Viêm cột sống tăng sinh (còn gọi là “viêm cột sống phì đại”, “viêm cột sống người già” hoặc “gai cột sống thắt lưng”) là một dạng viêm xương khớp do quá trình lão hóa và nhiều yếu tố khác gây ra, đặc trưng bởi sự thoái hóa sụn khớp đốt sống và hiện tượng tăng sinh xương ở đốt sống. Bệnh thường gặp ở người trung niên và cao tuổi, nam nhiều hơn nữ; người béo, người lao động nặng dùng lưng thường xuyên và vận động viên dễ phát bệnh sớm. Vì đây là một bệnh viêm khớp mạn tính, nên giai đoạn đầu thường không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt, chỉ một số ít bệnh nhân có thể thấy đau mỏi thắt lưng, lưng hoặc cảm giác cứng khi vận động. Ở giai đoạn muộn, cùng với sự tiến triển của bệnh và hình thành gai xương, có thể xuất hiện một loạt triệu chứng mà chủ yếu là đau vùng thắt lưng. Trong y học cổ truyền (YHCT), bệnh này thuộc phạm vi các chứng “cốt tý” (骨痹), “cốt vưu bệnh” (骨疣病), “yêu thống” (腰痛), “yêu tích thống” (腰脊痛) v.v.
Tham khảo tư liệu:
Viêm đốt sống tăng sinh
Triệu chứng:
Không có tiền sử chấn thương rõ ràng, bệnh diễn tiến dần với đau thắt lưng và lưng. Giai đoạn đầu chỉ cảm thấy mỏi lưng, vận động không linh hoạt, buổi sáng khi thức dậy hoặc sau khi ngồi lâu đứng dậy hoặc cúi lưng làm việc xong thì vùng thắt lưng cứng và đau, vận động một lúc sẽ giảm hoặc hết. Mỗi khi lao lực hoặc bị phong hàn, đau thắt lưng sẽ nặng hơn, đôi khi cơn đau lan sang mông và đùi, cột sống vận động hạn chế. Có lúc ấn nhẹ vào các mỏm gai ở thắt lưng thấy đau, vùng cạnh sống có điểm ấn đau, hai bên cơ thắt lưng căng cứng, dọc theo đường đi của thần kinh mông trên và thần kinh tọa cũng có thể có điểm đau, thậm chí xuất hiện cơn đau thần kinh.
Y học cổ truyền cho rằng viêm cột sống tăng sinh phát sinh như thế nào?
“Số Vấn – Lục Nguyên Chính Kỷ Đại Luận” (《素问·六元正纪大论》) viết: “Phong thấp tương bác, vũ nãi hậu, dân bệnh huyết dật, cân lạc câu cường, quan tiết bất lợi, thân trọng cân nuy… Cảm nhiễm hàn, tắc bệnh nhân quan tiết cấm cố, yêu chùy thống” (ý nói: phong – thấp xâm nhập, gặp mưa thì bệnh càng nặng, khiến dân gian bị ứ huyết, gân mạch co cứng, khớp không linh hoạt, cơ thể nặng nề, gân yếu… Nhiễm lạnh thì khớp bị hạn chế, đau thắt lưng). Trong “Đan Khê Tâm Pháp – Yêu Thống Phụ Lục” (《丹溪心法·腰痛附录》) có câu: “Thận khí nhất hư, phàm trung hàn, thụ thấp, thương lãnh, súc nhiệt, huyết sáp, khí trệ, thủy tích, đà thương, dữ thất chí tác lao, chủng chủng yêu thống, điệt kiến nhi tầng xuất hĩ.” (Ý nói: khi thận khí đã hư, hễ bị lạnh, nhiễm thấp, thương tổn bởi hàn, tích nhiệt, huyết bị sáp trở, khí trệ, ứ nước, chấn thương, hoặc do hao tổn tinh thần… thì đều có thể gây đau thắt lưng; nhiều nguyên nhân đau thắt lưng lần lượt phát sinh.) Bệnh này có nhiều nguyên nhân, nhưng phần lớn cho rằng gốc bệnh là can thận hư, kèm theo phong, hàn, thấp, ứ là ngọn. Thuộc loại “bản hư tiêu thực”, hư và ứ xen lẫn nhau, lâu ngày khiến xương mất sự nuôi dưỡng.
1/ Can thận bất túc (gan thận hư yếu):
YHCT quan niệm “can chủ cân, thận chủ cốt”, “thận tàng tinh”, “tinh sinh tủy, tủy nuôi xương”. Gân (cân) có chức năng gắn kết xương, duy trì hoạt động của khớp, xương có thể sinh gân và sinh tủy, là bộ khung của cơ thể. Gân dẻo dai linh hoạt, xương phát triển vững chắc đều nhờ vào sự nuôi dưỡng và thúc đẩy của can huyết và thận tinh. Khi can thận đầy đủ, gân xương khỏe, khớp trơn tru, vận động linh hoạt. Sau tuổi trung niên, thể lực suy giảm, tinh huyết hao hụt, hoặc do bệnh lâu ngày, hoặc sinh hoạt phòng the quá độ… đều khiến can thận hư, tinh huyết không đủ, tủy hải hư tổn, gân xương mất nuôi dưỡng, tổ chức thoái hóa, dẫn đến bệnh.
2/ Ngoại tà xâm phạm (tà khí bên ngoài xâm nhập):
Người già, can thận dần hư, lại thêm sinh hoạt không cẩn thận, bị phong hàn, ngồi/nằm nơi ẩm lạnh, hoặc dầm nước mưa, hoặc ra mồ hôi nhiều mà mặc quần áo ẩm lạnh… đều khiến phong, hàn, thấp xâm nhập kinh lạc, ứ trệ ở gân mạch, khí huyết không thông, gân xương mất nuôi dưỡng mà phát bệnh. Hoặc những tà khí này tiếp tục làm tổn thương can thận, khiến bệnh tình nặng hơn.
3/ Ứ huyết trở lạc (ứ huyết làm tắc mạch):
Tư thế sai lệch kéo dài, lao động mang vác nặng quá mức, hoặc té ngã, va đập, chấn thương thắt lưng khiến khí huyết ứ trệ, mạch lạc bị bế tắc, “bất thông tắc thống” (không thông thì đau). Đúng như “Số Vấn – Sinh Khí Thông Thiên Luận” (《素问·生气通天论》) có viết: “Nhân nhi cường lực, thận khí nãi thương, cao cốt nãi hoại.” (Vì cưỡng lực quá mức nên hại thận khí, xương sẽ tổn thương.)
Y học hiện đại cho rằng viêm cột sống tăng sinh hình thành như thế nào?
Hiện vẫn chưa xác định rõ hoàn toàn nguyên nhân, nhưng nhìn chung liên quan đến thoái hóa đĩa đệm thắt lưng, chấn thương, lao động nặng lâu dài, thường xuyên chịu tải lớn, béo phì ở người già, rối loạn nội tiết… khiến các yếu tố ổn định ở vùng cột sống thắt lưng bị tổn hại. Cơ chế phát bệnh có các điểm chính sau:
1/ Thoái hóa đĩa đệm (退行性变):
Sau tuổi trung niên, đĩa đệm bắt đầu thoái hóa, nhân nhầy dần mất nước, từ trạng thái nửa keo chuyển sang dạng rắn; vòng sợi bị biến đổi (thô, thoái hóa trong suốt) và có chỗ nứt, bản sụn mỏng đi và dần bị xương hóa. Điều này làm giảm tính đàn hồi, khả năng co giãn và vận động của đĩa đệm, khiến cột sống kém linh hoạt.
2/Biến đổi ở thân đốt sống, khớp nhỏ và các bộ phận phụ cận:
Vì đĩa đệm thoái hóa, lực vận động và chịu tải dồn lên khớp sau, làm khớp sau dễ bị quá tải, gây viêm khớp chấn thương. Đồng thời, dây chằng vàng, dây chằng trên gai cũng thoái hóa, dày lên, vôi hóa hoặc cốt hóa, khiến chức năng sinh lý giảm và gây đau.
Bởi cột sống và các bộ phận xung quanh bị thoái hóa, chức năng suy giảm, cộng thêm chấn thương nhẹ hoặc lao lực quá mức, cơ bắp phải gánh nặng nhiều hơn, dẫn đến căng cơ, gây đau và hạn chế vận động. Thoái hóa còn khiến xương tăng sinh, hình thành gai xương (đặc biệt ở bờ sau thân đốt và gai khớp sau), gây hẹp ống sống thoái hóa, kích thích rễ thần kinh cột sống, làm xuất hiện các triệu chứng đau theo dây thần kinh, tê bì…
Nguyên nhân hình thành gai xương (骨刺) chủ yếu do:
Viêm cột sống tăng sinh có những biểu hiện lâm sàng gì?
1/ Tình trạng chung:
Ở người trung niên, bệnh khởi phát từ từ với đau lưng – thắt lưng, không có tiền sử chấn thương rõ rệt, thường chỉ đau âm ỉ, cảm giác lưng mỏi, kém linh hoạt, đôi khi đau âm ỉ khó chịu hoặc cảm giác như bị bó cứng. Sáng sớm thức dậy hoặc sau khi ngồi lâu đứng lên, cảm giác đau khó chịu tăng, nhưng sau khi vận động nhẹ nhàng một lúc có thể giảm bớt hoặc hết. Tuy nhiên, sau khi lao lực quá mức, đau lưng sẽ nặng lên. Đây là đặc điểm khác với một số chứng đau lưng – thắt lưng khác. Bệnh thường nặng hơn vào mùa lạnh, thuyên giảm vào mùa ấm, và có liên quan đến thay đổi thời tiết, khi trời âm u hoặc mưa tuyết thì triệu chứng tăng.
Khi bờ sau thân đốt sống tăng sinh, có thể chèn ép tủy sống và rễ thần kinh, gây đau lan xuống mông, đùi, xuất hiện hội chứng kích thích rễ thần kinh tọa. Độ lớn gai xương không tỷ lệ thuận với triệu chứng: gai rất to nhưng triệu chứng có thể không quá nặng; gai nhỏ cũng có thể gây triệu chứng rõ rệt.
2/ Xét nghiệm cận lâm sàng:
Đa số kết quả xét nghiệm đều bình thường. X-quang cho thấy bờ đốt sống thắt lưng có gai xương, dạng môi (唇形变) hoặc hình thành gai rõ. Khoảng đĩa đệm bị hẹp hoặc không đều, mấu khớp mờ. Chụp CT có thể thấy bờ sau đốt sống tăng sinh xương, dây chằng vàng dày lên…
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm cột sống tăng sinh là gì?
1/ Đau mạn tính vùng thắt lưng, đau thắt lưng – chân, phù hợp đặc điểm đau của bệnh này.
2/ Cột sống thường không có biến dạng rõ. Nếu có trượt đốt sống, đường cong ưỡn trước có thể tăng. Động tác thắt lưng thường không hạn chế nhiều, hoặc chỉ hạn chế nhẹ. Nghiệm pháp nâng chân duỗi (Straight Leg Raising Test) có thể dương tính giả. Nghiệm pháp chèn ép vùng thắt lưng âm tính.
3/ Thường không có điểm đau cố định, hoặc có điểm đau ở cơ thắt lưng hai bên và vùng đốt L3–L5.
4/ X-quang: bờ thân đốt sống thắt lưng có gai xương, dạng môi, hoặc hình thành gai rõ. Khoảng đĩa đệm hẹp, không đều; diện khớp mờ, có thể kèm loãng xương tuổi già.
5/ Chụp CT: thấy bờ sau thân đốt sống tăng sinh xương, dây chằng vàng dày lên…
6/Xét nghiệm thường không có bất thường.
Cần phân biệt viêm cột sống tăng sinh với những bệnh nào?
1/ Viêm cột sống dính khớp (强直性脊柱炎): Cột sống cứng, hạn chế vận động rõ. Thường gặp ở người dưới 40 tuổi. Toàn trạng kém. Tốc độ lắng máu (máu lắng), ASLO (kháng liên cầu khuẩn) trong giai đoạn cấp đều tăng cao. Phim X-quang thể hiện hình ảnh viêm hai bên khớp cùng chậu và hiện tượng “cột sống hình cây tre”, dấu hiệu đặc trưng của viêm cột sống dính khớp.
2/ Thoát vị đĩa đệm thắt lưng (腰椎间盘突出症): Thường ở người trẻ và trung niên. Cột sống vẹo do tránh đau, hạn chế vận động không đối xứng, nghiệm pháp nâng chân duỗi (SLR) dương tính. X-quang có thể thấy mất đường cong ưỡn thắt lưng, đốt sống chỉ thoái hóa nhẹ hoặc không rõ.
3/ Chấn thương – căng cơ vùng thắt lưng (腰部劳损):Có tiền sử chấn thương, đau thắt lưng kéo dài. X-quang không thấy bất thường.
Thuốc Tây thường dùng trong điều trị viêm cột sống tăng sinh là gì?
Điều trị chủ yếu tập trung vào triệu chứng. Khi đau nhiều, có thể dùng thuốc giảm đau hạ sốt hoặc nhóm corticoid.
1/ Indomethacin (消炎痛): Có tác dụng chống viêm, giảm đau, hạ nhiệt. Uống mỗi lần 25 mg, ngày 2–3 lần. Nên uống sau bữa ăn để giảm kích ứng dạ dày. Chống chỉ định hoặc thận trọng với người loét dạ dày. Ngừng thuốc ngay khi triệu chứng thuyên giảm.
2/ Ibuprofen (布洛芬片): Có tác dụng chống viêm, giảm đau, hạ sốt. Uống mỗi lần 0,2–0,4 g, ngày 3–4 lần, tối đa 2,4 g/ngày. Uống cùng bữa ăn. Thận trọng với người suy tim. Nếu sau hai tuần không hiệu quả nên ngừng.
3/ Phenylbutazone (保泰松片): Có tác dụng chống viêm, chống thấp khớp, giảm đau hạ nhiệt. Uống mỗi lần 0,1 g, ngày 3 lần, sau bữa ăn để giảm kích ứng đường tiêu hóa. Chống chỉ định với người phù, bệnh tim, loét dạ dày, tăng huyết áp, viêm gan… Nếu dùng trên 1 tuần nên kiểm tra công thức máu định kỳ, không nên dùng lâu dài.
4/ Prednisolone (强的松片): Giúp hạ nhiệt, chống viêm và giảm nhanh triệu chứng. Uống mỗi lần 5–10 mg, ngày 3 lần. Thận trọng với người tăng huyết áp, bệnh tâm thần, loét dạ dày, đái tháo đường… Không nên dùng dài ngày.
Y học cổ truyền biện chứng luận trị viêm cột sống tăng sinh như thế nào?
1/ Thể can thận bất túc
Chủ chứng: Bệnh thường khởi phát ở người trung niên trở lên, tiến triển chậm. Đau ê ẩm ở vùng thắt lưng, kéo dài không dứt, tê mỏi chân tay hoặc thắt lưng gối mỏi yếu, không đứng lâu đi lâu được, vận động khó, mệt mỏi đau tăng, ban đêm lại đỡ đau, ấn xoa thấy dễ chịu. Có thể kèm hoa mắt chóng mặt, ù tai…
Thiên về dương hư: Sợ lạnh, thích ấm, tay chân lạnh, sắc mặt kém tươi, mệt mỏi, tiểu trong dài, lưỡi nhạt, mạch trầm tế.
Thiên về âm hư: Tâm phiền, mất ngủ, miệng khô họng khát, tay chân nóng, gò má ửng hồng, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Phân tích chủ chứng:
Can chủ cân, thận chủ cốt; thận tàng tinh, tinh sinh tủy nuôi xương. Sau trung niên, thận khí suy, can thận càng thêm hư nếu lao lực quá độ, khiến gân xương không được nuôi dưỡng, sinh đau mỏi, yếu sức. Lao lực tiêu hao khí huyết nên đau tăng; khi nằm nghỉ máu trở về nuôi dưỡng nên đau giảm. Tinh huyết hư không lên nuôi não gây hoa mắt, chóng mặt; dương hư thì mất khả năng ôn ấm cơ thể, sợ lạnh, tay chân lạnh; lưỡi nhạt, mạch trầm tế là dấu hiệu dương hư. Âm hư thì tân dịch giảm, hư hỏa bốc lên gây bứt rứt, mất ngủ, miệng khô, gò má đỏ; lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác là dấu hiệu âm hư có nhiệt.
Trị tắc: Bổ ích can thận, cường gân tráng cốt, dưỡng huyết hoạt huyết.
Phương dược:
Bổ Thận Tráng Cốt Thang (kinh nghiệm phương)
Thành phần (liều thường dùng):Thục địa 15g Sơn thù du 10g Câu kỷ tử 10g Nữ trinh tử 10g Bạch thược 15g Nhục thung dung 15g Hoài ngưu tất 15g Cốt toái bổ 15g (Dùng muối rang) Cẩu tích 15g Đương quy 10g Kê huyết đằng 30g Mộc hương 6g
Giải phương: Bệnh chủ yếu do người già can thận bất túc, tinh huyết hao hư, gân xương mất nuôi dưỡng nên dùng Thục địa, Sơn thù du, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử để tư âm dưỡng huyết, bồi bổ tinh tủy giúp huyết thịnh gân khỏe, tinh dồi dào xương vững. Dùng Cốt toái bổ, Cẩu tích, Nhục thung dung, Bạch thược để dưỡng can bổ tinh, trợ dương, ôn ấm kinh lạc. Hoài ngưu tất, Kê huyết đằng, Đương quy để dưỡng huyết hoạt huyết, bổ can thận, mạnh lưng gối. Kết hợp Mộc hương để lý khí hóa trệ, phòng ngừa tình trạng “bổ mà trệ”, đồng thời giảm đau. Toàn phương có tác dụng bổ can thận, cường gân cốt, dưỡng huyết hoạt huyết.
Nếu thiên về thận dương hư, nên ôn bổ thận dương, dùng Kim Quỹ Thận Khí Hoàn gia thêm Câu kỷ tử, Đỗ trọng, Tiên mao, Thủ ô, Ba kích, Tang ký sinh…
Nếu thiên về thận âm hư, nên tư âm bổ thận, dùng Tri Bá Địa Hoàng Hoàn gia thêm Thiên môn đông, Nữ trinh tử, Huyền sâm, Quy bản, Thủ ô…
(2) Thể phong thấp hàn tý trệ
Chủ chứng: Đau lưng và thắt lưng thường do cảm nhiễm phong – thấp – hàn, khởi phát đột ngột. Vùng thắt lưng, lưng đau ê ẩm kèm cảm giác lạnh, nặng nề, co cứng, khó vận động, ưa nóng sợ lạnh; Đau lúc nặng lúc nhẹ, về đêm và khi trời âm u, mưa dầm thì đau tăng, vận động xong lại giảm đau. Có thể kèm tê bì chân tay. Lưỡi nhạt đỏ, rêu lưỡi mỏng trắng hoặc nhớt, mạch Huyền Hoạt hoặc Phù Khẩn.
Phân tích chủ chứng: “Hàn” có tính thu liễm, “thấp” có tính nặng trệ; ở người già, cơ thể suy yếu, can thận bất túc, tinh tủy hao hư, gân xương không được nuôi dưỡng tốt. Tà phong – thấp – hàn thừa hư xâm nhập, ứ đọng ở kinh lạc vùng lưng, đóng băng ở khớp xương, khí huyết không thông, nên lưng đau lạnh, nặng nề, co cứng, khó vận động xoay trở. Do “thấp” thuộc âm tà, tính dính trệ, ban đêm tà khí càng ứ trệ nên đau không giảm, thậm chí tăng. Khi trời âm u, mưa ẩm, hàn thấp nặng hơn, nên cơn đau càng tăng. Lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng nhớt, mạch Huyền Hoạt… đều là hiện tượng đình tụ của hàn thấp.
Phép trị: Khu phong trừ thấp, tán hàn thông lạc, hoạt huyết chỉ thống.
Bài thuốc: Độc Hoạt Ký Sinh Thang gia giảm.
Thành phần: Độc hoạt 15g, Tang ký sinh 15g, Tần giao 15g, Phòng phong 10g, Xuyên ngưu tất 10g, Đỗ trọng 10g, Đương quy 15g, Xuyên khung 10g, Phục linh 15g, Tế tân 3g, Quế chi 10g, Bạch thược 10g, Uy linh tiên 15g, Cam thảo 6g
Giải phương: Độc hoạt làm quân, trừ phong thấp hàn ở gân cốt.Phối Tế tân để tán phong hàn kinh âm, khử phong thấp ở gân xương, giảm đau. Phòng phong khu phong thắng thấp, Tần giao và Uy linh tiên trừ phong thấp, thư gân. Tang ký sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất vừa trừ phong thấp vừa bổ can thận. Đương quy, Xuyên khung, Bạch thược nuôi dưỡng và hoạt huyết. Phục linh kiện tỳ trừ thấp. Quế chi ôn thông huyết mạch. Cam thảo điều hòa các vị thuốc. Toàn bài đạt hiệu quả “khứ tà phù chính, truy phong khử thấp, bổ can thận, cường gân cốt” và giảm chứng đau tý.
Gia giảm: Nếu đau vùng thắt lưng do lạnh tăng, gia Chế xuyên ô để ôn kinh tán hàn. Nếu đau lưng lan xuống chân, tê bì nhiều, gia Chế một dược, Chế nhũ hương, Thân kinh thảo để thư gân thông lạc, giảm đau.
(3) Thể huyết ứ tý trệ
Chủ chứng: Đau vùng thắt lưng thường do mang vác quá nặng hoặc sai tư thế, trật đả gây chấn thương, khiến đau dữ dội hoặc đau như kim châm, đau cố định, ấn vào đau tăng, gập duỗi khó, ban ngày hơi đỡ, về đêm đau tăng, thậm chí cơn đau lan đến mông và chân kèm tê bì. Lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ huyết, mạch Sáp.
Phân tích chủ chứng: Ở người già, khí huyết đã suy, lại thêm mang vác nặng hoặc sai khớp – trật đả vùng lưng gây ứ huyết làm tắc kinh mạch, khí huyết không thông, “bất thông tắc thống”, vì thế đau dữ dội hoặc như kim châm, có điểm đau cố định, ấn vào đau hơn. Ban đêm thuộc âm, tính ứ trệ của huyết cũng thuộc âm, tương đồng thì ứ trệ càng nhiều, nên đau tăng về đêm. Lưỡi tím sẫm hoặc có ban ứ, mạch Sáp đều biểu thị ứ huyết ứ đọng bên trong.
Phép trị: Hoạt huyết hóa ứ, thông lạc giảm đau, bổ thận tráng cân.
Bài thuốc: Bổ Thận Hoạt Huyết Thang gia giảm.
Thành phần (trình bày theo hàng ngang):
Đương quy 10g, Hồng hoa 10g, Đào nhân 10g, Kê huyết đằng 15g, Xuyên ngưu tất 10g, Thục địa 10g, Câu kỷ tử 6g, Sơn thù du 6g, Đỗ trọng 6g, Phá cố chỉ 10g, Thỏ ty tử 10g, Chế một dược 10g, Độc hoạt 6g
Giải phương: Đương quy, Hồng hoa, Đào nhân, Kê huyết đằng, Ngưu tất: hoạt huyết hóa ứ, thông lạc giảm đau. Thục địa, Câu kỷ tử, Sơn thù du, Đỗ trọng, Phá cố chỉ, Thỏ ty tử: tư âm trợ dương, bổ thận, mạnh gân cốt. Một dược hóa ứ, chỉ thống. Độc hoạt trừ phong thấp, thông lạc.
Toàn bài cùng phát huy tác dụng hoạt huyết hóa ứ, thông lạc chỉ thống, bổ thận cường gân.
Điều trị viêm cột sống tăng sinh có những thuốc Đông y thành phẩm nào?
(1) Hoàn kháng tăng sinh xương (抗骨质增生丸)
Thành phần (组成): Thục địa hoàng, Diêm cẩu tích, Nhục thung dung, Diêm nữ trinh tử, Cốt toái bổ, Ngưu tất, Kê huyết đằng, Dâm dương hoắc, Lai phục tử.
Công hiệu (功效): Bổ can thận, mạnh gân cốt, nuôi huyết hoạt huyết.
Chủ trị (主治): Viêm cột sống tăng sinh thuộc thể can thận hư.
Cách dùng (服法): Uống. Mỗi lần 1~2 hoàn, mỗi ngày 2~3 lần.
(2) Ích thận bổ cốt dịch (益肾补骨液)
Thành phần: Cốt toái bổ, Tự nhiên đồng, Tục đoạn, Câu kỷ tử, Hoàng tinh, Phục linh, Đảng sâm, Đương quy, Thục địa, Trần bì, Bạch tửu v.v…
Công hiệu: Bồi bổ can thận, cường kiện gân xương, bổ khí huyết, hóa ứ giảm đau.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh và gai xương gót chân thuộc thể can thận hư.
Cách dùng: Uống. Mỗi lần 10~20ml, ngày 3 lần.
(3) Cốt thích hoàn (骨刺丸)
Thành phần: Chế Xuyên ô, Chế Thảo ô, Chế Nam tinh, Bạch chỉ, Tỳ giải, Đương quy, Hồng hoa, Xuyên sơn long, Tần giao, Từ trường khanh (tức vị thuốc “徐长卿”), Ý dĩ sao (炒薏米), Cam thảo v.v…
Công hiệu: Sơ phong thắng thấp, xua hàn thông bế, hoạt huyết giảm đau.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh thuộc thể phong thấp hàn tý.
Cách dùng: Uống. Mỗi lần 1 hoàn, ngày uống 2 lần.
(4) Chỉ thống Tử Kim hoàn (止痛紫金丸)
Thành phần: Huyết kiệt, Tự nhiên đồng, Thổ miết trùng, Nhũ hương, Một dược, Cốt toái bổ, Nhi trà, Thục đại hoàng, Hồng hoa, Đương quy, Xích thược, Cam thảo, Đinh hương, Mộc hương.
Công hiệu: Hoạt huyết hóa ứ, thư gân thông lạc.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh thuộc thể khí trệ huyết ứ.
Cách dùng: Uống. Mỗi lần 1~2 hoàn, ngày 2 lần, dùng nước ấm hoặc rượu ấm.
Những bài thuốc dân gian (đơn phương – kinh nghiệm) trị viêm cột sống tăng sinh là gì?
(1) Thận trứ linh hiệu thang (肾著灵效汤)
Thành phần: Bạch truật 15g, Phục linh 24g, Cam thảo 9g, Chế nhũ hương 3g, Chế một dược 3g, Ngô công 3 con, Đào nhân 9g, Hồng hoa 9g, Đương quy 12g, Đan sâm 12g, Thổ miết (con gián đất) 9 con, Cốt toái bổ 12g, Đỗ trọng 9g, Mộc qua 9g, Hoài ngưu tất 12g.
Công hiệu: Kiện tỳ bổ thận, khử ứ thông lạc, thư gân giảm đau.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh.
Dùng cách (用法): Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang.
(2) Cốt chất tăng sinh hoàn (骨质增生丸)
Thành phần: Thục địa hoàng 60g, Kê huyết đằng 45g, Cốt toái bổ 45g, Nhục thung dung 30g, Lộc hàm thảo 30g, Dâm dương hoắc 30g, Lai phục tử 15g.
Công hiệu: Bổ thận hóa ứ.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh thuộc thể thận hư huyết ứ.
Dùng cách: Tán bột, luyện mật thành hoàn, mỗi lần 103 lần.
(3) Miết giáp tán (鳖甲散)
Thành phần: Miết giáp 30g, Đỗ trọng (sao muối) 90g.
Công hiệu: Bổ âm nhuyễn kiên, hỗ trợ can thận.
Chủ trị: Các thể viêm cột sống tăng sinh.
Dùng cách:Miết giáp nướng giòn tán mịn, chia 6 gói; sắc Đỗ trọng lấy nước, sáng tối mỗi lần uống 1 gói bột cùng nước Đỗ trọng.
(4) Hoạt lạc thông tý thang (活络通痹汤)
Thành phần: Độc hoạt, Xuyên tục đoạn, Chế Xuyên ô, Chế Thảo ô, Thục địa đều 15g; Tang ký sinh, Đan sâm, Hoàng kỳ đều 30g; Tế tân 5g; Ngưu tất, Địa long, Ô dược, Cam thảo chích mỗi thứ 10g; Thổ miết 6 con.
Công hiệu: Ôn kinh hoạt lạc, nuôi huyết thông bế, trừ phong giảm đau.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh thể phong thấp hàn tý trệ.
Dùng cách: Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang. (Xuyên Thảo ô phải nấu trước 1 giờ trở lên)
Những loại cao dán ngoài trị viêm cột sống tăng sinh
(1) Cao dán Cốt Tăng Khang (骨增康膏药)
Thành phần và cách bào chế (药物组成及制法): Dùng Đương quy 10g, Hồng hoa 10g, Nhũ hương 10g, Một dược 10g, Tam tiên đan 3g, cùng tán mịn. Thêm nước khuấy thành hồ, đun nhỏ lửa đến khoảng 80℃, rồi thêm ít bột nếp (chất kết dính) trộn đều. Khi nguội đến 403 ngày sẽ hết.
(2) Cốt thích cao (骨刺膏)
Thành phần và cách bào chế: Gồm Xuyên ô, Thảo ô, Độc hoạt, Uy linh tiên, Ngũ gia bì, Xích thược, Nhũ hương, Hạt Kha tử, Bạch chỉ, Bạch giới tử, A giao, Cốt toái bổ, Phòng phong, Hoa tiêu… Chế thành cao theo phương pháp sẵn có.
Công hiệu: Trừ phong – thấp, ôn kinh tán hàn, hóa đàm giảm ứ, khai thông kinh lạc.
Chủ trị: Tăng sinh xương ở nhiều vùng.
Dùng cách: Tùy vị trí đau, mỗi lần dán 1~4 miếng, thay 1 lần/tuần.
(3) Bổ Cốt Cao (补骨膏)
Thành phần và cách bào chế: Bổ cốt chỉ 30g, Chỉ xác 30g, Thanh bì 30g, Xuyên luyện tử 30g, Đại phong tử 30g, Xích thạch chi 30g, Tằm khô 30g, Xích thược 30g, Quế nhục 30g, Thiên ma 30g, Tiểu hồi 30g, Xà sàng tử 30g, Cam thảo 30g, Ô dược 30g, Ngưu tất 30g, Khương hoạt 30g, Hoàng bá 30g, Uy linh tiên 30g, Xuyên ô sống 30g, Đương quy 30g, Mộc hương 30g, Tế tân 30g, Tục đoạn 30g, Thỏ ty tử 30g, Bạch liễm 30g, Đào nhân 30g, Phụ tử sống 30g, Xuyên khung 30g, Thảo ô sống 30g, Đỗ trọng sống 30g, Viễn chí 30g, Xuyên sơn giáp 30g, Hương phụ 30g, Bạch truật 30g, Trần bì 30g, Thanh phong đằng 30g. Dùng 7500ml dầu (thường là dầu vừng) chiên tới khô, bỏ bã, rồi cho 3120g “Chì đỏ” (漳丹) luyện sôi thành cao.
Công hiệu: Bổ thận tráng xương, ôn kinh tán hàn, hoạt huyết giảm đau.
Chủ trị: Bệnh do thận hư, phong – hàn – thấp xâm nhập gây đau lưng.
Dùng cách: Khi dùng, lấy riêng Khinh phấn, Nhi trà, Đinh hương, Long não, Nhũ hương, Một dược, Huyết kiệt (mỗi loại 15g, gộp 105g) tán mịn, trộn vào 7500g cao, quấy đều, bôi lên vùng đau, dán cố định.
(4) Nhị Bì Cao (二皮膏)
Thành phần và cách bào chế: Trần bì 30g, Thanh bì 30g, Thiên ma 30g, Cam thảo 30g, Khương hoạt 30g, Uy linh tiên 30g, Ô dược 30g, Hoàng bá 30g, Tục đoạn 30g, Xích thược 30g, Đương quy 30g, Xuyên khung 30g, Bạch liễm 30g, Tế tân 30g, Chỉ xác sống 30g, Đại phong tử 30g, Đỗ trọng sống 30g, Phụ tử sống 30g, Quảng mộc hương 30g, Khương tàm sống 30g, Tiểu hồi sống 30g, Xuyên khung sống 30g, Thảo ô sống 30g, Đào nhân sống 30g, Viễn chí sống 30g, Xuyên sơn giáp sống 30g, Thanh phong đằng 30g, Xà sàng tử 30g, Hoài ngưu tất 30g, Thỏ ty tử 30g, Hương phụ sống 30g, Bạch truật sống 30g, Xuyên luyện tử sống 30g, Xuyên liên tử sống 30g, 7500ml dầu vừng, 2700g “Chì đỏ” (漳丹). Nấu thành cao theo phép thường.
Tác dụng (功能): Khu phong tán hàn, hóa ứ giảm đau.
Chủ trị: Do phong hàn gây đau lưng, đầy chướng bụng.
Dùng cách: Mỗi nồi 7500ml cao, thêm 30g bột Quế nhục, rồi Long não, Huyết kiệt, Nhi trà, Một dược, Nhũ hương, Đinh hương (mỗi thứ 15g) tán mịn, trộn đều, phết lên vải, dán vùng đau.
(5) Quỳnh Hoa Cao (琼花膏)
Thành phần và cách bào chế: Vỏ rễ Náo dương hoa 45g, Ngũ gia bì 60g, Thân Đương quy 60g, Uy linh tiên 30g, Phòng phong 45g, Kinh giới 45g, Huyền sâm 45g, Thiên hoa phấn 45g, Cam thảo 30g. Ngâm sắc với 1500ml dầu (thường là dầu mè), rồi thêm bột chì, luyện thành cao, để bớt độc 7 ngày thì dùng.
Công hiệu: Khu phong trừ thấp, giảm đau.
Chủ trị: Phù hợp trường hợp bệnh kèm phong – thấp xâm nhập gây đau cột sống thắt lưng.
Dùng cách: Lấy một lượng cao vừa đủ, phết lên vải, dán vùng đau.
(6) Hải Mã Truy Phong Cao (海马追风膏)
Thành phần: Hải mã 360g, Xuyên sơn giáp 30g, Đỗ trọng 30g, Địa phu tử 30g, Hoài ngưu tất 30g, Đương quy 30g, Xích thược 30g, Liên kiều 30g, Thiên hoa phấn 30g, Quảng mộc hương 30g, Tùng hương 30g, Truy phong thảo 30g, Bạc hà 30g, Vân phục linh 30g, Thổ phục linh 30g, Mộc thông 30g, Ma hoàng 30g, 500g “Chì đỏ” (漳丹), 1000ml dầu mè. Dùng chảo sắt đun nóng dầu, cho dược liệu vào nấu cạn, bỏ bã, thêm Hoàng đan, quấy thành cao, cất sẵn trong lọ sứ.
Công hiệu: Trục phong tán hàn.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh thuộc phong – thấp – hàn gây đau thắt lưng, cột sống.
Cách dùng: Lấy một lượng cao vừa đủ, phết lên vải, dán vào chỗ đau.
Điều trị viêm cột sống tăng sinh có những phương pháp tắm thuốc (dược dục) nào?
(1) Phương trừ thấp ôn kinh
– Thành phần dược liệu: Khương hoạt 30g, Đương quy 30g, Ô mai 30g, Ngải diệp sao (lá ngải cứu sao) 30g, Ngũ gia bì 30g, Phòng phong 30g, Xuyên ô chế 30g, Địa long 30g, Mộc thông 30g, Tỳ giải 30g, Xuyên tiêu (hạt tiêu Xuyên) 30g, Gừng tươi 150g.
– Công năng: Khu phong trừ thấp, ôn kinh tán hàn.
– Chủ trị: Bệnh thoái hóa khớp (tăng sinh khớp).
– Cách dùng: Bọc dược liệu trong túi vải, đun sôi nước trong 5 phút. Khi còn nóng, dùng hơi nước xông chỗ đau, sau đó để nước hơi bớt nóng rồi dùng nước thuốc ngâm/rửa chỗ đau, đồng thời xoa bóp nhẹ. Ngày 1–2 lần, mỗi thang thuốc có thể dùng 5–7 ngày.
(2) Phương xông rửa bằng thuốc cổ truyền
– Thành phần dược liệu: Toàn yết (con bọ cạp) 15g, Ngô công (con rết) 10 con, Quế chi 10g, Một dược 10g, Thấu cốt thảo 50g, Hổ trượng (hổ trượng căn) 30g, Hồng hoa 20g.
– Công năng: Tìm phong thông lạc, trừ tý cố hữu (chứng tý lâu ngày).
– Chủ trị: Viêm khớp tăng sinh.
– Cách dùng: Thêm 1500ml nước vào dược liệu, ngâm 1 giờ, sau đó đun lửa lớn 20 phút. Khi còn nóng, xông rửa vùng bệnh cho đến khi ra mồ hôi, rồi dùng khăn nhúng nước thuốc đắp lên chỗ đau. Mỗi thang dùng 5 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
(3) Phương xông hơi &tắm
– Thành phần dược liệu: Ma hoàng 15g, Thanh bì 15g, Lộ lộ thông 15g, Uy linh tiên 15g, Đương quy 15g, Xuyên khung 15g, Thương truật 15g, Bạch truật 15g, Mộc hương 15g.
– Công năng: Khu phong trừ thấp, ôn kinh tán hàn, hoạt huyết thông lạc.
– Chủ trị: Đau lưng đau chân.
– Phương pháp: Cho dược liệu và nước vào máy xông hơi thuốc (sản xuất bởi Nhà máy thiết bị điện tử y tế Quế Lâm), đun nóng cho hơi thuốc khuếch tán khắp buồng xông. Điều chỉnh nhiệt độ khoảng 40–50℃, bệnh nhân mặc quần short và áo ba lỗ, trừ phần đầu ở ngoài, toàn thân vào trong buồng. Mỗi lần xông 15–20 phút, 7 ngày là 1 liệu trình, khoảng cách giữa các liệu trình 2–3 ngày.
Điều trị viêm cột sống tăng sinh có những phương pháp đắp thuốc (dán thuốc) nào?
(1) Cốt thích tán
– Thành phần dược liệu: Độc hoạt 15g, Địa miết trùng (con gián đất) 15g, Nhũ hương sống 15g, Một dược sống 15g, Đại hoàng sống 15g, Đương quy 20g, Ngưu tất 20g, Ba kích thiên 20g, Cốt toái bổ 20g, Thấu cốt thảo 20g, Xuyên khung sống 20g, Thảo ô sống 20g, Bán hạ sống 20g, Tế tân 12g, Tam thất 12g, Hồng hoa 12g.
– Công năng: Ôn kinh tán hàn, hoạt huyết hóa ứ, thông lạc giảm đau, trừ đàm làm mềm chỗ cứng.
– Chủ trị: Gai xương thắt lưng (thoái hóa đốt sống thắt lưng).
– Cách dùng: Sao khô, tán bột. Thêm Băng phiến 6g, Chương não 6g. Khi điều trị, lấy 30g bột thuốc trộn với rượu trắng, đun nóng thành dạng cao rồi bọc trong túi gạc đơn, đắp chỗ đau, cố định bằng băng dính. Mỗi lần đắp 4–6 giờ, ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
(2) Ô xà tạo thích tán
– Thành phần dược liệu: Ô tiêu xà (xà đen đuôi?)/Ô tiêu xà 10g, Tế tân 10g, Bạch hoa xà, Tạo giác thích, Hy thiêm thảo, Thấu cốt thảo, Xuyên sơn giáp, Nhũ hương sống, Một dược sống, Đỗ trọng, Uy linh tiên, Tiên linh tì (Dâm dương hoắc) đều 15g, Ngũ linh chi 20g, Xuyên ô sống 9g, Thảo ô sống 9g.
– Công năng: Tìm phong thông lạc, ôn kinh giảm đau, củng cố thận nhuyễn kiên tán kết
– Chủ trị: Các chứng gai xương.
– Cách dùng: Tán bột mịn. Dùng giấm hoặc giấm gạo (trường hợp đau lạnh nhiều có thể dùng rượu trắng hoặc hoàng tửu) trộn thành dạng hồ. Lấy một cục thuốc cỡ hạt táo, đặt trên băng dính, dán lên vùng xương mọc gai và các huyệt liên quan, cách ngày thay 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
(3) Cốt tý tán
– Thành phần dược liệu: Nhũ hương, Một dược, Xuyên ô sống, Bạch giới tử đều 20g, Hạt tiêu (hoa tiêu) 10g, Mã tiền tử 10g.
– Công năng: Ôn kinh tán hàn, hóa ứ giảm đau.
– Chủ trị: Gai xương thắt lưng.
– Cách dùng: Tán bột, trộn với giấm ăn tạo độ ẩm, bọc trong túi vải nhỏ, hấp nóng rồi đắp lên chỗ đau, ngày 1 lần, mỗi thang có thể dùng 8–10 lần. Khi thuốc khô, lại trộn giấm cho ẩm.
(4) Bích hổ tán
– Thành phần dược liệu: Bích hổ (Thằn lằn) 6 con, Thần sa 6g.
– Công năng: Hóa đàm thông lạc giảm đau.
– Chủ trị: Các chứng gai xương.
– Cách dùng: Sao khô, tán bột. Khi dùng, lấy một lượng phù hợp rắc lên chỗ đau, phủ một miếng cao dán cường lực cố định, cách ngày thay 1 lần, 1 tháng là 1 liệu trình.
(5) Nga thấu ngoại kích phương
– Thành phần dược liệu: Nga bất thực thảo 2,5kg, Thấu cốt thảo 2,5kg, Thủy trạch lan 5kg, Xuyên ô sống 0,75kg, Thảo ô sống 0,75kg, Mã tiền tử sống 0,75kg.
– Công năng: Ôn kinh tán hàn, thông lạc giảm đau.
– Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh.
– Cách dùng: Tán bột mịn. Mỗi lần lấy 60g, thêm nước đến 200ml, nấu cho cạn nước, rồi sao 5–8 phút, thêm cồn 45% trộn đều, cho vào túi gạc đắp ngoài chỗ đau 2–3 giờ, mỗi ngày 1 lần, 3 ngày thay 1 lần, 6 lần là 1 liệu trình.
Các phương pháp châm cứu điều trị viêm cột sống tăng sinh là gì?
(1) Phương pháp châm cứu
– Liệu pháp ①
a. Chọn huyệt: Chọn huyệt Giáp tích ở đốt sống bệnh lý. Huyệt Giáp tích nằm hai bên cột sống, từ đốt cổ 1 đến đốt thắt lưng 5, cách mỏm gai 0,5–1 thốn. Nếu đau tê ở tay, thêm Khúc trì, Dưỡng lão, Hợp cốc…; nếu đau tê chân, thêm Hoàn khiêu, Ủy trung, Côn lôn…; nếu chóng mặt nặng, thêm Phong trì.
b. Thủ pháp: Bình bổ bình tả, mỗi ngày 1 lần, mỗi lần lưu kim 30 phút, 10 lần là 1 liệu trình.
– Liệu pháp ②
a. Chọn huyệt: Thận du (2 bên), Ủy trung (2 bên), Hoàn khiêu, Côn lôn, Phi dương, A thị huyệt.
b. Thủ pháp: Bình bổ bình tả, mỗi ngày 1 lần, mỗi lần lưu kim 20 phút, trong thời gian lưu kim có kích thích kim 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Cũng có thể phối hợp tiêm tại huyệt. Chọn chủ yếu huyệt Giáp tích, phối hợp A thị huyệt, dùng 1% Novocain 10ml, men papain (tên thuốc: “myozyme”?) 5mg, ATP 20mg, acetat cortisone 25mg, trộn chung tiêm, cách ngày 1 lần.
– Liệu pháp ③
a. Chọn huyệt: Đại chùy, Hoàn khiêu, Ủy trung, Dương lăng tuyền, Tuyệt cốt, A thị huyệt.
b. Thủ pháp: Đều dùng bình bổ bình tả. Sau châm huyệt đau, thêm giác hút lửa. Mỗi ngày 2 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
– Liệu pháp ④
a. Chọn huyệt: Các huyệt vùng lưng (Du huyệt), Hoàn khiêu, Trật biên, Thừa phù, Ân môn, Ủy trung, Thừa sơn, Côn lôn, Thân mạch, Kim môn, Phong thị, Dương lăng tuyền, Huyền chung, Túc tam lý.
b. Thủ pháp: Bình bổ bình tả, mỗi lần chọn 5–6 huyệt, luân phiên thay đổi huyệt. Mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
(2) Phương pháp cứu
– ① Dùng khí cụ (cứu khí cụ) ôn cứu
a. Chọn huyệt: Phế du, Cách du, Tỳ du, Thận du (gọi tắt là “Bát du huyệt”).
b. Phương pháp: Dùng dụng cụ cứu bằng kim loại, trên dưới dụng cụ có nhiều lỗ nhỏ, lỗ phía trên thông hơi khói, lỗ phía dưới truyền dẫn nhiệt. Bên trong có một ống nhỏ để đặt ngải nhung đốt. Khi thực hiện, đặt cứu khí cụ lên Bát du huyệt, thời gian 10–40 phút, sao cho da hơi đỏ hoặc ra mồ hôi là đủ. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
– ② Cứu bánh Phụ tử
a. Chọn huyệt: Vùng tổn thương do gai xương.
b. Phương pháp: Phụ tử tán bột, thêm bột, rượu, nước làm thành bánh dày dày 6mm. Đặt trực tiếp bánh phụ tử lên vùng cột sống tăng sinh, phía trên đặt ngải để cứu. Lửa vừa đủ, bệnh nhân cảm thấy ấm dễ chịu, tránh bỏng. Mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
– ③ Cứu cách gừng
a. Chọn huyệt: Chủ yếu huyệt A thị trên mạch Đốc; nếu đau lưng thì phối Thận du.
b. Phương pháp: Mỗi lần chọn 3–4 huyệt, đặt miếng gừng có độ dày vừa phải lên huyệt, đặt ngải nón (ngải chùy) trên lát gừng, mỗi huyệt 7–10 mồi, mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
– ④ Thuốc cứu
a. Chọn huyệt: Vùng xương tăng sinh.
b. Bào chế thuốc: Kinh giới 60g, Phòng phong 60g, Nhũ hương 60g, Một dược 60g, Hồ tiêu trắng 60g (tất cả tán mịn), thêm 500g lá ngải (tán thành ngải nhung), trộn đều, chia 20 phần, cho vào ống đường kính 3cm, nén thành nón thuốc, để sẵn.
c. Phương pháp: Làm một dụng cụ cứu có tay cầm, cao 3cm, đường kính ngoài 8cm, đường kính trong 7,5cm, đáy hai vòng kẹp giấy da bên trong. Trộn gừng giã nhuyễn, bột mì, giấm cao cấp thành hồ, trải đều lên giấy da dày 0,2–0,3cm, đặt một nón thuốc lên, châm lửa đốt, đặt trên vùng bệnh, cứu cho đến khi da ửng đỏ, hơi đổ mồ hôi, bệnh nhân chịu được là dừng (người làm điều trị có thể điều chỉnh khoảng cách tùy nhiệt). Thực hiện mỗi tối trước khi ngủ, mỗi lần 40–50 phút, liên tục 20 ngày là 1 liệu trình, nghỉ 10 ngày rồi sang liệu trình 2 nếu cần.
– ⑤ Châm cứu ấm bằng ngải tẩm xạ hương (xạ ngải ôn châm)
a. Chọn huyệt: Phần ngực chọn Tích trung, Cân súc, Trung khu; phần lưng chọn Mệnh môn, Thận du và A thị huyệt.
b. Bào chế thuốc: Xạ hương 0,3g, ngải nhung 20g, trộn đều để dùng.
c. Phương pháp: Dùng kim vòng dài 1,5 tấc (đường kính vòng 0,55cm) vài cái. Xác định huyệt ở vùng bệnh, khử trùng da, châm kim vòng vào độ sâu thích hợp, cảm giác đắc khí. Lấy xạ ngải đã trộn đều vo cỡ hạt táo, đặt vào lòng kim vòng, châm lửa đốt, để cháy chậm. Khi bệnh nhân thấy nóng quá, dùng nhíp kẹp thân kim nâng lên, giảm cảm giác nóng. Mỗi huyệt ấm 7 mồi ngải thì rút kim, dùng bông tiệt trùng ấn nhẹ chỗ châm một lúc. Thực hiện cách ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình.
(3) Tân châm pháp (châm kiểu mới)
– Liệu pháp ①
a. Chọn huyệt: Khí hải du, Thận du, Đại trường du, Quan nguyên du.
b. Thuốc & Cách làm: Trộn 1 ống tiêm dung dịch Uy linh tiên, 1 ống Cốt ninh dịch, 1 ống Phức phương Đương quy dịch, tức tổng 3 ống, rồi mỗi lần dùng 2 ống tiêm hỗn hợp vào các huyệt trên, xoay vòng thay nhau, mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Giữa các liệu trình nghỉ 5–7 ngày.
– Liệu pháp ②
a. Chọn huyệt: Vùng xương tăng sinh.
b. Thuốc & Cách làm: Dùng 12,5mg hydrocortison acetat + 5–10ml procain 1%. Tiêm cục bộ tại vùng tăng sinh.
Có những phương pháp xoa bóp (thủ thuật tuina) nào cho viêm cột sống tăng sinh?
Phương pháp xoa bóp (1)
1. Ấn day: Bệnh nhân nằm sấp, vùng ngực trên kê gối, hai tay đặt cạnh gối, nằm cân bằng, cơ bắp thả lỏng. Kỹ thuật viên đứng bên trái giường, dùng hai ngón cái ấn day vào các huyệt chính dọc kinh Bàng quang ở lưng. Ở chỗ đau rõ, ấn mạnh hơn, ấn day 2–3 phút.
2. Lăn: Có hai người phụ kéo giãn đầu – chân, kỹ thuật viên đứng ở vùng lưng dưới và thắt lưng, dùng thủ pháp lăn dọc kinh Bàng quang và mạch Đốc từ trên xuống dưới, 5–8 phút. Nơi đau nhiều thì lăn nhiều lần.
3. Đẩy xoa: Dùng gốc bàn tay đẩy xoa dọc kinh Bàng quang (cơ cạnh sống), theo hướng từ trên xuống dưới nhiều lượt (3–5 phút), chỗ đau nhiều ấn mạnh hơn.
4. Gảy (bật) gân: Hai ngón tay cái đặt đối nhau trên bó cơ, hơi ấn xuống, di động trái – phải vuông góc với hướng bó cơ, gọi là bật gân (bật thịt). Nếu thấy gân nổi rõ, có thể véo và nâng gân lên, rồi thả xuống (gọi là “đạn cốt”). Làm 3–5 lần, sau đó đẩy xoa lại vài lượt.
5. Vặn chéo: Bệnh nhân nằm nghiêng, chân trên gập gối, chân dưới duỗi, kỹ thuật viên một tay đẩy mông, tay kia kéo vai. Khi đạt giới hạn tối đa, dùng lực vặn chéo. Có thể nghe tiếng kêu khớp. Nếu cần, bảo bệnh nhân đổi bên nằm nghiêng, lặp lại động tác.
6. Kéo lắc: Bệnh nhân nằm sấp, cơ thể thả lỏng, một phụ cầm nách kéo hướng lên, kỹ thuật viên đứng cuối giường, hai tay giữ mắt cá chân kéo dọc, rồi thực hiện lắc lên xuống một vài lần, liên tiếp 3–5 lượt. Thủ pháp này 2–3 ngày làm 1 lần.
Phương pháp xoa bóp (2)
1. Thư giãn: Bệnh nhân nằm sấp. Các bước 2–5 thực hiện giống ở trên. Trước hết, dùng phương pháp lăn, xoa bóp trên lưng, eo, mông, hai chân của bệnh nhân, từ trên xuống dưới qua lại chục lần.
2. Bật gân: Dọc hai bên cột sống, men theo kinh Bàng quang, dùng ngón tay cái làm thủ pháp bật gân, đặc biệt ấn mạnh ở các huyệt Vị du, Tam tiêu du, Thận du, Đại trường du, Tiểu trường du, Bàng quang du. Làm 4–5 lần, sau đó ấn tiếp vài lần.
3. Rung: Đặt gốc bàn tay phải lên vùng lưng dưới bệnh nhân, bàn tay trái chồng lên mu bàn tay phải, dùng lực rung với tần số khoảng 200 lần/phút, tốc độ đều, khoảng 2 phút.
4. Ép: Gốc bàn tay trái ép khớp cùng chậu trái của bệnh nhân, gốc bàn tay phải ép phần lưng phải phía trên, đối lực để ấn, đẩy. Sau đó đổi bên tương tự 5–7 lần. Tiếp đó, gốc bàn tay phải ép vùng lưng trên, gốc bàn tay trái ép vùng lưng dưới, làm động tác đẩy trên – ép dưới khoảng hơn 10 lần.
5. Vặn lắc khớp háng: Một tay ấn vùng thắt lưng, một tay đỡ đầu gối, làm động tác kéo – lắc – xoay khớp háng. Làm tương tự bên đối diện, mỗi bên 10 lần. Tiếp đó, một tay đỡ thắt lưng, tay kia nâng hai đùi bệnh nhân lên, kéo về phía trên, lắc trái – phải, xoay tròn 3–5 lần, lực vừa phải, bệnh nhân chịu đựng được.
6. Vặn chéo: Bệnh nhân nằm nghiêng, chân trên gập gối, chân dưới duỗi. Một tay (hoặc khuỷu tay) ấn trước vai, khuỷu kia ấn cánh chậu phía sau, đồng thời đẩy vai lùi và đẩy xương chậu tới trước, lắc vài lần rồi đột ngột dùng lực, có thể nghe tiếng khớp. Đổi bên thực hiện giống vậy.
8.Gập gối, lắc khớp háng: Bệnh nhân nằm ngửa, tay trái của kỹ thuật viên ấn vùng vai phải, tay phải đỡ và nâng đầu gối phải, lắc xoay hướng về ngực và ấn; thực hiện tương tự bên đối diện. Sau đó, tay trái vẫn ấn vai phải, tay phải đỡ cả hai gối, làm động tác tương tự mỗi bên 5~6 lần. Tiếp đó cho bệnh nhân gập hai gối, hai bàn chân áp giường, hai tay kỹ thuật viên ấn xuống hai gối, làm vùng thắt lưng cùng nhấc lên, thực hiện 3~4 lần.
9.Nâng chân: Bệnh nhân nằm ngửa, một tay của kỹ thuật viên ấn đầu gối một bên, tay kia nâng gót chân cùng bên, cố gắng nâng thẳng lên. Thực hiện tương tự bên đối diện, rồi một tay ấn cả hai gối, tay kia nâng hai gót, cố hết sức cho chân duỗi thẳng, mỗi cách 4~5 lần.
Phương pháp xoa bóp (3)
Bệnh nhân nằm sấp, lộ vùng lưng, kỹ thuật viên dùng “phương pháp nhéo cột sống” (nhiếp tích), trước tiên dùng gốc bàn tay xoa day hai bên mỏm gai từ xương cụt lên cổ, lặp lại 5~15 phút. Tiếp đó, bắt đầu từ huyệt Trường Cường, kỹ thuật viên dùng ngón trỏ và ngón cái nắm lằn da, thực hiện động tác đẩy-nhéo, tốc độ khoảng 3~4 lần/giây dọc theo cột sống lên tới đốt cổ 2. Mỗi lượt, khi đến đốt sống bệnh lý thì nhắc lại 5~10 lần, kết hợp xoa day một chút, đi như vậy lên xuống 10~15 lượt. Mỗi ngày 1 lần, 7 ngày là 1 liệu trình. Khi có hiệu quả, nghỉ 1 ngày rồi tiếp tục liệu trình kế tiếp.
Những món ăn – bài thuốc (dược thiện) điều trị viêm cột sống tăng sinh
Những loại rượu thuốc (dược tửu) điều trị viêm cột sống tăng sinh
Thành phần: Uy linh tiên 30g, Thấu cốt thảo 30g, Đỗ trọng 30g, Hoài ngưu tất 30g, Xuyên sơn giáp 30g, Đan sâm 30g, Bạch giới tử 30g, Dâm dương hoắc 30g, rượu trắng (≥50 độ) 2000ml. Các vị thuốc thái thô, cho vào bình sứ hoặc chai thủy tinh, đổ rượu, đậy kín nửa tháng (mùa đông 20 ngày) là dùng được.
Công năng: Bổ thận mạnh xương, hóa ứ thông lạc, ôn kinh tán hàn.
Chủ trị: Gai xương.
Cách dùng: Mỗi lần 15~20ml (tùy tửu lượng), ngày 3 lần, hết số thuốc trên là 1 liệu trình. Nghỉ 3~5 ngày có thể sang liệu trình 2.
Rượu Ba kích – Ngưu tất
Thành phần: Ba kích thiên 200g, Hoài ngưu tất 200g, rượu trắng 1500ml. Ngâm 10 ngày là dùng được.
Công năng: Ôn thận dương, chắc gân xương, trừ phong thấp.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh thể thận hư, can thận bất túc.
Cách dùng: Ngày 2 lần, mỗi lần 20g, uống sáng và tối.
Rượu Ngũ gia bì
Thành phần: Ngũ gia bì 60g, Đương quy 60g, Ngưu tất 60g, gạo nếp 1000g, men rượu ngọt (lượng thích hợp).
Công năng: Khu phong thấp, trừ tý đau, bổ can thận, ích khí huyết.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh thể phong thấp bế tắc gây lưng gối mỏi, hoặc can thận hư, gân xương yếu mỏi.
Cách dùng: Rửa sạch ba vị thuốc, nấu lấy nước đặc, rồi dùng nước này để ủ gạo và men làm rượu, uống tùy lượng.
Thành phần: Xương chó 500g, rễ Cà pháo trắng 5000g, rễ Hổ trượng 1000g, thêm nước cốt Hồng hoa vừa đủ, rượu trắng 5000ml. Xương chó rửa sạch, nướng lửa nhỏ cho vàng, còn nóng thì đập nát, trộn cùng nước cốt Hồng hoa, sau đó cho cả xương đã chế và các vị vào rượu, đậy kín 15 ngày là được.
Công năng: Trừ phong thấp, mạnh gân xương, hoạt huyết mạch, giảm đau tý.
Chủ trị: Phong thấp tý thống, gân mạch co rút, lưng gối mỏi yếu.
Cách dùng: Người lớn mỗi lần 20~30ml, sáng tối 1 lần.
Thành phần: Độc hoạt 30g, Thạch nam đằng 30g, Phòng phong 20g, Phụ tử 15g, Xuyên ô 15g, rượu gạo 1000ml. Ngâm dược với rượu vài ngày là dùng được.
Công năng: Khu phong tán hàn, thắng thấp giảm đau.
Chủ trị: Phong hàn thấp tý, lưng gối lạnh đau.
Cách dùng: Mỗi lần 5ml, ngày 2 lần.
Chỉ cần mọc gai xương (xương thừa) ở thắt lưng là đã chẩn đoán viêm cột sống tăng sinh thắt lưng sao?
Nhiều người thấy trên phim X-quang có gai xương ở thắt lưng thì cho rằng đó là viêm cột sống tăng sinh thắt lưng. Thực ra không phải vậy. Bởi vì viêm cột sống tăng sinh (hay còn gọi viêm cột sống phì đại) ở thắt lưng là do thoái hóa cột sống thắt lưng, hoặc chủ yếu do thoái hóa gây ra, làm xương và khớp vùng thắt lưng tăng sinh lan tỏa kèm theo một loạt triệu chứng lâm sàng. Nó không chỉ biểu hiện bất thường trên phim X-quang, mà quan trọng hơn là do biến đổi bệnh lý ở thắt lưng, dẫn đến cọ xát khớp không đều, viêm cấp túi hoạt dịch khớp nhỏ hoặc chèn ép/kích thích rễ thần kinh bởi gai xương, gây ra triệu chứng tương ứng. Trong khi gai xương (xương thừa) trên X-quang thắt lưng chỉ là hiện tượng cột sống biến đổi để thích nghi với thay đổi áp lực, biểu hiện của quá trình thoái hóa thắt lưng.
Nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy: Ở nam trên 50 tuổi hoặc nữ trên 60 tuổi, trên 90% có gai xương thắt lưng ở mức độ khác nhau, người 70 tuổi trở lên gần như 100% có biến đổi thoái hóa xương khớp trên phim X-quang, nhưng đa số không có triệu chứng lâm sàng. Vì gai xương thắt lưng hình thành qua thời gian dài do chấn thương hoặc lao động quá mức, là biểu hiện thoái hóa và bù trừ; đó là cơ chế tự vệ vừa mang tính sinh lý, vừa có thể chuyển thành bệnh lý. Nó có thể giúp đốt sống bớt lỏng lẻo (do đĩa đệm thoái hóa) trở nên ổn định hơn, nhưng cũng dễ gây cọ xát bất thường ở khớp, viêm túi hoạt dịch, kích thích hoặc chèn ép thần kinh, dẫn đến các triệu chứng lâm sàng. Vì vậy, gai xương có thể là nguyên nhân gây triệu chứng, nhưng không phải là căn cứ chính để chẩn đoán viêm cột sống tăng sinh (phì đại) thắt lưng. Bởi xét trên lâm sàng, mức độ nặng nhẹ của triệu chứng không tỉ lệ thuận với kích thước gai xương. Chứng viêm cột sống tăng sinh (phì đại) thắt lưng chắc chắn có biểu hiện gai xương, nhưng có gai xương chưa chắc có triệu chứng. Tức là, thắt lưng mọc gai xương không hẳn là viêm cột sống tăng sinh (phì đại).
Nhiều người chụp X-quang xong phát hiện gai xương thắt lưng nên lo lắng căng thẳng. Thật ra điều này thiếu cơ sở khoa học, vì đa số gai xương là biểu hiện thoái hóa sinh lý do tuổi tác. Vậy nên gai xương thắt lưng không phải điều đáng sợ, dù có gai xương cũng không đồng nghĩa chẩn đoán viêm cột sống tăng sinh (phì đại) thắt lưng. Vẫn cần bác sĩ chuyên khoa khám kỹ mới xác định được.
Viêm cột sống tăng sinh thắt lưng có biểu hiện lâm sàng gì?
Viêm cột sống tăng sinh thắt lưng (hay viêm cột sống phì đại thắt lưng) do thoái hóa cột sống thắt lưng, hoặc chủ yếu do thoái hóa, gây xương và khớp thắt lưng tăng sinh lan tỏa, kèm một loạt triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng. Bệnh thường gặp ở người trung niên trở lên, thuộc loại bệnh xương khớp mạn tính.
Sự tăng sinh của thân đốt sống thắt lưng là một dạng thay đổi thoái hóa xương bình thường, không hẳn là bệnh. Người có biến đổi tăng sinh không nhất định phải đau hay có triệu chứng. Nhưng khi thoái hóa này xuất hiện, tất yếu gây xáo trộn cấu trúc bình thường giữa các xương, khiến cột sống khó duy trì cân bằng khi gánh trọng tải và vận động, dễ bị tổn thương, sinh triệu chứng.
“Số Vấn – Thượng Cổ Thiên Chân Luận” viết: “Trẻ trai 8 tuổi, thận khí vượng, tóc mọc, răng thay… đến 5 lần 8 tuổi (40 tuổi) thì thận khí suy, tóc rụng, răng khô… 7 lần 8 tuổi (56 tuổi), can khí suy, gân bớt linh hoạt… 8 lần 8 tuổi (64 tuổi), tinh giảm, tạng thận suy, hình thể đều kém…” – nêu mối liên quan giữa tuổi tác và can thận, gân xương. Nhưng có gai xương ở thắt lưng không đồng nghĩa chẩn đoán viêm cột sống tăng sinh thắt lưng, chỉ khi xuất hiện đau lưng, v.v., và qua khám chuyên khoa mới xác định.
Bệnh nhân thường cảm giác đau lưng, nhất là buổi sáng hoặc sau khi giữ nguyên tư thế quá lâu, cảm giác lưng cứng, nhưng sau khi hoạt động thì giảm, biên độ cử động lưng thường bình thường. Đây do bao khớp các khớp vùng thắt lưng và dây chằng quanh khớp bị xơ cứng. Triệu chứng không rõ giống các bệnh đau lưng khác, thậm chí gõ lưng bằng nắm tay còn thấy dễ chịu. Gặp thời tiết mưa ẩm, đau nặng hơn; nếu có chấn thương, có thể bộc phát triệu chứng tổn thương cấp. Ngoài đau, còn có hạn chế vận động thắt lưng, đi lại khó, trở mình khó. Phim X-quang cho thấy dấu thoái hóa điển hình: thân đốt sống có gai xương ở rìa, khớp nhỏ tăng sinh, thậm chí trượt đốt và mất vững.
Lương y Nguyễn Nghị dịch