mỗi vị 12g, Tri mẫu, Hoàng bá mỗi vị 10g. Sắc nước uống, mỗi ngày một thang (thích hợp với đàm thấp trệ trở).
⑥ Mộc thông, Hoàng bá mỗi vị 10g, Đan bì, Huyền sâm, Xuyên ngưu tất mỗi vị 12g. Sắc nước uống (thích hợp với nhiệt uất xung nhâm).
(3) Liệu pháp ăn uống:
① Cần khô 50g, đường phèn 30g. Sắc nước uống thay trà (thích hợp với thể nhiệt uất xung nhâm).
② Kim châm thái 50g, Sơn tra sống, Đường trắng mỗi vị 30g. Nấu canh ăn (thích hợp với thể ứ nhiệt kết trong).
③ Vỏ quýt tươi 30g. Hãm uống thay trà.
④ Ý dĩ nhân sống, Khiếm thực, Hoài sơn mỗi vị 30g, Gạo tẻ 100g. Nấu cháo ăn (các phương trên thích hợp với thể đàm thấp trệ trở).
⑤ Một con ba ba, Sinh địa 30g. Nấu chín ăn (thích hợp với thể âm hư hỏa vượng).
⑥ Huyền sâm, Đan bì mỗi vị 15g, Đường trắng 30g. Hãm uống thay trà.
⑦ Thiên môn đông, Mạch môn đông mỗi vị 30g, Sinh địa tươi 60g, Gạo tẻ 100g. Nấu cháo ăn.
⑧ Mã xỉ hiện tươi 250g, trứng gà 2 quả. Giã nát Mã xỉ hiện lấy nước, thêm lượng nước nguội vừa đủ, đun sôi rồi đập trứng vào nấu chín, thêm ít gia vị rồi ăn (thích hợp với thể nhiệt thịnh rõ rệt, kinh nguyệt nhiều).
Ly Trường Xuân dịch