Tham khảo tư liệu
Y học cổ truyền nhận định viêm tiền liệt tuyến mạn tính như thế nào?
Viêm tiền liệt tuyến mạn tính trong y học cổ truyền thuộc phạm vi các chứng “tinh trọc”, “lao lâm”, “bạch dâm”. Sách Y biện của Hà Mộng Dao có ghi: “Ở đầu khiếu thường kéo ra sợi dính nhầy như mủ như ghèn”, rất giống hiện tượng cuối tiểu ra dịch trắng trong bệnh này. Nguyên nhân bệnh thường gặp gồm: (1) Ngoại cảm độc nhiệt lưu lại không tiêu, hoặc sinh hoạt tình dục không điều độ khiến thấp nhiệt uất ở tinh thất, tinh trọc hỗn tạp, tinh không giữ vị trí. (2) Tướng hỏa vượng, do dục vọng không được thỏa mãn hoặc cố nhịn xuất tinh khiến thận hỏa uất lại không tán, tinh lạc vị hóa thành bạch trọc. (3) Phòng sự quá độ khiến tinh khí kiệt, tinh thất hư tổn, thấp nhiệt thừa cơ xâm nhập, tinh bị xung đẩy không yên tàng. Do thận hỏa uất lại hoặc thấp nhiệt lưu cữu lâu ngày không giải, khí huyết ứ trệ ở tinh đạo, bệnh kéo dài khó khỏi.
Các thể bệnh lâm sàng thường gặp
Phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền
(1) Dùng thuốc uống trong theo từng thể bệnh
①Thể thấp nhiệt uất trệ: Thanh nhiệt lợi thấp Phương: Tỳ giải phân thanh ẩm gia giảm: Tỳ giải 10g, xa tiền thảo 10g, phục linh 10g, đan sâm 10g, hoàng bá 6g, ý dĩ nhân 10g, hậu phác 10g, tâm sen 10g, xương bồ 10g, bích ngọc tán 15g.
②Thể âm hư hỏa vượng: Tư thận dưỡng âm, thanh tiết tướng hỏa Phương: Tri bá địa hoàng hoàn gia giảm: tri mẫu 15g, hoàng bá 6g, sinh địa 12g, sơn thù 10g, hoài sơn 20g, đan bì 10g, phục linh 10g, trạch tả 10g.
③Thể thận dương hư suy: Bổ thận trợ dương Phương: Hữu quy hoàn hợp Kim tỏa cố tinh hoàn gia giảm: sinh địa 10g, thục địa 10g, hoài sơn 10g, phục linh 10g, xuyên đoạn 10g, kim anh tử 15g, ngũ bội tử 12g, ích trí nhân 10g, thỏ ty tử 15g, đỗ trọng 10g, câu kỷ tử 10g, đương quy 10g, nhục quế 4g.
④Thể khí huyết ứ trệ: Hoạt huyết hóa ứ Phương: Tiền liệt tuyến thang (phương kinh nghiệm Khoa Tiết niệu BV Quảng An Môn): đào nhân 10g, hồng hoa 10g, xích thược 10g, đan sâm 20g, trạch lan 10g, vương bất lưu hành 10g, nguyên hồ 10g, xuyên sơn giáp 5g, ngưu tất 10g, đương quy 10g. Nếu tuyến tiền liệt cứng: thêm tam lăng 6g, nga truật 6g, táo thích 6g.
(2) Phương pháp điều trị bên ngoài
①Ngâm rửa bằng nước thuốc: Ngư tinh thảo 20g, mã xỉ hiện 10g, đan sâm 20g, xích thược 10g, tử thảo 10g, bạch hoa xà thiệt thảo 10g, dã cúc hoa 20g. Sắc lấy 1500ml, ngâm mỗi ngày 1–2 lần, mỗi lần 30 phút, nước không quá 40°C.
②Thuốc sắc giữ lại để thụt hậu môn: Bại tương thảo 20g, ngư tinh thảo 10g, thổ phục linh 10g, đại hoàng 10g, đan sâm 20g, trạch lan 10g, đào nhân 12g, xích thược 20g. Dùng 500ml nướcSắc còn 150–200ml, để ấm (40°C) rồi thụt hậu môn, mỗi ngày 1 lần.
③Đặt viên nhét hậu môn dã cúc hoa: mỗi ngày 1–2 lần, dùng cho thể thấp nhiệt và khí trệ huyết ứ.
(3) Châm cứu
①Châm thể châm:
Thể thấp nhiệt uất trệ: thêm Tiểu trường du, Dương lăng tuyền
Thể âm hư hỏa vượng: thêm Tam âm giao, Thái khê
Thể thận dương hư suy: thêm Mệnh môn, Khí hải, Tam âm giao
Thể khí trệ huyết ứ: thêm Huyết hải, Dương lăng tuyền, Bách hội, Khí hải
②Nhĩ Châm
③Phương pháp cứu
(4) Phương pháp khác
Tổng kết: Theo kinh nghiệm lâm sàng và tài liệu tham khảo, nguyên tắc hoạt huyết hóa ứ hành khí đóng vai trò quan trọng trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính. Dù là thể bệnh nào, nếu trên cơ sở biện chứng luận trị mà kết hợp thêm các dược liệu hoạt huyết hành khí thì hiệu quả sẽ tăng rõ rệt. Trong các phương pháp điều trị bên ngoài, châm cứu và thụt thuốc giữ lại có hiệu quả nổi bật hơn cả.
Cơ chế tác dụng của y học cổ truyền trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính là gì?
Y học cổ truyền điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính chủ yếu nhằm phục hồi chức năng sinh lý của tuyến tiền liệt, tức là khôi phục khả năng bài tiết, dẫn lưu và khả năng chống khuẩn của tuyến. Dựa trên các biến đổi bệnh lý sinh lý học kết hợp với biện chứng luận trị tại chỗ theo y học cổ truyền, có thể phân tích cơ chế tác dụng như sau:
(1) Tắc ống tuyến: Tuyến đầy, chất tuyến trung bình, xoa bóp chỉ lấy được ít hoặc không có dịch tuyến, bạch cầu trong dịch tăng vừa phải, khi ấn có cảm giác đau nhẹ. Biện chứng thuộc thể huyết ứ. Do sung huyết mạn tính lâu ngày kèm phản ứng viêm, khiến ống tuyến không thông, dịch tiết và ứ đọng gia tăng. Dùng các vị thuốc lương huyết hoạt huyết, thanh nhiệt giải độc, hóa ứ thông lạc như hồng đằng, xích thược, hồng hoa, bại tương thảo, hoàng bá, ngưu tất, vương bất lưu hành.
(2) Ứ đọng dịch viêm: Tuyến đầy, xoa bóp ra nhiều dịch, sau bóp tuyến mềm lại, bạch cầu trong dịch tăng rõ rệt, kèm theo triệu chứng kích thích bàng quang là chính. Biện chứng thuộc thể thấp nhiệt. Do kích thích viêm kèm sung huyết phản ứng, dịch tiết tăng nhưng dẫn lưu kém. Dùng thuốc thanh nhiệt lợi thấp như hoạt thạch, cam thảo, xa tiền thảo, bồ công anh. Do ống tuyến còn tương đối thông nên hiệu quả điều trị khá tốt.
(3) Lực co bóp cơ trơn vỏ tuyến yếu: Tuyến đầy, xoa bóp ra nhiều dịch, sau bóp tuyến mềm lại, bạch cầu gần như bình thường hoặc tăng nhẹ. Biện chứng thuộc thể trung khí hư. Dùng thuốc bổ trung ích khí như hoàng kỳ, thăng ma hoặc bài Bổ trung ích khí thang.
(4) Thiếu dịch tuyến: Tuyến mềm hoặc nhỏ, xoa bóp rất ít ra dịch, kèm theo triệu chứng giảm ham muốn tình dục. Biện chứng thuộc thể thận hư. Trên cơ sở dùng thuốc hoạt huyết thông lạc phối hợp các vị bổ tỳ ích thận như đảng sâm, hoàng kỳ, câu kỷ tử, xuyên đoạn, tiên linh tì. Thuốc bổ thận có tác dụng tăng cường hormone sinh dục.
(5) Rối loạn chức năng cơ vùng đáy chậu: Biểu hiện đau vùng thắt lưng, bụng dưới, dương vật… Có thể là viêm vùng đáy chậu gây co thắt phản xạ các nhóm cơ lân cận hoặc là do trào ngược nội tuyến nguyên phát, nguyên nhân do tăng áp lực niệu đạo dưới. Nhiều bác sĩ dùng bài Đào hồng tứ vật thang gia ngưu tất, nhũ hương, một dược, chỉ xác, thanh bì hoặc chườm nóng bằng thuốc tại chỗ. Nguyên tắc dùng thuốc tương tự thể tắc nghẽn ống tuyến: hoạt huyết thông lạc.
Tổng kết: Cơ chế điều trị bằng y học cổ truyền không tách biệt mà có mối liên hệ nội tại. Thấp nhiệt là dịch viêm ứ đọng; huyết ứ là biểu hiện sung huyết mạn tính của tuyến tiền liệt. Sung huyết gây tắc ống tuyến → làm tăng ứ đọng dịch viêm (thấp nhiệt) → dịch viêm kích thích khiến sung huyết kéo dài. Do đó, nên lấy hoạt huyết thông lạc (khơi thông ống tuyến) làm chủ, phối hợp thanh nhiệt lợi thấp hoặc bổ thận để phục hồi chức năng tuyến tiền liệt.
Cơ sở chẩn đoán thể huyết ứ trong viêm tiền liệt tuyến mạn tính là gì?
Dựa trên thống kê lâm sàng 656 ca viêm tiền liệt tuyến mạn tính và tiêu chuẩn chẩn đoán thể huyết ứ do Hội Nghiên cứu hoạt huyết hóa ứ Toàn quốc của Hội Y học Trung Tây kết hợp đề xuất, có thể xác lập các tiêu chuẩn sau:
(1) Đau cố định vùng thắt lưng, bụng dưới, hội âm. Phù hợp tiêu chuẩn “đau có định xứ” của thể huyết ứ trong y học cổ truyền, gặp ở 82,9% bệnh nhân.
(2) Tuyến tiền liệt khi khám ấn thấy đau, chất tuyến cứng hoặc có cục cứng. Phù hợp tiêu chuẩn “u cục bệnh lý” của thể huyết ứ, chiếm 77,4%.
(3) Bệnh thường do uống rượu, đi xe đường dài, sinh hoạt tình dục không điều độ (như ngắt quãng, không xuất tinh, thủ dâm thường xuyên…) gây sung huyết mạn tính tuyến tiền liệt → huyết ứ. Tỷ lệ nguyên nhân này chiếm 73,7%.
(4) Lưỡi mạch:
(5) Dịch tuyến tiền liệt chứa nhiều tế bào viêm → phản ứng viêm → vi tuần hoàn vùng tổn thương rối loạn → tăng tính thấm mạch → thoát huyết tương → ứ huyết. Xét theo biện chứng vi thể, thuộc thể huyết ứ.
(6) Biến đổi bệnh lý chủ yếu là: tuyến, ống tuyến thấm nhập tế bào viêm, hoại tử, tăng sinh mô sợi quanh tuyến. Cũng là biểu hiện vi thể của thể huyết ứ.
(7) Đo các chỉ số huyết học của 60 ca:
①Cắt cao: cao hơn bình thường 9 ca (15%)
②Cắt thấp: cao hơn bình thường 20 ca (33,3%)
Thuốc sắc tuyến tiền liệt ra đời như thế nào và ý tưởng cơ bản đằng sau việc điều trị viêm tuyến tiền liệt mãn tính là gì?
Thuốc sắc tuyến tiền liệt là một bài thuốc hiệu quả để điều trị viêm tuyến tiền liệt mãn tính được phát minh bởi Giáo sư Lưu Hữu Phương, Trưởng khoa Tiết niệu Bệnh viện Quảng An Môn, Viện Hàn lâm Khoa học Y học Trung Quốc và là chuyên gia nổi tiếng về tiết niệu kết hợp y học cổ truyền Trung Quốc và Tây y. Vào đầu những năm 1960, Giáo sư Liu đã phát triển công thức Thuốc sắc tuyến tiền liệt thông qua rất nhiều thực hành lâm sàng. Thông qua trao đổi trên báo, tạp chí, hội nghị khoa học và biên soạn các bộ sưu tập đơn thuốc thực nghiệm, phương pháp này dần được phổ biến và thúc đẩy trên toàn quốc vào những năm 1960 và 1970.
Giáo sư Lưu Hữu Phương cho rằng, mặc dù nguyên nhân gây viêm tuyến tiền liệt mãn tính rất phức tạp nhưng về mặt bệnh lý, tất cả đều có đặc điểm chung, đó là nhiều nguyên nhân khác nhau có thể dẫn đến tình trạng tắc nghẽn và phù nề ống dẫn tiền liệt tuyến, phế nang và mô kẽ, tắc ống dẫn, viêm bao bọc và xơ kẽ. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm đau cố định ở vùng thắt lưng cùng, bụng dưới, tầng sinh môn, v.v., tiểu tiện thường xuyên và đau, lưỡi tím, tất cả đều cho thấy căn bệnh này thuộc loại hội chứng ứ huyết trong y học cổ truyền. Do đó, Thuốc sắc tuyến tiền liệt với nguyên lý điều trị chính là thúc đẩy lưu thông máu và loại bỏ ứ trệ máu, giải độc và loại bỏ độ ẩm đã được tạo ra để điều trị viêm tuyến tiền liệt mãn tính. Kết quả điều trị của hàng chục ngàn bệnh nhân đã chứng minh rằng Thuốc sắc tuyến tiền liệt có tác dụng rất rõ rệt trong việc cải thiện các triệu chứng lâm sàng, tác dụng làm giảm số lượng bạch cầu trong dịch tuyến tiền liệt nhanh hơn, tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng đạt trên 70%. Hiện nay, công thức và ý tưởng nghiên cứu của Thuốc sắc tuyến tiền liệt đã được sử dụng làm nguyên tắc cơ bản và đơn thuốc để điều trị viêm tuyến tiền liệt mãn tính. Sản phẩm được sử dụng rộng rãi tại nhiều bệnh viện các cấp ở Trung Quốc, phá vỡ tình trạng khó khăn trong việc chữa khỏi bệnh viêm tuyến tiền liệt mãn tính. Nghiên cứu này đã trúng thầu Dự án trọng điểm Kế hoạch 5 năm lần thứ bảy của quốc gia, tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả lâm sàng và cơ chế hiệu quả, và đã đạt được tiến bộ đáng kể. Kết quả nghiên cứu này đã giành được Giải thưởng Thành tựu nghiên cứu khoa học loại A của Bộ Y tế và Giải thưởng Tiến bộ khoa học công nghệ của Cục Quản lý Y học cổ truyền Nhà nước. Hiện nay, nghiên cứu lâm sàng và cơ chế của thuốc sắc Tuyến tiền liệt vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.
Những nghiên cứu thực nghiệm chính về điều trị viêm tuyến tiền liệt mãn tính bằng thuốc sắc Tuyến tiền liệt là gì?
Bởi vì thuốc sắc tuyến tiền liệt có tác dụng điều trị rất đáng kể trong việc điều trị viêm tuyến tiền liệt mãn tính. Do đó, chúng tôi đã tiến hành nhiều nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về cơ chế điều trị của nó. Các kết quả thử nghiệm chính như sau:
(1) Tác động đến lưu biến máu
Một mô hình ứ máu thực nghiệm đã được tạo ra trên thỏ bằng cách sử dụng dextran có trọng lượng phân tử cao và tác dụng của Thuốc sắc tuyến tiền liệt lên mô hình đã được quan sát. Kết quả cho thấy, thuốc sắc tuyến tiền liệt có thể làm giảm đáng kể độ nhớt toàn phần máu của thỏ với mô hình ứ máu, giảm tỷ lệ kết tập tiểu cầu và bám dính tiểu cầu, giảm độ ẩm và trọng lượng khô của huyết khối trong ống nghiệm. Điều này cung cấp cơ sở khách quan cho cơ chế hoạt động của Thuốc sắc tuyến tiền liệt trong việc cải thiện các triệu chứng ứ máu trên lâm sàng.
(2) Tác động lên các rối loạn vi tuần hoàn thực nghiệm
Adrenaline được sử dụng để tạo ra mô hình rối loạn vi tuần hoàn ở chuột. Kết quả cho thấy, thuốc sắc Tuyến tiền liệt có tác dụng rất rõ rệt trong việc làm chậm quá trình ngừng hoặc làm chậm lưu lượng máu vi động mạch trên mô hình thực nghiệm, đồng thời có tác dụng giãn các động mạch vi mô, chứng tỏ thuốc sắc Tuyến tiền liệt có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn, thúc đẩy lưu thông máu, làm giảm tình trạng sung huyết mạn tính.
(3) Tác động lên mô hình bệnh lý viêm tuyến tiền liệt thực nghiệm
Thuốc tiêm Xiaozhiling được sử dụng để tạo ra mô hình viêm tăng sinh xơ tuyến tiền liệt ở chuột. Kết quả cho thấy nhóm dùng thuốc sắc tuyến tiền liệt có thâm nhiễm tế bào viêm kẽ tuyến tiền liệt nhẹ, tăng sinh nguyên bào sợi nhẹ và tăng tiết dịch đáng kể. Kính hiển vi điện tử truyền qua cũng quan sát thấy sự gia tăng số lượng hạt tiết trên bề mặt tế bào tuyến, khoang tuyến chứa đầy các chất giống như hạt kim loại và số lượng lysosome tăng lên và mở rộng. Điều này cho thấy súp tuyến tiền liệt có thể cải thiện phản ứng viêm của mô hình thực nghiệm và phục hồi chức năng tiết của tế bào biểu mô tuyến tiền liệt. Những thay đổi về cấu trúc ở cấp độ tế bào và dưới tế bào cung cấp cơ sở khách quan cho thang tuyến tiền liệt nhằm làm giảm phản ứng viêm và tăng sản mô xơ.
Tại sao viên nang tuyến tiền liệt có hiệu quả trong điều trị viêm tuyến tiền liệt mãn tính?
Viên nang tuyến tiền liệt được sản xuất dựa trên dạng bào chế cải tiến của công thức Thuốc sắc tuyến tiền liệt do Giáo sư Lưu Du Phương thuộc Khoa tiết niệu, Bệnh viện Quảng An Môn, Viện Hàn lâm Khoa học Y học Trung Quốc phát triển. Do việc điều trị viêm tuyến tiền liệt mãn tính đòi hỏi một liệu trình điều trị dài, thường là hơn ba tháng, viên nang tuyến tiền liệt tiện lợi hơn thuốc sắc và dễ tuân thủ hơn, do đó hiệu quả sẽ được cải thiện tương ứng.
Kết quả nghiên cứu lâm sàng trên hàng ngàn trường hợp cho thấy tỷ lệ chữa khỏi lâm sàng và hiệu quả đáng kể của viên nang tuyến tiền liệt lên tới 80,3% và có tác dụng cải thiện đáng kể các triệu chứng lâm sàng chính của viêm tuyến tiền liệt mãn tính, đặc biệt đối với những người bị đau dữ dội ở tầng sinh môn, bụng dưới và thắt lưng, cũng như tuyến tiền liệt cứng và đau. Hiệu quả giảm triệu chứng rõ rệt nhất sau 1 đến 2 tuần dùng thuốc. Trong một số trường hợp, chức năng tình dục được cải thiện sau khi điều trị, và trong một số trường hợp, chức năng tình dục được tăng cường. Điều này có thể liên quan đến thực tế là công thức của viên nang tuyến tiền liệt chủ yếu bao gồm các sản phẩm hoạt hóa máu và loại bỏ ứ máu, có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn, thúc đẩy hấp thụ viêm và thúc đẩy tiết tuyến.
Ngoài ra, viên nang tuyến tiền liệt còn có tác dụng đáng kể trong việc làm giảm số lượng bạch cầu trong dịch tuyến tiền liệt. Một nhóm dữ liệu quan sát cho thấy liệu trình điều trị kéo dài ba tháng có thể làm giảm số lượng bạch cầu xuống mức bình thường ở 66,1% trường hợp. Nó cũng có tác dụng làm tăng hàm lượng kẽm trong dịch tuyến tiền liệt và làm giảm độ pH của dịch tuyến tiền liệt, cho thấy viên nang tuyến tiền liệt là một trong những loại thuốc lý tưởng để điều trị viêm tuyến tiền liệt mãn tính.
Phương pháp hoạt huyết hóa ứ trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính có mấy loại?
Việc điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính bằng phép hoạt huyết hóa ứ trên lâm sàng thường sử dụng 4 phương pháp sau:
(1) Hoạt huyết bổ thận
Chỉ định: tiểu nhiều, tiểu nhỏ giọt không hết, chóng mặt, hay mộng mị, đau mỏi thắt lưng gối, di tinh, bạch trọc, giảm ham muốn tình dục, lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng mỏng, mạch tế. Dược liệu thường dùng: Xích thược, đan bì, đan sâm, tử thảo, hoài sơn, câu kỷ tử, hoàng kỳ, hạn liên thảo, tam thất, nếu thận dương hư thì thêm thỏ ty tử, xà sàng tử.
(2) Hoạt huyết lý khí
Chỉ định: đau tức vùng hạ vị và hội âm, đau lan xuống tinh hoàn, tiểu buốt, nhỏ giọt không dứt, bạch trọc, hay thở dài, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch sáp. Dược liệu thường dùng: Trầm hương, vương bất lưu hành, hoạt thạch, thạch vi, xích bạch thược, xuyên luyện, đương quy, nguyên hồ, trần bì, vân linh.
(3) Hoạt huyết giải độc
Chỉ định: Đau tức vùng hạ vị và hội âm, tiểu nhiều và ngắn, tiểu buốt, tiểu ra dịch trắng khi đại tiện, miệng khô đắng, soi dịch tiền liệt tuyến thấy bạch cầu tăng, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt. Dược liệu thường dùng: Sinh địa, xích thược, đan sâm, đào nhân, đại hoàng, địa đinh, trạch lan, liên kiều, ngư tinh thảo, bạch hoa xà thiệt thảo, bồ công anh, bại tương thảo.
(4) Hoạt huyết tán kết
Chỉ định: đau tức vùng hạ vị, hội âm, lan xuống thừng tinh và tinh hoàn, tuyến tiền liệt sưng to, chất rắn, ấn đau, rêu lưỡi trắng mỏng, có điểm ứ huyết, mạch huyền tế. Dược liệu thường dùng: nguyên hồ, xích thược, xuyên sơn giáp, nhũ hương, một dược, táo thích, hạt quýt, hạt vải, hoàng bá, bồ công anh, bại tương thảo.
Hiệu quả của phương pháp thụt thuốc y học cổ truyền trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính ra sao?
Trong những năm gần đây, nhiều tài liệu báo cáo về hiệu quả của phương pháp thụt thuốc y học cổ truyền trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính và đều đạt kết quả tốt.
Cơ chế tác dụng như sau:
Tuyến tiền liệt nằm trong khung chậu, sát với trực tràng. Việc thụt thuốc y học cổ truyền ở nhiệt độ 40°C – 42°C có thể phát huy hiệu ứng nhiệt, tác động trực tiếp lên tiền liệt tuyến, thúc đẩy tuần hoàn máu tại chỗ, tăng khả năng thực bào của bạch cầu, đẩy nhanh quá trình chuyển hóa và thải độc cục bộ, làm tiêu viêm, mềm hóa mô xơ sẹo.
Trước đây người ta cho rằng giữa trực tràng và tiền liệt tuyến có màng fascia Denonvillier ngăn cách, cấu trúc chặt, ít máu nuôi, thuốc khó xuyên qua. Tuy nhiên, thí nghiệm gần đây trên động vật cho thấy một số thuốc có gắn đồng vị phóng xạ có thể từ trực tràng đi vào tiền liệt tuyến, củng cố tính hợp lý của cơ chế điều trị qua đường này.
Ngoài ra, do thuốc y học cổ truyền trị viêm tiền liệt tuyến thường là hoạt huyết, nhuyễn kiên, thanh nhiệt giải độc nên dùng lâu dễ hại tỳ vị, nhất là với người tỳ vị hư hàn. Do vậy, thụt thuốc là phương pháp khả thi, tránh tổn thương tỳ vị mà vẫn đạt hiệu quả.
Bài thuốc thường dùng để thụt:
Bại tương thảo 50g, bồ công anh 50g, thổ phục linh 30g, hồng đằng 30g, nguyên hồ 30g, hoàng bá 30g.
Thuốc sắc thành dịch 40°C – 42°C, mỗi lần dùng 150 – 200ml, thụt giữ trong trực tràng. Qua theo dõi lâm sàng, nhiều trường hợp giảm nhanh các triệu chứng như đau, tiểu khó, số lượng bạch cầu trong dịch tiền liệt tuyến giảm rõ rệt, thể hiện hiệu quả rõ ràng.
Phương pháp xông rửa – ngâm ngồi điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính
Các phương pháp xông – ngâm bằng nước thuốc ấm giúp thúc đẩy tuần hoàn máu vùng chậu, cải thiện vi tuần hoàn, đặc biệt hiệu quả với viêm tiền liệt tuyến sung huyết.
(1) Dùng thiết bị ngâm ngồi giữ nhiệt ổn định từ 42°C – 46°C, mỗi lần 20 phút, 20 ngày là một liệu trình. Có tài liệu báo cáo tỉ lệ hiệu quả 88,4%.
(2) Bài ngâm ngồi: Xơ mướp (Ti qua lạc) 30g, khổ sâm 30g, hồng hoa 20g, kim ngân hoa 30g, bại tương thảo 30g, thổ phục linh 40g, đại hoàng 50g, mang tiêu 50g. Sắc lấy 2500ml nước thuốc, mỗi tối ngồi ngâm 1 lần, phối hợp thuốc uống, một liệu trình 1 tháng, hiệu quả đạt 87,5%.
(3) Dùng đại hoàng 90g sắc với 400ml nước, dùng hơi nước xông rửa vùng hội âm, sáng tối mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 30 phút. Báo cáo điều trị 60 ca, tỉ lệ hiệu quả 100%.
(4) Ngồi ngâm nước ấm hoặc dùng dung dịch giấm pha loãng 1:10, hoặc dùng mang tiêu 10g, mã xỉ hiện 20g, minh phàn sống 10g, đan sâm 30g, côn bố 30g, hải tảo 30g, hải phù thạch 30g, hạ khô thảo 30g. Sắc nước dùng xông – ngâm vùng hội âm, mỗi lần 15 – 30 phút, ngày 1 – 2 lần, hiệu quả tốt.
Cơ chế tác dụng của liệu pháp dán thuốc ở rốn trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính
Rốn nằm ở vị trí lõm chính giữa bụng, là nơi còn lại sau khi dây rốn rụng, thuộc huyệt Thần Khuyết trên mạch Nhâm trong hệ thống kinh lạc y học cổ truyền. Mạch Nhâm chủ quản các kinh âm toàn thân, đi giữa ngực bụng, liên hệ với ngũ tạng lục phủ qua kinh lạc. Huyệt Thần Khuyết nằm giữa trung tâm bụng, là nơi giao hội khí của các tạng phủ, có tác dụng kiện tỳ ôn thận, hành khí hoạt huyết, tán kết thông trệ, trị bách bệnh.
Rốn là nơi thành bụng đóng kín cuối cùng trong quá trình phát triển phôi thai, lớp sừng biểu bì ở đây rất mỏng, chức năng hàng rào yếu, không có lớp mỡ dưới da, da liên kết trực tiếp với cân mạc và phúc mạc. Ngoài vi tuần hoàn tại chỗ, dưới phúc mạc còn có mạng lưới tĩnh mạch phong phú. Tĩnh mạch nông thông với tĩnh mạch thành bụng và ngực bụng, tĩnh mạch sâu nối với tĩnh mạch trên và dưới của thành bụng, các nhánh động mạch dưới bụng cũng đi qua vùng rốn. Ngoài ra, rốn lõm xuống tạo nên hốc tự nhiên, giúp thuốc dán giữ được lâu. Các đặc điểm này giúp thuốc dễ khuếch tán, thấm qua da vào máu, đi vào tuần hoàn và phát huy tác dụng tại cơ quan bệnh lý.
Ngoài ra, việc dán thuốc vào huyệt Thần Khuyết có thể kích thích thần kinh vùng rốn, từ đó điều hòa hệ thần kinh, nội tiết, miễn dịch, cải thiện chức năng cơ quan, tăng khả năng phòng trị bệnh.
Chính nhờ cơ chế này, liệu pháp dán thuốc ở rốn được áp dụng rộng rãi trong điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính. Ví dụ, bài thuốc dán rốn thường dùng (xạ hương 0,15g, bạch hồ tiêu 7 hạt nghiền mịn, dán vào rốn) dựa trên cơ chế hấp thu qua da, phát huy tác dụng hành khí hoạt huyết, tiêu viêm giải độc, tán kết chỉ thống của xạ hương và hồ tiêu, từ đó đạt hiệu quả chữa bệnh.
Các phương pháp dán thuốc điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính
(1) Dán vùng hội âm: sau khi rửa sạch vùng hội âm, ngâm ngồi nước ấm 20 phút, sau đó trộn nước gừng tươi với bột đại hoàng (20g mỗi loại), đắp ngoài da, cố định bằng băng dán tại hai huyệt Trung cực và Hội âm. Có tài liệu báo cáo hiệu quả đạt 100%.
(2) Dán thuốc ở rốn: đặt xạ hương 0,15g vào rốn, nghiền bột 7 hạt bạch hồ tiêu rắc lên trên, đắp giấy trắng và cố định bằng băng keo, thay thuốc 7–10 ngày/lần, 10 lần là 1 liệu trình. Có tài liệu báo cáo hiệu quả đạt 100%.
(3) Liệu pháp bùn nóng: làm nóng bùn đến 46–50°C, đắp lên vùng thắt lưng cùng và hội âm mỗi lần 30 phút, mỗi ngày một lần, 15–20 lần là 1 liệu trình. Có tác dụng rõ rệt trong giảm triệu chứng.
(4) Dán cao dược liệu: ngũ bội tử, tiểu hồi hương, tam thất, bối mẫu, băng phiến, hùng hoàng, nhũ hương (mỗi vị 10g), toàn trùng 30g, rết 5g, đại hoàng, thiên hoa phấn (mỗi vị 50g), dã cúc hoa 100g. Nghiền bột, trộn với giấm trắng, đun sôi bằng lửa to 15 phút, sau đó lửa nhỏ 10 phút đến khi sền sệt. Đậy kín 5 phút rồi để nguội dùng dần. Khi dùng, rửa sạch hội âm bằng nước ấm, bôi thuốc lên vải, dán vào vùng hội âm, mỗi tối 1 lần.
(5) Cao dán tiền liệt tuyến: kim ngân hoa, đại phi đằng thảo, bồ công anh, xuyên khung, nhũ hương, một dược, hồng hoa, độc giác liên, dầu lạc hoặc dầu đậu nành, nhựa thông, băng phiến, xạ hương vừa đủ. Ngâm thuốc trong dầu 15 ngày, sau đó đun trong chảo dầu, gạn bỏ bã, tiếp tục đun đến khi nhỏ giọt vào nước tạo thành hạt tròn thì thêm nhựa thông, khuấy tan, tắt lửa, cho băng phiến, xạ hương vào khuấy đều, để nguội. Dùng 20–30g cao, dán lên huyệt Hội âm, Trung cực, cố định bằng băng dán, mỗi ngày 1 lần.
Phương pháp chích tách điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính
Chích tách (trị liệu “cắt gốc”) là phương pháp dùng kim tam lăng vô trùng hoặc kim khâu lớn để cắt tách một số sợi mô liên kết dưới da, hoặc chích qua da nặn máu, nhằm đạt hiệu quả điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính. Phương pháp này có hiệu quả rõ trong giai đoạn đầu, cải thiện triệu chứng ở các mức độ khác nhau.
(1) Vị trí chích: chọn các nốt sẩn ở vùng thắt lưng cùng. Đặc điểm: như sẩn nhỏ, hơi nhô lên, bằng đầu kim hoặc hạt kê, màu xám trắng, đỏ sẫm, nâu hoặc hồng nhạt, ấn không mất màu. Nếu có nhiều nốt, chọn cái rõ nhất, mỗi lần chỉ chích 1–2 điểm. Phân biệt với nốt ruồi hoặc bớt sắc tố. Nếu không thấy nốt, có thể chọn huyệt liên quan đến tuyến tiền liệt như Thận du, Trường cường để thay thế.
(2) Cách làm: sát khuẩn vùng da bằng cồn iốt và cồn 75%, tay phải cầm kim vô trùng, tay trái nâng da tại điểm chích, đưa kim vào da song song bề mặt, sau đó nâng đầu kim, lay nhẹ để lộ sợi mô trắng dưới da rồi cắt đứt vài sợi hoặc toàn bộ. Có thể hơi đau, nếu cần có thể gây tê bằng procain 0,5% liều 1–2ml. Sau khi chích sát khuẩn bằng tím gentian, dán gạc vô trùng cố định.
(3) Lưu ý: bệnh nhân ngồi hoặc nằm để tránh chóng mặt. Phải thực hiện vô khuẩn tuyệt đối. Sau chích giữ vệ sinh tại chỗ, không để ướt trong 5 ngày để tránh nhiễm trùng. Nếu vùng chích đỏ nóng đau, dùng kháng sinh hoặc thuốc thanh nhiệt giải độc. Tránh thức ăn cay nóng. Người có bệnh tim nặng, rối loạn đông máu, cơ địa sẹo lồi hoặc quá suy nhược không nên dùng phương pháp này.
Liệu pháp châm tai điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính là gì?
Y học cổ truyền quan niệm tai không chỉ là cơ quan thính giác mà còn có mối liên hệ chặt chẽ với kinh lạc-tạng phủ toàn thân, là “cửa sổ” phản ánh tình trạng nội tạng và cũng là nơi có thể kích thích để chữa bệnh. Liệu pháp châm tai trị viêm tiền liệt tuyến mạn tính chính là dùng kim châm kích thích những huyệt tương ứng trên vành tai nhằm đạt mục đích điều trị.
Huyệt thường dùng
Cách thực hiện
Gia giảm
| Tình trạng | Huyệt bổ sung |
| Thấp nhiệt trở ngại | Tiểu trường, Tam tiêu |
| Âm hư hoả vượng | Thận, Nội phân tiết |
| Thận dương hư suy | Thận, Nội phân tiết |
| Khí huyết ứ trệ | Tam tiêu, Tỳ, Vị |
Lưu ý
Vì sao chích lể (điểm châm) dẫn máu ra lại có tác dụng?
Gần đây có báo cáo dùng điểm chích lể điều trị viêm tiền liệt tuyến mạn, tổng hiệu quả 100 %, khỏi hẳn 62,5 %.
Cách làm
Cơ chế
Khí công có dùng được không?
Có. Một số bệnh nhân đáp ứng rất tốt. Nên chọn công pháp phù hợp triệu chứng, như:
Đề thận công
Tập 3–5 lần/ngày; tăng-giảm số lần co tuỳ huyết áp, mất ngủ không tập trước khi ngủ.
Kết hợp cháo thuốc ra sao?
Dựa vào bốn thể chứng:
| Thể bệnh | Công thức, liều | Cách nấu & dùng |
| Thấp nhiệt uất trệ | Cháo hoạt thạch: hoạt thạch 30 g, bông đuôi ngựa 50 g, gạo tẻ 50 g, hành trắng 4 cọng, ít muối | Sắc bông đuôi ngựa bỏ bã, cho gạo vào nấu cháo, thêm hành, muối, hòa bột hoạt thạch cuối, ăn 3 lần/ngày |
| Âm hư hoả vượng | Cháo sơn dược-địa hoàng: sơn dược 20 g, sinh địa 30 g, nhục thung dung 15 g, gạo tẻ 100 g | Sắc thuốc lấy nước, cho gạo vào nấu cháo, ăn 1 thang/ngày, 7 ngày/liệu trình |
| Thận dương hư suy | Cháo lộc giác giao: lộc giác giao 15–20 g, gạo tẻ 100 g, gừng tươi 3 lát | Nấu cháo, khi gần chín cho lộc giác giao, gừng, ăn nóng |
| Khí huyết ứ trệ | Cháo vương bất lưu hành-đan sâm: vương bất lưu hành 20 g, đan sâm 15 g, đào nhân 15 g, gạo tẻ 100 g, ít đường | Nghiền vương bất lưu hành, sắc cùng đan sâm, đào nhân lấy nước, nấu với gạo thành cháo, thêm đường, ăn nóng |
Các món cháo vừa bổ dưỡng, vừa hỗ trợ điều trị theo đúng biện chứng của từng thể bệnh.
Lương y Trường Xuân