Tinh dịch màu đỏ được thải ra trong quá trình giao hợp và xuất tinh hay di tinh, được gọi là huyết tinh trong y học cổ truyền Trung Quốc. Tinh dịch bình thường có màu trắng sữa, trắng xám hoặc vàng nhạt, trong khi huyết tinh có màu hồng, đỏ nâu hoặc có vệt máu. Dưới kính hiển vi quang học, có thể thấy các tế bào hồng cầu trộn lẫn trong tinh dịch.
Khi nam giới nhìn thấy huyết tinh, họ thường rất sợ hãi, nghĩ rằng máu và tinh dịch được thải ra cùng nhau, đây chắc chắn là một căn bệnh nghiêm trọng, sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và gây vô sinh. Trên thực tế, điều này đòi hỏi phải phân tích cụ thể về các tình huống cụ thể.
Y học cổ truyền Trung Quốc cho rằng huyết tinh (tinh dịch có máu) chủ yếu là do thấp nhiệt tích tụ ở hạ tiêu (phần dưới của cơ thể), làm tổn thương mạch máu hoặc do ăn quá nhiều đồ cay, béo và ngọt, hoặc sinh hoạt quá sức của thận khí, tổn háo thận âm, âm hư hỏa vượng, nhiễu loạn tinh thất, bức huyết vọng hành (máu đi sai đường). Y học hiện đại thì cho rằng tình trạng này chủ yếu là do viêm và khối u ở hệ thống tiết niệu và sinh thực, chẳng hạn như viêm túi tinh, phì đại tuyến tiền liệt kèm theo viêm, ung thư tuyến tiền liệt, giãn tĩnh mạch thừng tinh, giãn và vỡ các tĩnh mạch dưới da của niệu đạo sau bên cạnh các ống dẫn tinh.
Các bệnh lâm sàng phổ biến nhất gây ra huyết tinh là các bệnh về túi tinh và tuyến tiền liệt. Tinh dịch được sản xuất ở hai cơ quan trên. Phổ biến nhất là viêm túi tinh. Túi tinh nằm ở phía trên tuyến tiền liệt, giữa bàng quang và trực tràng. Đầu túi tinh hợp nhất với đầu ống dẫn tinh tạo thành ống dẫn tinh dẫn đến niệu đạo. Các cơ quan xung quanh túi tinh bao gồm tuyến tiền liệt, niệu đạo, trực tràng, v.v. Thành túi tinh có một lớp mạng lưới mạch máu nhỏ chứa nhiều mạch máu nhỏ. Khi các cơ quan xung quanh bị viêm, khối u hoặc bệnh lao, dịch tiết viêm sẽ theo mạng lưới mạch máu nhỏ trong lớp thành túi tinh. Khi vi khuẩn gây viêm túi tinh, thành túi tinh sẽ sưng lên và tắc nghẽn, các mạch máu nhỏ dễ bị vỡ và chảy máu, gây viêm túi tinh. Khi sắp xuất tinh, tinh dịch màu đỏ sẽ xuất hiện, một số trường hợp kèm theo tình trạng tiểu gấp, tiểu nhiều lần, đau khi đi tiểu và các triệu chứng kích thích bàng quang khác, hoặc đau nhẹ ở tầng sinh môn, quanh hậu môn hoặc bụng dưới. Lúc này, nên dùng một số loại kháng sinh có nồng độ cao trong hệ tiết niệu như norfloxacin và furantin để điều trị. Bệnh nhân cũng nên được khuyến khích uống nhiều nước hơn, đi tiểu nhiều hơn và ngừng quan hệ tình dục trong một thời gian. Trong trường hợp này, chỉ cần sử dụng thuốc, nói chung có thể chữa khỏi và sẽ không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nam giới. Các nguyên nhân khác gây ra xuất tinh ra máu bao gồm: Lao túi tinh và tuyến tiền liệt, bệnh sán máng, tổn thương sỏi, ung thư, u nhú tinh hoàn, phì đại lành tính tuyến tiền liệt, ban xuất huyết, bệnh scorbut, giãn tĩnh mạch thừng tinh, xơ gan, v.v. Đối với xuất tinh ra máu do các bệnh này, phương pháp điều trị chính là bệnh nguyên phát. Nếu điều trị lâu dài không khỏi, máu sẽ có trong tinh dịch, ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch và chức năng của tinh trùng; đồng thời, nếu bệnh nguyên phát không được điều trị tốt, cũng sẽ dẫn đến suy giảm sức khỏe tổng thể, rối loạn chức năng tình dục và giảm khả năng sinh sản, tất yếu sẽ phát triển thành vô sinh nam. Do đó, cần xác định sớm nguyên nhân gây xuất tinh ra máu và điều trị kịp thời.
Huyết tinh thể thấp nhiệt hạ tiêu
Chứng trạng: Tinh dịch đỏ tươi hoặc sẫm đỏ, đau tức hoặc rát vùng âm bộ khi xuất tinh, kèm bực bội, mặt đỏ, miệng đắng, họng khô, đầy tức vùng thượng vị hoặc đại tiện dính nhớt khó đi, nước tiểu vàng sẫm, lưỡi rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phân tích: Thấp nhiệt uất kết ở hạ tiêu, chảy xuống tinh thất làm tổn thương huyết lạc gây xuất tinh ra máu. Thấp nhiệt trở trệ kinh lạc khiến đau tức vùng âm bộ khi xuất tinh. Nhiệt tà quấy rối tâm thần gây bực bội, mặt đỏ. Xâm phạm kinh đởm sinh miệng đắng, họng khô. Ăn nhiều đồ cay béo tổn thương tỳ vị gây thấp nhiệt sinh nội, biểu hiện đầy bụng, đại tiện dính nhớt. Nhiệt uất hạ tiêu làm tiểu tiện vàng sẫm. Lưỡi và mạch biểu hiện nội có thấp nhiệt.
Trị pháp:Thanh lợi thấp nhiệt hạ tiêu.
Phương dược: Long đởm thảo, sinh địa, trạch tả, mộc thông, chi tử, hoàng cầm, đương quy, cam thảo, sa tiền tử, bạch mao căn, tiểu kế, đại kế (gia giảm từ Long đởm tả can thang và Đạo xích tán, bổ sung các vị lương huyết chỉ huyết).
Huyết tinh thể âm hư hỏa vượng
Chứng chính: tinh dịch đỏ sẫm, đau khi xuất tinh, đau trướng nặng vùng âm bộ, tâm phiền mất ngủ, sốt âm ỉ về chiều, họng khô, gò má đỏ, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Phân tích: Phần nhiều do thể chất âm hư, hoặc phòng sự thất điều, thận tinh hao tổn, hoặc do tà nhiệt lưu lại lâu ngày gây hao tổn âm dịch, hoặc uất kết tình chí hóa hỏa thương âm đều dẫn đến âm hư. Thận âm hư, thủy hỏa mất điều hoà, hỏa vượng độc hành đẩy huyết đi sai đường gây tinh dịch có máu sẫm. Hư nhiệt đốt thương mạch lạc nên đau vùng âm bộ. Tâm thần không được nuôi dưỡng sinh tâm phiền mất ngủ. Âm hư hỏa vượng biểu hiện họng khô, gò má đỏ. Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác là biểu hiện củachứng âm hư nội nhiệt.
Trị pháp: Tư âm giáng hỏa.
Phương dược: Tri bá địa hoàng hoàn gia vị: Tri mẫu, hoàng bá, thục địa, sơn thù, sơn dược, đan bì, phục linh, trạch tả. Có thể thêm quy bản, long cốt, mẫu lệ nung, toan táo nhân, tam thất bột v.v.
Huyết tinh thể ứ huyết trở trệ
Chứng chính: tinh dịch tím sẫm hoặc kèm cục máu, đau vùng âm bộ lan sang tinh hoàn và dương vật, tiểu nhỏ giọt, tiểu buốt, có khi bí tiểu, lưỡi tím sẫm hoặc có ứ điểm, mạch sáp.
Phân tích: Bệnh lâu ngày, khí huyết ứ trệ ở tinh thất, hoặc do ngoại thương làm tổn thương huyết lạc, khí huyết bị tắc sinh ứ trệ. Mạch lạc trở tắc khiến máu không thông, tinh dịch có máu tím hoặc máu cục, vùng âm bộ đau, lan sang tinh hoàn và dương vật. Khí huyết bị cản trở gây tiểu buốt nhỏ giọt hoặc không thông. Lưỡi tím, có điểm ứ, mạch sáp là dấu hiệu huyết ứ nội trở.
Trị pháp: Hoạt huyết hóa ứ, hành khí chỉ thống.
Phương dược: Huyết phủ trục ứ thang gia giảm. Đan sâm, hồng hoa, xích thược, sinh địa, đào nhân, sài hồ, xuyên khung, nhũ hương chế, một dược chế, trạch lan, vương bất lưu hành. Tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu đau → thêm mộc thông, xa tiền tử, thạch vi. Đau vùng âm bộ lan tinh hoàn, dương vật → thêm tiểu hồi hương, lệ chi hạch, xuyên sơn giáp, tam lăng, nga truật v.v.
Huyết tinh thể khí hư không nhiếp huyết
Chứng chính: tinh dịch nhạt màu, thần mệt, suy nhược, thở ngắn, hồi hộp, sắc mặt nhợt, ăn ít, đầy bụng, giảm ham muốn, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế vô lực.
Phân tích: Tâm chủ huyết, can tàng huyết, tỳ thống huyết, để huyết vận hành trong mạch và không tràn ra ngoài cần có tam khí lực thúc đẩy và tỳ khí nhiếp giữ. Tỳ khí hư không nhiếp được huyết gây huyết tràn ra ngoài. Tỳ vị hư nhược, vận hóa suy kém làm khí huyết hư → mệt mỏi, thở ngắn, hồi hộp, sắc trắng, ăn ít, đầy bụng. Tỳ dương hệ thuộc thận dương, thận dương hư → giảm ham muốn. Lưỡi, mạch đều thể hiện tỳ thận dương hư.
Trị pháp: Bổ khí, nhiếp huyết.
Phương dược: Bổ trung ích khí thang gia giảm. Hoàng kỳ, đảng sâm, bạch truật, trần bì, đương quy, câu kỷ tử, lộc giác giao, sơn thù. Có thể thêm thuốc ôn bổ thận dương như bổ cốt chỉ, nhục quế, thỏ ty tử v.v.
Trên lâm sàng, viêm tuyến tiền liệt cấp tính và viêm túi tinh cấp tính thường xảy ra đồng thời, với độ tuổi khởi phát từ 20 đến 40 tuổi. Một số bệnh nhân có thể kèm theo sỏi tuyến tiền liệt hoặc phì đại tuyến tiền liệt. Có ba con đường nhiễm trùng do vi khuẩn đối với viêm tuyến tiền liệt cấp tính, cụ thể là lây lan qua đường máu, đường bạch huyết hoặc lây lan trực tiếp. Hầu hết chúng là các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn không đặc hiệu. Trên lâm sàng, 80% viêm tuyến tiền liệt đi kèm với viêm túi tinh và xuất tinh ra máu. Rất khó để phân biệt giữa viêm tuyến tiền liệt và viêm túi tinh. Hầu như tất cả các trường hợp viêm tuyến tiền liệt và viêm túi tinh đều có viêm niệu đạo sau và khoảng 40% viêm niệu đạo sau đi kèm với viêm tuyến tiền liệt. Do đó, không cần phải xem xét chúng riêng biệt trong việc lựa chọn thuốc kháng khuẩn để điều trị chống viêm cho viêm tuyến tiền liệt cấp tính hoặc viêm túi tinh cấp tính.
Ngoài điều trị chung, điều trị kháng khuẩn rất quan trọng trong điều trị xuất tinh ra máu trong viêm tuyến tiền liệt cấp tính hoặc viêm túi tinh cấp tính, và không cần điều trị cầm máu. Tuy nhiên, vì có màng lipid trên bề mặt tuyến tiền liệt nên nhiều loại kháng sinh khó có thể thấm qua màng này vào tuyến để đạt được hiệu quả điều trị. Cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
(1) Lựa chọn phải dựa trên độ nhạy của thuốc.
(2) Chọn thuốc kháng khuẩn có độ hòa tan trong lipid cao, độ thấm cao, tỷ lệ liên kết protein thấp trong huyết tương và độ phân ly cao.
(3) Thuốc kết hợp, liều lượng đủ và liệu trình điều trị dài. Thuốc phải được sử dụng trong hơn 4 tuần.
Thuốc và phương pháp dùng thuốc thông thường:
(1) Erythromycin: Erythromycin có khả năng thấm mạnh và độ thấm mạnh vào biểu mô tuyến tiền liệt. Nó có thể phân ly thành trạng thái không hòa tan trong môi trường axit. Nó rất nhạy cảm với Staphylococcus aureus và Streptococcus, nhưng không có hiệu quả đối với vi khuẩn Gram âm. Do đó, thuốc thường được dùng phối hợp với kanamycin. Cách dùng: Erythromycin 0,25g, ngày 4 lần; kanamycin 0,5g, ngày 2 lần, tiêm bắp, tổng cộng 10 đến 14 ngày cho đợt điều trị đầu tiên. Sau khi các triệu chứng cải thiện, chuyển sang dùng thuốc sulfamethoxazole dạng uống, mỗi lần 2 viên, ngày 2 lần, trong 10 đến 14 ngày.
(2) Co-trimoxazole: Liều dùng của Co-trimoxazole là 2 viên, ngày 2 lần, trong 4 đến 6 tuần. Khi uống thuốc này, có thể uống đồng thời các thuốc kiềm để tăng hiệu quả.
(3) Thuốc Pioneermycin và TMP: Chúng có thể đi vào tuyến tiền liệt qua đường máu để đạt được tác dụng chống viêm và diệt khuẩn. Thường dùng là viên nang Pioneermycin VI (cephradine), mỗi lần uống 2 viên (500 mg), ngày 4 lần. Trong những trường hợp nặng, có thể dùng 4 đến 8 g mỗi ngày, chia thành 2 lần tiêm tĩnh mạch, nhưng cần lưu ý rằng không được dùng cho những người có tiền sử dị ứng với cephalosporin, và cần thận trọng khi dùng cho những người bị dị ứng với penicillin. TMP chủ yếu được sử dụng dưới dạng chế phẩm hỗn hợp, dùng chung với sulfonamid. TMP hỗn hợp là Co-trimoxazole.
(4) Quinolone: Trong những năm gần đây, thuốc kháng khuẩn đã phát triển nhanh chóng và số lượng thuốc chống viêm cho viêm tuyến tiền liệt cấp tính cũng tăng lên rất nhiều. Việc sử dụng quinolone bao gồm 0,2 g norfloxacin, uống 3 lần một ngày; 0,2 g alfoxime, uống 2 lần một ngày; trong những trường hợp nặng, alfoxime có thể được truyền tĩnh mạch, 0,2 g mỗi lần, 2 lần một ngày, trong một liệu trình từ 10 đến 15 ngày. Các phản ứng có hại bao gồm các triệu chứng đường tiêu hóa và đôi khi tăng alanine aminotransferase. Khi tình trạng cải thiện, có thể dùng các loại kháng sinh khác.
(5) Penicillin: Một số penicillin có hiệu quả chống lại các vi khuẩn cụ thể của đường tiết niệu. Chúng không lý tưởng cho các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn không cụ thể và thường không phải là lựa chọn đầu tiên.
Tài liệu tham khảo:
Xuất tinh ra máu cần được coi trọng Trần Tiệp Hùng Lễ Sinh
Một người đàn ông đang trong độ tuổi sung sức và luôn khỏe mạnh. Anh ta phát hiện thấy máu trong tinh dịch của mình trong một lần giao hợp cách đây vài tuần, nhưng anh ta không có triệu chứng nào khác. Khi anh ta đến Khoa Tiết niệu của bệnh viện để điều trị, ban đầu bác sĩ cho rằng đó là xuất tinh ra máu nguyên phát và yêu cầu anh ta về nhà nghỉ ngơi, quan sát những thay đổi của xuất tinh ra máu và quay lại để tái khám sau một thời gian. Bây giờ các triệu chứng đã cải thiện rất nhiều và không có cảm giác khó chịu đặc biệt nào khác, vì vậy anh ta không để tâm. Một lần có người đồn thổi về điều đó khiến anh ta bối rối và không thể ăn ngủ, vì vậy anh ta lại đến Khoa Tiết niệu của bệnh viện và yêu cầu kiểm tra toàn diện để loại trừ ung thư tuyến tiền liệt. Bác sĩ bày tỏ sự hiểu biết của mình về tâm trạng của anh Trịnh. Sau khi có kết quả khám và lời giải thích của bác sĩ bệnh nhân, tảng đá đè lên tim của ông Trịnh cuối cùng đã được lấy ra.
Tại sao lại xuất tinh ra máu? Ông Trịnh cảm thấy lạ. Nếu không có bệnh lý, tại sao lại xuất tinh ra máu? Chúng ta hãy bắt đầu từ đầu. Cái gọi là xuất tinh ra máu, nói một cách đơn giản, là một căn bệnh có thể quan sát bằng mắt thường hoặc dưới kính hiển vi, với biểu hiện chính là tinh dịch có máu. Màu sắc bình thường của tinh dịch là trắng sữa hoặc vàng sữa. Khi máu lẫn vào tinh dịch, nó sẽ chuyển sang màu đỏ máu, đỏ nhạt hoặc nâu đỏ. Cũng có thể tinh dịch không có bất thường rõ ràng về ngoại hình, nhưng có thể nhìn thấy số lượng hồng cầu khác nhau dưới kính hiển vi, còn gọi là xuất tinh ra máu. Bệnh nhân nam đến khoa tiết niệu để khám xuất tinh ra máu không phải là hiếm. Xuất tinh ra máu có thể gặp ở bất kỳ độ tuổi nào sau khi phát triển, thường gặp ở nam giới trẻ và trung niên từ 30-40 tuổi đang trong thời kỳ đỉnh cao của hoạt động tình dục. Khoảng 80%-90% trong số đó là các cơn từng đợt, tức là chúng có thể tự khỏi mà không cần điều trị, nhưng thường tái phát sau một thời gian (vài tuần hoặc vài năm). Vậy xuất tinh ra máu được gây ra như thế nào? Nói cách khác, máu trong tinh dịch đến từ đâu? Nó không gì khác hơn là sự thay đổi bệnh lý ở một phần mô nhất định trên đường đi của tinh trùng, chẳng hạn như chảy máu, viêm hoặc thậm chí là khối u, khiến máu hòa lẫn với tinh dịch. Tinh dịch bình thường bao gồm tinh trùng và huyết tương của tinh dịch. Huyết tương của tinh dịch chủ yếu đến từ túi tinh và tuyến tiền liệt, túi tinh chiếm 60%, túi tinh chiếm 30% và 10% còn lại được tiết ra bởi các mô như mào tinh hoàn, ống dẫn tinh và tuyến hành niệu đạo. Khi túi tinh và tuyến tiền liệt và các mô và cơ quan tham gia vào quá trình sản xuất và vận chuyển tinh dịch bị ảnh hưởng bệnh lý và chảy máu, có thể gây ra tình trạng xuất tinh ra máu. Trong số đó, túi tinh và tuyến tiền liệt sản xuất ra nhiều huyết tương tinh dịch nhất, vì vậy nguyên nhân phổ biến nhất của tình trạng xuất tinh ra máu là các tổn thương (như nhiễm trùng hoặc viêm) ở cả hai. Một số bệnh toàn thân (như bệnh hệ thống máu gây rối loạn đông máu và bệnh gan mãn tính) cũng có thể gây ra tình trạng xuất tinh ra máu. Tình trạng xuất tinh ra máu do ung thư tuyến tiền liệt và khối u túi tinh ít phổ biến hơn hoặc chỉ là nguyên nhân gây ra tình trạng xuất tinh ra máu rất ít.
Tình trạng xuất tinh ra máu không nhất thiết quá khủng khiếp. Tình trạng xuất tinh ra máu có thể được chia thành tình trạng xuất tinh ra máu nguyên phát và tình trạng xuất tinh ra máu thứ phát. Cái gọi là tình trạng xuất tinh ra máu nguyên phát đề cập đến sự hiện diện của các tế bào hồng cầu trong tinh dịch và đây là triệu chứng duy nhất. Nghĩa là, khả năng tiểu ra máu ở bệnh nhân đã được loại trừ, không có triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu hoặc kích ứng, các xét nghiệm thường quy như phân tích nước tiểu không có phát hiện đặc biệt nào. Xuất tinh ra máu nguyên phát là bệnh tự giới hạn, tức là các triệu chứng sẽ biến mất mà không cần điều trị, một số bệnh nhân sẽ không còn xuất tinh ra máu nữa sau khi cải thiện. Nếu các triệu chứng xuất tinh ra máu thay đổi, kèm theo các triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu như đi tiểu nhiều lần, tiểu gấp và đau hoặc xuất tinh ra máu, bạn nên quay lại bệnh viện để tái khám kịp thời. Xuất tinh ra máu thứ phát là những người đã được phát hiện hoặc nghi ngờ mắc các nguyên nhân gây xuất tinh ra máu sau đây, chẳng hạn như nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm tuyến tiền liệt hoặc ung thư tuyến tiền liệt, cũng như các nguyên nhân hiếm gặp khác như lao niệu sinh dục nam và một số bệnh toàn thân. Điều này đòi hỏi phải kiểm tra hệ thống tiết niệu chi tiết hơn theo tình trạng cụ thể của các bệnh nhân khác nhau. Ví dụ, một số bệnh nhân cần chụp X-quang hoặc kiểm tra thuốc cản quang, hoặc làm nội soi bàng quang niệu đạo; một số bệnh nhân cần xét nghiệm máu PSA (kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt) và siêu âm qua trực tràng tuyến tiền liệt và túi tinh sau khi khám hậu môn, thậm chí thực hiện sinh thiết chọc dò dưới sự hướng dẫn của siêu âm B để chẩn đoán bệnh lý, sau đó tiến hành các phương pháp điều trị tương ứng.
Nhìn chung, hầu hết bệnh nhân xuất tinh ra máu không có phát hiện bất thường sau khi kiểm tra cần thiết và không cần điều trị đặc biệt. Xuất tinh ra máu có đặc điểm là khởi phát đột ngột, chấm dứt đột ngột và tự giới hạn. Nó không gây ra các bệnh khác và không gây nguy hiểm đặc biệt cho vợ. Trên thực tế, tỷ lệ mắc các khối u ác tính như ung thư tuyến tiền liệt không cao ở nước tôi và độ tuổi chủ yếu là người cao tuổi. Xuất tinh ra máu không phải là phổ biến và hiện nay có nhiều phương pháp điều trị. Tất nhiên, chúng tôi không nói rằng hành vi của ông Trịnh là đáng lo ngại về tương lai, nhưng không cần phải hoảng sợ khi gặp các triệu chứng đáng ngờ. Nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa kịp thời và thực hiện một số xét nghiệm cần thiết theo lời khuyên của bác sĩ.
Ban biên tập sức khỏe hàng ngày của Mạng lưới bệnh viện miễn phí www.cmn.com.cn
Xuất tinh ra máu
Tinh dịch bình thường của nam giới có màu trắng sữa hoặc vàng sữa. Nếu tinh dịch xuất ra có màu hồng, đỏ, đỏ nâu hoặc có vệt máu hoặc cục máu đông, và có thể nhìn thấy một số lượng lớn các tế bào hồng cầu trong vết bẩn dưới kính hiển vi, thì được gọi là xuất tinh ra máu. Về mặt y học, nó có thể được chia thành xuất tinh ra máu đại thể và xuất tinh ra máu vi thể. Y học Trung Quốc cũng gọi nó là “Xích trọc” (赤浊). Xuất tinh ra máu phổ biến hơn ở nam giới trẻ và trung niên từ 25 đến 40 tuổi. Đây là một căn bệnh phổ biến trong y học nam giới. Bệnh nhân thường thấy máu trong tinh dịch sau khi thủ dâm hoặc quan hệ tình dục. Hiện tượng này có thể kéo dài trong thời gian dài và thường gây căng thẳng về tinh thần, tăng gánh nặng tinh thần và thậm chí là sợ hãi.
Xuất tinh ra máu chủ yếu là một căn bệnh lành tính và tự giới hạn. Nguyên nhân chủ yếu thấy ở các tổn thương túi tinh, như viêm túi tinh, lao túi tinh, u túi tinh, v.v., trong đó viêm túi tinh là phổ biến nhất. Mặc dù nhìn chung, xuất tinh ra máu không có mối quan hệ đặc biệt với một số bệnh chính, đôi khi xuất tinh ra máu có thể là biểu hiện của một số bệnh toàn thân hoặc bệnh hữu cơ nghiêm trọng. Một số chuyên gia đã đề xuất rằng tuần hoàn bàng hệ của đám rối tĩnh mạch trĩ và đám rối tĩnh mạch tuyến tiền liệt trong xơ gan có thể gây ra xuất tinh ra máu; cũng có báo cáo rằng xuất tinh ra máu là do bệnh sán máng gây ra và ấu trùng sán máng sống đã được tìm thấy trong tinh dịch; cũng có báo cáo rằng xuất tinh ra máu liên quan đến tăng huyết áp, ung thư túi tinh, lao thận và ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn đầu. Do đó, khi xuất tinh ra máu xảy ra, đặc biệt là khi không chữa khỏi sau khi điều trị kháng khuẩn thường xuyên, nên tiến hành một số xét nghiệm đặc biệt để loại trừ các bệnh hữu cơ khác có thể xảy ra. Chỉ khi tìm ra nguyên nhân thực sự gây ra tình trạng xuất tinh ra máu và điều trị theo triệu chứng thì mới có thể đạt được hiệu quả như mong muốn.
Trong thời gian bình thường, nếu bạn gặp phải tình trạng xuất tinh ra máu, bạn nên chú ý xem có các triệu chứng đi kèm khác không, chẳng hạn như có triệu chứng nhiễm trùng đường tiết niệu như đi tiểu nhiều lần, buồn tiểu gấp và đau khi đi tiểu không, có triệu chứng của bệnh lao như ho ra đờm, ho ra máu, sốt nhẹ vào buổi chiều và đổ mồ hôi đêm không; có xu hướng dễ chảy máu không; có triệu chứng tắc nghẽn đường tiết niệu như tiểu khó không; có đau khi xuất tinh và chức năng tình dục bất thường không; có đau ở bụng dưới, tầng sinh môn và các bộ phận khác không, v.v. Vì một số loại thuốc kháng khuẩn dùng để điều trị viêm bàng quang cũng có thể làm thay đổi màu sắc của tinh dịch, nên xét nghiệm tinh dịch là cần thiết đối với những bệnh nhân có khiếu nại về máu trong tinh dịch. Một số bệnh viện cũng sẽ yêu cầu bệnh nhân thực hiện các xét nghiệm xuất tinh từng bước, không chỉ có thể xác định có tế bào hồng cầu và bạch cầu trong tinh dịch hay không mà còn có thể ước tính sơ bộ tình trạng của các tuyến phụ và nguồn máu trong tinh dịch. Đối với một số bệnh nhân cần thiết, có thể tiến hành nuôi cấy vi khuẩn tinh dịch + xét nghiệm độ nhạy thuốc, bác sĩ có thể lựa chọn thuốc kháng khuẩn phù hợp. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu bệnh nhân làm một số xét nghiệm hình ảnh, chẳng hạn như siêu âm qua trực tràng, được coi là phương pháp ưu tiên để sàng lọc tuyến tiền liệt và túi tinh để tìm sỏi, khối u, phì đại và các thay đổi bất thường khác. Đối với những bệnh nhân có phát hiện bất thường khi khám hậu môn và siêu âm, đặc biệt là người cao tuổi, cần phải làm thêm các xét nghiệm khác, bao gồm PSA, X-quang, CT, v.v., để loại trừ các bệnh như phì đại tuyến tiền liệt, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư túi tinh và lao sinh dục. Đối với những bệnh nhân tiểu máu, có thể tiến hành nội soi niệu đạo. Ở một số bệnh nhân bị xuất tinh ra máu nặng, nếu tìm thấy tế bào bạch cầu trong tinh dịch và vẫn không khỏi sau khi điều trị kháng khuẩn nhiều lần, thì lúc này nên cân nhắc đến khả năng mắc bệnh lao. Đối với một số trường hợp khó, nên cân nhắc đến khả năng mắc các bệnh toàn thân và nên loại trừ các bệnh về hệ thống máu như ban xuất huyết, bệnh scorbut, bệnh bạch cầu, v.v. và tăng áp lực tĩnh mạch cửa của xơ gan.
Tóm lại, tuy tình trạng xuất tinh ra máu do các bệnh lý nguy hiểm đến tính mạng không phổ biến, nhưng nếu xuất tinh ra máu, bạn nên đến khoa tiết niệu và nam khoa của bệnh viện đa khoa kịp thời, đồng thời chú ý loại trừ một số nguyên nhân nhạy cảm hơn như chấn thương, bệnh lý xuất huyết, sỏi túi tinh tuyến tiền liệt, viêm tuyến tiền liệt và túi tinh, phì đại tuyến tiền liệt, v.v.
Việc điều trị xuất tinh ra máu chủ yếu nhằm vào nguyên nhân gây bệnh. Đồng thời, bạn nên duy trì tâm trạng thoải mái, vui vẻ, loại bỏ những lo lắng và sợ hãi về mặt tâm lý, sống điều độ, tránh rượu bia và đồ ăn cay, ăn chế độ ăn nhẹ, ăn nhiều trái cây, đi tiêu đều đặn và duy trì đời sống tình dục hợp lý, bình thường.
Ly Trường Xuân DỊCH