Tài liệu tham khảo:
Bệnh lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung – Tư vấn chuyên mục Sức khỏe phụ nữ: Hà Hiếu Hiền
Bề mặt khoang tử cung được phủ bởi một lớp niêm mạc, gọi là nội mạc tử cung, còn bề mặt bên ngoài của tử cung được bao bởi một lớp màng mỏng, gọi là màng thanh mạc. Giữa hai lớp này là lớp cơ trơn dày khoảng 2–3 cm, gọi là lớp cơ tử cung. Do một số yếu tố tác động, nội mạc tử cung xâm nhập vào lớp cơ nhưng không vượt ra ngoài tử cung – bệnh lý này được gọi là bệnh lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung (hay còn gọi là u tuyến cơ tử cung). Trước đây, người ta từng gọi bệnh này là lạc nội mạc tử cung nội tại, còn lạc nội mạc tử cung ở các vị trí khác thì gọi là lạc nội mạc tử cung ngoại tại. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây phát hiện rằng, dù bệnh lý học của hai loại có phần tương đồng, nhưng về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng và phản ứng với nội tiết tố buồng trứng thì lại khác biệt. Vì thế, đa số học giả hiện nay không còn sử dụng các thuật ngữ “nội tại” hay “ngoại tại” nữa.
Bệnh lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung là bệnh phụ khoa thường gặp, chủ yếu xảy ra ở phụ nữ từ 35 đến 50 tuổi đã từng sinh con, đặc biệt là những người sinh nhiều. Khoảng một nửa số bệnh nhân bị bệnh này đồng thời mắc u xơ tử cung, và khoảng 15% mắc kèm lạc nội mạc tử cung ở vị trí khác.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh hiện vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Phần lớn cho rằng, bệnh xảy ra do lớp đáy của nội mạc tử cung xâm nhập vào lớp cơ, dẫn đến sự phát triển bên trong đó. Trong điều kiện bình thường, cơ tử cung có khả năng phòng vệ nhất định để ngăn chặn sự xâm nhập này. Tuy nhiên, nếu có tổn thương thành tử cung do mang thai nhiều lần, sinh đẻ hoặc nạo hút thai, hoặc rối loạn chức năng buồng trứng khiến lượng estrogen quá cao và kích thích nội mạc tử cung liên tục, sẽ làm mất khả năng phòng vệ của lớp cơ tử cung, từ đó thúc đẩy nội mạc phát triển vào bên trong.
Sự phát triển của nội mạc trong lớp cơ có thể theo hai dạng: dạng lan tỏa khiến tử cung to đều, chắc, nhưng không lớn quá kích thước tử cung lúc mang thai 3 tháng (nếu quá to thường kèm theo u xơ); hoặc dạng cục bộ, hình thành một khối tròn trong thành cơ tử cung, gọi là u tuyến cơ tử cung.
Triệu chứng lâm sàng chính là thống kinh và rối loạn kinh nguyệt. Thống kinh là biểu hiện đặc trưng nhất, thường là thống kinh thứ phát – nhiều phụ nữ gần 40 tuổi mới bắt đầu bị và ngày càng đau nhiều. Đặc điểm đau thường là co thắt, quặn thắt, rất khó chịu, một số còn bị đau khi quan hệ tình dục. Kinh nguyệt rối loạn là triệu chứng khởi phát thường thấy: lượng máu kinh nhiều, kéo dài ngày hành kinh, hoặc hành kinh nhiều lần, một số bệnh nhân còn bị ra huyết âm đạo trước và sau kỳ kinh. Bệnh cũng có thể gây xuất huyết sau mãn kinh, tuy hiếm gặp nhưng cần lưu ý.
Khám phụ khoa thấy tử cung to đều, hình cầu, chắc, ấn đau. Trong kỳ kinh, tử cung mềm hơn và đau rõ rệt – dấu hiệu thay đổi theo chu kỳ kinh này có ý nghĩa đặc biệt trong chẩn đoán.
Bệnh danh “lạc nội mạc tử cung trong cơ tử cung” thuộc y học hiện đại. Dựa vào triệu chứng và biểu hiện, trong y học cổ truyền, bệnh có thể được xếp vào các chứng thống kinh, băng lậu, kinh kéo dài, chứng trưng hà (u cục vùng bụng dưới).
Theo y học cổ truyền, các chứng thống kinh, bế kinh, trưng hà đều có liên quan đến huyết ứ nội trở, còn sự hình thành “huyết kết” có thể liên quan đến các yếu tố như hàn ngưng, khí trệ, đàm thấp. Có thể hiểu rằng:
Do đó, bản chất bệnh là huyết ứ, thuộc thực chứng, nhưng bệnh kéo dài, mất máu nhiều gây khí huyết lưỡng hư, dẫn đến chứng hư thực lẫn nhau.
Nguyên tắc điều trị là hoạt huyết hóa ứ, đồng thời căn cứ vào nguyên nhân hình thành huyết ứ và mức độ hư nhược để kiêm trị phù hợp. (Còn tiếp…)
Chứng khí trệ huyết ứ
Biểu hiện chủ yếu là trong kỳ kinh có cảm giác đầy tức bụng dưới hoặc đau co thắt, không muốn bị chạm vào, kèm theo tâm phiền dễ cáu giận, tức ngực, sườn và vú căng tức, lượng kinh nhiều hoặc hành kinh kéo dài, tử cung to lên, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp. Loại chứng này thường do sau sinh hoặc sau phẫu thuật, tình chí uất ức, can khí uất trệ mà ra. Trị liệu nên lấy sơ can lý khí, hóa ứ tiêu tích làm chủ, có thể chọn Hương Lăng hoàn gia giảm.
Thuốc gồm: Mộc hương, Thanh bì, Xuyên luyện tử mỗi vị 10g; Đinh hương 6g; Tam lăng, Nga truật, Chỉ xác, Uất kim, Thủy điệt, Nguyên hồ mỗi vị 15g. Nếu đau bụng dữ dội có thể gia Nhũ hương, Một dược mỗi vị 15g; nếu lượng kinh nhiều thì bỏ Thủy điệt, gia Sao Phổ hoàng 30g; nếu kèm khí hư thì gia Sinh Hoàng hoa 20g, Thái tử sâm, Sao Bạch truật mỗi vị 30g.
Chứng đàm ngưng huyết ứ
Biểu hiện là bụng dưới đau, không muốn bị chạm vào, lượng kinh nhiều mà loãng, có máu cục, kèm đầy tức vùng thượng vị, buồn nôn hoặc muốn nôn, tử cung to lên. Thường ngày khí hư ra nhiều, màu trắng, chất đặc. Lưỡi rêu trắng nhớt, mạch trầm hoạt. Chứng này hình thành liên quan đến tỳ thận lưỡng hư, thủy thấp không hóa, tích thấp thành đàm, khiến đàm ứ kết hợp. Pháp trị dùng trừ đàm trừ thấp, hóa ứ tiêu tích, có thể chọn Khai uất nhị trần thang hợp Hoạt lạc hiệu linh đan gia giảm.
Thuốc gồm: Bán hạ, Trần bì mỗi vị 10g; Phục linh, Bạch giới tử, Đương quy, Tử đan sâm, Tam lăng, Nga truật, Uất kim mỗi vị 15g; Xuyên khung 20g. Nếu đau dữ dội thì gia Nhũ hương, Một dược mỗi vị 15g; nếu ăn uống kém, tinh thần mệt mỏi thì gia Thái tử sâm 30g, Sao Bạch truật 20g.
Chứng hàn ngưng huyết ứ
Biểu hiện là trong kỳ kinh bụng dưới đau quặn hoặc lạnh đau, đau dữ dội và không muốn bị chạm vào, nhưng sau khi chườm nóng thì giảm đau – đây là đặc điểm của chứng này. Lượng kinh nhiều nhưng màu tím sẫm, có máu cục, kèm tay chân lạnh và sợ lạnh, lưỡi tối, mạch trầm khẩn. Chứng này chủ yếu do sau sinh hoặc sau phá thai nhiễm phải hàn tà gây nên. Trị liệu vừa phải ôn tán hàn tà, vừa phải hoạt huyết tiêu tích. Có thể chọn Thiếu phủ trục ứ thang gia giảm.
Thuốc gồm: Pháo khương, Tiểu nhân hương, Xuyên khung, Quế chi mỗi vị 10g; Nguyên hồ, Linh chi, Một dược, Đương quy, Tam lăng, Nga truật, Đan sâm, Phục linh mỗi vị 15g. Nếu lượng kinh nhiều thì bỏ Xuyên khung, Đương quy, gia Sao Phổ hoàng 30g, Huyết dư thán 15g; nếu kèm tỳ hư khí nhược thì gia Sinh Hoàng kỳ 20g, Thái tử sâm, Sao Bạch truật mỗi vị 30g.
Trong ba loại chứng nêu trên, nếu đau bụng dữ dội đều thêm vị Nhũ hương. Do mùi vị thuốc này khó ngửi, một số bệnh nhân sau khi dùng có thể bị nổi mề đay hoặc các triệu chứng dị ứng khác, nên khi dùng cần chia gói riêng và dặn bệnh nhân tự điều chỉnh, nếu bị dị ứng thì có thể bỏ.
Ngoài dùng thuốc sắc uống, còn có thể kết hợp châm cứu hoặc đắp thuốc ngoài để tăng hiệu quả điều trị.
Châm cứu huyệt vị có thể chọn: Trung cực, Quan nguyên, Túc tam lý, Tam âm giao… bắt đầu từ 1 tuần trước kỳ kinh, mỗi ngày 1 lần để trị đau bụng kinh.
Đắp thuốc ngoài: Có thể dùng các vị Nhục quế, Xuyên khung, Ngô thù du, Nguyên hồ, Ô dược, Một dược với lượng bằng nhau, tán thành bột mịn, trộn hồ đất nung, dán lên huyệt Quan nguyên, cố định bằng gạc. Bắt đầu dùng trước kỳ kinh 5–7 ngày.
Ly Trường Xuân dịch