HIỆU ĐÍNH TRỌNG CẢNH TOÀN THƯ 订正仲景全书
Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược vốn là một sách. Từ khi Lâm Ức hiệu đính, khắc in, sách được chia thành hai, theo người biên tập là đã phần nào làm mất ý của bậc tiên hiền. Về sau, Triệu Khai Mỹ lại hợp thành một bộ. Nay khôi phục cách hợp chung ấy, để người học đời sau hiểu rằng thương hàn và tạp chứng vốn không phải hai lĩnh vực tách biệt.
Về kinh văn của toàn bộ sách, các bản cũ của những nhà chú giải có chỗ thêm bớt chữ, có chỗ chia hoặc hợp đoạn; có chỗ văn lặp lại nhưng không ghi là lời thừa; cách xác định đúng sai cũng không thống nhất. Bộ sách này lấy Trọng Cảnh toàn thư làm chuẩn, đồng thời tham khảo các bản khác để thống nhất việc hiệu đính.
Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược vốn có phép tắc rõ ràng. Tuy nhiên, vì là sách lưu truyền qua hàng nghìn năm nên có khá nhiều sai sót. Các nhà chú giải qua nhiều đời đã sắp xếp và giải thích, nhưng mỗi người giữ một quan điểm, vị trí các điều văn thay đổi không thống nhất, khiến người học khó lấy làm khuôn phép.
Trong bộ này, phần Thương hàn vẫn phân theo các kinh, dựa vào cách điều biện của Phương Hữu Chấp, nhưng linh hoạt điều chỉnh thứ tự trước sau. Các môn loại của Kim quỹ đều theo bản hiệu đính của Lâm Ức, còn cương lĩnh và điều mục được phân định kỹ hơn. Không câu nệ người trước, mục đích là giúp người học đời sau hiểu rõ và có ích trong thực hành.
Những chỗ kinh văn bị đảo lộn, thiếu sót, sai nhầm hoặc ý nghĩa không liền mạch, cần sửa, bổ sung, lược bỏ hay chuyển vị trí, đều được xét kỹ và giải thích ngay dưới điều văn tương ứng.
Có những đoạn mà toàn bộ lời văn và ý nghĩa không phù hợp, rất khó giải thích thỏa đáng; dù cố chú giải vẫn không tránh khỏi gượng ép. Tuy vậy, trong đó có thể còn những câu đáng tham khảo. Vì thế, các đoạn ấy được tập hợp riêng thành hai phần: “正误” — Chính ngộ, bàn việc sửa sai; và “存疑” — Tồn nghi, lưu lại những điểm chưa thể xác định. Hai phần được đặt ở cuối sách để tiện tham khảo. Kim quỹ yếu lược cũng làm theo cách này.
Lời văn trong sách tinh luyện, ý nghĩa sâu xa, nên việc chú giải thật không dễ. Nếu chỉ chuộng lời hoa mỹ, lời giải sẽ rườm rà, phân tán, không làm sáng được ý nghĩa tinh tế.
Vì vậy, phần chú thích chỉ hướng đến sự giản dị, rõ ràng, nhằm phát huy ý chỉ của kinh văn. Khi cần đối chiếu để làm sáng nghĩa, cũng chủ yếu dẫn chính kinh văn trong sách, tránh những lời bàn suông làm người đọc thêm rối.
Từ khi Thành Vô Kỷ khởi đầu việc chú giải Thương hàn luận, đã có hơn một trăm nhà tiếp nối. Với Kim quỹ yếu lược, từ sau phần diễn nghĩa của Triệu Lương, có hơn mười người tiếp tục chú giải.
Các nhà đều có những kiến giải tinh tế, góp phần làm sáng kinh văn. Tuy nhiên, cũng có lời bàn chung chung hoặc khó hiểu; phần tinh xác và phần chưa thỏa đáng xen lẫn, khiến người học khó lựa chọn.
Nay loại những ý trùng lặp, lược những lời rườm rà, chọn các nhận định chính xác, thực sự làm sáng nghĩa, tập hợp dưới từng điều để giúp việc khảo chứng.
Thời thượng cổ có trị pháp nhưng chưa có hệ thống phương thuốc như về sau. Đến Trọng Cảnh, trị pháp và phương thuốc được kết hợp thành hệ thống.
Sự tinh diệu trong phép tắc và biến hóa, ý nghĩa của việc xác lập trị pháp và xây dựng phương thuốc đều cần được làm rõ.
Vì vậy, sau mỗi phương đều phân tích nguyên lý lập phương và chủ trị, sự phối hợp quân, thần, tá, sứ, cùng quan hệ giữa công năng, tính và vị của các thuốc.
Ngay cả những chi tiết như dùng nước cam lan hay nước ma phất, dùng lửa nhỏ hay lửa mạnh, sắc chậm hay nhanh, ngâm lâu hay mau, uống nhiều lần hay uống một lần, đều có ý nghĩa thích hợp với từng bệnh chứng. Những điều người trước có thể chưa bàn đến cũng được ghi đầy đủ và giải thích kỹ.
Về thứ tự toàn bộ phần Thương hàn, trước hết trình bày lục kinh, tiếp đến hợp bệnh và tính bệnh; sau đó là bệnh tái phát do lao lực, do ăn uống sau khi đã khỏi và âm dương dịch; tiếp đến hoại bệnh, bệnh kính, thấp, yết và hoắc loạn; rồi đến các trường hợp được hoặc không được dùng phép hãn, thổ, hạ; cuối cùng là Bình mạch pháp và Biện mạch pháp.
Trong mỗi thiên, trước nêu cương lĩnh, tiếp đến các chứng cụ thể, phương thuốc, những biến đổi do điều trị sai và những hoại chứng do nghịch trị.
Trong mỗi điều, trước ghi kinh văn, tiếp đến chú thích, tập chú, phương thuốc, phương giải và các lời giải được tuyển hợp.
Nếu kinh văn có thiếu sót hoặc sai nhầm, phần biện luận được đặt ngay dưới kinh văn, mở đầu bằng chữ “按” — Án.
Nếu lời biện luận nhằm đối chiếu với các điều khác để làm sáng nghĩa, không chỉ bàn riêng điều hiện tại, thì đặt sau phần chú thích, cũng mở đầu bằng chữ Án.
Cách sắp xếp này nhằm giúp người học dễ theo dõi, hiểu rõ và dung hội quán thông. Kim quỹ yếu lược cũng được tổ chức theo nguyên tắc tương tự.
Trong hai mươi lăm chương của Kim quỹ, khoảng một đến hai phần mười nội dung trùng với Thương hàn. Tuy có lời văn lặp lại, đôi khi ý nghĩa vẫn khác nhau.
Những đoạn đã được chú giải riêng trong Thương hàn luận thì không giải thích dài dòng lần nữa. Nhưng nếu có ý nghĩa thiết yếu đối với nội dung Kim quỹ, vẫn được làm sáng thêm để nêu rõ ý chỉ.
Về tên họ của các y gia, nếu có truyện ký ghi rõ thì có thể khảo chứng. Nếu chỉ ghi tên tự, người đọc sẽ khó biết tên thật.
Những người ấy đã dốc tâm sức vào học thuật; để tên tuổi họ mai một theo thời gian là điều người biên tập không nỡ.
Vì vậy, trường hợp không khảo được tên thật thì ghi tên tự; trường hợp có thể khảo được thì ghi tên thật, nhằm giữ lại và ghi nhận những đóng góp của họ.
Trường Xuân biên soạn
NGUYÊN TỰA THƯƠNG HÀN TẠP BỆNH LUẬN 伤寒杂病论原序
Tôi mỗi khi đọc chuyện Tần Việt Nhân vào nước Quắc chẩn bệnh, xem sắc mặt Tề hầu, đều không khỏi cảm khái, thán phục tài năng xuất chúng của ông.
Tôi lấy làm lạ rằng những người sống trên đời ngày nay lại không lưu tâm đến y dược, không nghiên cứu tinh tường phương thuật. Trên thì có thể chữa bệnh cho vua và cha mẹ; dưới thì cứu người nghèo hèn khỏi cảnh khốn nguy; đối với bản thân thì giữ gìn sức khỏe, bảo toàn tuổi thọ, nuôi dưỡng sự sống.
Thế nhưng họ chỉ đua nhau chạy theo quyền thế, ngóng trông kẻ quyền quý, miệt mài tất bật, lấy danh lợi làm mục đích. Họ tô điểm cái ngọn mà bỏ quên cái gốc, làm đẹp bên ngoài mà để bên trong suy tổn.
“皮之不存,毛将安附焉?” — Da đã không còn, lông biết bám vào đâu?
Đến khi đột ngột gặp tà phong, mắc bệnh khác thường, tai họa đã đến mới run sợ. Họ hạ mình, khuất tiết, kính cẩn trông cậy vào thầy cúng; khi cùng đường thì phó mặc cho trời, bó tay chịu thất bại.
Mang sinh mệnh có thể sống trăm năm, giữ thân thể quý trọng nhất, lại giao hết cho thầy thuốc tầm thường, mặc họ tùy ý xử trí.
Than ôi! Khi thân đã chết, thần minh tiêu tan, trở thành người của cõi khác, chìm sâu dưới suối vàng, thì chỉ còn tiếng khóc vô ích!
Người đời mê muội, không biết tỉnh ngộ, chẳng quý sinh mệnh, xem nhẹ sự sống đến như vậy, còn nói gì đến vinh hoa, quyền thế?
Tiến ra thì không biết yêu người, hiểu người; lui về thì không biết yêu thân, hiểu mình. Gặp tai họa, rơi vào cảnh nguy khốn, vẫn mờ mịt, ý thức như hồn phiêu dạt.
Đáng thương thay những người chạy theo thế tục, đua tranh phù hoa, không giữ vững gốc rễ, quên thân để chạy theo vật ngoài mình, đặt bản thân vào cảnh nguy hiểm như đứng bên vực băng sâu!
Tông tộc tôi vốn đông, trước kia có hơn hai trăm người. Từ đầu niên hiệu Kiến An, chưa đầy mười năm, đã mất đến hai phần ba; trong số người chết, cứ mười người thì có bảy người chết vì thương hàn.
Cảm thương những người đã mất, đau xót trước cảnh chết yểu mà không thể cứu, tôi bèn chuyên cần tìm lời dạy cổ, rộng thu thập các phương thuốc.
Tôi dựa vào Tố Vấn, Cửu quyển, Bát thập nhất nạn, Âm dương đại luận, Thai lư dược lục, kết hợp việc bình mạch, biện chứng, biên thành Thương hàn tạp bệnh luận, gồm mười sáu quyển.
Tuy chưa thể chữa khỏi hết mọi bệnh, tôi mong sách có thể giúp người học thấy bệnh mà biết nguồn gốc. Nếu có thể tìm hiểu kỹ những điều tôi tập hợp, thì việc suy xét bệnh lý đã có thể tiến được quá nửa.
Trời phân bố ngũ hành để vận hành muôn vật. Người tiếp nhận khí của ngũ hành mà có ngũ tạng. Kinh lạc, phủ và du huyệt liên hệ với nhau, âm dương giao hội, thông đạt; những điều sâu kín, tinh vi và biến hóa thật khó hiểu hết.
Nếu không có tài năng cao, nhận thức tinh tế, làm sao có thể tìm đến tận cùng lý lẽ ấy?
Thời thượng cổ có Thần Nông, Hoàng Đế, Kỳ Bá, Bá Cao, Lôi Công, Thiếu Du, Thiếu Sư, Trọng Văn. Thời sau có Trường Tang và Biển Thước. Đời Hán có Công Thừa Dương Khánh và Thương Công. Sau những vị ấy, tôi chưa được nghe đến người nào tương xứng.
Nhìn những thầy thuốc ngày nay, họ không chịu suy nghĩ, tìm hiểu ý chỉ của kinh điển để mở rộng điều mình biết. Mỗi người chỉ tiếp nhận kỹ thuật gia truyền, trước sau làm theo lối cũ.
Khám bệnh, hỏi bệnh thì chỉ cốt nói cho lanh lợi. Mới đối đáp đôi câu đã vội kê thuốc thang.
Bắt mạch bộ thốn mà không xét bộ xích; xem tay mà không xét chân; không phối hợp khảo sát các mạch nhân nghênh, phu dương và thốn khẩu.
Đếm nhịp mạch theo hơi thở chưa đủ năm mươi lần đã vội kết luận, chưa biết đầy đủ tình trạng bệnh. Phép cửu hậu còn chưa hiểu được đại khái; các vùng minh đường, khuyết và đình trên mặt cũng không xem xét.
Đó chẳng qua là nhìn trời qua một ống nhỏ. Muốn dựa vào cách ấy để phân biệt sống chết, thật là khó!
Khổng Tử nói: “生而知之者上,学则亚之;多闻博识,知之次也。”
Người sinh ra đã biết là bậc cao nhất; người nhờ học mà biết đứng sau; người nghe nhiều, hiểu rộng rồi biết là bậc kế tiếp.
Tôi từ lâu vốn chuộng phương thuật, xin lấy lời ấy làm điều để thực hành.
Trường Xuân biên soạn
CHÚ GIẢI THƯƠNG HÀN LUẬN TRONG HIỆU ĐÍNH TRỌNG CẢNH TOÀN THƯ 订正仲景全书伤寒论注
Thương hàn luận do Trương Cơ thời Đông Hán trước tác, làm sáng tỏ những ý nghĩa sâu xa của Nội kinh.
Tuy không trực tiếp dẫn một câu nào từ cổ kinh, mọi điều đều được tác giả suy xét, xây dựng thành hệ thống; lý luận bao quát, trị pháp đầy đủ.
Các cổ kinh trước đó có trị pháp nhưng chưa có hệ thống phương thuốc tương ứng. Từ sách này, trị pháp và phương thuốc mới được kết hợp, mở ra khuôn phép cho muôn đời. Vì vậy, sách thực đáng được tôn là thánh thư của y học.
Tuy nhiên, do lưu truyền lâu đời, sách bị thiếu khuyết, có nhiều sai sót trong việc sắp xếp và sao chép.
Nay rộng tập hợp chú giải của các nhà, chọn lấy phần tinh túy, sửa những chỗ sai, lược những ý tạp lẫn, bổ sung phần thiếu và làm sáng những nghĩa còn chưa được khai triển.
Nhờ đó, khi sách được lưu hành rộng rãi, những phép tắc lớn và lời văn hàm chứa ý nghĩa sâu xa sẽ càng sáng rõ đối với các thế hệ về sau.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH, CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ THÁI DƯƠNG BỆNH — THƯỢNG THIÊN 辨太阳病脉证并治上篇
Thái dương chủ biểu, là hàng rào bên ngoài của toàn thân, liên hệ sáu kinh và thống lĩnh dinh vệ. Các bệnh do ngoại nhân xâm phạm cơ thể trước hết thường tác động vào phần biểu.
Nếu biểu khí mạnh, vệ khí vững, dinh khí được giữ bên trong, tà sẽ từ đâu mà vào? Kinh văn nói: dù có phong tà mạnh và độc hại, cũng không thể gây tổn thương, chính là ý này.
Nếu biểu khí hư, dinh vệ không đủ sức chống đỡ bên ngoài, tà mới có thể thừa cơ xâm nhập. Kinh văn nói: hư tà không thể riêng mình làm hại người, phải gặp cơ thể suy yếu rồi mới lưu trú được.
Vệ thuộc dương, dinh thuộc âm. Phong là dương tà, hàn là âm tà. Tà gây hại thường theo loại tương ứng, nên trúng phong thì vệ chịu tác động, thương hàn thì dinh chịu tác động.
Theo cách phân tích của bản chú giải này, tà ở vệ phận gây ra mồ hôi, thuộc dạng biểu hư, là chứng Quế chi thang. Tà ở dinh phận gây không có mồ hôi, thuộc dạng biểu thực, là chứng Ma hoàng thang. Dinh vệ cùng bị tà xâm phạm, không có mồ hôi, thuộc biểu thực, là chứng Đại thanh long thang.
Ba phép trị chủ yếu ấy, nếu dùng thích hợp thì tà có thể được giải; nếu dùng trái phép thì có thể phát sinh nhiều biến chứng.
Vì phong là đầu mối của trăm bệnh, nên phần phong phạm vệ được xếp vào thượng thiên; phần hàn thương dinh và phong hàn cùng gây tổn thương được xếp vào trung thiên và hạ thiên.
Các điều mục được trình bày rõ trong từng thiên, giúp người đọc mở sách là thấy được cương lĩnh để theo dõi.
CƯƠNG LĨNH THÁI DƯƠNG BỆNH
“太阳之为病,脉浮,头项强痛而恶寒。”
Thái dương mắc bệnh thì mạch phù, đầu và cổ gáy cứng đau, sợ lạnh.
CHÚ GIẢI
Thái dương ở đây chỉ kinh bàng quang. “Thái dương mắc bệnh” là nói bệnh phát sinh ở kinh thái dương bàng quang.
Thái dương chủ biểu, phần biểu bao gồm dinh vệ. Phong tà phạm vệ, hàn tà thương dinh đều thuộc biểu bệnh.
Mạch phù là mạch của biểu bệnh. Đầu và cổ gáy cứng đau, sợ lạnh là chứng của biểu bệnh.
Kinh thái dương đi lên trán, giao ở đỉnh đầu, vào liên hệ với não, rồi có nhánh đi xuống gáy, liên hệ vùng Phong phủ. Vì vậy, tà lưu ở kinh này làm đầu và cổ gáy cứng đau.
Sợ lạnh là do phong hàn gây tổn thương nên cơ thể không chịu được phong hàn.
Điều này được đặt đầu tiên để làm đề cương của thái dương bệnh. Những chỗ gọi là thái dương bệnh trong cả thượng, trung và hạ thiên đều lấy mạch chứng này làm căn cứ.
LỜI ÁN
Dinh và vệ đều được sinh ra từ cốc khí hậu thiên của vị. Phần khí thanh là dinh, phần khí trọc là vệ.
Vệ là phần khí mạnh, nhanh, có sức bảo vệ; dinh là phần tinh túy trong huyết.
Xét về thể chất tương ứng thì gọi là khí huyết; xét về công dụng lưu hành thì gọi là dinh vệ.
Dinh đi trong mạch nên thuộc âm. Vệ đi ngoài mạch nên thuộc dương.
Tuy nhiên, sự lưu hành của dinh vệ đều lấy tiên thiên nhất khí trong thận làm gốc. Vì vậy, cả hai cũng được gọi theo khí, tức dinh khí và vệ khí.
TẬP CHÚ
Hoạt Thọ nói: Mạch hiện nổi phía trên phần cơ nhục, chủ bệnh ở biểu.
Phương Hữu Chấp nói: Biểu là phần da, dinh vệ nương ở đó. Vì vậy, khi cả bộ thốn và bộ xích đều phù thì biết bệnh ở phần biểu của thái dương. Hạng là phía sau cổ, tức cổ gáy.
Sợ lạnh ở đây bao gồm cả sợ gió. Phong hàn mới xâm nhập, uất ở phần biểu, khiến cơ thể không thể chịu thêm sự tác động của phong hàn bên ngoài, nên sinh sợ.
Trình Ứng Mao nói: Trong những biểu hiện của kinh thái dương, đau đầu và sợ lạnh là rõ nhất, nên được nêu trước tiên.
Ngô Nhân Câu nói: Đầu là nơi ba kinh dương cùng đi qua; cổ gáy là vùng đặc trưng của thái dương. Khi có sự ngăn trở, không còn mềm mại, vận động bình thường, thì thành cứng đau.
CƯƠNG LĨNH THÁI DƯƠNG TRÚNG PHONG
“太阳病,发热,汗出,恶风,脉缓者,名为中风。”
Thái dương bệnh có phát sốt, ra mồ hôi, sợ gió, mạch hoãn thì gọi là trúng phong.
CHÚ GIẢI
Thái dương bệnh là bệnh có mạch phù, đầu và cổ gáy cứng đau, sợ lạnh như điều đầu tiên đã nêu.
Vệ là dương ở biểu, phong thuộc dương tà. Phong tà xâm nhập thì vệ chịu tác động, đó là tà theo loại tương ứng.
Phong phạm vệ liền gây phát sốt. Theo cách giải thích của bản chú này, phong và vệ đều thuộc dương nên chuyển thành nhiệt nhanh, khác với thương hàn phải qua quá trình bế uất rồi mới phát nhiệt.
Vệ bị bệnh không thể cố biểu, lại bị dương tà hun đốt, khiến tấu lý sơ hở, mồ hôi ra.
Mồ hôi ra làm phần biểu không vững, gặp gió thì khó chịu, nên sợ gió.
Phong có tính nhu hòa, nên mạch hoãn.
Điều này tiếp nối điều trước: trên nền thái dương bệnh, nếu có thêm những mạch chứng ấy thì gọi là trúng phong. Đây là đề cương của trúng phong bệnh. Những điều sau gọi là trúng phong đều căn cứ vào mạch chứng này.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch hoãn chính là biểu hiện “dương phù mà âm nhược” được trình bày ở điều sau. Người bệnh đã có những biểu hiện thái dương như điều đầu, lại thêm phát sốt, ra mồ hôi, sợ gió, mạch hoãn, thì bệnh do phong tà xâm phạm, nên gọi là trúng phong.
Uông Hổ nói: Trúng phong ở đây không phải các dạng trúng phủ, trúng tạng, trúng huyết mạch mà Đông Viên bàn đến.
Chữ “trúng” có nghĩa gần với chữ “thương”, đều chỉ bị tà gây tổn thương. Trọng Cảnh không gọi thẳng là thương phong vì sợ người học nhầm với chứng thương phong có ho, nghẹt mũi, tiếng nói nặng, nên dùng chữ “trúng” để phân biệt.
Mạch hoãn cần hiểu là phù hoãn: phù là mạch thái dương bệnh, hoãn là mạch trúng phong. Mạch khẩn trong trung thiên cũng cần được hiểu theo cách tương tự, tức phù khẩn.
CHỨNG QUẾ CHI THANG 桂枝汤证
“太阳中风,阳浮而阴弱,阳浮者热自发,阴弱者汗自出,啬啬恶寒,淅淅恶风,翕翕发热,鼻鸣,干呕者,桂枝汤主之。”
Thái dương trúng phong, dương phù mà âm nhược. Dương phù thì tự phát sốt, âm nhược thì mồ hôi tự ra. Người bệnh co mình sợ lạnh, rờn rợn sợ gió, thân nóng nhẹ ở phần biểu, thở qua mũi có tiếng, nôn khan; Quế chi thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thái dương trúng phong ở đây tổng hợp ý của hai điều trước, đồng thời trình bày kỹ các biểu hiện để nêu phép điều trị.
Những chỗ sau gọi là thái dương trúng phong đều lấy mạch chứng này làm căn cứ.
Theo bản chú giải này, âm dương ở đây chỉ dinh vệ, không trực tiếp chỉ bộ thốn, bộ xích hoặc mức mạch phù, trầm.
Dương phù được giải thích bằng cách ví mức ấn nhẹ tương đương trọng lượng ba hạt đậu, thuộc mức mạch phế. Phế chủ da lông, nên mạch bắt được ở mức ấy tương ứng với vệ phận.
Mức ấn tương đương sáu hạt đậu thuộc mạch tâm. Tâm chủ huyết mạch, nên mạch bắt được ở mức ấy tương ứng với dinh phận.
Mạch ở dinh phận so với mạch ở vệ phận thì yếu, không có sức, vì vậy gọi là dương phù mà âm nhược.
Phong tà lưu ở vệ, tà tại vệ thịnh nên phát sốt. Vì thế nói: dương phù thì tự phát sốt.
Dinh bị tà hun đốt, không được giữ vững, nên mồ hôi ra. Vì thế nói: âm nhược thì mồ hôi tự ra.
Dinh vệ không hòa, tấu lý sơ hở, nên người bệnh co mình sợ lạnh, rờn rợn sợ gió, thân nóng nhẹ ở phần biểu.
Biểu hiện nóng này ở phần da, khác với thương hàn có nóng rõ mà không có mồ hôi. Cảm giác sợ lạnh, sợ gió có thể vẫn tồn tại dù ở gần lửa hoặc trong phòng kín.
Da lông bên trong hợp với phế. Da lông không vững, phong tà xâm phạm phế, khí bị uất trở, khiến thở qua mũi có tiếng.
Trong ngực là nơi dương khí hội tụ. Vệ dương bị phong tà quấy nhiễu, không thể phân bố bình thường, khí nghịch lên gây nôn khan.
Vì vậy, dùng Quế chi thang để giải cơ, giúp phần biểu được điều hòa, phối hợp dinh vệ.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: “Sắc sắc ác hàn” là da bị lạnh xâm phạm, người bệnh sợ lạnh mà co mình.
“Tích tích ác phong” là gió tác động lên da, gây cảm giác rờn rợn, khó chống đỡ.
“Hấp hấp phát nhiệt” là phần da được nhiệt hun đốt, cảm giác nóng lan nhẹ ra ngoài.
Các từ sắc sắc, tích tích và hấp hấp đều mô tả biểu hiện ở da lông. So với thương hàn, những biểu hiện này có sự khác nhau về mức độ nông sâu và vị trí phù trầm.
Trường Xuân biên soạn
PHƯƠNG QUẾ CHI THANG 桂枝汤方
Quế chi ba lạng, Thược dược ba lạng, Cam thảo chích ba lạng, Sinh khương thái lát ba lạng, Đại táo bổ ra mười hai quả.
Năm vị trên, các vị cần thái thì thái nhỏ. Dùng bảy thăng nước, đun lửa nhỏ lấy còn ba thăng, bỏ bã, để thuốc có độ ấm thích hợp, uống một thăng.
Sau khi uống một lát, ăn hơn một thăng cháo loãng nóng để trợ sức thuốc. Đắp ấm khoảng một thời gian, sao cho toàn thân hơi rịn mồ hôi là tốt. Không để mồ hôi chảy nhiều như nước, vì như vậy bệnh không được giải.
Nếu uống một lần, có mồ hôi và bệnh đã khỏi thì ngừng những lần tiếp theo, không cần uống hết thang.
Nếu chưa ra mồ hôi thì uống tiếp, theo cách trên. Nếu vẫn chưa ra mồ hôi thì uống lần sau, rút ngắn khoảng cách giữa các lần một chút, sao cho trong khoảng nửa ngày uống hết ba lần.
Nếu bệnh nặng, dùng thuốc trong một ngày một đêm và theo dõi suốt thời gian ấy. Uống hết một thang mà chứng bệnh vẫn còn thì sắc thang khác. Nếu mồ hôi chưa ra, có thể dùng đến hai hoặc ba thang theo phép được mô tả trong cổ văn.
Kiêng thức ăn sống lạnh, dính nhớt, thịt, thức ăn từ bột mì, ngũ tân, rượu, các sản phẩm sữa và thức ăn có mùi hôi, ôi hỏng.
Các đơn vị lạng, thăng và cách dùng trên được giữ theo nguyên văn cổ, không quy đổi thành liều dùng hiện nay.
LỜI ÁN
Trong một số bản phương Quế chi thang, sau tên Quế chi có hai chữ “去皮” — bỏ vỏ.
Người hiệu đính cho rằng khí vị cay ngọt của Quế chi chủ yếu nằm ở vỏ; nếu bỏ vỏ thì chỉ còn phần gỗ khô, làm sao có công năng giải cơ, phát hãn? Vì vậy, đề nghị bỏ hai chữ này. Những chỗ sau cũng được xử lý tương tự.
PHƯƠNG GIẢI
Phương được gọi là Quế chi thang vì lấy Quế chi làm quân.
Quế chi cay, ấm. Vị cay giúp phát tán, tính ấm giúp thông vệ dương.
Thược dược chua, hàn. Vị chua giúp thu liễm, tính hàn tác động vào dinh âm.
Lấy Quế chi làm quân, phối hợp Thược dược, là trong phép phát hãn có ý thu liễm mồ hôi. Lấy Thược dược làm thần, phối hợp Quế chi, là trong phép hòa dinh có công năng điều vệ.
Sinh khương cay, giúp Quế chi giải biểu. Đại táo ngọt, giúp Thược dược hòa trung.
Cam thảo ngọt, bình, có khả năng điều hòa bên trong và hỗ trợ giải tà bên ngoài. Điều hòa trung khí cũng giúp điều hòa biểu lý, đồng thời phối hợp các vị thuốc.
Quế chi và Thược dược hỗ trợ nhau, Sinh khương và Đại táo phối hợp nhau, nhờ Cam thảo điều hòa, khiến dương ở biểu, âm ở lý, khí thuộc vệ và huyết thuộc dinh cùng vận hành mà không trái nghịch. Đó là sự phối hợp cương nhu để đạt điều hòa.
Ý nghĩa tinh tế còn nằm ở việc sau uống thuốc một lát thì ăn cháo loãng nóng để trợ sức thuốc.
Cốc khí được bổ sung bên trong không chỉ giúp tạo mồ hôi, mà theo lời chú còn hỗ trợ đẩy tà đã vào ra ngoài và giúp ngăn tà mới xâm nhập.
Một điểm quan trọng khác là đắp ấm vừa phải để toàn thân chỉ hơi rịn mồ hôi. Đây là phép lấy mồ hôi nhẹ.
Không để mồ hôi chảy nhiều như nước là nhằm tránh phát hãn quá mức.
Người chú giải tôn phương này là phương đứng đầu trong các phương của Trọng Cảnh, là phương tiêu biểu về giải cơ, phát hãn và điều hòa dinh vệ.
Các chứng trúng phong hoặc thương hàn có mạch phù nhược, mồ hôi tự ra mà biểu chưa giải đều có thể được xét theo chứng Quế chi thang. Không nhất thiết mọi biểu hiện đều phải xuất hiện đầy đủ.
Các phương phát hãn như Ma hoàng thang, Cát căn thang và các phương Thanh long cũng vận dụng những vị thuốc liên quan trong phép phối ngũ.
Nếu không có mồ hôi, mạch phù khẩn, thuộc chứng Ma hoàng thang thì không nên dùng Quế chi thang theo cách thông thường.
Tuy nhiên, người ban đầu không có mồ hôi, đã dùng Ma hoàng để phát hãn, sau khi ra mồ hôi lại bứt rứt, mạch phù sác; hoặc sau công hạ, mạch vẫn phù, có khí xung lên; hoặc sau công hạ, tiêu chảy đã ngừng nhưng thân thể vẫn đau, thì trong kinh văn vẫn có trường hợp dùng Quế chi thang để giải phần ngoài.
Theo lời giải, lúc ấy biểu tuy chưa giải nhưng tấu lý đã sơ hở, tà không còn chỉ ở da lông mà lưu ở phần cơ. Sau phát hãn hoặc công hạ, tân dịch đã bị tổn thương, nên cần xét toàn bộ bệnh cảnh để chọn phương.
Thầy thuốc hiểu chưa sâu có thể cho rằng Quế chi thang chỉ chữa trúng phong, không chữa thương hàn, khiến người khác nghi ngờ mà không dùng. Lại có người cho rằng phương này chỉ tác động ở cơ biểu, không chữa những bệnh khác.
Nhưng từ phương này, tăng gấp đôi Thược dược và Sinh khương, thêm Nhân sâm, thành Quế chi tân gia thang, dùng cho dinh và biểu hư hàn, tứ chi đau.
Tăng gấp đôi Thược dược, thêm Di đường, thành Tiểu kiến trung thang, dùng cho lý hư, hồi hộp, bụng đau co thắt.
Thêm Hoàng kỳ vào Tiểu kiến trung thang, thành Hoàng kỳ kiến trung thang, dùng trong những chứng hư tổn, hư nhiệt, tự hãn và đạo hãn phù hợp.
Qua đó, người chú giải nhấn mạnh khả năng biến hóa của phương Trọng Cảnh.
Thuốc uống khi ấm vừa, sau đó ăn cháo loãng nóng để bổ sung cốc khí, giúp tạo mồ hôi. Đắp ấm và chỉ lấy mồ hôi nhẹ, không để chảy nhiều, là tránh phát hãn quá mức.
Phép lấy mồ hôi cần không quá chậm, không quá gấp, không quá nhiều, không quá ít. Quá chậm thì tà lưu lại; quá gấp thì tà có thể chưa giải hết. Mồ hôi quá nhiều làm hao dương, quá ít thì bệnh có thể chưa giải.
Nếu một lần uống đã ra mồ hôi, bệnh khỏi, thì không uống tiếp để tránh quá mức. Nếu chưa ra mồ hôi, bệnh chưa giải, mới dùng lần tiếp theo theo phép đã nêu.
Những chỗ sau nói “theo phép uống Quế chi thang” đều chỉ cách dùng này.
DINH NHƯỢC, VỆ CƯỜNG
“太阳病,发热汗出者,此为荣弱卫强,故使汗出。欲救邪风者,宜桂枝汤。”
Thái dương bệnh, phát sốt, ra mồ hôi, đó là dinh nhược, vệ cường nên mồ hôi ra. Muốn giải tà phong, nên dùng Quế chi thang.
CHÚ GIẢI
Điều này giải thích ý nghĩa dương phù, âm nhược ở điều trước.
Kinh nói: tà khí thịnh thì thực, tinh khí bị hao đoạt thì hư.
Phong vào vệ gây phát sốt, tà khí ở vệ vì thế thịnh, nên gọi là vệ cường. Đây là tà khí trong vệ mạnh, không phải vệ khí khỏe mạnh.
Dinh bị tà hun đốt, mồ hôi ra, tinh khí hao giảm, nên gọi là dinh nhược, tức âm khí trong dinh suy yếu.
Vì vậy xuất hiện phát sốt và ra mồ hôi. Muốn giải tà phong thì dùng Quế chi thang.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều trước nói dương phù, âm nhược; điều này nói dinh nhược, vệ cường.
Vệ cường tương ứng với dương phù, dinh nhược tương ứng với âm nhược. Hai cách diễn đạt làm sáng nghĩa cho nhau.
Chữ “cứu” mang nghĩa giải cứu, cứu hộ. Gọi là tà phong nhằm nói đến phong có tính chất gây bệnh.
PHÁT SỐT, TỰ HÃN TỪNG LÚC
“病人藏无他病,时发热自汗出而不愈者,此卫气不和也。先其时发汗则愈,宜桂枝汤。”
Người bệnh bên trong không có bệnh khác, từng lúc phát sốt, mồ hôi tự ra mà không khỏi, đó là vệ khí bất hòa. Trước thời điểm phát tác, dùng phép phát hãn thì bệnh có thể giải; nên dùng Quế chi thang.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp tục giải thích chứng dinh vệ bất hòa, lấy biểu hiện phát sốt và ra mồ hôi từng lúc để làm rõ phép trị.
“Tạng” ở đây được hiểu là phần lý. Không có bệnh khác nghĩa là bên trong không có bệnh khác.
Có lúc sốt, có lúc không sốt; có lúc ra mồ hôi, có lúc không. Biểu bệnh kéo dài không khỏi là do vệ không hòa với dinh.
Theo lời chú, nên dùng Quế chi thang trước khi cơn sốt và mồ hôi xuất hiện để giải cơ, điều hòa dinh vệ, ngăn thế tà. Khi nhiệt lui, mồ hôi được điều hòa thì bệnh giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Chữ “thời” chỉ từng lúc. Vệ khí bất hòa là phần biểu có tà phong nên không hòa. “Trước thời điểm ấy” là trước khi phát sốt.
Trình Tri nói: Các bệnh âm hư cũng có thể phát sốt và tự ra mồ hôi từng lúc. Nếu bên trong không có bệnh khác mà có biểu hiện này thì xét đến vệ bị phong tà, chưa được giải.
Trình Ứng Mao nói: Quế chi thang là phương giải cơ, nhưng đôi khi gọi là phát hãn, vì phương giúp vệ khí thăng phát, chính khí được tuyên thông mà mồ hôi ra. Điều này khác với Ma hoàng thang chủ yếu đẩy tà ra ngoài qua mồ hôi.
Uông Hổ nói: Dùng Quế chi thang đúng lúc có thể giải bệnh. Nếu bỏ lỡ thời cơ, phong tà vào lý, nhiệt sâu hơn thì Quế chi thang không còn thích hợp.
THƯỜNG XUYÊN TỰ RA MỒ HÔI
Người bệnh thường tự ra mồ hôi, điều này được giải thích là dinh khí vốn hòa, nhưng phần ngoài không điều hòa, do vệ khí không cùng hòa với dinh khí.
Dinh đi trong mạch, vệ đi ngoài mạch. Dùng phép phát hãn thích hợp, khiến dinh vệ điều hòa thì bệnh khỏi; nên dùng Quế chi thang.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp tục giải thích vì sao dinh vệ không hòa.
Dinh khí đã hòa nhưng nhiệt vẫn chưa giải, là do vệ khí bên ngoài chưa hòa với dinh. Vì vậy, người bệnh vẫn thường tự ra mồ hôi và bệnh chưa khỏi.
Dinh đi trong mạch, vệ đi ngoài mạch. Nếu vệ chưa hòa thì dù dinh tương đối điều hòa, bệnh vẫn chưa giải.
Theo phép trong điều văn, dùng Quế chi thang giúp giải tà ở vệ và điều hòa dinh vệ, bệnh mới có thể khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này cùng ý với điều trước. Điều trước nói phát tác từng lúc, điều này nói thường xuyên. Điều trước dùng chữ tạng, thuộc âm và chủ lý; điều này nói dinh, cũng thuộc âm và chủ lý. Hai điều bổ sung cho nhau.
Dụ Xương nói: Điều này làm rõ vệ chịu tà phong khiến mồ hôi tự ra. Nếu có mồ hôi mà sốt chưa giải thì vệ vẫn chưa hòa với dinh.
Phát hãn thích hợp giúp phong tà theo các khiếu ở cơ biểu ra ngoài, vệ không còn bị tà làm thịnh, sẽ hòa với dinh. Ví như người say rượu phát cuồng, khi rượu được giải thì người yên lại.
Nếu dinh bị hàn tà, không hòa với vệ thì phép dùng Ma hoàng thang cũng dựa vào nguyên tắc điều hòa ấy.
Ngô Nhân Câu nói: Điều trước phát tác có lúc, điều này nói thường xuyên. Ngay cả khi không tự ra mồ hôi nhưng nhiệt chưa giải, vẫn có thể thuộc dinh vệ bất hòa. Dinh vệ phải phối hợp với nhau mới thành hòa; dinh không thể riêng mình tạo nên sự điều hòa toàn thể.
Trương Tích Câu nói: Vệ khí nuôi dưỡng tấu lý, điều khiển đóng mở, bảo vệ bên ngoài. Nay bị tà phong, không thể cố biểu, nên thường tự ra mồ hôi mà nhiệt chưa giải. Đó là dinh hòa nhưng vệ chưa hòa.
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều trước dùng Quế chi giải cơ để hòa vệ, khiến những cơn sốt dừng. Điều này dùng phép phát hãn để hòa vệ, khiến tự hãn được điều hòa. Vì vậy, kết luận là dinh vệ hòa thì bệnh khỏi.
UỐNG QUẾ CHI THANG, BỆNH CHƯA GIẢI MÀ THÊM PHIỀN
“太阳病,初服桂枝汤,反烦不解者,先刺风池、风府,却与桂枝汤则愈。”
Thái dương bệnh, mới uống Quế chi thang mà ngược lại thêm bứt rứt, bệnh chưa giải, thì trước châm Phong trì, Phong phủ, sau đó dùng Quế chi thang, bệnh có thể khỏi.
CHÚ GIẢI
Thái dương bệnh uống Quế chi thang mà ngoại chứng chưa giải có thể cần dùng tiếp theo phép phù hợp.
Nhưng nếu mới uống không những chưa giải mà còn thêm phiền, lời chú cho rằng biểu tà quá thịnh. Vội tiếp tục dùng Quế chi có thể làm phiền nhiệt tăng.
Vì vậy, trước dùng châm pháp để sơ giải tà nhiệt ở kinh, sau mới dùng Quế chi thang để giải phong tà ở cơ biểu, giúp trong ngoài điều hòa, mồ hôi ra và bệnh giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Dùng Quế chi thang cần chú trọng phép uống và mức độ ra mồ hôi. Uống không đúng phép, mồ hôi không phù hợp thì bệnh không giải, có thể chuyển thành nóng bứt rứt.
Phong trì nằm ở chỗ lõm sau tai, ấn có cảm giác lan vào tai, là nơi hội của kinh thủ thiếu dương, túc thiếu dương và các mạch liên quan.
Phong phủ nằm ở vùng gáy, phía trên chân tóc, trong chỗ lõm giữa các gân lớn, là nơi hội của mạch đốc và dương duy.
Bản chú cổ ghi độ sâu châm tại mỗi huyệt là bốn phân theo đồng thân thốn. Đây là mô tả trong tài liệu cổ, không phải hướng dẫn để tự thực hiện châm.
Trương Chí Thông nói: Phong trì, Phong phủ tuy không phải huyệt thuộc kinh thái dương, nhưng nằm ở vùng có liên hệ với đường đi thái dương, nên châm để giảm thế bệnh.
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều này nhằm tránh nhầm phiền ở đây với phiền do bệnh đã truyền vào lý. Ngoại chứng thái dương vẫn còn, chỉ thêm phiền, nên vẫn là biểu chưa giải.
PHIỀN TRƯỚC KHI BỆNH TỰ GIẢI
“欲自解者,必当先烦,乃有汗而解,何以知之?脉浮,故知汗出解也。”
Bệnh sắp tự giải có thể trước hết xuất hiện phiền, sau đó có mồ hôi mà giải. Làm sao biết? Vì mạch phù nên biết bệnh có thể giải theo đường mồ hôi.
CHÚ GIẢI
Ra mồ hôi mà chưa giải, có phiền, chứng thái dương vẫn còn thì xét đến biểu tà thịnh. Nếu có chứng dương minh thì xét đến lý nhiệt thịnh.
Nhưng cũng có trường hợp bệnh sắp tự giải, trước khi giải lại xuất hiện phiền. Đây được xem là dấu hiệu chính tà giao tranh, chuẩn bị ra mồ hôi.
Chỉ dựa vào phiền chưa thể quyết định bệnh sẽ giải hay không. Cần xét mạch và các chứng khác. Theo lời chú, nếu các bộ mạch đều phù thì có thể là tà hướng ra biểu, sắp ra mồ hôi mà giải.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Trời đất uất nóng rồi sinh mưa, cơ thể phiền rồi có thể sinh mồ hôi. Cần căn cứ mạch phù để nhận định; nếu mạch không phù thì phiền có thể là dấu hiệu tà vào lý.
Trình Ứng Mao nói: Mạch phù có thể là dấu hiệu tà trở ra biểu. Không nên chỉ thấy phiền mà vội điều trị, làm trở ngại quá trình giải bệnh.
Thẩm Minh Tông nói: Bệnh tự giải có thể theo nhiều đường: qua mồ hôi, đại tiện ra huyết, tiêu chảy hoặc tiểu tiện. Điều này là một biểu hiện của quá trình chiến hãn trong thái dương bệnh.
Có trường hợp cần phân biệt bằng mạch, có trường hợp cần tham khảo chứng. Những ý nghĩa ấy được trình bày rải rác trong các thiên, phải phối hợp mới đầy đủ. Một chỗ trong bản chữ Hán bị thiếu, nên không thể xác định trọn vẹn lời dẫn.
MẠCH CÁC BỘ HIỆN ĐỦ, CHÍNH KHÍ CHỐNG TÀ
Bệnh đến ngày thứ sáu hoặc thứ bảy, mạch ở ba bộ tay chân đều hiện, người bệnh đột ngột rất phiền, miệng ngậm chặt, không nói được, kích động không yên; điều văn nhận định đây có thể là lúc bệnh sắp giải.
CHÚ GIẢI
Bệnh đến sáu, bảy ngày, các mạch âm dương ở tay chân đều hiện và phù, rồi đột ngột xuất hiện phiền nhiều, miệng ngậm chặt, không nói được, kích động không yên.
Theo cách giải thích của bản chú, đây là hình tượng chính khí và tà khí cùng mạnh, giao tranh để tạo mồ hôi, nên nói bệnh sắp giải.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Mạch các bộ ở tay chân đều hiện, biểu thị chính khí còn mạnh. Tà tuy thịnh nhưng bệnh có thể hướng đến giải.
MẠCH HÒA, MI MẮT NẶNG
“Nếu mạch hòa, người bệnh rất phiền, mi mắt nặng, khóe mắt trong có sắc vàng, thì đó là dấu hiệu bệnh sắp giải.”
LỜI ÁN
Chữ “脸” — mặt, trong bản chép cần sửa thành “睑” — mi mắt.
CHÚ GIẢI
Chỉ có mạch hòa mà phiền nhiều thì chưa đủ để xác định bệnh sắp giải.
Nếu mi mắt nặng, rũ xuống, mắt muốn nhắm, lời chú xem đó là dấu hiệu âm đến giúp điều hòa dương.
Khóe mắt trong có sắc vàng được giải thích là vị khí phục hồi. Vì vậy, phối hợp các dấu hiệu ấy để nhận định bệnh sắp giải.
MẠCH ÂM DƯƠNG HÒA BÌNH
Hỏi: Muốn biết bệnh đã có chiều hướng khỏi hay chưa thì phân biệt thế nào?
Đáp: Mạch ở thốn khẩu, quan và xích có độ lớn nhỏ, phù trầm, trì sác điều hòa tương ứng. Dù vẫn còn lạnh nóng chưa giải, đó cũng là mạch âm dương hòa bình; bệnh tuy nặng vẫn có thể hồi phục.
CHÚ GIẢI
Mạch thiên lệch biểu hiện bệnh, mạch hòa bình biểu hiện xu hướng hồi phục.
Ba bộ thốn, quan, xích có lớn nhỏ, phù trầm, trì sác điều hòa tương ứng là hình tượng âm dương hòa bình. Dù triệu chứng lạnh nóng còn tồn tại, vẫn có cơ sở nhận định bệnh đang hướng đến hồi phục.
TẬP CHÚ
Nội kinh nói: Thốn khẩu và nhân nghênh tương ứng như dây được kéo thẳng, lớn nhỏ cân xứng, gọi là bình nhân.
Trình Tri nói: Lớn nhỏ, phù trầm, trì sác tương ứng là các bộ, các mức khám mạch không mất sự phối hợp.
Lớn nhưng không quá lớn, nhỏ nhưng không quá nhỏ; phù, trầm, trì, sác đều không quá mức, đó là hình tượng điều hòa.
BỆNH PHÁT Ở DƯƠNG VÀ BỆNH PHÁT Ở ÂM
Bệnh có phát sốt và sợ lạnh là phát ở dương. Không phát sốt mà sợ lạnh là phát ở âm.
Điều văn nói bệnh phát ở dương thì bảy ngày khỏi, bệnh phát ở âm thì sáu ngày khỏi, vì số dương là bảy, số âm là sáu.
CHÚ GIẢI
Bệnh ở đây được bản chú giải thích là trúng phong và thương hàn.
Ngay khi khởi bệnh đã phát sốt, sợ lạnh thì gọi là trúng phong, bệnh phát ở vệ dương.
Khởi bệnh chưa phát sốt mà sợ lạnh thì gọi là thương hàn, bệnh phát ở dinh âm.
Việc nói bảy ngày hoặc sáu ngày dựa trên cách quy thuộc số âm dương trong lý luận cổ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này suy xét nguồn gốc khởi phát của trúng phong, thương hàn để bàn đến quá trình kết thúc. Bệnh ở thái dương đều có sợ lạnh.
Trình Tri nói: Điều này phân biệt vì sao thái dương bệnh có trường hợp phát sốt ngay, có trường hợp chưa phát sốt.
Phong thuộc dương, vệ cũng thuộc dương. Hàn thuộc âm, dinh cũng thuộc âm. Cả trúng phong và thương hàn đều là biểu chứng, nhưng phong vào vệ thì phát nhiệt sớm; hàn vào dinh thì chưa phát nhiệt ngay.
Ngụy Lệ Đồng nói: Phong thương vệ, hàn thương dinh, khi ở thái dương đều có thể phát sốt, chỉ khác nhau về thời điểm sớm muộn. Sợ lạnh thì giống nhau.
Ý nghĩa phát ở dương, phát ở âm trong cách chú giải này chỉ căn cứ vào phong và vệ thuộc dương, hàn và dinh thuộc âm, chưa bàn đến tam âm bệnh.
THỜI ĐIỂM PHÁT BỆNH VÀ GIẢI BỆNH
Hỏi: Muốn biết bệnh mắc vào lúc nào, khỏi vào lúc nào thì xét thế nào?
Đáp: Giả sử nửa đêm mắc bệnh thì giữa trưa hôm sau có thể giải; giữa trưa mắc bệnh thì nửa đêm có thể giải.
Vì sao nói như vậy? Vì bệnh mắc giữa trưa, đến nửa đêm giải là dương được âm giúp điều hòa. Bệnh mắc nửa đêm, đến giữa trưa giải là âm được dương giúp điều hòa.
CHÚ GIẢI
Bệnh phát sinh không ngoài sự mất cân bằng âm dương: hoặc dương thắng âm, hoặc âm thắng dương.
Bệnh hồi phục cũng không ngoài sự điều hòa âm dương: hoặc dương được âm giúp mà giải, hoặc âm được dương giúp mà giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Giữa trưa và nửa đêm là cách nói khái quát; những thời điểm khác có thể suy xét theo cùng nguyên tắc.
THÁI DƯƠNG BỆNH, ĐAU ĐẦU ĐẾN HƠN BẢY NGÀY
Thái dương bệnh, đau đầu đến bảy ngày trở lên rồi tự khỏi, điều văn giải thích là quá trình lưu hành qua kinh đã hết.
Nếu bệnh có xu hướng tiếp tục truyền kinh, thì châm kinh túc dương minh để ngăn sự truyền tiếp, bệnh có thể giải.
CHÚ GIẢI
Theo cách giải thích của bản chú, tà ở thái dương truyền qua các kinh trong sáu ngày; đến ngày thứ bảy trở đi, bệnh ở tam dương, tam âm suy giảm, tà lui, không tiếp tục truyền nữa thì bệnh tự khỏi.
“Tái kinh” được chú giải ở đây là bệnh tiếp tục chuyển thuộc dương minh. Tà nhiệt vẫn thịnh, chưa suy giảm, nên cần xem xét phép châm túc dương minh để tiết nhiệt.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Cách nói từ bảy ngày trở lên có liên hệ với quá trình sáu ngày trước đó.
Ngụy Lệ Đồng nói: Phương Hữu Chấp dùng ý ngăn tà, Dụ Xương dùng ý làm hết tà, nhưng đều nói đến phép tiết tà.
Châm nhằm tiết khí thịnh. Điều trước châm Phong trì, Phong phủ cũng nhằm giảm phong tà đang mạnh, tránh tùy tiện dùng các phép hãn, hạ hoặc ôn.
Châm túc dương minh là châm huyệt thuộc kinh vị; phải có biểu hiện thực sự của xu hướng chuyển bệnh mới xét đến.
Mẫn Chi Khánh nói: Có người cho rằng tà truyền hết sáu kinh rồi lại từ quyết âm sang thái dương, sau đó sang dương minh. Nhưng nếu như vậy, tại sao không châm thái dương trước khi tà truyền đến mà phải đợi sang dương minh?
Ông từ đó cho rằng đây không phải tam âm truyền trở lại thái dương, mà là bệnh chuyển thuộc dương minh.
BIỂU ĐÃ GIẢI NHƯNG NGƯỜI CHƯA HOÀN TOÀN DỄ CHỊU
“风家表解而不了了者,十二日愈。”
Người mắc trúng phong, biểu đã giải nhưng vẫn chưa hoàn toàn dễ chịu, điều văn nói đến ngày thứ mười hai thì khỏi.
CHÚ GIẢI
“Phong gia” ở đây chỉ người mắc thái dương trúng phong.
Biểu đã giải nghĩa là sau dùng Quế chi thang, biểu bệnh đã được giải.
“Liễu liễu” chưa đạt nghĩa là người vẫn chưa cảm thấy hoàn toàn khỏe, dễ chịu. Theo lời chú, đó là dư tà ở kinh chưa hết; khi dư tà lui thì tự hồi phục.
TẬP CHÚ
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều này làm rõ rằng sau khi thái dương trúng phong đã giải, nếu còn biểu hiện nhẹ do tà lưu lại thì có trường hợp nên để cơ thể tiếp tục hồi phục.
TRƯỜNG HỢP KHÔNG THÍCH HỢP VỚI QUẾ CHI THANG
Thái dương bệnh, đau đầu, phát sốt, ra mồ hôi, sợ gió, Quế chi thang chủ trị.
Bản hiệu đính đánh dấu câu trên là đoạn lặp lại, có tính chất văn thừa.
Quế chi vốn dùng để giải cơ. Nếu người bệnh mạch phù khẩn, phát sốt, không có mồ hôi thì không nên dùng. Cần thường ghi nhớ để tránh nhầm.
CHÚ GIẢI
Quế chi thang là phương giải cơ, dùng cho trúng phong biểu hư.
Nếu mạch phù khẩn, phát sốt, không có mồ hôi thì thuộc thương hàn biểu thực, không thích hợp với phương này.
Cần nhận biết đó là chứng Ma hoàng thang, tránh dùng nhầm Quế chi thang.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Chỗ có thể dùng và không thể dùng đôi khi rất gần nhau, dễ nhầm nếu vội vàng.
Cần đối chiếu sự khác biệt dinh vệ, làm rõ âm dương, hư thực.
Không dùng Quế chi thang nhầm cho thương hàn có mạch phù khẩn, không mồ hôi; cũng không dùng Ma hoàng thang nhầm cho trúng phong có mạch phù hoãn, mồ hôi tự ra.
NGƯỜI BỆNH DO UỐNG RƯỢU
“Nếu người thường uống rượu mắc bệnh thì không nên dùng Quế chi thang; dùng vào có thể nôn, vì người ấy không chịu được vị ngọt.”
CHÚ GIẢI
“Tửu khách” là người thường uống rượu. Bệnh ở đây được chú giải là bệnh do uống rượu quá mức.
Có thể đau đầu, phát sốt, ra mồ hôi, nôn ói do thấp nhiệt hun đốt, không phải phong tà.
Nếu dùng nhầm Quế chi thang thì có thể nôn.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Người uống rượu có nội nhiệt, ưa cay mà không chịu ngọt. Quế chi thang có vị ngọt, dùng vào có thể gây bứt rứt ở trung tiêu và nôn.
UỐNG QUẾ CHI THANG RỒI NÔN
“凡服桂枝汤吐者,其后必吐脓血也。”
Phàm uống Quế chi thang rồi nôn, điều văn nói về sau có thể nôn ra mủ máu.
CHÚ GIẢI
Người bệnh do rượu uống Quế chi thang rồi nôn được giải thích là vì các vị cay ngọt có thể làm nhiệt động, thúc khí nghịch lên.
Nếu người vốn nội nhiệt thịnh, thuốc không được nôn ra ngay thì có thể làm nhiệt tăng, từ đó xuất hiện nôn mủ máu.
Tuy nhiên, chính lời chú cũng nói có trường hợp không nôn mủ máu, vì mức tổn thương nhẹ và nhiệt chưa quá thịnh.
TẬP CHÚ
Lưu Hoành Bích nói: Nêu Quế chi là lấy một vị làm ví dụ để người học suy rộng đến các vị khác.
Nếu gặp người nhiệt thịnh mà chỉ bỏ Quế chi, còn các thuốc cay ngọt, nóng mạnh khác vẫn dùng không cân nhắc thì chưa hiểu ý của lời răn.
Ông đưa thêm ví dụ về việc dùng thuốc sau sinh: không thể chỉ chú ý kiêng một vị hơi hàn mà lại tùy tiện dùng những vị hàn mạnh hơn.
Ý của lời bàn là cần suy xét nguyên tắc chung, không chỉ máy móc thêm bớt một vị thuốc. Muốn hiểu cổ thư phải đọc kỹ, cân nhắc đầy đủ.
CHỨNG QUẾ CHI GIA PHỤ TỬ THANG 桂枝加附子汤证
“太阳病,发汗,遂漏不止,其人恶风,小便难,四肢微急,难以屈伸者,桂枝加附子汤主之。”
Thái dương bệnh, sau phát hãn, mồ hôi tiếp tục ra không ngừng; người bệnh sợ gió, tiểu khó, tứ chi hơi co căng, khó co duỗi; Quế chi gia Phụ tử thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thái dương trúng phong vốn nên giải cơ. Nếu phát hãn quá mạnh, mồ hôi chảy nhiều rồi tiếp tục rỉ ra không ngừng, tấu lý mở quá mức, biểu dương không vững, nên sợ gió.
Tân dịch hao tổn bên trong, lượng dịch ở bàng quang giảm, nên tiểu khó.
Tân dịch hao tổn, cân mạch thiếu nhu dưỡng, lại gặp phong tà, khiến tứ chi hơi co căng, khó co duỗi.
Theo kinh văn, dùng Quế chi gia Phụ tử thang để xử trí chứng này.
Uống theo phép Quế chi thang là trong khi ôn dương, giúp giữ tân dịch, vẫn phối hợp điều hòa dinh vệ và giải phong tà.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Đây là biến chứng do phát hãn sai trong thái dương trúng phong.
Mồ hôi ra không ngừng làm hao dương và tân dịch. Dương hao thì khí bất túc; tân dịch hao thì nguồn thủy dịch giảm.
Bàng quang đảm nhiệm tiểu tiện, có liên quan đến thái dương. Khí bất túc thì khí hóa không vận hành, nên tiểu khó.
Trình Tri nói: Đây là dương khí và âm dịch cùng hao tổn, lại có ngoại phong xâm nhập, cần phân biệt với chứng Chân vũ thang.
Theo cách phân biệt của ông, Chân vũ thang thiên về cứu tình trạng lý hàn, dương suy, chú trọng hồi dương; Quế chi gia Phụ tử thang thiên về biểu dương không vững, mồ hôi rỉ không ngừng, chú trọng ôn kinh.
GHI CHÚ VỀ BẢN DỊCH
Một số chữ trong bản gửi bị khuyết hoặc nhận dạng sai. Những chỗ rõ nghĩa được chuyển dịch theo ngữ cảnh; chỗ chưa đủ căn cứ được giữ thận trọng. Các mốc sáu, bảy hoặc mười hai ngày là lời bàn trong cổ văn, không phải thời hạn khỏi bệnh cố định. Phần phương thuốc và châm cứu được dịch để nghiên cứu văn bản, cần được thầy thuốc đánh giá trước khi áp dụng.
Trường Xuân biên soạn
PHƯƠNG QUẾ CHI GIA PHỤ TỬ THANG 桂枝加附子汤方
Trong phương Quế chi thang, thêm Phụ tử một củ. Các phần còn lại theo phép dùng Quế chi thang.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Phương này thêm Phụ tử vào Quế chi thang để bổ mạnh biểu dương. Biểu dương vững thì mồ hôi rỉ không ngừng tự dừng, sợ gió cũng hết. Mồ hôi ngừng, tân dịch phục hồi thì tiểu tiện thông thuận, tứ chi trở lại mềm mại.
Mồ hôi rỉ không ngừng và ra nhiều mồ hôi có điểm giống nhau, nhưng sự chuyển biến bệnh lý sau đó khác nhau.
Sau dùng Quế chi thang hoặc Ma hoàng thang, nếu ra nhiều mồ hôi rồi xuất hiện phiền khát dữ dội, theo cách giải thích của ông là dương nhiệt vào lý, cần gấp cứu âm, nên dùng Bạch hổ gia Nhân sâm thang.
Nếu sau phát hãn, mồ hôi rỉ không ngừng mà không phiền khát, thì là dương hao thoát ở ngoài, cần gấp cứu dương, nên dùng Quế chi gia Phụ tử thang.
Ông khái quát rằng trong các phương phát hãn, dùng Quế chi không thích hợp thường dễ làm dương nhiệt chuyển vào lý; dùng Ma hoàng không thích hợp thường dễ làm dương hao thoát ra ngoài.
Quế chi thang có Thược dược, không có Ma hoàng, nên dù mồ hôi ra nhiều, huyền phủ — tức các lỗ thoát mồ hôi — vẫn có thể tự đóng lại, thường ít dẫn đến vong dương ở ngoài hơn.
CHỨNG BẠCH HỔ GIA NHÂN SÂM THANG 白虎加人参汤证
“服桂枝汤,大汗出后,大烦渴不解,脉洪大者,白虎加人参汤主之。”
Sau uống Quế chi thang, mồ hôi ra nhiều, phiền khát dữ dội không giảm, mạch hồng đại, Bạch hổ gia Nhân sâm thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Phiền khát dữ dội là biểu hiện của dương minh chứng. Mạch hồng đại là mạch tượng của dương minh.
Người mắc trúng phong, sau uống Quế chi thang, mồ hôi ra nhiều nhưng bệnh chưa giải, lại phiền khát dữ dội, mạch hồng đại, là tà đã vào dương minh. Tân dịch bị tổn thương do ra nhiều mồ hôi, khiến vị thiếu nhuận.
Theo điều văn, dùng Bạch hổ gia Nhân sâm thang để thanh nhiệt, sinh tân, nhờ đó phiền khát được giải.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Bạch hổ thang thực sự giải nhiệt hun đốt bên trong, không phải phương chữa nhiệt nhẹ ở phần ngoài.
Người trước cho rằng Thạch cao cay, mát, có thể giải phong nhiệt dương minh. Nhưng nếu không phối hợp với những vị như Ma hoàng, Cát căn, thì làm sao thuốc hướng ra phần ngoài? Theo ông, cách giải thích ấy có vẻ đúng nhưng thực ra chưa thỏa đáng.
Tà dương minh còn ở kinh, dù có nóng sốt rõ nhưng không phiền khát, vẫn có những phép trị bằng Cát căn thang, Quế chi gia Cát căn thang và các phương tương ứng, không nhất thiết phải dùng Thạch cao.
GHI CHÚ VỀ BẢN DỊCH
Liều “Phụ tử một củ” được giữ theo nguyên văn cổ. Đoạn gửi chưa ghi rõ cách chế biến; không thể xem đây là hướng dẫn dùng Phụ tử sống hoặc tự quy đổi thành liều dùng hiện nay.
Trường Xuân biên soạn
PHƯƠNG BẠCH HỔ GIA NHÂN SÂM THANG 白虎加人参汤方
Phương thuốc được trình bày ở thiên Dương minh.
CHỨNG ĐIỀU VỊ THỪA KHÍ THANG 调胃承气汤证
“太阳病三日,发汗不解,蒸蒸发热者,属胃也,调胃承气汤主之。”
Thái dương bệnh đến ngày thứ ba, sau phát hãn vẫn chưa giải, phát nhiệt hầm hập như hơi nóng bốc lên, là bệnh đã thuộc vị; Điều vị thừa khí thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thái dương bệnh đến ngày thứ ba, sau phát hãn mà nhiệt chưa giải, nếu vẫn phát sốt từng đợt, có mồ hôi nhưng bệnh chưa khỏi, thì biểu chứng thái dương còn tồn tại; khi ấy cần xét phép dùng Quế chi thang để điều hòa.
Nay người bệnh phát nhiệt hầm hập, có mồ hôi mà bệnh không giải, là lý chứng dương minh chưa được điều hòa, nên dùng Điều vị thừa khí thang.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Thái dương bệnh mới ba ngày, thời gian bệnh chưa lâu, vì sao sau phát hãn không giải đã quy thuộc vị?
Đó là vì người bệnh vốn có vị táo. Những biểu chứng khác tuy đã hết, nhưng mồ hôi và nóng sốt vẫn còn.
Xét thấy nhiệt bốc lên mạnh như hơi nóng trong lồng hấp thì biết mồ hôi cũng ra liên tục. Đây được xem là dấu hiệu đại tiện đã có xu hướng táo kết, nên nói bệnh thuộc vị.
Nhiệt tuy tụ ở vị nhưng chưa thấy triều nhiệt, nói sảng và các biểu hiện nặng khác. Vì thời gian bệnh chưa lâu, dùng Điều vị thừa khí thang là chọn phép công hạ tương đối hòa hoãn.
Uông Hổ nói: Nhận định thái dương bệnh không nên câu nệ số ngày. Khi đã có chứng thuộc vị thì có thể xét dùng phép hạ.
Bệnh mới ba ngày nhưng đã trải qua phát hãn. Nhiệt từ trong bốc ra ngoài, không phải biểu tà chưa giải, mà là tà thái dương đã chuyển thuộc vị, nên nóng sốt vẫn không lui.
Trường Xuân biên soạn
PHƯƠNG ĐIỀU VỊ THỪA KHÍ THANG 调胃承气汤方
Phương thuốc được trình bày ở thiên Dương minh.
SAU PHÁT HÃN, VỊ KHÔ VÀ CHỨNG NGŨ LINH TÁN
Thái dương bệnh, sau phát hãn, mồ hôi ra nhiều, trong vị khô, bứt rứt, không ngủ được, muốn uống nước, thì cho uống từng ít một, khiến vị khí điều hòa, bệnh có thể khỏi.
Nếu mạch phù, tiểu tiện khó, hơi phát nhiệt, khát nhiều thì Ngũ linh tán chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thái dương bệnh, sau phát hãn hoặc ra nhiều mồ hôi, tân dịch có thể hao tổn bên trong, khiến vị khô, bứt rứt, không ngủ được, muốn uống nước.
Khi ấy, cho uống từng ít một để làm nhuận vị, giúp vị khí điều hòa, bệnh có thể giải.
Nếu đã uống nước mà vị vẫn không hòa, lại có mạch phù, tiểu tiện khó, hơi phát nhiệt và khát nhiều, thì biểu tà thái dương chưa hết, đồng thời thủy ẩm đã đình tụ bên trong, liên quan đến bàng quang.
Kinh nói: Bàng quang là phủ chứa tân dịch, nhờ khí hóa mới có thể bài xuất.
Theo lời chú, tà nhiệt hun đốt, làm hao tân dịch đang có; nước uống vào không được chuyển hóa, nên tân dịch mới cũng không được sinh thành và phân bố đầy đủ. Người bệnh thiếu tân dịch, muốn uống nước để tự giải khát, nhưng uống rồi vẫn khát.
Dùng Ngũ linh tán nhằm giải phần biểu bên ngoài, thông điều thủy dịch bên trong. Khí hóa phục hồi, tân dịch được sinh và phân bố, thì nóng khát giảm, tiểu tiện thông thuận.
TẬP CHÚ
Trương Kiêm Thiện nói: Bạch hổ thang dùng khi biểu chứng đã giải, tà truyền vào lý, gây phiền khát.
Ở đây mạch phù, thân hơi nóng và khát, nghĩa là biểu tà chưa hoàn toàn giải, nên dùng Ngũ linh tán. Quế chi cay, phát tán, giúp điều hòa cơ biểu và giải phần nhiệt nhẹ.
Bạch truật, Trạch tả, Phục linh và Trư linh có tác dụng kiện vận, thấm lợi, giúp chuyển hóa thủy dịch, sinh tân và giảm khát.
Dụ Xương nói: Mạch phù vốn cần xét Quế chi thang, vì sao lại chuyển sang Ngũ linh tán?
Vì sau khi uống nước, thế nhiệt có thể giảm phần lớn nhưng chưa hoàn toàn giải. Nay chỉ hơi nóng, kèm tiểu tiện khó và khát nhiều, cho thấy chứng súc ẩm đã hình thành. Vì vậy, không chỉ giải biểu mà cần phối hợp giải cả biểu lẫn lý.
Ông giải thích “tiêu khát” trong điều này là uống nước nhiều nhưng tiểu ít. Đây là cách dùng thuật ngữ trong bệnh cảnh cổ văn, không đồng nghĩa với mọi trường hợp bệnh tiêu khát ở phần khác.
Bên trong có nhiệt và thủy ẩm đình tụ, không thể chỉ dùng Quế chi thang giải cơ, mà cần phối hợp lợi thủy; đó là ý nghĩa lựa chọn Ngũ linh tán.
Trình Ứng Mao nói: Cần đối chiếu chữ “hơi nóng” ở điều này với chữ “phát sốt” ở điều sau.
Điều sau còn phát sốt ở biểu, theo ông là tà ảnh hưởng vào phủ chưa sâu, nhưng thủy ẩm đình tụ đã ngăn trở nước uống.
Điều này chỉ hơi nóng, nhưng tà đã ảnh hưởng sâu hơn đến khí hóa, làm hao tân dịch.
Vì vậy, cần phân biệt trường hợp chỉ cho uống nước với trường hợp dùng Ngũ linh tán; ngay giữa hai chứng Ngũ linh tán cũng có những điểm khác nhau.
CHỨNG THỦY NGHỊCH 水逆证
“中风发热,六、七日不解而烦者,有表里证,渴欲饮水,水入则吐者,名曰水逆,五苓散主之。”
Trúng phong phát sốt, đến sáu, bảy ngày chưa giải, có phiền, đồng thời có biểu chứng và lý chứng; khát muốn uống nước nhưng uống vào thì nôn, gọi là thủy nghịch. Ngũ linh tán chủ trị.
CHÚ GIẢI
Trúng phong phát sốt, sáu, bảy ngày chưa giải, có phiền, cho thấy biểu chứng vẫn còn.
Khát muốn uống nước nhưng uống vào thì nôn, cho thấy có lý chứng.
Nếu vị khô, nước uống vào được tiếp nhận, có thể cho uống từng ít một như điều trước, giúp vị điều hòa.
Nay khát muốn uống nhưng nước vào không được tiếp nhận, nghịch lên gây nôn, nên gọi là thủy nghịch.
Theo lời chú, tà nhiệt vào lý, kết hợp với thủy ẩm, làm tam tiêu mất chức năng khí hóa, không thể thông điều thủy đạo và chuyển nước xuống bàng quang.
Thủy ẩm và nhiệt ngăn trở ở trên, nước không có đường đi xuống dưới, nên uống vào thì nôn, đồng thời tiểu tiện thường không thông.
Ngũ linh tán phối hợp các vị cay, ngọt và thấm lợi để giải biểu, lợi thủy. Cổ văn còn nêu uống nước ấm nhằm hỗ trợ phép dùng thuốc, giúp mồ hôi ra và tiểu tiện thông, từ đó giải cả biểu lẫn lý.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Trúng phong phát sốt thường có mồ hôi tự ra. Bệnh kéo dài sáu, bảy ngày chưa giải, lại phiền, là mồ hôi ra nhiều làm hao tân dịch, gây khô bên trong.
Biểu chứng là những biểu hiện bên ngoài chưa hết. Lý chứng là phiền khát có liên quan đến phủ.
Muốn uống nước vì khô và khát, mong được làm nhuận. Nhưng thủy ẩm tiềm phục bên trong khiến nước từ ngoài không được tiếp nhận.
Ẩm vốn cũng là thủy dịch. Nước uống vào gặp thủy ẩm đang đình tụ, làm đầy tràn và nghịch lên, nên gọi là thủy nghịch.
Dùng Ngũ linh tán nhằm giải cả biểu lẫn lý.
Dụ Xương nói: Chứng thương phong vốn có mồ hôi. Nếu kéo dài mà không giải cơ thích hợp, mồ hôi tuy ra nhiều nhưng chỉ làm hao tân dịch, biểu vẫn chưa giải, phiền khát càng tăng.
Tà vào phủ, uống nước thì nôn, gọi là thủy nghịch. Đó là nhiệt tà kèm thủy ẩm tích tụ nghịch lên, khiến nước uống từ ngoài bị ngăn trở.
Theo lời bàn của ông, dùng Ngũ linh tán phối hợp phép uống nước ấm, giúp biểu tà được giải và thủy đạo được thông, là một phép đồng thời xử lý cả biểu lẫn lý.
Trường Xuân biên soạn
PHƯƠNG NGŨ LINH TÁN 五苓散方
Trư linh bỏ vỏ đen mười tám thù, Phục linh mười tám thù, Trạch tả một lạng sáu thù, Bạch truật mười tám thù, Quế nửa lạng.
Năm vị trên nghiền thành bột, tiếp tục giã trong cối cho mịn. Dùng nước cơm hòa một phương thốn chủy bột thuốc để uống, mỗi ngày ba lần. Uống thêm nước ấm, có mồ hôi thì bệnh giải.
Lạng, thù và phương thốn chủy là đơn vị cổ, được giữ theo nguyên văn, không quy đổi thành liều dùng hiện nay.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này dùng khi tà nhiệt thái dương vào phủ, thủy khí không được chuyển hóa, nhằm xử lý cả biểu và lý có liên quan đến bàng quang.
Một dạng là thủy nghịch: uống nước vào thì nôn. Một dạng là tiêu khát: uống nước được nhưng vẫn khát.
Bàng quang là phủ chứa tân dịch, nhờ khí hóa mới có thể bài xuất. Tà nhiệt vào phủ, kết hợp với thủy dịch mà thành bệnh.
Nếu thủy thịnh hơn nhiệt, thủy dịch ứ lại, không được chuyển hóa, đình tụ ở trên, nên uống nước vào thì nôn. Khí hóa của bàng quang không thông, khiến tiểu tiện khó.
Nếu nhiệt thịnh hơn thủy, thủy dịch bị nhiệt nung đốt, tân dịch hao tổn, nên uống nước vào vẫn tiếp tục khát. Nguồn tân dịch không đủ, khiến lượng nước tiểu giảm.
Hai dạng đều có tiểu tiện bất lợi, vì vậy cùng có thể được xét theo chứng Ngũ linh tán.
Nếu tiểu tiện vốn thông thuận thì không nên chỉ căn cứ vào khát để dùng phương này, vì có thể làm hao thêm tân dịch. Theo ý của lời giải, cần phân biệt với chứng lý nhiệt dương minh.
Qua đó, Ngũ linh tán không được xem là phương dùng chung cho mọi bệnh có thủy và nhiệt, mà là phương chủ yếu cho bệnh cảnh thủy dịch rối loạn, có tiểu tiện bất lợi.
Trạch tả làm quân. Theo cách giải thích của bản chú, vị mặn hướng đến thủy phủ, tính hàn giúp giảm nhiệt tà.
Trư linh và Phục linh có tính thấm lợi, giúp thông điều thủy đạo, đưa thủy dịch xuống bàng quang, làm thủy và nhiệt cùng được giải.
Bạch truật táo thấp, kiện tỳ, giúp thổ vận hóa và chế ước thủy.
Quế cay, ấm, giúp tuyên thông dương khí, hỗ trợ khí hóa tam tiêu để vận hành thủy dịch.
Trạch tả phối hợp hai vị linh, tăng tác dụng lợi thủy, khiến tiểu tiện thông và thủy dịch không tiếp tục tích tụ.
Bạch truật phối hợp Quế, giúp dương khí thông đạt, khí hóa và sự phân bố tân dịch phục hồi, nhờ đó khát giảm.
Nếu phát sốt chưa giải, bản chú đề nghị thay Quế bằng Quế chi, sau uống thuốc dùng thêm nước ấm để hỗ trợ ra mồ hôi và giải bệnh.
Theo cách lý giải này, phương không chỉ xử lý thủy đình, tiểu tiện bất lợi ở lý, mà còn có thể giải biểu chứng phát sốt đi kèm.
Thêm Nhân sâm, gọi là Xuân trạch thang, chủ ý trợ khí hóa để sinh tân.
Thêm Nhân trần, gọi là Nhân trần ngũ linh tán, dùng cho chứng vàng da do thấp nhiệt, biểu lý không có thực kết, kèm tiểu tiện bất lợi.
TẬP GIẢI
Trình Ứng Mao nói: Thái dương là tiêu, bàng quang là bản.
Trúng phong phát sốt là phần tiêu chịu tà. Đến sáu, bảy ngày chưa giải, tà từ tiêu chuyển vào bàng quang, gọi là phạm bản.
Ngũ linh tán, Ma hoàng thang và Quế chi thang tuy đều có liên quan đến thái dương bệnh, nhưng công dụng khác nhau: Ma hoàng thang và Quế chi thang giải phần biểu, Ngũ linh tán chủ yếu lợi tiểu để xử lý phần lý. Tiêu và bản có những phép trị riêng.
LỜI ÁN
Theo người hiệu đính, “có biểu lý chứng” trong điều này không chỉ bệnh cảnh phát sốt, ra mồ hôi, miệng khô, phiền khát, uống nước được, tiểu tiện thông thuận, thuộc quan hệ thái dương và dương minh.
Ở đây, ông hiểu là bệnh cảnh phát sốt, không có mồ hôi, miệng còn nhuận nhưng phiền khát, uống nước thì nôn, tiểu tiện bất lợi, thuộc quan hệ thái dương và bàng quang.
Điều văn trước chưa nói rõ không có mồ hôi và tiểu tiện bất lợi. Tuy nhiên, lời án suy luận rằng nếu mồ hôi ra, tiểu tiện thông thì nước uống có đường thoát ra ngoài và đi xuống, khó hình thành thủy nghịch theo bệnh cơ đang bàn.
Trọng Cảnh dùng Ngũ linh tán, kèm nước ấm để hỗ trợ ra mồ hôi, được người hiệu đính hiểu là phối hợp lợi thủy với giải biểu. Những dấu hiệu không có mồ hôi và tiểu tiện bất lợi ở đây là phần suy giải của lời án.
UỐNG NƯỚC NHIỀU, TÂM HẠ QUÝ VÀ LÝ CẤP
“太阳病,小便利者,以饮水多,必心下悸,小便少者,必苦里急也。”
Thái dương bệnh, tiểu tiện vẫn thông nhưng uống nước nhiều thì có thể xuất hiện tâm hạ quý, tức cảm giác đập động ở vùng dưới tâm, vùng thượng vị. Nếu tiểu ít thì có thể xuất hiện căng tức, co thắt bên trong.
CHÚ GIẢI
Theo lời chú, thái dương mới phát bệnh thường chưa muốn uống nước; khi có xu hướng chuyển sang dương minh mới khát muốn uống.
Nếu ngay lúc mới mắc thái dương bệnh đã uống nhiều nước thì có thể người bệnh vốn có vị táo.
Nếu vị dương còn đủ sức vận hóa, nước uống có thể được phân bố, hỗ trợ tạo mồ hôi và giải bệnh.
Nếu uống nhiều mà vị dương không đủ, dù tiểu tiện còn thông, thủy dịch vẫn có thể đình lưu ở trung tiêu, gây cảm giác đập động vùng thượng vị.
Nếu tiểu tiện cũng ít thì thủy đình ở hạ tiêu, có thể gây căng tức, co thắt bên trong.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Uống nhiều nước mà xuất hiện tâm hạ quý được giải thích theo quan hệ thủy ảnh hưởng đến tâm hỏa. Tiểu ít thì thủy đình, gây lý cấp.
Uông Hổ nói: Thái dương bệnh mà tiểu tiện thông cho thấy phủ bàng quang chưa bị tà nhiệt ngăn trở rõ.
Nếu khát uống nhiều, theo ông có thể là nhiệt ở thượng tiêu, tâm hỏa thịnh. Nước uống vào đình lại, ảnh hưởng đến tâm, gây tâm hạ quý.
Nếu uống nhiều nhưng tiểu ít thì xét đến tà nhiệt thái dương theo kinh vào phủ, thủy tích không vận hành, gây căng tức vùng bàng quang.
SAU PHÁT HÃN, UỐNG NHIỀU NƯỚC HOẶC DÙNG NƯỚC DỘI RỬA
“发汗后,饮水多必喘,以水灌之亦喘。”
Sau phát hãn, uống nhiều nước có thể gây khó thở; dùng nước dội rửa cơ thể cũng có thể gây khó thở.
CHÚ GIẢI
Điều trước bàn người chưa phát hãn, uống nhiều do vị nhiệt, tân dịch ít. Điều này bàn sau phát hãn, tân dịch hao tổn, vị khô nên muốn uống nhiều.
Nếu không xuất hiện tâm hạ quý hoặc lý cấp mà lại khó thở, lời chú giải thích rằng thủy không đình ở trung tiêu hay hạ tiêu, mà ảnh hưởng lên thượng tiêu, phạm phế.
“Dùng nước dội” nghĩa là lấy nước tưới, rửa cơ thể.
Lời chú phân biệt: uống nhiều nước lạnh làm hàn ảnh hưởng bên trong; dùng nước lạnh dội rửa làm cơ thể bị lạnh từ ngoài. Cả hai đều có thể ảnh hưởng đến phế, gây khó thở.
TẬP CHÚ
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều này làm rõ một dạng khó thở có liên quan đến thủy.
Khó thở sau khát uống nhiều và khó thở sau dùng nước dội rửa tuy có đường tác động khác nhau, nhưng theo cách lý giải này đều dẫn đến bệnh biến ở phế.
CHỨNG MA HOÀNG HẠNH NHÂN CAM THẢO THẠCH CAO THANG 麻黄杏仁甘草石膏汤证
“发汗后,不可更行桂枝汤,汗出而喘,无大热者,可与麻黄杏仁甘草石膏汤。”
Sau phát hãn, không nên tiếp tục dùng Quế chi thang. Nếu ra mồ hôi mà khó thở, không có sốt cao rõ, có thể dùng Ma hoàng Hạnh nhân Cam thảo Thạch cao thang.
CHÚ GIẢI
Thái dương bệnh, sau công hạ hơi khó thở, biểu chưa giải, thì có trường hợp dùng Quế chi gia Hậu phác Hạnh nhân thang để giải cơ biểu thái dương và xử lý khó thở.
Thái dương bệnh thuộc chứng Quế chi, nhưng thầy thuốc lại công hạ, sau đó xuất hiện tiêu chảy, mạch xúc, ra mồ hôi, khó thở, biểu chưa giải, thì có trường hợp dùng Cát căn Hoàng liên Hoàng cầm thang để giải nhiệt và xử lý chứng tương ứng.
Ở điều này, sau phát hãn, người bệnh ra mồ hôi, khó thở, thân không nóng nhiều và không sợ lạnh. Theo lời chú, điều đó cho thấy tà không còn ở phần biểu thái dương.
Lời chú tiếp tục phân biệt với lý nhiệt dương minh và nhận định bệnh chủ yếu ở phế thuộc thái âm.
Vì vậy, không tiếp tục dùng Quế chi thang, mà xét Ma hoàng Hạnh nhân Cam thảo Thạch cao thang để tuyên phế, thanh nhiệt, giúp giải khó thở và điều hòa tình trạng ra mồ hôi.
“Không có sốt cao rõ” trong điều văn không có nghĩa là hoàn toàn không có nhiệt; cần phối hợp toàn bộ chứng hậu để nhận định.
Trường Xuân biên soạn
PHƯƠNG MA HOÀNG HẠNH NHÂN CAM THẢO THẠCH CAO THANG 麻黄杏仁甘草石膏汤方
Ma hoàng bỏ đốt bốn lạng, Hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn năm mươi hạt, Cam thảo chích hai lạng, Thạch cao đập vụn, bọc vải nửa cân.
Bốn vị trên dùng bảy thăng nước. Trước sắc Ma hoàng cho nước giảm hai thăng, vớt bỏ bọt trắng, rồi cho các vị còn lại vào, sắc lấy ba thăng, bỏ bã. Uống ấm một thăng.
Các đơn vị được giữ theo nguyên văn cổ. Chữ “筋” trong bản gửi được hiểu là chữ “斤” — cân.
TẬP CHÚ
Kha Cầm nói: Thạch cao là vị thuốc có tác dụng thanh hỏa mạnh. Các phương Thanh long và Bạch hổ đều nhờ vị này mà phát huy công năng. Tuy nhiên, dùng không thích hợp có thể gây hại.
Phương Thanh long dùng trong chứng không có mồ hôi, phiền táo, cần phối hợp Sinh khương và Quế chi để tuyên thông dương khí ở phần vệ bên ngoài.
Phương Bạch hổ dùng trong chứng có mồ hôi, phiền khát, cần gạo tẻ để bảo vệ tân dịch trong vị.
Chứng đang bàn chỉ có nội nhiệt, không có ngoại hàn, nên không dùng Sinh khương và Quế chi. Khó thở chủ yếu ở phế, không phải ở vị, nên không cần gạo tẻ. Chủ ý của phương là bảo tồn âm dịch, không lấy cứu dương làm trọng tâm.
Từ phép phối ngũ của Ma hoàng thang, bỏ Quế chi, lấy Ma hoàng để tuyên mở phế khí, Hạnh nhân để giáng khí, Cam thảo để điều hòa, tăng phần thanh nhiệt của Thạch cao nhằm trừ thực nhiệt uẩn bên trong.
Theo lời giải, khi phế khí được tuyên giáng, nhiệt được thanh, tình trạng ra mồ hôi, phiền nhiệt và khó thở đều có thể được giải.
SAU CÔNG HẠ, RA MỒ HÔI VÀ KHÓ THỞ
“下后不可更行桂枝汤,若汗出而喘,无大热者,可与麻黄杏仁甘草石膏汤。”
Sau công hạ, không nên tiếp tục dùng Quế chi thang. Nếu ra mồ hôi, khó thở, không có sốt cao rõ, có thể dùng Ma hoàng Hạnh nhân Cam thảo Thạch cao thang.
CHÚ GIẢI
Điều này bổ sung cho điều trước, nêu hai đường dẫn đến bệnh nhưng cùng một phép trị.
Sau công hạ, thân không nóng nhiều, có mồ hôi và khó thở, theo lời chú là tà không còn ở biểu mà chủ yếu ở phế. Vì vậy, không tiếp tục dùng Quế chi thang, mà xét dùng Ma hoàng Hạnh nhân Cam thảo Thạch cao thang để trị phế.
Điều trước là khó thở sau phát hãn, điều này là khó thở sau công hạ. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh khác nhau, nhưng chứng hậu hiện tại tương đồng, nên căn cứ vào chứng hiện tại để lựa chọn cùng một phương.
Đây cũng được xem là vận dụng nguyên tắc cấp thì trị tiêu trong bệnh có khó thở.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Phát hãn và công hạ tuy khác nhau, nhưng nếu đều do điều trị không thích hợp mà dẫn đến cùng một chứng khó thở, thì có thể quy về cùng một phép trị.
CHỨNG THẬP TÁO THANG 十枣汤证
Theo cách hiệu đính trong đoạn này, điều văn được hiểu như sau:
Thái dương trúng phong, đại tiểu tiện không thông thuận, nôn nghịch; chỉ khi biểu đã giải mới được công trục.
Người bệnh hơi ra mồ hôi liên tục, phát sốt từng lúc, đau đầu, vùng dưới tâm đầy tức, trướng, đau lan xuống dưới sườn, nôn khan, hơi thở ngắn. Có mồ hôi mà không sợ lạnh, đó là biểu đã giải nhưng lý chưa hòa; Thập táo thang chủ trị.
LỜI ÁN
Người hiệu đính cho rằng chữ “下” — hạ, trong “下利” — hạ lợi, cần sửa thành “不” — bất, tức không thông thuận.
Theo ông, nếu vừa nôn ở trên vừa tiêu chảy ở dưới thì không thể lấy đó làm căn cứ dùng phương công trục mạnh như Thập táo thang.
Đại tiện không thông, vùng dưới tâm đầy tức, trướng đau mới cho thấy có lý bệnh. Tiểu tiện bất lợi, nôn nghịch, hơi thở ngắn cho thấy có thủy ẩm đình lưu, khi ấy mới xét phép công trục.
Chữ “作” — tác, trong “发作有时” được đề nghị sửa thành “热” — nhiệt, tức phát sốt từng lúc.
Theo lời án, nếu không có nhiệt mà ra mồ hôi, kèm hàn ẩm thì phải xét bệnh cảnh khác, như chứng Chân vũ thang. Chữ “tác” cũng không phù hợp với mạch văn trước sau.
CHÚ GIẢI
Thái dương trúng phong là biểu tà. Tiểu tiện không thông, nôn nghịch là biểu hiện thủy ẩm ở lý.
Chỉ khi biểu tà đã giải mới được công trục thủy ẩm.
Nếu người bệnh hơi ra mồ hôi liên tục, phát sốt từng lúc, đau đầu nhưng vẫn sợ lạnh, thì biểu chưa giải, chưa nên công.
Nếu không còn sợ lạnh thì có cơ sở nhận định biểu đã giải.
Lại thấy vùng dưới tâm đầy tức, trướng, đau lan dưới sườn, nôn khan, hơi thở ngắn, cho thấy lý chưa hòa, thủy dịch tích tụ không có đường thoát.
Theo bản chú, khi đã xác định đúng chứng ấy, dùng Thập táo thang để công trục thủy ẩm đình tụ.
LỜI ÁN VỀ PHÂN BIỆT CÁC CHỨNG THỦY ẨM
Thương hàn, biểu chưa giải, thủy đình ở vùng dưới tâm, nôn nghịch, là hàn bó buộc bên ngoài khiến thủy khí không được tuyên thông. Khi phù hợp với chứng, dùng Tiểu thanh long thang để phát tán và hóa ẩm.
Trúng phong, biểu chưa giải, thủy đình ở vùng dưới tâm gây nôn, là thủy ẩm ngăn trở bên trong, không được chuyển vận và bài tiết. Khi phù hợp với chứng, dùng Ngũ linh tán để giải biểu, lợi thủy.
Cả hai đều là chứng thủy ẩm có biểu chưa giải, không nên chỉ công phần lý.
Thập táo thang và Quế chi khứ Thược dược gia Bạch truật Phục linh thang đều được bàn trong bệnh thủy ẩm có biểu lý liên quan, nhưng điểm lựa chọn khác nhau.
Thập táo thang dùng khi có đau đầu, phát sốt, ra mồ hôi nhưng không sợ lạnh, biểu đã giải; bên trong vẫn đầy tức, trướng đau, nên chủ yếu công lý.
Quế chi khứ Thược dược gia Bạch truật Phục linh thang dùng khi đau đầu, phát sốt, không có mồ hôi, biểu chưa giải, kèm vùng dưới tâm đầy và hơi đau. Khi ấy không chủ công lý mà trước hết cần giải biểu.
Mức độ đầy tức và đau ở vùng dưới tâm của hai chứng cũng khác nhau.
TẬP CHÚ
Đỗ Nhậm nói: Thập táo thang chỉ thích hợp với người thể lực còn mạnh và đúng chứng, không nên dùng tùy tiện.
Phương Hữu Chấp nói: Câu “chỉ khi ấy mới được công” nhằm nhắc người học không công hạ quá sớm.
Dù đã có một số lý chứng, vẫn chưa đủ để dùng phép hạ. Phải xác định biểu đã giải qua toàn bộ bệnh cảnh, trong đó có ra mồ hôi mà không sợ lạnh, rồi mới xét phép trị.
Dụ Xương nói: Chứng này khá giống kết hung, nhưng kết hung là tà kết ở ngực, vị trí cao hơn; chứng này ở vùng dưới tâm và dưới sườn, vị trí thấp hơn.
Tuy vậy, cả hai đều phải đợi biểu giải mới công, nên nguyên tắc thận trọng tương tự nhau.
Phép công trục của Thập táo thang có nét gần với phép Hãm hung. Tuy nhiên, nhiều phép hạ trong thương hàn nhằm chữa vị thực, do tà nhiệt kết với chất tích trệ trong vị trường, nên dùng Mang tiêu, Đại hoàng để công hạ.
Chứng này chủ yếu ở vùng ngực sườn, không phải vị thực, nên không dùng cùng phép tẩy trừ vị trường, mà chọn phép trục ẩm ở ngực sườn.
Trương Chí Thông nói: Đau đầu thường là biểu chứng, nhưng cũng có thể do bệnh ở lý.
Chẳng hạn, thương hàn không đại tiện năm, sáu ngày, đau đầu, có nhiệt, có trường hợp dùng Thừa khí thang.
Ở điều này, có mồ hôi, không sợ lạnh mà vẫn đau đầu, được nhận định là biểu đã giải, bên trong có thủy ẩm, nên dùng Thập táo thang.
Vì vậy, gặp đau đầu trong bệnh phong hàn phải phân biệt kỹ, không thể chỉ dựa vào đau đầu để kết luận biểu chưa giải.
Trình Ứng Mao nói: Điểm dễ gây nhầm là ngoài đau đầu còn có ra mồ hôi, khiến biểu lý khó phân biệt.
Nếu ra mồ hôi, phát sốt, còn sợ lạnh thì vẫn có biểu chứng. Nếu ra mồ hôi, phát sốt nhưng không sợ lạnh, cần phối hợp các chứng khác để xét biểu đã giải, lý khí bị thủy ẩm ngăn trở.
Khi ấy, đau đầu có thể do lý tà đi lên, không còn thuộc biểu tà.
Ngụy Lệ Đồng nói: Tà thái dương vào lý có thể cần dùng phép hạ, nhưng vị trí và đối tượng công hạ khác nhau.
Có trường hợp không phải kết hung ở ngực, cũng không phải vị thực ở ruột, mà thủy ẩm đình ở vùng dưới tâm và dưới sườn. Đó là một dạng khác của phép hạ.
Cùng gọi là công hạ nhưng chứng khác thì phương pháp khác.
Tại chỗ chuyển biến giữa thái dương và dương minh, cần phân rõ biểu lý để lựa chọn hãn hay hạ.
Vị thực là tà nhiệt kết với thức ăn và chất cặn bã. Chứng đang bàn là tà nhiệt kết với thủy ẩm, hình thành ẩm thực.
Hai dạng cùng có nguyên tắc đợi biểu giải rồi mới xét công lý, nhưng thuốc và phép công không giống nhau.
GHI CHÚ VỀ BẢN DỊCH
Đoạn Thập táo thang có nhiều chữ khuyết. Bản dịch dựa vào ngữ cảnh và lời hiệu đính kèm theo; những thay đổi chữ “hạ” thành “bất”, “tác” thành “nhiệt” là quan điểm của người hiệu đính, không phải nguyên văn thống nhất của mọi bản.
Trường Xuân biên soạn
Có, bác Trường Xuân. Từ phần này, tôi sẽ ghi cân lượng cổ kèm lượng quy đổi tham khảo khi có đủ căn cứ. Cần phân biệt lượng quy đổi để nghiên cứu văn bản với liều thuốc được lựa chọn cho người bệnh hiện nay.
PHƯƠNG THẬP TÁO THANG 十枣汤方
Nguyên hoa sao, Cam toại, Đại kích: ba vị lấy lượng bằng nhau, mỗi vị giã riêng thành bột. Đại táo chọn quả to, đầy đặn, bổ ra mười quả.
Nguyên phương không ghi số lạng của từng vị Nguyên hoa, Cam toại và Đại kích, mà quy định tỷ lệ bằng nhau và lượng bột hỗn hợp dùng mỗi lần.
ĐỐI CHIẾU CÂN LƯỢNG CỔ VÀ HIỆN ĐẠI
Một thăng nước thời Hán thường được ước tính khoảng hai trăm mililít. Theo đó, một thăng rưỡi tương ứng khoảng ba trăm mililít; tám hợp tương ứng khoảng một trăm sáu mươi mililít. Đây là quy đổi dung tích để đọc nguyên phương. lfhospital.net
Một tiền chủy là lượng bột đong bằng dụng cụ cổ, không phải một tiền cân thuốc của thời kỳ sau. Có cách quy đổi tham khảo lấy một tiền chủy khoảng một phẩy năm gam; nếu theo cách ấy, nửa tiền chủy khoảng không phẩy bảy mươi lăm gam. Tuy nhiên, cân nặng thực tế phụ thuộc loại bột và cách đong, nên không thể coi đây là trị số chính xác tuyệt đối. theqi.com
Lượng một tiền chủy nói trên là tổng lượng bột của ba vị phối hợp, không phải lượng của mỗi vị.
Đại táo mười quả vẫn nên giữ theo số quả. Muốn ghi tương ứng bằng gam phải cân loại táo thực tế, vì kích thước và độ khô khác nhau.
CÁCH CHẾ VÀ DÙNG THEO NGUYÊN VĂN
Dùng một thăng rưỡi nước, trước sắc mười quả Đại táo to, đầy đặn, lấy còn tám hợp, bỏ bã, rồi hòa bột thuốc vào.
Người khỏe dùng một tiền chủy bột hỗn hợp; người gầy yếu dùng nửa lượng ấy. Uống ấm vào sáng sớm.
Nếu đại tiện ra ít, bệnh chưa được giải, nguyên văn nói ngày sau dùng tiếp, tăng thêm nửa tiền chủy. Sau khi đã đi ngoài thông lợi thì dùng cháo loãng để tự điều dưỡng.
Đây là phép dùng được ghi trong cổ thư. Nguyên hoa, Cam toại và Đại kích là các vị công trục mạnh, có độc tính; lượng quy đổi trên không phải hướng dẫn tự uống hoặc tự tăng liều.
PHƯƠNG GIẢI
Các phương trị thủy của Trọng Cảnh có nhiều cách khác nhau, trong đó Thập táo thang là một trong những phương công trục mạnh nhất.
Thủy khí gây bệnh có thể biểu hiện bằng khó thở, ho, hồi hộp, nghẹn, nôn hoặc tiêu chảy, tùy vị trí thủy dịch đình lưu.
Ở chứng này, thủy tà lưu bên trong, gây vùng ngực bụng và dưới sườn đầy tức, trướng đau, khiến khí thăng giáng của tam tiêu bị ngăn trở.
Lúc ấy, biểu tà đã hết, nên phép phát hãn, phát tán không còn thích hợp. Thủy ẩm bên trong thực thịnh, các vị thấm lợi nhẹ cũng không đủ sức giải quyết. Vì vậy, bản chú đề xuất phép trục thủy mạnh để trực tiếp công phần thủy ẩm đình tụ.
Cam toại, Nguyên hoa và Đại kích đều có công năng công trục mạnh, tính thuốc độc và mãnh liệt. Phối hợp ba vị nhằm tăng tác dụng trục thủy, thông đường thoát của thủy dịch.
Tuy nhiên, nơi tà lưu trú, chính khí thường đã bị ảnh hưởng. Dùng thuốc mạnh công tà có thể làm tổn thương tỳ vị. Nếu thiếu vị thuốc ngọt, hòa hoãn để điều phối thì tà tuy được trừ, chính khí cũng có thể bị tổn hại nghiêm trọng.
Theo người chú giải, Nhân sâm và Bạch truật không thích hợp để đảm nhiệm vai trò điều phối trong phương này; Cam thảo lại thuộc quan hệ tương phản với ba vị công trục. Vì vậy, chọn mười quả Đại táo to, đầy đặn làm vị chủ trì.
Đại táo vừa giúp bảo vệ tỳ vị, vừa làm hòa hoãn tính công trục mạnh của các vị thuốc.
Sau khi thủy ẩm được tống ra, dùng cháo loãng để bổ sung cốc khí, hỗ trợ phục hồi và hạn chế bệnh tái phát.
Người chú giải cho rằng đây là sự phối hợp giữa công tà và bảo vệ chính khí. Không nên chỉ dựa vào quan niệm vị ngọt có thể gây đầy mà bỏ Đại táo, vì cần hiểu vai trò điều phối và chế ước trong toàn phương.
BIỂU CHƯA GIẢI, KHÔNG NÊN CÔNG HẠ
“太阳病,外证未解不可下也,下之为逆,欲解外者,宜桂枝汤。”
Thái dương bệnh, ngoại chứng chưa giải thì không được công hạ. Công hạ khi ấy là nghịch trị. Muốn giải phần ngoài, nên xét dùng Quế chi thang.
CHÚ GIẢI
Ngoại chứng chưa giải ở đây chỉ biểu chứng phù hợp với Quế chi thang còn tồn tại.
Khi biểu chưa giải, dù đã phát hãn hay chưa, dù có chứng có thể dùng phép hạ, nếu chưa thuộc trường hợp cần hạ gấp thì không nên công hạ trước.
Muốn giải phần ngoài vẫn cần dùng phương thích hợp với biểu chứng hiện tại.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói: Nếu vẫn còn đau đầu, sợ lạnh thuộc biểu chứng thì biểu chưa giải, không nên công hạ.
Trình Ứng Mao nói: Sau công hạ mà ngoại chứng chưa giải, vẫn cần giải phần ngoài. Có chứng phù hợp thì dùng phương tương ứng, không vì đã công hạ mà cho rằng Quế chi thang không còn dùng được.
Uông Hổ nói: Nghịch trị là bệnh ở ngoài mà lại công bên trong, khiến trị pháp không phù hợp với bệnh.
SAU PHÁT HÃN LẠI CÔNG HẠ, MẠCH VẪN PHÙ
Thái dương bệnh, trước phát hãn nhưng chưa giải, sau lại công hạ, mạch vẫn phù thì bệnh chưa khỏi.
Phù biểu thị tà còn ở ngoài, nhưng lại công hạ nên bệnh không giải. Nay mạch vẫn phù, biết tà còn ở ngoài, cần giải ngoại; Quế chi thang được nêu làm phương chủ trị.
CHÚ GIẢI
Sau phát hãn, biểu chưa giải, đáng lẽ phải tiếp tục xử trí biểu chứng cho thích hợp, nhưng lại công hạ, là trị không đúng phép.
Nếu sau công hạ chưa hình thành biến chứng khác, mạch vẫn phù, ngoại chứng vẫn còn, thì tiếp tục xét phép giải biểu.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Cần căn cứ tình trạng hiện tại để nhận định. Mạch phù cùng với biểu chứng còn tồn tại cho thấy tà vẫn ở ngoài.
Không nên vì lần điều trị trước đã dùng phép hạ mà bỏ qua phương giải biểu đang phù hợp. Có mạch chứng tương ứng thì dùng phương tương ứng.
THỨ TỰ PHÁT HÃN VÀ CÔNG HẠ
Đáng lẽ phát hãn trước mà lại công hạ thì là nghịch. Nếu phát hãn trước, phù hợp với chứng, thì không phải nghịch.
Đáng lẽ công hạ trước mà lại phát hãn thì là nghịch. Nếu công hạ trước, phù hợp với chứng, thì không phải nghịch.
CHÚ GIẢI
Phân biệt thuận nghịch trong điều trị phải căn cứ biểu lý. Khi biểu lý cùng có bệnh, cần xét phép hãn hay phép hạ phải làm trước.
Nếu biểu cấp hơn lý, đáng lẽ giải biểu trước mà lại công hạ thì là nghịch.
Nếu lý cấp hơn biểu, đáng lẽ công hạ trước mà lại phát hãn thì là nghịch.
Thứ tự thích hợp là thuận, thứ tự không thích hợp là nghịch.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Phát hãn và công hạ có thứ tự trước sau, hoãn cấp, không được làm ngược.
Uông Hổ nói: Biểu chứng cấp thì xét phép hãn, lý chứng cấp thì xét phép hạ. Không nên cứng nhắc cho rằng mọi trường hợp đều phải hãn trước, hạ sau.
CÁC BIẾN CHỨNG SAU CÔNG HẠ SAI
Điều văn mô tả: Thái dương bệnh, sau công hạ, tùy mạch và chứng khác nhau có thể xuất hiện kết hung, họng đau, hai bên sườn co căng, đau đầu chưa hết, nôn, hiệp nhiệt lợi hoặc đại tiện ra máu.
LỜI ÁN VỀ HIỆU ĐÍNH
Người hiệu đính đề nghị đổi một số chữ trong điều văn.
“Mạch xúc” ở câu nói không kết hung, bệnh có xu hướng giải, được đề nghị đổi thành “mạch phù”.
“Mạch phù” ở câu nói kết hung được đề nghị đổi thành “mạch xúc”.
“Mạch khẩn” ở câu nói họng đau và “mạch tế sác” ở câu nói đau đầu chưa hết được đề nghị đổi chỗ cho nhau.
“Mạch phù hoạt” ở câu nói đại tiện ra máu được đề nghị đổi thành “mạch sác hoạt”.
Đây là quan điểm hiệu đính của bản chú, cần phân biệt với điều văn được lưu truyền trong những bản khác.
CHÚ GIẢI THEO CÁCH HIỆU ĐÍNH NÀY
Thái dương bệnh bị công hạ sai có thể chuyển biến khác nhau, vì trạng thái tạng khí của từng người khác nhau. Tà đi vào đâu, theo điều kiện ở đó mà chuyển hóa, nên chứng không giống nhau.
Sau công hạ sai, nếu không kết hung, mạch vẫn phù, bản chú hiểu là phần lý chưa bị tà gây rối loạn rõ, tà còn ở biểu.
Nếu mạch xúc hữu lực, có chứng thực kết thì xét đến kết hung.
Mạch tế sác, kèm họng khô, sưng đau, được xét theo tà nhiệt thiếu âm.
Mạch huyền, kèm hai bên sườn co căng, được xét theo thiếu dương.
Mạch khẩn, đau đầu, ngoại chứng vẫn còn, được xét theo thái dương.
Mạch trầm khẩn, muốn nôn, được giải thích là hàn tà vào lý, vị dương bị ngăn trở.
Mạch trầm hoạt, kèm tiêu chảy sau công hạ sai, cần xét thức ăn tích trệ và tà nhiệt theo vào lý.
Mạch sác hoạt, kèm đại tiện ra mủ máu, cần xét tích nhiệt làm tổn thương dinh huyết.
LỜI ÁN BỔ SUNG
Mạch xúc nếu hữu lực có thể thuộc thực; nếu vô lực có thể thuộc hư. Vì vậy, không thể chỉ thấy mạch xúc mà dùng cùng một phép trị.
Bản chú đối chiếu chứng kết hung có mạch xúc, mồ hôi đầu, triều nhiệt nhẹ, dùng phép công; với chứng ngực đầy, mạch xúc, ra mồ hôi, hơi sợ lạnh, dùng phép ôn trong bệnh cảnh phù hợp.
Họng đau cũng có thể gặp trong cả hàn chứng và nhiệt chứng của thiếu âm.
Họng khô, sưng đau thiên về nhiệt. Họng đau mà không khô, không sưng thì cần xét thêm khả năng hàn. Vì vậy, phải phối hợp toàn bộ chứng hậu.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Thái dương thuộc biểu. Công hạ sai có thể làm xuất hiện nhiều biến chứng, không thể dùng một cách giải thích cho tất cả.
Trình Tri nói: Không nên hạ mà lại hạ, các biến chứng có thể rất nhiều. Cần phối hợp tính chất mạch và chứng để phân biệt.
Trình Ứng Mao nói: Những chữ “ắt” trong điều văn nhấn mạnh xu hướng bệnh lý được tác giả mô tả, nhưng nguồn gốc chung là thái dương bệnh bị công hạ sai.
Khi điều trị phải vận dụng linh hoạt, không chỉ thấy một mạch thì chữa mạch ấy, thấy một triệu chứng thì chữa riêng triệu chứng ấy.
KHÔNG NẰM ĐƯỢC, TÂM HẠ KẾT, MẠCH VI NHƯỢC
Thái dương bệnh đến hai, ba ngày, không nằm được, chỉ muốn ngồi dậy, vùng dưới tâm có kết, nhưng mạch vi nhược, cho thấy người bệnh vốn có phần hàn.
Nếu lại công hạ, sau đó tiêu chảy ngừng thì có thể hình thành kết hung. Nếu tiêu chảy chưa ngừng, đến ngày thứ tư vẫn tiếp tục đi lỏng, thì hình thành hiệp nhiệt lợi theo cách giải thích của bản chú.
LỜI ÁN
Cụm “đến ngày thứ tư lại công hạ” được đề nghị sửa thành “đến ngày thứ tư vẫn tiếp tục tiêu chảy”.
Người hiệu đính cho rằng tiêu chảy chưa ngừng thì không có lý do để lại công hạ; đây có thể là lỗi sao chép.
CHÚ GIẢI
Thái dương bệnh có đầu, cổ gáy cứng đau và sợ lạnh.
Đến hai, ba ngày xuất hiện không nằm được, chỉ muốn ngồi dậy, bản chú xét đến bệnh đã ảnh hưởng dương minh.
Vùng dưới tâm liên quan đến vị. Nếu kết ở đây mà mạch thực đại, có thể xét nhiệt kết. Nhưng mạch vi nhược cho thấy có hàn, không nên công hạ.
Công hạ không thích hợp làm phần lý hư, biểu nhiệt thừa hư vào trong, gây tiêu chảy.
Nếu tiêu chảy tự ngừng, bản chú giải thích là tà theo táo hóa, có thể kết lại thành kết hung.
Nếu tiêu chảy tiếp tục, bản chú giải thích là vị hư, tà theo thấp hóa, hình thành hiệp nhiệt lợi.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Biểu chứng bị công hạ sai có thể chuyển thành kết hung hoặc hiệp nhiệt lợi, cần thận trọng.
Mạch vi nhược cho thấy vùng dưới tâm có hàn kết, nên xét phép ôn tán. Chỉ thấy có kết mà vội công hạ là trị ngược.
Uông Hổ nói: Không nằm được, muốn ngồi dậy, vùng dưới tâm có kết thoạt nhìn dường như có thể hạ. Nhưng mạch vi nhược, người bệnh vốn có phần hàn, thì không thể chỉ căn cứ cảm giác đầy kết mà công hạ.
CHỨNG QUẾ CHI NHÂN SÂM THANG 桂枝人参汤证
“太阳病,外证未除,而数下之,遂协热而利;利下不止,心下痞硬,表里不解者,桂枝人参汤主之。”
Thái dương bệnh, ngoại chứng chưa hết mà công hạ nhiều lần, sau đó tiêu chảy có biểu nhiệt đi kèm. Tiêu chảy không ngừng, vùng dưới tâm bĩ cứng, biểu lý đều chưa giải, Quế chi Nhân sâm thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối bệnh cảnh mạch vi nhược, hiệp nhiệt lợi, làm rõ chứng và phép trị.
Ngoại chứng chưa hết nghĩa là thái dương bệnh vẫn còn. Công hạ nhiều lần khiến phần lý hư, biểu nhiệt theo vào, gây tiêu chảy.
Tiêu chảy không ngừng cho thấy lý hư, không thể cố giữ. Vùng dưới tâm bĩ cứng là chính khí hư, tà gây ngăn trở.
Ngoại chứng chưa hết nên dùng Quế chi để giải biểu.
Phần lý do công hạ nhiều lần mà hư, thiên về hàn, nên dùng Nhân sâm, Bạch truật, Can khương và Cam thảo để ôn bổ bên trong.
Đây là phép ôn bổ kết hợp giải cả biểu lẫn lý.
Nếu mạch hữu lực và chứng hậu khác thì cần xét lại; bản chú nêu việc đối chiếu với phép Cam thảo tả tâm thang.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Công hạ sai làm lý hư, ngoại nhiệt thừa cơ vào trong, gây tiêu chảy không ngừng vì lý không giữ được.
Bĩ cứng là chính hư, tà gây ngăn trở ở trung tiêu.
Biểu chưa giải nên dùng Quế chi. Lý mới bị hư nên dùng phép Lý trung để điều hòa. Phương này có thể hiểu là từ Lý trung thêm Quế chi, dùng cho bĩ hư và tiêu chảy trong bệnh cảnh phù hợp.
Lý Trung Tử nói: Có điều nói chứng Quế chi bị công hạ, tiêu chảy không ngừng, dùng Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên thang. Điều này lại dùng Quế chi Nhân sâm thang. Vì sao một phương thanh, một phương ôn?
Điều trước nói công hạ; điều này nhấn mạnh công hạ nhiều lần. Điều trước có tiêu chảy; điều này nhấn mạnh tiêu chảy không dứt. Phối hợp các biểu hiện mới thấy sự khác nhau về hư thực.
Trình Tri nói: Biểu chứng bị công hạ sai, tiêu chảy không ngừng, kèm khó thở và ra mồ hôi, có bệnh cảnh dùng Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên thang.
Nếu vùng dưới tâm bĩ cứng, trung khí hư hàn thì xét Quế chi phối hợp Nhân sâm, Bạch truật và các vị ôn trung.
Một phép xử trí thực nhiệt, một phép xử trí hư hàn; cả hai đều có ý giải biểu lý.
Trình Ứng Mao nói: Không nên cứ thấy tên “hiệp nhiệt lợi” là hiểu toàn bộ chứng thuộc nhiệt. Tiêu chảy có hàn và nhiệt, cần biện chứng rõ mới hiểu vì sao có trường hợp dùng phép Lý trung.
Trường Xuân biên soạn
PHƯƠNG QUẾ CHI NHÂN SÂM THANG 桂枝人参汤方
Quế chi bốn lạng (liều tham khảo hiện đại: 12 gam), Cam thảo chích bốn lạng (12 gam), Bạch truật ba lạng (9 gam), Nhân sâm ba lạng (9 gam), Can khương ba lạng (9 gam).
Lượng trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại của phương, không phải quy đổi tuyệt đối từ cân lượng thời Hán. www.zysj.com.cn
Năm vị trên dùng chín thăng nước (khoảng 1.800 mililít theo dung tích cổ). Trước sắc bốn vị Cam thảo, Bạch truật, Nhân sâm và Can khương, lấy còn năm thăng (khoảng 1.000 mililít), rồi cho Quế chi vào sắc tiếp, lấy còn ba thăng (khoảng 600 mililít), bỏ bã.
Uống ấm mỗi lần một thăng (khoảng 200 mililít), ban ngày hai lần, ban đêm một lần.
Dung tích trong ngoặc giúp đối chiếu cách sắc của nguyên phương; không mặc nhiên ghép cách sắc cổ với liều thuốc tham khảo hiện đại.
CHỨNG CÁT CĂN HOÀNG CẦM HOÀNG LIÊN THANG 葛根黄芩黄连汤证
“太阳病,桂枝证,医反下之,利遂不止,脉促者,表未解也,喘而汗出者,葛根黄芩黄连汤主之。”
Thái dương bệnh thuộc chứng Quế chi, nhưng thầy thuốc lại dùng phép hạ, khiến tiêu chảy không ngừng. Mạch xúc cho thấy biểu chưa giải. Nếu khó thở và ra mồ hôi, Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối điều trước, trình bày thêm chứng hiệp nhiệt lợi có mạch xúc để phân biệt phép trị.
Thái dương bệnh thuộc chứng Quế chi, đáng lẽ dùng Quế chi thang giải cơ, nhưng thầy thuốc lại công hạ, khiến tiêu chảy không ngừng. Đó là công hạ sai, làm biểu nhiệt theo vào lý mà gây tiêu chảy kéo dài.
Nếu biểu chưa giải, mạch hoãn vô lực, dù có lý chứng tiêu chảy và khó thở, thì cần xét Quế chi Nhân sâm thang để trị tiêu chảy, hoặc Quế chi gia Hậu phác Hạnh nhân thang để trị khó thở, tùy chứng cụ thể.
Nay tiêu chảy không ngừng, mạch xúc hữu lực, ra mồ hôi và khó thở, tuy còn ngoại chứng nhưng không sợ lạnh, cho thấy nhiệt đã vào dương minh. Dù Quế chi thang có công năng giải cơ, lúc này vẫn phải lựa chọn Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên thang theo chứng hiện tại.
Trong phương, Cát căn được dùng với lượng lớn làm quân, Hoàng cầm, Hoàng liên và Cam thảo phối hợp hỗ trợ. Chủ ý là giải cơ biểu dương minh, đồng thời thanh lý nhiệt ở vị. Đây là phép thanh giải kết hợp xử lý cả biểu lẫn lý.
Nếu mạch trầm trì hoặc vi nhược thì thuộc lý hàn, kèm hư, cần xét phép Lý trung thang gia Quế chi.
Qua đó, bản chú nhận định chứng hiệp nhiệt lợi ở điều trước, có tiêu chảy không ngừng, vùng dưới tâm bĩ cứng, biểu lý chưa giải, thường có mạch vi nhược hoặc trầm trì.
LỜI ÁN
Hai dạng hiệp nhiệt lợi có thể dựa vào tính chất âm dương của mạch để phân biệt hư thực và lựa chọn phép trị.
Tuy nhiên, còn phải xét phân có dính nhớt, hôi bẩn hay lỏng loãng như phân vịt; nước tiểu trong hay sẫm màu; mạch hữu lực hay vô lực. Không nên chỉ dựa vào tên chứng hoặc một đặc điểm mạch để kết luận.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: “Ra mồ hôi mà khó thở” là mồ hôi tự ra, đồng thời có khó thở, được ông giải thích là tà ở ngoài thịnh.
“Khó thở mà ra mồ hôi” là do khí nghịch, khó thở mà mồ hôi ra, được giải thích là lý nhiệt gây khí nghịch. Vì vậy, dùng Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên thang để tán biểu tà, trừ lý nhiệt.
Phương Hữu Chấp nói: Tiêu chảy ở đây và điều trước có điểm giống nhau. Nhưng điều trước dùng phép Lý trung vì có bĩ cứng, mạch nhược, thuộc hàn. Điều này dùng Hoàng cầm, Hoàng liên vì có khó thở, ra mồ hôi, mạch xúc, thuộc nhiệt.
Dụ Xương nói: Thái dương bệnh thuộc chứng đang bàn vốn không nên dùng phép hạ, mà cần dùng Quế chi thang giải phần ngoài.
Thầy thuốc lại công hạ, khiến tà nhiệt ở thái dương chưa truyền đến phần kinh dương minh mà đã vào phần lý dương minh.
Vì vậy, mạch xúc gấp, mồ hôi thoát ra ngoài; nhiệt đi lên gây khó thở, đi xuống gây tiêu chảy.
Do đó, bỏ Quế chi, dùng Cát căn để giải phần ngoài của dương minh, thêm Hoàng cầm và Hoàng liên để thanh lý nhiệt. Khi bệnh cơ được giải, khó thở và tiêu chảy cũng ngừng, dù không lấy việc trị riêng từng triệu chứng làm trọng tâm.
Đây là một cách biến hóa của phép giải cả biểu lẫn lý trong bệnh liên quan đến thái dương và dương minh.
Uông Hổ nói: Công hạ sai làm vị trường bị ảnh hưởng, nhiệt thừa cơ vào trong, khiến tiêu chảy không ngừng. Tuy nhiên, chứng hiện tại không phải thuần túy là vị trường hư, mà là vị có tà nhiệt, nhiệt truyền xuống ruột gây tiêu chảy.
Mạch xúc là mạch đi nhanh, thỉnh thoảng ngừng một nhịp rồi tiếp tục. Trong bệnh cảnh này, ông nhận định đó là biểu hiện dương nhiệt thịnh.
Mạch xúc cùng những dấu hiệu khác cho thấy ngoại chứng chưa hết. Nhưng phần ngoài ở đây được ông giải thích là bệnh ở kinh dương minh, không còn nguyên vẹn biểu chứng thái dương thuộc Quế chi thang.
Khó thở và ra mồ hôi cũng do lý nhiệt ở phủ vị dương minh làm khí nghịch, khác với khó thở do phong tà thái dương làm khí uất và khác với tự hãn trong chứng Quế chi thang.
Vì vậy, trị pháp là giải tà ở phần ngoài dương minh, đồng thời thanh lý nhiệt của phủ vị.
Trường Xuân biên soạn
CÁT CĂN HOÀNG CẦM HOÀNG LIÊN THANG
Cát căn nửa cân cổ (liều tham khảo hiện đại: 15 gam), Hoàng cầm ba lượng (9 gam), Hoàng liên ba lượng (9 gam), Cam thảo chích hai lượng (6 gam).
Ghi chú cân lượng: Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại của bài phương, không phải khối lượng quy đổi tuyệt đối của đơn vị cổ. Nguồn của Hội Y học tỉnh An Huy ghi bài này với liều 15–9–9–6 gam. Chữ “筋” trong bản chép được hiểu là “斤”, nghĩa là cân. ahyxh.org.cn
Bốn vị trên, dùng tám thăng nước; trước sắc Cát căn, cho nước giảm đi hai thăng, rồi cho các vị còn lại vào, sắc lấy hai thăng, bỏ bã, chia làm hai lần uống ấm.
Để đối chiếu văn bản, nếu lấy một thăng cổ khoảng 200 mililít thì tám thăng khoảng 1.600 mililít, giảm hai thăng còn khoảng 1.200 mililít, cuối cùng lấy khoảng 400 mililít. Đây là cách diễn giải lượng nước của nguyên phương, không tự động áp dụng cho liều thuốc tham khảo hiện đại.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói:
Nhiệt ở ngoài chưa trừ là biểu chưa giải; tiêu chảy không ngừng là lý chưa hòa. Cùng do dùng phép hạ sai mà gây tiêu chảy, nguyên nhân phát bệnh giống nhau, nhưng chứng trạng lại khác.
Một trường hợp mạch vi nhược, vùng dưới tim bĩ đầy: đó là mạch biểu hiện bất túc, còn chứng trạng biểu hiện hữu dư. Một trường hợp mạch xúc, suyễn, lại tự ra mồ hôi: đó là mạch biểu hiện hữu dư, còn chứng trạng biểu hiện bất túc.
Biểu lý, hư thực phải căn cứ vào mạch mà phân biệt. Huống chi mạch yếu xuất hiện sau nhiều lần dùng phép hạ, càng có thể biết chứng bĩ đầy ấy thuộc hư.
Vì vậy, dùng tính cay ngọt, ôn bổ của Lý trung thang để cầm tiêu chảy, hóa giải bĩ đầy, lại thêm Quế chi để giải biểu. Sắc trước bốn vị, sau mới cho Quế chi vào, khiến sức hòa trung đầy đủ, còn tác dụng giải cơ mạnh mẽ. Đó là phép tùy nghi được vận dụng trong phương pháp cùng giải biểu lý.
Chứng Quế chi vốn có mạch hoãn; sau khi hạ sai, mạch lại trở thành xúc, là do dương khí thịnh ở trong. Tà nhiệt hun ra ngoài nên ra mồ hôi; nhiệt bốc mạnh ở trong, hỏa nghịch xung lên nên suyễn; nhiệt dồn xuống dưới nên tiêu chảy.
Vì vậy, lấy Cát căn có tính thanh nhẹ, thăng phát làm quân, để giải cơ và cầm tiêu chảy; dùng Hoàng cầm, Hoàng liên đắng lạnh, thanh nhiệt giáng xuống làm tá, để ngừng mồ hôi và định suyễn; lại thêm Cam thảo để hòa trung.
Sắc trước Cát căn, sau mới cho các vị còn lại vào, khiến sức giải cơ thuần nhất, tác dụng thanh nhiệt ở trung tiêu mạnh mẽ. Phép này khác với phép bổ trung để trục tà nói trên.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, sau khi dùng phép hạ, thấy mạch xúc, ngực đầy, thì Quế chi khứ Thược dược thang chủ trị. Nếu hơi sợ lạnh, dùng phương bỏ Thược dược ấy, thêm Phụ tử để chữa.
LỜI ÁN
Câu “nếu hơi sợ lạnh” phải là “ra mồ hôi, hơi sợ lạnh” mới phù hợp. Nếu không có hai chữ “ra mồ hôi”, thì đó là biểu chưa giải, chưa có căn cứ để thêm Phụ tử.
Đây là ý kiến hiệu đính của người chú giải.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương, biểu chưa giải mà đã dùng phép hạ: nếu ngực vốn thực, tà hãm vào thì gây ngực đầy, khí xung lên họng khiến không thở được, thuộc chứng Qua đế tán. Nếu ngực vốn hư, tà hãm vào thì gây khí xung lên, thuộc chứng Quế chi thang.
Nay sau khi hạ, tà hãm vào trong ngực, ngực đầy, mạch xúc; có vẻ thuộc ngực thực nhưng không có chứng khí xung lên họng khiến không thở được; có vẻ thuộc ngực hư nhưng lại thấy ngực đầy.
Vì vậy, không dùng Qua đế tán để trị thực, cũng không dùng nguyên phương Quế chi thang để trị hư. Chỉ dùng tính ngọt cay của Quế chi để điều hòa phần biểu Thái dương, bỏ tính chua thu liễm của Thược dược để tránh làm ngực thêm đầy.
Nếu ra mồ hôi, hơi sợ lạnh, thì thêm Phụ tử vào phương đã bỏ Thược dược, nhằm phòng sự biến chuyển thành vong dương.
LỜI ÁN
Điều trên có mạch xúc, suyễn và ra mồ hôi mà không sợ lạnh, tiêu chảy không ngừng, được nói là thuộc thực nhiệt. Điều này có mạch xúc, ngực đầy, ra mồ hôi và hơi sợ lạnh, không suyễn, không tiêu chảy, lại thuộc hư hàn. Vì sao?
Mồ hôi ở điều trên do lý nhiệt hun bốc ra ngoài, nên ra mồ hôi mà không sợ lạnh, thuộc dương thực; suyễn và tiêu chảy đều do nhiệt.
Mồ hôi ở điều này do biểu dương không vững, nên ra mồ hôi và hơi sợ lạnh, thuộc dương hư; dù không suyễn, không tiêu chảy, vẫn thuộc hàn.
Phải biết Trọng Cảnh lập phép, thường đặt chỗ phân biệt ở những chi tiết rất nhỏ, vì e rằng người học dễ bỏ qua.
Ở đây, dùng chứng “hơi sợ lạnh” để làm rõ ý nghĩa: không căn cứ riêng vào việc ra mồ hôi để phân biệt hàn nhiệt, mà căn cứ vào ra mồ hôi có sợ lạnh hay không; không căn cứ riêng vào mạch xúc để phân biệt hàn nhiệt, mà căn cứ vào mạch xúc có lực hay vô lực.
Từ đó cũng biết rằng không chỉ căn cứ riêng vào ngực đầy để phân biệt hư thực, mà phải xét ngực lúc đầy lúc không đầy, hay luôn đầy không giảm.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói:
Chứng hơi sợ lạnh ở điều này, nếu đối chiếu với điều trên, sẽ thấy trong các biểu hiện mạch xúc, ngực đầy, suyễn và ra mồ hôi, vốn có thể tiềm ẩn cơ chế dương hư sắp thoát.
Vì vậy, Trọng Cảnh ở điều này đặc biệt dùng ba chữ “hơi sợ lạnh” để làm rõ ý nghĩa. Có thể thấy dương hư thì sợ lạnh; cũng có thể thấy sợ lạnh mà không ra mồ hôi không nhất thiết là dương hư.
Trình Ứng Mao nói:
Có trường hợp dương thịnh mà thấy mạch xúc, cũng có trường hợp dương hư mà thấy mạch xúc. Phải phân biệt mạch có lực hay vô lực, đồng thời vẫn phải xét các chứng biểu hiện bên ngoài.
Thẩm Minh Tông nói:
Dùng phép hạ sai làm rối loạn khí âm dương nên mạch xúc. Tà vào vùng ngực cách, gần thành kết hung, nhưng mới đầy tức, chưa đau.
Vì vậy, dùng Quế chi thang để đưa tà ở vùng ngực cách ra ngoài, khiến tà giải theo đường biểu. Bỏ Thược dược vì ngại tính chua thu liễm của vị này dẫn tà vào trong.
Nếu mạch xúc, ngực đầy mà hơi sợ lạnh, thì thuộc hư, có trạng thái co rút bất an, dương khí sắp thoát, khác với dương thực. Vì thế thêm Phụ tử để củng cố, bảo vệ chân dương.
Tuy nhiên, sợ lạnh sau khi dùng phép hạ trong bệnh thương phong khác hẳn sợ lạnh lúc chưa hạ; sợ lạnh sau khi phát hãn cũng khác sợ lạnh lúc chưa phát hãn.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI KHỨ THƯỢC DƯỢC THANG
Trong phương Quế chi thang, bỏ vị Thược dược; các vị còn lại và cách sắc uống đều theo phép đã nêu trước.
Thành phần còn lại: Quế chi ba lượng (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), Cam thảo chích hai lượng (6 gam), Sinh khương ba lượng (9 gam), Đại táo mười hai quả (12 quả).
Ghi chú: Số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ cân lượng cổ.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI KHỨ THƯỢC DƯỢC GIA PHỤ TỬ THANG
Trong phương Quế chi thang, bỏ Thược dược, thêm Phụ tử một củ, bào chế, bỏ vỏ, chia thành tám miếng; các phần còn lại theo phép đã nêu trước.
Thành phần: Quế chi ba lượng (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), Cam thảo chích hai lượng (6 gam), Sinh khương ba lượng (9 gam), Đại táo mười hai quả (12 quả), Phụ tử một củ, đã bào chế, bỏ vỏ, chia tám miếng.
Ghi chú cân lượng: Số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải khối lượng quy đổi tuyệt đối của đơn vị cổ. Phụ tử được tính bằng củ, kích thước không đồng nhất nên không thể ghi một số gam tương đương chính xác. Phụ tử có độc; lượng dùng và cách sắc phải do thầy thuốc xác định, không dùng Phụ tử sống thay cho vị đã bào chế.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, sau khi dùng phép hạ, hơi suyễn là do biểu chưa giải; Quế chi gia Hậu phác Hạnh tử thang chủ trị.
Người vốn có bệnh suyễn, khi dùng Quế chi thang, thêm Hậu phác và Hạnh tử thì tốt.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương đáng lẽ phải phát hãn mà lại dùng phép hạ, gây tiêu chảy, mạch xúc, suyễn và ra mồ hôi nhưng không sợ lạnh, là tà đã hãm vào lý, nhiệt ở Dương minh, thuộc chứng Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên thang.
Nay bệnh Thái dương đáng lẽ phải phát hãn mà lại dùng phép hạ, không tiêu chảy, chỉ hơi suyễn, là tà hãm vào ngực, chưa vào vị, phần biểu vẫn chưa giải.
Vì vậy, vẫn dùng Quế chi thang để giải cơ biểu, thêm Hậu phác và Hạnh tử để giáng nghịch, định suyễn.
“Người vốn có bệnh suyễn” là người thường mắc suyễn từ trước. Khi gặp chứng Thái dương trúng phong mà phát suyễn, nếu phù hợp với chứng Quế chi thang thì dùng phương này, thêm Hậu phác và Hạnh tử là tốt. Hạnh tử trong phương này chỉ Hạnh nhân, tức nhân hạt mơ dùng làm thuốc.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Suyễn là khí nghịch lên trên, khiến hô hấp không thuận, tiếng thở và hơi thở không thông lợi. “Hơi suyễn” nghĩa là tiếng thở và nhịp thở còn tương đối chậm, không gấp gáp như suyễn nặng.
Vì biểu tà vẫn còn, nếu không giải biểu thì suyễn không thể yên. Do đó, dùng Quế chi để giải biểu, thêm Hậu phác để lợi khí, Hạnh nhân để giáng khí; đó là những vị thuốc trọng yếu để định suyễn.
Dụ Xương nói:
Đây là điểm cốt yếu trong phép chữa suyễn do phong tà mà dùng phép hạ sai. Nếu do hàn tà, sau khi hạ sai mà phát suyễn, thì dùng Ma hoàng, Hạnh nhân, Thạch cao và Cam thảo; từ đây có thể suy xét thêm.
Ông lại nói:
Hơi suyễn mà biểu chưa giải là do biểu tà nghịch lên sau khi hạ sai, khác với suyễn thuộc hư chứng.
Trình Ứng Mao nói:
Chứng suyễn có thuộc biểu, có thuộc lý, không thể không phân biệt.
Sau khi hạ, ra mồ hôi mà suyễn thì suyễn thường nặng, vì lý nhiệt bế tắc, khí nghịch, hỏa bốc lên.
Sau khi hạ, chỉ hơi suyễn thì mồ hôi thường không ra nhiều, vì biểu tà bế uất làm khí nghịch. Vẫn dùng Quế chi thang để giải biểu, thêm Hậu phác và Hạnh nhân để giáng khí nghịch.
Ngụy Lệ Đồng nói:
Người vốn có chứng suyễn, mỗi khi cảm ngoại tà thường lại phát suyễn, nên gọi là “người vốn có bệnh suyễn”.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI GIA HẬU PHÁC HẠNH NHÂN THANG
Trong phương Quế chi thang, thêm Hậu phác hai lượng (liều tham khảo hiện đại: 6 gam), Hạnh nhân năm mươi hạt (liều tham khảo hiện đại: khoảng 6–9 gam); các vị còn lại và cách sắc uống theo phương Quế chi thang.
Ghi chú cân lượng: Số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ. Các tài liệu hiện đại ghi lượng Hạnh nhân khác nhau; năm mươi hạt cũng không có khối lượng cố định vì kích thước hạt khác nhau. tcm.szmdata.com
LỜI ÁN
Đới Nguyên Lễ nói:
Bệnh Thái dương có thể xuất hiện suyễn hoặc ho. Không ra mồ hôi mà suyễn thì dùng Ma hạnh thạch cam thang; có mồ hôi mà suyễn thì dùng Quế chi gia Hậu phác Hạnh nhân thang; không ra mồ hôi mà ho thì dùng Tiểu thanh long thang.
Bệnh Thiếu dương không suyễn mà có ho; khi ho thì dùng Tiểu sài hồ thang thêm Ngũ vị tử và Can khương.
Bệnh Dương minh không ho mà có suyễn. Nếu lý thực gây suyễn thì dùng Đại thừa khí thang; nếu có tiêu chảy thì dùng Cát căn Hoàng cầm Hoàng liên thang.
Trong ba âm, chỉ Thiếu âm có suyễn và ho. Suyễn thì dùng Tứ nghịch thang thêm Ngũ vị tử và Can khương. Ho kèm tiêu chảy do âm tà thì dùng Chân vũ thang thêm Ngũ vị tử và Can khương; tiêu chảy do dương tà thì dùng Trư linh thang. Tuy nhiên, suyễn trong trường hợp này đều là dấu hiệu nguy hiểm.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, sau khi dùng phép hạ, nếu khí xung lên thì có thể dùng Quế chi thang, cách dùng theo phép đã nêu trước. Nếu khí không xung lên thì không được dùng.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương, biểu chưa giải mà đã dùng phép hạ. Nếu lý vốn thực, tà hãm vào thì thành kết hung, thuộc chứng Đại hãm hung thang; nếu lý vốn hư, tà hãm vào thì gây tiêu chảy, thuộc chứng Quế chi nhân sâm thang.
Nếu ngực vốn thực, tà hãm vào thì gây bĩ đầy trong ngực, khí xung lên họng khiến không thở được, thuộc chứng Qua đế tán.
Nay ngực vốn hư, tà hãm vào ngực nên chỉ gây khí xung lên. Biểu tà vẫn chưa hết, nhưng không có chứng bĩ đầy, bế tắc khiến không thở được. Vì vậy, không được dùng phép thổ hoặc phép hạ; vẫn phải giải biểu, có thể dùng Quế chi thang, phát hãn theo đúng phép.
Khi tà hãm ở ngực không còn bị biểu tà bó buộc bên ngoài, khí trong ngực được thông đạt ra bốn phía thì tự nhiên không còn uất tắc bên trong mà xung lên.
Nếu khí không xung lên thì không được dùng Quế chi thang.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Khí xung lên là vì dương chủ khí và có tính thăng lên; phong thuộc dương tà, sau khi hạ thì vào lý, thừa lúc hư mà xung lên. Nếu không xung lên thì có thể biết không thuộc loại dương tà ấy, nên không được dùng Quế chi thang.
ĐIỀU VĂN
Bệnh có vẻ giống chứng Quế chi, nhưng đầu không đau, gáy không cứng, mạch thốn hơi phù, trong ngực bĩ đầy, khí xung lên họng khiến không thở được: đó là trong ngực có hàn, nên dùng phép thổ; thích hợp với Qua đế tán.
CHÚ GIẢI
“Bệnh có vẻ giống chứng Quế chi” là nói đến các biểu hiện đầu gáy cứng đau, phát nhiệt, ra mồ hôi, sợ gió, mạch phù hoãn.
Nay đầu không đau, gáy không cứng, cho thấy các biểu hiện của chứng Quế chi không đầy đủ. Mạch thốn hơi phù cho thấy tà đã rời biểu, nhưng chưa đi xa khỏi biểu.
Trong ngực bĩ đầy, khí xung lên họng khiến không thở được, là tà vào lý chưa sâu, còn ở trong ngực; hẳn do trong ngực vốn có hàn ẩm.
Hàn ẩm ở ngực, không ở cơ biểu, nên phép giải cơ không có chỗ dùng. Bĩ đầy ở ngực, không ở vùng dưới tim, nên phép công hạ cũng không thích hợp.
Chỉ có phép “tà ở trên thì đưa ra theo đường trên”, khiến hàn ẩm trong ngực được tống ra bằng một lần nôn. Vì vậy, dùng Qua đế tán để gây nôn.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói:
Chứng bĩ đầy xuất hiện do dùng phép thổ hoặc phép hạ thì thuộc hư; không do thổ hạ mà xuất hiện thì thuộc thực.
Thực tà đàm ẩm lấp đầy vùng tâm hung, khiến trung tiêu và hạ tiêu bị ngăn trở, nên phải lấy thượng tiêu làm đường đưa tà ra. Đó là ý nghĩa của câu “tà ở trên thì thuận thế đưa ra theo đường trên”.
Uông Hổ nói:
Trong bệnh thương hàn, phép thổ không thể không bàn đến. Vì vậy, Trọng Cảnh đặc biệt nêu điều này trong thượng thiên Thái dương.
Phép thổ không nên chậm trễ, cũng như phép phát hãn trong bệnh Thái dương; cần xét kỹ chứng trạng vào khoảng ngày thứ hai, thứ ba để quyết định dùng phép này.
Thẩm Minh Tông nói:
Người vốn có đàm ẩm tích tụ bên trong, chỉ hơi cảm phong hàn cũng có thể làm đàm bị dẫn động. Bên ngoài trông giống chứng Quế chi thang, nhưng không đau đầu, không cứng gáy, nên biết không phải phong tà trực tiếp phạm biểu.
Trương Tích Câu nói:
Khí xung lên họng khiến không thở được là do tà hiệp với hàn ẩm, theo khí Thái dương mà nghịch lên trên.
Ghi chú biên tập: Các nhận định chọn phương và phép gây nôn trên đây được dịch theo lời cổ nhân, không phải chỉ dẫn tự điều trị. Qua đế tán là phương gây nôn mạnh, có độc tính, không nên tự dùng.
Trường Xuân biên soạn
QUA ĐẾ TÁN
Qua đế, sao vàng, một phân; Xích tiểu đậu một phân. Hai vị dùng lượng bằng nhau.
Ghi chú cân lượng: “Phân” trong phương cổ này không thể mặc nhiên hiểu theo đơn vị phân hiện nay, nên giữ nguyên, không gán một số gam cố định. “Một tiền chủy” là lượng bột đong bằng dụng cụ cổ; cơ sở dữ liệu phương tễ của Đại học Baptist Hồng Kông ghi tham khảo khoảng 2 gam bột hỗn hợp. Hương sị một hợp được ghi liều tham khảo hiện đại là 9 gam. Các con số này dùng để đối chiếu văn bản, không phải liều tự sử dụng. 记录页面
Hai vị trên, giã và rây riêng từng vị thành bột, rồi trộn đều. Lấy một tiền chủy bột thuốc (tham khảo khoảng 2 gam bột hỗn hợp). Dùng Hương sị một hợp (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), nấu với bảy hợp nước nóng cho thành dạng cháo loãng, bỏ bã, lấy nước hòa với bột thuốc, uống một lần khi còn ấm.
Nếu chưa nôn thì uống thêm từng ít một; khi đã nôn được thông thì ngừng. Những người mất máu hoặc vốn hư nhược không được dùng Qua đế tán.
PHƯƠNG GIẢI
Trong ngực là nơi thanh dương hội tụ. Các tà vào ngực, ngăn trở dương khí, khiến dương khí không thể tuyên thông, dẫn đến ngực đầy, bĩ cứng, nhiệt khí xung lên, khô khát, tâm phiền, lợm giọng muốn nôn. Nếu mạch sác, xúc thì thuộc nhiệt uất kết.
Ngực đầy, bĩ cứng, khí xung lên họng khiến không thở được, tay chân lạnh, muốn nôn mà không nôn được, mạch trì khẩn thì thuộc hàn uất kết.
Phàm hàn, nhiệt, khí hoặc thủy ẩm uất kết trong ngực mà thành bệnh, phép phát hãn và công hạ khó có thể chữa được. Phải dùng vị thuốc chua đắng có tác dụng dũng thổ, thuận thế đưa tà ra phía trên, khiến thượng tiêu được thông, dương khí được phục hồi, bĩ cứng tiêu đi, trong ngực trở lại điều hòa.
Qua đế rất đắng, Xích tiểu đậu vị chua; hai vị hỗ trợ, tăng tác dụng cho nhau, có thể sơ thông thực tà trong ngực, được xem là phương đứng đầu trong các thuốc gây nôn.
Dùng thêm nước Hương sị để hòa uống là mượn cốc khí nhằm bảo vệ vị khí.
Nếu uống chưa nôn thì thêm từng ít một; khi đã nôn được thông thì ngừng, vì e làm tổn thương nguyên khí trong ngực.
Phương này phát huy tác dụng nhanh, có chỗ vượt hơn phép phát hãn và công hạ. Đó là một trong ba phép lớn: hãn, thổ, hạ. Người đời nay không hiểu tinh nghĩa của Trọng Cảnh và Tử Hòa, bỏ không dùng, thật đáng tiếc!
Tuy nhiên, người mất máu hoặc hư nhược vốn đã hao tổn khí dịch trong ngực, không được tùy tiện dùng; vì vậy, đặc biệt nhắc lại điều cấm này.
ĐIỀU VĂN
Bệnh phát ở dương mà lại dùng phép hạ, nhiệt vào trong, do đó thành kết hung. Bệnh phát ở âm mà lại dùng phép hạ, do đó thành bĩ. Sở dĩ thành kết hung là vì dùng phép hạ quá sớm.
CHÚ GIẢI
Điều này giải thích chung nguyên nhân của kết hung và bĩ cứng.
Trúng phong thuộc dương tà, nên nói “bệnh phát ở dương”. Không phát hãn mà lại dùng phép hạ, nhiệt tà thừa lúc hư hãm vào trong, do đó thành kết hung.
Thương hàn thuộc âm tà, nên nói “bệnh phát ở âm”. Không phát hãn mà lại dùng phép hạ, nhiệt tà thừa lúc hư hãm vào trong, do đó thành bĩ cứng.
Sở dĩ thành kết hung hoặc bĩ cứng là vì biểu chưa giải mà đã dùng phép hạ quá sớm. Câu “bệnh phát ở âm” không nói “nhiệt vào trong” chỉ là cách viết lược bớt.
Tuy nhiên, bệnh phát ở dương mà hạ sai vẫn có thể thành bĩ cứng; bệnh phát ở âm mà hạ sai cũng có lúc thành kết hung. Đó là vì khí chất, thể trạng mỗi người khác nhau, có người chuyển theo thực, có người chuyển theo hư.
TẬP CHÚ
Trương Kiêm Thiện nói:
Phong tà vào lý thì thành kết hung, hàn tà vào lý thì thành bĩ. Nhưng đây đều nói về nguồn gốc của bệnh Thái dương, không phải phân biệt riêng âm chứng với dương chứng.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, mạch phù mà động sác: phù là phong, sác là nhiệt, động là đau, sác là hư. Đau đầu, phát nhiệt, hơi ra mồ hôi trộm mà lại sợ lạnh, là biểu chưa giải.
Thầy thuốc lại dùng phép hạ, mạch động sác chuyển thành trì, trong vùng ngực cách đau, cự án; vị rỗng hư, khách khí quấy động vùng cách, hơi thở ngắn, bứt rứt phiền táo, trong lòng bồn chồn khó chịu. Dương khí hãm vào trong, vùng dưới tim vì thế cứng lại, thành kết hung; Đại hãm hung thang chủ trị.
Nếu không thành kết hung, chỉ ra mồ hôi ở đầu, những nơi khác không có mồ hôi, mồ hôi chỉ đến cổ thì dừng, tiểu tiện bất lợi, thân mình tất sẽ phát vàng.
LỜI ÁN
Câu “sác là hư” e là chữ thừa do sao chép.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương, mạch phù mà động sác: phù là mạch của phong tà; sác là mạch của nhiệt tà; động là mạch biểu hiện đau. Đau đầu, phát nhiệt là chứng Thái dương.
Nhiệt hun phần dương, dương hư thì tự ra mồ hôi; nhiệt hun phần âm, âm hư thì ra mồ hôi trộm. Âm hư đáng lẽ sợ nóng, nay lại sợ lạnh, nên biết đây không phải mồ hôi trộm do âm hư, mà là mồ hôi trộm ra nhẹ do biểu chưa giải.
Biểu chưa giải thì phải giải biểu; thầy thuốc lại dùng phép hạ, khiến mạch động sác vốn biểu hiện nhiệt chuyển thành mạch trì mang tính hàn.
Mạch động sác vốn cho thấy biểu tà đang muốn truyền vào trong; vì dùng phép hạ sai, tà bị ngăn kết ở vùng cách, nên sự truyền biến không diễn ra như trước, mạch cũng thay đổi.
Dương tà đang ở biểu thừa lúc vị rỗng hư, hãm vào vùng ngực cách, gây đau và cự án, hơi thở ngắn không thông, phiền táo, trong lòng bồn chồn khó chịu, vùng dưới tim cứng lại. Bệnh chuyển theo thực mà thành kết hung, nên dùng Đại hãm hung thang chủ trị.
Nếu bệnh không chuyển theo thực, không thành kết hung, chỉ ra mồ hôi ở đầu đến cổ, những nơi khác không có mồ hôi, thì nhiệt không thoát ra được.
Tiểu tiện bất lợi thì thấp không được bài tiết. Thấp và nhiệt kết hợp, vì vậy thân mình sẽ phát vàng.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói:
Mạch động sác chuyển thành trì, nhưng riêng mạch phù không đổi, vì tà kết trong ngực, ở phần dương của thượng tiêu, nên mạch không thể chuyển thành trầm.
Chu Chấn Hanh nói:
Bệnh Thái dương, biểu chưa giải mà đã công lý, thì lý đã bị làm cho hư. Dù trước đó thấy mạch phù, động sác thuộc dương, chỉ một lần hạ sai cũng có thể chuyển thành mạch trì thuộc âm.
Vị rỗng hư, hơi thở ngắn, phiền táo, đó là hư rất nặng. Dù nói dương khí hãm vào trong, vùng dưới tim vì thế cứng lại, liệu có thể công hạ mạnh ngay chăng?
Sức công hạ của Đại hãm hung thang không nhẹ hơn Thừa khí thang. Đã hạ rồi lại hạ, chẳng lẽ không sợ làm hư thêm hay sao?
Ngay cả bệnh thuộc dương, có thực tà, sau khi hạ mà vị rỗng hư, khách khí quấy động vùng cách, trong lòng bồn chồn khó chịu, cũng có thể dùng Chi tử sị thang để đưa tà trong ngực ra bằng phép thổ. Huống chi sau khi hạ sai trong bệnh Thái dương, đã rõ ràng có hư chứng?
LỜI ÁN
Phép chữa Chu Chấn Hanh bàn đến, dùng Chi tử sị thang theo phép thổ, cũng thích hợp với trường hợp chưa thành kết hung, ngực hư mà có nhiệt.
Nếu ngực hư mà chuyển theo hàn, thì dù đã thành hay chưa thành kết hung, lại phải theo phép ôn bổ của Hoạt nhân thư, không được dùng lẫn lộn.
TẬP CHÚ TIẾP
Phương Hữu Chấp nói:
Mạch Thái dương vốn phù; mạch động sác cũng là biểu hiện đang truyền biến.
Bệnh Thái dương vốn tự ra mồ hôi, nay nói hơi ra mồ hôi trộm; vốn sợ lạnh, nay nói lại sợ lạnh, là do bệnh kéo dài mà thành như vậy.
“Cách” là vùng giữa tâm và ngực. “Cự” là chống ngăn nhau, nghĩa là khí ở vùng cách và tà khí ngăn chống nhau mà gây đau.
“Khách khí” là tà khí. “Hơi thở ngắn” là hơi thở gấp, không thể thông đạt đầy đủ. “Áo não” là tâm bị tà quấy rối nên không yên.
“Dương khí” ở đây là tên gọi khác của khách khí. Vì vốn là ngoại tà nên gọi là khách khí; vì tà vốn thuộc phong nên gọi là dương khí. Do lý hư, tà theo đó hãm vào trong, nên gọi là nội hãm.
Từ câu “nếu không thành kết hung” đến hết là nói về trường hợp biến chứng nhẹ hơn.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Những lời về gây nôn, tăng lượng thuốc và công hạ trên đây được giữ theo nguyên văn cổ. Qua đế là thuốc gây nôn mạnh, có độc tính; không tự dùng hoặc tự tăng liều. Các chú gia cũng có ý kiến khác nhau về hư thực và phép chữa, nên không xem những đoạn này là hướng dẫn điều trị hiện đại.
Trường Xuân biên soạn
ĐẠI HÃM HUNG THANG
Đại hoàng, bỏ vỏ, sáu lượng (liều tham khảo hiện đại: 10 gam), Mang tiêu một thăng (liều tham khảo hiện đại: 10 gam), Cam toại, nghiền riêng, một tiền theo bản chép (tài liệu phương tễ hiện đại ghi nguyên đơn vị là một tiền chủy, liều tham khảo: 1 gam).
Ghi chú cân lượng: Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo của bài phương theo tài liệu hiện đại, không phải phép quy đổi khối lượng tuyệt đối. Vì vậy, sáu lượng Đại hoàng ở bài này không mặc nhiên tính thành 18 gam; một thăng Mang tiêu cũng không đổi sang gam như thể tích nước. Bản gửi ghi Cam toại “một tiền”, trong khi tài liệu phương tễ ghi “một tiền chủy”; cần giữ rõ sự khác biệt này. rwzyzs.pmphai.com
Ba vị trên, dùng sáu thăng nước, trước sắc Đại hoàng lấy hai thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, đun sôi một hai lượt, rồi cho bột Cam toại vào. Uống ấm một thăng; khi đã đi tiêu được thông thì ngừng phần thuốc còn lại.
TẬP GIẢI
Phương Hữu Chấp nói:
Thượng tiêu có tà ở trên cao, phải đưa tà xuống để bình định, nên gọi là Hãm hung thang.
Bình tà, quét sạch giặc là chức trách của “tướng quân”, vì vậy lấy Đại hoàng làm quân. Vị mặn có thể làm mềm chỗ cứng, nên lấy Mang tiêu làm thần. Cam toại thông suốt trên dưới, phá kết, trục thủy, nên dùng làm tá.
Chỉ khi thuộc đại thực mới phù hợp với phép dùng phương này. Nếu kiêm hư hoặc mạch phù thì không được tùy tiện thử dùng.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, phát hãn nhiều lần rồi lại dùng phép hạ, năm sáu ngày không đại tiện, lưỡi khô mà khát, vào cuối chiều hơi có triều nhiệt; từ vùng dưới tim đến bụng dưới cứng đầy và đau, không cho chạm đến: Đại hãm hung thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối điều trên, làm rõ thêm ý nghĩa và trình bày kỹ chứng trạng cùng phép chữa.
Bệnh Thái dương, phát hãn nhiều lần rồi lại dùng phép hạ, tân dịch đã bị tổn thương. Năm sáu ngày không đại tiện là vị phủ đã khô táo. Lưỡi khô, khát là trong vị thiếu tân dịch. Cuối chiều có triều nhiệt là vị nhiệt thịnh.
“Từ vùng dưới tim đến bụng dưới cứng đầy và đau, không cho chạm đến” nghĩa là cả phần trên lẫn phần dưới trong vùng ngực bụng đều cứng đầy, kết thực, đau dữ dội, không chịu cho tay đến gần. Vì vậy, dùng Đại hãm hung thang chủ trị là điều không nghi ngờ.
TẬP CHÚ
Nội đài phương nghị ghi:
Cụm “vào cuối chiều” được chép là “phát vào cuối chiều”.
Phương Hữu Chấp nói:
Điều này làm rõ cách phân biệt kết hung với chứng lý thực Dương minh có biểu hiện tương tự.
“Bô” là lúc ngày đến giờ Thân. “Hơi có” nghĩa là chỉ cảm thấy có nhẹ.
Không đại tiện, khô khát, cuối chiều có triều nhiệt, từ vùng dưới tim đến bụng dưới cứng đầy và đau, đều giống lý nhiệt Dương minh. Nhưng chỉ hơi có triều nhiệt, không mạnh như đại nhiệt Dương minh.
Vì vậy, bệnh Dương minh phải lấy “vị gia thực” làm chủ. Hễ còn dù chỉ một chút chứng Thái dương thì không được đưa vào phép chữa Dương minh; điều này cũng cho thấy ý nghĩa ấy.
Trình Tri nói:
Kết hung Thái dương kiêm lý thực Dương minh nên dùng Đại hãm hung thang. Từ vùng ngực sườn đến trường vị đều có thể được công trừ sạch.
Nếu chỉ công hạ nhiệt kết trong trường vị mà để sót đàm ẩm ở phần ngực trên thì không đúng phép.
Ngô Nhân Câu nói:
Trong một vùng bụng, tà khí ở cả trên lẫn dưới đều thịnh, chứng hoàn toàn thuộc thực, thì mạch thường trầm phục. Không nên vì vậy mà sinh nghi, e ngại; dùng phép hạ thì mạch sẽ dần hiện ra.
ĐIỀU VĂN
Tiểu kết hung, bệnh ngay tại vùng dưới tim, ấn vào thì đau, mạch phù hoạt: Tiểu hãm hung thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Đại kết hung là tà nặng, nhiệt sâu; bệnh từ vùng dưới tim đến bụng dưới, cứng đầy, đau đến mức không cho chạm, mạch trầm thực. Vì vậy, dùng Đại hãm hung thang để công phá chỗ kết và tả nhiệt.
Tiểu kết hung là tà nông, nhiệt nhẹ; bệnh ngay tại vùng dưới tim, bĩ đầy, ấn vào mới đau, không ấn thì không đau, mạch phù hoạt. Vì vậy, dùng Tiểu hãm hung thang để khai kết, thanh trừ nhiệt.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói:
Xét các điều về Hãm hung, có câu: “Vùng dưới tim đau, ấn vào cứng như đá”; lại có câu: “Vùng dưới tim đầy, cứng và đau”. Điều này nói: “Bệnh ngay tại vùng dưới tim”.
Như vậy, kết hung không nhất thiết chỉ ở ngực trên hay vùng dưới tim; điểm phân biệt ở đây là có đau hay không. Bĩ chứng cũng có trường hợp vùng dưới tim cứng, nhưng không đau.
Trương Tích Câu nói:
Phương thang có đại, tiểu; chứng bệnh có nặng, nhẹ.
Người đời nay thường dùng Tiểu hãm hung thang chữa đại kết hung, dẫn đến không cứu được, rồi cho rằng kết hung là chứng không thể chữa.
Không biết rằng trong kinh văn, kết hung không thể chữa chỉ được nói đến ở một hai điều; những trường hợp còn lại đều có thể chữa. Nếu không hiểu kỹ ý nghĩa kinh văn, đến lúc gặp bệnh chỉ đùn đẩy, thoái thác, sẽ làm lỡ việc cứu người.
Ngụy Lệ Đồng nói:
Tiểu kết hung không có tà thực nhiệt mạnh, chỉ hơi có nhiệt, hiệp với đàm ẩm mà gây bệnh.
Vì vậy, tuy là kết hung nhưng không chiếm lên phần cao của ngực, chỉ ở ngay vùng dưới tim; không gây đau dữ dội do thực tà mạnh, chỉ đau khi ấn; mạch không trầm sâu mà phù, nông nhẹ; không cứng như đá, chỉ kết trở tương đối mềm.
Do đó, không nên dùng Đại hãm hung thang mà riêng lập Tiểu hãm hung thang. Giữa cao và thấp, cứng và mềm, nhẹ và nặng, trầm và phù, bệnh cơ cùng trị pháp đã rõ ràng.
Ông lại nói:
Bĩ thuộc âm tà, kết hung thuộc dương tà; nhưng trong dương tà lại có phân biệt đại và tiểu. Người học phải xét kỹ.
Phàm chứng hàn nhiệt xen lẫn mà không có đại thực, đại nhiệt, đều phải cân nhắc phép hạ, không được khinh suất.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đại hãm hung thang là phương công hạ, trục thủy mạnh, có Cam toại độc tính. Những chỉ dẫn sắc uống và nhận định điều trị trên được dịch theo cổ văn để học tập, không dùng làm hướng dẫn tự uống thuốc.
Trường Xuân biên soạn
TIỂU HÃM HUNG THANG
Hoàng liên một lượng (liều tham khảo hiện đại: 6 gam), Bán hạ rửa sạch, nửa thăng theo bản phương tễ đối chiếu (liều tham khảo hiện đại: 12 gam), Qua lâu thực loại lớn một quả (liều tham khảo hiện đại: 20 gam).
Ghi chú cân lượng: Bản gửi ghi Bán hạ “半筋”; tài liệu phương tễ của Nhà xuất bản Y tế Nhân dân ghi “半升”, nghĩa là nửa thăng. Vì vậy, ở đây dùng đơn vị nửa thăng để đối chiếu. Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại của bài phương, không phải phép quy đổi tuyệt đối; một lượng Hoàng liên trong bài này được ghi là 6 gam. rwzyzs.pmphai.com
Ba vị trên, dùng sáu thăng nước, trước sắc Qua lâu lấy ba thăng, bỏ bã, cho các vị còn lại vào, sắc lấy hai thăng, bỏ bã, chia làm ba lần uống ấm.
PHƯƠNG GIẢI
Hoàng liên thanh trừ nhiệt, Bán hạ dẫn thủy ẩm đi xuống, Qua lâu nhuận táo, giáng xuống. Phối hợp ba vị để thanh trừ đàm nhiệt ở vùng ngực cách, khai thông khí kết tại đó.
Sức công tuy không mạnh nhưng vẫn có thể xuyên qua sự bế kết mà tác động vào bên trong, nên gọi là Tiểu hãm hung thang.
Chia làm ba lần uống là phép dùng thuốc từ từ để chữa bệnh ở phần trên.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn sáu bảy ngày, kết hung thuộc nhiệt thực, mạch trầm khẩn, vùng dưới tim đau, ấn vào cứng như đá: Đại hãm hung thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, biểu chưa giải, dùng phép hạ sai mà thành bĩ, đó là trường hợp thường gặp. Thương hàn cũng có trường hợp do hạ sai mà thành kết hung, đó là sự biến chuyển khác.
Nay thương hàn sáu bảy ngày, kết hung không do hạ sai mà hình thành chứng nhiệt thực này. Mạch trầm khẩn là mạch lý thực; vùng dưới tim đau, ấn vào cứng như đá là chứng lý thực.
Mạch và chứng đều thuộc thực, nên dùng Đại hãm hung thang chủ trị.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói:
Hai chữ “nhiệt thực” mô tả trạng thái kết hung rất rõ: tà nhiệt kết đầy trong ngực, không tản mạn.
Mạch phù khẩn chủ thương hàn không ra mồ hôi; mạch trầm khẩn chủ thương hàn kết hung. Trường hợp này khác hẳn kết hung do dương tà trong bệnh trúng phong, nên không nói mạch phù.
Ông lại nói:
Dương tà bị hạ sai thì thành kết hung; âm tà bị hạ sai thì thành bĩ. Tuy nhiên, trúng phong đôi khi có bĩ chứng, thương hàn đôi khi có kết hung chứng, cũng không thể không biết.
Trình Ứng Mao nói:
Tuy gọi là dương tà hãm vào trong, nhưng hai chữ “âm dương” ở đây được phân biệt theo hư thực, hàn nhiệt, không phải theo trúng phong hay thương hàn.
Biểu nhiệt thịnh thực chuyển vào vị phủ thì thành chứng Dương minh. Biểu nhiệt thịnh thực không chuyển vào vị phủ mà hãm vào vùng cách thì thành kết hung. Vì vậy, không nhất thiết phải hạ sai mới thành kết hung.
Kết hung không do phép hạ mà thành, hẳn là người ấy trong ngực vốn có táo tà; do không phát hãn, biểu tà kết hợp với tà sẵn có mà thành lý thực.
Xét điều này nói “thương hàn sáu bảy ngày”, lại nói “mạch trầm khẩn”, thì có thể hiểu được.
Uông Hổ nói:
Có người hỏi: Mạch trầm khẩn, làm sao biết không phải hàn thực kết hung?
Đáp rằng: Trong ngực là nơi dương khí hội tụ. Tà nhiệt kết ở ngực, lan đến vùng dưới tim, cứng như đá và đau, thì mạch không chỉ trầm khẩn, thậm chí có thể phục đến mức khó nhận thấy. Sao có thể chỉ vì mạch trầm khẩn mà cho rằng không có nhiệt?
Nhìn chung, phân biệt kết hung phải căn cứ vào chứng trạng mới đáng tin cậy nhất.
ĐIỀU VĂN
Hàn thực kết hung, không có nhiệt chứng, dùng Tam vật — bản chép ghi Tiểu hãm hung thang — và ghi thêm Bạch tán cũng có thể uống.
LỜI ÁN
Sau câu “không có nhiệt chứng”, chỗ ghi “dùng Tam vật Tiểu hãm hung thang” đáng lẽ phải là “dùng Tam vật bạch tán”. Bốn chữ “Tiểu hãm hung thang” hẳn là sai sót do sao chép.
Ba vị Cát cánh, Bối mẫu, Ba đậu đều có sắc trắng, phù hợp với tên Tam vật bạch tán. Phương có tính ôn mà công được, phù hợp với bệnh cơ hàn thực.
Tiểu hãm hung thang có Qua lâu và Hoàng liên đều thuộc tính hàn, sao có thể chữa hàn thực kết hung?
Ba chữ “cũng có thể uống” cũng là phần văn thừa.
Đây là ý kiến hiệu đính của người chú giải, được giữ riêng để phân biệt với điều văn.
CHÚ GIẢI
Kết hung mà thân không có đại nhiệt, miệng không khô khát, thì thuộc thực chứng không có nhiệt, tức hàn thực; dùng Tam vật bạch tán.
Tuy nhiên, chứng này mạch phải trầm khẩn. Nếu mạch trầm trì hoặc xuất hiện chứng trạng của ba âm, thì không còn giống hàn thực kết hung; phải dùng Chỉ thực lý trung thang để chữa.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói:
Đối với nhiệt thực kết hung và hàn thực kết hung, Hoạt nhân thư không câu nệ phân biệt hàn nhiệt, trước dùng Hãm hung thang; nếu không khỏi thì dùng Chỉ thực lý trung hoàn, có thể đạt hiệu quả ngay.
Phương Hữu Chấp nói:
“Hàn” ở đây nói về thủy ẩm. Thủy ẩm vốn hàn, lại gặp tính hàn của nước, hai thứ hàn kết hợp, kết thực trong ngực, nên nói không có nhiệt chứng.
Trình Tri nói:
Kết hung có phân biệt đại và tiểu, có khác nhau về hàn nhiệt, không được nhất loạt dùng Mang tiêu và Đại hoàng.
Trịnh Trọng Quang nói:
Thủy hàn kết thực trong ngực thì tâm dương bị chiếm giữ, ngăn trở, không phải chuyện nhẹ. Dùng Tam vật bạch tán để công hạ hàn tà, phá kết, cũng là biện pháp mạnh chỉ dùng khi bất đắc dĩ.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Chữ “rửa” trong cách chế Bán hạ cổ không thay thế yêu cầu bào chế hiện đại; không dùng Bán hạ sống theo cách hiểu này. Tam vật bạch tán có Ba đậu, là phương công trục mạnh, có độc tính, không tự sử dụng. Những ý kiến chọn phương khác nhau ở trên được giữ theo nguyên văn để nghiên cứu.
Trường Xuân biên soạn
TAM VẬT BẠCH TÁN
Cát cánh ba phân (ba phần theo tỷ lệ phối hợp), Ba đậu bỏ vỏ và tâm, sao đen, nghiền nhuyễn như mỡ, một phân (một phần theo tỷ lệ phối hợp), Bối mẫu ba phân (ba phần theo tỷ lệ phối hợp).
Ghi chú cân lượng: Để đọc rõ tỷ lệ nguyên phương, ba vị được phối hợp theo tỷ lệ Cát cánh : Ba đậu : Bối mẫu là 3 : 1 : 3. Không đồng nhất “phân” trong bản cổ với phân hiện nay. “Nửa tiền chủy” là lượng bột đong bằng dụng cụ cổ, không phải nửa tiền cân; ở đây giữ nguyên, không gán số gam vì chưa có căn cứ quy đổi đáng tin cậy cho hỗn hợp này.
Hai vị Cát cánh và Bối mẫu nghiền thành bột, cho Ba đậu vào, tiếp tục giã trong cối cho đều. Hòa với nước cơm để uống. Người khỏe dùng nửa tiền chủy, người gầy yếu giảm bớt.
Bệnh ở trên vùng cách thì sẽ nôn; ở dưới vùng cách thì sẽ đi tiêu. Nếu không đi tiêu, cho dùng một chén cháo nóng; nếu đi tiêu quá mức không ngừng, cho dùng một chén cháo nguội.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này chữa chứng hàn thực, thủy kết ở ngực, là thuốc có sức công rất mạnh.
Lấy Ba đậu làm quân, tính rất cay, rất mãnh liệt, công hàn, trục thủy, như phá cửa vượt ải, đến đâu phá kết đến đó.
Dùng Bối mẫu làm tá để khai thông chỗ kết trong ngực. Dùng Cát cánh làm sứ, như thuyền bè chuyên chở Ba đậu đến tìm trục tà trong ngực, khiến tà được loại hết.
Tà ở trên vùng cách thì nôn; ở dưới vùng cách thì đi tiêu. Tuy nhiên, nếu chỉ biết dùng thuốc độc để công tà mà không xét người bệnh khỏe hay yếu, thì khó bảo đảm kết quả tốt.
Vì vậy, người gầy yếu phải giảm lượng; không đi tiêu thì dùng cháo nóng, đi tiêu quá mức thì dùng cháo nguội. Theo cách giải thích của cổ nhân, Ba đậu tính nhiệt, gặp nóng thì tác dụng mạnh lên, gặp lạnh thì tác dụng dừng lại.
Không dùng nước mà dùng cháo là mượn cốc khí để bảo vệ vị khí.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn hơn mười ngày, nhiệt kết ở lý, lại có rét nóng qua lại, thì dùng Đại sài hồ thang.
Nếu chỉ có kết hung mà không có đại nhiệt, đó là thủy kết ở vùng ngực sườn. Chỉ hơi ra mồ hôi ở đầu thì Đại hãm hung thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn hơn mười ngày, nhiệt kết ở lý, nếu vùng ngực sườn đầy cứng thì là kết hung.
Nay không đầy cứng mà lại có rét nóng qua lại, thì thuộc bệnh biểu lý Thiếu dương, không phải kết hung; nên dùng Đại sài hồ thang để cùng giải biểu lý.
Tuy nhiên, kết hung cũng có trường hợp do thủy kết. Thủy kết hung không những ở biểu không có đại nhiệt, mà trong lý cũng không có đại nhiệt rõ rệt.
Có hình trạng kết hung, hơi ra mồ hôi ở đầu, là do thủy ngừng ở ngực, nhiệt khí bốc lên hun chưng mà thành.
Vì vậy, nói thủy kết ở vùng ngực sườn. Cũng dùng Đại hãm hung thang chủ trị, cùng công trừ thủy ẩm và nhiệt.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
“Thủy” tức là thủy ẩm. Vì không kết cứng đặc nên gọi là thủy kết. Vùng ngực sườn cũng thuộc lý; nhiệt kết không ở vị trí cao nên nói là kết ở lý.
Trình Tri nói:
Điều này nói rằng nhiệt kết ở lý mà kiêm chứng Thiếu dương thì không nên dùng Hãm hung. Thủy kết ở ngực, dù không có đại nhiệt, vẫn thích hợp với Đại hãm hung thang.
Trình Ứng Mao nói:
Đại sài hồ thang và Đại hãm hung thang đều có thể phá kết. Đại sài hồ thang phá kết, đồng thời khiến phần biểu không còn lưu tà; Đại hãm hung thang phá kết, khiến phần lý không còn lưu tà.
Lâm Lan nói:
Điều này nói về sự khác nhau giữa thủy kết hung và nhiệt kết ở lý.
Hơn mười ngày là lúc tà đã vào sâu trong phủ. Tuy nhiên, nhiệt kết ở lý mà vẫn còn tà ở bán biểu bán lý, gây rét nóng qua lại, thì phải dùng Đại sài hồ thang để cùng giải.
Nếu chỉ vùng ngực sườn kết đầy, vốn không có đại nhiệt, tà thu vào trong, thì không thể xem là chứng Đại sài hồ thang; hẳn là thủy kết ở ngực sườn.
Làm sao biết? Thủy kết hung thì ra mồ hôi ở đầu. Nay chỉ hơi ra mồ hôi ở đầu, nên rõ là thủy kết hung, dùng Đại hãm hung thang.
ĐIỀU VĂN
Kết hung, gáy cũng cứng, hình trạng giống nhu kinh; dùng phép hạ thì điều hòa trở lại, thích hợp với Đại hãm hung hoàn.
CHÚ GIẢI
Kết hung từ vùng dưới tim đến bụng dưới, cứng đầy, đau đến mức không cho chạm, là bệnh thế nặng ở phần dưới. Chữa phần dưới nên công hạ nhanh, dùng Đại hãm hung thang.
Kết hung ở phần ngực trên, đầy cứng, gáy cứng, hình trạng giống nhu kinh, là tà nhiệt nặng ở phần trên. Chữa phần trên nên công từ từ, dùng Đại hãm hung hoàn để trực tiếp công trừ tà ở vùng ngực phế.
Khi nấu uống, tăng lượng mật ong, khiến thuốc tuy công mạnh nhưng tác động chậm, dùng phép hạ để lập lại sự điều hòa.
Vì vị trí và mức độ khẩn cấp của bệnh thế khác nhau nên cách chế thành thang hay hoàn cũng khác.
Do đó, phải biết gáy cứng ở đây là do kết hung, dùng phép hạ thì điều hòa, không phải gáy cứng của bệnh nhu kinh.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói:
Gáy cứng là do tà kết trong ngực, vùng ngực cách kết đầy, người bệnh chỉ có thể ngửa mà không thể cúi, nên thành gáy cứng.
Trình Tri nói:
Gáy cứng giống nhu kinh là vì tà khí trong ngực kết chặt, khiến đầu gáy thường ngẩng lên, có vẻ giống nhu kinh.
Nhưng bệnh kinh thì thân và tay đều co cứng; ở đây chỉ gáy cứng, vốn không phải bệnh kinh. Mượn hình trạng ấy để nhận biết tà trong ngực đã kết rất chặt.
Uông Hổ nói:
“Hạ thì điều hòa” nghĩa là thực tà được loại đi, trong ngực điều hòa, gáy tự trở lại mềm mại.
Nếu không nói “giống nhu kinh”, e rằng thầy thuốc sẽ nhận lầm là phong hàn ở kinh Thái dương chưa giải, rồi cho rằng phải dùng thuốc phát hãn.
Không biết rằng tuy gáy cứng nhưng biểu chứng đã giải, lý chứng rất cấp, nên trị pháp phải dùng phép hạ.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Ba đậu có độc tính mạnh. Các chỉ dẫn tăng giảm thuốc và dùng cháo nóng, cháo nguội trên đây là nội dung cổ văn, không phải cách dùng hay xử trí ngộ độc hiện đại. Không tự dùng Tam vật bạch tán; nếu đã dùng và nôn hoặc tiêu chảy nhiều, cần được cấp cứu, không dựa vào cháo nguội để cầm tác dụng thuốc.
Trường Xuân biên soạn
ĐẠI HÃM HUNG HOÀN
Đại hoàng nửa cân cổ (liều tham khảo hiện đại: 15 gam), Đình lịch tử sao, nửa thăng (9 gam), Mang tiêu nửa thăng (9 gam), Hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn, sao đen, nửa thăng (9 gam).
Ghi chú cân lượng: Chữ “半筋” trong bản gửi được hiểu là “半斤”, tức nửa cân. Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại theo giáo trình Phương tễ học, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ. Đây cũng không phải khối lượng của viên thuốc “lớn bằng viên đạn” được nói đến bên dưới. lfhospital.net
Bốn vị trên, giã và rây Đại hoàng cùng Đình lịch tử thành bột; cho Hạnh nhân và Mang tiêu vào, nghiền chung nhuyễn như mỡ, rồi hòa đều với bột thuốc.
Lấy một viên lớn bằng viên đạn. Nghiền riêng Cam toại một tiền chủy; thêm mật ong trắng hai hợp và nước hai thăng, nấu lấy một thăng, uống một lần khi còn ấm. Qua một đêm mới đi tiêu. Nếu chưa đi tiêu thì uống tiếp, lấy việc đi tiêu làm dấu hiệu đạt tác dụng. Những điều kiêng cấm theo phép dùng thuốc đã nêu.
ĐIỀU VĂN
Chứng kết hung mà mạch phù đại thì không được dùng phép hạ; hạ thì chết.
CHÚ GIẢI
Chứng kết hung, nếu mạch đại là vị thực, biết nhiệt kết đã thành thực thì mới có thể hạ; hạ thì khỏi.
Nay mạch phù đại là tà vẫn còn ở biểu, biết nhiệt kết chưa hoàn toàn thành thực, nên không được hạ.
Nếu hạ sai, biểu tà chưa hết lại thừa lúc hư mà vào lý. Sai rồi lại sai, kết rồi lại kết, tà nhiệt càng sâu, chính khí càng hư, thì dẫn đến tử vong.
TẬP CHÚ
Trương Kiêm Thiện nói:
Kết hung là chứng có thể dùng phép hạ. Nhưng nếu mạch phù đại, dù vùng dưới tim đã kết, biểu tà vẫn còn nhiều; hạ sẽ làm lý thêm hư, ngoại tà lại tụ vào, nên dẫn đến tử vong.
Trình Tri nói:
Kết hung cũng có trường hợp không được hạ, phải xét kỹ mạch để chữa.
Kết hung là tà kết ở thượng tiêu. Nếu mạch thốn phù, mạch quan trầm hoặc trầm khẩn, thì bệnh ở lý, có thể hạ.
Nếu mạch phù đại thì tà còn ở biểu; hạ sẽ khiến kết lại càng kết, vì vậy nguy đến tính mạng.
ĐIỀU VĂN
Các chứng kết hung đều đầy đủ, lại có phiền táo, cũng chết.
CHÚ GIẢI
“Các chứng kết hung đều đầy đủ” là cứng đầy và đau, tà kết ở cả trên lẫn dưới vùng cách.
“Đều đầy đủ” nghĩa là từ dưới ngực đến trên bụng dưới, cả hai bên sườn, không nơi nào không cứng đầy và đau.
Trường hợp này còn nặng hơn đại kết hung. Lúc ấy phải công hạ khẩn cấp, có thể còn người được cứu. Nếu tiếp tục trì hoãn, tà thắng chính suy, hình và khí lìa nhau, phiền táo không yên, thì hạ cũng chết, không hạ cũng chết.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Chứng kết hung đầy đủ đã là dấu hiệu tiên lượng tử vong. Nếu lại thêm phiền táo thì dù không hạ nữa cũng có thể tử vong.
Trình Ứng Mao nói:
Chứng kết hung không được hạ bừa, nhưng cũng không được bỏ lỡ lúc cần hạ. Cốt yếu là dùng đúng lúc, đúng chứng; trừ tà chính là bảo vệ chính khí.
Ngụy Lệ Đồng nói:
Điều này tiếp nối điều trên có mạch phù đại. Phải có đầy đủ chứng kết hung, mạch lại phù đại, thêm phiền táo, mới có thể dự đoán tiên lượng tử vong.
Nếu không hiểu như vậy, phiền táo vốn cũng là một triệu chứng của kết hung, sao có thể vội nói cứ phiền táo là chết?
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Bệnh có kết hung, có tạng kết; hình trạng của chúng thế nào?
Đáp: Ấn vào đau, mạch thốn phù, mạch quan trầm, gọi là kết hung.
Hỏi: Thế nào là tạng kết?
Đáp: Hình trạng giống kết hung, ăn uống vẫn như thường, thỉnh thoảng tiêu chảy, mạch thốn phù, mạch quan nhỏ, tế, trầm khẩn, gọi là tạng kết. Trên lưỡi có rêu trắng trơn thì khó chữa.
CHÚ GIẢI
Tà kết ở ba dương gọi là kết hung; tà kết ở ba âm gọi là tạng kết. Cả hai đều do sau khi hạ, tà khí thừa lúc hư mà vào lý, nhưng mạch và chứng trạng khác nhau.
Cứng đầy, ấn vào đau là chứng kết hung. Mạch thốn phù, mạch quan trầm là mạch kết hung.
Mạch thốn phù ứng với ngực và biểu; mạch quan trầm ứng với vị và lý. Từ đó biết tà từ phần biểu vùng ngực hãm vào phần lý của vị mà kết lại.
Hình trạng giống kết hung, ăn uống vẫn như thường, thỉnh thoảng tiêu chảy là chứng tạng kết. Mạch thốn phù, mạch quan nhỏ, tế, trầm khẩn là mạch tạng kết.
Mạch nhỏ, tế, trầm khẩn chủ tà kết ở tạng, gây đau do hàn. Từ đó biết tà từ phần biểu vùng ngực hãm vào trong tạng mà kết lại.
Tạng kết tuy cứng đầy và đau, hình trạng giống kết hung, nhưng kết hung thuộc lý bị bế tắc nên không ăn uống được; tạng kết thuộc lý rỗng hư nên ăn uống vẫn như thường.
Kết hung thuộc thực nhiệt nên cứng đau, không đại tiện, mạch trầm thực. Tạng kết thuộc hư hàn nên cứng đau, tiêu chảy, mạch tế khẩn.
Rêu lưỡi trắng trơn cho biết trong ngực không có nhiệt. Tạng kết thuộc âm tà, thấy rêu ấy là thuận, còn có thể dùng các phương như Lý trung để ôn.
Kết hung thuộc dương tà, thấy rêu ấy là nghịch, không chịu được phép công hạ, nên khó chữa.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói:
Khí nên thông; bị bế tắc thì đau. Tà kết ở phần dương khiến âm khí không thông xuống; tà kết ở phần âm khiến dương khí không thông lên. Vì vậy, cả hai đều có thể cứng và đau khi ấn.
Phương Hữu Chấp nói:
Điều này đặt câu hỏi và trả lời để làm rõ điểm giống và khác giữa kết hung với tạng kết.
Tạng kết thỉnh thoảng tiêu chảy là vì âm tà kết ở âm tạng, hàn rất nặng. Do hàn nặng nên mạch nhỏ, tế, khẩn; đó là điểm khác biệt.
Kết hung là dương tà kết ở phần dương; tạng kết là âm tà kết ở phần âm.
Uông Hổ nói:
Người mắc kết hung vốn có thức ăn trong vị. Hạ quá sớm, thức ăn chưa được đưa hết ra, ngoại tà lại vào kết trong ngực, nên ấn thì đau, không ăn uống được.
Người mắc tạng kết vốn không có thức ăn trong vị. Hạ quá mức khiến tạng hư, tà vào kết với hàn ở âm phận. Vì vậy, hình trạng giống kết hung nhưng ấn không đau, vẫn ăn uống được, thỉnh thoảng tiêu chảy.
Ngụy Lệ Đồng nói:
Người ta cho rằng điều này chủ yếu phân biệt kết hung, không phải luận tạng kết; nhưng thật ra đang nói tạng kết có chỗ giống bĩ, còn với kết hung thì có khác biệt rõ ràng.
Kết hung thuộc dương tà; bĩ và tạng kết thuộc âm tà. Bĩ còn có dương khí nổi ở trên; tạng kết thì trên dưới đều thiếu dương. Đây đều là hậu quả của hạ sai hoặc thổ sai.
LỜI ÁN
Câu “rêu lưỡi trắng trơn thì khó chữa”, các chú giải cũ đều chỉ quy về tạng kết, chưa giải thích rõ, khiến người học dễ nhầm.
Rêu lưỡi trắng trơn, dù có đầy đủ chứng kết hung, cũng có thể là giả thực. Rêu lưỡi khô vàng, dù có đầy đủ chứng tạng kết, vẫn có thể ẩn chứa chân nhiệt.
Tạng kết thuộc âm tà, rêu trắng trơn là thuận, còn có thể ôn tán. Kết hung thuộc dương tà mà thấy rêu ấy là nghịch, không chịu được công hạ, nên khó chữa.
Từ đó biết rằng viết sách, lập luận phải trực tiếp trải nghiệm, hiểu biết rõ ràng mới có ích trong thực hành. Nếu chỉ dựa vào lời cũ trên giấy rồi gượng ép giải thích, thì khác gì tìm ngựa theo hình vẽ?
ĐIỀU VĂN
Người bệnh vốn có bĩ dưới sườn, nối đến cạnh rốn, đau lan xuống bụng dưới, vào vùng âm khí; đó gọi là tạng kết, tiên lượng tử vong.
CHÚ GIẢI
Người mắc tạng kết, nếu vốn đã có bĩ dưới sườn nối đến cạnh rốn, bệnh mới và bệnh cũ kết hợp, đau lan xuống bụng dưới, vào vùng âm khí, thì tà lại tiến vào Quyết âm, thuộc tử chứng của tạng kết.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói:
Tà kết cũ và tà kết mới đan kết không giải. Bĩ nối đến cạnh rốn là tỳ tạng kết; đau lan xuống bụng dưới là thận tạng kết; từ dưới sườn lan vào vùng âm khí là can tạng kết.
Cả ba âm tạng đều kết, nên tiên lượng tử vong.
ĐIỀU VĂN
Tạng kết không có dương chứng, không rét nóng qua lại, người bệnh trái lại yên lặng, trên lưỡi có rêu trơn thì không được công hạ.
CHÚ GIẢI
Tạng kết không có chứng của ba dương.
Không phát nhiệt là không có chứng Thái dương; không rét nóng qua lại là không có chứng Thiếu dương; người bệnh trái lại yên lặng là không có chứng Dương minh.
Rêu lưỡi trắng trơn, trong ngực có hàn, nên có thể ôn, không được công hạ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Rêu trơn vốn do đan điền có nhiệt, trong ngực có hàn mà thành. Đan điền thuộc âm, ngực thuộc dương; nhiệt lại ở phần âm, hàn lại ở phần dương, nên không được công hạ.
Trình Tri nói:
Kinh văn nói tạng kết có rêu trắng trơn chỉ là khó chữa, chưa từng nói không thể chữa.
Kinh văn chỉ nói tạng kết không có nhiệt, rêu lưỡi trơn thì không được công; chưa từng nói tạng kết có nhiệt, rêu không trơn cũng không được công.
Có lẽ chứng đan điền có nhiệt, trong ngực có hàn phải có phép hòa giải nhiệt và ôn tán hàn, khiến nội tà âm thầm tiêu đi, ngoại tà dần giải. Đó là dụng tâm của người thầy thuốc giỏi.
ĐIỀU VĂN
Bệnh ở dương, đáng lẽ dùng phép phát hãn để giải, lại phun nước lạnh hoặc dội nước lên người. Nhiệt bị ép lui, không thoát ra được, càng thêm phiền, trên da nổi hạt như hạt kê, có ý muốn uống nước nhưng lại không khát: dùng Văn cáp tán.
Nếu không khỏi thì dùng Ngũ linh tán.
Thân nóng, da nổi hạt chưa hết, muốn kéo áo phủ lên người; nếu lại phun hoặc rửa bằng nước, càng khiến nhiệt bị ép lại, không thoát ra. Đáng phát hãn mà không phát hãn thì phiền.
Nếu sau khi đã ra mồ hôi mà bụng đau, dùng Thược dược ba lượng, theo phép trên.
CHÚ GIẢI
“Bệnh ở dương” nghĩa là bệnh phát ở dương, thân nóng. Đáng dùng phép phát hãn để giải, lại phun hoặc dội nước lạnh lên người.
Tuy thân nóng tạm bị ép lui, nhưng cuối cùng nhiệt không được loại bỏ, nên nóng và phiền càng tăng.
Nước lạnh bó buộc bên ngoài, nhiệt ở da đột ngột bị ngăn lại, nên da nổi hạt. Nhiệt chưa vào sâu, vì vậy có ý muốn uống nước mà không khát nhiều.
Do đó, dùng Văn cáp tán để sơ giải nhiệt ở da từ bên trong. Nếu không khỏi, dùng Ngũ linh tán để giải sự bó buộc của thủy hàn bên ngoài; da nổi hạt và thân nóng sẽ được giải.
Nếu chưa giải, lại sợ lạnh, kéo áo phủ lên người, thì vẫn còn biểu chứng, phải dùng Quế chi thang để phát hãn, giải biểu.
Nếu uống Quế chi thang, đã ra mồ hôi, thân nóng và da nổi hạt đều hết, nhưng bụng lại đau thêm, thì biểu đã hòa mà lý chưa điều.
Nên dùng Quế chi thang tăng gấp đôi Thược dược để điều lý, hòa biểu. Theo cách giải thích này, thêm Thược dược ba lượng (liều tham khảo hiện đại: thêm 9 gam), nâng tổng lượng Thược dược của phương lên sáu lượng (liều tham khảo hiện đại: 18 gam).
Nếu khát, muốn uống nước mà không đau bụng, thì không cần điều lý Thái âm, vẫn phải điều chỉnh phủ Thái dương, nên dùng Ngũ linh tán.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Những nhận định “hạ thì chết”, “phiền táo thì chết” là lời tiên lượng trong cổ văn, không phải kết luận tuyệt đối của y học hiện đại. Các chú gia cũng bất đồng về đau khi ấn trong tạng kết; bản dịch giữ riêng từng ý kiến.
Đại hãm hung hoàn có Cam toại và tác dụng công hạ mạnh. Không tự chế viên theo kích thước “viên đạn”, tự tăng liều hoặc coi lượng thuốc tham khảo ở đầu bài là lượng uống một lần.
Trường Xuân biên soạn
VĂN CÁP TÁN
Văn cáp năm lượng cổ (lượng nguyên liệu để chế bột; chưa ghi số gam hiện đại vì chưa xác định chắc chắn dược liệu được nói đến trong bản này).
Một vị trên nghiền thành bột. Lấy một tiền chủy, hòa với nước sôi để uống; lượng nước dùng là năm hợp.
Ghi chú cân lượng: “Một tiền chủy” là lượng bột đong bằng dụng cụ cổ, không phải một tiền cân, nên không tự đổi thành 3 hoặc 4 gam. Năm lượng là lượng nguyên liệu chế bột, không phải lượng uống một lần.
LỜI ÁN
Người chú giải viết: “Văn cáp tức là Ngũ bội tử.”
Ghi chú biên tập: Đây là nhận định của người chú giải trong bản sách này. Không nên từ đó mặc nhiên đồng nhất Văn cáp với Ngũ bội tử trong mọi cổ phương hoặc tự thay thế hai dược liệu.
CHÚ ÂM CUỐI THIÊN
Đoạn dưới đây hướng dẫn cách đọc chữ Hán trong nguyên bản, không phải nội dung phương thuốc. “Thiết” là phép lấy âm đầu của chữ thứ nhất ghép với vần và thanh của chữ thứ hai. Những chữ bị khuyết được giữ dấu □.
強: phiên thiết bằng 群 và 養. 惡: đọc theo 污, thanh khứ. 中: đọc như 衆. 嗇: đọc như 色. 淅: đọc như 錫. 翕: đọc như 吸. □: đọc như 父. 咀: đọc như 苴. 去: thanh thượng.
滓: đọc như 第. 歠: cùng cách đọc với 啜. 覆: phiên thiết bằng 芳 và 救. □: đọc như 蟄. 差: bản gửi lặp cùng một chữ, chưa xác định được chữ dùng để đối chiếu. 諧: đọc như 鞋. 噤: phiên thiết bằng 渠 và 飲. 劇: đọc như 屐. 傳: đọc như 囀.
為: thanh khứ. 識: cùng cách đọc với 志. 干: bản gửi ghi đọc như 干. 散: thanh thượng. 和: thanh khứ. 悸: đọc như 季. 灌: đọc như 貫. 更: thanh khứ. 痞: đọc như 否.
□: đọc như 硬. 頸: đọc như 景. 羸: đọc như 雷. 養: thanh thượng. 糜: đọc như 迷. 咽: bản gửi ghi đọc như 咽. 數: đọc như 朔. 懊: phiên thiết bằng 影 và 考.
□: đọc như 農. 燥: đọc như 掃. 晡: phiên thiết bằng 布 và 胡. 痙: đọc như 涇. 潠: phiên thiết bằng 心 và 艮.
Ghi chú biên tập: Phần chú âm có một số chữ khuyết hoặc dấu hiệu sai chép. Vì vậy, giữ nguyên những chỗ chưa rõ, không đoán chữ để bổ sung.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH, CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH THÁI DƯƠNG — TRUNG THIÊN
Dinh và vệ do Thái dương thống nhiếp là hai đường phong hàn mới xâm nhập. Phong làm tổn thương vệ, hàn làm tổn thương dinh.
Vệ khí mạnh, nhanh, thống lĩnh khí mà vận hành ngoài mạch; công năng thiên về sơ tiết, thuộc dương, nên tà dễ xâm phạm. Khi bị tà phạm thì có mồ hôi, thuộc loại hư tà.
Dinh khí tinh chuyên, thống lĩnh huyết mà vận hành trong mạch; tính chất kín chắc, thuộc âm, nên tà khó xâm phạm. Khi bị tà phạm thì không có mồ hôi, thuộc loại thực tà.
Mùa đông vốn là mùa hàn khí chủ lệnh. Tuy nhiên, dư hàn vào mùa xuân và hàn đến sớm vào cuối thu đều có thể gây bệnh. Chỉ cần không có mồ hôi, chứng trạng thực tà rõ ràng thì có thể gọi là thương hàn, không nhất thiết phải phát bệnh giữa mùa đông.
Thái dương là kinh, bàng quang là phủ. So kinh với phủ thì kinh thuộc biểu, phủ thuộc lý.
Thượng thiên dùng Quế chi thang giải cơ để chữa phần biểu của chứng phong thương vệ, nhưng chưa đề cập đầy đủ phần lý của vệ phận. Vì vậy, lại lập Ngũ linh tán, phối hợp với phép dùng Quế chi để điều hòa phần lý của vệ phận.
Thiên này dùng Ma hoàng thang phát hãn để chữa phần biểu của chứng hàn thương dinh, nhưng chưa đề cập đầy đủ phần lý của dinh phận. Vì vậy, lại lập các phương Đào hạch và Để đương, phối hợp với phép dùng Ma hoàng để công trừ tà ở phần lý của dinh phận.
Nếu phát hãn hoặc công hạ không thích đáng, dùng quá mức thì tổn thương chính khí, làm dương khí hư; dùng không đủ thì nhiệt càng thịnh, làm tổn thương âm.
Dương khí hư thì thường xuất hiện chứng chuyển theo âm hóa của Thiếu âm, vì Thái dương và Thiếu âm có quan hệ biểu lý.
Âm bị tổn thương thì thường xuất hiện chứng chuyển theo dương hóa của Dương minh, vì Thái dương và Dương minh có thể lần lượt truyền bệnh cho nhau. Do đó, trong thiên này còn có phép chữa bằng Tứ nghịch và Thừa khí.
Những chứng hư tà do phong thương vệ đã được trình bày ở thượng thiên. Nay sắp xếp các chứng thực tà do hàn thương dinh thành trung thiên, để người đọc trước hết nắm được đại ý; khi gặp bệnh, lựa chọn cách xử trí sẽ tránh được sai lầm.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, có thể đã phát nhiệt, có thể chưa phát nhiệt, nhưng nhất định sợ lạnh; thân đau, nôn nghịch, mạch âm dương đều khẩn, gọi là thương hàn.
CHÚ GIẢI
“Bệnh Thái dương” là nói đến mạch phù, đầu gáy cứng đau, sợ lạnh, như điều đầu tiên của thượng thiên.
Dinh thuộc âm ở biểu; hàn là âm tà. Hàn tà làm tổn thương con người thì dinh chịu tà, vì cùng loại tương ứng.
Đã phát nhiệt là do hàn tà bó buộc da lông, lỗ chân lông đóng kín, dương khí uất lại mà sinh nhiệt.
Chưa phát nhiệt là vì hàn tà mới vào, chưa uất thành nhiệt; một lúc sau sẽ phát nhiệt.
Sợ lạnh là vì bị hàn làm tổn thương nên sợ lạnh. “Nhất định sợ lạnh” nghĩa là dù đã phát nhiệt hay chưa phát nhiệt, đều có sợ lạnh.
Hàn vào kinh nên thân đau. Khí trong vị bị hàn bên ngoài bó buộc, không thể phát tán thông đạt, nên nôn nghịch.
Hàn có tính co gấp, mạnh và khẩn cấp, nên mạch âm dương đều khẩn.
Điều này tiếp nối điều đầu của thượng thiên: bệnh Thái dương mà đồng thời có mạch và chứng trạng ấy thì gọi là thương hàn. Đây là đề cương của bệnh thương hàn. Những chỗ về sau gọi là thương hàn đều chỉ mạch và chứng trạng này.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
“Có thể” là lời chưa xác định; “nhất định” là lời khẳng định. Dùng hai cách nói ấy để chỉ rằng phát nhiệt có thể sớm hoặc muộn, nhưng sợ lạnh thì chắc chắn xuất hiện ngay.
Dụ Xương nói:
Trọng Cảnh lo rằng khi thấy sợ lạnh, thân đau, nôn nghịch mà chưa phát nhiệt, người học sẽ nhận nhầm là chứng của âm kinh. Vì vậy, ngay đầu thiên đã nêu rõ điều này để phân biệt.
Trình Ứng Mao nói:
Mạch âm dương đều khẩn trong thương hàn khác hẳn mạch hoãn, dương phù mà âm nhược trong trúng phong.
Phải xét cả chứng và mạch, xác định đúng thực chất, mới gọi chính xác là bệnh Thái dương thương hàn, không thể lẫn với trúng phong.
Ngụy Lệ Đồng nói:
Thương hàn và trúng phong đều có mạch phù, nhưng trúng phong là phù hoãn, thương hàn là phù khẩn.
Dương tà có tính giãn tán nên mạch hoãn; âm tà có tính co gấp nên mạch khẩn.
Cùng là mạch phù biểu hiện bệnh ở biểu, nhưng một bên hoãn, một bên khẩn, cho thấy phong và hàn khác nhau rõ rệt.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, đau đầu, phát nhiệt, thân đau, lưng đau, các khớp xương đau, sợ gió, không ra mồ hôi mà suyễn: Ma hoàng thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối điều trên, trình bày kỹ hơn chứng trạng để nêu phép chữa.
Kinh Thái dương bắt đầu ở khóe mắt trong, lên trán, giao ở đỉnh đầu, vào liên hệ với não rồi trở ra, phân nhánh xuống gáy, đi phía trong vùng vai, kẹp hai bên cột sống đến thắt lưng, xuống ngón chân út và ra ở đầu ngón.
Hàn tà lưu ở kinh khiến dinh huyết ngưng trệ; những nơi bị tổn thương đều có thể đau.
Dinh mắc bệnh thì sợ lạnh, vệ mắc bệnh thì sợ gió. Nay dinh mắc bệnh mà lại nói sợ gió là vì gió động thì lạnh sinh; đã sợ thì có thể sợ cả hai. Không có chuyện sợ lạnh mà hoàn toàn không sợ gió, hoặc sợ gió mà hoàn toàn không sợ lạnh.
Vì vậy, trong chứng trúng phong và thương hàn, Trọng Cảnh thường dùng xen kẽ hai cách nói này. Từ đó biết rằng không chỉ dựa vào sợ lạnh hay sợ gió để phân biệt trúng phong với thương hàn, mà phải xét mức độ nhẹ, nặng.
Không ra mồ hôi là vì thương hàn thuộc thực tà, tấu lý đóng kín, dù phát nhiệt cũng không ra mồ hôi; khác với trúng phong thuộc hư tà, phát nhiệt mà tự ra mồ hôi.
Dương khí bị hàn tà ngăn trở, nghịch lên mà thành suyễn.
Dùng Ma hoàng thang chủ trị là để giải biểu, phát hãn, trục tà và bảo vệ chính khí.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói:
Hàn làm tổn thương dinh. Đau đầu, thân đau, lưng đau, rồi liên lụy đến các khớp xương đều đau, là do dinh huyết trong kinh Thái dương vận hành không thông lợi.
Trình Ứng Mao nói:
Đau đầu, phát nhiệt là những biểu hiện chung của bệnh Thái dương. Nhưng thân đau, lưng đau, các khớp xương đau là hàn làm tổn thương dinh phận; nếu phong chỉ làm tổn thương vệ thì không có những biểu hiện ấy.
Sợ gió cũng là biểu hiện chung của bệnh Thái dương. Nhưng không ra mồ hôi mà suyễn là dương khí bị bế tắc; nếu phong chỉ làm tổn thương vệ thì không có biểu hiện ấy.
Nắm được những điểm giống nhau, rồi từ đó phân biệt những điểm khác nhau.
Thẩm Minh Tông nói:
Tà Thái dương từ da lông đi vào, khiến phế khí uất nghịch nên phát suyễn.
Hàn chủ thu liễm; khi làm tổn thương dinh thì tấu lý đóng kín. Vì vậy, dùng Ma hoàng thang để phát hãn.
Trường Xuân biên soạn
MA HOÀNG THANG
Ma hoàng bỏ đốt, ba lượng (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), Quế chi hai lượng (6 gam), Cam thảo chích một lượng (3 gam), Hạnh nhân ngâm nước nóng, bỏ vỏ và đầu nhọn, bảy mươi hạt (liều tham khảo hiện đại: 6 gam).
Ghi chú cân lượng: Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại theo tài liệu của Nhà xuất bản Y tế Nhân dân, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ. Bảy mươi hạt Hạnh nhân không có khối lượng cố định, nên lượng ghi theo hạt trong nguyên phương và lượng tham khảo hiện đại cần được phân biệt. rwzyzs.pmphai.com
Bốn vị trên, dùng chín thăng nước, trước sắc Ma hoàng cho nước giảm đi hai thăng, hớt bỏ bọt trên mặt, cho các vị còn lại vào, sắc lấy hai thăng rưỡi, bỏ bã. Uống ấm tám hợp, đắp giữ ấm để hơi ra mồ hôi. Không cần húp cháo; những việc điều dưỡng còn lại theo phép dùng Quế chi thang.
PHƯƠNG GIẢI
Gọi là Ma hoàng thang vì lấy Ma hoàng làm quân.
Ma hoàng tính ôn, vị cay đắng, tác dụng thiên về thăng phát nhanh. Quế chi tính ôn, vị cay ngọt, có khả năng củng cố phần biểu.
Chứng thuộc hữu dư, nên lấy Ma hoàng làm chủ để thắng tà; dùng Quế chi phối hợp, như người chỉ huy điều tiết sức công.
Hạnh nhân đắng ôn, hỗ trợ Ma hoàng trục tà, giáng nghịch. Cam thảo ngọt bình, hỗ trợ Quế chi điều hòa bên trong, chống tà bên ngoài.
Thuốc vào vị, đưa khí đến lỗ chân lông, vận chuyển tinh vi ra da lông, khiến da lông và mạch cùng được điều hòa, mồ hôi thấm đều. Tà ở biểu được loại hết, đau dứt, suyễn yên, rét nóng nhanh chóng giải; không cần húp cháo để mượn cốc khí trợ ra mồ hôi.
Phải sắc trước Ma hoàng, hớt bỏ bọt trên mặt vì e gây phiền. Theo cách giải thích của chú gia, phần khí nhẹ nổi ấy có thể dẫn khí nghịch lên quá mức.
Không dùng Sinh khương và Đại táo vì Sinh khương thiên về tán ngang ra cơ biểu, có thể cản sự thăng phát nhanh của Ma hoàng; Đại táo có tính nê trệ ở vùng cách, có thể cản sự giáng nhanh của Hạnh nhân.
Phương này muốn tác động nhanh, trực tiếp thông đạt. Chậm thì không còn nhanh; tán ngang thì không tập trung thăng lên.
Tuy nhiên, đây là phương thuần dương, phát hãn mạnh, như vị tướng cầm một đao tiến thẳng vào trận. Dùng đúng thì một trận thành công; dùng sai, không biết dừng, có thể gây họa.
Vì vậy, có thể dùng một lần nhưng không nên cứ dùng lặp lại. Nếu sau khi phát hãn mà bệnh chưa giải, nên thay bằng Quế chi thang.
Đây là phương thuốc phát hãn mạnh hàng đầu của Trọng Cảnh để khai biểu, trục tà.
Thầy thuốc kém không biết sức mạnh của phép dùng này nằm ở việc uống thuốc rồi đắp giữ ấm để ra mồ hôi. Nếu không đắp giữ ấm, tác dụng không mạnh như vậy; vì thế họ cho rằng Ma hoàng chỉ có thể phát biểu, không chữa bệnh khác.
Họ không biết rằng phối hợp phương này với Quế chi thang, gọi là Quế chi Ma hoàng các bán thang, dùng để điều hòa rét nóng còn lưu luyến chưa hết trong bệnh Thái dương.
Bỏ Hạnh nhân, thêm Thạch cao, phối hợp với Quế chi thang, gọi là Quế chi nhị Việt tỳ nhất thang, dùng để giải chứng Thái dương nóng nhiều, lạnh ít.
Nếu dương thịnh ở trong, không ra mồ hôi mà suyễn, lại có Ma hoàng Hạnh nhân Cam thảo Thạch cao thang để giải tán tà ở phế thuộc Thái âm.
Nếu âm hàn thịnh ở trong mà không ra mồ hôi, lại có các phép phối hợp Ma hoàng với Phụ tử, Tế tân, Cam thảo để ôn tán hàn ở thận thuộc Thiếu âm.
Kim quỹ yếu lược dùng phương này bỏ Quế chi; Thiên kim phương dùng phương này thay Quế chi bằng Quế. Đều gọi là Hoàn hồn thang, dùng chữa tà ở Thái âm, đột ngột ngã quỵ, quyết lạnh, miệng cấm, hơi thở ngừng; thuốc xuống họng thì phát huy tác dụng. Những phép dùng ấy đều không đắp giữ ấm để lấy mồ hôi.
Từ đó biết rằng sức công mạnh hay nhẹ của Ma hoàng thang có liên quan đến việc đắp giữ ấm hay không. Đó là tâm pháp dùng phương của Trọng Cảnh, không dễ hiểu thấu.
TẬP GIẢI
Vương Khẳng Đường nói:
Phương này lập ra cho người nguyên khí không hư.
Nếu kiêm tà khí thời tiết thì thích hợp với Thập thần thang; kiêm thử thấp thì thích hợp với Chính khí thang; kiêm hàn thì thích hợp với Ngũ tích tán; kiêm nhiệt thì thích hợp với Thông thánh tán; kiêm thực tích thì thích hợp với Dưỡng vị thang; kiêm đàm thì thích hợp với Khung tô tán.
LỜI ÁN
Ý kiến của Vương Khẳng Đường quả có chỗ thích đáng. Tuy nhiên, phải là chứng kiêm cả biểu lý, nguyên nhân tà khí phức tạp, giống thương hàn mà không phải chứng thương hàn thuần túy, mới cân nhắc lựa chọn trong các phương ấy.
Nếu mạch và chứng phù hợp với Ma hoàng thang hoặc Quế chi thang, tự nhiên phải theo phép của Trọng Cảnh.
Ngay cả người nguyên khí vốn hư hoặc bình thường có nhiệt, không thích hợp với Ma hoàng, Quế chi, cũng phải theo cách của Lưu Hoàn Tố và Trương Khiết Cổ, từ từ điều chỉnh, theo dõi, mới tránh làm hại người bệnh.
Thầy thuốc khi gặp bệnh phải xét kỹ.
TẬP GIẢI TIẾP
Ngô Thụ nói:
Phàm thương hàn, hàn tà ở biểu đóng kín tấu lý, thân đau, co cứng, sợ lạnh, không ra mồ hôi, phải dùng thuốc cay đắng như Ma hoàng để khai mở tấu lý, trục hàn tà, khiến ra mồ hôi mà giải.
Riêng lúc mùa hè nóng bức, dù có chứng ấy, theo ý kiến của ông vẫn nên phối hợp thuốc mát mới dùng, như Phòng phong thông thánh tán hoặc Tam hoàng thạch cao thang.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn ngày đầu, Thái dương chịu tà. Nếu mạch yên thì bệnh không truyền. Nếu hơi muốn nôn, hoặc phiền táo, mạch sác cấp, thì bệnh đang truyền.
CHÚ GIẢI
Thương hàn ngày đầu, Thái dương chịu tà, mạch thường phù khẩn. Dù đã phát hãn hay chưa phát hãn, nếu mạch yên, không có biến động thêm, thì bệnh không truyền.
Lúc mới bệnh có thể nôn, nôn chưa dứt, còn muốn nôn; nếu kèm phiền táo, mạch sác cấp, thì ngoại tà chưa giải, nội nhiệt đã thành, bệnh thế đang muốn truyền vào trong.
Nên dùng Đại thanh long thang để phát biểu, giải nhiệt, chặn bớt bệnh thế. Nếu cả biểu và lý đều có nhiệt chứng, thì dùng Song giải thang để cùng giải.
TẬP CHÚ
Thẩm Minh Tông nói:
Điều này dựa vào mạch và chứng để biết tà có truyền hay không.
Mạch phù khẩn là mạch thường gặp của bệnh Thái dương. Nếu mạch giữ yên ở trạng thái ấy thì chưa truyền sang kinh khác.
Nếu hơi muốn nôn, hoặc phiền táo, mạch sác cấp, thì xu hướng của tà đã rõ là đi vào lý, có thể truyền kinh mà thành bệnh.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn ngày thứ hai, thứ ba, không thấy chứng Dương minh và Thiếu dương, là bệnh không truyền.
CHÚ GIẢI
Theo cách trình bày thường lệ, thương hàn ngày thứ hai Dương minh chịu tà, ngày thứ ba Thiếu dương chịu tà.
Nếu đến ngày thứ hai, thứ ba mà không thấy chứng Dương minh như không sợ lạnh, trái lại sợ nóng, thân nóng, tâm phiền, khát, không ngủ; cũng không thấy chứng Thiếu dương như rét nóng qua lại, ngực sườn đầy, hay nôn, miệng đắng, tai nghe kém, thì tà Thái dương nhẹ, nhiệt ít, chưa truyền vào Dương minh hoặc Thiếu dương.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói:
Thương hàn một hai ngày ở Thái dương; hai ba ngày ở Dương minh; ba bốn ngày ở Thiếu dương; bốn năm ngày ở Thái âm; năm sáu ngày ở Thiếu âm; sáu bảy ngày ở Quyết âm. Đây chỉ nói về diễn biến thường lệ.
Trong thực tế, biến chứng không chỉ có một cách. Có bệnh chỉ ở một kinh mà không truyền; có bệnh truyền vượt kinh; có bệnh truyền một hai kinh rồi dừng; có bệnh phát ở dương rồi vào ngay Thiếu âm; có bệnh trực trúng ba âm; có bệnh tà nhiệt uất ở kinh chân rồi truyền sang kinh tay; có bệnh do dùng thuốc sai mà truyền biến.
Nhìn chung, nhiệt tà thừa lúc kinh hư thì truyền; nếu kinh khí vững thì không nhận tà, bệnh không truyền. Dương tà thắng thì truyền; âm tà thắng thường không truyền.
Vì vậy, kinh văn nói mạch yên thì không truyền, mạch sác cấp thì đang muốn truyền.
Ông lại nói:
Kinh chân từ chân đi lên ngực, bụng, đầu, lưng, liên quan đến những phần lớn của toàn thân. Hàn tà vào thì biểu hiện ngay ở kinh ấy.
Kinh tay chỉ vận hành giữa ngực và tay, không bao quát những phần lớn của toàn thân như kinh chân.
Tà đã vào kinh chân cũng có thể truyền vào kinh tay. Vì vậy, người cảm phong hàn nặng không chỉ đau đầu gáy mà vai, lưng, khuỷu và các khớp cũng đau.
Cổ nhân nói kinh chân mà không nói kinh tay là vì nói kinh chân có thể bao hàm kinh tay, còn nói kinh tay không bao hàm hết kinh chân; không phải tà không truyền sang kinh tay.
Năm tạng, sáu phủ, mười hai kinh có khí vận chuyển qua lại, lạc mạch thông nhau. Sao có thể chỉ truyền kinh chân mà không truyền kinh tay, chỉ tổn thương kinh chân mà không tổn thương kinh tay?
Ngu Thiên Dân nói nhiệt trước vào kinh tay, hàn trước vào kinh chân; ý nghĩa ấy cũng có thể tham khảo để hiểu bổ sung.
Trình Ứng Mao nói:
Việc chia thương hàn thành sáu kinh là căn cứ vào nông sâu mà xác định phạm vi bệnh.
Da thuộc phạm vi Thái dương nên gọi là Thái dương; cơ nhục thuộc phạm vi Dương minh nên gọi là Dương minh; cân mạc thuộc phạm vi Thiếu dương nên gọi là Thiếu dương.
Vì vậy, Hoa Đà nói thương hàn ngày đầu ở bì, ngày thứ hai ở phu, ngày thứ ba ở cơ, ngày thứ tư ở ngực, ngày thứ năm ở bụng, ngày thứ sáu vào vị. Đó là mô tả khái quát mức độ nông sâu trong thân thể, không đặt tên Thái dương, Dương minh.
Như vậy, Trọng Cảnh phân Thái dương, Dương minh cũng là xác lập phạm vi để nhận định bệnh.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù, bệnh ở biểu, có thể phát hãn, thích hợp với Ma hoàng thang.
Mạch phù mà sác, có thể phát hãn, thích hợp với Ma hoàng thang.
CHÚ GIẢI
Thương hàn có mạch phù khẩn, Ma hoàng thang đúng là phương chủ trị.
Nay mạch phù hoặc phù sác, dường như không hoàn toàn nằm trong những trường hợp phát hãn thông thường. Nhưng nếu xét chứng trạng đều là thương hàn không có mồ hôi, thuộc biểu thực, thì có thể không câu nệ riêng mạch mà dựa vào chứng, vẫn dùng Ma hoàng thang để phát hãn.
Kinh văn không nói dứt khoát “Ma hoàng thang chủ trị”, mà đều nói “có thể phát hãn”, cho thấy có ý phải cân nhắc, xét lựa.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Mạch thương hàn vốn khẩn. Nay không khẩn mà phù, có thể biết tà đang trở ra biểu, muốn tán đi. Phát hãn là giúp tà thoát ra; Ma hoàng thang thuận theo xu hướng muốn tán ấy để đưa tà ra ngoài.
Hoặc mạch phù sác, là thương hàn đang muốn truyền, nhưng vẫn thích hợp với Ma hoàng thang phát hãn, vì nhân lúc mạch còn phù, tà còn hướng về biểu, giải tán để không cho bệnh truyền vào trong.
Trình Ứng Mao nói:
Ma hoàng thang là phương chủ trị hàn thương dinh, nhưng vẫn phải đối chiếu mạch với chứng, không nên câu nệ rằng chỉ có chữ “khẩn” mới đúng phép.
Mạch phù mà không khẩn, dường như chưa đủ căn cứ phát hãn; nhưng nếu từng chứng đều phù hợp với hàn thương dinh ở biểu, không có mồ hôi, thì có thể phát hãn, dùng Ma hoàng thang.
Nếu mạch phù sác, tà thế muốn truyền vào lý, cũng phải xét kỹ mạch cùng chứng. Không có mồ hôi, còn biểu chứng thích hợp, thì vẫn có thể dùng Ma hoàng thang phát hãn.
Từ hai trường hợp ấy mà đối chiếu, nếu mạch phù khẩn, chứng thương hàn đầy đủ, cả mạch và chứng đều phù hợp, thì không có lý do nhất loạt cấm Ma hoàng thang.
Lưu Hoành Bích nói:
Chỉ có mạch phù mà không khẩn, làm sao biết biểu hàn thuộc thực? Phải có chứng không ra mồ hôi mới có thể phát hãn.
Mạch sác, làm sao biết tà chưa vào lý? Vì mạch còn kiêm phù nên có thể phát hãn.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, ngoại chứng chưa giải, mạch phù nhược, nên dùng phép phát hãn để giải, thích hợp với Quế chi thang.
CHÚ GIẢI
“Bệnh Thái dương, ngoại chứng chưa giải” nghĩa là biểu chứng Thái dương chưa giải.
Nếu mạch phù khẩn thì là ngoại chứng thương hàn chưa giải. Nay mạch phù nhược thì là ngoại chứng trúng phong chưa giải, nên dùng Quế chi thang để phát hãn, giải biểu.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
“Ngoại chứng chưa giải” là đau đầu, gáy cứng, sợ lạnh và những chứng tương tự vẫn còn.
Phù nhược tức dương phù mà âm nhược. Điều này nói bệnh Thái dương chưa truyền biến thì vẫn phải giải biểu, đồng thời nghiêm răn không được hạ sớm.
Trình Tri nói:
Ngoại chứng chưa giải, mạch phù nhược, dù bệnh đã kéo dài vẫn phải dùng phép phát hãn để giải.
Tuy nhiên, chỉ thích hợp với phép giải cơ của Quế chi thang, không được dùng nhầm phương làm ra mồ hôi quá nhiều. Càng không được hạ sai.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi phát hãn bệnh đã giải, khoảng nửa ngày lại phiền, mạch phù sác, có thể phát hãn thêm, thích hợp với Quế chi thang.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, uống Ma hoàng thang để phát hãn; sau khi ra mồ hôi, nhiệt lui, thân mát, bệnh đã giải.
Khoảng nửa ngày lại phiền nhiệt, mạch phù sác, là biểu tà chưa lui hết, lại tụ lại. Có thể phát hãn thêm.
Không dùng Ma hoàng thang vì tân dịch đã bị lần phát hãn trước làm tổn thương, không chịu được Ma hoàng lần nữa. Vì vậy, dùng Quế chi thang để giải phần tà còn lại.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
“Thương hàn phát hãn” nghĩa là dùng Ma hoàng thang để phát hãn. “Giải” là tà tán đi; “lại” là xuất hiện trở lại.
Đã giải khoảng nửa ngày, vì sao lại tái phát? Có thể do phát hãn chưa đúng phép hoặc sau khi ra mồ hôi không giữ gìn, lại gặp phong hàn, nên phiền nhiệt trở lại, mạch chuyển phù sác.
Vì vậy, nói có thể phát hãn thêm. Chữ “canh” còn có ý thay đổi, tức đổi phép trước, nên nói thích hợp với Quế chi thang.
Dụ Xương nói:
Dùng Quế chi thang, một là vì tà lại phạm vệ, hai là vì dinh đã hư, không thể chịu Ma hoàng thêm lần nữa.
Trình Ứng Mao nói:
Đổi phép phát hãn trước thành phép giải cơ, nên dù dùng Quế chi cũng không phải phạm điều cấm dùng Quế chi trong thương hàn.
Uông Hổ nói:
Theo phép Trọng Cảnh, mạch phù sác có thể phát hãn, dùng Ma hoàng thang. Nhưng điều này đã từng dùng Ma hoàng thang rồi, nên phải đổi phương để giải biểu, dùng Quế chi thang.
ĐIỀU VĂN
Sau khi phát hãn, bệnh không giải, trái lại sợ lạnh, là do hư; Thược dược Cam thảo Phụ tử thang chủ trị.
LỜI ÁN
Chữ “không” trong câu “phát hãn, bệnh không giải” đáng lẽ là chữ thừa.
Nếu phát hãn mà bệnh chưa giải thì vẫn sợ lạnh là điều thường gặp. Nay nói “trái lại sợ lạnh” chính là ý bệnh đã giải mà vẫn sợ lạnh. Bệnh đã giải, còn sợ lạnh, mới gọi là hư.
Đây là ý kiến hiệu đính của người chú giải, khác với câu điều văn được chép ở trên.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, phát hãn mà bệnh chưa giải thì vẫn có thể sợ lạnh. Đó không phải biểu hư, mà là biểu tà còn chưa giải, vẫn phải xét phép giải biểu.
Nay đã phát hãn, mồ hôi ra, bệnh đã giải, đáng lẽ không còn sợ lạnh. Trái lại vẫn sợ lạnh thì không phải do biểu tà, mà do dương hư, không thể bảo vệ bên ngoài.
Vì vậy, dùng Thược dược Cam thảo Phụ tử thang chủ trị.
Dùng Phụ tử để phù dương, Thược dược để bổ âm, Cam thảo hỗ trợ hai vị ấy bổ âm dương, điều hòa dinh vệ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Chưa phát hãn mà sợ lạnh là tà thịnh, biểu thực. Đã phát hãn mà còn sợ lạnh là tà lui, biểu hư.
Sau khi ra mồ hôi, đại tà đã tán, dinh khí suy, vệ khí lỏng yếu, chỉ còn sợ lạnh, nên nói là hư.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các cách chọn phương và diễn giải bệnh truyền theo ngày ở trên là quan điểm của cổ văn và chú gia, không phải lịch diễn biến cố định. Những đoạn nói về Hoàn hồn thang chữa ngừng thở được giữ để nghiên cứu lịch sử, không dùng thay biện pháp cấp cứu hiện đại.
Trường Xuân biên soạn
THƯỢC DƯỢC CAM THẢO PHỤ TỬ THANG
Thược dược ba lượng (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), Cam thảo chích hai lượng (6 gam), Phụ tử một củ, bào chế, bỏ vỏ, chia thành tám miếng (không có số gam tương đương cố định vì kích thước củ khác nhau).
Ba vị trên, dùng năm thăng nước, sắc lấy một thăng năm hợp, bỏ bã, chia uống ấm.
Ghi chú cân lượng: Số gam trong ngoặc dùng để tham khảo, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ. Bản này ghi Cam thảo hai lượng; nhiều bản phương khác ghi ba lượng. Ở đây giữ nguyên lượng của bản gửi, không tự sửa.
TẬP GIẢI
Trình Ứng Mao nói:
Phép phát hãn trong thương hàn vốn được lập ra để trừ hàn. Nếu biểu đã giải mà so với trước lại càng sợ lạnh, thì có thể biết không còn do biểu tà.
Do mồ hôi thoát ra ngoài khiến biểu trở nên hư, nên dùng Thược dược Cam thảo Phụ tử thang chủ trị.
Thược dược phối hợp với Quế chi thì phát biểu; phối hợp với Phụ tử thì bổ biểu. Cam thảo hòa trung, tác động từ âm phận để thu giữ dương khí. Dương khí trở lại thì tình trạng hư được phục hồi.
ĐIỀU VĂN
Sau khi phát hãn mà sợ lạnh là do hư. Không sợ lạnh, chỉ còn nóng là thực; nên điều hòa vị khí, dùng Điều vị thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, sau khi phát hãn, mồ hôi ra, bệnh giải, phải không còn sợ lạnh cũng không còn sợ nóng mới có thể xem là khỏi.
Nếu sau khi phát hãn vẫn sợ lạnh thì thuộc dương hư, thích hợp với Thược dược Cam thảo Phụ tử thang.
Nay sau khi phát hãn không sợ lạnh, chỉ sợ nóng, thì thuộc vị thực. Vì vậy, dùng Điều vị thừa khí thang để tả nhiệt, điều hòa vị.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Sau khi phát hãn không sợ lạnh, cho thấy biểu khí còn vững.
Chỉ còn nóng là do tân dịch hao tổn, trong vị khô, nên gọi là thực. Phải điều hòa vị khí vì khô táo ở vị đã thành thực.
Vì vậy, dùng Điều vị thừa khí thang để tả thực; Cam thảo có ý nghĩa điều hòa trong khi công hạ.
Trình Tri nói:
Sau khi ra mồ hôi mà sợ lạnh là dinh vệ đều hư. Sau khi ra mồ hôi không sợ lạnh, chỉ phát nhiệt là tân dịch khô, vị thành thực, nên có phép điều vị, thông tân dịch.
Tuy nhiên, các chữ “nên” và “dùng” cho thấy phải cân nhắc kỹ, không chịu công hạ bừa để làm tân dịch thêm hư tổn.
ĐIỀU VỊ THỪA KHÍ THANG
Phương thuốc xem ở thiên Dương minh.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù khẩn, theo lẽ thường thân phải đau, nên dùng phép phát hãn để giải. Nếu mạch ở bộ xích trì thì không được phát hãn.
Làm sao biết? Vì dinh khí không đủ, huyết ít.
CHÚ GIẢI
Mạch phù khẩn là mạch hàn thương dinh; thân đau là chứng hàn thương dinh.
Mạch và chứng đều thuộc thực tà ở biểu thì nên phát hãn, thích hợp với Ma hoàng thang.
Nhưng nếu mạch thốn và quan phù khẩn, riêng bộ xích trì, thì không được phát hãn. Vì sao? Vì người ấy vốn dinh khí không đủ, huyết ít.
Từ đó biết rằng nếu mạch âm dương không cùng khẩn thì không được tùy tiện phát hãn.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Bộ xích dùng để xét phần âm; trì biểu hiện bất túc. Dinh chủ huyết, mồ hôi là dịch của huyết. Bộ xích trì không thích hợp phát hãn vì e làm huyết thêm hao tổn.
Trương Lộ nói:
Mạch bộ xích trì thì không được dùng Ma hoàng để phát hãn; nên nhiều lần dùng Tiểu kiến trung thang để điều hòa.
Nếu điều hòa mà tà giải thì không cần phát hãn. Nếu chưa giải, có thể tiếp tục dùng phương ấy, rồi đắp giữ ấm để lấy mồ hôi.
ĐIỀU VĂN
Sau khi phát hãn, thân đau, mạch trầm trì: Quế chi gia Thược dược, Sinh khương mỗi vị một lượng, Nhân sâm hai lượng, Tân gia thang chủ trị.
Ghi chú cân lượng: Theo đúng câu trong bản gửi, thêm Thược dược một lượng (tham khảo 3 gam), Sinh khương một lượng (3 gam), Nhân sâm hai lượng (6 gam). Tuy nhiên, bản Tống thông hành ghi Nhân sâm ba lượng; lời Dụ Xương bên dưới cũng ghi ba lượng. Sự khác biệt này được giữ rõ, không sửa ngầm trong điều văn. yibian.hopto.org
CHÚ GIẢI
Sau khi phát hãn, thân đau, mạch phù khẩn hoặc phù sác là phát hãn chưa hết, biểu tà chưa được giải hoàn toàn; vẫn phải xét phép giải biểu, thích hợp với Quế chi thang.
Nay sau khi phát hãn, tuy thân còn đau nhưng mạch trầm trì, là dinh vệ hư hàn. Vì vậy, thích hợp với Quế chi tân gia thang để ôn bổ dinh vệ.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói:
Biểu tà thịnh thì thân đau; huyết hư cũng có thể thân đau.
Mạch phù khẩn là tà thịnh; mạch trầm trì là huyết hư.
Thịnh thì giảm bớt để được yên; hư thì bổ thêm để được khỏi.
Dụ Xương nói:
Mạch trầm trì ở đây là cả sáu bộ đều như vậy, khác rất nhiều với chỉ riêng bộ xích trì.
Bộ xích trì là vốn hư từ trước; ở đây là do phát hãn mà thành hư.
Vì vậy, trong phương Quế chi thang, tăng Thược dược và Sinh khương mỗi vị một lượng để trừ tà, thêm Nhân sâm ba lượng để bổ chính.
Gọi là Tân gia thang để làm rõ đây không phải phép dùng cũ của Quế chi thang.
Ghi chú: Theo lời chú này, Thược dược và Sinh khương mỗi vị tăng từ ba lên bốn lượng; không phải tăng gấp đôi. Nhân sâm được ghi ba lượng, khác với hai lượng ở điều văn của bản gửi.
Uông Hổ nói:
Thân đau, mạch trầm trì, làm sao biết không phải chứng trúng hàn?
Phải biết đây là bệnh Thái dương thương hàn, sau khi phát hãn thân vẫn đau không dứt, mạch chuyển thành trầm trì; khác với trúng hàn.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Phụ tử phải là dược liệu đã bào chế; lượng dùng và cách sắc cần do thầy thuốc xác định. Các chỉ dẫn phát hãn và chọn phương ở trên được giữ theo cổ văn để nghiên cứu.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI TÂN GIA THANG
Quế chi một lượng (tham khảo theo lượng ghi trong bản này: 3 gam), Thược dược bốn lượng (12 gam), Cam thảo hai lượng (6 gam), Nhân sâm ba lượng (9 gam), Sinh khương thái lát, bốn lượng (12 gam), Đại táo bổ đôi, mười hai quả.
Ghi chú cân lượng: Bản gửi ghi Quế chi một lượng, khác với bản thông hành ghi ba lượng. Ở đây giữ nguyên bản gửi; các số gam là lượng tham khảo theo cách chú giải đang dùng, không phải khối lượng quy đổi tuyệt đối của đơn vị cổ. Đại táo giữ số quả vì kích thước và khối lượng không đồng nhất.
Sáu vị trên, dùng một đấu hai thăng nước, sắc lửa nhỏ lấy ba thăng, bỏ bã, chia uống ấm; cách điều dưỡng theo phép dùng Quế chi thang.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này là Quế chi thang tăng lượng Thược dược, Sinh khương và thêm Nhân sâm.
Sau khi ra mồ hôi mà thân đau là dinh vệ hư, không điều hòa. Vì vậy, dùng Quế chi thang để điều hòa dinh vệ.
Tăng Sinh khương vì mạch trầm trì cho thấy trong dinh có hàn. Tăng Thược dược vì dinh không đủ, huyết ít. Thêm Nhân sâm để bổ các tình trạng hư.
Quế chi phối hợp với Nhân sâm khiến đại khí vận hành khắp thân, khí huyết đầy đủ, toàn bộ cơ thể được điều hòa.
Nhân sâm phối hợp với Quế chi, thông bên trong, liên hệ bên ngoài, bổ dinh âm, ích vệ dương; theo lời phương giải, chứng biểu hư, thân đau nhờ đó được chữa khỏi.
Ghi chú văn bản: Nguyên văn dùng chữ “倍”, nghĩa đen là tăng gấp đôi. Tuy nhiên, Thược dược và Sinh khương trong phương ghi bốn lượng, so với ba lượng của Quế chi thang chỉ tăng thêm một lượng. Vì vậy, bản dịch dùng “tăng lượng”, không hiểu thành gấp đôi.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh phát nhiệt, đau đầu, mạch trái lại trầm. Nếu bệnh không khỏi, thân đau, thì phải ôn lý, thích hợp với Tứ nghịch thang.
LỜI ÁN
Sau câu “thân đau”, phải có bốn chữ “hạ lợi thanh cốc”, tức tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, mới phù hợp với câu “phải ôn lý”.
Xét thiên Thái âm có câu: “Thương hàn, thầy thuốc dùng phép hạ, sau đó tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu không ngừng, thân đau, phải khẩn cấp cứu lý, thích hợp với Tứ nghịch thang.”
Trường hợp này tuy chưa dùng phép hạ, nhưng mạch trái lại trầm, có thể biết lý hàn. Theo người chú giải, đây hẳn là chỗ văn bản bị khuyết.
CHÚ GIẢI
Phát nhiệt, đau đầu là biểu chứng Thái dương. Mạch đáng lẽ phù, nay trái lại trầm, tức có biểu chứng Thái dương mà lại thấy lý mạch Thiếu âm.
Phàm bệnh Thái dương và Thiếu âm, biểu lý đều hàn, không ra mồ hôi, thì dùng Ma hoàng Phụ tử Tế tân thang để phát hãn, giải tà.
Nếu chưa khỏi nhưng không tiêu chảy, thì dùng tiếp Ma hoàng Phụ tử Cam thảo thang để điều hòa.
Nếu tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, dù vẫn có thân đau, biểu chưa giải, cũng không được tiếp tục phát hãn; phải ôn lý, thích hợp với Tứ nghịch thang.
Mục đích là phòng dương khí suy, bệnh chuyển theo âm hóa, biến thành quyết lạnh, run sợ, vong dương.
Không thể chỉ vì bệnh được gọi là Thái dương mà cho rằng không có lý do dùng phép ôn.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Việc bổ sung “hạ lợi thanh cốc” là ý kiến hiệu đính của chú gia, không phải chữ có sẵn trong điều văn bản gửi. Các phương có Phụ tử nêu trên cần được thầy thuốc xác định chỉ định, liều lượng và cách sắc.
Trường Xuân biên soạn
TỨ NGHỊCH THANG
Phương thuốc xem ở thiên Thiếu âm.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi dùng phép thổ hoặc phép hạ, đến ngày thứ bảy, thứ tám vẫn chưa giải, nhiệt kết ở lý, biểu lý đều nóng, thỉnh thoảng sợ gió, khát nhiều, lưỡi khô, tâm phiền, muốn uống vài thăng nước: Bạch hổ gia Nhân sâm thang chủ trị.
Ghi chú lượng nước: “Vài thăng” mô tả mức độ muốn uống nước trong điều văn, không phải lượng nước được chỉ định phải uống.
LỜI ÁN
Sau hai chữ “thương hàn”, đáng lẽ phải có thêm hai chữ “hoặc hãn”, vì phát hãn thường làm tổn thương tân dịch nhiều hơn thổ hoặc hạ.
“Thỉnh thoảng sợ gió” đáng lẽ phải là “có lúc ra mồ hôi, sợ gió”. Nếu không có chữ “mồ hôi”, thì thỉnh thoảng sợ gió là biểu chưa giải, thuộc trường hợp kiêng dùng Bạch hổ thang.
Trong luận có nói: “Phát nhiệt, không ra mồ hôi, biểu chưa giải thì không được dùng Bạch hổ thang”; lại nói: “Khát muốn uống nước, không có biểu chứng thì Bạch hổ gia Nhân sâm thang chủ trị.”
Người đọc xét kỹ kinh văn sẽ tự hiểu.
Ghi chú văn bản: Việc thêm “hoặc hãn” và đổi “thỉnh thoảng sợ gió” thành “có lúc ra mồ hôi, sợ gió” là ý kiến hiệu đính của chú gia, không phải chữ có sẵn trong điều văn bản gửi.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, sau khi phát hãn, dùng phép thổ hoặc phép hạ, đến ngày thứ bảy, thứ tám vẫn chưa giải, khiến nhiệt kết ở lý.
Có lúc ra mồ hôi, sợ gió là nhiệt ở phần ngoài chưa giải. Khát nhiều, lưỡi khô, tâm phiền, muốn uống vài thăng nước là nhiệt kết ở lý đã biểu hiện rõ.
Vì vậy, nói biểu lý đều nóng, thích hợp với Bạch hổ gia Nhân sâm thang.
Bạch hổ thang có thể giải nhiệt ở cơ biểu bên ngoài, thanh lý nhiệt bên trong. Thêm Nhân sâm vì sau hãn, thổ, hạ, tân dịch hao tổn, khí suy yếu; dùng Nhân sâm để ích khí, sinh tân.
LỜI ÁN
Đại thanh long thang chữa chứng Thái dương biểu lý đều nóng, phần biểu nhiều, phần lý ít, nên không khát.
Bạch hổ thang chữa chứng Dương minh biểu lý đều nóng, phần lý nhiều, phần ngoài ít, nên khát nhiều.
Nay khát nhiều, khô táo, tâm phiền, có lúc ra mồ hôi và sợ gió, là nhiệt ở Dương minh lại kiêm Thái dương.
Dùng Bạch hổ thang vì chứng lý nhiệt Dương minh nhiều, chứng nhiệt ở ngoài thuộc Thái dương ít.
Nếu không ra mồ hôi, chỉ hơi khát, thì biểu chứng Thái dương chiếm phần nhiều. Dù biểu lý đều có đại nhiệt, theo cách phân biệt của chú gia vẫn phải dùng Đại thanh long thang.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói:
Xét nguyên văn điều này: “Nhiệt kết ở lý, biểu lý đều nóng”, đã có ý cân nhắc rõ ràng.
Chính vì nhiệt kết ở lý nên nhiệt bên ngoài không lui. Huống chi lại khát nhiều, muốn uống nước, sao có thể không lấy thanh nhiệt làm việc cấp thiết?
Trình Tri nói:
“Biểu nhiệt” ở đây là thân nóng; “lý nhiệt” là nhiệt bên trong.
Sau hãn, thổ, hạ mà bệnh chưa giải, tà khí thừa lúc hư kết thành lý nhiệt. Chính vì nhiệt kết ở lý nên thân nóng không lui, lại có sợ gió.
Khát nhiều, muốn uống nước là lý nhiệt rất thịnh, sao có thể không dùng Bạch hổ thang để khẩn cấp giải nhiệt?
Thạch cao cay lạnh, có thể thanh lý nhiệt, đồng thời giải tán nhiệt bên ngoài. Vì bệnh xuất hiện sau hãn, thổ, hạ nên phải thêm Nhân sâm để bảo vệ chính khí.
Uông Hổ nói:
Dùng Bạch hổ thang thêm Nhân sâm để phù chính khí, đồng thời giải trừ tà nhiệt bên trong và bên ngoài.
Theo ý kiến của ông, phương này thích hợp khi chính khí hư mà tà khí tương đối nhẹ; nếu tà khí quá mạnh thì không được tùy tiện thêm Nhân sâm.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Biểu nhiệt” trong lời Trình Tri được giải thích là thân nóng, không đồng nghĩa với biểu chứng phong hàn chưa giải. Nhận định của Uông Hổ về việc thêm Nhân sâm là ý kiến riêng của chú gia, được giữ nguyên để đối chiếu.
Trường Xuân biên soạn
BẠCH HỔ GIA NHÂN SÂM THANG
Phương thuốc xem ở thiên Dương minh.
ĐIỀU VĂN
Sau khi phát hãn, mạch phù sác, tâm phiền, khát: Ngũ linh tán chủ trị.
LỜI ÁN
Sau câu “mạch phù sác”, đáng lẽ phải có thêm bốn chữ “tiểu tiện bất lợi”.
Nếu không có những chữ ấy thì tâm phiền, khát do nội nhiệt Dương minh làm miệng khô, thuộc chứng Bạch hổ thang.
Có tiểu tiện bất lợi kèm tâm phiền, khát thì thuộc thủy và nhiệt ứ kết ở Thái dương, là chứng Ngũ linh tán.
Huống chi, không có chứng tiểu tiện bất lợi mà dùng Ngũ linh tán thì có thể phạm điều kiêng làm tân dịch thêm hao kiệt.
Trong thượng thiên Thái dương có nhiều điều tương tự. Riêng điều nói uống nước vào liền nôn, nước không đi xuống, nên không ghi rõ tiểu tiện bất lợi. Điều này đáng lẽ phải có bốn chữ “tiểu tiện bất lợi”.
Ghi chú văn bản: Việc bổ sung “tiểu tiện bất lợi” là ý kiến hiệu đính của người chú giải, không phải chữ có sẵn trong điều văn bản gửi.
CHÚ GIẢI
“Sau khi phát hãn” nghĩa là bệnh Thái dương đã được dùng phép phát hãn.
Mạch phù sác cho biết tà vẫn còn ở biểu.
Nếu tiểu tiện thông lợi mà tâm phiền, khát thì nhiệt mới vào vị thuộc Dương minh, là chứng Bạch hổ thang.
Nay tiểu tiện bất lợi mà tâm phiền, khát là bệnh ở phủ Thái dương, thủy tích ở bàng quang, thuộc chứng Ngũ linh tán.
Vì vậy, dùng Ngũ linh tán, uống theo đúng phép, bên ngoài sơ giải, bên trong lợi thủy, khiến biểu lý đều được giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Chữ “đã” chỉ việc phát hãn đã thực hiện xong, không có nghĩa biểu bệnh đã hết.
Tâm phiền, khát là do thủy tích ở bàng quang, không hóa thành tân dịch, nên dùng bốn vị lợi thủy để thông lợi.
Mạch phù sác là biểu tà chưa trừ, nên nhờ một vị Quế để điều hòa. Vì vậy, nói Ngũ linh tán có thể cùng giải biểu lý.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, ra mồ hôi mà khát: Ngũ linh tán chủ trị. Không khát: Phục linh Cam thảo thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này làm rõ thêm điều trên, phân biệt trường hợp khát mà không phiền, hoặc phiền mà không khát, để lựa chọn phép chữa.
Thương hàn, sau khi phát hãn, mạch phù sác, ra mồ hôi, tâm phiền, khát, tiểu tiện bất lợi, thì Ngũ linh tán chủ trị. Nay chỉ nói “ra mồ hôi” là cách viết lược.
Khát mà không phiền là thủy ẩm nhiều hơn nhiệt, nên cũng dùng Ngũ linh tán, lợi thủy để giúp hóa sinh tân dịch.
Nếu không phiền, cũng không khát thì trong lý không có nhiệt. Chỉ có mạch phù sác, ra mồ hôi, tiểu tiện bất lợi là dinh vệ không hòa, nên dùng Phục linh Cam thảo thang để điều hòa phần biểu và lợi thủy.
TẬP CHÚ
Trịnh Trọng Quang nói:
Thương hàn vốn không có mồ hôi; mồ hôi ở đây là do dùng phép phát hãn mà ra.
Điều trên vừa phiền vừa khát; điều này chỉ khát, không phiền, lý chứng nhẹ hơn nhưng phép chữa không khác.
Nếu lại không khát thì bên trong không có khô táo, lý bệnh ít, biểu chứng vẫn nhiều.
Vì vậy, dùng ba vị của Quế chi thang và một vị của Ngũ linh tán, biểu thị ý nghĩa ba phần biểu, một phần lý.
Đổi tên thành Phục linh Cam thảo thang là cách biến chế từ Quế chi thang và Ngũ linh tán.
Ghi chú: “Ba phần biểu, một phần lý” là cách chú gia giải thích cấu trúc phương, không phải tỷ lệ cân lượng thuốc.
Trường Xuân biên soạn
PHỤC LINH CAM THẢO THANG
Phục linh hai lượng (liều tham khảo hiện đại: 6 gam), Quế chi hai lượng (6 gam), Sinh khương thái lát, ba lượng (9 gam), Cam thảo chích một lượng (3 gam).
Bốn vị trên, dùng bốn thăng nước, sắc lấy ba thăng, bỏ bã, chia làm ba lần uống ấm.
Ghi chú cân lượng: Các số gam trong ngoặc là lượng tham khảo theo cách chú giải đang dùng, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ. Lượng nước sắc được giữ theo bản gửi.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này phỏng theo ý nghĩa của Quế chi thang và Ngũ linh tán, giản lược cách phối hợp.
Có biểu chứng mạch phù sác, ra mồ hôi, nên lấy Quế chi làm chủ.
Bỏ Đại táo và Thược dược vì có lý chứng tiểu tiện bất lợi, e tính nê trệ và thu liễm của hai vị làm trở ngại thêm việc tiểu tiện.
So với Ngũ linh tán, bỏ Bạch truật, Trạch tả và Trư linh, vì không khát, không phiền, thủy ẩm bên trong không nhiều; chỉ cần tiểu tiện thông lợi là có thể khỏi. Nếu dùng quá nhiều thuốc táo thấp, thẩm lợi, e làm tổn thương âm.
TẬP GIẢI
Uông Hổ nói:
Ngũ linh tán và Phục linh Cam thảo thang đều là phương chữa bệnh đồng thời ở tiêu và bản của Thái dương, cùng tác động đến biểu và lý.
Thế nào là tiêu? Là kinh Thái dương. Thế nào là bản? Là phủ bàng quang. Kinh ở biểu, phủ ở lý.
Trong chứng Ngũ linh tán, tà đã vào phủ, biểu chứng còn nhẹ, nên chỉ dùng một vị Quế chi chủ biểu; bốn vị còn lại đều chủ lý.
Trong chứng Phục linh Cam thảo thang, tà vẫn còn ở kinh, lý chứng ít, nên chỉ dùng một vị Phục linh chủ lý; ba vị còn lại đều nhằm điều hòa phần biểu.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù sác, theo phép thường, ra mồ hôi thì khỏi. Nếu dùng phép hạ, khiến thân nặng, tâm quý, thì không được phát hãn; phải đợi tự ra mồ hôi mới giải.
Sở dĩ như vậy là vì mạch bộ xích vi, thuộc lý hư. Phải đợi biểu lý đều được đầy đủ, tân dịch tự điều hòa, rồi tự ra mồ hôi mà khỏi.
CHÚ GIẢI
Thương hàn chưa phát nhiệt, mạch thường phù khẩn, là hàn thịnh. Đã phát nhiệt, mạch thường phù sác, là nhiệt thịnh. Theo cách giải thích này, đều có thể dùng Ma hoàng thang phát hãn để giải.
Nếu không phát hãn mà hạ sai, nhưng chưa thành biến chứng nghịch hoặc hoại bệnh, thì hẳn là người ấy lý khí vốn còn vững.
Nay chỉ thấy thân nặng do biểu tà chưa được giải và tâm quý do hạ sai, thì không được tiếp tục phát hãn. Phải đợi biểu lý tự điều hòa, tự nhiên ra mồ hôi mà giải.
Vì chưa giải biểu nên biểu còn thực; hạ sai khiến lý hư, mạch bộ xích vi. Biểu lý chưa hòa hợp nên bệnh chưa giải ngay.
Phải đợi lý khí cũng phục hồi, cân bằng với biểu. Cân bằng thì điều hòa; điều hòa thì tân dịch âm dương tự hòa hợp, nhờ đó tự ra mồ hôi mà khỏi.
Phép làm cho lý khí phục hồi chính là phép dùng Tiểu kiến trung thang được nêu ở điều dưới.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói:
Đây cũng là phép biến thông: trước kiến trung, sau mới xét phát hãn.
Phải biết Trọng Cảnh nói mạch bộ xích vi thì không được phát hãn; lại nói bộ xích vi thì không được hạ. Đó đều là ý nghĩa sâu xa của việc xét tình trạng tân dịch người bệnh.
Vì vậy, sau khi hạ sai, dù mạch phù sác vẫn không đổi, dường như cần phát hãn gấp, cũng phải xét kỹ mạch bộ xích, không được tùy ý làm ngay.
Trương Lộ nói:
Hạ sai khiến thân nặng, tâm quý, dù mạch vẫn phù sác cũng không được tiếp tục phát hãn.
Nếu mạch bộ xích vi, cho thấy phần âm trong lý vốn hư, càng phải thận trọng.
Mạch phù sác, nhiệt tà đã thịnh, đang có xu hướng ra mồ hôi; nay hạ sai nên thân nặng, tâm quý. Phải dùng Tiểu kiến trung thang điều hòa tân dịch, rồi ra mồ hôi mà khỏi.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn ngày thứ hai, thứ ba, trong lòng hồi hộp mà phiền: Tiểu kiến trung thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn ngày thứ hai, thứ ba, chưa dùng phép hãn hoặc hạ mà đã tâm quý, tâm phiền, hẳn là trung khí người ấy vốn hư. Dù có biểu chứng cũng không được tùy tiện phát hãn.
Tâm quý cho thấy dương đã suy; tâm phiền cho thấy âm đã yếu. Vì vậy, dùng Tiểu kiến trung thang để trước hết củng cố trung tiêu, đồng thời điều hòa dinh vệ.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói:
Thương hàn ngày thứ hai, thứ ba, trong lòng hồi hộp mà phiền thì Tiểu kiến trung thang chủ trị.
Thương hàn có mạch huyền tế thuộc Thiếu dương, không được phát hãn; phát hãn thì có thể gây nói sảng. Vị không hòa thì phiền và hồi hộp.
Nhìn chung, phiền trước rồi hồi hộp là nhiệt; hồi hộp trước rồi phiền là hư. Đó là ý nghĩa của việc chữa bệnh phải tìm đến gốc.
Trình Ứng Mao nói:
Có thể thấy bệnh từ dương chuyển vào âm thường có dấu hiệu báo trước. Người giỏi chữa bệnh phải sớm ngăn chặn khi bệnh chưa phát triển.
Trong lòng hồi hộp mà phiền là lý khí hư, dương bị âm xâm lấn. Kiến trung thang bổ hư, hòa lý, giữ vững trung tiêu, lấy việc nuôi dưỡng khí huyết làm chủ.
Tuy hồi hộp và phiền đều có thể xuất hiện trong chứng Tiểu sài hồ thang, nhưng mới ngày thứ hai, thứ ba, lý chứng chưa chắc đã đầy đủ, nên chưa thích hợp với Tiểu sài hồ thang.
Ngụy Lệ Đồng nói:
Kiến trung là chữa gốc.
Sau khi dùng Kiến trung, nếu xét thấy tà vẫn ở biểu thì vẫn phải phát hãn. Vì trung tiêu đã được củng cố, phát hãn sẽ ít nguy cơ làm dương khí hao thoát.
Nếu xét thấy tà đã truyền vào lý, thuộc chứng cần hạ thì dùng phép hạ. Vì trung tiêu đã được củng cố, công hạ sẽ ít nguy cơ khiến dương khí hãm xuống.
Đó là ý nghĩa của câu: cấp thì chữa tiêu, hoãn thì chữa bản.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các cách phân biệt qua thứ tự xuất hiện của hồi hộp và tâm phiền là nhận định của chú gia, cần đọc trong toàn bộ mạch và chứng, không dùng riêng để kết luận hư hay nhiệt.
Trường Xuân biên soạn
TIỂU KIẾN TRUNG THANG
Quế chi ba lượng (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), Thược dược sáu lượng (18 gam), Cam thảo hai lượng (6 gam), Sinh khương thái lát, ba lượng (9 gam), Giao di — tức Di đường dạng mềm — một thăng (liều tham khảo hiện đại: 30 gam), Đại táo bổ đôi, mười hai quả (tài liệu tham khảo hiện đại dùng 4 quả).
Ghi chú cân lượng: Các lượng trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại của bài phương, không phải phép quy đổi tuyệt đối. Một thăng Di đường không có nghĩa là 30 gam theo đo lường cổ; số 30 gam là lượng dùng được tài liệu phương tễ hiện đại ghi riêng cho phương này. rwzyzs.pmphai.com
Sáu vị trên, dùng bảy thăng nước, sắc lấy ba thăng, bỏ bã, cho Di đường vào, đặt lại trên lửa nhỏ cho tan hết. Uống ấm một thăng, ngày ba lần.
Người thường nôn không được dùng Kiến trung thang, vì phương có vị ngọt.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này là Quế chi thang tăng gấp đôi Thược dược, thêm Di đường.
Gọi là Tiểu kiến trung, nghĩa là nhẹ nhàng củng cố trung khí.
Trung khí tuy hư nhưng phần biểu vẫn chưa điều hòa, nên không dùng phép đại bổ. Vì vậy, vẫn dùng Quế chi thang để điều hòa dinh vệ, tăng gấp đôi Thược dược, thêm Di đường để điều dưỡng, củng cố trung tiêu.
Không húp cháo loãng, không đắp giữ ấm để lấy mồ hôi, vì trọng tâm ở tâm quý do trung hư, không ở biểu chứng thương hàn.
Trung tiêu được củng cố thì dinh vệ tự điều hòa, tân dịch có thể sinh, mồ hôi ra mà bệnh giải, tâm quý và tâm phiền được trừ.
“Người thường nôn không được dùng” nghĩa là người đang mắc chứng nôn không thích hợp với phương này, vì e vị ngọt làm tăng nôn.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch kết đại, tim hồi hộp: Chích cam thảo thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
“Tim hồi hộp” là cảm giác vùng dưới tim đập thình thịch, động liên tục, khiến người bệnh bất an.
Nếu xuất hiện sau phát hãn hoặc công hạ thì phần nhiều thuộc hư. Nếu không do hãn hạ thì phần nhiều thuộc nhiệt. Muốn uống nước, tiểu tiện bất lợi thì thuộc thủy ẩm; quyết lạnh mà tiêu chảy thì thuộc hàn.
Nay bệnh thương hàn, không do hãn hạ mà tim hồi hộp, cũng không có các chứng trạng rõ rệt của thủy ẩm, nhiệt, hàn hoặc hư nói trên. Nhưng căn cứ vào mạch kết đại thuộc loại âm mạch biểu hiện bất túc, vẫn dùng Chích cam thảo thang chủ trị.
Đó là vì người ấy bình thường khí huyết đã suy, không chịu được hàn tà, khiến mạch không thể vận hành liên tục.
Lúc này, dù biểu chứng thương hàn chưa hết, cũng tạm đặt ở thứ yếu. Phải lấy bổ trung, sinh huyết, phục mạch làm việc cấp thiết; lấy thông hành dinh vệ làm chủ.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói:
Mạch đang đập mà giữa chừng ngừng lại, có thể tự trở lại, gọi là kết; không thể tự trở lại ngay, gọi là đại. Đó là do khí huyết hư suy, không thể tiếp nối.
Trình Tri nói:
Điều này lại lập phép biến thông cho trường hợp cần dùng phép bổ.
Nói “thương hàn” thì biết tà khí chưa giải. Tâm chủ huyết; nói “mạch kết đại, tim hồi hộp” thì biết huyết hư, chân khí không tiếp nối.
Vì vậy, phải bổ mạnh phần âm để sinh huyết, đồng thời thông dương để tán hàn. Không có dương thì không thể thu giữ phần âm suy yếu.
Do đó, trong phương dùng ý nghĩa của Quế chi thang bỏ Thược dược, phối hợp với rượu trong.
Nhằm kéo chân khí trở lại khi sắp đứt, đồng thời tránh làm trung tiêu thêm lạnh lúc mạch yếu.
Xét Tiểu kiến trung thang thì biết thương hàn có phương bổ dương; xét Chích cam thảo thang thì biết thương hàn cũng có phép bổ âm.
Trình Ứng Mao nói:
Ở đây lại luận theo mạch. Tà khí lưu kết thì gọi là kết; chính khí hư suy thì gọi là đại.
Thương hàn thấy mạch này, lại thêm tim hồi hộp, là chân khí bên trong hư. Vì vậy, dùng Chích cam thảo thang, lấy ích âm, dưỡng huyết, điều hòa dinh vệ làm chủ.
Ông lại nói:
Biến chứng Thái dương phần nhiều thuộc hao thoát dương; biến chứng Thiếu dương còn có thể kiêm hao tổn âm, vì Thiếu dương và Quyết âm có quan hệ biểu lý, dinh âm bị tổn thương.
Dùng Chích cam thảo thang để điều hòa dinh, nuôi dưỡng âm khí.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các cách giải thích mạch kết, mạch đại ở trên được giữ theo từng chú gia. Trong đoạn này, “đại” là tên mạch có nhịp ngừng, không phải “mạch đại” mang nghĩa mạch lớn. Chứng hồi hộp kèm nhịp tim gián đoạn cần được đánh giá nguyên nhân, không chỉ dựa vào tên mạch để tự dùng Chích cam thảo thang.
Trường Xuân biên soạn
CHÍCH CAM THẢO THANG
Cam thảo chích bốn lượng (liều tham khảo hiện đại: 12 gam), Sinh khương thái lát, ba lượng (9 gam), Quế chi ba lượng (9 gam), Mạch môn đông nửa thăng (10 gam), Ma tử nhân nửa cân theo bản gửi (liều tham khảo hiện đại: 10 gam), Đại táo bổ đôi, mười hai quả, Nhân sâm hai lượng (6 gam), A giao hai lượng (6 gam), Sinh địa hoàng một cân (liều tham khảo hiện đại: 50 gam).
Ghi chú cân lượng: Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi tuyệt đối của đơn vị cổ. Tài liệu của Nhà xuất bản Y tế Nhân dân ghi Ma tử nhân nửa thăng, khác với nửa cân trong bản gửi; Đại táo cũng ghi ba mươi quả, khác với mười hai quả ở đây. Bản dịch giữ rõ những khác biệt ấy. rwzyzs.pmphai.com
Chín vị trên, dùng bảy thăng rượu trong và tám thăng nước, trước sắc tám vị, lấy ba thăng, bỏ bã, cho A giao vào hòa tan hết. Uống ấm một thăng, ngày ba lần.
Tên khác là Phục mạch thang.
TẬP GIẢI
Trương Lộ nói:
Người tân dịch khô kiệt phải phòng tình trạng đại tiện và tiểu tiện khó thông.
Mạch môn đông và Sinh địa hoàng tư dưỡng nguồn hóa sinh tân dịch của bàng quang; Ma tử nhân và A giao nhằm chữa tình trạng đại tràng khô táo, co kết.
Nhờ đó tránh âm hư, nguồn dịch cạn, hỏa táo làm huyết khô. Đây là phép cứu âm, lui dương của Trọng Cảnh.
Kha Cầm nói:
Trọng Cảnh gặp mạch biểu hiện bất túc, nếu âm nhược thì dùng Thược dược để ích âm; nếu dương hư thì dùng Quế chi để thông dương; nặng hơn thì thêm Nhân sâm để sinh mạch, chưa từng dùng Mạch môn đông trong những phép ấy.
Phải chăng phép chữa thương hàn đặt trọng tâm ở phù dương? Hay vì không có phép bổ âm nhanh chóng?
Nay trung hư, mạch kết đại, dùng Sinh địa hoàng làm quân, Mạch môn đông làm thần, bổ mạnh chân âm, đã mở đường tư âm cho người học đời sau.
Tuy nhiên, Địa hoàng và Mạch môn đông vị ngọt nhưng khí hàn, không phải những vị có tính phát triển, thăng tán. Vì vậy, phải có Nhân sâm và Quế chi để thông dương mạch; Sinh khương và Đại táo để hòa dinh vệ; A giao bổ huyết; Toan táo nhân an thần.
Cam thảo có tính hòa hoãn, khiến thuốc không nhanh chóng đi xuống; rượu trong có sức dẫn mạnh, giúp thuốc đi lên. Trong ngoài điều hòa thì hồi hộp có thể yên, mạch có thể phục hồi.
Bảy thăng rượu và tám thăng nước chỉ sắc lấy ba thăng: sắc lâu khiến sức rượu bớt mạnh. Đây là cách dùng rượu cho người hư nhược, đồng thời cho thấy Địa hoàng và Mạch môn đông phối hợp với rượu có ý nghĩa riêng.
Theo ý kiến của ông, chứng này nên dùng Toan táo nhân; chữa phế nuy thì dùng Ma tử nhân. Nếu không có A giao thật, ông đề nghị dùng Quy bản giao thay thế.
Ghi chú văn bản: Toan táo nhân và Quy bản giao là đề nghị của Kha Cầm, không phải thành phần nguyên phương được chép ở đầu bài.
ĐIỀU VĂN
Khi chưa bắt mạch, người bệnh đan hai tay tự che vùng tim. Thầy thuốc bảo thử ho mà người bệnh không ho, thì hẳn hai tai bị điếc, không nghe được.
Sở dĩ như vậy là vì phát hãn nhiều lần làm hư mà thành.
CHÚ GIẢI
Chưa bắt mạch, thấy người bệnh đan hai tay che vùng tim; bảo thử ho mà không ho, thì hẳn hai tai không nghe được.
Tai điếc xuất hiện cùng việc đan tay che tim, có thể biết không phải do tà Thiếu dương, mà do phát hãn nhiều lần làm dương hư.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói:
Điều này chỉ một dấu hiệu để suy xét dương hư.
Tai điếc do dương hư phải khẩn cấp củng cố dương, khác hẳn tai điếc do tà thịnh, truyền kinh ở Thiếu dương.
Trình Ứng Mao nói:
Các dương nhận khí ở trong ngực, tinh khí từ đó thông lên tai.
Nay phát hãn nhiều lần khiến dương hư; nơi dương khí không đến được, tinh khí cũng không tiếp tục rót đến để thông khiếu, nên tai điếc.
ĐIỀU VĂN
Phát hãn quá nhiều, người bệnh đan hai tay tự che vùng tim, vùng dưới tim hồi hộp, muốn được ấn giữ: Quế chi Cam thảo thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này làm rõ thêm điều trên, trình bày kỹ chứng trạng và phép chữa.
Phát hãn quá nhiều khiến dịch hao ra ngoài, khí hư bên trong. Khí dịch đều hư, bên trong trống thiếu, không có chỗ nương tựa, nên vùng dưới tim hồi hộp, đập động khiến người bệnh bất an.
Vì vậy, người bệnh đan tay che vùng tim, muốn tự ấn giữ để bảo vệ và tìm cảm giác yên ổn.
Dùng Quế chi Cam thảo thang để bổ dương khí, giúp sinh tân dịch, nhờ đó bệnh được giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Mồ hôi ra nhiều thì tổn thương huyết; huyết tổn thương thì tâm hư; tâm hư thì đập động, hồi hộp, nên người bệnh đan tay tự che và muốn được người khác ấn giữ.
Quế chi đi ra biểu, thu giữ dịch, giúp tâm được yên, củng cố phần biểu đang lỏng yếu. Cam thảo hòa lý, bổ trung ích khí, điều hòa trung khí bất túc.
Phối hợp hai vị thành phương là phép thu âm, bổ dương.
Trình Tri nói:
Đây là phép bổ dương khi tâm hư sau phát hãn.
Dương nhận khí ở trong ngực. Dương khí trong ngực suy nên người bệnh đan tay che vùng tim, hồi hộp và muốn được ấn giữ.
Trình Ứng Mao nói:
Mồ hôi là dịch của tâm. Không những phát hãn bừa là không được, mà ngay cả trường hợp đáng phát hãn, nếu không giữ đúng mức độ cũng không được.
Đan tay che vùng tim, muốn được ấn giữ, là vì dương hư, không tự giữ vững, khiến vùng dưới tim hồi hộp.
Tuy nhiên, hồi hộp có thể do tâm khí hư hoặc do thủy khí lấn tâm. Thủy khí lấn tâm cũng thường bắt đầu từ tâm hư.
Hồi hộp ở điều này là dương khí hư, khiến người bệnh lo sợ, muốn được ấn giữ để chống đỡ. Vì vậy, dùng Quế chi và Cam thảo đưa dương khí trở lại thượng tiêu, vận hành trong ngực.
Ngụy Lệ Đồng nói:
Điều này nêu điều cần tránh khi phát hãn quá nhiều.
Phong thương vệ vốn không nên làm mồ hôi tuôn chảy như nước. Ngay cả hàn thương dinh, cần phát hãn, cũng chỉ nên để mồ hôi ra đến mức biểu giải thì dừng.
Không được để mồ hôi ra nhiều không ngừng, gây biến chứng dương hư.
Trọng Cảnh nói người bệnh đan tay tự che vùng tim, vùng dưới tim hồi hộp, muốn được ấn giữ, là mô tả trạng thái dương khí hao thoát do ra mồ hôi quá nhiều.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Lượng rượu và cách sắc trên được giữ theo nguyên văn để nghiên cứu, không tự áp dụng cùng liều thuốc tham khảo hiện đại. Việc không đáp ứng lời yêu cầu “hãy ho” cũng không đủ để xác định điếc hoặc dương hư; cần kiểm tra trực tiếp khả năng nghe và trạng thái ý thức.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI CAM THẢO THANG
Quế chi bốn lượng (liều tham khảo hiện đại: 12 gam), Cam thảo chích hai lượng (6 gam).
Hai vị trên, dùng ba thăng nước, sắc lấy một thăng, bỏ bã, uống một lần.
Ghi chú cân lượng: Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải khối lượng quy đổi tuyệt đối của đơn vị cổ.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói:
Mồ hôi ra nhiều thì tâm dịch hư, trung khí suy yếu, nên hồi hộp.
Đan tay tự che vùng tim thì bên ngoài có chỗ bảo vệ; được ấn giữ thì bên trong có chỗ nương tựa. Thấy trạng thái khó chịu như vậy, có thể nhận biết thuộc hư.
Quế chi vốn là thuốc tác động vào dinh phận. Phối hợp với Ma hoàng thì khiến dinh khí phát ra ngoài thành mồ hôi, thuận theo tính cay; phối hợp với Thược dược thì thu liễm dinh khí, ngừng mồ hôi, thuận theo tính chua; phối hợp với Cam thảo thì bổ trung khí, dưỡng huyết, thuận theo tính ngọt.
Vì vậy, phương này lấy Quế chi làm quân, chỉ dùng Cam thảo làm tá, để bổ dương khí, sinh tâm dịch. Vị ngọt và tính ôn phối hợp thích đáng thì khí huyết điều hòa, hồi hộp tự yên.
Không cần Phụ tử vì tuy ra mồ hôi nhiều nhưng chưa đến mức vong dương. Không cần Thược dược vì mồ hôi đã ngừng, lại e tính thu liễm âm của vị ấy.
ĐIỀU VĂN
Sau khi phát hãn, người bệnh có cảm giác đập động dưới rốn, sắp phát chứng bôn đồn: Phục linh Quế chi Cam thảo Đại táo thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Sau khi phát hãn, hồi hộp ở vùng dưới tim là dương khí trong tâm bị hư, thuộc bệnh của chính kinh ấy.
Nay sau khi phát hãn, dưới rốn đập động, sắp phát bôn đồn, là tâm dương hư, âm tà thủy khí của thận thừa lúc hư, muốn nghịch lên phạm tâm.
Dùng Phục linh Quế chi Cam thảo Đại táo thang, một mặt phù dương, một mặt bổ thổ, khiến thủy tà không nghịch lên phạm tâm; cảm giác đập động dưới rốn nhờ đó được yên.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói:
Sau khi phát hãn, vùng dưới tim hồi hộp là tâm dịch hư, thận khí sắp bị dẫn động.
Thận khí muốn chạy ngược lên nên dưới rốn đập động trước. Gọi là “đồn” ở đây là chỉ thận khí.
Dụ Xương nói:
Mồ hôi vốn là dịch của tâm. Sau khi phát hãn, dưới rốn đập động là tâm khí hư, thận khí phát động.
Vì vậy, dùng Phục linh và Quế chi tác động thẳng đến phạm vi của thận, ngăn tà từ trước. Đó là ý nghĩa của câu: “Phép dụng binh giỏi nhất là phá mưu của đối phương.”
Uông Hổ nói:
Bôn đồn là tên một chứng tích thuộc thận theo cách gọi cổ.
Khí phát từ bụng dưới, nghịch lên đến vùng dưới tim, hình trạng như con lợn chạy. Đó là thận khí phát động, biểu hiện giống bôn đồn, không phải thật sự có một khối tích dưới rốn mang hình con lợn.
Trường Xuân biên soạn
PHỤC LINH QUẾ CHI CAM THẢO ĐẠI TÁO THANG
Phục linh nửa cân cổ (liều tham khảo hiện đại: 24 gam), Quế chi bốn lượng (12 gam), Cam thảo chích một lượng theo bản gửi (tham khảo theo lượng này: 3 gam), Đại táo bổ đôi, mười lăm quả.
Ghi chú cân lượng: Chữ “半筋” được hiểu là “半斤”, tức nửa cân. Các số gam trong ngoặc là lượng tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi tuyệt đối. Bản gửi ghi Cam thảo một lượng; bản đối chiếu thường ghi hai lượng, nên không tự sửa thành phần ở đây. tcm.szmdata.com
Bốn vị trên, dùng một đấu nước Cam lan. Trước sắc Phục linh cho nước giảm đi hai thăng, cho các vị còn lại vào, sắc lấy ba thăng, bỏ bã. Uống ấm một thăng, ngày ba lần.
Cách làm nước Cam lan: Lấy hai đấu nước, cho vào chậu lớn, dùng gáo múc lên rồi đổ xuống nhiều lần. Khi trên mặt nước có khoảng năm sáu nghìn hạt bọt như hạt châu đuổi theo nhau thì lấy nước ấy dùng.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này dựa trên Linh quế truật cam thang, bỏ Bạch truật, thêm Đại táo và tăng gấp đôi Phục linh.
Phương kia chữa vùng dưới tim đầy tức do khí nghịch, khí xung lên ngực. Phương này chữa dưới rốn đập động, sắp phát bôn đồn.
Thủy ngừng ở trung tiêu nên dùng Bạch truật; thủy ngừng ở hạ tiêu nên tăng gấp đôi Phục linh.
Dưới rốn đập động là tà muốn nghịch lên phạm tâm. Bệnh khởi sau phát hãn, nên phép chữa vẫn dựa trên ý nghĩa của Quế chi.
Vẫn dùng Quế chi và Cam thảo để bổ dương khí, sinh tâm dịch; tăng Phục linh làm quân, chuyên trục thủy tà thuộc thận; dùng Đại táo làm tá để bồi bổ trung thổ.
Sắc bằng nước Cam lan, theo cách giải thích của cổ nhân, là để nước không trợ thêm thủy tà.
Thổ mạnh thì có thể chế thủy; dương được củng cố thì có thể chống âm hàn. Chứng sắp phát bôn đồn nhờ đó âm thầm tiêu đi.
Nếu đã phát bôn đồn, âm tà thuộc thận quá thịnh, thì phương này không đủ sức chữa, phải xét phép dùng Quế chi gia Quế thang.
ĐIỀU VĂN
Sau khi uống Quế chi thang hoặc dùng phép hạ, vẫn đau cứng đầu gáy, phát nhiệt âm ấm, không ra mồ hôi, vùng dưới tim đầy, hơi đau, tiểu tiện bất lợi: Quế chi thang bỏ Quế chi, thêm Phục linh và Bạch truật chủ trị.
LỜI ÁN
“Bỏ Quế chi” đáng lẽ phải là “bỏ Thược dược”.
Nếu bỏ Quế chi, phương này sẽ dùng gì để chữa biểu chứng vẫn còn: đầu gáy cứng đau, phát nhiệt, không ra mồ hôi?
Xét kỹ lời dặn uống phương này: “Những phần còn lại theo cách sắc uống Quế chi thang”, thì ý nghĩa tự rõ.
Phép dùng Quế chi thang là sau khi uống, đắp giữ ấm khoảng một thời gian, khiến toàn thân hơi có mồ hôi.
Nếu bỏ Quế chi, các vị Thược dược, Cam thảo, Phục linh, Bạch truật đều không phải những vị cay ngọt có tác dụng thông đạt dinh vệ. Vậy lời “theo phép Quế chi thang” sẽ không còn phù hợp với ý nghĩa ấy.
Trong luận có chứng mạch xúc, ngực đầy, ra mồ hôi, sợ lạnh, dùng Quế chi khứ Thược dược gia Phụ tử thang. Bỏ Thược dược là vì ngực đầy.
Chứng ở điều này tuy hơi khác, nhưng biểu hiện đầy tức giống nhau; từ đó có thể hiểu rằng phải bỏ Thược dược.
Ghi chú văn bản: Đây là lập luận hiệu đính của chú gia. Điều văn bản gửi ghi “bỏ Quế chi”; bản dịch giữ nguyên ở điều văn và trình bày riêng ý kiến sửa thành “bỏ Thược dược”. Một đoạn lập luận bị lặp trong bản gửi đã được gộp lại.
CHÚ GIẢI
Điều này lập phép chữa cho trường hợp sau hãn hoặc hạ, biểu chưa giải, vùng dưới tim có thủy khí.
Đã uống Quế chi thang hoặc dùng phép hạ mà bệnh vẫn như vậy, cho thấy những phép trước chưa phù hợp đầy đủ với bệnh.
Vẫn có biểu chứng đầu gáy cứng đau, phát nhiệt âm ấm, không ra mồ hôi; đồng thời có lý chứng thủy ẩm ngừng tụ: vùng dưới tim đầy, hơi đau, tiểu tiện bất lợi.
Nếu chưa dùng phép hãn hạ thì đây là biểu chưa giải, vùng dưới tim có thủy khí, nên dùng Tiểu thanh long thang để phát hãn.
Nay đã trải qua hãn hạ, biểu lý đều hư, Tiểu thanh long thang không còn thích hợp.
Vì vậy, theo cách hiểu của chú gia, dùng Quế chi thang bỏ Thược dược có tính chua thu liễm, để tránh trở ngại trong chứng không ra mồ hôi, vùng dưới tim đầy; thêm Phục linh và Bạch truật để táo thấp, thẩm lợi.
Biểu lý cùng được giải thì các chứng bên trong và bên ngoài tự hết.
TẬP CHÚ
Ngoại đài phương nghị hỏi:
Vùng dưới tim đầy, hơi đau, có vẻ sắp thành kết hung; vì sao lại chữa theo thủy ẩm ngừng tụ?
Đáp:
Các chứng đều giống kết hung, nhưng riêng tiểu tiện bất lợi cho thấy thủy ẩm ngừng tụ. Vì vậy, ở điều này Trọng Cảnh chữa theo đình ẩm.
Dụ Xương nói:
Uống Quế chi thang, bệnh không giải mà chứng biến; hoặc lại dùng phép hạ khiến tà thừa lúc hư vào lý, thì càng thêm sai.
Tà ở biểu chưa trừ, thủy ẩm ở lý lại nghịch lên, nên phỏng theo phép cùng giải biểu lý của Ngũ linh tán.
Trương Lộ nói:
Điều này khá giống kết hung. Điểm trọng yếu để nhận biết biểu chứng Thái dương vẫn còn là phát nhiệt âm ấm và không ra mồ hôi.
Lâm Lan nói:
Đầu gáy cứng đau, sau hãn hạ vẫn chưa giải; vùng dưới tim đầy, hơi đau, tiểu tiện bất lợi, là thủy ẩm tích ở trong.
Vì vậy, thêm Phục linh và Bạch truật. Khi tiểu tiện thông lợi, thủy ẩm được vận hành, bụng đầy giảm, thì biểu chứng cũng hết.
Như chứng Thập táo thang cũng có đau đầu, nhưng đó là thủy ẩm và nhiệt tích bên trong, biểu chứng đã giải. Vì vậy, dù đau đầu cũng chỉ dùng phép trục ẩm; thủy ẩm được loại đi thì bệnh tự yên.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI KHỨ QUẾ GIA PHỤC LINH BẠCH TRUẬT THANG
Trong phương Quế chi thang, bỏ Quế chi, thêm Phục linh và Bạch truật mỗi vị ba lượng (liều tham khảo hiện đại: mỗi vị 9 gam). Các phần còn lại theo phép sắc uống Quế chi thang. Tiểu tiện thông lợi thì khỏi.
Ghi chú cân lượng: Số gam trong ngoặc là lượng tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ.
LỜI ÁN
Ý nghĩa của việc bỏ Quế chi hay bỏ Thược dược đã được bàn kỹ trong phần hiệu đính dưới điều văn trước.
Ghi chú văn bản: Tên phương và câu trên giữ nguyên “bỏ Quế chi”. Phần phương giải bên dưới tiếp tục dựa theo ý kiến của chú gia rằng nên “bỏ Thược dược”, nên vẫn nói đến tác dụng của Quế chi.
PHƯƠNG GIẢI
“Ngoài ra theo phép sắc uống Quế chi thang” nghĩa là theo phép dùng Quế chi thang để lấy mồ hôi.
“Tiểu tiện thông lợi thì khỏi” nghĩa là bệnh thủy ẩm phải được đưa ra theo đường tiểu tiện mới khỏi.
Theo cách hiểu của chú gia, phương này dựa trên các vị Phục linh, Bạch truật, Cam thảo, có thêm Sinh khương, Đại táo và dùng Quế chi. Ý nghĩa chủ yếu ở giải cơ, lợi thủy đứng sau.
Vì vậy, dùng Sinh khương và Đại táo hỗ trợ Quế chi để thông tân dịch, giúp ra mồ hôi.
Linh quế truật cam thang không dùng Sinh khương và Đại táo, lại tăng Phục linh. Ý nghĩa chủ yếu ở lợi thủy, phù dương đứng sau.
Do đó, tăng gấp đôi Phục linh, phối hợp với Quế chi để phù dương trong khi lợi thủy. Vì vậy, sau phương ấy không dặn dùng theo phép uống Quế chi thang.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi dùng phép thổ hoặc phép hạ, vùng dưới tim đầy tức do khí nghịch, khí xung lên ngực, đứng dậy thì chóng mặt, mạch trầm khẩn. Nếu phát hãn sẽ làm kinh khí bị động, thân run rẩy, chao đảo: Phục linh Quế chi Bạch truật Cam thảo thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, nếu phát hãn quá mức thì có thể xuất hiện các chứng vùng dưới tim hồi hộp, đan tay che vùng tim; hoặc dưới rốn đập động, sắp phát bôn đồn.
Nay dùng phép thổ hoặc phép hạ sai, khiến ngực hư, tà hãm vào, nên vùng dưới tim đầy tức do khí nghịch, khí xung lên ngực.
Nếu mạch phù khẩn, biểu vẫn chưa giải, thì theo cách phân biệt của chú gia, không ra mồ hôi dùng Ma hoàng thang, có mồ hôi dùng Quế chi thang. Khi giải biểu, ngực đầy và khí xung có thể được bình định.
Nay mạch trầm khẩn, hẳn người bệnh vốn có hàn ẩm, hiệp với tà mà thành bệnh.
Nếu không chóng mặt, theo lời chú giải, có thể dùng Qua đế tán để đưa tà ra bằng phép thổ.
Nhưng nay đứng dậy thì chóng mặt, cho thấy dương khí trong ngực đã hư. Không những không được dùng phép thổ, cũng không được phát hãn.
Nếu chỉ căn cứ vào mạch trầm khẩn mà cho là thực, không xét chóng mặt biểu hiện hư, rồi phát hãn sai, thì sẽ làm động kinh khí ở biểu, khiến dương khí bảo vệ bên ngoài cũng hư thêm.
Toàn thân mất chỗ nương tựa, nên run rẩy, chao đảo.
Dùng Linh quế truật cam thang là cùng thực hiện việc thanh trừ thủy ẩm và phù dương, đồng thời điều hòa vệ khí và dinh khí.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đoạn này có sự khác nhau giữa tên phương, điều văn và cách giải thích của chú gia; bản dịch giữ rõ, không tự hợp nhất thành một phương. Nhận định dùng Qua đế tán là lời cổ chú, không phải hướng dẫn tự gây nôn.
Trường Xuân biên soạn
PHỤC LINH QUẾ CHI BẠCH TRUẬT CAM THẢO THANG
Phục linh bốn lượng (liều tham khảo hiện đại: 12 gam), Quế chi ba lượng (9 gam), Bạch truật hai lượng (6 gam), Cam thảo chích hai lượng (6 gam).
Bốn vị trên, dùng sáu thăng nước, sắc lấy ba thăng, bỏ bã, chia làm ba lần uống ấm.
Ghi chú cân lượng: Các số gam trong ngoặc là lượng tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ.
PHƯƠNG GIẢI
“Thân run rẩy, chao đảo” là toàn thân rung động, lay chuyển. “Thân run rẩy, muốn ngã xuống đất” là run đến mức sắp ngã.
Cả hai đều do dương hư, thân mất chỗ nương tựa. Một chứng dùng phương này, một chứng dùng Chân vũ thang.
Chân vũ thang cứu tình trạng phát hãn sai khi dùng Thanh long thang, tà đã vào Thiếu âm, nên lấy Phụ tử làm chủ, phối hợp Sinh khương, Phục linh và Bạch truật để làm mạnh lý dương, chế thủy.
Phương này cứu tình trạng phát hãn sai khi dùng Ma hoàng thang, tà còn ở Thái dương, nên lấy Quế chi làm chủ, phối hợp Cam thảo, Phục linh và Bạch truật để phù biểu dương, trừ thủy ẩm.
Chân vũ thang dùng Thược dược vì lý hàn, âm thịnh, dương suy không có chỗ nương tựa. Trong phép đại ôn, đại tán, nếu không phối hợp vị chua thu liễm, e âm hàn quá thịnh, đẩy dương ra ngoài, khiến dương càng nhanh hao thoát.
Phương này không dùng Thược dược vì lý có hàn ẩm nhiều. Nếu phối hợp vị chua thu liễm, theo cách giải thích của chú gia, e thủy ẩm gặp vị chua lại ngưng trệ, không tán được.
ĐIỀU VĂN
Sau khi phát hãn hoặc dùng phép hạ, tâm phiền, thân nóng, trong ngực bế tức: Chi tử sị thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Phát hãn mà biểu chưa giải, hoặc dùng phép hạ khiến biểu tà vào lý; tà không chuyển theo thực để thành kết hung, khí xung, cũng không chuyển theo hư để thành bĩ cứng, tiêu chảy, mà chỉ gây phiền nhiệt, trong ngực bế tức.
Vì biểu tà nhẹ, hãm vào chưa sâu, nên chỉ có phiền nhiệt và cảm giác khó chịu trong ngực.
Chi tử vị đắng có thể dũng tiết, tính hàn có thể thắng nhiệt. Đậu sị nhẹ, đã được chế biến, có tác dụng đi lên, hỗ trợ Chi tử đưa tà nhiệt lên phía miệng. Theo lời chú giải, khi nôn được thì trong ngực thư thái, phiền nhiệt giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
“Bế tức” là tà nhiệt uất trệ, gây tắc nghẽn, chưa đến mức đau; so với đau thì nhẹ hơn.
Trình Tri nói:
Sau khi dùng phép hạ, dương tà kết bên trong thì dùng Hãm hung để công; âm tà kết bên trong thì dùng Tả tâm để khai; hư nhiệt bốc lên gây phiền thì dùng Chi tử sị thang để dũng tiết.
Chưa dùng phép hạ mà trong ngực nhiều đàm thì dùng Qua đế tán để gây nôn. Đã dùng phép hạ mà trong ngực hư phiền thì dùng Chi tử sị thang theo phép thổ.
Phép phân biệt hư thực, hàn nhiệt của cổ nhân rõ ràng và đầy đủ như vậy.
Lâm Lan nói:
Dương khí nhận khí ở trong ngực. Sau hãn hoặc hạ, dương khí không đủ, tà nhiệt lưu ở ngực, kết không tán, gây phiền nhiệt, bế tức. Vì vậy, theo ý kiến của ông, dùng phương này để đưa tà trong ngực ra bằng phép thổ.
Uông Hổ nói:
Trong ngực bế tức là có vật ngăn trở. Dùng phép hạ mà không đưa ra được, vì vật ấy ở trên vùng cách, nên thích hợp với phép thổ.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Cách hiểu Chi tử sị thang là phương gây nôn được giữ theo các chú gia trong bản này. Đây là quan điểm chú giải cổ, không phải chỉ dẫn phải cố gây nôn khi dùng phương.
Trường Xuân biên soạn
CHI TỬ SỊ THANG
Chi tử bổ ra, mười bốn quả (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), Hương sị bọc vải, bốn hợp (liều tham khảo hiện đại: 9 gam).
Ghi chú cân lượng: Các số gam trong ngoặc được ghi theo tài liệu Kinh phương ứng dụng; đây là liều tham khảo hiện đại, không phải khối lượng quy đổi chính xác của mười bốn quả hoặc bốn hợp cổ. tcm.szmdata.com
Hai vị trên, dùng bốn thăng nước, trước sắc Chi tử lấy hai thăng rưỡi, cho Hương sị vào, sắc lấy một thăng rưỡi, bỏ bã, chia làm hai lần uống. Uống ấm một phần; nếu đã nôn thì ngừng phần còn lại.
ĐIỀU VĂN
Sau khi tiêu chảy, tâm phiền càng tăng, ấn vùng dưới tim thấy mềm, là hư phiền; thích hợp với Chi tử sị thang.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối trường hợp hạ sai gây tiêu chảy nói trên: sau tiêu chảy không xuất hiện các biến chứng nghịch khác, chỉ thấy tâm phiền tăng thêm.
Ấn vùng dưới tim thấy mềm, không bĩ cứng, thì thuộc hư phiền, nên cũng dùng Chi tử sị thang.
Nếu ấn không mềm mà bĩ cứng thì lại thuộc thực phiền, phải dùng Đại hoàng Hoàng liên tả tâm thang.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
“Càng phiền” nghĩa là vốn đã có phiền, tiêu chảy không làm phiền giảm mà lại tăng thêm.
Lâm Lan nói:
Đây là chứng dư nhiệt sau tiêu chảy. Nói “sau tiêu chảy”, tức tiêu chảy đã ngừng, thì theo cách nhận định của ông, không phải phiền do hư hàn, mà là nhiệt còn lưu ở trong ngực.
Ấn vùng dưới tim thấy mềm, tuy có nhiệt nhưng không phải nhiệt kết thực, nên dùng phương này để thanh giải hư phiền.
Trình Ứng Mao nói:
Tiêu chảy do nhiệt thì có phiền. Nếu sau tiêu chảy vẫn phiền mà vùng dưới tim không cứng, thì thuộc hư phiền: dư nhiệt thừa lúc hư lưu ở trong vị.
ĐIỀU VĂN
Sau khi phát hãn, dùng phép thổ hoặc phép hạ, hư phiền không ngủ được. Nếu nặng thì trằn trọc, trở mình liên tục, trong lòng bồn chồn khó chịu: Chi tử sị thang chủ trị.
Nếu khí ít, hơi thở yếu thì Chi tử Cam thảo sị thang chủ trị.
Nếu nôn thì Chi tử Sinh khương sị thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Phiền khi chưa dùng phép hãn, thổ, hạ phần nhiều thuộc nhiệt, gọi là nhiệt phiền. Phiền sau khi đã dùng các phép ấy phần nhiều có yếu tố hư, gọi là hư phiền.
“Không ngủ được” là vì phiền mà không nằm yên được. Nếu nặng hơn thì trằn trọc, trở mình liên tục, trong lòng bồn chồn khó chịu.
“Phiền” là tâm phiền; “táo” là thân thể bứt rứt.
Theo cách phân biệt của chú gia, thân thể không ngừng trở mình, không lúc nào yên thì gọi là táo, có thể gặp trong tử chứng của ba âm. Sự đảo lộn, bất an trong lòng gọi là áo não, thuộc nhiệt chứng của ba dương.
“Áo não” là trạng thái trong lòng muốn nôn mà không nôn được, phiền nhiễu không yên.
Đó là do sau hãn, thổ, hạ, tà nhiệt thừa lúc hư lưu ở trong ngực. Không có biểu chứng để phát hãn, cũng không có lý thực để công hạ, nên dùng Chi tử sị thang, thuận theo xu thế đưa nhiệt ra trên, nhờ đó bệnh được giải.
Nếu có các chứng trên mà thêm khí ít, hơi thở yếu, thì nhiệt đã làm tổn thương khí; thêm Cam thảo để hỗ trợ.
Nếu nôn thì nhiệt tác động đến thủy ẩm; thêm Sinh khương để tán ẩm.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Hư phiền không ngủ được là đại tà vừa lui, chính khí đột ngột hư, dư nhiệt gây bức bối, rối loạn, vị không hòa.
“Nặng” nghĩa là đến mức rõ rệt. Trằn trọc, trong lòng bồn chồn khó chịu là vùng ngực cách uất trệ, không được thư thái.
Vì vậy, dùng Chi tử sị thang, theo phép “tà ở trên thì thuận thế đưa ra phía trên”.
Trình Ứng Mao nói:
Sau phát hãn, thổ hoặc hạ, có thể trong ngực bế tức, hư phiền không ngủ, hoặc trằn trọc, trong lòng bồn chồn khó chịu.
Tất cả đều do sau ba phép chữa, dư nhiệt bị ngăn ở phần trên, lưu ở tâm hung, quấy nhiễu khiến không yên.
Đây không phải phiền táo do không ra được mồ hôi, nên Đại thanh long thang không có chỗ dùng; các phép khác cũng không thích hợp. Chỉ nên dùng Chi tử sị thang.
Chi tử có khí vị nhẹ, có thể phát tiết lên trên; phối hợp Hương sị để hóa trọc thành thanh. Khi khách tà được đưa ra, khí thăng, tân dịch vận hóa, uất muộn được thư giải.
Uông Hổ nói:
Có người hỏi: Hư phiền sao chịu được gây nôn thêm?
Phải biết “hư” là chính khí hư, còn “phiền” là tà khí thực. Tà nhiệt uất ở ngực là tà thực, nên theo ý kiến của ông, vẫn có chứng thích hợp với phép thổ.
Vì vậy, hai chữ “hư phiền” không được hiểu là thuần hư, mà phải hiểu là chính khí đột ngột hư sau hãn, thổ, hạ, trong khi tà nhiệt vẫn còn.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Bản chú giải này xem Chi tử sị thang là phương dùng theo phép thổ. Bản dịch giữ nguyên quan điểm ấy; không hiểu câu “đã nôn thì ngừng” thành yêu cầu phải tự tăng thuốc cho đến khi nôn. “Hư phiền” ở đây cũng không đồng nghĩa với mọi trường hợp âm hư hoặc hư nhiệt.
Trường Xuân biên soạn
CHI TỬ CAM THẢO SỊ THANG
Trong phương Chi tử sị thang, thêm Cam thảo hai lượng (liều tham khảo hiện đại: 6 gam). Những phần còn lại theo phép đã nêu trước; nếu đã nôn thì ngừng phần thuốc còn lại.
Thành phần: Chi tử bổ ra, mười bốn quả (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), Hương sị bọc vải, bốn hợp (9 gam), Cam thảo hai lượng (6 gam).
Ghi chú: Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ. “Đã nôn thì ngừng” là lời nguyên văn, không phải chỉ dẫn tự tăng thuốc để gây nôn.
Trường Xuân biên soạn
CHI TỬ SINH KHƯƠNG SỊ THANG
Trong phương Chi tử sị thang, thêm Sinh khương năm lượng (liều tham khảo hiện đại: 15 gam). Những phần còn lại theo phép đã nêu trước; nếu đã nôn thì ngừng phần thuốc còn lại.
Thành phần: Chi tử bổ ra, mười bốn quả (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), Hương sị bọc vải, bốn hợp (9 gam), Sinh khương năm lượng (15 gam).
Ghi chú cân lượng: Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi dùng phép hạ, tâm phiền, bụng đầy, nằm hay ngồi đều không yên: Chi tử Hậu phác thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Trong luận, sau khi dùng phép hạ, đầy mà không phiền có hai trường hợp.
Một là nhiệt khí vào vị, gây thực mãn, dùng Thừa khí thang để công hạ. Một là hàn khí nghịch lên, gây hư mãn, dùng Hậu phác Sinh khương Cam thảo Bán hạ Nhân sâm thang để ôn.
Phiền mà không đầy cũng có hai trường hợp.
Một là nhiệt tà vào ngực gây hư phiền, dùng Trúc diệp Thạch cao thang để thanh giải. Một là tâm phiền, trong lòng bồn chồn khó chịu, muốn nôn, dùng Chi tử sị thang theo phép thổ.
Nay vừa phiền vừa đầy. Đầy nặng thì không ngồi yên được; phiền nặng thì không nằm yên được, nên nằm hay ngồi đều bất an.
Tuy nhiên, không có đầy đủ thực chứng của ba dương, cũng không thuộc hư chứng của ba âm. Chỉ là nhiệt kết với khí, uất tắc giữa ngực và bụng.
Vì vậy, dùng Chi tử, Chỉ thực và Hậu phác để đưa nhiệt khí ra, khiến ngực bụng điều hòa; phiền tự hết, đầy tự tiêu.
Theo cách giải thích của chú gia, đây cũng là phép thổ có ngụ ý điều hòa bên trong.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói:
Phàm tà lưu ở ngực thì trên dưới không giao thông. Trường hợp này cũng giống kết hung và bĩ ở vùng dưới tim.
Tuy phép thổ, phép hạ và phép hòa giải khác nhau, nhưng mục đích làm âm dương giao thông thì giống nhau.
Thẩm Minh Tông nói:
Sau khi dùng phép hạ, tà nhẹ hãm vào trong nhưng không kết hợp với đàm ẩm, nên không thành kết hung hoặc tiêu chảy.
Tà hãm ở ngực cách, quấy nhiễu phía trên thì tâm phiền; tà vào bụng, ở phía dưới thì bụng đầy.
Tà ở hai nơi cùng bức bách vùng ngực bụng, nên vừa tâm phiền vừa bụng đầy.
Dùng phương này, một mặt đưa tà ra trên, một mặt thông tiết xuống dưới; theo lời chú gia, cũng là phép cùng giải biểu lý.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các cách diễn giải phương Chi tử theo phép gây nôn được giữ theo bản chú giải. Không hiểu lời “đã nôn thì ngừng” thành yêu cầu tự tăng thuốc cho đến khi nôn.
Trường Xuân biên soạn
CHI TỬ HẬU PHÁC THANG
Chi tử bổ ra, mười bốn quả (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), Hậu phác chích gừng, bốn lượng theo bản đối chiếu (12 gam), Chỉ thực bỏ ruột, sao, bốn quả theo bản đối chiếu (liều tham khảo hiện đại: 9 gam).
Ghi chú văn bản: Bản gửi thiếu số lượng của Hậu phác và ghi Chỉ thực “bốn lượng”. Bản đối chiếu ghi Hậu phác bốn lượng, Chỉ thực bốn quả. Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ. yibian.hopto.org
Ba vị trên, dùng ba thăng rưỡi nước, sắc lấy một thăng rưỡi, bỏ bã, chia làm ba lần uống. Uống ấm một phần; nếu đã nôn thì ngừng phần còn lại.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, thầy thuốc dùng thuốc hoàn để công hạ mạnh, thân nóng không lui, hơi phiền: Chi tử Can khương thang chủ trị.
LỜI ÁN
Theo người chú giải, “Chi tử Can khương thang” ở đây đáng lẽ phải là “Chi tử sị thang”; còn “Chi tử sị thang” ở điều liên quan đáng lẽ phải là “Chi tử Can khương thang”.
Ông cho rằng không có lý do dùng Can khương trong chứng phiền nhiệt, hoặc dùng Hương sị trong chứng kết đau.
Ghi chú văn bản: Đây là đề nghị đổi tên phương của chú gia, không phải nội dung nguyên điều văn. Bản dịch giữ nguyên tên Chi tử Can khương thang ở điều văn.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, biểu tà chưa giải, thầy thuốc lại dùng thuốc hoàn để công hạ mạnh. Chưa đến mức thành kết hung hoặc bĩ cứng, nghĩa là chưa hình thành biến chứng nghịch nặng.
Tuy nhiên, thân nóng không lui cho thấy phần biểu vẫn chưa hết; hơi phiền là nhiệt hãm vào ngực.
Nhiệt từ biểu hãm vào ngực còn nhẹ, nên theo cách giải thích của chú gia, không thích hợp công hạ, cũng không cần dùng phép thanh nhiệt mạnh.
Chỉ nên dùng Chi tử sị thang để nhẹ nhàng đưa nhiệt ra. Hơi phiền nhờ đó được trừ; trong phép thổ có ý phát tán, nên thân nóng cũng có thể giải.
TẬP CHÚ
Uông Hổ nói:
Dùng thuốc hoàn công hạ sai, tà nhiệt chưa được trừ, nên thân nóng không lui.
Tà khí thừa lúc hư lưu ở trong ngực, vì vậy khiến người bệnh hơi phiền.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Cách hiểu Chi tử sị thang theo phép gây nôn được giữ theo bản chú giải; không tự tăng thuốc để cố gây nôn.
Trường Xuân biên soạn
CHI TỬ CAN KHƯƠNG THANG
Chi tử bổ ra, mười bốn quả (liều tham khảo hiện đại: 9 gam), Can khương hai lượng (liều tham khảo hiện đại: 6 gam).
Hai vị trên, dùng ba thăng rưỡi nước, sắc lấy một thăng rưỡi, bỏ bã, chia làm hai lần uống. Uống ấm một phần; nếu đã nôn thì ngừng phần còn lại.
Ghi chú cân lượng: Các số gam trong ngoặc là lượng tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi tuyệt đối từ đơn vị cổ.
LỜI ÁN
Theo người chú giải, Can khương trong phương này đáng lẽ phải là Hương sị. Ý nghĩa còn lại đã được bàn trong phần hiệu đính dưới điều văn trước.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn năm sáu ngày, sau khi công hạ mạnh, thân nóng không lui, trong lòng kết đau, bệnh chưa có xu hướng giải: Chi tử sị thang chủ trị.
LỜI ÁN
Theo người chú giải, Hương sị trong phương này đáng lẽ phải là Can khương. Ý nghĩa cũng đã được bàn trong phần hiệu đính trước.
CHÚ GIẢI
Thương hàn năm sáu ngày là lúc tà khí có thể đã vào lý.
Sau khi công hạ mạnh, nếu thân nóng lui, vùng tâm hung điều hòa thì bệnh có xu hướng giải.
Nay thân nóng không lui là tà vẫn còn ở biểu. Trong lòng kết đau là do công hạ quá mức khiến lý hàn, nên nói bệnh chưa có xu hướng giải.
Chứng này biểu nhiệt, lý hàn. Muốn ôn lý thì vướng biểu nhiệt; muốn giải biểu thì vướng lý hàn.
Vì vậy, theo cách hiểu của chú gia, dùng tính hàn của Chi tử và tính nhiệt của Can khương cùng phối hợp để đưa tà ra, vừa giải phần nhiệt bên ngoài, vừa ôn phần hàn bên trong. Nhờ đó, thân nóng và kết đau đều được trừ.
Đây là phép Trọng Cảnh xử trí tình thế khó chữa cả hai phía; những trường hợp khác có thể suy xét tương tự.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói:
Bốn chữ “thân nóng không lui” cần được xét kỹ.
Kết hung mà thân không nóng cho biết nhiệt không ở biểu. Nay thân nóng không lui thì theo ý kiến của ông, chỉ nên thuận thế đưa tà ra trên.
Trình Ứng Mao nói:
Đau mà gọi là “kết” rất giống kết hung. Nhưng kết hung không có đại nhiệt bên ngoài, cho biết nhiệt đã quy vào lý, thành thực tà.
Ở đây thân nóng không lui, sự kết lại do công hạ gây nên, khách tà vẫn còn ở biểu, nên nói bệnh chưa có xu hướng giải.
ĐIỀU VĂN
Phàm dùng các phương Chi tử, người bệnh vốn thường hơi đi phân lỏng thì không được cho uống.
CHÚ GIẢI
Sau hãn, thổ, hạ, nếu có bồn chồn khó chịu, khí ít, nôn nghịch, phiền và đầy, trong lòng kết đau, thì theo cách giải thích của bản chú, đều có thể xét các phương Chi tử để đưa tà ra bằng phép thổ.
Tà lưu luyến giữa ngực và vị, có thể kết với nhiệt, hư, thủy ẩm, khí hoặc hàn, nhưng chưa thành kết thực. Bệnh thế hướng lên, phù hợp với ý kinh văn: “Tà ở trên thì thuận thế đưa ra phía trên.”
Nếu chưa trải qua hãn, thổ, hạ mà đã có những chứng ấy thì thuộc thực tà, không phải phương Chi tử nhẹ có thể chữa; theo lời chú gia, phải xét phương mạnh như Qua đế tán.
Nếu người bệnh vốn thường hơi đi phân lỏng, dù có những chứng trên, lý khí đã hư lâu ngày, vẫn không được cho uống.
Nếu dùng, dù khách tà được loại hết, chính khí cũng khó chống đỡ. Bệnh thế vốn hướng xuống, lại dùng phép dũng thổ, có thể sinh biến chứng khác.
Bản thảo không nói Chi tử là thuốc gây nôn, vậy vì sao Trọng Cảnh dùng theo phép thổ?
Theo người chú giải, Chi tử vốn không phải thuốc chuyên gây nôn, nhưng vị đắng có thể làm nôn, nên dùng để đưa nhiệt ra.
LỜI ÁN
Người chú giải cho rằng không chỉ Chi tử mới có thể dùng theo phép thổ; các thuốc khác cũng có thể được vận dụng.
Điều cốt yếu là xét rõ tà ở ngực vị thuộc hàn, nhiệt, thực tích, thủy, đàm hay khí; nguyên nhân nào gây bế tắc, khiến dương khí ở ngực vị không thông đạt. Sau đó lựa thuốc tương ứng để đưa tà ra.
Muốn thổ hàn thì dùng những vị như Can khương, Quế bì; thổ nhiệt thì dùng Chi tử, trà đắng; thổ thực tích thì dùng phép Bình vị hoặc muối; thổ thủy thì dùng phép Ngũ linh hoặc Sinh khương; thổ đàm thì dùng phép Hy tiên hoặc Quất bì; thổ khí thì dùng phép lưu khí hoặc Chỉ thực, Hậu phác.
Người hình khí yếu thì lượng thuốc ít, đồng thời phối hợp thuốc bổ trung ích khí, thăng đề. Người hình khí khỏe thì lượng thuốc nhiều hơn; theo lời cổ chú, có thể phối hợp những thuốc mạnh như Qua đế, Lê lô.
Đoạn tiếp theo mô tả cách chuẩn bị nhiều chén nước thuốc hoặc nước dùng hòa bột, có thể dùng nước gạo chua, nước nóng hoặc cháo loãng; cho uống từng chén rồi dùng tay kích thích gây nôn, lặp lại cho đến khi nôn thông thuận.
Khi đầu trán và thân hơi ra mồ hôi, các chứng giảm nhẹ thì xem là thuốc đã trúng bệnh, không cần uống hết phần còn lại.
Nếu gây nôn quá mức, dù bệnh được trừ, vẫn e tổn thương dương khí trong ngực.
Người chú giải phê bình việc thầy thuốc đời sau cho phép thổ là cổ pháp không thể dùng, khiến phép ấy bị bỏ quên. Ông cho rằng chưa hiểu mà không dám dùng còn có thể chấp nhận; nhưng kết luận cổ pháp hoàn toàn không dùng được thì không đúng.
Theo quan điểm của ông, tà ở trên có trường hợp phải dùng phép thổ mới giải. Nếu làm người bệnh sợ, không dám dùng, kéo dài khiến bệnh nhẹ thành nặng, nặng đến nguy hiểm, thì đó là lỗi của người chữa.
Ông nhấn mạnh rằng hãn, thổ, hạ, nếu dùng đúng, đều có thể phát huy tác dụng; người học y không nên chỉ nói đến hãn và hạ mà bỏ hoàn toàn phép thổ.
Ghi chú biên tập: Phần trên trình bày quan điểm và thao tác cổ để nghiên cứu lịch sử, không phải hướng dẫn thực hành. Không tự dùng muối, Qua đế, Lê lô hoặc kích thích họng để gây nôn; những cách này có thể gây ngộ độc, sặc và rối loạn điện giải.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói:
Điều này nêu rằng dùng Chi tử cũng có điều kiêng.
Người bệnh vốn thường hơi đi phân lỏng là lý hư. Lại uống thuốc đắng lạnh thì thuốc không đưa tà lên trên mà ngược lại gây tiết xuống dưới, nên phải kiêng.
Trương Chí Thông nói:
Điều này nói Chi tử mà không nói Hương sị, làm rõ rằng vị đắng của Chi tử có thể gây hạ tiết. Vì vậy, người vốn thường hơi đi phân lỏng không được dùng.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, mạch phù khẩn, không ra mồ hôi, phát nhiệt, thân đau, tám chín ngày chưa giải, biểu chứng vẫn còn, phải phát hãn.
Sau khi uống thuốc, bệnh hơi giảm; người bệnh lại phiền, mắt nhắm. Nặng thì có thể chảy máu mũi; chảy máu mũi rồi bệnh giải.
Sở dĩ như vậy là vì dương khí quá thịnh. Ma hoàng thang chủ trị.
Ghi chú văn bản: Các chữ khuyết “□” trong những điều tiếp theo được hiểu là “衄”, tức chảy máu mũi, căn cứ vào nội dung bàn về huyết và các câu liên quan.
LỜI ÁN
Trương Kiêm Thiện nói:
Năm chữ “Ma hoàng thang chủ trị” không nên đặt sau câu “dương khí quá thịnh”. Sao có thể sau khi chảy máu mũi, bệnh đã giải, lại dùng Ma hoàng thang?
Lời ấy rất đúng. Huống chi, trước câu “sau khi uống thuốc” chưa nêu uống thuốc gì. Phải chuyển năm chữ ấy lên trước mới phù hợp.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương, mạch phù khẩn, không ra mồ hôi, phát nhiệt, thân đau, tám chín ngày chưa giải, nghĩa là biểu chứng thương hàn vẫn còn, phải dùng Ma hoàng thang phát hãn.
“Sau khi uống thuốc, bệnh hơi giảm” là đã phát hãn, tà tuy giảm nhưng chưa hết.
Theo lời chú gia, nếu tà còn mà trì hoãn không giải biểu, dương tà uất lâu trong dinh, không được tuyên tiết, nhiệt dồn vào phần dương thì phiền, nhiệt uất ở phần âm thì mắt nhắm.
“Nặng” là nhiệt đã rất thịnh. Nhiệt quá thịnh trong dinh có thể bức huyết trong mạch đi sai đường, gây chảy máu mũi; nhiệt theo huyết ra mà bệnh giải.
Sở dĩ vậy là vì dương khí quá thịnh.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói:
Mạch phù khẩn, biểu chứng còn, dù tám chín ngày vẫn phải xét dùng Ma hoàng thang để phát hãn, giải biểu.
Sau khi uống thang, bệnh hơi giảm, rồi phiền, mắt nhắm, nặng đến chảy máu mũi, là nhiệt uất trong dinh, dương khí quá thịnh, thuốc tán biểu tương tranh với tà mà thành.
Khi huyết bị bức lên gây chảy máu mũi, nhiệt theo huyết mà giải.
Điều này nói lúc cần phát hãn thì dùng Ma hoàng thang, không phải sau khi chảy máu mũi, bệnh đã giải, vẫn dùng Ma hoàng thang.
Trương Lộ nói:
Uống thuốc, bệnh hơi giảm rồi lại phiền là dư tà chưa hết.
Mắt nhắm, phiền nặng là nhiệt thịnh, bức huyết đi sai đường mà gây chảy máu mũi. Khi ấy dư nhiệt theo huyết mà giải.
Sau ra mồ hôi lại chảy máu mũi, nên nói dương khí quá thịnh.
Có người cho rằng sau phát hãn rồi chảy máu mũi, tà nhiệt vẫn chưa hết, phải dùng Ma hoàng thang thêm lần nữa để tán phần tà còn lại. Cách hiểu ấy không đúng.
Nếu tà nhiệt thật sự chưa hết thì ba chữ “chảy máu mũi rồi giải” phải hiểu thế nào?
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, mạch phù khẩn, phát nhiệt, thân không có mồ hôi, tự chảy máu mũi thì khỏi.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương, mạch phù khẩn, phát nhiệt, không có mồ hôi là mạch và chứng thương hàn, đáng dùng phép phát hãn.
Nếu đáng phát hãn mà không phát hãn thì hàn bế ở vệ, nhiệt uất ở dinh.
Ban đầu không giải bằng mồ hôi ở vệ phận, lâu ngày có thể biểu hiện chảy máu ở dinh phận.
Vì vậy, theo cách giải thích của chú gia, bệnh Thái dương giải ra ngoài có hai đường được nói đến ở đây: ra mồ hôi và chảy máu mũi.
Nay huyết nhiệt trong dinh đi sai đường, tự chảy máu mũi, nhiệt theo đó giải, nên bệnh có thể tự khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói:
Điều này tiếp nối điều trước, nói về chứng nhẹ hơn, cho thấy cũng có trường hợp tự khỏi, không cần chữa, nhằm nhắc người học không dùng phép chữa bừa gây sai lầm.
Mạch phù khẩn, phát nhiệt, thân không có mồ hôi giống điều trước; nhưng không nói đau, nên có thể biết nhẹ hơn.
Vì vậy, chưa cần công trị, khi tự chảy máu mũi thì bệnh giải.
Mồ hôi vốn là dịch của huyết. Người phương Bắc gọi chảy máu mũi là “mồ hôi đỏ”, cũng là ý ấy.
Trình Tri nói:
Điều này nói có chảy máu mũi thì dù không có mồ hôi, bệnh vẫn có thể tự giải. Người cảm hàn rồi sinh nhiệt, nhiệt được phát tiết theo máu mũi nên khỏi.
Trương Lộ nói:
Máu mũi chảy thì tà nhiệt theo huyết mà tán; huyết hao thì không còn ra mồ hôi.
Nếu chưa tự chảy máu mũi, theo phép cổ có thể dùng Ma hoàng thang để phát hãn. Phát hãn mà tà giải thì không chảy máu mũi; nếu dư tà chưa hết thì có thể vẫn chảy máu mũi rồi giải.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch phù khẩn, không phát hãn, do đó gây chảy máu mũi: Ma hoàng thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối điều trên để nêu phép chữa.
Thương hàn, mạch phù khẩn, theo phép phải phát hãn. Không phát hãn thì nhiệt uất trong dinh, có thể gây chảy máu mũi; theo điều văn, Ma hoàng thang chủ trị.
Nếu trước khi chảy máu mũi đã giải biểu đúng lúc, mồ hôi ra thì bệnh giải, sẽ không đến mức chảy máu mũi.
Nếu như điều trên, tự chảy máu mũi rồi bệnh đã giải, thì không cần dùng thuốc.
LỜI ÁN
Thương hàn mới khởi, nếu không sợ lạnh nhiều, theo người chú giải, có thể biết kiêm nhiệt, về sau dễ chảy máu mũi.
Nhiệt nhiều, hàn ít thì nhiệt theo máu mũi ra, sau đó có mồ hôi, biểu tà và nhiệt đều giải.
Nhiệt ít, hàn nhiều thì dù nhiệt theo máu mũi ra, sau đó vẫn không có mồ hôi, biểu chưa giải.
Nếu trước khi chảy máu mũi dùng Thanh long thang hoặc Ma hoàng thang đúng chứng để phát hãn, thì có thể giải tà ở dinh vệ.
Nếu đã chảy máu mũi mà vẫn không ra mồ hôi, biểu chưa giải, khi xét dùng các phương Ma hoàng, Quế chi để điều hòa dinh vệ, chú gia đề nghị phối hợp ít thuốc thanh nhiệt, lương huyết như Hoàng cầm, Hoàng liên, Tê giác, Địa hoàng để bảo vệ âm huyết.
Tuy nhiên, sau khi chảy máu mũi nhiều, không được tùy tiện dùng Ma hoàng hoặc Thanh long thang. Dùng không đúng sẽ phạm điều kiêng “người có chứng chảy máu không được phát hãn”.
TẬP CHÚ
Hoạt nhân thư nói:
Sau chảy máu mũi, mạch phù thì theo phép cổ có thể xét Ma hoàng thang; mạch vi thì không được dùng, nên dùng Hoàng cầm Thược dược thang.
Mạch phù là biểu chưa giải; mạch vi là biểu đã giải. Qua đó thấy ý nghĩa dùng Ma hoàng thang sau chảy máu mũi trong cách giải thích này.
Phương Hữu Chấp nói:
Thương hàn, mạch phù khẩn là hàn nhiều, phong ít.
Hai điều trước thuộc phong nhiều, hàn ít: một điều uống thuốc rồi bệnh hơi giảm, mồ hôi chưa ra đủ mà chảy máu mũi; một điều nhẹ hơn, tự chảy máu mũi mà giải.
Điều này là hàn nhiều, không phát hãn mà gây chảy máu mũi. Đó là sự phân biệt giữa ba điều.
Hàn nhiều, đáng phát hãn mà không phát hãn, nhiệt uất làm huyết rối loạn nên chảy máu mũi. Khi máu mũi ra, dương tà thuộc phong tán đi; dùng Ma hoàng thang để giải phần hàn chưa tán.
Trình Tri nói:
Điều này nói chảy máu mũi do hàn tà chưa được giải, theo phép cổ vẫn thích hợp với ôn tán.
Không phát hãn mà gây chảy máu mũi là do hàn vào dinh không có đường phát tiết. Hàn chưa hết thì máu mũi có thể chưa ngừng, nên vẫn xét Ma hoàng, không nhất thiết đợi chảy máu mũi mới chữa.
Trường hợp này khác điều trên về hàn nhiệt.
Trình Ứng Mao nói:
Thương hàn xuất hiện chảy máu mũi thường do dinh phận vốn có nhiệt. Khi bị hàn bế, dinh không chịu được sự ngăn trở, nhiệt theo đó bốc lên.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sáu bảy ngày không đại tiện, đau đầu, có nhiệt, thì dùng Thừa khí thang.
Nếu nước tiểu trong, biết bệnh không ở lý, vẫn còn ở biểu, phải phát hãn. Nếu đau đầu thì có thể chảy máu mũi, thích hợp với Quế chi thang.
LỜI ÁN
Chữ “nếu” trong câu “nếu đau đầu” đáng lẽ phải là chữ “khổ”, tức “đau đầu nhiều, khổ sở vì đau đầu”, mới phù hợp với nhận định có thể chảy máu mũi.
Nếu chỉ hiểu là “nếu đau đầu”, thì chẳng lẽ mọi trường hợp đau đầu đều gây chảy máu mũi?
CHÚ GIẢI
Thương hàn, sáu bảy ngày không đại tiện, có vẻ lý đã thực, có thể hạ.
Nhưng đau đầu, nhiệt chưa hết, lại có vẻ biểu chưa giải, có thể phát hãn.
Muốn hạ thì còn đau đầu, phát nhiệt ở biểu; muốn phát hãn thì lại có không đại tiện ở lý. Trong tình thế khó phân ấy, chú gia chủ trương xét tiểu tiện.
Nước tiểu đục đỏ là nhiệt đã ở lý. Dù còn đau đầu, phát nhiệt, cũng có thể thuộc lý nhiệt, dùng Thừa khí thang để hạ.
Nước tiểu trong là nhiệt còn ở biểu. Dù không đại tiện, vẫn có thể thuộc biểu tà, nên dùng Quế chi thang để giải.
Trong thương hàn, đau đầu dù liên quan biểu hay lý, nếu đau dữ dội thì theo chú gia là nhiệt mạnh trong dinh, có thể gây chảy máu mũi. Máu mũi ra thì dinh nhiệt giải.
Trước khi chảy máu mũi, không có mồ hôi thì xét Ma hoàng thang; có mồ hôi thì xét Quế chi thang, để giải tà bằng mồ hôi.
TẬP CHÚ
Uông Hổ nói:
Đau đầu không dứt là phong hàn uất ở trên, nhiệt thịnh trong kinh, có thể dẫn đến chảy máu mũi.
Phải nhân lúc chưa chảy máu mũi mà cân nhắc Ma hoàng thang hoặc Quế chi thang để giải biểu bằng phát hãn. Xét tiểu tiện là điểm quan trọng trong phép phân biệt của Trọng Cảnh.
Ngụy Lệ Đồng nói:
Chảy máu mũi trong điều này là lời dự đoán, chưa phải chứng đã xuất hiện.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương chưa giải, nhiệt kết ở bàng quang, người bệnh như cuồng. Nếu huyết tự đi xuống, huyết ra thì khỏi.
Nếu ngoại chứng chưa giải thì chưa được công, phải giải phần ngoài trước. Phần ngoài đã giải, chỉ còn bụng dưới co kết cấp bách, mới có thể công; thích hợp với Đào hạch thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương chưa giải thường có thể truyền vào Dương minh. Nếu không truyền Dương minh mà tà nhiệt theo kinh, ứ ở dinh phận của bàng quang, thì người bệnh có thể biểu hiện như cuồng.
“Như cuồng” là ứ nhiệt kết bên trong, quấy nhiễu tâm, có biểu hiện giống cuồng.
Lúc ấy, nếu huyết tự đi xuống thì bệnh có thể tự giải. Nếu huyết không ra hoặc ra chưa hết, nhiệt và ứ huyết tích ở hạ tiêu, bụng dưới tất có thể co kết cấp bách.
Nếu ngoại chứng chưa giải thì chưa được công, phải trước giải phần ngoài. Sau khi phần ngoài đã giải, chỉ còn bụng dưới co kết và đau, mới có thể công, dùng Đào hạch thừa khí thang.
Phương này dựa trên Điều vị thừa khí thang, thêm Đào nhân để công nhiệt, trục ứ huyết.
Tà theo kinh Thái dương mà đến, nên thêm Quế chi để thông dinh huyết, đồng thời giải tà theo kinh.
Uống trước bữa ăn là vì bụng chưa có thức ăn, thuốc đi xuống nhanh hơn.
LỜI ÁN
Bệnh Thái dương chưa giải, không truyền Dương minh, tà nhiệt theo kinh vào lý gọi là “phạm bản”, tức phạm phủ bàng quang.
Theo cách phân chia của chú gia, phần vệ của phủ bàng quang thuộc khí phận; phần dinh thuộc huyết phận.
Nhiệt vào khí phận, khí hóa không thông, nhiệt kết với thủy, gọi là phạm phần lý của vệ phận, thuộc chứng Ngũ linh tán.
Nhiệt vào huyết phận, huyết tích không vận hành, nhiệt kết với huyết, gọi là phạm phần lý của dinh phận, thuộc chứng Đào hạch thừa khí thang.
Cả hai đều là phạm bản, nhưng một phương đưa thủy ra bằng đường tiểu tiện, một phương công ứ huyết theo đường đại tiện. Thủy và huyết khác nhau nên chủ trị cũng khác nhau.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói:
Đào hạch thừa khí thang dùng Quế chi giải phần ngoài, giống ý nghĩa giải phần ngoài của Đại sài hồ thang.
Qua đó càng thấy nhiệt theo kinh Thái dương cần có Quế chi để giải.
Trình Tri nói:
Bệnh Thái dương chưa giải, theo kinh vào phủ, nên nhiệt kết ở bàng quang.
Người bệnh như cuồng là ứ nhiệt kết bên trong, tâm không yên, biểu hiện giống cuồng.
Nếu huyết tự đi xuống thì nhiệt theo ứ huyết mà giải. Tuy nhiên, phải ngoại chứng đã giải mới có thể trực tiếp công tà gây co kết ở bụng dưới.
Trong Điều vị thừa khí thang thêm Đào nhân là để tác động đến huyết phận; thêm Quế chi để thông huyết mạch, đồng thời giải tà theo kinh Thái dương.
Uông Hổ nói:
Bàng quang ở bụng dưới. Nhiệt kết ở phần vệ thì tiểu tiện bất lợi; ở phần dinh thì huyết không lưu hành, nên bụng dưới có hình trạng co kết cấp bách. Đó là dấu hiệu của súc huyết hạ tiêu.
Vì vậy, Đào hạch thừa khí thang là thuốc công súc huyết hạ tiêu, chữa bụng dưới co kết, không phải chỉ là thuốc thông nhiệt kết trong cơ quan bàng quang.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Những lời “chảy máu mũi rồi khỏi” là mô tả và cách giải thích của cổ văn, không có nghĩa cần gây chảy máu hoặc xem chảy máu là dấu hiệu an toàn. Màu nước tiểu hay một biểu hiện mạch cũng không đủ để tự quyết định phát hãn hoặc công hạ. Tê giác được nhắc trong cổ chú là dược liệu lịch sử, không phải đề nghị sử dụng hiện nay.
Trường Xuân biên soạn
ĐÀO HẠCH THỪA KHÍ THANG
Đào nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn) năm mươi hạt (liều tham khảo hiện đại: 12 g), Quế chi ba lạng (9 g theo tỷ lệ bản đang dịch; bản thông dụng ghi hai lạng, liều tham khảo 6 g), Đại hoàng bốn lạng (12 g), Mang tiêu hai lạng (6 g), Cam thảo chích hai lạng (6 g).
Năm vị trên, dùng bảy thăng nước, sắc còn hai thăng rưỡi, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, đặt lại lên lửa đun sôi nhẹ rồi nhấc xuống. Uống ấm trước bữa ăn, mỗi lần năm hợp, ngày ba lần; nên đi ngoài hơi lỏng.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương đến ngày thứ sáu, thứ bảy, biểu chứng vẫn còn, mạch vi mà trầm, lại không kết hung, người bệnh phát cuồng: đó là do nhiệt ở hạ tiêu. Thiếu phúc đáng lẽ phải cứng đầy; nếu tiểu tiện vẫn thông lợi thì khi huyết ứ được tống xuống, bệnh mới khỏi. Sở dĩ như vậy là vì nhiệt tà của Thái dương theo kinh vào trong, kết lại thành ứ nhiệt. Nên dùng Để đương thang để công hạ.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương đến ngày thứ sáu, thứ bảy, nếu biểu chứng vẫn còn thì mạch đáng lẽ phải phù đại. Nếu mạch vi mà trầm, tức bên ngoài có biểu chứng Thái dương, bên trong lại thấy mạch của Thiếu âm; đó là chứng của Ma hoàng phụ tử tế tân thang. Hoặc tà vào trong thì có thể thành chứng kết hung hoặc tạng kết.
Nay đã không có chứng Thái dương và Thiếu âm cùng mắc bệnh, cũng không thành kết hung hay tạng kết, mà người bệnh chỉ phát cuồng, thì biết ứ nhiệt của Thái dương theo kinh vào trong, không kết ở vệ phận của thượng tiêu, mà kết ở dinh phận của hạ tiêu. Vì vậy, thiếu phúc phải cứng đầy nhưng tiểu tiện vẫn thông lợi: đó là huyết tích lại ở hạ tiêu.
“Khi huyết được tống xuống thì khỏi” có nghĩa là nếu huyết không tự thoát xuống, phải dùng phép công hạ. Không dùng Để đương thang thì không đủ sức trục huyết, tống ứ xuống. Đây là phép trị hết sức thích đáng, không dễ thay thế.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Huyết tích lại đến mức phát cuồng thì thế nhiệt đã công lên tâm. Đào hạch thừa khí thang không đủ sức lay chuyển huyết ứ, Quế chi không đủ sức làm tan tà. Nếu không dùng vị tướng một mình xông thẳng vào trận thì không thể phá cửa ải mà giành thắng lợi. Vì vậy, thang được gọi là Để đương. “Để” nghĩa là đến; ý nói đây là phép trị đạt đến chỗ thích đáng nhất, không dễ thay thế.
Trương Lộ nói: Tà kết ở ngực thì dùng phép hãm hung để gột rửa thủy ẩm; tà kết ở thiếu phúc thì dùng Để đương để trục huyết.
Trình Tri nói: Mạch vi mà trầm là tà kết ở trong. Biểu chứng vẫn còn mà lại không kết hung, tức tà của Thái dương theo kinh vào trong, không kết ở thượng tiêu mà kết ở hạ tiêu. Tiểu tiện vẫn thông lợi là huyết mắc bệnh mà khí chưa mắc bệnh.
Trình Ứng Mao nói: Nhiệt kết ở khí phận thì tiểu tiện khó, rít; nhiệt kết ở huyết phận thì thành súc huyết. Huyết đã tích lại, không lưu hành, nếu không công hạ mạnh để tống huyết ứ xuống thì bệnh không khỏi.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi chính xác khối lượng cổ. Tài liệu của Nhà xuất bản Y học Nhân dân ghi Quế chi hai lạng, dùng tham khảo 6 g; bản bạn gửi ghi ba lạng nên tôi giữ nguyên và ghi rõ sự khác biệt. Các vị còn lại đối chiếu theo liều tham khảo của tài liệu này. rwzyzs.pmphai.com
Lượng nước và cách chia uống được giữ theo nguyên văn cổ, không tự động ghép thành hướng dẫn sắc dùng với liều gam trên. “Hạ huyết” trong đoạn này chỉ phép tống huyết ứ theo lý luận cổ, không có nghĩa là chủ động gây chảy máu. Đây là phương công hạ, cần được thầy thuốc đánh giá trước khi dùng.
Trường Xuân biên soạn
ĐỂ ĐƯƠNG THANG
Thủy điệt (sao) ba mươi con (không có số gam tương đương cố định), Manh trùng (sao, bỏ đầu và chân) ba mươi con (không có số gam tương đương cố định), Đại hoàng (bỏ vỏ, bẻ thành sáu miếng) ba lạng, Đào nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn) hai mươi hạt (không có số gam tương đương cố định).
Bốn vị trên, dùng năm thăng nước, sắc còn ba thăng, bỏ bã, uống ấm một thăng. Nếu chưa đi ngoài thì uống tiếp.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, thân vàng, mạch trầm kết, thiếu phúc cứng đầy: nếu tiểu tiện không thông lợi thì không phải chứng súc huyết; nếu tiểu tiện vẫn thông lợi, người bệnh có biểu hiện như cuồng thì chứng huyết đã rõ, thuộc chứng dùng Để đương thang.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nói rõ thêm mạch và chứng, bổ sung ý nghĩa cho nhau.
Bệnh Thái dương, bất luận trúng phong hay thương hàn, nếu thân vàng, mạch đại, bụng đầy, tiểu tiện không thông lợi, kèm ra mồ hôi ở đầu, thì đó là chứng vàng do thấp nhiệt, không phải do huyết ứ.
Nay thân vàng, mạch trầm kết, thiếu phúc cứng, tiểu tiện vẫn thông lợi, người bệnh có biểu hiện như cuồng, thì đó là chứng huyết, không phải thấp nhiệt. Vì vậy, nên dùng Để đương thang để công trục huyết ứ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Đế” nghĩa là xét rõ. Ý nói những biểu hiện như vậy đã xác định chắc chắn là chứng huyết, không còn nghi ngờ; phải dùng Để đương thang. Đây là lời khuyên người chữa bệnh không nên phân vân.
Trình Tri nói: Thân vàng, mạch trầm kết, thiếu phúc cứng, cả ba đều là biểu hiện của súc huyết ở hạ tiêu. Tuy nhiên, chúng vẫn gần giống chứng phát vàng do vị nhiệt, nên phải dựa thêm vào tiểu tiện để phân biệt.
Thiếu phúc đầy mà tiểu tiện không thông lợi thì thuộc bệnh của khí vô hình, là chứng dùng Nhân trần. Thiếu phúc cứng mà tiểu tiện vẫn thông lợi thì thuộc chứng huyết hữu hình, dùng Để đương là điều không còn nghi ngờ.
Uông Hổ nói: Trong nguyên văn, sau câu “tiểu tiện không thông lợi”, Trọng Cảnh không nói trị pháp. Lời chú của Thành Vô Kỷ nói có thể dùng Nhân trần thang; sách Bổ vong luận nói dùng Ngũ linh tán; sách Hậu điều biện nói thuộc chứng Nhân trần ngũ linh tán. Có thể cân nhắc lựa chọn trong ba phương ấy.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn có nhiệt, thiếu phúc đầy, đáng lẽ tiểu tiện phải không thông lợi, nay trái lại vẫn thông lợi, thì đó là có huyết tích lại. Nên công hạ, dùng Để đương hoàn.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nói về chứng nhẹ hơn, bổ sung ý nghĩa cho nhau để cân nhắc cách chữa.
Thương hàn là bệnh ở dinh. Nhiệt kéo dài không hết, ẩn trong dinh phận; nếu huyết không theo kinh vọng hành gây chảy máu mũi, thì có thể theo kinh tích xuống vùng bàng quang. Thiếu phúc là nơi bàng quang cư trú, vì vậy thiếu phúc đầy.
Nếu tiểu tiện không thông lợi thì bệnh ở vệ phận, có nước đình lại. Nay tiểu tiện trái lại vẫn thông lợi thì bệnh ở dinh phận, có huyết ứ. Theo phép phải công hạ, dùng phép của Để đương thang nhưng giảm quy mô, chế thành hoàn để công hạ từ từ; không nên dùng Để đương thang quá mạnh.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Phương ở điều trên đổi từ thang thành hoàn. Tuy gọi là hoàn nhưng vẫn đem nấu thành nước thuốc. Thang có ý nghĩa quét sạch; hoàn có ý nghĩa làm chậm. Đổi thang thành hoàn mà vẫn không rời cách nấu thang, là lấy ý muốn làm chậm mà không quá chậm, không công quét mạnh mà vẫn có tác dụng công quét.
Trình Ứng Mao nói: Nếu đầy do nhiệt vào khí phận, làm tân dịch tích lại, thì tiểu tiện đáng lẽ phải không thông lợi. Nay trái lại vẫn thông lợi thì biết thứ tích lại không phải tân dịch mà là huyết.
Huyết do nhiệt mà đầy kết, vì vậy đổi Để đương thang thành hoàn, nấu rồi uống cả bã, khiến thuốc đi thẳng đến nơi huyết tích, công hạ nhiệt lưu lại từ trước, quét sạch huyết ứ mới hình thành; như vậy mới trừ được gốc bệnh.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Chữ khuyết trước “trùng” trong thành phần là “manh”, chỉ Manh trùng; các chỗ “thiếu phúc □” được hiểu là thiếu phúc cứng.
Không thể lấy ba mươi con Thủy điệt, ba mươi con Manh trùng hoặc hai mươi hạt Đào nhân đổi thành một số gam cố định. Để có số liệu hiện đại đối chiếu, công thức chuẩn được cơ quan quản lý Trung y dược Đài Loan công bố ghi lượng dược liệu một ngày: Thủy điệt 10 g, Manh trùng 1 g, Đào nhân 2 g, Tửu đại hoàng 10 g. Đây là một công thức tham khảo hiện đại riêng, không phải phép quy đổi trực tiếp từng đơn vị trong cổ phương. dep.mohw.gov.tw
Để đương thang là phương phá huyết, công trục mạnh, không nên tự sắc dùng hoặc tự uống thêm theo câu “chưa đi ngoài thì uống tiếp”. Những phân biệt dựa vào tiểu tiện trong đoạn này thuộc lý luận cổ, cần đặt trong toàn bộ bệnh cảnh khi đánh giá thực tế.
Trường Xuân biên soạn
ĐỂ ĐƯƠNG HOÀN
Thủy điệt (sao) hai mươi con (không có số gam tương đương cố định), Manh trùng (sao, bỏ cánh và chân) hai mươi con (không có số gam tương đương cố định), Đào nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn) hai mươi lăm hạt (không có số gam tương đương cố định), Đại hoàng ba lạng (lượng dùng để chế cả bốn hoàn; không phải lượng cho một lần uống).
Bốn vị trên, giã và rây, chế thành bốn hoàn. Dùng một thăng nước nấu một hoàn, còn bảy hợp thì uống. Sau khoảng một ngày đêm, huyết ứ đáng lẽ được tống xuống; nếu chưa xuống thì uống tiếp.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Bàng quang là phủ, vốn không phải nơi chứa huyết. Thiếu phúc là vùng bàng quang cư trú. Nếu nhiệt kết gây cứng đầy thì tiểu tiện đáng lẽ không thông lợi; nay trái lại vẫn thông lợi, chứng tỏ bệnh không ở bên trong bàng quang mà ở trong vùng thiếu phúc.
Dinh huyết theo kinh, do ứ nhiệt mà kết ở bên trong thiếu phúc, không phải bên trong bàng quang. Vì vậy, tuy tiểu tiện vẫn thông lợi, tình trạng cứng đầy, co kết vẫn như cũ; đó là huyết tích lại, ứ ở thiếu phúc.
Nhiệt quấy nhiễu bên trong, thần hồn không yên nên phát cuồng. Huyết ứ không lưu hành thì dinh không vận chuyển, nên mạch vi mà trầm; dinh không vận chuyển thì khí không tuyên thông, nên mạch trầm mà kết. Dinh khí không chu lưu khắp thân thì thân vàng.
Tiêu cốc thiện cơ, tức thức ăn tiêu nhanh, mau đói, là do vị hỏa quá thịnh. Đại tiện trái lại dễ đi là do huyết làm nhuận; phân đen là do súc huyết biến hóa mà thành; hay quên là do huyết không nuôi dưỡng, trí không sáng suốt.
Đó đều là dấu hiệu của huyết ứ. Không dùng phương hết sức mạnh thì không đủ sức đánh thẳng vào nơi tà kết, đảm đương trọng trách ấy; vì vậy mới lập Để đương thang.
Thủy điệt giỏi hút huyết, hoạt động thuận lợi dưới nước; Manh trùng giỏi hút huyết, mạnh ở trên cạn. Cùng lấy hai loài giỏi hút huyết ở dưới nước và trên cạn để công trị, theo ý đồng khí tương cầu. Lại phối Đào nhân vị đắng, tính ấm để đẩy cái cũ, sinh cái mới; Đại hoàng vị đắng, tính lạnh để quét sạch tà nhiệt. Vì vậy gọi là Để đương.
Nếu nhiệt tuy thịnh nhưng chưa phát cuồng, thiếu phúc đầy nhưng chưa cứng, thì nên giảm quy mô của phương, chế thành hoàn để chữa từ từ.
Nếu ngoại chứng đã giải, thiếu phúc co kết, người bệnh có biểu hiện như cuồng, thì lại thuộc chứng chuyển sang Dương minh. Dùng Điều vị thừa khí thang, thêm Đào nhân và Quế chi để hành huyết, khiến đi ngoài hơi lỏng; vị được điều hòa thì bệnh khỏi. Đó là lý do Đào hạch thừa khí có tác dụng công trị nhẹ hơn.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi công hạ mạnh lại phát hãn, tâm hạ bĩ, sợ lạnh: đó là biểu chưa giải. Không được công bĩ, phải giải biểu trước; biểu giải rồi mới được công bĩ. Giải biểu nên dùng Quế chi thang; công bĩ nên dùng Đại hoàng hoàng liên tả tâm thang.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, sau khi công hạ mạnh lại phát hãn, tức hạ trước, hãn sau, đã làm sai thứ tự điều trị. Tà nhiệt hãm vào trong, kết thành bĩ ở tâm hạ; theo phép thì phải công lý.
Nếu còn sợ lạnh thì biểu tà chưa hết. Biểu tà đã chưa hết, không được công bĩ; phải giải biểu trước, biểu giải rồi mới được công bĩ.
Giải biểu nên dùng Quế chi thang, vì đây là biểu chứng sau khi đã phát hãn và công hạ. Công bĩ dùng Đại hoàng hoàng liên tả tâm thang, vì đây là chứng bĩ do lý nhiệt sau khi biểu đã giải.
TẬP CHÚ
Sách Hoạt nhân thư nói: Nhìn chung, kết hung và bĩ đều có trường hợp cần công hạ; nhưng nếu biểu chưa giải thì không được công.
Phương Hữu Chấp nói: Biểu ở đây không phải biểu lúc mới mắc bệnh, mà là biểu đã bị làm sơ lỏng do công hạ rồi lại phát hãn. “Giải” còn có nghĩa là cứu giải, như giải khát, giải nguy cấp.
Giải biểu khác với phát biểu. Biểu lúc mới mắc thương hàn cần phát tán nên dùng Ma hoàng thang. Biểu sau khi đã phát hãn cần điều giải nên nói dùng Quế chi thang.
Trương Lộ nói: Sau khi công hạ mạnh lại phát hãn, chữa lý trước rồi chữa biểu sau, thứ tự bị đảo lộn, sai lầm. Tà đã hãm vào trong, kết thành bĩ ở tâm hạ, chứng lại kèm sợ lạnh, biểu tà không vì phát hãn mà suy giảm, thì không được tiếp tục công bĩ.
Phải dùng phép giải cơ để chữa bên ngoài trước. Ngoại chứng giải rồi mới dùng Đại hoàng và Hoàng liên để công chứng bĩ do tà nhiệt ngưng tụ; như vậy mới đúng phép.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Chữ khuyết trước “trùng” được đọc là Manh trùng; những chữ khuyết chỉ tình trạng thiếu phúc trong đoạn này được hiểu là “cứng”. “Một ngày đêm” là nghĩa của chữ “tối thời” trong nguyên văn.
Để đương hoàn được chế thành bốn hoàn rồi nấu từng hoàn để uống, không phải uống cả lượng thuốc của phương trong một lần. Tôi giữ lượng cổ vì chưa có căn cứ đủ chắc để ghi một bộ số gam hiện đại tương ứng cho bản phương này; không lấy liều Để đương thang ở đoạn trước ghép sang.
Đây là phương công trục huyết ứ mạnh. Câu “chưa xuống thì uống tiếp” được dịch theo cổ văn, không phải hướng dẫn tự dùng hoặc tự tăng liều.
Trường Xuân biên soạn
ĐẠI HOÀNG HOÀNG LIÊN TẢ TÂM THANG
Đại hoàng hai lạng (liều tham khảo hiện đại: 6 g), Hoàng liên một lạng (liều tham khảo hiện đại: 3 g).
Hai vị trên, dùng hai thăng nước vừa sôi mạnh để ngâm thuốc; một lát sau vắt lọc bỏ bã, chia làm hai lần uống ấm.
PHƯƠNG GIẢI
Bĩ cứng thuộc hư tà mà lại dùng Đại hoàng, Hoàng liên, sao không khiến người đời sau nghi ngờ? Nhưng chỗ Trọng Cảnh khiến người ta nghi ngờ chính là chỗ cần tìm hiểu cho rõ.
Người đời sau không nghiền ngẫm kỹ, không nắm được cách dùng, cứ đem sắc rồi uống, như vậy trái hẳn ý của phương.
Xét cách dùng nước sôi nổi bọt dày như hạt gai để ngâm Đại hoàng và Hoàng liên, chỉ một lát đã vắt lọc bỏ bã, là nhằm lấy phần khí vô hình, không lấy nặng phần vị hữu hình. Như vậy, khí và vị đều nhẹ, không gây công hạ mạnh. Tuy gọi là công bĩ, nhưng cách vận dụng phép công thật tinh diệu.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù mà khẩn, lại dùng phép hạ, khẩn trái lại vào trong thì thành bĩ. Ấn vào vẫn mềm, chỉ là khí bĩ mà thôi.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, mạch phù khẩn, không phát hãn mà dùng phép hạ, khiến mạch phù khẩn đổi thành trầm khẩn: đó là dấu hiệu hàn tà hãm vào trong, gây bĩ.
“Ấn vào vẫn mềm” nghĩa là không cứng, không đau, chỉ có khí bĩ, cảm giác bức bối không khoan khoái. Đây là chứng của Cam thảo tả tâm thang.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Dùng phép hạ sai khiến thành bĩ, đã sai khi xét chứng, lại sai khi xét mạch; vì vậy, phép cứu chữa vẫn phải căn cứ cả mạch lẫn chứng để quyết định.
“Khẩn trái lại vào trong” nghĩa là phù khẩn đổi thành trầm khẩn. Biểu tà hãm vào trong, không tản ra, chuyển thành uất trệ ở tâm hạ nên gây bĩ.
ĐIỀU VĂN
Tâm hạ bĩ, ấn vào mềm, mạch ở bộ quan phù, Đại hoàng hoàng liên tả tâm thang chủ trị.
LỜI ÁN
Trước chữ “mềm” đáng lẽ phải có chữ “không”. Nếu ấn vào mềm thì là hư bĩ, bổ còn chưa kịp, làm sao có lý dùng Đại hoàng để tả?
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên để làm sáng tỏ ý nghĩa cho nhau. Ấn vào vẫn mềm thì chỉ là khí bĩ.
Nếu tâm hạ bĩ, ấn vào không mềm, thì đó là nhiệt bĩ có thể công. Tuy nhiên, mạch ở bộ quan không trầm khẩn mà phù, chứng tỏ nhiệt kết còn nông, chưa thể công mạnh. Vì vậy, dùng Đại hoàng hoàng liên tả tâm thang chủ trị.
ĐIỀU VĂN
Tâm hạ bĩ, lại sợ lạnh và ra mồ hôi, Phụ tử tả tâm thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Tâm hạ cứng đau là kết hung; cứng mà không đau là tâm hạ bĩ.
Tâm hạ bĩ, lại sợ lạnh và ra mồ hôi, không phải biểu tà chưa giải mà là biểu dương hư. Vì vậy, dùng Đại hoàng, Hoàng liên, Hoàng cầm để tả nhiệt gây bĩ; dùng Phụ tử để ôn biểu dương, cùng chữa cả ngoại hàn và nội nhiệt.
Chỗ tinh diệu càng nằm ở cách dùng nước sôi mạnh ngâm Tam hoàng, một lát sau vắt lọc bỏ bã, rồi cho nước Phụ tử đã sắc riêng vào. Ý nghĩa là nhẹ về tả bĩ, nặng về phù dương.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Bĩ vốn do âm tà ẩn bên trong, hư nhiệt ngưng tụ phía trên. Lại sợ lạnh và ra mồ hôi thì biết biểu hư, dương không đủ sức bảo vệ bên ngoài.
Tả tâm thang dùng để thanh nhiệt, giải bĩ; thêm Phụ tử là nhằm thu liễm mồ hôi, củng cố dương khí. Do thêm Phụ tử mà lại thêm Hoàng cầm, ý nghĩa biểu lý cùng giải được thể hiện đầy đủ.
Lý Trung Tử nói: Dùng vị đắng, tính lạnh của Tam hoàng để thanh nhiệt ở trung tiêu, trợ âm; dùng vị cay, tính nóng của Phụ tử để ôn kinh, cố dương. Hàn nhiệt cùng dùng, công bổ cùng thực hiện mà không trái nhau: đó là cách vận dụng tinh diệu của Trọng Cảnh.
Trình Ứng Mao nói: Điều này nên đọc đối chiếu với điều: “Thương hàn, sau khi công hạ mạnh lại phát hãn, tâm hạ bĩ, sợ lạnh, là biểu chưa giải; không được công bĩ, phải giải biểu trước, biểu giải rồi mới công bĩ. Giải biểu nên dùng Quế chi thang; công bĩ nên dùng Đại hoàng hoàng liên tả tâm thang.”
Điều trước dùng Quế chi vì đã dùng phép phát hãn nhưng mồ hôi chưa ra, chứng sợ lạnh lúc đầu vẫn chưa hết, nên thuộc biểu chưa hòa.
Điều này thêm Phụ tử vì mồ hôi đã ra, chứng sợ lạnh đã hết, sau đó lại sợ lạnh và ra mồ hôi, nên thuộc biểu dương hư. Phải xem xét kỹ những chỗ giống và khác nhau ấy.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép đổi chính xác từ lạng cổ. Tài liệu nghiên cứu về ứng dụng các phương Tả tâm ghi Đại hoàng 6 g, Hoàng liên 3 g, nhưng bản phương được trình bày trong nghiên cứu còn có Hoàng cầm; bản đang dịch ở đây chỉ ghi hai vị, nên tôi giữ nguyên thành phần. cccl-tcm.cacm.org.cn
“Ma phí thang” ở đây là nước sôi nổi nhiều bọt, không phải thuốc gây mê. Điều văn ghi “ấn vào mềm”; việc thêm chữ “không” là ý kiến hiệu đính của người chú giải, vì vậy được giữ riêng trong LỜI ÁN, không sửa vào nguyên văn.
Trường Xuân biên soạn
PHỤ TỬ TẢ TÂM THANG
Đại hoàng hai lạng (liều tham khảo hiện đại: 6 g), Hoàng liên một lạng (3 g), Hoàng cầm một lạng (3 g), Phụ tử một củ (bào chế, bỏ vỏ, bẻ nhỏ, sắc riêng lấy nước; không có số gam tương đương cố định).
Bốn vị trên, thái nhỏ ba vị Đại hoàng, Hoàng liên, Hoàng cầm, dùng hai thăng nước sôi mạnh ngâm thuốc; một lát sau vắt lọc bỏ bã. Cho nước Phụ tử đã sắc riêng vào, chia làm hai lần uống ấm.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn hoặc trúng phong, thầy thuốc lại dùng phép hạ, khiến người bệnh đi ngoài mỗi ngày vài chục lần, thức ăn không tiêu hóa, bụng sôi như sấm, vùng tâm hạ bĩ cứng mà đầy, nôn khan, tâm phiền không yên.
Thầy thuốc thấy tâm hạ bĩ, cho rằng bệnh chưa hết, lại dùng phép hạ, khiến bĩ càng nặng. Đây không phải nhiệt kết, mà chỉ vì trong vị hư, khách khí nghịch lên, gây nên tình trạng cứng ấy. Cam thảo tả tâm thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Bất luận thương hàn hay trúng phong, khi biểu chưa giải đều không nên công hạ. Thầy thuốc lại dùng phép hạ thì có thể thành bĩ hoặc gây hạ lợi.
Nay do công hạ sai, người bệnh đi ngoài mỗi ngày vài chục lần, thủy cốc không được tiêu hóa, bụng sôi như sấm: đó là tà nhân lúc lý hư mà gây hạ lợi.
Tâm hạ bĩ cứng mà đầy, nôn khan, tâm phiền không yên: đó là tà hãm vào vùng ngực vốn đã hư rồi nghịch lên.
Bĩ và hạ lợi như vậy, biểu lý cùng mắc bệnh, theo phép nên dùng Quế chi gia nhân sâm thang để giải cả hai. Nhưng thầy thuốc chỉ thấy tâm hạ bĩ, cho rằng bệnh chưa hết, lại công hạ, khiến bĩ càng nặng.
Qua đó có thể thấy bĩ này không phải nhiệt kết, cũng không phải hàn kết, mà do công hạ sai làm trung tiêu hư, tà khí nghịch lên, dương hãm, âm ngưng. Vì vậy, dùng Cam thảo tả tâm thang để hoãn cấp, điều hòa trung tiêu.
TẬP CHÚ
Thẩm Lượng Thần nói: Bán hạ tả tâm và Cam thảo tả tâm đều chữa hậu quả khí bị tổn thương sau công hạ. Sinh khương tả tâm liên quan đến ăn uống; Đại hoàng tả tâm liên quan đến nội nhiệt; Phụ tử tả tâm liên quan đến ngoại hàn. Chứng đã khác nhau thì thuốc cũng khác nhau.
Dụ Xương nói: Hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, bụng sôi, nôn khan và tâm phiền đều do công hạ sai khiến trong vị trống hư. Nếu không hiểu ý này, cho là nhiệt kết rồi lại công hạ, bĩ tất càng nặng. Vì vậy, điều văn lại nêu rõ “trong vị hư, khách khí nghịch lên” để làm sáng tỏ nguyên nhân bệnh.
Trình Ứng Mao nói: Trọng Cảnh sợ người đọc khó phân biệt với nhiệt kết, nên đặc biệt nêu nguyên nhân trong vị trống hư, khách khí nghịch lên, nhằm làm rõ đây không phải nhiệt kết.
Vì vậy, dùng thuốc cay ấm để điều hòa dương, chế ngự khách khí, không cho nghịch lên; dùng thuốc đắng lạnh để thanh giáng, loại bỏ khách nhiệt, không để lưu lại gây trở ngại. Nhờ đó, hai bên không còn ràng buộc, âm dương hòa hợp, bĩ chuyển thành thái, tức bế tắc chuyển thành thông thuận.
Uông Hổ nói: Người bệnh đi ngoài mỗi ngày vài chục lần thì những thứ trong vị đã hết, làm sao không hư? Huống chi thầy thuốc lại công hạ, bĩ càng nặng, càng chứng tỏ đây không phải thực chứng.
Nếu là thực chứng thì phải nói “cứng mà đau”, không nói “cứng mà đầy”. Chỉ riêng chữ “đầy” trong điều này đã giúp làm rõ sự khác biệt giữa hư và thực.
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều trước có sợ lạnh và ra mồ hôi, dương theo mồ hôi thoát ra ở biểu, sợ vong dương bên ngoài nên dùng Phụ tử để hồi dương.
Điều này chú trọng vị hư, dương suy ở trung tiêu, nên dùng Cam thảo và Can khương để ích dương. Đó cũng là việc cấp thiết trong phân biệt chữa biểu và lý. Tuy nhiên, lấy việc củng cố dương khí làm nền tảng để tả tà thì ý nghĩa vẫn thống nhất.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Số gam trong ngoặc là lượng tham khảo để đọc phương, không phải phép quy đổi chính xác khối lượng cổ. Phụ tử tính bằng củ không thể đổi cố định sang gam; cách bào chế và sắc riêng trong nguyên văn cũng không thay thế yêu cầu xử lý Phụ tử an toàn hiện nay.
Các chữ khuyết trong đoạn được hiểu là “cứng”. Bản điều văn ghi “tâm trung”, nhưng phần chú giải và câu sau đều nói “tâm hạ”; bản dịch dùng “vùng tâm hạ” để giữ mạch nghĩa nhất quán.
Trường Xuân biên soạn
CAM THẢO TẢ TÂM THANG
Cam thảo chích bốn lạng (liều tham khảo hiện đại: 12 g), Hoàng cầm ba lạng (9 g), Hoàng liên một lạng (3 g), Can khương ba lạng (9 g), Bán hạ (rửa) nửa thăng (Bán hạ đã bào chế: 9 g), Đại táo (bẻ đôi) mười hai quả (lượng tham khảo hiện đại: bốn quả).
Sáu vị trên, dùng một đấu nước, sắc còn sáu thăng, bỏ bã, sắc tiếp còn ba thăng. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày ba lần.
PHƯƠNG GIẢI
Phương lấy tên Cam thảo là nhằm biểu đạt ý điều hòa, làm dịu.
Dùng vị ngọt của Cam thảo và Đại táo để bổ chỗ hư của trung tiêu, làm dịu tình trạng cấp bách ở trung tiêu. Dùng vị cay của Bán hạ để giáng nghịch, chỉ ẩu; tính lạnh của Hoàng cầm và Hoàng liên để tả nhiệt gây bĩ do dương hãm; tính nóng của Can khương để tán hàn gây bĩ do âm ngưng.
Đó là phép hoãn trung, giáng nghịch, tả bĩ, trừ phiền, cùng dùng thuốc hàn và nhiệt.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi ra mồ hôi và bệnh đã giải, trong vị không hòa, tâm hạ bĩ cứng, ợ hơi có mùi thức ăn, dưới sườn có thủy khí, bụng sôi như sấm và hạ lợi, Sinh khương tả tâm thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, sau khi ra mồ hôi, biểu đã giải, dư tà chuyển thuộc Dương minh, nếu tâm hạ bĩ đầy, cứng đau, không đại tiện, thì người ấy vốn có táo nhiệt ở vị, do đó thành thực; có thể dùng phép công.
Nay người bệnh vốn vị hư, lại có thủy khí dưới sườn, dù không bị công hạ sai, dư nhiệt vẫn có thể nhân lúc hư mà vào trong. Vì vậy, trong vị không hòa, cốc khí không được hóa, gây tâm hạ bĩ cứng, ợ hơi có mùi thức ăn.
Thủy khí không lưu hành nên bụng sôi như sấm và hạ lợi. Dùng Sinh khương tả tâm thang chủ trị, ý chính là tán thủy khí để chữa hư bĩ.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Trong thiên này, khi bàn căn nguyên của kết hung và bĩ, có nói “trong vị trống hư”. Ở đây nói “trong vị không hòa”, vì người bệnh chưa bị công hạ sai làm vị trống hư, nên chỉ nói không hòa.
Tuy nhiên, chỉ không hòa cũng đã đủ gây bĩ. Vai trò của vị khí quả thật lớn như vậy.
Trình Tri nói: Điều này lập trị pháp cho chứng sau phát hãn, chưa bị công hạ sai, mà vùng tâm hạ bĩ cứng, thủy ẩm tụ kết.
Ngoại tà tuy đã giải, nhưng vị khí phải thông hòa thì người bệnh mới hoàn toàn bình phục. Sau khi ra mồ hôi, bệnh đã giải mà trong vị không hòa, thức ăn và thủy ẩm kết tụ, nên tâm hạ bĩ cứng.
Trung tiêu không tiêu hóa được thức ăn nên ợ hơi có mùi thức ăn. Thổ yếu không chế được thủy nên dưới sườn có thủy khí tràn sang đường khác. Bụng sôi như sấm là do thủy khí va động tạo tiếng; hạ lợi là vì thanh trọc không phân.
Vì vậy, trong Tả tâm thang lấy Sinh khương làm quân để tán thủy khí. Phép dùng sắc lại lần nữa là nhằm nấu kỹ, làm cho thuốc điều hòa vị.
Trình Ứng Mao nói: Ra mồ hôi quá nhiều làm mất dương, ai cũng biết. Nhưng dương trong cơ thể có những phần, mỗi phần đảm nhiệm chức năng riêng.
Có dương bảo vệ bên ngoài, làm chủ dinh vệ toàn thân. Dương này hư thì xuất hiện mồ hôi rỉ ra không ngừng, sợ lạnh, thân thể đau nhức.
Có dương trong thận, làm chủ chân nguyên ở hạ tiêu. Dương này hư thì xuất hiện phát nhiệt, chóng mặt, hồi hộp, thân thể rung động, như muốn ngã xuống đất.
Có dương ở đản trung, làm chủ tâm khí ở thượng tiêu. Dương này hư thì xuất hiện hai tay đan chéo ôm trước ngực, tai điếc và bôn đồn.
Có dương trong vị, làm chủ sự hóa sinh thủy cốc ở trung tiêu. Dương này hư thì xuất hiện bụng trướng đầy, trong vị không hòa, thành chứng tâm hạ bĩ.
Tuy đều phát sinh sau phát hãn, người cứu chữa sai lầm vẫn phải xem xét mạch và chứng, biết đã phạm sai lầm nào để dùng phép thích hợp. Không được chỉ dựa vào câu “mồ hôi nhiều làm mất dương” mà đánh đồng tất cả.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải khối lượng tương đương chính xác của đơn vị cổ. Giáo trình Phương tễ học ghi các lượng tham khảo trên, nhưng trình bày Cam thảo tả tâm thang có thêm Nhân sâm ba lạng (9 g). Bản bạn gửi chỉ có sáu vị, nên bản dịch giữ nguyên, không tự thêm Nhân sâm. lfhospital.net
“Bán hạ rửa” là cách ghi của cổ phương; dùng hiện nay phải là Bán hạ đã bào chế phù hợp. Các chữ khuyết trong đoạn được hiểu theo văn cảnh là “cứng”, “sườn” và “rung”.
Trường Xuân biên soạn
SINH KHƯƠNG TẢ TÂM THANG
Cam thảo chích ba lạng (liều tham khảo hiện đại: 9 g), Nhân sâm ba lạng (9 g), Can khương một lạng (3 g), Bán hạ (rửa) nửa thăng (Bán hạ đã bào chế: 9 g), Hoàng cầm ba lạng (9 g), Hoàng liên một lạng (3 g), Sinh khương (thái) bốn lạng (12 g), Đại táo (bẻ đôi) mười hai quả (lượng tham khảo hiện đại: bốn quả).
Tám vị trên, dùng một đấu nước, sắc còn sáu thăng, bỏ bã, sắc tiếp còn ba thăng. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày ba lần.
PHƯƠNG GIẢI
Gọi là Sinh khương tả tâm thang vì ý chính nằm ở việc tán thủy khí gây bĩ.
Sinh khương và Bán hạ tán thủy khí dưới sườn; Nhân sâm và Đại táo bổ chỗ hư của thổ ở trung tiêu; Can khương và Cam thảo ôn lý hàn; Hoàng cầm và Hoàng liên tả nhiệt gây bĩ.
Phương đã gồm đủ cách chữa hư, thủy, hàn và nhiệt, thì chứng bĩ kèm vị không hòa và hạ lợi há lại không khỏi?
ĐIỀU VĂN
Thương hàn đến ngày thứ năm, thứ sáu, nôn và phát nhiệt, chứng Sài hồ thang đã đầy đủ, nhưng lại dùng thuốc khác để công hạ. Nếu chứng Sài hồ vẫn còn thì lại cho Sài hồ thang. Tuy đã công hạ nhưng chưa thành nghịch chứng, người bệnh sẽ nóng bốc rồi run rẩy, sau đó phát nhiệt, ra mồ hôi mà giải.
Nếu tâm hạ đầy, cứng đau thì đó là kết hung, Đại hãm hung thang chủ trị. Nếu chỉ đầy mà không đau thì đó là bĩ, không thích hợp cho Sài hồ thang, nên dùng Bán hạ tả tâm thang.
CHÚ GIẢI
Kết hung kèm lý thực Dương minh là chứng Đại hãm hung thang; kèm Dương minh nhưng chưa thành thực là chứng Tiểu hãm hung thang.
Bĩ cứng kèm lý thực Thiếu dương là chứng Đại sài hồ thang; kèm Thiếu dương nhưng lý chưa thành thực là chứng Bán hạ tả tâm thang.
Nay thương hàn đến ngày thứ năm, thứ sáu, nôn và phát nhiệt, là tà đã truyền sang Thiếu dương. Chứng Sài hồ đã đầy đủ mà không dùng Sài hồ để hòa giải, lại dùng thuốc khác công hạ, là sai.
Nếu chứng Sài hồ vẫn còn thì tuy đã công hạ, chưa thành nghịch chứng, vẫn phải cho lại Sài hồ thang. Người bệnh sẽ nóng bốc, run rẩy, sau đó phát nhiệt, ra mồ hôi mà giải. Bởi trung khí hư sau công hạ nên biểu hiện lúc bệnh giải có thể như vậy.
Nếu sau công hạ, tâm hạ đầy, cứng đau thì đó là kết hung, dùng Đại hãm hung thang là thích hợp.
Nếu chỉ đầy mà không đau thì đó là bĩ do hư nhiệt, khí nghịch. Dù còn chứng Thiếu dương như nôn và phát nhiệt, cũng không thích hợp cho Sài hồ thang. Theo phép phải chữa bĩ, nên dùng Bán hạ tả tâm thang chủ trị.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Nếu sau công hạ, dương tà truyền vào lý thì kết ở ngực thành kết hung, vì ngực là phần tiếp nhận dương khí. Âm tà truyền vào lý thì lưu ở tâm hạ thành bĩ, vì tâm hạ là phần tiếp nhận âm khí.
Trình Ứng Mao nói: Tuy cùng là phép tả tâm, nhưng trong chứng có nôn thì công dụng chú trọng gột rửa thủy ẩm, nên lấy Bán hạ đặt tên thang.
Gọi là “tả tâm” vì tình trạng đầy nằm ở tâm hạ, vị trí của thanh dương. Nhiệt tà kèm thủy ẩm nhưng chưa thành thực, nên thanh nhiệt, trừ ẩm để khí ở tâm hạ được thông. Trên dưới không còn trở ngại thì âm dương tự nhiên giao thông.
Tuy nhiên, then chốt hoàn toàn nằm ở vị, nên lại bổ chỗ hư của vị để khôi phục sự vận chuyển, khác hẳn với trường hợp thực nhiệt vào vị, phải tả phần tích đầy.
Bĩ tuy thuộc hư tà, nhưng là biểu khí vào lý, hàn đã hóa nhiệt. Hàn tuy hóa nhiệt nhưng nhiệt chưa thành thực, nên dùng thuốc đắng lạnh để tả nhiệt, đồng thời phối thuốc cay ngọt để bổ hư. Không cần công bĩ mạnh mà bĩ tự tan. Vì vậy, trong một phương cùng dùng thuốc hàn và nhiệt.
Nếu là âm bĩ không liên quan đến dương uất, hoặc tuy uất nhưng chưa hóa nhiệt, thì phép tả tâm có thể dùng chung hay không?
Uông Hổ nói: Bệnh Thiếu dương bị công hạ sai, tà ở bán biểu bán lý, nằm giữa âm và dương, nên có chứng bĩ kết.
Trong cơ thể, dưới cơ hoành thuộc âm, trên cơ hoành thuộc dương. Thiếu dương ở thanh đạo, xen giữa vùng cơ hoành, cũng là bán biểu bán lý. Từ đó có thể hiểu khi bệnh Thiếu dương bị công hạ sai, tà khí nhân lúc hư mà vào lý, vì sao lại phân thành kết hung hoặc khí bĩ.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại theo giáo trình Phương tễ học đã đối chiếu ở đoạn trước, không phải phép quy đổi chính xác đơn vị cổ. Lượng nước và cách sắc được giữ theo nguyên văn. www.lfhospital.net
Chữ “sản” trong câu nói về phát nhiệt có vẻ là lỗi chép của chữ “phát”, nên dịch là “sau đó phát nhiệt”. Những chữ khuyết được hiểu theo văn cảnh là “sườn” và “cứng”.
Câu cuối lời Trình Ứng Mao trong bản gửi ghi rằng phép tả tâm “đều có thể dùng”, nhưng mạch lập luận phía trước lại đặt vấn đề hàn chưa hóa nhiệt. Bản dịch thể hiện thành câu hỏi để giữ ý phân biệt; đây là cách đọc của người dịch, không phải sửa nguyên văn thành một kết luận chắc chắn.
Trường Xuân biên soạn
BÁN HẠ TẢ TÂM THANG
Bán hạ (rửa) nửa thăng (liều tham khảo hiện đại, dùng loại đã bào chế: 9 g), Hoàng cầm ba lạng (9 g), Can khương ba lạng (9 g), Nhân sâm ba lạng (9 g), Hoàng liên một lạng (3 g), Cam thảo chích ba lạng (9 g), Đại táo (bẻ đôi) mười hai quả (lượng tham khảo hiện đại: bốn quả).
Bảy vị trên, dùng một đấu nước, sắc còn sáu thăng, bỏ bã, sắc tiếp còn ba thăng. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày ba lần.
ĐIỀU VĂN
Vốn do dùng phép hạ nên tâm hạ bĩ, đã cho Tả tâm thang. Bĩ không giải, người bệnh khát, miệng khô, phiền và tiểu tiện không thông lợi, Ngũ linh tán chủ trị.
CHÚ GIẢI
Vốn do công hạ quá sớm nên thành tâm hạ bĩ.
Nếu là bĩ do nhiệt kết thành thực thì nên dùng Đại hoàng hoàng liên tả tâm thang, thuộc phép công bằng thuốc hàn. Nếu là bĩ do ngoại hàn, nội nhiệt thì nên dùng Phụ tử tả tâm thang, thuộc phép ôn công.
Nếu là bĩ do hư nhiệt kèm thủy khí thì nên dùng Sinh khương tả tâm thang, thuộc phép tán ẩm. Nếu là bĩ do hư nhiệt kèm nôn thì nên dùng Bán hạ tả tâm thang, thuộc phép giáng nghịch. Nếu là bĩ do hư nhiệt ngày càng nặng thì nên dùng Cam thảo tả tâm thang, thuộc phép hoãn cấp.
Nay đã xét chứng, cho dùng các phương Tả tâm thích hợp mà bĩ vẫn không giải, thì phải xét lại người bệnh. Nếu khát, miệng khô, tâm phiền, tiểu tiện không thông lợi, thì không phải do biện chứng chưa rõ hoặc sức thuốc chưa đủ, mà do thủy ẩm tích bên trong, tân dịch không lưu hành nên bĩ không giải.
Nên dùng Ngũ linh tán để bên ngoài phát tán, bên trong thông lợi. Khi ra mồ hôi, tiểu tiện thông lợi thì bệnh khỏi. Từ đây có thể suy rộng ra những trường hợp tương tự.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Dùng Tả tâm thang chữa bĩ mà bĩ không giải thì biết đó không phải bĩ do khí tụ. Khát, miệng khô, phiền, tiểu tiện không thông lợi là do tân dịch bị trở ngại, không lưu hành, thủy ẩm ẩn bên trong ngưng kết.
Ngũ linh tán lợi thủy, sinh tân. Tân dịch được sinh thì khát và phiền ngừng; thủy được thông lợi thì bĩ tự hết. Vì vậy, đây cũng là một phép tiêu bĩ đầy.
Trình Ứng Mao nói: Các phương Tả tâm có tác dụng khai kết, tả nhiệt, bổ hư, có thể nói đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, phép chữa thực chất nằm ở thượng tiêu và trung tiêu. Cũng có trường hợp bĩ ở trên nhưng phải chữa ở hạ tiêu; đó lại là một phép khác.
Nguồn gốc gây bĩ tuy giống nhau, nhưng nếu người bệnh khát, khô miệng, phiền, tiểu tiện không thông lợi, thì biết sau công hạ, vị hư khiến thủy ẩm tích bên trong, tân dịch không lưu hành, bĩ không có đường thoát; đó không phải nhiệt kết.
Dùng Ngũ linh tán để trọc âm thoát qua đường dưới, thanh dương ở thượng tiêu tự không còn bị ngăn trở. Hơn nữa, Ngũ linh tán tuyên thông khí hóa, đồng thời đưa tà ở biểu và lý ra ngoài. Khiến tà ở vùng tâm không được tả trực tiếp tại đó mà được dẫn qua bàng quang: đây lại là một phép chữa khác.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, uống thuốc thang rồi hạ lợi không ngừng, tâm hạ bĩ cứng. Đã uống Tả tâm thang, lại dùng thuốc khác công hạ, hạ lợi vẫn không ngừng. Thầy thuốc cho Lý trung, hạ lợi càng nặng.
Lý trung là điều lý trung tiêu; hạ lợi này ở hạ tiêu, Xích thạch chi vũ dư lương thang chủ trị. Nếu hạ lợi vẫn không ngừng thì nên làm thông lợi tiểu tiện.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, uống thuốc thang rồi hạ lợi không ngừng, tâm hạ bĩ cứng, là hậu quả của công hạ sai.
Hạ lợi kèm bĩ cứng vẫn là hư bĩ, dùng Tả tâm thang đã đúng phép. Nhưng bĩ chưa khỏi, lại dùng thuốc khác công hạ. Bĩ tuy hết mà hạ lợi không ngừng; thầy thuốc dùng Lý trung thang để ôn, hạ lợi lại càng nặng.
Không biết rằng Lý trung là điều lý trung tiêu, còn hạ lợi này ở hạ tiêu, thuộc hoạt thoát. Vì vậy, dùng Xích thạch chi vũ dư lương thang để sáp trường, cố thoát, hạ lợi mới có thể ngừng.
Nếu đã ngừng rồi lại hạ lợi thì phải xét tiểu tiện có thông lợi hay không. Nếu tiểu tiện thông lợi, nên phối thuốc ôn bổ để hoàn tất tác dụng.
Nếu tiểu tiện không thông lợi thì thủy không có đường thoát. Dùng thuốc cố sáp lâu ngày, vì vậy hạ lợi lại không ngừng. Khi ấy phải làm thông lợi tiểu tiện, khiến đường thủy thông thì hạ lợi tự ngừng.
TẬP CHÚ
Trịnh Trọng Quang nói: “Thang” có nghĩa là công quét, ở đây chỉ thuốc công hạ. Công hạ sai khiến hạ lợi không ngừng, tâm hạ bĩ cứng, dùng Tả tâm thang là đúng phép.
Lại dùng thuốc khác công hạ là sai rồi lại sai. Dùng Lý trung để khai bĩ, chỉ lợi vốn không phải không có lý, nhưng hạ lợi càng nặng là vì công hạ nhiều lần làm tổn thương thận, hạ tiêu không còn giữ vững.
Vì vậy, dùng Thạch chi và Vũ dư lương để củng cố ruột hư, thu giữ tình trạng hoạt thoát. Nếu hạ lợi vẫn không ngừng thì phải làm thông lợi tiểu tiện.
Bàng quang là phủ của thận; thận chủ hai đường bài tiết, khai khiếu ở hai âm. Làm thông lợi tiểu tiện là khiến tạng và phủ đều thực hiện chức năng của mình, nhờ đó thủy và cốc được phân biệt, hạ lợi tự ngừng.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép đổi chính xác từ đơn vị cổ. Cách sắc và chia uống được giữ theo nguyên văn.
“Hạ lợi ở hạ tiêu”, “hoạt thoát” và “lợi tiểu để chỉ lợi” là cách giải thích trong cổ thư. Không nên hiểu thành mọi trường hợp tiêu chảy kéo dài đều cần thuốc cố sáp hoặc lợi tiểu, nhất là khi người bệnh đang mất nước.
Trường Xuân biên soạn
XÍCH THẠCH CHI VŨ DƯ LƯƠNG THANG
Xích thạch chi (đập vụn) một cân (liều tham khảo hiện đại: 30 g), Thái ất vũ dư lương (đập vụn) một cân (liều tham khảo hiện đại: 30 g).
Hai vị trên, dùng sáu thăng nước, sắc còn hai thăng, bỏ bã, chia làm ba lần uống ấm.
PHƯƠNG GIẢI
Kha Cầm nói: Cam thảo, Can khương, Nhân sâm và Bạch truật có thể bổ nguyên khí hư ở trung tiêu, nhưng không đủ sức giữ lại phần tinh chất đang thoát ở hạ tiêu. Hạ lợi này ở hạ tiêu, chưa thể chỉ dùng phương Lý trung mà đạt kết quả.
Tuy nhiên, đại trường không vững vẫn liên quan đến vị; cửa đóng không chặt vẫn liên quan đến tỳ. Hai vị này đều do tinh khí của thổ kết thành, có thể làm vững vị, sáp trường. Vì vậy, tuy cấp thời chữa phần ngọn ở hạ tiêu, thực chất vẫn là bồi đắp phần gốc ở trung tiêu.
Điều cốt yếu là chứng này thuộc thổ hư, không phải hỏa hư, nên không thích hợp dùng Can khương và Phụ tử. Nếu thủy không được thông lợi, thấp quá nhiều, hạ lợi lại không ngừng, thì phải làm thông lợi tiểu tiện.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi phát hãn, hoặc dùng phép thổ, phép hạ, bệnh đã giải mà tâm hạ bĩ cứng, ợ hơi không ngừng, Toàn phúc đại giả thạch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, sau khi phát hãn, hoặc dùng phép thổ, phép hạ, bệnh đã giải, nếu biểu lý đều thanh thì vị tự nhiên điều hòa, muốn ăn và bình phục.
Nay tà tuy đã giải nhưng tâm hạ bĩ cứng, là vị hư mà có kết tụ; ợ hơi không ngừng là vị khí nghịch.
Phép chữa bĩ không ngoài các phương Tả tâm. Vì vậy, từ Sinh khương tả tâm thang bỏ Hoàng cầm, Hoàng liên và Can khương, bởi bệnh đã giải, không còn tà hàn nhiệt.
Phối thêm Toàn phúc hoa và Đại giả thạch để bổ hư, tuyên thông khí, trừ ẩm, trấn nghịch.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Giải” nghĩa là đại tà đã tan. Tâm hạ bĩ cứng, ợ hơi không ngừng là chính khí chưa phục hồi, vị khí còn yếu, thủy ẩm ẩn bên trong gây nghịch. Vì vậy, dùng Toàn phúc đại giả thạch thang để dưỡng chính, tán dư tà.
Dụ Xương nói: Ý chính của điều này nằm ở chỗ ợ hơi không ngừng. Đã có tâm hạ bĩ cứng, lại thêm ợ hơi không ngừng, tức vị khí nghịch lên, hoàn toàn không đi xuống, có thăng mà không có giáng.
Như lời nói: dây đàn đứt thì tiếng rè; thổ suy bại thì phát tiếng uế, tức tiếng nấc hoặc ọe. Vì vậy, dùng Đại giả thạch dẫn Nhân sâm đi xuống để trấn an khí nghịch.
Uông Hổ nói: Chứng ợ hơi này khác với chứng ợ trong điều Sinh khương tả tâm thang phía trước. Tuy ợ nhưng không có mùi thức ăn, nên biết là trung khí hư.
Thẩm Minh Tông nói: Công hạ sai có thể thành bĩ; xét điều này thì sau phát hãn, bệnh đã giải, cũng có thể thành bĩ.
Bởi phát hãn, thổ và hạ đều làm tổn thương khí bên trong. Chỗ hư nhất chính là chỗ dễ dung nạp tà. Vì vậy, tà nhẹ theo chỗ hư mà hãm vào trong, trọc âm nghịch lên, xung vùng tâm, gây tâm hạ bĩ cứng và ợ hơi không ngừng.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Chữ “筋” trong lượng thuốc được đọc là “斤”, nghĩa là cân. Số gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại của phương, không phải khối lượng vật lý tương đương của một cân cổ. Tài liệu Phương tễ tâm đắc thập giảng ghi mỗi vị dùng tham khảo 30–60 g; bản dịch lấy mức 30 g để đối chiếu. culture.pkstate.com
“Cửa đóng không chặt” là hình ảnh cổ diễn tả chức năng giữ vững đường ruột suy yếu. Các chữ khuyết trong “tâm hạ bĩ” được hiểu là “cứng”.
Trường Xuân biên soạn
TOÀN PHÚC ĐẠI GIẢ THẠCH THANG
Toàn phúc hoa ba lạng (liều tham khảo hiện đại: 9 g), Nhân sâm hai lạng (6 g), Sinh khương (thái) năm lạng (15 g), Đại giả thạch một lạng (3 g), Bán hạ (rửa) nửa thăng (Bán hạ đã bào chế: 9 g), Cam thảo chích ba lạng (9 g), Đại táo (bẻ đôi) mười hai quả (lượng tham khảo hiện đại: bốn quả).
Bảy vị trên, dùng một đấu nước, sắc còn sáu thăng, bỏ bã, sắc tiếp còn ba thăng. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày ba lần.
PHƯƠNG GIẢI
La Thiên Ích nói: Sau khi dùng phép hãn, thổ, hạ, bệnh đã giải, tà tuy hết nhưng vị khí đã hao tổn.
Vị khí hao tổn khiến tam tiêu mất chức năng; thanh không có nơi quy về nên không thăng, trọc không có nơi tiếp nhận nên không giáng. Vì vậy, tà khí lưu trệ, thủy ẩm ẩn bên trong gây nghịch, sinh tâm hạ bĩ cứng, ợ hơi không ngừng.
Trong phương, Nhân sâm và Cam thảo dưỡng chính, bổ hư; Sinh khương và Đại táo hòa tỳ, dưỡng vị, nhằm ổn định trung tiêu một cách chu đáo.
Lại dùng tính nặng của Đại giả thạch để thu giữ khí phù, trấn nghịch; vị cay của Toàn phúc hoa để tuyên thông khí, trừ ẩm. Phối Nhân sâm để đưa khí trở xuống, phối Bán hạ để trừ ẩm ở trên. Trọc giáng thì bĩ cứng có thể tiêu; thanh thăng thì ợ hơi có thể hết.
Xét Trọng Cảnh chữa thủy khí của Thiếu âm lấn lên trên thì dùng Chân vũ thang để trấn; chữa hạ tiêu hoạt thoát, không giữ vững thì dùng Xích thạch chi vũ dư lương thang để cố.
Ở đây, vị hư, khí mất thăng giáng, lại dùng phép này để điều lý, khiến vùng ngực từ bế tắc chuyển sang thông thuận. Các phép quy nguyên, cố hạ ấy đều tinh diệu như vậy.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi dùng phép thổ mạnh và hạ mạnh, người bệnh hết sức hư, lại ra mồ hôi rất nhiều. Vì thấy khí ở ngoài uất trệ, lại cho uống nước để phát hãn, do đó sinh uế. Sở dĩ như vậy là vì trong vị lạnh.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, sau khi dùng phép thổ mạnh và hạ mạnh, tân dịch hết sức hao tổn. Người bệnh mặt đỏ, biểu khí uất trệ, khát muốn uống; lại cho uống nước nóng để trợ phát hãn, do đó sinh uế.
Nguyên nhân là thổ và hạ mạnh đã làm trung tiêu hư, lại phát hãn khiến dương thoát ra ngoài, nên nói trong vị hư lạnh. Có thể dùng Ngô thù du thang để ôn trung, giáng nghịch.
LỜI ÁN
Vị chủ tiếp nhận, phía dưới thông với đường bài tiết. Nếu vị mắc bệnh, mất chức năng, thì không chuyển xuống đại trường, tiểu trường, không tiếp nhận mà trái lại đẩy ra ngoài.
Có vật ra mà không có tiếng gọi là thổ; có cả tiếng và vật ra gọi là ẩu; có tiếng mà không có vật ra gọi là can ẩu, tức nôn khan. Can ẩu chính là uế; vì có tiếng “uế uế” nên gọi như vậy.
Trong sách, ẩu được xem là nhẹ, uế được xem là nặng. Bởi trong vị có vật, vật và khí cùng nghịch, tổn thương nhẹ hơn; trong vị trống hư, chỉ còn khí nghịch lên, tổn thương nặng hơn.
Uế cùng xuất hiện với chứng tam âm thì thuộc hư, thuộc hàn; cùng xuất hiện với chứng tam dương thì thuộc thực, thuộc nhiệt.
Thuộc hư hàn thì lựa chọn các phương Tứ nghịch, Lý trung, Ngô thù du; thuộc thực nhiệt thì lựa chọn Điều vị thừa khí, Đại thừa khí, Tiểu thừa khí. Không nên cho rằng cứ có uế là vị khí suy bại, không thể công hạ.
Trong sách có nói: “Thương hàn, uế mà bụng đầy, xét đường trước và đường sau, biết đường nào không thông lợi, làm thông lợi thì khỏi.” Chính là ý ấy.
Có người đời sau cho rằng uế là ách nghịch, ngật nghịch hoặc ợ hơi, đều không đúng theo cách phân biệt ở đây.
Tiếng và khí của uế từ vị ra miệng, phát tiếng mạnh, dồn dập. Tiếng ách nghịch thì khí từ dưới rốn xung lên, ra miệng thành tiếng “ấc”, rời rạc, không liên tục.
Ách nghịch chính là hiện tượng được thiên Bình mạch gọi là khí nghẹn kết, phát thành tiếng. Xem người ách nghịch, cho nước lạnh thì lập tức có tiếng “ấc”, còn uế không như vậy, có thể nhận biết sự khác nhau.
Ngật nghịch và噫 khí là những hiện tượng hiện nay gọi là ợ hơi. Vì ăn no quá nhanh, ngay lúc ấy phát ợ, không có mùi thức ăn, nên gọi là ngật nghịch. Vì ăn quá nhiều, thức ăn gây trở ngại, qua một thời gian mới ợ, có mùi thức ăn, nên gọi là噫 khí.
Uế, ách, ái và噫 đều có tiếng mà không có vật ra. Tuy cùng thuộc khí nghịch lên, vẫn có sự khác nhau về hư thực, hàn nhiệt, nhẹ nặng, mới mắc hay lâu ngày.
Thậm chí có người lấy khái nghịch làm ách nghịch, không biết khái nghịch là ho suyễn theo cách gọi hiện nay. Đánh đồng với ách nghịch đều do không khảo xét kỹ, mà được mất, lợi hại trong chữa bệnh có liên quan đến đó.
Không thể không phân biệt: can ẩu tức uế; khái nghịch tức ho suyễn. Ý nghĩa được nói rõ trong Kim quỹ yếu lược.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Chứng uế có hư, có thực. Uế do hư phát sinh từ vị lạnh.
Sau thổ mạnh, hạ mạnh, âm hư, dương không có nơi nương tựa nên mặt đỏ; không ra được mồ hôi, khí bên ngoài uất trệ.
Thầy thuốc thấy mặt đỏ, cho rằng nhiệt khí uất trệ, lại cho uống nước để phát hãn thật nhiều. Không biết dương theo mồ hôi thoát ra ngoài làm vị hư; nước tác động bên trong gây ngăn trở, vị khí đã suy yếu, làm sao không sinh uế?
Uông Hổ nói: Thương hàn, sau thổ mạnh và hạ mạnh đã hết sức hư, vì sao lại phát hãn thật nhiều?
Bởi người bệnh có khí uất trệ ở ngoài, sắc khí trên mặt trông như ngoại tà đang uất ở biểu. Thực ra đây là vị phủ Dương minh hư đến mức cùng cực, khí phù nhiệt bốc lên mặt.
Thầy thuốc nhận lầm là tà nhiệt làm vị táo quá mức, không ra được mồ hôi, nên lại cho uống nước để trợ phát hãn, do đó sinh uế.
CHÚ ÂM CUỐI THIÊN
Đoạn cuối ghi cách đọc chữ Hán, gồm cách đọc trực tiếp, thanh điệu và phép phiên thiết. Có thể diễn đạt bằng âm Hán–Việt như sau:
Mạt đọc theo chữ mạt; nội trong nghĩa cho thuốc vào đọc là nạp; hợp được ghi theo âm của chữ cáp; kiến trong nghĩa hiện ra đọc là hiện; di đọc theo chữ di; dương trong nghĩa làm tan keo đọc là dương. Khái ghi phiên thiết “khê–giới”; huyễn ghi phiên thiết “hạp–quyến”; chấn đọc bình thanh; trất ghi phiên thiết “trắc–lực”; minh đọc theo chữ minh. Một chữ khuyết ghi phiên thiết “nhữ–lục”; điệt đọc theo chữ chất; một chữ khuyết đọc theo chữ hoang; đế đọc theo chữ đế; đương đọc khứ thanh; ứ ghi phiên thiết “ảnh–cứ”;噫 ghi phiên thiết “ất–giới”; nhu đọc theo chữ nhuyễn; uế ghi phiên thiết “ư–nguyệt”.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi chính xác từ đơn vị cổ. Một bộ lượng tham khảo được trình bày trong Thương hàn danh y y án tinh tuyển là Toàn phúc hoa 9 g, Nhân sâm 6 g, Sinh khương 15 g, Đại giả thạch 3 g, Cam thảo chích 9 g, Bán hạ 9 g, Đại táo bốn quả. culture.pkstate.com
Phần phân biệt “uế”, “ách nghịch”, “ngật nghịch”, “噫 khí” là quan điểm thuật ngữ của người chú giải. Cách dùng những từ này trong các cổ thư không hoàn toàn thống nhất; ở đây giữ “uế” để tránh gán tất cả thành nấc hoặc nôn khan. Những mô tả cho uống nước để trợ phát hãn thuộc việc bàn sai lầm điều trị trong cổ văn.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH, CHỨNG VÀ TRỊ BỆNH THÁI DƯƠNG — THIÊN HẠ
Thái dương trúng phong là phong làm tổn thương vệ; thương hàn là hàn làm tổn thương dinh. Ý nghĩa ấy đã được nói rõ trong thiên thượng và thiên trung. Nay lấy những trường hợp phong hàn cùng gây tổn thương, dinh vệ cùng mắc bệnh, trình bày thành thiên hạ.
Hai khí phong và hàn thường đi cùng nhau, ít khi tách rời. Khi có hàn không phải đều không có phong; khi có phong không phải đều không có hàn. Phong hàn cùng tác động, tà xâm phạm con người thì dinh vệ cùng mắc bệnh. Vì các chứng ấy đều không có mồ hôi nên đều gọi là thực tà.
Do đó, lập phép cùng giải dinh vệ bằng Đại thanh long thang, làm ra mồ hôi trong trường hợp hàn tà bế ở ngoài, phong tà uất ở trong, không ra mồ hôi mà phiền táo.
Tuy nhiên, phải xét kỹ: mạch người bệnh không vi nhược, không có chứng Thiếu âm, mới được dùng. Nếu dùng sai thì mồ hôi ra đầm đìa, tay chân quyết lạnh, gân giật, cơ thịt rung động, có thể dẫn đến biến chứng vong dương. Vì vậy, lại lập Chân vũ thang để cứu sai lầm do dùng Đại thanh long.
Biểu hàn, lý nhiệt thì Đại thanh long vốn thích hợp. Nếu biểu lý đều nhiệt thì Đại thanh long không đủ sức đảm nhiệm, nên lập Bạch hổ thang để bổ sung chỗ chưa đáp ứng của Đại thanh long.
Đối với những trường hợp hàn nhiệt nhẹ, lại có Quế chi nhị việt tỳ nhất thang, Ma hoàng quế chi các bán thang và Quế chi nhị ma hoàng nhất thang, đều là phép cùng giải dinh vệ.
Đọc kỹ thiên này cùng thiên thượng và thiên trung thì ba phép sẽ rõ ràng; vận dụng điều trị mới mong không nhầm lẫn.
ĐIỀU VĂN
Thái dương trúng phong, mạch phù khẩn, phát nhiệt, sợ lạnh, thân thể đau nhức, không ra mồ hôi mà phiền táo, Đại thanh long thang chủ trị.
Nếu mạch vi nhược, ra mồ hôi, sợ gió thì không được uống. Uống vào sẽ sinh quyết nghịch, gân giật, cơ thịt rung động; đó là nghịch chứng.
CHÚ GIẢI
Thái dương trúng phong, mạch đáng lẽ phù hoãn; nay mạch phù khẩn là bệnh trúng phong mà có thêm mạch thương hàn.
Trúng phong đáng lẽ thân không đau, mồ hôi tự ra; nay thân đau, không ra mồ hôi là bệnh trúng phong mà có thêm chứng thương hàn.
Không ra mồ hôi mà phiền táo là do khí ở Thái dương bị uất, nung nóng bên trong. Phong là dương tà; hàn là âm tà. Âm hàn uất ở ngoài thì không có mồ hôi; dương nhiệt nung ở trong thì phiền táo.
Đây là phong hàn cùng gây tổn thương, dinh vệ cùng mắc bệnh. Vì vậy, kết hợp ý nghĩa của Ma hoàng thang và Quế chi thang, thêm Thạch cao, chế thành Đại thanh long thang để giải thực tà trong chứng dinh vệ cùng bệnh.
Nếu mạch vi nhược, ra mồ hôi, sợ gió thì dù có phiền táo, đó cũng là phiền táo của Thiếu âm, không phải phiền táo của Thái dương. Cấm dùng phương này.
Nếu uống vào thì có thể sinh quyết nghịch, gân giật, cơ thịt rung động, thúc đẩy biến chứng vong dương. Vì vậy nói: “Đó là nghịch chứng.”
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Phong dồn vào vệ thì dinh nhược, vệ cường; hàn dồn vào dinh thì dinh cường, vệ nhược. Nay phong hàn cùng gây tổn thương nên dinh vệ đều thực, thích hợp dùng Đại thanh long thang chủ trị.
Dụ Xương nói: Đại thanh long thang được lập cho chứng Thái dương không có mồ hôi, vậy khác chứng Ma hoàng thang ở đâu? Vì có thêm phiền táo nên không dùng phép này thì không giải được.
Trình Ứng Mao nói: Phương này không được lập chỉ để chữa phiền táo, mà để chữa phiền táo trong tình trạng không ra mồ hôi.
Nếu mạch vi nhược, ra mồ hôi, sợ gió, dù có phiền táo cũng là biểu hiện vong dương của Thiếu âm, hoàn toàn khác với trường hợp mồ hôi không ra, khí bị uất mà nung nóng bên trong.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch phù hoãn, thân không đau mà chỉ nặng nề, có lúc chợt nhẹ, không có chứng Thiếu âm, dùng Đại thanh long thang để phát hãn.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, mạch đáng lẽ phù khẩn; nay mạch phù hoãn là bệnh thương hàn mà có thêm mạch trúng phong.
Thương hàn đáng lẽ thân đau; nay thân không đau là bệnh thương hàn mà có thêm chứng trúng phong.
Thân nhẹ là tà ở dương; thân nặng là tà ở âm. “Có lúc chợt nhẹ” nghĩa là thân nặng nhưng đôi lúc nhẹ hơn.
Nếu chỉ muốn ngủ, thân nặng mà không lúc nào nhẹ, thì đó là chứng Thiếu âm. Nay không có biểu hiện chỉ muốn ngủ, thân tuy nặng nhưng có lúc nhẹ, thì không phải chứng Thiếu âm, mà là chứng Thái dương do dinh vệ cùng mắc bệnh.
Mạch tuy phù hoãn nhưng chứng không có mồ hôi, thuộc thực tà, nên cũng dùng Đại thanh long thang để phát hãn.
Điều trước lấy mạch vi và ra mồ hôi để nêu điều cấm; điều này lấy việc không có chứng Thiếu âm để làm rõ. Đó là sự xét đoán hết sức thận trọng.
Hai điều này nối tiếp điều đầu và điều thứ hai của thiên thượng, điều đầu và điều thứ hai của thiên trung, lại nêu rõ phong hàn cùng làm tổn thương Thái dương, làm đề cương cho chứng dinh vệ cùng bệnh trong thiên hạ.
Về sau, những chỗ nói Thái dương trúng phong, thương hàn mà liên quan đến dinh vệ cùng bệnh, đều căn cứ vào hai điều này.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Đại thanh long thang, một điều nói “chủ trị”, một điều nói “phát hãn”, vì sao?
“Chủ trị” nói theo tình trạng phiền táo cấp bách, thuộc động; “phát hãn” nói theo tình trạng chỉ nặng nề, trầm lặng, thuộc tĩnh.
Dụ Xương nói: Không có chứng Thiếu âm, sáu chữ “chỉ nặng, có lúc chợt nhẹ” đã chỉ rõ điều ấy.
Chỉ thân nặng mà không có biểu hiện muốn ngủ của Thiếu âm thì có thể xét rõ nguyên nhân hàn. Huống chi có lúc chợt nhẹ, không giống Thiếu âm ngày đêm đều nặng, lại có thể xét rõ yếu tố phong cùng tham gia. Vì vậy, mạnh tay khu trừ phong hàn ở biểu mà không nghi ngờ.
Nếu mạch vi nhược, thân nặng, muốn ngủ, thì chăm lo Thiếu âm bên trong còn chưa kịp, sao dám phát hãn?
Ông lại nói: Xét kỹ ý nghĩa hai điều, thương phong vốn mạch phù hoãn mà lại thấy phù khẩn; thương hàn vốn mạch phù khẩn mà lại thấy phù hoãn. Như vậy, thương phong có thêm hàn, thương hàn có thêm phong, cả hai đều rõ.
Lại phải phân biệt không có chứng Thiếu âm xen lẫn thì dùng Đại thanh long mới phù hợp. Vì vậy, thấy mạch vi nhược thì không được dùng Đại thanh long thang, bởi mạch của bệnh Thiếu âm thường vi tế.
Lời chú của họ Phương bám vào chữ “nhược”, liên hệ với mạch trúng phong, giải thích là dương phù, âm nhược. Nhưng mạch trúng phong và các chứng do phát hãn sai đã được trình bày đầy đủ trong thiên thượng của Thái dương. Ở đây, điều quan trọng là phân biệt với Thiếu âm.
Bởi kinh Thái dương bàng quang và kinh Thiếu âm thận có quan hệ biểu lý. Ở người âm hư, có trường hợp biểu tà chưa đợi truyền kinh đã từ bàng quang xâm nhập vào tạng thận.
Huống chi các chứng lưỡng cảm, giáp âm, khi gặp bệnh vẫn phải xét kỹ. Nếu Thiếu âm không suy tổn thì biểu tà làm sao có thể vượt nhanh vào trong mà xuất hiện thân nặng, muốn ngủ?
Vì vậy, nếu có chứng Thiếu âm mà bất đắc dĩ phải dùng phép phát tán ở biểu, vẫn có phép ôn kinh, tán tà, cùng chăm lo cả hai mặt. Sao có thể dùng thẳng phương Đại thanh long mạnh như vậy, lập tức làm tổn hại gốc của phần dương đơn độc còn lại?
Ngụy Lệ Đồng nói: Chứng thân nặng phải phân biệt rõ. Nếu chỉ muốn ngủ và thân thường xuyên nặng thì thuộc Thiếu âm.
Phát hãn sai, biến thành khí nghịch ở trên, hao kiệt ở dưới, là Thiếu âm nhiệt; biến thành gân giật, cơ thịt rung động, là Thiếu âm hàn. Cả hai đều phạm điều cấm phát hãn sai.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đoạn mở đầu có một câu lặp do lỗi sao chép, bản dịch bỏ phần lặp để câu văn liền mạch. Chữ khuyết sau “cơ thịt” được hiểu là “rung động”.
“Lưỡng cảm” chỉ tình trạng hai kinh có quan hệ biểu lý cùng mắc bệnh; “giáp âm” chỉ ngoại cảm xen tình trạng âm chứng hoặc dương khí suy yếu theo cách diễn giải cổ. Những nhận định về mạch, truyền kinh và nguy cơ vong dương trong đoạn này được giữ theo quan điểm của các tác giả.
Trường Xuân biên soạn
ĐẠI THANH LONG THANG
Ma hoàng (bỏ đốt) sáu lạng (liều tham khảo hiện đại: 12 g), Quế chi hai lạng (6 g), Cam thảo chích hai lạng (6 g), Hạnh nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn) bốn mươi hạt (6 g), Sinh khương (thái) ba lạng (9 g), Đại táo (bẻ đôi) mười hai quả (giữ số quả theo nguyên văn), Thạch cao (đập vụn, bọc vải) một khối lớn bằng quả trứng gà (liều tham khảo hiện đại: 18 g).
Bảy vị trên, dùng chín thăng nước, trước tiên nấu Ma hoàng cho giảm hai thăng, hớt bỏ bọt, cho các vị còn lại vào, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm một thăng, nhằm làm ra mồ hôi hơi nhẹ.
Nếu mồ hôi ra nhiều thì dùng bột đã làm ấm phủ lên người. Uống một lần đã ra mồ hôi thì ngừng những lần sau. Nếu tiếp tục uống, mồ hôi ra nhiều làm mất dương, người bệnh trở nên hư, sợ gió, phiền táo, không ngủ được.
PHƯƠNG GIẢI
Gọi là Đại thanh long, lấy ý nghĩa rồng nổi lên làm mây, gây mưa.
Chữa phong không ngoài Quế chi, chữa hàn không ngoài Ma hoàng. Kết hợp ý nghĩa hai phương Quế chi và Ma hoàng để thành phương, nên đây là chủ phương cho trường hợp phong hàn cùng gây tổn thương.
Hai chứng đều không có mồ hôi nên bỏ Bạch thược, không muốn tính thu liễm của vị ấy. Hai chứng đều có phiền táo nên thêm Thạch cao để giải nhiệt. Nếu không có phiền táo thì lại nên dùng Ma hoàng quế chi các bán thang.
Trọng Cảnh thêm vị cay ngọt, tính đại hàn vào phương giải biểu, qua đó có thể biết phát nhiệt của chứng Ma hoàng là nhiệt hoàn toàn ở biểu; còn phiền táo của chứng Đại thanh long là nhiệt đã kiêm vào phần cơ lý.
Bệnh mới ở Thái dương đã dùng Thạch cao, vì vị cay có thể giải nhiệt ở cơ, tính lạnh có thể thanh vị hỏa, vị ngọt có thể sinh tân dịch. Đây là bước đi trước để bảo vệ Dương minh, giữ tân dịch.
Người chữa bệnh thiếu hiểu biết nghi ngờ, e sợ, đáng dùng mà không dùng, khiến nhiệt kết ở Dương minh, rồi các biến chứng như phát ban, thân vàng, phát cuồng, thần trí mê mờ lần lượt xuất hiện.
Xét như vậy có thể biết Thạch cao là vị thuốc quan trọng trong trúng phong, thương hàn. Phối với Ma hoàng, Quế chi thì có tên Thanh long; phối với Tri mẫu, Cam thảo thì có tên Bạch hổ.
Sau khi uống, chỉ cần ra mồ hôi nhẹ. Nếu mồ hôi ra nhiều thì dùng bột ấm phủ lên người. Uống một lần đã ra mồ hôi thì ngừng những lần sau. Đó là lời răn: ngay cả chứng cần phát hãn cũng không được phát hãn quá mức.
Vì vậy, trong Quế chi thang, Trọng Cảnh không dùng Ma hoàng là muốn tránh phát hãn mạnh. Trong Ma hoàng thang dùng Quế chi là vì sợ mồ hôi ra quá mức, không được chế ước.
Nếu không thận trọng giữ phép dùng, mồ hôi nhiều làm mất dương, phát sinh các nghịch chứng. Biểu trở nên trống hư, không chịu được gió; âm thịnh cách dương, lại càng phiền táo, không ngủ được.
TẬP GIẢI
Hứa Thúc Vi nói: Trọng Cảnh chữa thương hàn, một là Quế chi, hai là Ma hoàng, ba là Thanh long. Quế chi chữa phong; Ma hoàng chữa hàn; Thanh long cùng chữa phong hàn.
Không câu nệ thời tiết, dùng phù hợp với mạch và chứng thì có thể đạt hiệu quả. Người đời nay đều nói được điều ấy nhưng chưa hiểu ý nghĩa lập phương, dùng thuốc của người xưa, nên phần nhiều không dám dùng, cũng không đáng lấy làm lạ.
Ngô Thụ nói: Đại thanh long thang chữa thương hàn phát nhiệt, sợ lạnh, không ra được mồ hôi, phiền táo không yên, mạch phù khẩn hoặc phù sác. Dùng phương này phát hãn đúng lúc thì bệnh giải; đó là phép tinh diệu của Trọng Cảnh.
Ví như nóng bức đã đến cực điểm, một trận mưa xuống liền mát, có thể thấy được lý ấy.
Nếu không hiểu, thấy phiền táo, nóng mà chỉ cho thuốc hàn lương thì tác hại khó nói hết. Nếu mạch vi nhược, ra mồ hôi, sợ gió thì không được dùng. Dùng sai cũng gây hại không nhẹ. Vì vậy, người chưa rõ mạch và chứng thường không dám dùng.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù mà khẩn: phù là phong, khẩn là hàn. Phong làm tổn thương vệ, hàn làm tổn thương dinh. Dinh vệ cùng mắc bệnh, các khớp xương đau nhức khó chịu, nên phát hãn, không được công hạ.
CHÚ GIẢI
Điều này làm rõ ý nghĩa phong hàn cùng gây tổn thương, dinh vệ cùng mắc bệnh.
Phù là mạch của phong tà; phong thuộc dương, vệ thuộc dương. Khẩn là mạch của hàn tà; hàn thuộc âm, dinh thuộc âm. Mỗi loại theo phần tương ứng mà gây tổn thương.
Dinh vệ cùng bệnh, các khớp xương đau nhức khó chịu, là mạch và chứng thích hợp với phép phát hãn của Đại thanh long. Tuy phát nhiệt, phiền táo, nhưng nhiệt ở cơ, chưa ở vị, nên không được công hạ.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, dùng phép phát hãn, mồ hôi ra mà bệnh không giải, người bệnh vẫn phát nhiệt, tâm hạ hồi hộp, đầu choáng, thân thể rung động, run rẩy như muốn ngã xuống đất, Chân vũ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này nói rõ thêm điều đầu, chỉ cho người đọc phép cứu nghịch. Điều đầu nói phát hãn sai; điều này nói phát hãn quá mức, bổ sung ý nghĩa cho nhau.
Hai chứng đều thuộc mất dương, nên đều dùng Chân vũ thang chủ trị, phù dương, chế âm để cứu nghịch.
Mồ hôi ra nhiều mà nhiệt vẫn không giải là dương thoát ra ngoài. Tâm hạ hồi hộp, đập liên tiếp là dương hư, không giữ được bên trong.
Đầu choáng, mắt tối là dương suy, khí không thăng được. Thân thể rung động là dương hư, tân dịch hao cạn, kinh mạch mất nuôi dưỡng.
“Chấn” nghĩa là rung động. “Run rẩy như muốn ngã xuống đất” là rung động không ngừng, không thể đứng dậy, như sắp ngã, vì dương hư, khí lực không đủ chống đỡ.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Điều này lập phép chữa biến chứng do dùng Đại thanh long sai.
Mồ hôi tuy ra nhiều mà nhiệt không lui, tức tà chưa hết, chính khí đã tổn thương nặng. Lý hư thì hồi hộp; phần trên hư thì choáng; kinh mạch hư thì rung động. Thân thể run rẩy, không biểu hiện nào không thuộc dấu hiệu mất dương.
Vì vậy, dùng Chân vũ, là phép giữ cửa, trấn định.
Uông Hổ nói: Có người hỏi: phép chữa không ở biểu, vì sao trong phương vẫn dùng Sinh khương?
Bởi bệnh phát sinh từ phát hãn quá mức. Tuy không còn uất nhiệt cần phát tán, hàn tà bên trong và bên ngoài vẫn còn. Dùng Sinh khương là trong phép ôn vẫn có ý phát tán.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các số gam trong ngoặc là một bộ liều tham khảo hiện đại của Nhà xuất bản Y học Nhân dân, không phải phép đổi chính xác khối lượng cổ. Tài liệu này ghi Ma hoàng 12 g, Hạnh nhân 6 g, Thạch cao 18 g; các tài liệu khác có thể ghi lượng khác. rwzyzs.pmphai.com
“Bằng quả trứng gà” là cách mô tả kích thước khối Thạch cao, không có khối lượng cố định. “Bột ấm phủ lên người” là cách xử trí trong cổ văn, không nên dùng thay việc đánh giá và xử trí khi người bệnh ra mồ hôi quá nhiều, chóng mặt hoặc suy yếu.
Đại thanh long thang có tác dụng phát hãn mạnh; các lượng trên dùng để đối chiếu bản dịch, không phải đơn tự dùng.
Trường Xuân biên soạn
CHÂN VŨ THANG
Xem phương ở thiên Thiếu âm.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương đến ngày thứ hai, trái lại xuất hiện táo động. Lại dùng phép chườm nóng lưng, khiến mồ hôi ra nhiều, nhiệt mạnh vào vị, tân dịch trong vị cạn, táo phiền, tất phát nói sảng.
Đến hơn mười ngày, người bệnh run rẩy, tự hạ lợi, đó là dấu hiệu bệnh sắp giải.
Nếu từ thắt lưng trở xuống không ra mồ hôi, muốn tiểu mà không tiểu được, lại nôn, như muốn tiểu són, bàn chân sợ gió, đại tiện cứng; tiểu tiện đáng lẽ nhiều lần mà trái lại không nhiều lần. Đến khi đại tiện được nhiều, đầu bỗng đau rõ rệt, lòng bàn chân người ấy tất nóng, vì cốc khí đi xuống.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương, dù trúng phong hay thương hàn, đến ngày thứ hai vốn không táo động. Nay trái lại táo động là do không ra được mồ hôi mà táo, thuộc chứng Đại thanh long thang.
Không dùng Đại thanh long thang để phát hãn, lại dùng lửa chườm lưng, cưỡng ép mồ hôi ra nhiều. Hỏa tà vào vị, vị nhiệt, tân dịch cạn, thì phiền táo và nói sảng tất có thể phát sinh.
Đến hơn mười ngày, tà và chính giằng co. Giằng co lâu thì tranh đấu; tranh đấu có thể gây run rẩy rồi bệnh giải. Nhưng nếu không ra mồ hôi hoặc hạ lợi thì tà không có đường thoát để giải.
Nếu tự hạ lợi thì bệnh muốn giải từ lý; nếu tự ra mồ hôi thì bệnh muốn giải từ biểu.
Nay đã hơn mười ngày mà không tự hạ lợi, lại muốn tiểu nhưng không tiểu được, nôn, như muốn tiểu són, thì lý chưa giải. Không tự ra mồ hôi, phần dưới thân không có mồ hôi, bàn chân sợ gió, thì biểu chưa giải.
Lý chưa giải thì đại tiện tất cứng. Tiểu tiện đáng lẽ nhiều lần mà trái lại không nhiều lần, qua đó biết nước lưu trong vị. Lâu ngày, ruột được nhuận, lượng phân tích lại từ trước có thể được tống xuống nhiều rồi bệnh giải.
Đến khi đại tiện được nhiều, tuy vẫn tiểu khó, các chứng chưa hết, đầu bỗng đau rõ rệt, thì đó là lý đã giải mà biểu chưa giải hết.
Biểu chưa giải hết là vì dùng lửa ép ra mồ hôi, nhưng từ thắt lưng trở xuống vẫn không có mồ hôi, tức phần trên đã giải mà phần dưới chưa giải. Vì vậy, còn tiểu khó và các chứng ở phần dưới.
Nay lý tuy đã giải mà đầu bỗng đau rõ rệt, là dư tà ở biểu nghịch lên. Lòng bàn chân nóng là dư nhiệt ở lý đi xuống.
“Cốc khí” ở đây chính là vị khí, ý nói nhiệt khí trong vị theo đại tiện mà đi xuống.
Bệnh này đều do tùy tiện dùng lửa cưỡng ép phát hãn gây biến chứng, khó câu nệ một khuôn phép cố định. Phải xét đã phạm sai lầm nào, tùy chứng mà chữa.
ĐIỀU VĂN
Uống Quế chi thang, mồ hôi ra nhiều, mạch hồng đại, thì cho Quế chi thang theo phép trước.
Nếu biểu hiện giống sốt rét, một ngày phát hai lần, ra mồ hôi thì bệnh sẽ giải; nên dùng Quế chi nhị ma hoàng nhất thang.
CHÚ GIẢI
Uống Quế chi thang, mồ hôi ra nhiều mà bệnh không giải, mạch hồng đại: nếu có phiền khát thì biểu tà đã vào Dương minh, là chứng Bạch hổ thang.
Nay mạch tuy hồng đại nhưng không phiền khát, thì biểu tà vẫn ở Thái dương, nên lại cho Quế chi thang theo phép trước.
Uống thuốc mà không giải, nếu biểu hiện giống sốt rét, một ngày phát hai lần, tuy tà nhẹ nhưng vẫn bị phong hàn níu giữ. Không ra mồ hôi thì chưa thể giải, nên dùng Quế chi nhị ma hoàng nhất thang, làm ra mồ hôi nhẹ ở dinh vệ.
Không dùng Ma hoàng quế chi các bán thang là vì trước đó đã ra nhiều mồ hôi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Uống Quế chi thang, chứng chuyển thành ra nhiều mồ hôi, mạch chuyển hồng đại, là phong nhiều, hàn ít. Phong tà muốn tản nhưng bị chút hàn níu giữ, cả hai đều chưa giải, nên hàn nhiệt phát như sốt rét.
Quế chi nhị ma hoàng nhất thang chú trọng giải phong, còn tán hàn nhẹ hơn.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đầu đoạn chỉ dẫn xem Chân vũ thang ở thiên Thiếu âm, chưa ghi thành phần và cân lượng, nên không bổ sung phương vào đây.
“Chườm nóng lưng” trong đoạn là phép dùng nhiệt cưỡng ép phát hãn bị phê phán, không phải hướng dẫn thực hành. Cụm “như muốn tiểu són” giữ sát nghĩa nguyên văn, khác với tình trạng bí tiểu được nói ngay trước đó.
Chữ khuyết sau “đại tiện” được hiểu là “cứng”; cụm chép sai “tiểu hộp tiện” được đọc là “tiểu tiện đáng lẽ”. Những nhận định về run rẩy, hạ lợi và ra mồ hôi báo bệnh giải được giữ theo cách giải thích cổ thư.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI NHỊ MA HOÀNG NHẤT THANG
Quế chi một lạng mười bảy thù (lượng tham khảo theo tỷ lệ thu nhỏ: khoảng 5,1 g), Thược dược một lạng sáu thù (khoảng 3,8 g), Ma hoàng (bỏ đốt) mười sáu thù (2 g), Cam thảo một lạng hai thù (khoảng 3,3 g), Hạnh nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn) mười sáu hạt (không có số gam tương đương cố định), Sinh khương (thái) một lạng sáu thù (khoảng 3,8 g), Đại táo (bẻ đôi) năm quả.
Bảy vị trên, dùng năm thăng nước, trước tiên nấu Ma hoàng cho sôi một, hai lần, hớt bỏ bọt. Cho các vị còn lại vào, sắc còn hai thăng, bỏ bã. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày hai lần.
TẬP GIẢI
Trương Lộ nói: Xét kỹ các vị trong phương này, không khác phương Các bán, chỉ lượng tính bằng thù có phần khác nhau, mà chứng và phép chữa đã phân biệt. Qua đó có thể thấy Trọng Cảnh cân nhắc lượng nhiều hơn, ít hơn hết sức cẩn thận, không tùy tiện dù chỉ một chút.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương mắc đã tám, chín ngày, biểu hiện giống sốt rét, phát nhiệt, sợ lạnh, nhiệt nhiều, hàn ít. Người bệnh không nôn, đại tiểu tiện có chiều hướng tự trở lại bình thường; một ngày phát hai, ba lần. Mạch hơi hoãn là bệnh sắp khỏi.
Nếu mạch vi mà sợ lạnh thì âm dương đều hư, không được tiếp tục phát hãn, công hạ hoặc gây nôn.
Nếu sắc mặt trái lại có sắc nóng thì bệnh chưa muốn giải. Vì chưa ra được chút mồ hôi nên thân tất ngứa; nên dùng Quế chi ma hoàng các bán thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương do dinh vệ cùng bị tổn thương, phong nhiều, hàn ít, mắc đã tám, chín ngày, xuất hiện hàn nhiệt giống sốt rét, nhiệt nhiều, hàn ít.
Người bệnh không nôn, tiểu tiện trong là lý điều hòa, chưa bị tà xâm phạm. Tuy có chiều hướng sắp khỏi, vẫn phải xét kỹ: hàn nhiệt giống sốt rét, một ngày phát hai, ba lần, mỗi lần nhẹ; khám thấy mạch vi mà hoãn thì biết tà đã suy, chính khí đang hồi phục, biểu lý sắp hòa, như vậy mới là bệnh sắp khỏi.
Nếu mạch vi mà không hoãn thì chính khí chưa phục hồi; còn sợ lạnh thì tà chưa suy, chưa thể tự khỏi. Nhưng các phép hãn, thổ, hạ trước đó đã làm biểu lý hư, không được tiếp tục phát hãn, công hạ hoặc gây nôn.
Mạch vi, sợ lạnh, biểu lý đều hư thì sắc mặt đáng lẽ trắng. Nay trái lại đỏ, tức vẫn còn dư tà uất ở biểu, chưa ra được chút mồ hôi để tuyên phát dương khí, nên mặt đỏ, thân ngứa, bệnh chưa muốn giải.
Nên dùng Quế chi ma hoàng các bán thang, làm ra mồ hôi rất nhẹ để điều hòa dinh vệ, bệnh có thể khỏi.
TẬP CHÚ
Ngô Nhân Câu nói: Ở đây không chỉ dùng Quế chi mà còn phối Ma hoàng, vì mặt nóng, thân ngứa, tà ở phần nhẹ, nông, phù phía ngoài; theo ý của tác giả, phải nhờ Ma hoàng mới đưa tà ra được.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các số gam trong phương được tính để giữ tỷ lệ thu nhỏ: quy ước một lạng ghi trong phương thành 3 g, một lạng gồm hai mươi bốn thù. Đây chỉ là cách trình bày tỷ lệ tham khảo, không phải khẳng định một lạng cổ thực sự nặng 3 g, cũng không phải liều dùng đã xác định cho từng người.
“Thanh tiện” trong điều văn được dịch là đại tiểu tiện; phần chú giải của bản này lại diễn giải riêng thành tiểu tiện trong. Hai cách diễn đạt được giữ ở đúng vị trí, không gộp làm một.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI MA HOÀNG CÁC BÁN THANG
Quế chi một lạng mười sáu thù (lượng tham khảo theo tỷ lệ thu nhỏ: 5 g), Thược dược một lạng (3 g), Sinh khương một lạng (3 g), Cam thảo chích một lạng (3 g), Ma hoàng (bỏ đốt) một lạng (3 g), Đại táo (bẻ đôi) bốn quả, Hạnh nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn) hai mươi bốn hạt (không có số gam tương đương cố định).
Bảy vị trên, dùng năm thăng nước, trước tiên nấu Ma hoàng cho sôi một, hai lần, hớt bỏ bọt. Cho các vị còn lại vào, sắc còn một thăng tám hợp, bỏ bã, uống ấm sáu hợp.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù mà trì, mặt nóng đỏ, thân run rẩy, đến ngày thứ sáu, thứ bảy đáng lẽ ra mồ hôi mà giải. Nếu trái lại vẫn phát nhiệt thì bệnh khỏi chậm. Trì là dương khí không đủ, không thể làm ra mồ hôi, thân tất ngứa.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, làm rõ ý nghĩa mặt đỏ, thân ngứa.
Dương khí ở biểu hư nên mạch phù trì; tà khí uất trệ nên mặt nóng đỏ; chính hư, tà thịnh, hai bên tranh đấu nên thân run rẩy.
Đến ngày thứ sáu, thứ bảy, tà đáng lẽ suy, nên ra mồ hôi mà giải. Nếu trái lại vẫn phát nhiệt thì tà chưa suy, vì vậy bệnh khỏi chậm.
Mạch trì là chính khí không thắng được tà. Dương suy, khí uất, thân tất ngứa, vì dương khí không đủ để tuyên phát, làm ra mồ hôi.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói về mạch của tình trạng dương hư, không thể làm ra mồ hôi.
Phù là tà ở cơ biểu; trì là dương hư. Khí uất trệ không thoát ra được nên mặt nóng đỏ. Chính khí tranh đấu với tà mà không đưa tà ra được nên thân run rẩy.
Đến ngày thứ sáu, thứ bảy, quá trình truyền kinh đã hết, đáng lẽ ra mồ hôi mà giải. Nay không ra được mồ hôi, trái lại vẫn phát nhiệt, thì bệnh tất khỏi chậm.
Bởi dương hư không thể dẫn mồ hôi ra ngoài, nhiệt tà nổi ở da thịt, nên thân tất ngứa.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, phát nhiệt, sợ lạnh, nhiệt nhiều, hàn ít, mạch vi nhược: đó là vô dương, không được phát hãn, nên dùng Quế chi nhị việt tỳ nhất thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương, phát nhiệt, sợ lạnh, nhiệt nhiều, hàn ít, là dinh vệ cùng mắc bệnh, phong tà nhiều mà hàn tà ít.
Nếu mạch phù khẩn hoặc phù sác thì ở biểu có dương tà uất, nung nóng; đó là thực tà với biểu hiện không có mồ hôi, nhiệt nhiều, có thể dùng Đại thanh long thang để phát hãn.
Nay mạch dương vi, âm nhược là dấu hiệu hư tà. Dù có biểu hiện thực tà như không có mồ hôi, nhiệt nhiều, cũng không được dùng Đại thanh long thang để tiếp tục phát hãn.
Bởi mạch vi nhược là không có mạch biểu của Thái dương, nên không được tiếp tục làm ra nhiều mồ hôi.
Tuy nhiên, đã có biểu chứng không ra mồ hôi, nhiệt nhiều, hàn ít, thì vẫn cần các vị Ma hoàng, Quế chi và Thạch cao. Vì vậy, chỉ nên dùng phương nhẹ Quế chi nhị việt tỳ nhất thang, khiến mồ hôi ra rất nhẹ, nhằm giải cơ biểu, điều hòa dinh vệ.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Đây cũng là chứng phong nhiều, hàn ít. Hai chữ “vô dương” được Trọng Cảnh dùng với nhiều ý nghĩa; có thể là cách gọi chung tình trạng không còn biểu chứng hoặc thiếu tân dịch. Vì vậy, lấy việc không được tiếp tục phát hãn làm lời răn.
Nhưng không ra mồ hôi thì phong hàn vẫn chưa giải. Chỉ lấy hai phần Quế chi thang để chữa phong, một phần Việt tỳ thang để chữa hàn, mới là đúng phép.
Uông Hổ nói: Bốn chữ “không được tiếp tục phát hãn” nên hiểu là không được tiếp tục phát hãn mạnh, vì người bệnh mạch vi nhược, vô dương. Phương này còn nhẹ hơn những phương phát hãn ít ở trên.
Ngô Nhân Câu nói: “Vi” ở đây là nhẹ trong sự đối chiếu nhẹ và nặng, không phải vi trong mạch vi tế; chỉ có nghĩa là mạch không mạnh mà thôi.
Đã nói nhiệt nhiều thì mạch sao lại vi? “Vô dương” nghĩa là dương tà ở biểu nhẹ, nên không được tiếp tục phát hãn mạnh. “Nhiệt nhiều” nghĩa là nhiệt tà ở cơ thịnh, nên phối Thạch cao.
Việt tỳ có sức phát tán ví như chức phận của người tỳ nữ; quy mô phương nhỏ, không mạnh và rộng như Đại thanh long.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Số gam trong phương tiếp tục dùng cách ghi tỷ lệ thu nhỏ đã nêu ở đoạn trước: quy ước một lạng thành 3 g, một lạng gồm hai mươi bốn thù. Đây là cách giữ tỷ lệ để tham khảo bản dịch, không phải khối lượng thực của đơn vị cổ hoặc liều dùng cho từng người.
“Không được phát hãn” trong điều văn được các tác giả chú giải thành “không được phát hãn mạnh”, nhằm giải thích vì sao vẫn dùng phương có tác dụng phát hãn nhẹ. Các cách hiểu khác nhau về “vi” và “vô dương” được giữ riêng theo từng tác giả.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI NHỊ VIỆT TỲ NHẤT THANG
Quế chi mười tám thù (lượng tham khảo theo tỷ lệ thu nhỏ: khoảng 2,3 g), Thược dược mười tám thù (khoảng 2,3 g), Cam thảo chích mười tám thù (khoảng 2,3 g), Thạch cao (đập vụn, bọc vải) hai mươi bốn thù (3 g), Ma hoàng (bỏ đốt) mười tám thù (khoảng 2,3 g), Đại táo (bẻ đôi) bốn quả, Sinh khương một lạng hai thù (khoảng 3,3 g).
Bảy vị trên, dùng năm thăng nước, trước tiên nấu Ma hoàng cho sôi một, hai lần, hớt bỏ bọt. Cho các vị còn lại vào, sắc còn hai thăng, bỏ bã, uống ấm một thăng.
Phương này vốn nên lấy lượng thích hợp của Việt tỳ thang và Quế chi thang phối hợp, uống một thăng. Nay gộp thành một phương, tức hai phần Quế chi thang, một phần Việt tỳ thang.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này là một biến thể của Đại thanh long thang, lấy Thược dược thay Hạnh nhân. Tên tuy nói Việt tỳ hỗ trợ Quế chi, thực chất là cách biến chế Đại thanh long thang.
Bỏ Hạnh nhân vì không muốn tính theo dương, cay tán của vị ấy; dùng Thược dược vì vị này đi vào âm, chua thu liễm. Lấy vị này thay vị kia, điều chỉnh lượng mà dùng, thì chủ trị đã khác.
Lấy hai phần Quế chi thang làm chính thì không nhằm phát hãn mạnh. Một phần Việt tỳ, chủ yếu lấy Ma hoàng và Thạch cao với tính cay mát để hỗ trợ hai phần Quế chi, hòa biểu, thanh nhiệt ở cơ. Như vậy, trong phép không phát hãn mạnh vẫn có ý làm ra mồ hôi rất nhẹ.
Không giống Đại thanh long thang lấy Thạch cao hỗ trợ Ma hoàng, thành phương mạnh để phát hãn, khu trừ nhiệt ở cơ.
LỜI ÁN
Quế chi nhị ma hoàng nhất thang chữa chứng giống sốt rét, một ngày phát hai lần, ra mồ hôi thì giải. Không có biểu hiện nhiệt nhiều, hàn ít, nên không dùng tính mát của Thạch cao.
Quế chi ma hoàng các bán thang chữa chứng giống sốt rét, nhiệt nhiều, hàn ít, nhưng không dùng Thạch cao, lại tăng Ma hoàng. Vì mặt có sắc nóng do khí uất, da ngứa, nên biết nhiệt hướng ra biểu, không hướng vào lý. Làm ra chút mồ hôi để thuận theo thế bệnh, vì vậy cũng không dùng Thạch cao để làm mát lý.
Quế chi nhị việt tỳ nhất thang chữa phát nhiệt, sợ lạnh, nhiệt nhiều, hàn ít, mà dùng Thạch cao, vì hàn tà ở biểu ít, nhiệt ở cơ lý nhiều. Do đó, dùng tính mát của Thạch cao hỗ trợ Ma hoàng, Quế chi để hòa dinh vệ, không phải phát tán mạnh dinh vệ.
Người đời nay vừa thấy Ma hoàng, Quế chi, không xét lượng nhẹ hay nặng, cũng không xét có đắp ấm hay không, có nhằm lấy mồ hôi hay không, đều không dám dùng. Đó là vì chưa tìm hiểu kỹ ý của Trọng Cảnh.
Ma hoàng, Quế chi là thuốc tác động đến dinh vệ. Dùng lượng mạnh, đắp ấm để lấy mồ hôi thì thành thuốc phát tán dinh vệ; dùng lượng nhẹ, không đắp ấm để lấy mồ hôi thì thành phương điều hòa dinh vệ.
TẬP GIẢI
Ngô Nhân Câu nói: Trong phép phát tán biểu tà mà phối Thạch cao, là vì Thạch cao tính lạnh, có thể thắng nhiệt; vị nhẹ, có thể đi ra biểu.
Không giống Hoàng cầm, Hoàng liên, tuy tính lạnh nhưng vị đắng, đậm, không có khả năng thăng đạt như vậy.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, không có nhiệt mạnh, miệng khô khát, tâm phiền, lưng hơi sợ lạnh, Bạch hổ gia nhân sâm thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, thân không nóng nhiều, không phiền, không khát, trong miệng bình thường, lưng sợ lạnh, dùng Phụ tử thang chủ trị, là thuộc bệnh Thiếu âm.
Nay thương hàn, thân không nóng nhiều, thì biết nhiệt đang rời biểu vào lý. Miệng khô khát, tâm phiền, thì biết nhiệt đã vào Dương minh.
Tuy có một chứng lưng hơi sợ lạnh, trông giống Thiếu âm, nhưng chứng Thiếu âm có miệng bình thường. Nay miệng khô khát là trong miệng không bình thường.
Lưng sợ lạnh ở đây không phải sợ lạnh do dương hư, mà do nội nhiệt Dương minh nung lên vùng lưng, khiến mồ hôi ra, cơ biểu sơ lỏng, nên hơi sợ lạnh.
Dùng Bạch hổ thang để đi thẳng vào Dương minh, thanh mạnh nhiệt ấy. Thêm Nhân sâm là có ý chăm lo tình trạng cơ biểu sơ lỏng.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Điều này biện chứng hết sức tinh tế. Mạch tất hoạt, hơi phù; toàn thân không nóng nhiều, cũng không sợ lạnh, chỉ vùng lưng hơi cảm thấy lạnh. Đó là biểu tà đã gần hết.
Miệng khô khát, tâm phiền là lý nhiệt đã rất thịnh. Không nên chờ đợi, phải kịp thời thanh giải, vì sợ chậm thì nhiệt vào sâu, tân dịch hao cạn, khó cứu chữa.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, biểu chưa giải, tâm hạ có thủy khí, nôn khan, phát nhiệt và ho; hoặc khát, hoặc hạ lợi, hoặc nghẹn, hoặc tiểu tiện không thông lợi, thiếu phúc đầy, hoặc suyễn, Tiểu thanh long thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
“Thương hàn, biểu chưa giải” nghĩa là các chứng mạch phù khẩn, đau đầu, đau thân, phát nhiệt, không có mồ hôi, sợ lạnh vẫn còn.
“Tâm hạ có thủy khí” thể hiện qua nôn khan và ho. Nhưng thủy gây bệnh không chỉ có một dạng, nên nói hoặc khát, hoặc hạ lợi, hoặc nghẹn, hoặc tiểu tiện không thông lợi, thiếu phúc đầy, hoặc suyễn. Đều là những biểu hiện có thủy khí, nên dùng Tiểu thanh long thang, gia giảm đúng phép để chủ trị.
Kinh nói: “Tam tiêu là quan khơi thông đường nước, thủy đạo từ đó mà ra. Bàng quang là quan châu đô, chứa tân dịch; nhờ khí hóa mới có thể đưa ra.”
Thái dương bị tà xâm phạm, nếu không có thủy khí thì bệnh ở kinh; nếu có thủy khí thì bệnh có thể phạm đến phủ.
Phủ mắc bệnh thì khí hóa của bàng quang không vận hành, thủy khí của tam tiêu mất đường lưu thông.
Đình ở thượng tiêu thì có thể ho, suyễn hoặc nghẹn. Đình ở trung tiêu thì có thể khát, nôn khan hoặc đầy. Đình ở hạ tiêu thì có thể tiểu tiện không thông lợi, thiếu phúc đầy hoặc hạ lợi. Những nơi thủy đi qua đều có thể phát bệnh.
Tiểu thanh long thang bên ngoài giải biểu thực Thái dương, bên trong tán hàn ẩm ở tam tiêu. Đây cũng là phương mạnh trong phép phát hãn, cùng mang tên Thanh long với Đại thanh long thang.
Một phương chữa nhiệt táo trong chứng biểu thực Thái dương; một phương chữa hàn ẩm trong chứng biểu thực Thái dương.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này làm rõ phép tán hàn, trừ ẩm trong thương hàn, biểu chứng chưa giải, thủy tích ở tâm hạ.
Uông Hổ nói: Sách Minh lý luận đã nói Đại thanh long chủ trị bệnh do phong hàn cùng gây tổn thương.
Thương hàn, biểu chưa giải thì Ma hoàng có thể phát tán; trúng phong, biểu chưa giải thì Quế chi có thể giải tán. Nhưng biểu chưa giải, lại thêm tâm hạ có thủy khí, thì hai phương ấy không đủ sức phát tán. Phải dùng Tiểu thanh long thang mới có thể khu trừ tà khí ở cả biểu và lý.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các số gam trong phương tiếp tục là lượng tính theo tỷ lệ thu nhỏ đã thống nhất: một lạng quy ước thành 3 g, một lạng gồm hai mươi bốn thù. Đây không phải khối lượng vật lý tương đương của đơn vị cổ hoặc liều dùng đã xác định cho người bệnh.
Câu nói về “lượng nhẹ, không đắp ấm” phân biệt mục đích điều hòa dinh vệ với phát hãn mạnh; không có nghĩa chỉ cần giảm lượng là phương phù hợp với mọi thể trạng.
Trường Xuân biên soạn
TIỂU THANH LONG THANG
Ma hoàng (bỏ đốt) ba lạng (liều tham khảo hiện đại: 9 g), Thược dược ba lạng (9 g), Ngũ vị tử nửa thăng (6 g), Can khương hai lạng (giữ lượng cổ của bản này; lượng tham khảo hiện đại: 6 g), Cam thảo chích ba lạng (6 g), Bán hạ (rửa) nửa thăng (Bán hạ đã bào chế: 9 g), Quế chi ba lạng (9 g), Tế tân ba lạng (lượng tham khảo trong tài liệu đối chiếu: 6 g).
Tám vị trên, dùng một đấu nước, trước tiên nấu Ma hoàng cho giảm hai thăng, hớt bỏ bọt. Cho các vị còn lại vào, sắc còn ba thăng, bỏ bã, uống ấm một thăng.
PHÉP GIA GIẢM
Nếu khát, bỏ Bán hạ, thêm Qua lâu căn ba lạng (lượng tham khảo theo tỷ lệ thu nhỏ: 9 g).
Nếu nghẹn, bỏ Ma hoàng, thêm Phụ tử bào chế một củ (không có số gam tương đương cố định).
Nếu tiểu tiện không thông lợi, thiếu phúc đầy, bỏ Ma hoàng, thêm Phục linh bốn lạng (lượng tham khảo theo tỷ lệ thu nhỏ: 12 g).
Nếu suyễn, bỏ Ma hoàng, thêm Hạnh nhân nửa thăng, bỏ vỏ và đầu nhọn (không có số gam tương đương cố định).
Nếu hạ lợi nhẹ, bỏ Ma hoàng, thêm Nhiêu hoa một khối bằng quả trứng gà, sao cho đỏ (lượng này bị người chú giải nghi là chép sai, không quy thành gam).
LỜI ÁN
Thêm Nhiêu hoa một khối bằng quả trứng gà, sao cho đỏ, tất là lỗi truyền chép.
Theo bản thảo, Nhiêu hoa thuộc loại giống Nguyên hoa. Dùng để công thủy, sức thuốc rất mạnh. Năm phân đã có thể khiến đi ngoài vài chục lần. Làm sao có chuyện chữa hạ lợi nhẹ do thủy ẩm đình lại mà dùng Nhiêu hoa một khối bằng quả trứng gà?
Có lẽ nên sửa thành thêm Phục linh bốn lạng.
PHƯƠNG GIẢI
Thái dương có thủy ẩm đình lại gồm hai dạng: trúng phong có mồ hôi, thuộc biểu hư, là chứng Ngũ linh tán; thương hàn không có mồ hôi, thuộc biểu thực, là chứng Tiểu thanh long thang.
Biểu thực, không có mồ hôi nên phối hợp ý nghĩa hai phương Ma hoàng và Quế chi để giải bên ngoài.
Bỏ Đại táo vì tính của vị ấy có thể gây trì trệ. Bỏ Hạnh nhân vì chưa có suyễn; nếu có suyễn thì vẫn thêm vào. Bỏ Sinh khương vì đã có Can khương; nếu nôn thì vẫn dùng Sinh khương.
Phối Can khương và Tế tân, rất ấm, rất tán, khiến hàn và thủy cùng được giải theo mồ hôi. Phối Bán hạ để trục đàm ẩm, thanh trừ phần thủy ẩm còn lại. Phối Ngũ vị tử để thu liễm phế khí, giữ lại khí bị hao tổn.
Nếu khát, bỏ Bán hạ, thêm Thiên hoa phấn để tránh táo, sinh tân.
Nếu hạ lợi nhẹ, nghẹn, tiểu tiện không thông lợi hoặc thiếu phúc đầy, đều bỏ Ma hoàng, bớt tác động ở biểu mà chú trọng lý.
Thêm Phụ tử để tán hàn thì nghẹn có thể ngừng. Thêm Phục linh để lợi thủy thì hạ lợi nhẹ có thể ngừng, thiếu phúc đầy có thể hết.
Phương này cùng Việt tỳ thang chữa thủy ẩm tràn ra biểu, gây bụng trướng, phù thũng, thuộc trường hợp nên phát hãn để giải bên ngoài.
Việt tỳ chữa trường hợp có nhiệt, nên lấy Thạch cao làm quân để tán dương thủy. Tiểu thanh long chữa trường hợp có hàn, nên phối Can khương và Quế chi để tán âm thủy.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Hai phương Thanh long đều chữa chứng có cả biểu và lý, cùng dùng phép giải cả hai.
Đại thanh long là lý nhiệt; Tiểu thanh long là lý hàn. Vì vậy, thuốc phát biểu giống nhau, nhưng thuốc chữa lý khác nhau.
Phương này cùng Ngũ linh tán chữa biểu chưa giải, tâm hạ có thủy khí. Tuy nhiên, Ngũ linh chữa thủy tích lại, không lưu hành, nên chú trọng thẩm tiết để lợi thủy, chỉ phát hãn nhẹ, khiến thủy đi ra theo đường dưới.
Tiểu thanh long chữa thủy chuyển động, không yên vị, nên dùng đủ các vị cay ấm để tán thủy, phát hãn mạnh, khiến thủy thoát ra ngoài.
Các phép phát biểu, lợi thủy của Trọng Cảnh có ý nghĩa hết sức tinh diệu.
Triệu Lương nói: Chứng dật ẩm, Kim quỹ nói phải phát hãn, Tiểu thanh long thang chữa chứng ấy.
Thủy ẩm tràn ra biểu, khiến dinh vệ đều không thông lợi, phải phỏng theo phép chữa thương hàn, dinh vệ cùng bị tổn thương, phát hãn để tán thủy. Sau đó dinh vệ vận hành, kinh mạch thông, thủy khắp thân mới có thể tiêu.
Vì vậy, trong trường hợp ấy, Tiểu thanh long thang là phép quan trọng hàng đầu. Từ đây có thể suy ra các trường hợp tương tự.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, vùng tâm có thủy khí, ho mà hơi suyễn, phát nhiệt, không khát. Sau khi uống thuốc thang lại khát, đó là hàn đã lui, bệnh sắp giải. Tiểu thanh long thang chủ trị.
LỜI ÁN
Sáu chữ “Tiểu thanh long thang chủ trị” đáng lẽ phải đặt ngay sau câu “phát nhiệt, không khát”, mới nối đúng ý với câu “sau khi uống thuốc thang lại khát”.
Làm sao hàn đã lui, bệnh sắp giải mà lại tiếp tục uống Tiểu thanh long thang?
CHÚ GIẢI
Thương hàn, tâm hạ có thủy khí, ho mà hơi suyễn, phát nhiệt, không khát: đó là bên ngoài cảm hàn tà, bên trong đình hàn ẩm, nên dùng Tiểu thanh long thang để giải cả hai.
Sau khi uống thuốc, ra mồ hôi, bệnh đã giải mà khát, là khát do hàn đã lui, bên trong trở nên khô sau phát hãn. Không phải khát do chưa phát hãn, thủy ẩm đình lại, không được khí hóa.
Vì vậy nói: “Hàn đã lui, bệnh sắp giải.”
Nên cho uống từng ít nước để nhuận chỗ khô, khiến vị điều hòa, bệnh tự có thể khỏi.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Ho mà hơi suyễn là thủy hàn phạm lên phế. Phát nhiệt, không khát là biểu chứng chưa hết.
Dùng Tiểu thanh long thang để phát biểu, tán thủy. Sau khi uống lại khát là lý khí đã ấm, thủy khí đã tán, bệnh sắp giải.
Phương Hữu Chấp nói: Phát nhiệt, không khát là hàn thắng. Vì vậy, sau khi uống thuốc lại khát được xem là hàn đã lui, bệnh sắp giải. Ý chính gần giống điều trước nên phép chữa cũng giống nhau.
Trình Tri nói: Điều này làm rõ khi thủy hàn chưa giải thì nên dùng Tiểu thanh long.
Tâm hạ có thủy khí là hàn ở trên cơ hoành, nên suyễn, ho, phát nhiệt, không khát. Uống thuốc rồi khát thì thủy hàn đã giải.
Đây là phép giải thủy khí nên dùng Tiểu thanh long, không phải nói sau khi giải vẫn tiếp tục dùng Tiểu thanh long.
Trương Lộ nói: Phong hàn kèm thủy ẩm gây bệnh ở biểu nên không khát. Sau khi uống thuốc lại khát là dấu hiệu hàn đã lui, tân dịch bị tổn thương, bệnh sắp giải.
Vì vậy, tuy khát cũng không nhất thiết phải uống thêm thuốc, chỉ nên yên tĩnh chờ tân dịch hồi phục.
Ho mà hơi suyễn là thủy ẩm nghịch lên. Nay thủy đã hết mà khát, khác với khát do thủy nghịch. Các bản lưu truyền đặt “Tiểu thanh long thang chủ trị” sau câu “hàn đã lui, bệnh sắp giải” là sai vị trí.
Uông Hổ nói: Điều trước nói khát là khát trước khi uống thuốc, do thủy đình lại, tân dịch không được hóa. Điều này nói khát là khát sau khi uống thuốc, do tân dịch hao tổn sau phát hãn.
Khát đã khác nhau, làm sao vẫn dùng Tiểu thanh long như trước? Có thể biết câu chủ trị phải đặt trước câu “sau khi uống thuốc”.
ĐIỀU VĂN
Sau công hạ lại phát hãn, tất run rét, mạch vi tế. Sở dĩ như vậy là vì bên trong và bên ngoài đều hư.
CHÚ GIẢI
Phát hãn đáng lẽ tiến hành trước khi công hạ. Nay sau công hạ lại phát hãn, xuất hiện run rét, mạch vi tế, là biểu lý đều hư.
Công hạ không thích hợp làm dương giữ bên trong hư, nên mạch vi tế. Phát hãn không thích hợp làm dương bảo vệ bên ngoài suy, nên run rét.
TẬP CHÚ
Trịnh Trọng Quang nói: Chữa thương hàn, trước hãn rồi hạ là phép thường.
Nếu sau công hạ, ngoại tà chưa hết, bất đắc dĩ lại phát hãn, tà tuy hết nhưng trong ngoài đều hư. Vì vậy, mạch tế, run rét, tổn thương càng lớn.
ĐIỀU VĂN
Sau công hạ lại phát hãn, ban ngày phiền táo, không ngủ được, ban đêm yên tĩnh; không nôn, không khát, không có biểu chứng, mạch trầm vi, thân không nóng nhiều, Can khương phụ tử thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nói rõ thêm mạch và chứng để nêu phép chữa.
Đã công hạ làm lý hư, lại phát hãn làm biểu hư, âm dương đều hư, dương không có nơi nương tựa.
Ban đêm yên tĩnh, không nôn, không khát là bên trong không có dương chứng. Không có biểu chứng, thân không nóng nhiều, mạch trầm vi là bên ngoài không có dương chứng.
Biểu lý không có dương chứng, trong ngoài đều biểu hiện âm chứng, chỉ có ban ngày phiền táo, không ngủ được là một dương chứng giả.
Đó là phần âm đơn độc tự chi phối ở âm phận, phần dương đơn độc tự quấy nhiễu ở dương phận; không phải hai bên tranh thắng mà là hai bên xa lìa.
Vì vậy, dùng Can khương phụ tử thang để trợ dương, phối hợp lại với âm. Bởi âm tuy thịnh nhưng chưa cách dương, dương khí suy yếu, tự không có nơi nương tựa.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Điều trên chỉ nói run rét và mạch vi tế, chưa xác định phương chủ trị, vì hư chứng không chỉ có một dạng.
Tuy nhiên, run rét, mạch vi tế đã bộc lộ phần nào dương hư. Nếu ban ngày phiền táo, không ngủ được thì biết là hư dương quấy nhiễu. Ban đêm trái lại yên tĩnh, không nôn, không khát thì biết sự quấy nhiễu của hư dương không kèm ngoại tà.
Mạch trầm vi, thân không nóng nhiều, thì phiền táo là dấu hiệu mất dương, cần dùng Can khương và Phụ tử.
Từ đó suy ra, nếu ban ngày yên tĩnh, ban đêm phiền táo, thì là âm mắc bệnh mà dương chưa mắc bệnh.
Trình Ứng Mao nói: Sau công hạ lại phát hãn, ban ngày phiền táo, không ngủ được là hư dương quấy nhiễu, bên ngoài hiện giả nhiệt.
Ban đêm yên tĩnh, không nôn, không khát, không có biểu chứng, mạch trầm vi, thân không nóng nhiều là âm khí đơn độc chi phối, bên trong thuộc chân hàn.
Nên dùng Can khương phụ tử thang, hồi dương trong âm. Không nên vì một chứng giả nhiệt là phiền táo ban ngày mà nghi ngờ.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại, không phải phép đổi trực tiếp từ lạng hoặc thăng cổ. Tài liệu của Nhà xuất bản Y học Nhân dân ghi Can khương ba lạng, dùng tham khảo 6 g; bản bạn gửi ghi hai lạng, nên bản dịch giữ nguyên sự khác biệt. Các lượng tham khảo còn lại được đối chiếu theo tài liệu ấy. rwzyzs.pmphai.com
Lượng Tế tân 6 g được ghi để phản ánh tài liệu đối chiếu, không phải khuyến nghị tự dùng. Phụ tử và Nhiêu hoa trong phần gia giảm cần được đánh giá riêng; đặc biệt lượng Nhiêu hoa “bằng quả trứng gà” đã bị chính người chú giải phản bác. Ý kiến thay bằng Phục linh được giữ ở phần LỜI ÁN, không sửa vào nguyên phương.
Trường Xuân biên soạn
CAN KHƯƠNG PHỤ TỬ THANG
Can khương một lạng (lượng tham khảo theo tỷ lệ thu nhỏ: 3 g), Phụ tử một củ (bỏ vỏ, dùng sống, bẻ thành tám miếng theo nguyên văn; không có số gam tương đương cố định).
Hai vị trên, dùng ba thăng nước, sắc còn một thăng, bỏ bã, uống hết trong một lần.
ĐIỀU VĂN
Sau phát hãn hoặc công hạ, bệnh vẫn không giải, người bệnh phiền táo, Phục linh tứ nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên để phân biệt phép chữa.
Trước phát hãn, sau công hạ, xét thứ tự thì không trái phép. Bệnh đáng lẽ giải mà vẫn không giải, trái lại phiền táo, thì phải phân biệt để chữa.
Bởi phát hãn và công hạ đều quá mức, biểu lý cùng hư, âm thịnh cách dương, nên ngày đêm đều có biểu hiện quấy nhiễu, không yên.
Nên dùng Tứ nghịch thang để làm mạnh dương, chế âm; thêm Phục linh để chế ngự âm tà, phối Nhân sâm để phù chính khí. Nhờ đó, dương tăng, âm giảm, chính khí phục hồi, tà lui, bệnh tự giải, phiền táo được yên.
Phiền táo trong chứng Đại thanh long là phiền táo khi không ra mồ hôi, chưa dùng phép hãn, hạ, thuộc thực. Phiền táo trong điều này là phiền táo sau phát hãn và công hạ mà bệnh chưa giải, thuộc hư.
Tuy nhiên, phải phân biệt thêm mạch phù khẩn với mạch trầm vi. Sợ người đọc nhầm lẫn nên nhắc đi nhắc lại điều ấy.
TẬP CHÚ
Uông Hổ nói: Thương hàn được dùng phép hãn, hạ thích hợp thì phiền táo ngừng, bệnh giải.
Nếu phiền táo do âm thịnh mà cưỡng ép phát hãn thì biểu sơ lỏng, mất dương; lại công hạ thì lý hư, mất âm.
Vệ dương mất chức năng bảo vệ, dinh âm bên trong trống hư, tà vẫn chưa giải, lại sinh phiền táo. Đây cũng là hư phiền, hư táo, thuộc biểu hiện giả nhiệt.
Chỉ nên ôn bổ, không nên tiếp tục phát tán tà, nên dùng Phục linh tứ nghịch thang chủ trị.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Lượng Can khương 3 g trong ngoặc chỉ giữ tỷ lệ thu nhỏ đã dùng ở các đoạn trước, không phải khối lượng tương đương chính xác của một lạng cổ.
“Phụ tử dùng sống” được giữ để phản ánh nguyên văn, không phải hướng dẫn dùng hiện nay. Phụ tử sống có độc tính cao; không tự dùng hoặc áp dụng cách sắc ngắn trong cổ phương. Việc lựa chọn dạng bào chế, lượng thuốc và thời gian sắc phải do người có chuyên môn quyết định.
Trường Xuân biên soạn
PHỤC LINH TỨ NGHỊCH THANG
Phục linh sáu lạng (lượng tham khảo theo tỷ lệ thu nhỏ: 18 g), Nhân sâm một lạng (3 g), Cam thảo chích hai lạng (6 g), Can khương một lạng rưỡi (4,5 g), Phụ tử một củ (dùng sống, bỏ vỏ, bẻ thành tám miếng theo nguyên văn; không có số gam tương đương cố định).
Năm vị trên, dùng năm thăng nước, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm mỗi lần bảy hợp, ngày ba lần.
PHƯƠNG GIẢI
Bệnh ở biểu và lý, chữa không đúng phép, trước phát hãn quá mức rồi lại công hạ quá mức, hoặc sau công hạ lại phát hãn, sai rồi lại sai, biến thành hoại bệnh.
Nếu người bệnh dương thịnh, bệnh theo nhiệt hóa thì chuyển thuộc tam dương; nếu dương suy, bệnh theo hàn hóa thì thuộc tam âm. Phiền táo trong hai điều này đều là hoại bệnh.
Phiền táo tuy có ở cả sáu kinh, nhưng thường gặp ở Thái dương và Thiếu âm, vì Thái dương là ngọn của chân âm, Thiếu âm là gốc của chân dương.
Chưa dùng phép hãn, hạ mà phiền táo thì phần nhiều thuộc dương; mạch thực đại, chứng có nhiệt và khát. Phiền là do dương thịnh, táo là do âm hư.
Đã dùng phép hãn, hạ mà phiền táo thì phần nhiều thuộc âm; mạch trầm vi, chứng có mồ hôi và quyết lạnh. Phiền là do dương hư, táo là do âm thịnh.
Trước công hạ, sau phát hãn là trái phép. Bên ngoài không nóng nhiều, bên trong không nôn, không khát, tưởng như âm dương tự hòa, nhưng thực ra dương hư, âm thịnh.
Hư dương quấy nhiễu ở dương phận nên ban ngày phiền táo, không ngủ được; âm thịnh tự chi phối ở âm phận nên ban đêm yên tĩnh. Mạch trầm vi là chân dương sắp thoát mà xuất hiện phiền táo.
Dùng Can khương và Phụ tử để làm mạnh dương, phối hợp lại với âm. Can khương và Phụ tử là dương trong dương; dùng trước thì sức thuốc càng sắc bén, không thêm Cam thảo thì thế thuốc càng mạnh. So với Tứ nghịch thang, phương này mạnh hơn; vì cứu tình trạng âm dương xa lìa nên phải khẩn cấp.
Trước phát hãn, sau công hạ, thứ tự vốn thuận phép, nhưng bệnh vẫn không giải, đột nhiên tăng phiền táo cả ngày lẫn đêm, cũng là phiền táo do âm thịnh cách dương. Dùng Phục linh tứ nghịch thang để chế âm, hồi dương.
Phục linh được khí hóa thái hòa, trừ thủy tà mà không làm tổn thương dương, nên làm quân. Nhân sâm sinh khí ở nơi gần như không còn khí, thông huyết mạch lúc sắp đứt, nên làm tá.
Nhân sâm được Can khương, Phụ tử thì bổ khí, đồng thời ích hỏa. Can khương, Phụ tử được Phục linh thì bổ dương, đồng thời tả âm. Điều hòa bằng Cam thảo, so với Tứ nghịch thang có phần hòa hoãn hơn; vì âm dương cách trở nên thích hợp chữa từ từ.
Một phương bỏ Cam thảo, một phương thêm Nhân sâm và Phục linh, phép hoãn và cấp tự phân biệt. Cách dùng phương của Trọng Cảnh tinh diệu như vậy.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, trước công hạ mà không khỏi, do đó lại phát hãn, khiến biểu lý đều hư, người bệnh sinh hôn mạo. Người mắc hôn mạo có thể ra mồ hôi rồi tự khỏi. Sở dĩ như vậy là vì mồ hôi ra, biểu được hòa. Nếu lý chưa hòa thì sau đó mới công hạ.
CHÚ GIẢI
Bệnh ở biểu Thái dương, đáng phát hãn mà không phát hãn, trước dùng phép hạ, bệnh không khỏi, lại phát hãn, khiến biểu lý đều hư. Vì hư mà người bệnh sinh hôn mạo, đó là điều có thể xảy ra.
“Hôn mạo” là thần trí mờ mịt do bệnh. Tuy nhiên, có trường hợp hôn mạo ra mồ hôi rồi tự khỏi. Trường hợp ấy không phải do biểu lý đều hư, mà do tà và chính đều suy, biểu lý tự hòa.
Ra mồ hôi rồi tự khỏi là biểu được hòa; hạ lợi rồi tự khỏi là lý được hòa.
Nếu lý chưa hòa thì sau đó mới công hạ, nên dùng Điều vị thừa khí thang để điều hòa. Từ đó suy ra, nếu biểu chưa hòa thì sau đó mới phát hãn, nên dùng Quế chi thang để điều hòa; ý ấy đã nằm ngoài lời văn.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: “Mạo” là thần trí không rõ, như có vật che phủ.
Ra mồ hôi thì biểu hòa, tà giải. Khi biểu đã hòa mà lý chưa hòa, sau đó mới công hạ. Điều này làm rõ rằng không được vì thấy hôn mạo mà cho là tà đã vào lý, rồi tùy tiện công hạ; cũng không được vì hôn mạo mà cho là biểu chưa giải, rồi tùy tiện phát hãn.
Uông Hổ nói: Chữ “lý” trong câu “lý chưa hòa” được các nhà chú giải hiểu là hai đường bài tiết. Tôi cho rằng kinh văn đã nói “sau đó mới công hạ” thì riêng chỉ đại tiện. Nếu làm thông lợi tiểu tiện thì không gọi là hạ. Ý ấy có thể tự rõ.
ĐIỀU VĂN
Phàm bệnh, sau phát hãn, hoặc gây nôn, hoặc công hạ, hoặc mất huyết, hoặc mất tân dịch, nếu âm dương tự hòa thì tất tự khỏi.
CHÚ GIẢI
“Phàm bệnh” nghĩa là không phân biệt trúng phong, thương hàn hay các bệnh khác.
Sau phát hãn, gây nôn, công hạ, mất huyết hoặc mất tân dịch, nếu điều trị thích hợp thì tự nhiên bệnh khỏi.
Ngay cả khi điều trị chưa thích hợp, bệnh tuy chưa khỏi nhưng cũng chưa biến thành các hoại chứng, nghịch chứng, thì tà và chính đều đã suy. Có thể không cần tiếp tục điều trị, chỉ nên yên tĩnh chờ đợi; xét thấy âm dương tự hòa thì bệnh có thể tự khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Âm dương ở đây nói theo mạch, nhưng cũng bao gồm hai đường bài tiết. Hai bên hòa thì khí huyết không còn bên nào lấn át bên nào, nên có thể tự khỏi.
Trình Tri nói: Mạch ở ba bộ trái và phải đều điều hòa là biểu hiện không bệnh. Vì vậy, sau hãn, thổ, hạ, âm dương hòa thì bệnh tự khỏi, không cần điều trị quá mức.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Có bệnh run rẩy rồi ra mồ hôi, nhờ đó mà giải, là vì sao?
Đáp: Mạch phù mà khẩn, ấn xuống trái lại thấy khâu, đó là người bệnh vốn hư, nên sẽ run rẩy rồi ra mồ hôi. Vì vốn hư nên run; vì mạch phù nên sẽ ra mồ hôi mà giải.
Nếu mạch phù mà sác, ấn xuống không khâu, người ấy vốn không hư. Nếu bệnh muốn tự giải thì chỉ ra mồ hôi, không run rẩy.
Hỏi: Có bệnh không run mà ra mồ hôi rồi giải, là vì sao?
Đáp: Mạch đại, phù sác, nên biết sẽ không run mà ra mồ hôi rồi giải.
Hỏi: Có bệnh không run, không ra mồ hôi mà giải, là vì sao?
Đáp: Mạch tự trở nên vi. Do trước đó đã phát hãn, hoặc gây nôn, hoặc công hạ, hoặc mất huyết, bên trong thiếu tân dịch. Nếu âm dương tự hòa thì tất tự khỏi, nên không run, không ra mồ hôi mà bệnh giải.
CHÚ GIẢI
Mạch phù khẩn là tà thực; ấn xuống trái lại khâu là chính hư. Chính hư, tà thực, tà và chính tranh đấu nên run rẩy, ra mồ hôi mà giải.
Mạch phù sác là tà chưa thành thực; ấn xuống không khâu là chính không hư. Chính không hư, tà chưa thực, tà không đủ sức tranh đấu với chính, nên không run mà ra mồ hôi rồi giải.
Mạch không khâu thì biết không run. Mạch không phù thì biết không ra mồ hôi. Mạch tự trở nên vi thì biết trước đó đã phát hãn, gây nôn, công hạ hoặc mất huyết.
Do bên trong thiếu tân dịch, tà và chính đều suy, âm dương tự hòa, nên không run, không ra mồ hôi mà bệnh giải.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Thương hàn đến ngày thứ ba, mạch phù sác mà vi, thân người bệnh mát, điều hòa, là vì sao?
Đáp: Đó là bệnh sắp giải. Bệnh giải vào nửa đêm. Mạch phù mà giải thì mồ hôi ra êm thuận; mạch sác mà giải thì sẽ ăn được; mạch vi mà giải thì sẽ ra nhiều mồ hôi.
CHÚ GIẢI
Mạch phù sác, ấn xuống vô lực, thì có thể run rẩy, ra mồ hôi mà giải, vì người bệnh vốn hư.
Mạch phù sác, ấn xuống có lực, thì có thể không run, chỉ ra mồ hôi mà giải, vì người bệnh vốn không hư.
Mạch tự trở nên vi, trước đó đã phát hãn, gây nôn, công hạ hoặc mất huyết, thì có thể không run, không ra mồ hôi mà giải, vì tà và chính đều suy, âm dương tự hòa.
Thương hàn đến ngày thứ ba, chưa phát hãn, gây nôn, công hạ hoặc mất huyết, mạch phù sác mà vi, nhiệt giảm, thân điều hòa, thì gọi là bệnh sắp giải.
“Giải vào nửa đêm” là dương bệnh gặp thời thuộc âm thì được hòa.
Ba dạng mạch phù, sác và vi tuy đều có thể biểu thị bệnh sắp giải, nhưng dấu hiệu giải bệnh khác nhau.
Mạch phù, mồ hôi ra êm thuận là tà trở ra biểu mà giải. Mạch sác, ăn được là vị hòa mà giải. Mạch vi, ra nhiều mồ hôi mà giải là vì chưa trải qua hãn, thổ, hạ, người bệnh chưa hư, nên không run; tân dịch chưa tổn thương nên có thể ra nhiều mồ hôi mà giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Ba ngày là nói bệnh đã qua ba kinh dương. Phù sác là chưa truyền vào âm. Vi là tà khí suy. Nửa đêm là lúc âm hết, dương sinh.
“Mồ hôi ra êm thuận” là dáng mồ hôi ra trong trạng thái điều hòa. Ăn được là vị khí hồi phục.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương chưa giải, mạch âm dương đều đình, tất trước run rét, sau ra mồ hôi mà giải.
Nếu chỉ dương mạch vi thì trước ra mồ hôi mà giải. Nếu chỉ âm mạch vi thì công hạ mà giải. Nếu muốn dùng phép hạ, nên dùng Điều vị thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương chưa giải, đáng lẽ phải thấy mạch của bệnh chưa giải. Nay không thấy mạch ấy, mà mạch âm dương đều đình, ba bộ trầm phục, không hiện.
Ba bộ trầm phục không hiện thì đáng lẽ có chứng nguy tử, nhưng lại không có chứng nguy tử; đó là dấu hiệu bệnh muốn giải.
Dấu hiệu giải bệnh trước có run rét, sau ra mồ hôi mới giải, là do tà và chính tranh đấu để làm ra mồ hôi.
Tuy nhiên, mạch trong lúc bệnh giải không thể đình lâu. Khi mạch sắp hiện lại, tất có phần hiện trước. Phải tìm ở phần trên dưới, âm dương của ba bộ đang trầm phục không hiện.
Nếu từ bộ thốn thuộc dương hiện ra yếu nhẹ trước thì biết thế bệnh hướng ra ngoài, sẽ ra mồ hôi mà giải.
Nếu từ bộ xích thuộc âm hiện ra yếu nhẹ trước thì biết thế bệnh hướng vào trong, sẽ tự hạ lợi mà giải.
Nếu không tự hạ lợi, muốn dùng phép hạ để hòa lý, nên dùng Điều vị thừa khí thang.
Từ đó suy ra, nếu không tự ra mồ hôi, muốn dùng phép hãn để hòa biểu, nên dùng Ma hoàng quế chi các bán thang.
Xét lời “nếu muốn dùng phép hạ, nên dùng Điều vị thừa khí thang”, ý rất nhẹ nhàng, linh hoạt, không chủ trương công hạ mạnh; những điều ấy đều nằm ngoài lời văn.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Run rét, ra mồ hôi rồi giải, chỉ nói riêng trường hợp mạch đình. Hai cách giải bệnh ở dưới không nhất thiết có chiến hãn, mà nói về lúc mạch dần hiện lại.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, bụng đầy, nói sảng, mạch thốn khẩu phù khẩn. Đó là can thừa tỳ, gọi là “túng”; châm huyệt Kỳ môn.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, mạch phù khẩn là biểu hàn Thái dương. Bụng đầy, nói sảng là lý nhiệt ở Thái âm và Dương minh.
Muốn theo Thái dương mà phát hãn thì lại có bệnh ở lý Thái âm, Dương minh. Muốn theo Thái âm, Dương minh mà công hạ thì lại có biểu Thái dương. Chủ trị quả thật khó cả hai phía, nên không dùng thuốc mà dùng phép châm.
Tuy nhiên, trong thiên Thái âm, Thái dương biểu chưa giải, Thái âm bụng đầy đau, dùng Quế chi gia đại hoàng thang, cũng là phép có thể tham khảo.
Câu “can thừa tỳ, gọi là túng, châm Kỳ môn” không nối liền ý nghĩa với phần trên, có vẻ có chỗ thiếu hoặc sai.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, phát nhiệt, sợ lạnh co rúm, rất khát muốn uống nước, bụng tất đầy. Nếu tự ra mồ hôi, tiểu tiện thông lợi thì bệnh sắp giải.
Đó là can thừa phế, gọi là “hoành”; châm huyệt Kỳ môn.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, phát nhiệt, sợ lạnh co rúm, là biểu chứng chưa có mồ hôi. Rất khát muốn uống nước, bụng tất đầy, là đầy do thủy ẩm đình lại.
Nếu tự ra mồ hôi thì biểu có thể tự giải; tiểu tiện thông lợi thì đầy có thể tự hết, nên nói bệnh sắp giải.
Nếu không ra mồ hôi, tiểu tiện bế, thì dùng Tiểu thanh long thang để giải bên ngoài trước. Ngoại chứng giải rồi mà đầy chưa hết thì dùng Thập táo thang để công hạ, bệnh cũng có thể khỏi.
Câu “can thừa phế, gọi là hoành, châm Kỳ môn” cũng không nối liền ý nghĩa với phần trên, có vẻ có chỗ thiếu hoặc sai.
ĐIỀU VĂN
Thời điểm bệnh Thái dương muốn giải, từ giờ Tỵ đến giờ Mùi.
CHÚ GIẢI
Bệnh giải thường vào lúc khí của kinh ấy thịnh.
Thái dương là dương thịnh. Giữa ngày, dương khí mạnh, nên bệnh có thể giải trong các giờ Tỵ, Ngọ và Mùi.
CHÚ ÂM CUỐI THIÊN
Dịch đọc theo âm của chữ thích; một chữ khuyết ghi phiên thiết “nhật–luân”; phách ghi phiên thiết “bàng–cát”; lật đọc theo chữ lật; sưu ghi phiên thiết “sở–lưu”; một chữ khuyết ghi phiên thiết “chức–liêm”; ế ghi phiên thiết “nhất–kết”; nhiêu đọc theo chữ nhiêu; khâu ghi phiên thiết “khổ–hậu”; trấp ghi phiên thiết “trở–lập”.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các số gam của Phục linh tứ nghịch thang chỉ giữ tỷ lệ thu nhỏ đã dùng ở những đoạn trước, không phải phép quy đổi khối lượng cổ hoặc đơn thuốc cho người bệnh. “Phụ tử dùng sống” được giữ theo nguyên văn; không tự áp dụng cách dùng và sắc này.
Trong câu “một phương thêm Nhân sâm và Phục linh”, bản gửi chép “sâm cầm”, nhưng theo thành phần và phần giải thích phía trước, được hiểu là “sâm linh”. Câu chú giải “trước công hạ mà khỏi” được đọc là “trước công hạ mà không khỏi” để phù hợp điều văn.
“Mạch âm dương đều đình” được người chú giải hiểu là mạch trầm phục, khó thấy. Không nên lấy lời bàn cổ này làm lý do chờ đợi khi người bệnh lơ mơ, suy sụp hoặc không bắt được mạch. Tương tự, “âm dương tự hòa thì tự khỏi” không có nghĩa mất máu hoặc mất nước đều có thể tự hồi phục mà không cần đánh giá.
Giờ Tỵ đến giờ Mùi tương ứng khoảng 9 giờ đến 15 giờ theo cách chia giờ truyền thống; đây là quan niệm thời điểm giải bệnh trong cổ thư.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH, CHỨNG VÀ TRỊ BỆNH DƯƠNG MINH — TOÀN THIÊN
Dương minh chủ lý, bên trong ứng với vị, bên ngoài ứng với cơ nhục, nên có sự phân biệt bệnh ở kinh và bệnh ở phủ.
Trong sách, thân nóng, phiền khát, mắt đau, mũi khô, không ngủ được, không sợ lạnh mà trái lại sợ nóng, là bệnh ở kinh Dương minh. Triều nhiệt, nói sảng, tay chân và nách ra mồ hôi liên tục, bụng đầy đau, đại tiện cứng, là bệnh ở phủ Dương minh.
Bệnh ở kinh có ba dạng.
Có trường hợp tà đã truyền vào Dương minh nhưng biểu Thái dương chưa hết, vẫn kèm đau đầu, sợ lạnh, không có mồ hôi, là những chứng của Thái dương.
Có trường hợp tà ở Thái dương đã hết, hoàn toàn truyền vào Dương minh, chỉ thấy nóng mạnh, có mồ hôi, tâm phiền, không ngủ, khát muốn uống nhiều nước.
Có trường hợp tà Dương minh chưa hết, lại chuyển sang Thiếu dương, kèm đau ngực sườn, hàn nhiệt vãng lai, miệng đắng, nôn, mắt choáng, tai điếc, là những chứng của Thiếu dương.
Bệnh ở phủ cũng có ba dạng.
Thái dương Dương minh là bệnh Thái dương, sau phát hãn, gây nôn, công hạ hoặc lợi tiểu, tân dịch hao tổn, trong vị khô. Tà Thái dương nhân lúc vị táo mà chuyển thuộc Dương minh, khiến tiểu tiện trái lại nhiều lần, đại tiện cứng; đó là tỳ ước.
Chính dương Dương minh là người vốn dương khí thịnh hoặc có thức ăn lưu tích. Tà Thái dương vừa truyền vào Dương minh đã vào vị phủ, khiến đại tiện không thông; đó là vị gia thực.
Thiếu dương Dương minh là bệnh đã đến Thiếu dương, đáng lẽ hòa giải, lại phát hãn, lợi tiểu, làm hao tân dịch, trong vị táo nhiệt. Bệnh lại chuyển thuộc Dương minh, khiến phân khô kết, khó đại tiện.
Chữa bệnh ở kinh Dương minh thì tùy chứng mà dùng Cát căn thang hoặc Quế chi gia cát căn thang để phát tán, Bạch hổ thang để thanh nhiệt, hoặc Sài hồ bạch hổ thang để hòa giải.
Chữa bệnh ở phủ Dương minh, tuy đều có trường hợp dùng phép hạ, nhưng vẫn có mức độ nhẹ nặng. Có thể dùng ba phương Thừa khí để công hạ, Ma nhân hoàn để thông tiện, hoặc phép dẫn bằng mật ong sắc đặc và dịch mật, tùy bệnh mà chữa.
Đó là đại lược bệnh Dương minh. Nay trình bày rõ hai mặt bệnh ở kinh và bệnh ở phủ trong thiên này, giúp người đọc dễ phân biệt, để khi lâm chứng điều trị không nhầm lẫn.
ĐIỀU VĂN
Dương minh mắc bệnh, chính là vị gia thực.
CHÚ GIẢI
Kinh Dương minh, bên trong ứng với vị, bên ngoài ứng với cơ nhục.
Tà Thái dương truyền vào kinh Dương minh thì thành ngoại chứng của bệnh Dương minh. Tà Thái dương truyền vào vị phủ thì thành vị gia thực.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Dương minh là kinh, vị là phủ. “Thực” là đại tiện kết lại, gây cứng đầy, không thoát ra được. Tuy phát sinh sớm hay muộn khác nhau, không thể câu nệ theo số ngày.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn đến ngày thứ ba, mạch Dương minh đại.
CHÚ GIẢI
Thương hàn ngày đầu ở Thái dương, ngày thứ hai ở Dương minh, ngày thứ ba ở Thiếu dương, là thứ tự truyền kinh được Nội kinh nói đến, không nhất thiết phải câu nệ số ngày.
Ở đây nói ngày thứ ba, mạch Dương minh đại, là không kèm mạch phù đại của Thái dương Dương minh, cũng không kèm mạch huyền đại của Thiếu dương Dương minh, mà thấy riêng mạch đại của Chính dương Dương minh.
Bởi tà rời biểu truyền vào lý, tà nhiệt vào vị, thành dấu hiệu nội thực, nên mạch có biểu hiện như vậy.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Thương hàn đến ngày thứ ba” là nói đại lược, bao gồm cả trúng phong. Mạch đại vì Dương minh nhiều khí, nhiều huyết.
Thẩm Minh Tông nói: Đây là chính mạch của bệnh Chính dương Dương minh.
Trọng Cảnh nói ngày thứ ba, mạch Dương minh đại, vì Dương minh là phủ nhiều khí, nhiều huyết; phong hàn truyền vào, tà thịnh ở trong, nên mạch hiện đại. Đó là chính mạch của tà thực Dương minh.
Bệnh Dương minh phải có mạch tương ứng mới có thể công hạ. Nếu kèm mạch phù khẩn của Thái dương, huyền tế của Thiếu dương, hoặc trì, sác, hoạt, sáp, hư, nhược, thuộc tình trạng khí huyết âm dương hư, thì dù thấy đầy thực rất rõ vẫn phải xét kỹ, thận trọng.
Có thể dùng Tiểu thừa khí thang để thăm dò, hoặc dùng phép mật tiễn đạo, không được dùng thẳng phép công hạ mạnh.
ĐIỀU VĂN
Vốn khi bệnh Thái dương mới phát, đã dùng phép phát hãn, nhưng mồ hôi ra chưa thấu, do đó chuyển thuộc Dương minh.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh vốn từ bệnh Thái dương lúc mới phát. Đã phát hãn nhưng mồ hôi ra không thấu, tức phát hãn không đúng phép, nên tà chưa hết chuyển thuộc Dương minh.
Tà ở kinh thì thành ngoại chứng; tà vào phủ thì thành vị gia thực.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này nói đại ý phát hãn trong bệnh Thái dương không đúng phép, khiến bệnh vào vị.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, nếu ăn được thì gọi là trúng phong; không ăn được thì gọi là trúng hàn.
CHÚ GIẢI
Tà Thái dương truyền thành bệnh Dương minh, có trường hợp từ trúng phong truyền đến, có trường hợp từ thương hàn truyền đến. Phải dựa vào việc ăn được hay không để phân biệt.
Ăn được, gọi là trúng phong, là từ trúng phong truyền đến. Phong thuộc dương tà, dương có thể hóa cốc nên ăn được.
Không ăn được, gọi là trúng hàn, là từ thương hàn truyền đến. Hàn thuộc âm tà, không thể hóa cốc nên không ăn được.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này dựa vào ăn được hay không để xét sự khác nhau giữa phong và hàn.
Dương minh chủ thủy cốc. Phong thì ăn được vì dương có thể hóa cốc; hàn thì không ăn được vì âm không thể tiêu hóa thức ăn.
“Gọi là” có nghĩa là “thuộc về”. Trúng hàn là cách nói khác của thương hàn.
Ý chính là truy nguyên phong hàn từ Thái dương truyền đến, có thể phân biệt như vậy; không phải nói Dương minh tự cảm tà mà thành.
Uông Hổ nói: Trọng Cảnh dùng “trúng hàn” cùng nghĩa với “thương hàn”, không phải chân hàn chứng.
Nếu thật sự là trúng hàn thì vị gia hư lạnh, nên dùng những phương như Lý trung thang.
Nay không ăn được là vị khí bị tà thực, nhưng tà chưa vào phủ, chưa thành uất nhiệt. Vì vậy gọi là trúng hàn, thực chất không khác thương hàn.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Ngoại chứng của bệnh Dương minh như thế nào?
Đáp: Thân nóng, mồ hôi tự ra, không sợ lạnh mà trái lại sợ nóng.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh có ngoại chứng và nội chứng. Triều nhiệt, tự hãn, không đại tiện là nội chứng. Thân nóng, mồ hôi tự ra, không sợ lạnh mà trái lại sợ nóng là ngoại chứng.
Nay mồ hôi tự ra là bệnh từ trúng phong truyền đến, nên giống ngoại chứng trúng phong. Nhưng thân nóng, không sợ lạnh mà trái lại sợ nóng, thì biết là ngoại chứng Dương minh, khác ngoại chứng trúng phong.
Nhiệt của Dương minh phát ở cơ nhục, nóng bốc liên tục, không giống phát nhiệt từng đợt của Thái dương.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này nói ngoại chứng khi Thái dương trúng phong truyền vào Dương minh.
Ngụy Lệ Đồng nói: Có bệnh Thái dương trúng phong chưa giải, truyền vào Dương minh, dựa vào đâu để phân biệt?
Vì vậy đặt câu hỏi: chưa biết bệnh Dương minh đã truyền vào lý từ khi nào, trước hết phải xét bên ngoài xuất hiện những chứng gì?
Bệnh Thái dương, thân nóng, mồ hôi tự ra mà sợ gió, là chứng vốn có của Thái dương trúng phong. Nếu thân nóng, mồ hôi tự ra, không còn sợ gió lạnh mà trái lại sợ nóng, thì bệnh đã rời Thái dương, vào Dương minh.
Đó là bệnh Dương minh từ Thái dương trúng phong truyền vào.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Có bệnh mới mắc một ngày, không phát nhiệt mà sợ lạnh, là vì sao?
Đáp: Tuy mới mắc một ngày, chứng sợ lạnh sẽ tự hết, rồi mồ hôi tự ra, người bệnh sợ nóng.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương sợ lạnh; bệnh Dương minh sợ nóng.
Nay bệnh Dương minh lúc mới mắc một ngày, không phát nhiệt mà sợ lạnh, là vì tà Thái dương đang rời biểu nhưng chưa hết, nên vẫn sợ lạnh.
Tà đang rời biểu để truyền vào Dương minh không thể lưu lâu như vậy, nên sợ lạnh sẽ tự hết, rồi ngay trong ngày có thể tự ra mồ hôi, sợ nóng.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này nói ngoại chứng khi Thái dương thương hàn truyền vào Dương minh.
Trình Ứng Mao nói: Dương minh còn sợ lạnh thì vẫn còn kèm biểu. Đến khi bệnh vào phủ thì sợ nóng. Biểu đã hết hay chưa, phải xét ở điểm này.
Trịnh Trọng Quang nói: Điều này phân biệt ngoại chứng của Dương minh thương hàn.
Không phát nhiệt mà sợ lạnh là khởi đầu từ thương hàn. Sợ lạnh sẽ tự hết là tà đã qua biểu. Mồ hôi tự ra là tà nhiệt uất ở cơ nhục, tấu lý mở, mồ hôi thoát ra ngoài.
Ngụy Lệ Đồng nói: Thái dương thương hàn cũng có thể truyền vào Dương minh, vậy phân biệt thế nào?
Vì vậy đặt câu hỏi: bệnh mới mắc một ngày, lúc đầu không thấy phát nhiệt, chỉ thấy sợ lạnh, là bệnh gì?
Đáp: Mới mắc một ngày, sợ lạnh tuy là chứng Thái dương thương hàn, nhưng sợ lạnh sẽ tự hết, rồi tự ra mồ hôi, sợ nóng. Đó là bệnh Dương minh từ Thái dương thương hàn truyền vào.
Có thể biết Thái dương trúng phong lấy phát nhiệt, sợ gió, mồ hôi tự ra làm chính chứng; Thái dương thương hàn lấy sợ lạnh, không có mồ hôi làm chính chứng. Nếu truyền vào Dương minh thì lấy ra mồ hôi, sợ nóng làm chính chứng.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Vì sao sợ lạnh tự hết?
Đáp: Dương minh ở giữa, chủ thổ. Muôn vật đều quy về, không còn nơi truyền tiếp. Lúc đầu tuy sợ lạnh, đến ngày thứ hai thì hết; đó là bệnh Dương minh.
CHÚ GIẢI
Điều này giải thích ý sợ lạnh tự hết ở điều trên.
Dương minh thuộc vị, ở giữa, thuộc thổ. Thổ là nơi muôn vật quy về, nên tà nhiệt quy về vị thì không còn truyền tiếp; cũng là ý muôn vật quy về thổ.
Bệnh Dương minh lúc đầu, ngày thứ nhất vẫn sợ lạnh, là biểu Thái dương chưa hết. Đến ngày thứ hai, sợ lạnh tự ngừng, tức tà Thái dương đã hoàn toàn quy tụ vào Dương minh; đó là bệnh Dương minh.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Sợ lạnh đến ngày thứ hai tự ngừng là nhiệt vào lý, sắp chuyển sang sợ nóng. Đây là nói về Chính dương Dương minh.
Trình Ứng Mao nói: Sáu kinh tuy phân âm dương, nhưng vị giữ vai trò chủ trì; năm tạng, sáu phủ đều quy về, nhận sự điều phối của vị.
Một khi có táo nhiệt, không chỉ tà từ tam dương truyền đến theo đó hóa nhiệt, mà tà từ tam âm truyền đến cũng có thể chuyển thuộc và hóa nhiệt.
Tà âm dương đều quy về vị thổ, nên nói: “Muôn vật đều quy về, không còn nơi truyền tiếp.”
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Do đâu mắc bệnh Dương minh?
Đáp: Bệnh Thái dương, nếu phát hãn, công hạ hoặc lợi tiểu, làm hao tân dịch, trong vị khô, do đó chuyển thuộc Dương minh.
Không đại tiện, bên trong thực, khó đại tiện, gọi là Dương minh.
CHÚ GIẢI
Hỏi: Do đâu mắc bệnh vị thực Dương minh?
Đáp: Khi tà ở Thái dương, phát hãn, công hạ hoặc lợi tiểu đều nhằm khu tà. Nếu chữa đúng thì tà giải, bệnh khỏi.
Nếu chữa không đúng, chỉ làm hao tân dịch, khiến trong vị khô, thì biểu tà chưa hết nhân lúc táo nhiệt mà chuyển thuộc Dương minh.
Bệnh vị thực có ba dạng: không đại tiện là tỳ ước của Thái dương Dương minh; nội thực là vị gia thực của Chính dương Dương minh; khó đại tiện là chứng của Thiếu dương Dương minh.
Ba dạng tuy đều có trường hợp dùng phép hạ, nhưng mức độ khác nhau. Tỳ ước nhẹ hơn khó đại tiện; khó đại tiện nhẹ hơn vị gia thực.
Tỳ ước và khó đại tiện thường do người bệnh vốn thiếu tân dịch, hoặc do phát hãn, công hạ, lợi tiểu không thích hợp.
Vị thực thì người bệnh vốn dương khí thịnh, trong vị có thức ăn lưu tích; dù chưa phát hãn, công hạ, tà vẫn có thể vào vị, thành thực.
Vì vậy, đã phát hãn, công hạ thì thuộc Dương minh do hao huyết dịch mà táo, lấy nhuận táo làm chính. Chưa phát hãn, công hạ thì thuộc Dương minh do nhiệt thịnh gây táo, lấy công nhiệt làm cấp thiết.
Đó là căn cứ phân biệt cách dùng ba phương Thừa khí, Tỳ ước hoàn, cùng các phép dẫn bằng mật ong sắc đặc, Thổ qua căn và dịch mật lợn.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Người xưa đi đại tiện phải thay áo, nên “không thay áo” có nghĩa là không đại tiện.
Trình Ứng Mao nói: Các mức chuyển thuộc không chỉ khác nhau ở biểu đã hết hay chưa. Khi biểu hết, bệnh vào lý, còn phải phân biệt táo đã thành thực hay chưa thành thực.
Vì vậy mới có bệnh Dương minh không đại tiện, bệnh Dương minh nội thực, bệnh Dương minh khó đại tiện.
Trong đó có chứng thuộc biểu, có chứng thuộc lý, nên phép hạ có khi bị cấm, có khi thích hợp. Tình trạng bên trong có lý thực hoặc lý táo, nên phép hạ có khi cần mạnh, có khi cần nhẹ.
Uông Hổ nói: Có người hỏi: bệnh Thái dương đã công hạ thì những thứ trong vị đã được đưa ra; dù hao tân dịch, trong vị khô, chưa chắc lại thành nội thực?
Đáp: Khi bệnh Thái dương mới phát, công hạ không thích hợp chỉ làm hao tân dịch; những thứ trong vị chưa được đưa ra hết. Tà truyền vào Dương minh, hình thành phân khô, nên có nội thực.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Bệnh có Thái dương Dương minh, Chính dương Dương minh và Thiếu dương Dương minh, nghĩa là gì?
Đáp: Thái dương Dương minh là tỳ ước. Chính dương Dương minh là vị gia thực. Thiếu dương Dương minh là sau phát hãn, lợi tiểu, trong vị táo, phiền, thực, khó đại tiện.
CHÚ GIẢI
Chứng Dương minh có thể dùng phép hạ không chỉ có vị gia thực. Có ba cương lĩnh, nên lại đặt câu hỏi và đáp để làm rõ.
Tà Thái dương nhân vị táo nhiệt mà truyền vào Dương minh, gọi là Thái dương Dương minh. Không đại tiện nhưng không có khó chịu rõ, gọi là tỳ ước.
Tà Thái dương nhân thức ăn lưu tích trong vị mà kết với táo nhiệt, gọi là Chính dương Dương minh. Không đại tiện, bên trong thực, đầy đau, gọi là vị gia thực.
Tà Thái dương đã đến Thiếu dương, đáng lẽ hòa giải, lại phát hãn, lợi tiểu, tổn thương tân dịch. Tà Thiếu dương lại nhân vị táo mà chuyển thuộc Dương minh, gọi là Thiếu dương Dương minh. Phân khô rít, khó ra, gọi là khó đại tiện.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói cả tam dương đều có chứng tà vào vị phủ.
Dương minh là biển của thủy cốc, trung thổ là nơi muôn vật quy về, nên cả ba kinh dương đều có thể truyền vào vị phủ.
Tà từ Thái dương truyền vào vị phủ, gọi là Thái dương Dương minh. Đó là trường hợp kinh văn nói: bệnh Thái dương, sau gây nôn, công hạ hoặc phát hãn, hơi phiền, tiểu tiện nhiều lần, đại tiện do đó cứng. Vì tỳ thu giữ, hạn chế tân dịch, nên dùng Tiểu thừa khí để hạ nhẹ, điều hòa.
Tà từ kinh Dương minh truyền vào vị phủ, gọi là Chính dương Dương minh. Đó là trường hợp kinh văn nói: phát nhiệt, ra mồ hôi, trong vị khô, cứng, nói sảng. Tà thực trong vị nên dùng Đại thừa khí để công hạ.
Tà từ Thiếu dương chuyển thuộc vị phủ, gọi là Thiếu dương Dương minh. Đó là trường hợp kinh văn nói: Thiếu dương không được phát hãn, phát hãn thì nói sảng, bệnh thuộc vị. Vì tân dịch bên trong hao cạn nên dùng Ma nhân hoàn để nhuận hạ, điều hòa tân dịch.
Nếu ngoại chứng của tam dương chưa hết thì không thể dùng ngay phép chính trị của Dương minh.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, mạch phù khẩn, tất có triều nhiệt, phát vào thời điểm nhất định. Nếu mạch chỉ phù thì tất ra mồ hôi trộm.
LỜI ÁN
Tự hãn là chứng Dương minh; đạo hãn là chứng Thiếu dương. “Mồ hôi trộm” ở đây đáng lẽ là “mồ hôi tự ra”, ý văn mới nối liền.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh ở kinh, mạch đáng lẽ phù trường; vào phủ, mạch đáng lẽ thực đại.
Nay mạch phù khẩn, triều nhiệt có thời điểm, là bệnh Dương minh nhưng thấy mạch Thái dương thương hàn, nên biết bệnh từ thương hàn truyền đến.
Tà Thái dương thương hàn chưa hết thì tất không có mồ hôi. Vì vậy, dù thấy triều nhiệt Dương minh phát vào thời điểm nhất định, vẫn phải chữa theo Thái dương Dương minh thương hàn, nên dùng Ma hoàng gia cát căn thang để phát hãn.
Nếu có triều nhiệt phát vào thời điểm nhất định mà mạch chỉ phù, không khẩn, thì đó là bệnh Dương minh nhưng thấy mạch Thái dương trúng phong, nên biết từ trúng phong truyền đến.
Tà Thái dương trúng phong chưa hết thì tất mồ hôi tự ra. Phải chữa theo Thái dương Dương minh trúng phong, nên dùng Quế chi gia cát căn thang để giải.
TẬP CHÚ
Thẩm Minh Tông nói: Đây là chứng Dương minh nhưng thấy mạch Thái dương.
Mạch phù khẩn là mạch của biểu hàn Thái dương chưa hết. Triều nhiệt phát có thời điểm là lý chứng Dương minh đã có.
Mạch chỉ phù là mạch phong làm tổn thương vệ của Thái dương, nên tất có mồ hôi.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, mạch trì, mồ hôi ra nhiều, hơi sợ lạnh, là biểu chưa giải. Có thể phát hãn, nên dùng Quế chi thang.
LỜI ÁN
Sau “mồ hôi ra nhiều” đáng lẽ phải có hai chữ “phát nhiệt”.
Nếu không có hai chữ ấy, mạch trì, mồ hôi ra nhiều, hơi sợ lạnh là biểu dương hư, thuộc chứng Quế chi phụ tử thang. Làm sao có lý dùng Quế chi thang để phát hãn? Có lẽ đã bị thiếu khi truyền chép.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, mạch đáng lẽ sác đại. Nay mạch trì, mồ hôi ra nhiều, nếu không phát nhiệt, sợ lạnh thì biểu tà Thái dương đã giải.
Nay phát nhiệt, hơi sợ lạnh, là biểu chưa giải hết. Vì vậy, nên dùng Quế chi thang giải cơ, làm ra mồ hôi, khiến biểu tà mới vào Dương minh trở ra biểu mà thoát.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói trúng phong truyền vào Dương minh, biểu tà chưa giải, vẫn nên dùng Quế chi thang để giải cơ.
Uông Hổ nói: Đây là bệnh Thái dương mới truyền vào kinh Dương minh, bên trong có phong tà.
Mạch trì là do mạch hoãn của Thái dương trúng phong biến đổi. Truyền đến Dương minh, tà sắp vào lý nên mạch đổi thành trì.
Mồ hôi ra nhiều là vì Dương minh nhiệt, cơ biểu sơ lỏng. Hơi sợ lạnh là phong tà ở biểu chưa hết. Vì vậy, vẫn chữa theo Thái dương trúng phong.
Ông lại nói: Tuy chữa theo Thái dương, nhưng đã gọi là bệnh Dương minh thì theo phép Trọng Cảnh, dùng Quế chi gia cát căn thang có lẽ thích hợp hơn.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, mạch phù, không có mồ hôi mà suyễn, phát hãn thì khỏi, nên dùng Ma hoàng thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, mạch đáng lẽ phù đại, chứng đáng lẽ có mồ hôi.
Nay mạch chỉ phù là mạch của bệnh ở biểu; không có mồ hôi mà suyễn là biểu thực.
Đó là tà Thái dương chưa hoàn toàn vào Dương minh, vẫn còn ở biểu. Vẫn phải chữa theo Thái dương thương hàn; phát hãn thì khỏi, nên dùng Ma hoàng thang.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Trong bệnh Dương minh, khó phân biệt dinh vệ, phải hoàn toàn dựa vào mạch và chứng.
Mạch của phong tà truyền đến Dương minh, mồ hôi tự ra đã nhiều, thì tính hoãn mất, tính trì còn. Mạch của hàn tà truyền đến Dương minh, phát nhiệt đã mạnh, thì tính khẩn mất, tính phù còn.
Đó đều là dấu hiệu tà còn ở kinh. Nếu vào phủ, mạch trì sẽ chuyển sác, mạch phù sẽ chuyển thực.
Nếu không sác, không thực thì không phải vị thực, tất không chịu được công hạ.
Uông Hổ nói: Không có mồ hôi mà suyễn, mạch chỉ phù, không khẩn, dựa vào đâu xác định là bệnh Dương minh?
Người bệnh tất có mắt đau, mũi khô, thân nóng, không ngủ được, nên gọi là bệnh Dương minh.
Ngụy Lệ Đồng nói: Đây là chứng Thái dương Dương minh, vào Dương minh chưa sâu, nên khiến tà vẫn thoát ra từ biểu, không đến mức quy vào vị rồi không còn nơi truyền tiếp.
ĐIỀU VĂN
Dương mạch vi, mồ hôi ra ít, là tự hòa. Mồ hôi ra nhiều là quá mức.
Dương mạch thực, vì phát hãn mà mồ hôi ra nhiều, cũng là quá mức.
Quá mức thì dương tuyệt ở lý, tân dịch hao tổn, đại tiện do đó cứng.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nói rõ thêm mạch để nêu chứng.
“Dương mạch vi” là mạch phù, yếu, vô lực. “Dương mạch thực” là mạch phù, mạnh, có lực.
Trong mạch trúng phong, thương hàn, dương vi thì nhiệt nhẹ. Nhiệt nhẹ nung ở biểu làm ra mồ hôi; nếu mồ hôi ít thì là tự hòa, bệnh muốn giải. Nếu mồ hôi nhiều thì là quá mức, bệnh chưa giải.
Dương mạch thực thì nhiệt thịnh. Vì nhiệt thịnh mà phát hãn, mồ hôi ra nhiều cũng là quá mức.
Mồ hôi ra quá mức thì dương cực ở lý, tân dịch hao tổn, đại tiện cứng, thành nội thực, thế bệnh có thể phải dùng phép hạ.
Vì vậy, người muốn phát hãn không thể không sớm nghĩ đến điều ấy.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Dương vi là mạch trúng phong, dương vi hoãn. Dương thực là mạch thương hàn, dương khẩn thực.
“Dương tuyệt” là cách nói khác của hao tân dịch. Trọng Cảnh thường gọi người hao tân dịch là “vô dương”. Xét câu “dương tuyệt ở lý, hao tân dịch, đại tiện do đó cứng” thì ý rất rõ.
Thương hàn, phát hãn ở kinh Thái dương bàng quang phải chăm lo dương khí, vì bàng quang chủ khí hóa. Phát hãn ở kinh Dương minh vị phải chăm lo âm tân, vì vị chứa tân dịch.
Vì vậy, Dương minh thường có chứng nhiệt thoát ra ngoài, tức tân dịch trong vị theo nhiệt mà thoát hết ra ngoài, mồ hôi ra không ngừng.
Bệnh Dương minh, bất luận trúng phong hay thương hàn, mạch vi hay thực, mồ hôi ra ít thì tà có thể tự giải; mồ hôi ra nhiều thì âm tân dễ hao cạn.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh theo lẽ thường có nhiều mồ hôi, nay trái lại không có mồ hôi, thân có cảm giác như côn trùng bò trong da, là vì hư lâu ngày.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh đáng lẽ nhiều mồ hôi, nay trái lại không có mồ hôi, thân như có côn trùng bò trong da, vì người bệnh vị khí hư lâu ngày.
Tà uất ở biểu Thái dương, cơ biểu Dương minh không thể tuyên phát làm ra mồ hôi.
Nên dùng lượng nhẹ Cát căn thang, làm ra mồ hôi ít để hòa cơ biểu, bệnh có thể khỏi.
TẬP CHÚ
Uông Hổ nói: Điều này, Trọng Cảnh không nêu trị pháp.
Thường Khí Chi nói có thể dùng Quế chi gia hoàng kỳ thang. Quách Ung nói nên dùng Quế chi ma hoàng các bán thang.
Nhưng hai phương trên đều là thuốc kinh Thái dương. Nay thuộc chứng Dương minh không có mồ hôi, vẫn nên dùng Cát căn thang chủ trị.
Ngụy Lệ Đồng nói: Bệnh Dương minh đáng lẽ nhiều mồ hôi, nay trái lại không có mồ hôi, chỉ thấy thân như có côn trùng bò trong da, là tà nhiệt muốn ra biểu làm mồ hôi, nhưng chính khí suy yếu không đưa ra được.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, lúc đầu muốn ăn, tiểu tiện trái lại không thông lợi, đại tiện tự điều hòa.
Người bệnh đau các khớp xương, có vẻ nóng nhẹ ở ngoài, đột nhiên phát cuồng, mồ hôi ra êm thuận rồi bệnh giải.
Đó là thủy không thắng được cốc khí, cùng theo mồ hôi mà thoát. Mạch khẩn thì khỏi.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, lúc đầu muốn ăn, thì biết là từ nhiệt tà trúng phong truyền đến.
Dương minh bị tà, đáng lẽ tiểu tiện nhiều lần, đại tiện cứng. Nay tiểu tiện trái lại không thông lợi, đại tiện tự điều hòa, thì biết tân dịch chưa tổn thương, vị tự hòa, chưa thành lý thực.
Chưa thành thực thì tà ở kinh vốn nhẹ, có thể tự khỏi.
Nếu người bệnh đau các khớp xương, có vẻ nóng nhẹ ở ngoài, thì biểu Thái dương chưa hết.
“Yểm” nghĩa là đột nhiên. Đột nhiên phát cuồng, mồ hôi ra êm thuận rồi giải, là vì tà từ Thái dương truyền đến vốn nhẹ, tà Dương minh tiếp nhận còn nông, tân dịch chưa tổn thương, vị tự hòa, nên vẫn trở ra biểu để giải.
Nhưng phải đợi phát cuồng rồi mới giải, là vì thủy khí trong vị không thắng được cốc khí của tình trạng lúc đầu muốn ăn. Cốc khí làm tăng dương, hóa nhiệt; thủy không thắng được nhiệt, tạo thành mồ hôi rồi cùng thoát ra, nên có phát cuồng trong lúc bệnh giải.
Khi sắp ra mồ hôi mà giải, mạch thường phù trước. Nay nói “mạch khẩn thì khỏi” cũng là mạch đáng thấy khi tà trở ra biểu, bệnh muốn giải.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, phát nhiệt, không có mồ hôi, nôn, không ăn được, nay trái lại mồ hôi ra liên tục, là đã chuyển thuộc Dương minh.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, phát nhiệt, không có mồ hôi, nôn, không ăn được, là tà Thái dương muốn truyền.
Nếu vẫn không có mồ hôi thì biểu của Thái dương Dương minh còn, có thể phát hãn.
Nay trái lại mồ hôi ra liên tục thì tà đã chuyển thuộc phủ Dương minh, có thể công hạ, không được phát hãn.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Thương hàn, phát nhiệt, không có mồ hôi, nôn, không ăn được, là Thái dương mắc bệnh.
Nếu trái lại mồ hôi ra liên tục thì tà Thái dương đã chuyển thuộc Dương minh. Vì vậy, kinh nói bệnh Dương minh theo lẽ thường nhiều mồ hôi.
Phương Hữu Chấp nói: Nôn, không ăn được là nhiệt vào vị. Trái lại ra mồ hôi là cơ nhục bị nhiệt, tấu lý mở ra.
Trình Ứng Mao nói: Chính chứng Thái dương đang còn mà trái lại mồ hôi ra liên tục, thì tuy biểu chứng chưa hết, bệnh đã chuyển thuộc Dương minh.
“Trấp trấp” nghĩa là liên miên, như cách nói thông thường: một lượt mồ hôi chưa hết, lượt khác đã ra.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch phù, phát nhiệt, không có mồ hôi, biểu chưa giải, không được cho Bạch hổ thang.
Khát muốn uống nước, không có biểu chứng, Bạch hổ gia nhân sâm thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Tà thương hàn truyền vào Dương minh, mạch phù, phát nhiệt, không có mồ hôi, biểu chưa giải, thì dù khô khát cũng là chứng Đại thanh long thang, không được cho Bạch hổ thang.
Ngay cả khi có nhiệt chứng Dương minh, khát muốn uống nước, đáng dùng Bạch hổ, cũng phải xét không có biểu chứng Thái dương mới được dùng.
Thêm Nhân sâm vì mạch phù mà không hoạt, không phải biểu hiện có dư; đồng thời muốn trong phép thanh nhiệt mạnh, nhanh chóng sinh lại tân dịch.
TẬP CHÚ
Trịnh Trọng Quang nói: Điều này làm rõ phép dùng Bạch hổ thang.
Bạch hổ chỉ thanh nhiệt, không giải biểu. Nếu còn kèm ngoại cảm, có biểu chứng như không có mồ hôi, sợ lạnh, đau thân, đau đầu, thì phải thận trọng, không được dùng.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đã dịch hết nội dung trong tài liệu bạn gửi. Đoạn này chỉ nêu tên phương, chưa ghi thành phần và cân lượng, nên không tự bổ sung liều thuốc.
Các chữ khuyết được phục hồi theo văn cảnh thành “cứng”, “sườn” hoặc “nói sảng”. Cụm “tiệm nhiệt” ở phần mở đầu được hiểu là “triều nhiệt”, phù hợp phần điều văn và chú giải phía sau. Tên “Hãn Hổ” trong một chỗ của bản gửi được đọc là Uông Hổ.
Ý kiến đổi “đạo hãn” thành “tự hãn”, hoặc thêm “phát nhiệt”, được giữ riêng trong LỜI ÁN. Những cách phân loại Thái dương Dương minh, Chính dương Dương minh và Thiếu dương Dương minh có khác biệt giữa các nhà chú giải; bản dịch giữ từng quan điểm, không ghép thành một cách giải thích duy nhất.
“Phát cuồng rồi ra mồ hôi mà giải” là lời bàn cổ về diễn biến bệnh, không phải dấu hiệu bảo đảm an toàn để chờ tự khỏi khi người bệnh rối loạn ý thức.
Trường Xuân biên soạn
BẠCH HỔ GIA NHÂN SÂM THANG
Trong phương Bạch hổ thang, thêm Nhân sâm ba lạng (liều tham khảo theo tỷ lệ thu nhỏ: khoảng 9 g). Các vị còn lại và cách sắc uống đều theo phương Bạch hổ thang.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch phù hoạt, đây là biểu có nhiệt, lý có hàn; dùng Bạch hổ thang chủ trị.
LỜI ÁN
Vương Tam Dương nói: Chữ “hàn” trong điều văn nên hiểu là chữ “tà”, cũng tức là nhiệt tà. Lời giải ấy rất đúng. Nếu thực sự là hàn thì không phải chứng của Bạch hổ thang.
CHÚ GIẢI
Điều này nói về bệnh thương hàn khi chứng Thái dương đã hết, tà truyền vào Dương minh, biểu lý đều có nhiệt, nhưng chưa hình thành chứng vị thực.
Mạch phù hoạt: phù là mạch biểu có nhiệt. Biểu của Dương minh có nhiệt thì phải có phát nhiệt, ra mồ hôi. Hoạt là mạch lý có nhiệt. Lý của Dương minh có nhiệt thì phải có phiền khát, muốn uống nước. Vì vậy, ý của điều văn là biểu có nhiệt, lý cũng có nhiệt.
Đây là chứng Dương minh biểu lý đều có nhiệt. Bạch hổ thang là phương giải nhiệt ở cả biểu và lý của Dương minh, nên dùng làm phương chủ trị. Không thêm Nhân sâm vì người bệnh chưa trải qua phép phát hãn, gây nôn hoặc công hạ, chính khí chưa hư.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Mạch hoạt biểu thị lý nhiệt; nói mạch phù hoạt tức là biểu lý đều có nhiệt. Nhiệt khí mạnh được vị thuốc tân lương giải trừ, cũng như giữa tiết trời nóng bức, gặp gió thu thì trở nên mát dịu. Vì vậy, phương thuốc thanh lương này được đặt tên là Bạch hổ.
Ông lại nói: Trong thiên Quyết âm có điều: “Thương hàn, mạch hoạt mà tay chân quyết lạnh, là lý có nhiệt; Bạch hổ thang chủ trị.” Điều ấy có thể chứng minh rằng câu này không mang nghĩa lý có hàn.
Ngụy Lệ Đồng nói: Chữ “lý” ở đây vẫn chỉ phần lý của kinh lạc, không phải phần lý của tạng phủ; cũng như lấy vệ làm biểu, lấy dinh làm lý, chứ không nói về tạng phủ.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Lượng 9 g Nhân sâm ở trên chỉ là lượng tham khảo theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải phép quy đổi chính xác ba lạng cổ sang gam và không phải liều kê đơn. Nguyên văn “lý có hàn” được giữ trong điều văn; cách hiểu thành “nhiệt tà” là ý kiến hiệu giải của các chú gia.
Trường Xuân biên soạn
BẠCH HỔ THANG 白虎汤
Tri mẫu sáu lạng (liều tham khảo hiện đại: 18 g), Thạch cao đập vụn một cân (liều tham khảo hiện đại: 50 g), Cam thảo chích hai lạng (liều tham khảo hiện đại: 6 g), gạo tẻ sáu hợp (liều tham khảo hiện đại: 9 g).
Bốn vị trên dùng một đấu nước, nấu đến khi gạo chín, nước thuốc thành thì bỏ bã. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày ba lần.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Tà ở Dương minh chuyển hóa thành nhiệt, nên người bệnh không sợ lạnh mà sợ nóng. Nhiệt bốc ra ngoài nên phát nóng, ra mồ hôi; nhiệt nung đốt trong vị nên khát, muốn uống nước. Tà thịnh thuộc thực nên mạch hoạt; nhưng tà vẫn còn ở kinh nên mạch kiêm phù.
Dương minh thuộc vị, bên ngoài chủ cơ nhục. Tuy trong ngoài đều có đại nhiệt nhưng chưa hình thành vị thực, nên rốt cuộc không thích hợp với phép dùng thuốc đắng lạnh để công hạ.
Thạch cao có vị cay, tính lạnh. Vị cay giải nhiệt ở cơ nhục, tính lạnh thắng vị hỏa; tính lạnh có thể đi vào trong, vị cay có thể đi ra ngoài. Vị thuốc này có khả năng tác động cả trong lẫn ngoài nên được dùng làm quân.
Tri mẫu đắng mà nhuận; đắng để tả hỏa, nhuận để tư dưỡng phần khô táo, nên dùng làm thần.
Cam thảo và gạo tẻ điều hòa trung cung, lại có thể tả hỏa trong thổ. Theo ý “thổ sinh ngũ cốc, tạo vị ngọt”, thuốc lạnh phối hợp với chúng thì tính lạnh được hòa hoãn; thuốc đắng phối hợp với chúng thì vị đắng được điều hòa. Dùng hai vị này làm tá để những vị đại hàn, đại khổ không gây tổn thương tỳ vị.
Nước thuốc vào vị, được chuyển qua tỳ rồi quy về phế, tinh hoa của thủy dịch phân bố khắp nơi, nhờ đó chứng đại phiền, đại khát được giải trừ.
Bạch hổ là thần thuộc hành Kim ở phương Tây. Lấy tên ấy đặt cho phương thuốc, ví như khí Kim của mùa thu đắc lệnh thì cái nóng oi bức tự tiêu tan.
Có trường hợp thêm Nhân sâm vào phương, cũng nhằm bổ trung, ích khí, sinh tân. Nhân sâm phối hợp với Cam thảo, gạo tẻ để tăng sức bổ dưỡng, đồng thời điều tiết tính lạnh của Thạch cao, Tri mẫu, khiến tả hỏa mà không tổn thương tỳ thổ. Đó là phép dùng thuốc chu toàn.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh phiền nhiệt, ra mồ hôi thì giải, nhưng lại xuất hiện chứng giống sốt rét, phát nhiệt vào lúc xế chiều, là thuộc Dương minh. Mạch thực thì nên công hạ; mạch phù hư thì nên phát hãn. Công hạ dùng Đại thừa khí thang; phát hãn dùng Quế chi thang.
CHÚ GIẢI
“Người bệnh” ở đây chỉ người mắc chứng trúng phong hoặc thương hàn ở kinh Thái dương. Bệnh Thái dương có phiền nhiệt, ra mồ hôi thì đáng lẽ phải giải. Nay lại xuất hiện nóng lạnh như sốt rét, cứ đến lúc xế chiều thì phát triều nhiệt. Xế chiều là khoảng giờ Thân, Dậu, lúc khí Dương minh vượng, nên nói là thuộc Dương minh.
Tuy chứng trạng như vậy, vẫn phải xét tà đã hoàn toàn chuyển sang Dương minh hay còn kiêm Thái dương. Vì thế cần phân biệt thêm bằng mạch.
Nếu mạch thực, tà đã vào lý, thì ra mồ hôi kèm triều nhiệt là chứng Dương minh có thể công hạ, nên dùng Đại thừa khí thang.
Nếu mạch phù hư, tà còn ở biểu, thì nóng lạnh như sốt rét vẫn thuộc chứng Thái dương cần phát hãn, nên dùng Quế chi thang.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Sau khi ra mồ hôi, phiền nhiệt đã giải, tà Thái dương sắp hết nhưng chưa hết hẳn. Người bệnh lại xuất hiện chứng giống sốt rét, phát nhiệt vào lúc xế chiều, thì biết chắc tà đã vào Dương minh.
Tuy đã vào Dương minh, vẫn còn lo tà chưa rời Thái dương, nên nhất thiết phải xét kỹ mạch một lần nữa. Mạch thực thì có thể công hạ; nếu mạch phù hư thì vẫn là Dương minh kiêm Thái dương, nên phát hãn, không nên công hạ.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, sau khi gây nôn, công hạ hoặc phát hãn, người bệnh hơi phiền, tiểu tiện nhiều lần, đại tiện vì thế trở nên cứng; dùng Tiểu thừa khí thang điều hòa thì khỏi.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương, sau khi gây nôn, công hạ hoặc phát hãn mà chưa giải, tà vào lý gây hơi phiền, vốn là chứng của Chi tử thị thang.
Nay tiểu tiện nhiều lần, đại tiện vì thế trở nên cứng, là tân dịch bị hao thoát theo đường tiểu. Nên dùng Tiểu thừa khí thang điều hòa, vì nhiệt kết chưa nặng, tà vào lý chưa sâu.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Hơi phiền, tiểu tiện nhiều lần, đại tiện vì thế trở nên cứng, đều là dấu hiệu tà đang dần vào lý, nên dùng Tiểu thừa khí thang điều hòa.
Trình Ứng Mao nói: Sau phép gây nôn, công hạ hoặc phát hãn mà xuất hiện chứng phiền, lại có đại tiện cứng, thì rõ ràng không giống chứng hư phiền.
Tuy nhiên, mức độ phiền nhẹ, tiểu tiện lại nhiều lần, nên nguyên nhân là vị mất sự nhuận dưỡng, táo khí xâm nhập. Vị tuy thực nhưng chưa phải đại thực. Dùng Tiểu thừa khí thang là để điều hòa, không phải để công hạ mạnh.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại được ghi trong tài liệu phương tễ của Nhà xuất bản Nhân dân Vệ sinh; không phải phép quy đổi chính xác các đơn vị cổ. Chữ “筋” trong lượng Thạch cao được hiểu là “斤”, tức một cân. rwzyzs.pmphai.com
Các đơn vị nước và cách sắc uống được giữ theo nguyên văn để phục vụ việc đọc cổ thư; không tự động áp dụng nguyên cách sắc cổ cho những lượng thuốc tham khảo hiện đại. Những chữ khuyết “□” trong đoạn nói về đại tiện được hiểu là “硬”, nghĩa là cứng.
Trường Xuân biên soạn
TIỂU THỪA KHÍ THANG 小承气汤
Đại hoàng bốn lạng (liều tham khảo hiện đại: 12 g), Hậu phác bỏ vỏ, chích hai lạng (liều tham khảo hiện đại: 6 g), Chỉ thực loại lớn, chích ba quả (liều tham khảo hiện đại: 9 g).
Ba vị trên dùng bốn thăng nước, sắc còn một thăng hai hợp, bỏ bã, chia làm hai lần uống ấm. Sau lần uống đầu, người bệnh phải đi đại tiện. Nếu chưa đi thì uống hết phần còn lại; nếu đã đi đại tiện thì không uống tiếp.
ĐIỀU VĂN
Mạch Phu dương phù mà sáp. Phù là vị khí mạnh, sáp là tiểu tiện nhiều lần. Phù và sáp cùng xuất hiện, đại tiện trở nên cứng; đó là tỳ ước, dùng Ma nhân hoàn chủ trị.
CHÚ GIẢI
Phu dương là mạch thuộc kinh Vị. Mạch Phu dương phù mà sáp: phần dương phù biểu thị vị khí mạnh; phần âm sáp biểu thị tiểu tiện nhiều lần. Âm dương tác động lẫn nhau, nhiệt thịnh mà tân dịch hao kiệt, nên đại tiện trở nên cứng.
Gọi là “ước” vì tỳ bị tà khí ràng buộc, không thể vận hành tân dịch cho vị, nên gọi là tỳ ước.
Dùng Ma nhân hoàn để dưỡng dịch, nhuận táo, thanh nhiệt, thông đại tiện. Không dám tùy tiện dùng phép công hạ của Thừa khí thang vì có mạch sáp.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Mạch của vị phù sáp thì không thể công hạ mạnh, nên dùng phép nhuận của Ma nhân hoàn.
Phu dương là mạch của vị, nằm trên mu bàn chân, nơi động mạch đập ứng dưới tay. Phù là dương nhiệt thịnh, vị mạnh; sáp là âm dịch ít, tiểu tiện nhiều lần.
Tỳ có chức năng vận hành tân dịch cho vị. Vị dương mạnh thì tỳ âm yếu, không thể vận hành tân dịch cho vị, khiến chất cặn bã của thức ăn bị co kết thành từng viên, lớn như một hoặc hai viên đạn. Trường hợp này không nên công hạ mà nên nhuận.
Trình Ứng Mao nói: Ma nhân hoàn nhuận táo, thông đại tiện. Qua đó có thể biết, trong bệnh thương hàn không được tùy tiện dùng Đại thừa khí thang.
Nguyên nhân là chứng này thuộc Thái dương Dương minh, không giống chứng vị gia thực của Chính dương Dương minh. Suy rộng ra, chứng Thiếu dương Dương minh cũng không thể điều trị theo phép dùng cho vị gia thực của Chính dương Dương minh; điều ấy càng rõ.
Uông Hổ nói: Lấy vị mạnh, tỳ yếu để giải thích chứng tỳ ước. Tà nhiệt trong vị thịnh là dương mạnh, nên mạch phù; tân dịch của tỳ ít là âm yếu, nên mạch sáp.
Dùng Ma nhân hoàn là để tả phần dương thịnh trong vị, đồng thời nâng đỡ phần âm của tỳ.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại của Tiểu thừa khí thang, không phải phép quy đổi chính xác đơn vị cổ. Đặc biệt, ba quả Chỉ thực không có khối lượng cố định; 9 g là lượng tham khảo trong tài liệu phương tễ. cacm.jp.kxsz.net
“更衣” trong đoạn này nghĩa là đi đại tiện. Chữ khuyết “□” được hiểu là “硬”, nghĩa là cứng. “Tỳ ước” là tên chứng theo lý luận cổ, chỉ tình trạng tân dịch không phân bố thích hợp, khiến đại tiện khô cứng. Cách sắc và các đơn vị nước được giữ theo nguyên văn để đọc cổ thư, không tự động áp dụng cho liều tham khảo hiện đại.
Trường Xuân biên soạn
MA NHÂN HOÀN 麻仁丸
Ma nhân hai thăng (đơn vị thể tích cổ, không có lượng gam tương đương cố định), Thược dược nửa cân, Chỉ thực nửa cân, Đại hoàng bỏ vỏ một cân, Hậu phác bỏ vỏ một cân, Hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn, sao rồi nghiền riêng thành chất nhuyễn một thăng (đơn vị thể tích cổ, không có lượng gam tương đương cố định).
Sáu vị trên phối hợp với mật ong, làm thành viên lớn bằng hạt ngô đồng. Dùng nước uống mỗi lần mười viên, ngày ba lần; tăng dần, lấy việc đại tiện điều hòa làm mức thích hợp.
TẬP GIẢI
Phương Hữu Chấp nói: Ma nhân và Hạnh nhân có thể nhuận phần khô cứng; Chỉ thực và Hậu phác có thể dẫn thông sự đình trệ, kết đọng. Thược dược thu liễm tân dịch để hỗ trợ tác dụng nhuận; Đại hoàng đẩy bỏ chất cũ để tạo điều kiện sinh mới. Tỳ tuy bị ràng buộc, phương này có thể khai thông sự ràng buộc ấy.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi gây nôn mà bụng trướng đầy, dùng Điều vị thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, sau khi gây nôn, ngực không trướng đầy mà bụng trướng đầy, là biểu tà đã hết, nhiệt bị ứ đọng trong vị.
Nên dùng Điều vị thừa khí thang để công hạ phần nhiệt, điều hòa vị khí. Vì không có tình trạng cứng đau nên không dùng Đại thừa khí thang hoặc Tiểu thừa khí thang.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói sau khi gây nôn mà bụng trướng đầy thì nên điều hòa vị.
Nhiệt ở thượng tiêu thì dùng phép gây nôn. Sau khi gây nôn mà bụng trướng đầy, chứng tỏ tà không còn ở ngực, có thể biết đó là lý thực. Tuy nhiên, chỉ trướng đầy mà không cứng đau thì không thích hợp với phép công hạ gấp; chỉ cần dùng Điều vị thừa khí thang điều hòa nhiệt trong vị.
Nội kinh nói: “Các chứng trướng, bụng to, đều thuộc về nhiệt.”
Trình Ứng Mao nói: Phép gây nôn làm tổn thương tân dịch, táo khí không thể đi xuống, khiến khí của tỳ thổ uất lại, vì thế bụng trướng đầy. Dùng Điều vị thừa khí thang để giải sự uất trệ ấy là đủ.
GHI CHÚ BIÊN TẬP VỀ CÂN LƯỢNG
Đây là lượng nguyên liệu để chế một mẻ thuốc hoàn, không phải lượng uống trong một lần hoặc một ngày. Vì vậy, không nên thu nhỏ toàn bộ theo một phép quy đổi rồi coi đó là liều uống.
Để bác tham khảo lượng hiện đại, Bệnh viện Đài Bắc thuộc Bộ Y tế và Phúc lợi Đài Loan ghi thành phần Ma tử nhân hoàn như sau: Ma nhân (7,5 g), Bạch thược (2,5 g), Chỉ thực (2,5 g), Đại hoàng (5 g), Hậu phác (2,5 g), Hạnh nhân (2,5 g). Đây là thành phần tham khảo của phương hiện đại, không phải lượng tương đương chính xác với các đơn vị cổ trong bản bác gửi. yle=f_large&utm_source=chatgpt.com” >衛生福利部臺北醫院
Bản bác gửi ghi Hậu phác “một cân”, trong khi bản được cơ sở dữ liệu phương tễ của Đại học Baptist Hồng Kông dẫn ghi “một thước”. Bản dịch giữ nguyên lượng của tài liệu bác gửi, đồng thời ghi rõ khác biệt này để tránh quy đổi nhầm. Các chữ “筋” được hiểu là “斤”, tức cân; chữ khuyết “□” trong đoạn sau được hiểu là “硬”, nghĩa là cứng. 记录页面
Trường Xuân biên soạn
ĐIỀU VỊ THỪA KHÍ THANG 调胃承气汤
Đại hoàng bỏ vỏ, ngâm rượu bốn lạng (liều tham khảo hiện đại: 12 g), Cam thảo chích hai lạng (liều tham khảo hiện đại: 6 g), Mang tiêu nửa thăng (liều tham khảo hiện đại: 12 g).
Ba vị trên dùng ba thăng nước, sắc còn một thăng, bỏ bã, cho Mang tiêu vào, đun thêm hai lượt sôi. Uống ấm từng ít một.
PHƯƠNG GIẢI
Phương được gọi là Điều vị thừa khí, mang ý nghĩa điều hòa và làm cho vị khí thuận xuống, không giống Đại thừa khí thang và Tiểu thừa khí thang chuyên về công hạ.
Kinh nói: “Nhiệt quá thịnh ở trong, dùng vị mặn, tính lạnh để trị; hỏa quá thịnh ở trong, dùng vị đắng, tính lạnh để trị.”
Dùng Đại hoàng đắng lạnh làm quân, Mang tiêu mặn lạnh làm thần. Hai vị phối hợp thì sức công nhiệt, tả hỏa được đầy đủ.
Sợ thuốc làm xổ xuống quá nhanh nên thêm Cam thảo để hòa hoãn; lại sợ công hạ quá mức nên cho uống ấm từng ít một. Ý của phương là điều hòa, không công hạ mãnh liệt.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, chưa dùng phép gây nôn hoặc công hạ mà có tâm phiền, có thể dùng Điều vị thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
“Bệnh Dương minh” nghĩa là bệnh đã truyền vào Dương minh. “Không nôn, không hạ mà tâm phiền” nghĩa là chưa trải qua phép gây nôn hoặc công hạ mà có tâm phiền; do đó có thể biết đây là thực phiền do nhiệt thịnh.
Vì vậy, dùng Điều vị thừa khí thang tả nhiệt thì tâm phiền tự hết.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Tâm phiền sau phép gây nôn gọi là nội phiền; tâm phiền sau phép công hạ gọi là hư phiền. Nay bệnh Dương minh, chưa gây nôn, chưa công hạ mà tâm phiền, tức là trong vị có uất nhiệt. Dùng Điều vị thừa khí thang để công hạ phần uất nhiệt ấy.
Dụ Xương nói: Vị khí và tân dịch chưa bị tổn thương bởi phép gây nôn hoặc công hạ, thì tâm phiền rõ ràng là do nhiệt trong vị quá thịnh, nên có thể dùng Điều vị thừa khí thang.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, phát nhiệt, ra nhiều mồ hôi, phải công hạ gấp; nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, không đi đại tiện, phát nhiệt, ra nhiều mồ hôi không ngừng, tuy chưa có biểu hiện lý thực rõ rệt, vẫn phải công hạ gấp.
Vì dương nhiệt nung đốt mạnh ở trong, e rằng âm dịch đột ngột hao thoát ra ngoài, nên bảo toàn tân dịch là việc cấp thiết. Dùng Đại thừa khí thang để công hạ.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Ra nhiều mồ hôi thì tân dịch thấm thoát ra ngoài; lại thêm phát nhiệt, tân dịch hoàn toàn theo thế nhiệt bốc ra ngoài. Không còn phép nào khác để ngăn mồ hôi, chỉ có phép công hạ gấp, dẫn thế nhiệt thoát qua đại tràng, mới mong tân dịch không bị hao thoát hết ra ngoài.
Trình Ứng Mao nói: Những trường hợp công hạ như thế đều nhằm cứu âm, không chủ yếu nhằm trừ phần thực tích. Công hạ để trừ thực có thể thong thả; công hạ để cứu âm thì không thể chậm trễ.
Thẩm Minh Tông nói: Chứng Dương minh lý thực thường có triều nhiệt, ra mồ hôi nhẹ. Nay phát nhiệt, ra nhiều mồ hôi, là lý nhiệt cực thịnh, nung đốt tân dịch trong vị khiến chúng thoát hết ra ngoài. Phải nhanh chóng trừ tà để cứu tân dịch, nên dùng Đại thừa khí thang công hạ gấp.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại theo giáo trình Phương tễ học, không phải phép quy đổi chính xác đơn vị cổ. Riêng Mang tiêu, giáo trình ghi 12 g, trong khi cơ sở dữ liệu của Đại học Baptist Hồng Kông ghi 9 g; bản này dùng mức 12 g theo giáo trình đã dẫn. lfhospital.net
Cách sắc và lượng nước được giữ theo nguyên văn để phục vụ việc đọc cổ thư. Đoạn “công hạ gấp để cứu âm” là lập luận điều trị của các chú gia trong chứng Dương minh cụ thể, không phải chỉ dẫn dùng thuốc xổ cho mọi trường hợp sốt, ra nhiều mồ hôi.
Trường Xuân biên soạn
ĐẠI THỪA KHÍ THANG 大承气汤
Đại hoàng rửa rượu bốn lạng (liều tham khảo hiện đại: 12 g), Hậu phác chích, bỏ vỏ nửa cân (liều tham khảo hiện đại: 24 g), Chỉ thực chích năm quả (liều tham khảo hiện đại: 12 g), Mang tiêu ba hợp (liều tham khảo hiện đại: 9 g).
Bốn vị trên dùng một đấu nước. Trước tiên sắc Hậu phác và Chỉ thực, lấy năm thăng, bỏ bã; cho Đại hoàng vào sắc tiếp, lấy hai thăng, bỏ bã; thêm Mang tiêu, đặt trên lửa nhỏ cho sôi một hoặc hai lượt. Chia làm hai lần uống ấm. Đã đi đại tiện thì không uống phần còn lại.
PHƯƠNG GIẢI
Các chứng tích nhiệt kết ở lý, hình thành mãn, bĩ, táo, thực, đều dùng Đại thừa khí thang công hạ.
Mãn là bụng đầy cứng, căng tức, trướng gấp, nên dùng Hậu phác tiêu sự khí ứ.
Bĩ là vùng dưới tim bế tắc, cứng chắc, nên dùng Chỉ thực phá khí kết.
Táo là phân trong ruột khô kết, nên dùng Mang tiêu nhuận táo, nhuyễn kiên.
Thực là đau bụng, đại tiện không thông, nên dùng Đại hoàng công tích, tả nhiệt.
Tuy nhiên, phải xét mức độ nặng nhẹ của bốn chứng, điều chỉnh lượng của bốn vị cho thích hợp mới có thể dùng. Tà nặng mà thuốc nhẹ thì không chế được tà; tà nhẹ mà thuốc nặng thì chính khí bị tổn thương. Không thể không thận trọng.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Các bệnh đều có liên quan đến khí. Chất cặn bã không được tống ra là do khí không thuận, nên phương công tích phải dùng thuốc tác động đến khí phận; vì vậy đặt tên là Thừa khí.
Phương chia thành Đại và Tiểu có hai ý nghĩa.
Hậu phác gấp đôi Đại hoàng, lấy thuốc hành khí làm quân, gọi là Đại thừa khí. Đại hoàng gấp đôi Hậu phác, lấy thuốc hành khí làm thần, gọi là Tiểu thừa khí.
Số vị nhiều, tính thuốc mạnh, lượng uống lớn, nhằm công hạ mạnh nên gọi là Đại. Số vị ít, tính thuốc hòa hoãn, lượng uống nhỏ, nhằm nhẹ nhàng điều hòa vị khí nên gọi là Tiểu.
Cách sắc còn có ý nghĩa tinh tế. Đại thừa khí dùng một đấu nước sắc Hậu phác, Chỉ thực, lấy năm thăng, bỏ bã; thêm Đại hoàng, sắc còn hai thăng, rồi cho Mang tiêu vào. Vì sao như vậy?
Thuốc ít nấu thì khí sắc bén, tác động trước; thuốc nấu lâu thì khí thuần, tác động hòa hoãn. Trọng Cảnh muốn Mang tiêu trước tiên làm mềm phân khô, Đại hoàng tiếp đó thông đường đại tiện, rồi Chỉ thực, Hậu phác trừ bĩ mãn.
Tiểu thừa khí thì ba vị cùng sắc, không phân thứ tự. Cùng là Đại hoàng nhưng cách sắc khác nhau, qua đó thấy được ý điều hòa nhẹ nhàng của Trọng Cảnh.
Trình Tri nói: Trong Điều vị thừa khí, Đại hoàng được ngâm rượu; trong Đại thừa khí, Đại hoàng được rửa rượu. Đều vì phối hợp với Mang tiêu mặn lạnh nên dùng rượu để chế. Tiểu thừa khí không dùng Mang tiêu thì cũng không cần ngâm hoặc rửa rượu.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, sau khi công hạ, trong lòng áo não, phiền bứt; nếu trong vị có phân khô thì có thể công hạ. Bụng hơi đầy, phần phân đầu cứng, phần sau ắt lỏng, thì không được công hạ. Nếu có phân khô, nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, sau khi công hạ mà trong lòng áo não, phiền bứt: nếu bụng đầy nhiều, không đi đại tiện, tiểu tiện nhiều lần, thì biết phân khô chưa được tống hết lại trở nên cứng; khi ấy mới có thể công hạ.
Nếu bụng chỉ hơi đầy thì không được công hạ. Công hạ nhầm sẽ biến thành trướng đầy, không ăn được, uống nước thì uế, cùng những chứng nghịch khác.
Nếu thực sự có phân khô, thuộc trường hợp nên công hạ, thì dùng Đại thừa khí thang.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Phần từ đầu đến “có thể công hạ” được hiểu trong trường hợp có trung tiện. Áo não là trạng thái khó chịu, bứt rứt như hối tiếc, đau khổ. Thuốc chưa đủ sức thắng bệnh, phân khô muốn đi mà chưa đi được, nên nói có thể công hạ, tức cần uống thêm thuốc để thúc đẩy.
Phần từ “bụng hơi đầy” trở xuống được hiểu trong trường hợp không trung tiện. Phân đầu cứng, sau lỏng, là lý nhiệt nhẹ, nên nói không được công hạ, tức phải ngừng thuốc.
Trình Tri nói: Có phân khô thì có thể công hạ mạnh. Sau công hạ, trong lòng áo não, phiền bứt, vốn có thể là hư phiền, nên dùng Chi tử thị thang. Nhưng nếu trong vị có phân khô thì không phải hư phiền, nên có thể công hạ.
Bụng không đầy nhiều thì không nhất thiết phải công hạ. Nếu có phân khô thì không thuộc trường hợp phân đầu cứng, sau lỏng, nên có thể công hạ.
Ông lại nói: Đại tiện cứng khác với phân khô kết. Đại tiện cứng là phân đầy chắc mà cứng; phân khô kết là thức ăn lưu lại trong vị, do vị nhiệt mà kết thành những viên phân khô. Vì vậy, đại tiện cứng vẫn có trường hợp dùng Tiểu thừa khí; còn phân khô kết thì phải dùng tính mặn lạnh của Mang tiêu.
Trình Ứng Mao nói: Câu cuối nhắc lại ý “có thể công hạ” để xác định trị pháp.
ĐIỀU VĂN
Mắc bệnh hai, ba ngày, mạch nhược, không có chứng Thái dương hoặc chứng Sài hồ, phiền táo, vùng dưới tim cứng. Đến ngày thứ tư, thứ năm, tuy ăn được, vẫn chỉ cho Tiểu thừa khí thang từng ít một để điều hòa nhẹ, khiến người bệnh hơi yên.
Đến ngày thứ sáu, cho một thăng Thừa khí thang. Nếu sáu, bảy ngày không đi đại tiện, tiểu tiện ít, tuy không ăn được, nhưng phần phân đầu cứng, phần sau ắt lỏng, chưa chắc đã hoàn toàn cứng; công hạ thì ắt đi lỏng.
Phải đợi tiểu tiện thông lợi, phân đã chắc chắn cứng, mới có thể công hạ; nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Mắc bệnh hai, ba ngày, không có chứng Thái dương, Thiếu dương, phiền táo, vùng dưới tim cứng; đến ngày thứ tư, thứ năm không đi đại tiện. Nếu mạch đại thì thuộc chứng vị thực của Chính dương Dương minh, công hạ không còn nghi ngờ.
Nay mạch nhược, tuy vị còn hòa, người bệnh ăn được, cũng không thể tùy tiện công hạ. Chỉ có thể dùng Tiểu thừa khí thang từng ít một để điều hòa nhẹ, khiến người bệnh hơi yên. Ngày sau vẫn chưa đi đại tiện thì tiếp tục dùng Tiểu thừa khí thang thúc đẩy.
Nếu đến ngày thứ sáu, thứ bảy vẫn không đi đại tiện mà tiểu tiện ít, dù không ăn được, cũng thuộc trường hợp trong vị chưa khô, phân chưa chắc đã cứng. Nếu công hạ mạnh, phần phân đầu tuy cứng nhưng tiếp đó ắt lỏng.
Phải đợi tiểu tiện thông lợi, biết phân đã cứng, mới có thể công hạ; nên dùng Đại thừa khí thang.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Thái dương không nêu tên thuốc vì có sự khác nhau giữa Quế chi và Ma hoàng; Thiếu dương nêu tên thuốc vì chuyên chủ Sài hồ. Những cách viết như vậy đều bổ sung ý nghĩa cho nhau.
Không có chứng của hai kinh Thái dương, Thiếu dương nên biết bệnh thuộc Dương minh. Vì mạch nhược nên chỉ điều hòa nhẹ. Phần từ “đến ngày thứ sáu” trở xuống lần lượt trình bày mức độ có thể công hạ hoặc không thể công hạ.
Trình Ứng Mao nói: Ăn được là vì phần kết nằm ở ruột, còn vị hỏa vẫn thịnh. Trước tiên cho Tiểu thừa khí thang từng ít một để điều hòa hỏa trong vị, khiến người bệnh hơi yên; sau đó tăng lượng thuốc trước lên một thăng để trừ phần kết trong ruột.
Đã dùng Tiểu thừa khí mà còn giảm lượng, cho tiếp từng lần, là vì mạch nhược biểu thị vị vốn hư, thời gian mắc bệnh lại chưa lâu.
Trương Lộ nói: “Ăn được” và “không ăn được” trong đoạn này hoàn toàn không liên quan đến việc phân biệt phong hàn hoặc vị mạnh, vị yếu. Không thể vì ăn được mà cho rằng vị mạnh rồi tùy tiện công hạ; cũng không thể vì không ăn được mà cho rằng trong vị có phân khô rồi tùy tiện công hạ.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, mạch trì, tuy ra mồ hôi mà không sợ lạnh, thân thể ắt nặng nề, đoản khí, bụng đầy mà suyễn. Có triều nhiệt thì biểu sắp giải, có thể công hạ lý.
Tay chân ra mồ hôi liên tục, ẩm nhuận, là đại tiện đã cứng; Đại thừa khí thang chủ trị.
Nếu ra nhiều mồ hôi, hơi phát nhiệt, sợ lạnh, thì biểu chưa giải. Nhiệt không phát theo triều thì chưa thể dùng Thừa khí thang. Nếu bụng đầy nhiều, đại tiện không thông, có thể dùng Tiểu thừa khí thang điều hòa vị khí nhẹ nhàng, không được làm xổ mạnh.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, mạch trì, tuy ra mồ hôi, không sợ lạnh, biểu chứng sắp giải nhưng mạch chưa thực thì vẫn chưa thể công hạ.
Nếu người bệnh thân thể nặng nề là nhiệt làm khốn thân; đoản khí mà suyễn là nhiệt ứ ở trên; bụng đầy, triều nhiệt là nhiệt tụ ở giữa; tay chân ra mồ hôi liên tục, đại tiện đã cứng là nhiệt kết ở dưới.
Như vậy mới là ngoại tà đã giải, nội thực đã thành, có thể công hạ bằng Đại thừa khí thang.
Nếu ra mồ hôi, hơi phát nhiệt, sợ lạnh thì biểu vẫn chưa giải; nhiệt không phát theo triều thì lý vẫn chưa thực, không thể dùng Thừa khí thang.
Dù có chứng lý cấp, bụng đầy nhiều, đại tiện không thông, cũng chỉ nên dùng Tiểu thừa khí thang điều hòa vị khí nhẹ nhàng, không được làm xổ mạnh, vì có mạch trì.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Triều nhiệt là vì khí Dương minh vượng vào giờ Thân, Dậu, Tuất, nên nhiệt phát vào lúc ấy, đều đặn như thủy triều.
Tay chân ra mồ hôi liên tục là vì tỳ chủ tứ chi, vị tương hợp với tỳ. Trong vị táo thực, nhiệt bốc đến tứ chi, nên nói đại tiện đã cứng.
Lâm Lan nói: Đoạn này phân biệt trường hợp mạch trì, nội kết, có khi nên dùng Đại thừa khí công hạ, có khi chỉ được dùng Tiểu thừa khí điều hòa nhẹ.
Bệnh Dương minh, mạch trì, kiêm ra mồ hôi, không sợ lạnh, thân nặng, đoản khí, bụng đầy mà suyễn, dường như có thể công hạ. Nhưng nhất thiết phải có triều nhiệt mới biết biểu chứng đã giải, lý chứng đã đủ; tay chân ra mồ hôi liên tục mới biết đại tiện đã cứng. Khi ấy dùng Đại thừa khí công hạ còn nghi ngờ gì!
Nếu mồ hôi tuy nhiều nhưng vẫn phát nhiệt, sợ lạnh thì biểu còn. Nhiệt không theo triều, mồ hôi cũng không phải loại liên tục ở tay chân, sao có thể dùng Thừa khí để công hạ?
Dù bụng đầy nhiều, đại tiện không thông, cũng chỉ được dùng Tiểu thừa khí điều hòa nhẹ, không làm xổ mạnh. Vì sao? Mạch trì không phải mạch nhất thiết phải công hạ; tuy có nội kết cũng chưa chắc thích hợp với Đại thừa khí.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, triều nhiệt, đại tiện hơi cứng, có thể dùng Đại thừa khí thang; không cứng thì không được dùng.
Nếu sáu, bảy ngày không đi đại tiện, e có phân khô, muốn biết thì cho một ít Tiểu thừa khí thang. Thuốc vào bụng mà có trung tiện là có phân khô, mới có thể công hạ.
Nếu không trung tiện thì chỉ là phần phân đầu cứng, phần sau ắt lỏng, không được công hạ. Công hạ sẽ gây trướng đầy, không ăn được. Muốn uống nước, cho nước thì uế.
Sau đó nếu phát nhiệt thì đại tiện ắt lại cứng mà lượng ít; dùng Tiểu thừa khí thang điều hòa. Không trung tiện thì phải thận trọng, không được công hạ.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, triều nhiệt, đại tiện hơi cứng thì có thể dùng Đại thừa khí; không cứng thì không được dùng.
Nếu sáu, bảy ngày không đi đại tiện, e có phân khô, muốn biết thì cho một ít Tiểu thừa khí. Thuốc vào bụng mà có trung tiện, thoát hơi hôi, là có phân khô, mới có thể công hạ.
Nếu không trung tiện thì chỉ là phần phân đầu cứng, phần sau ắt lỏng, phân chưa hoàn toàn cứng, không thể công hạ.
Công hạ sẽ khiến hàn khí thừa hư nghịch lên, gây trướng đầy, không ăn được. Muốn uống nước, uống vào thì uế, cũng do khí hư hàn nghịch lên, không thể vận hóa nước và chuyển xuống dưới.
Nếu về sau triều nhiệt vẫn không lui thì ắt phân lại cứng. Nhưng đã trải qua công hạ, lượng phân cứng còn lại không nhiều, chỉ cần Tiểu thừa khí điều hòa.
Vì vậy, uống Thừa khí mà không trung tiện thì phải thận trọng, không được công hạ. Đây là ý Trọng Cảnh răn người không được tùy tiện dùng phép hạ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này lần lượt nói rõ triều nhiệt và trung tiện để xác định dấu hiệu nên công hạ. “Chuyển thất khí” nghĩa là trung tiện.
Trướng đầy là do thuốc lạnh quá mức; uế cũng do lạnh làm tổn thương vị. Phân lại cứng mà ít là vì đã công hạ nhiều lần. Câu cuối nhắc lại lời dặn dò thận trọng.
Dụ Xương nói: Nếu khí trong bụng vẫn không chuyển xuống thì không chỉ dùng Đại thừa khí là sai lớn, mà dùng Tiểu thừa khí cũng sai.
Trình Tri nói: Điều trên nói “biểu sắp giải, có thể công hạ lý”; lại nói “biểu chưa giải, chưa thể dùng Thừa khí”; lại nói “có thể dùng Tiểu thừa khí điều hòa vị khí nhẹ nhàng, không được làm xổ mạnh”.
Điều này nói “có thể dùng”, “không thể dùng”, “mới có thể công hạ”, “không được công hạ”; lại nói “cho ít Tiểu thừa khí”, “dùng Tiểu thừa khí điều hòa”, “thận trọng, không được công hạ”.
Trong đó chứa biết bao ý cân nhắc, thận trọng. Chỉ khi tay chân ra mồ hôi liên tục, đại tiện khô cứng mới chủ trị bằng Đại thừa khí. Tiểu thừa khí vẫn là phép điều hòa vị khí nhẹ nhàng.
Uông Hổ nói: Có trung tiện thì biết đại tiện đã cứng, táo nhiệt trong trường vị nặng, khí không tuyên ra ngoài mà chuyển xuống dưới từng lúc.
Không trung tiện thì tuy trường vị có nhiệt nhưng các đường thấm dịch chưa khô; đó chỉ là phần phân đầu cứng, phần sau ắt lỏng.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, nói sảng, phát triều nhiệt, mạch hoạt mà nhanh, Tiểu thừa khí thang chủ trị.
Cho một thăng Thừa khí thang; trong bụng có trung tiện thì uống thêm một thăng. Nếu không trung tiện thì không cho uống tiếp.
Ngày sau vẫn không đi đại tiện, mạch lại vi sáp, là lý hư, thuộc trường hợp khó trị, không được dùng Thừa khí thang nữa.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, nói sảng, triều nhiệt, mạch hoạt mà nhanh, là chứng và mạch có thể công hạ.
Tuy nhiên, chưa có các chứng ra mồ hôi liên tục, tiểu tiện nhiều lần, đại tiện khô cứng, táo thực thì không được đột ngột công hạ. Nên trước tiên cho một thăng Tiểu thừa khí để thăm dò.
Nếu trong bụng có trung tiện, thoát hơi hôi, thì biết phân khô trong ruột đã cứng. Vì thuốc ít nên chưa thể làm đi đại tiện ngay, phần chuyển xuống mới chỉ là hơi của phân; có thể uống thêm một thăng để thúc đẩy, tự sẽ đi được.
Nếu không trung tiện thì không cho uống tiếp. Đợi ngày sau, nếu vẫn không đi đại tiện, mạch vẫn hoạt nhanh thì cho uống tiếp. Nay mạch lại vi sáp là lý hư, khí không đủ vận chuyển, nên khó trị, không được dùng Thừa khí nữa.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch hoạt dùng để xét phần thức ăn, nên là dấu hiệu đại tiện cứng. Mạch nhanh thuộc lý nhiệt.
Vi là dương khí không đầy đủ, không đủ sức vận hành. Sáp là âm huyết không đầy đủ, không đủ sức nhuận dưỡng và chuyển tống. Vì vậy nói: dương khí suy vi không được công hạ, huyết thiếu không được công hạ. Chính là ý này.
Trương Lộ nói: Điều này có mạch hoạt nhanh, nói sảng, triều nhiệt nhưng không có thực chứng cứng đầy, nên chỉ dùng Tiểu thừa khí để công hạ. Sau công hạ, mạch lại vi sáp, chứng chuyển thành lý hư, nên khó trị.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi gây nôn hoặc công hạ mà chưa giải, không đi đại tiện năm, sáu ngày cho đến hơn mười ngày; lúc xế chiều phát triều nhiệt, không sợ lạnh, nói một mình như thấy ma quỷ.
Nếu nặng thì lúc phát không nhận biết người, lần áo, sờ giường, kinh sợ không yên, hơi suyễn, mắt nhìn thẳng; mạch huyền thì sống, mạch sáp thì chết.
Trường hợp nhẹ, chỉ phát nhiệt, nói sảng, Đại thừa khí thang chủ trị. Nếu uống một lần đã đi đại tiện thì ngừng những lần sau.
LỜI ÁN
Triệu Tự Chân nói: Hoạt nhân thư cho rằng huyền thuộc dương, sáp thuộc âm; bệnh dương thấy mạch dương thì sống. Nhưng trong phép mạch của Trọng Cảnh, huyền và sáp đều thuộc âm, không thuộc dương, chẳng đáng nghi sao?
Xét điều văn này, chữ “huyền” trong câu “mạch huyền thì sống” nên là chữ “hoạt”. Nếu là huyền, huyền là mạch âm ở thế bất lợi, sao có thể nhất định sống? Chỉ mạch hoạt thuộc dương mới có cơ sống.
Hoạt là thông, sáp là tắc. Lẽ của sự vật đều lấy thông làm sống, tắc làm chết. Xét điều trên: mạch hoạt nhanh thì Tiểu thừa khí chủ trị; mạch vi sáp là lý hư, khó trị, càng thấy rõ sự sai chép ấy.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, sau phép gây nôn hoặc công hạ, tân dịch đã hao tổn mà biểu chưa giải, tà vì thế vào lý. Không đi đại tiện năm, sáu ngày cho đến hơn mười ngày; lúc xế chiều phát triều nhiệt, không sợ lạnh, là biểu tà đã hết, lý nhiệt ngày càng sâu.
Vẫn nên dùng Đại thừa khí thang quét sạch tà còn lại, bảo tồn âm dịch, tự có thể khỏi.
Nếu chần chừ, bỏ lỡ phép hạ, đến mức nói một mình như thấy ma quỷ, bệnh nặng thì không nhận biết người, lần áo, sờ giường, kinh sợ không yên, hơi suyễn, mắt nhìn thẳng. Đó đều là biểu hiện dương quá thịnh, âm suy vi, cô dương không nơi nương tựa, thần minh rối loạn.
Lúc ấy, xét mạch: hoạt là thực, còn chịu được công hạ thì sống; sáp là hư, khó công hạ thì chết.
Nếu bệnh nhẹ, chỉ có triều nhiệt, nói sảng, không đi đại tiện mà không có các chứng thần chí hôn mê nặng kể trên, nên dùng Đại thừa khí công hạ. Uống một lần đã đi đại tiện thì ngừng phần còn lại, vì sợ công hạ quá mức.
LỜI ÁN
Lần áo, sờ giường là dấu hiệu nguy hiểm.
Một mặt, âm khí chưa kiệt thì còn có thể trị, như bệnh Thái dương trúng phong, dùng lửa cưỡng bức ra mồ hôi gây chứng nghịch, có lần áo, sờ giường: tiểu tiện thông lợi thì sống, không thông lợi thì chết.
Một mặt khác, dương nhiệt cực thịnh thì có thể công hạ, như Dương minh lý nhiệt thành thực, lần áo, sờ giường: mạch hoạt thì sống, mạch sáp thì chết.
Nhìn chung, chứng này phần nhiều xuất hiện sau phát hãn, gây nôn hoặc công hạ, do dương khí đại hư, tinh thần mất sự giữ gìn.
Kinh nói: “Tứ chi là gốc của các dương.” Dương hư nên tứ chi rối loạn, mất chỗ nương tựa. Dùng Độc sâm thang cứu trị; ra nhiều mồ hôi thì dùng Sâm kỳ thang; tay chân quyết lạnh thì dùng Sâm phụ thang. Trường hợp khỏi không ít, không thể đều cho là dương cực, âm kiệt.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Điều này nêu trường hợp nói sảng có bệnh thế nặng. Trong bệnh thế nặng lại chia hai mức: nặng hơn thì tiên lượng chết, nhẹ hơn thì tiên lượng sống, nên dùng Đại thừa khí công hạ.
Trình Tri nói: Lâu Toàn Thiện trị chứng lần áo, sờ giường thường dùng phép bổ ích mà khỏi, cũng vì mạch chứng biểu thị bất túc.
Lưu Thủ Chân thường dùng Thừa khí trị bệnh nhiệt. Phép tuy theo Trọng Cảnh nhưng biện chứng chưa tường tận như vậy, nên đã mở đầu cho sự dùng thuốc sơ suất của người đời sau.
Ông lại nói: Suyễn là khí muốn thoát lên trên; hơi suyễn là tà thực ở trong nhưng người bệnh không thể suyễn mạnh.
Không nhận biết người, lần áo, sờ giường là tâm muốn tuyệt; kinh động không yên là can muốn tuyệt; hơi suyễn là phế muốn tuyệt; mắt nhìn thẳng là thận muốn tuyệt.
Đó là điều Nội kinh nói: ba âm, ba dương, năm tạng, sáu phủ đều mắc bệnh, dinh vệ không vận hành, tạng phủ không thông; vì vậy mạch sáp thì chết.
Uông Hổ nói: Phát triều nhiệt vào lúc xế chiều là vì phủ thực, táo quá thịnh, nên khi kinh khí vượng thì phát triều nhiệt.
Nói một mình tức là nói sảng. Người bệnh tự nói gọi là sảng; nói một mình như thấy ma quỷ là do Dương minh phủ thực khiến thấy nghe sai loạn. “Nặng” là mức độ rất nghiêm trọng.
Lời chú của Thành Vô Kỷ nói: nhiệt quá thịnh che lấp chính khí, nên không nhận biết người.
Lần áo, sờ giường là dương nhiệt thiên thắng khiến tay hoạt động bồn chồn. Kinh sợ không yên là vị nhiệt xung lên cách, khiến tâm thần bất an. Vị nhiệt quá thịnh, khí nghịch lên thì suyễn; mắt nhìn thẳng là tà đã phạm đến tạng.
Vì vậy, cơ sống chết phải xét qua mạch.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh vốn tự ra mồ hôi, thầy thuốc lại phát hãn mạnh. Bệnh đã đỡ nhưng vẫn hơi phiền, chưa hoàn toàn dễ chịu, là vì đại tiện ắt đã cứng.
Do tân dịch hao tổn, trong vị khô táo nên đại tiện cứng. Phải hỏi mỗi ngày tiểu tiện mấy lần. Nếu trước đây ngày tiểu ba, bốn lần, hôm nay chỉ hai lần thì biết không lâu sẽ đi đại tiện.
Nay số lần tiểu tiện giảm là vì tân dịch sẽ trở lại trong vị, nên biết không lâu ắt đi đại tiện.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh vốn có tự ra mồ hôi, thầy thuốc nhầm là phong tà, lại phát hãn mạnh. Bệnh đã đỡ nhưng vẫn hơi phiền, chưa hoàn toàn dễ chịu, là vì đại tiện đã cứng.
Tuy nhiên, không có khổ sở do đầy hoặc đau; chỉ vì phát hãn mạnh làm hao tân dịch, trong vị khô táo, đại tiện cứng, vốn không có thức ăn tích lại.
Phải hỏi số lần tiểu tiện mỗi ngày. Nếu vốn ngày ba, bốn lần, hôm nay chỉ hai lần thì biết không lâu sẽ đi đại tiện.
Vì số lần tiểu tiện giảm, tân dịch sẽ trở lại trong vị, nên đại tiện không lâu sẽ tự ra, không cần dùng thuốc.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Thủy cốc vào vị, phần tinh hóa thành tân dịch, phần thô hóa thành cặn bã.
Tinh hoa của thủy dịch thấm ra ngoài trường vị; phần thanh thành tân dịch, phần trọc đi ra ngoài thành mồ hôi, đi xuống thành nước tiểu.
Vì vậy, mồ hôi và tiểu tiện quá nhiều đều có thể làm hao tân dịch, khiến cặn bã tạo thành đại tiện trở nên khô cứng, khó ra.
Hai đường đại tiểu tiện là đường phân hành của thủy cốc. Đường này thông thì đường kia có thể bế; đường này bế thì đường kia có thể thông. Tiểu tiện ra ít, tân dịch trở lại lưu trong vị, đại tiện được nhuận thì tự ra.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, tự ra mồ hôi hoặc đã phát hãn, tiểu tiện vẫn thông lợi, là tân dịch bên trong đã hao kiệt. Tuy đại tiện cứng cũng không được công hạ.
Phải đợi người bệnh tự có ý muốn đi đại tiện, nên dùng mật ong nấu làm thuốc dẫn để thông. Thổ qua căn hoặc dịch mật lợn lớn đều có thể dùng làm thuốc dẫn.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp ý điều trên, nói rõ thêm ý nghĩa và trị pháp.
Bệnh Dương minh, tự ra mồ hôi hoặc đã phát hãn, tiểu tiện vẫn thông lợi, là tân dịch bên trong hao kiệt. Tuy đại tiện cứng nhưng không có khổ sở do đầy đau thì không được công hạ.
Phải đợi tân dịch trở lại trong vị, người bệnh tự muốn đi đại tiện. Khi phân khô đã đến trực tràng nhưng khó ra khỏi hậu môn, dùng mật ong nấu để nhuận khiếu, tư dưỡng phần khô, dẫn cho đại tiện thông.
Hoặc dùng Thổ qua căn tuyên khí, thông táo; hoặc dùng dịch mật lợn thanh nhiệt, nhuận táo. Đều có thể dùng làm phép dẫn, tùy trường hợp mà chọn.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Tân dịch bên trong hao kiệt, trường vị khô táo, đại tiện vì thế cứng. Đây không phải nhiệt kết nên không được công hạ; thích hợp dùng thuốc nhuận chữa ngoài để dẫn thông.
Trương Lộ nói: Những trường hợp ra nhiều mồ hôi làm tổn thương tân dịch, đã nhiều lần phát hãn, công hạ mà chưa giải, hoặc mạch bộ xích trì nhược, nguyên khí vốn hư, tuy đáng công hạ nhưng không thể công hạ, đều nên dùng phép dẫn.
Trình Ứng Mao nói: Tiểu tiện vẫn thông lợi là tân dịch chưa trở lại trong vị. Tân dịch bên trong hao kiệt khiến phân cứng; người bệnh tự muốn đi đại tiện nhưng khổ vì không ra được.
Phải có tình trạng ấy mới dùng phép dẫn từ ngoài để thấm nhuận ruột. Ruột được nhuận thì thủy dịch theo chỗ ẩm mà đến, tân dịch tự trở lại trong vị. Vì vậy không chỉ đại tiện thông, mà sự phân bố thủy dịch vốn đi theo đường tiểu cũng chuyển lại vào trong.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam của Đại thừa khí thang là liều tham khảo hiện đại trong tài liệu phương tễ của Nhà xuất bản Nhân dân Vệ sinh, không phải phép quy đổi chính xác các đơn vị cổ. Lượng thuốc, nước và số lần uống trong điều văn được giữ để đọc cổ thư, không tự động ghép thành hướng dẫn sử dụng hiện đại. rwzyzs.pmphai.com
Chữ “筋” trong lượng Hậu phác được hiểu là “斤”, tức cân. Các chữ khuyết được phục hồi theo ngữ cảnh: “硬” là cứng, “谵” là sảng, “懊憹” là áo não, phiền bứt. “Chuyển thất khí” nghĩa là trung tiện; “uế” được dịch theo cách giải của bộ chú này là nôn khan có tiếng.
Điều văn giữ “mạch huyền thì sống”; việc đổi “huyền” thành “hoạt” là ý kiến hiệu đính của chú gia, được trình bày riêng. Những lời tiên lượng sống chết và lý giải về đường phân bố tân dịch là quan niệm trong cổ thư, không nên dùng riêng một dấu hiệu để kết luận trong thực hành hiện nay.
Các phép dẫn bằng mật ong, Thổ qua căn hoặc dịch mật lợn là phương pháp lịch sử, không phải hướng dẫn tự thực hiện. Nói sảng, không nhận biết người, khó thở hoặc bụng trướng đau kèm không trung tiện cần được khám cấp cứu.
Trường Xuân biên soạn
MẬT TIỄN ĐẠO PHƯƠNG 蜜煎导方
Mật ong bảy hợp (đơn vị thể tích cổ, chưa có lượng gam tương đương cố định).
Chỉ dùng một vị, cho vào đồ đựng bằng đồng, đun trên lửa nhỏ đến khi hơi cô đặc, giống mạch nha. Khuấy đều, không để cháy. Khi mật đủ đặc để nặn thành viên, dùng hai tay vê thành một thỏi, đầu thuôn nhọn, lớn bằng ngón tay, dài khoảng hai thốn (đơn vị chiều dài cổ, không có số đo cố định theo xentimét).
Phải nhanh chóng tạo hình khi còn nóng, vì nguội thì mật sẽ cứng. Đưa thỏi mật vào hậu môn, dùng tay giữ chặt; khi muốn đi đại tiện thì bỏ tay giữ ra.
Nội đài phương dùng mật ong năm hợp; khi nấu cô đặc thì thêm bột Tạo giác năm tiền (chưa xác định được lượng gam tương ứng theo hệ cân của bản này), vê thành thỏi. Dùng dịch mật lợn hoặc dầu bôi trơn hậu môn rồi đưa vào.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đây là phép dẫn đại tiện qua hậu môn trong cổ thư. Những đơn vị “hợp”, “tiền”, “thốn” thuộc các hệ đo khác nhau, nên không áp dụng quy ước thu nhỏ của đơn vị “lạng” để chuyển đổi.
Cách chế và sử dụng được dịch để phục vụ nghiên cứu lịch sử, không phải hướng dẫn tự thực hiện; đặc biệt không đưa mật còn nóng, bột Tạo giác hoặc dịch mật lợn vào hậu môn vì có thể gây bỏng, kích ứng hoặc tổn thương niêm mạc.
Trường Xuân biên soạn
TRƯ ĐỞM TRẤP PHƯƠNG 猪胆汁方
Một túi mật lợn lớn (tính theo số lượng, không có lượng gam tương đương cố định).
Lấy dịch mật, hòa với một ít giấm, bơm vào hậu môn. Sau khoảng thời gian một bữa ăn, sẽ đi đại tiện, tống thức ăn lưu tích và chất cặn bã ra ngoài; theo nguyên văn, phép này rất hiệu nghiệm.
Nội đài phương không dùng giấm. Dùng một ống tre nhỏ cắm vào miệng túi mật; đầu còn lại bôi dầu cho trơn rồi đưa vào hậu môn. Dùng tay bóp túi mật để dịch mật theo ống đi vào trong. Theo sách ấy, cách này sử dụng rất thuận tiện.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đây là phương pháp dẫn đại tiện trong cổ thư. Các nhận xét “rất hiệu nghiệm”, “rất thuận tiện” được giữ theo lời sách, không phải đánh giá hiệu quả và an toàn hiện đại. Không tự thực hiện vì dịch mật động vật, giấm và dụng cụ đưa vào hậu môn có thể gây kích ứng, nhiễm khuẩn hoặc tổn thương.
Trường Xuân biên soạn
THỔ QUA CĂN PHƯƠNG 土瓜根方
Khuyết phương.
LỜI ÁN
Thổ qua tức loại cây dân gian gọi là Xích bạc. Trửu hậu phương trị đại tiện không thông bằng cách lấy rễ, giã lấy nước, dùng ống thổi vào hậu môn. Ý nghĩa tương đồng với phương dùng dịch mật lợn ở trên.
Nội đài phương dùng rễ Thổ qua vót thành thỏi rồi đưa vào hậu môn là sai. Thỏi mật ong đưa vào hậu môn có thể tan ra, làm nhuận đại tiện; rễ Thổ qua không thể tan. Nếu vót thành thỏi để dùng, e rằng không đúng ý lập phương của Trọng Cảnh.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn sáu, bảy ngày, nhìn không rõ, nhãn cầu không hòa, không có chứng biểu lý rõ rệt, đại tiện khó, thân hơi nóng; đây là thực chứng, phải công hạ gấp, nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thiếu âm, mới mắc hai, ba ngày, miệng khô, họng ráo, phải công hạ gấp, nên dùng Đại thừa khí thang. Đó là vì thế nhiệt tiến triển rất nhanh, nung đốt thận thủy, tân dịch không thể lên đến họng. Vì vậy, không nhất thiết phải đợi đủ các chứng có thể công hạ mới dùng phép hạ gấp.
Công hạ ở đây là hạ nhiệt để cứu phần thủy sắp kiệt. Nếu chậm trễ, thận thủy khô kiệt, dương không còn chỗ nương tựa, người bệnh phiền táo, hôn mê, như tự bị lửa thiêu mà chết.
Nhìn không rõ nhưng nhãn cầu vẫn hòa là âm chứng; nhãn cầu không hòa là dương chứng.
Nay thương hàn sáu, bảy ngày, nhìn không rõ, nhãn cầu không hòa, là thận thủy bị vị dương làm hao kiệt. Thủy không chế được hỏa, hỏa bốc lên mắt, khiến nhìn mờ, không rõ. Đây là dấu hiệu nhiệt kết đang tiến đến thần chí hôn mê, thuộc tình trạng nguy hiểm.
Tuy bên ngoài không có dương chứng rõ, chỉ thân hơi nóng; bên trong không đầy đau, chỉ đại tiện khó, vẫn là nhiệt thực, nên nói “đây là thực chứng”.
Phải dùng Đại thừa khí thang công hạ gấp, tả dương nhiệt, cứu âm dịch, bảo toàn phần thủy chưa kiệt.
“Nhãn cầu không hòa” nghĩa là nhãn cầu không chuyển động linh hoạt.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Liễu liễu” có nghĩa là rõ ràng.
Tố vấn nói: “Dương minh chủ cơ nhục, mạch của nó đi hai bên mũi, liên lạc với mắt.”
Linh khu nói: “Mạch túc Dương minh đi lên theo họng, ra miệng, trở lại liên hệ với hệ mắt, hợp với Dương minh.”
Lại nói: “Nhánh của kinh cân túc Dương minh đi lên cổ, lên hai bên miệng, hợp ở vùng gò má, phía dưới kết ở mũi, phía trên hợp với Thái dương. Thái dương là cương ở trên của mắt, Dương minh là cương ở dưới của mắt.”
Vì vậy, nhìn không rõ, nhãn cầu không hòa thì biết vị thực.
Cần công hạ gấp vì mạch Nhâm đi theo mặt vào mắt, mạch Đốc đi lên liên hệ giữa hai mắt; các mạch đều liên thuộc với mắt, tinh thần của con người tập trung ở đó, nên phải công hạ gấp.
Dụ Xương nói: Thiếu âm có ba phép công hạ gấp để cứu thận thủy: một là thủy của bản kinh hao kiệt; một là mộc tà làm thủy dâng động; một là thổ tà lấn át thủy.
Dương minh cũng có ba phép công hạ gấp để cứu tân dịch: một là mồ hôi nhiều, tân dịch thoát ra ngoài; một là bụng đầy, tân dịch kết ở trong; một là mắt không sáng rõ, tân dịch khô kiệt ở giữa.
Đối chiếu phép hạ của hai kinh để nhận biết bệnh tình và cơ sống, thì như thân ở trong bình băng trong suốt, bụng được uống nước Thượng trì, mọi điều trở nên sáng tỏ.
Trương Tích Câu nói: Dương hỏa quá thịnh, âm thủy sắp khô, nên nhìn không rõ, nhãn cầu không hòa. Công hạ gấp là để chế bớt dương hỏa quá thịnh, cứu âm thủy sắp kiệt.
Ngụy Lệ Đồng nói: Phân khô của Dương minh nên công hạ, vị thực nên công hạ, đều đã phải xét kỹ mạch chứng.
Lại có trường hợp biểu lý không có chứng khác, chỉ nhận ra đầu mối ở nơi mạch kinh Vị Dương minh biểu hiện.
Như thương hàn sáu, bảy ngày, Thái dương đã hết, Dương minh đã thành; mắt tối mờ, như bị mây sương che, không nhìn rõ. Chứng ấy gọi là nhãn cầu không hòa.
Dương minh nhiệt thịnh, theo kinh lạc mà biểu hiện mờ tối, khiến mắt mất sự sáng rõ. Đây là nội nhiệt thịnh thuộc thực, bệnh cơ đã có dấu hiệu. Lại kiêm đại tiện cứng khó ra, thân hơi nóng thì vị thực đã rõ, nên nói: “Đây là thực chứng, phải công hạ gấp, nên dùng Đại thừa khí thang.”
ĐIỀU VĂN
Người bệnh tiểu tiện không lợi, đại tiện lúc khó lúc dễ, đôi khi hơi phát nhiệt, suyễn, đầu óc hôn mông, không thể nằm; đó là có phân khô, nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Người mắc bệnh Dương minh, tiểu tiện thông lợi thì đại tiện thường cứng; tiểu tiện không lợi thì đại tiện thường không cứng. Qua đó biết phân cứng hay không cứng không chỉ ở có nhiệt hay không, mà ở tân dịch đã hao kiệt hay chưa.
Nay tiểu tiện không lợi, đại tiện lúc khó lúc dễ, là nhiệt sắp kết mà tân dịch chưa kiệt.
Đôi khi hơi phát nhiệt là nhiệt vào lý; suyễn là nhiệt lấn phế; hôn mông là nhiệt lấn tâm; không thể nằm là nhiệt dồn vào phần dương.
Đó đều là dấu hiệu nhiệt kết, đại tiện cứng, đang tiến đến thần chí hôn mê, nói sảng, phát cuồng. Tuy không đầy đau, vẫn ắt có phân khô. Dùng Đại thừa khí thang công hạ thì tự khỏi.
TẬP CHÚ
Vương Tam Dương nói: Chứng này không nên tùy tiện dùng phép công hạ. Phải dùng tay ấn vùng rốn, bụng, thấy có khối cứng, đồng thời suyễn, hôn mông, không thể nằm, mới có thể công hạ. Vì sao? Vì đại tiện còn lúc khó lúc dễ.
Lâm Lan nói: Đã có hơi phát nhiệt từng lúc, suyễn, hôn mông, không thể nằm thì có thể xác định có phân khô. Tự nên lấy công hạ lý thực làm việc cấp thiết. Sao còn câu nệ phép thông thường rằng phải đợi tiểu tiện lợi, phân chắc chắn cứng mới công hạ?
Uông Hổ nói: Điều này nói người bệnh chưa trải qua công hạ mà có phân khô, là chứng thầy thuốc không dễ nhận biết.
Thành Vô Kỷ nói: Tiểu tiện lợi thì đại tiện cứng, có phân khô là lẽ thường. Nay tiểu tiện không lợi, đại tiện lúc khó lúc dễ, làm sao biết có phân khô?
Vì chứng đại thực, đại mãn thì cả đại tiện lẫn tiểu tiện đều không thông. Đại tiện bị phân khô làm bế tắc; phần chưa kết cứng đôi khi vẫn ra cùng, nên có lúc dễ. Phần rất cứng vẫn nằm trong đại tràng, nên có lúc khó.
Phân khô tích kết ở dưới, trọc khí xung lên trên, nên đôi khi hơi phát nhiệt. Hơi phát nhiệt là vì nhiệt ẩn ở trong, không được phát tiết.
Hậu điều biện nói: Trọc khí lấn tâm phế, nên vừa hôn mông vừa suyễn. Không thể nằm là vì phân khô trong vị gây nhiễu, tức “vị không hòa thì nằm không yên”.
Tất cả đều là dấu hiệu có phân khô, nên nói dùng Đại thừa khí thang.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh năm, sáu ngày không đi đại tiện, đau quanh rốn, phiền táo phát từng lúc; đó là có phân khô, khiến đại tiện không ra.
CHÚ GIẢI
Người bệnh năm, sáu ngày không đi đại tiện, đau quanh rốn, là phân khô kết trong trường vị, không có đường ra, nên đau quanh rốn.
Phiền táo phát từng lúc là khi uế nhiệt của phân khô công lên thì phiền táo, không công lên thì không phiền táo, nên có lúc phát, lúc không.
Không cần dùng Tiểu thừa khí thang thăm dò, trực tiếp dùng Đại thừa khí thang công hạ phân khô; đại tiện thông thì tự có thể khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Người bệnh” chỉ bất cứ người mắc bệnh nào. Nếu chứng trạng như vậy thì đều nên trị như vậy. Đây là ý chính giúp người học phân biệt các chứng vị thực.
Trình Ứng Mao nói: Phép công hạ phải đợi xác định có phân khô mới không thành công hạ nhầm. Vì vậy, cách nhận biết phân khô phải đầy đủ, không được chỉ dựa vào một dấu hiệu trung tiện.
Tuy người bệnh năm, sáu ngày không đi đại tiện, vẫn chưa biết phân đã khô hay chưa. Nhưng có đau quanh rốn thì biết trường vị khô, phân không có đường ra, đình trệ tại một chỗ mà gây đau.
Phiền táo phát từng lúc là khi khí của phân công động thì phiền táo; có lúc nằm yên, không động thì không phiền táo. Lại có đau quanh rốn, có thể xác định nguyên nhân không đi đại tiện không sai. Sao lại không thể dùng Đại thừa khí thang công hạ?
ĐIỀU VĂN
Sau khi công hạ mạnh, sáu, bảy ngày không đi đại tiện, phiền không giải, bụng đầy đau; đó là có phân khô. Nguyên nhân là vốn có thức ăn lưu tích, nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên để nói rõ trị pháp. Công hạ chưa hết thì vẫn phải công hạ.
Sau khi công hạ mạnh, sáu, bảy ngày không đi đại tiện, phiền vẫn không giải, bụng vẫn đầy đau, là phân khô chưa được tống hết.
Nguyên nhân là vốn có thức ăn lưu tích. Nên dùng Đại thừa khí thang công hạ tiếp thì tự khỏi.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Sau khi công hạ mạnh, đáng lẽ bệnh đã giải. Nay lại sáu, bảy ngày không đi đại tiện, phiền không giải, bụng đầy đau, ắt là phân khô chưa hết.
Thức ăn lưu tích gặp nhiệt lại kết cứng, nên có tình trạng ấy.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, sau khi công hạ, bên ngoài còn nhiệt, tay chân ấm, không kết hung, trong lòng áo não, đói mà không ăn được, chỉ đầu ra mồ hôi; Chi tử thị thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Bệnh ở kinh Dương minh, sau công hạ, thân nhiệt chưa hết, tay chân ấm, không kết hung, là tà hãm vào còn nông.
Trong lòng áo não, đói mà không ăn được, chỉ đầu ra mồ hôi, là dương tà nung đốt, uất ở khoảng ngực và cách. Nên dùng Chi tử thị thang để làm nhiệt thoát lên.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Bên ngoài còn nhiệt là tà ở kinh chưa giải; tay chân ấm là nhiệt vào chưa sâu.
Trình Ứng Mao nói: Áo não làm nhiễu vị, nên đói mà không ăn được. Nhiệt uất, khí bốc, nên chỉ đầu ra mồ hôi.
Ngụy Lệ Đồng nói: Biểu tà chưa hoàn toàn vào lý mà đã cho là vị thực, vội công hạ, thì bên ngoài vẫn còn nhiệt, rốt cuộc không thể theo thuốc hạ mà được quét sạch.
Tuy có nhiệt nhưng không phát theo triều; tay chân tuy ấm nhưng không ra mồ hôi liên tục, thì tà còn ở biểu. Công hạ chỉ làm tổn thương lý.
Tuy không đến mức tà hoàn toàn ở Thái dương, công hạ nhầm thành kết hung, nhưng vùng dưới tim áo não, đói mà không ăn được, chỉ đầu ra mồ hôi, là nhiệt bốc của Dương minh bị thuốc âm hàn làm uất, ngưng bế trên ngực và cách. Chứng trạng đã rõ.
Bệnh vẫn còn kiêm biểu nên không thể công hạ nữa; tà đã vào lý nên cũng không thể phát hãn lại. Chỉ dùng Chi tử thị thang, vẫn theo phép trị Thái dương.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, nôn nhiều, tuy có chứng Dương minh cũng không được công hạ.
CHÚ GIẢI
Bệnh thương hàn ở ba kinh dương thường có chứng nôn. Vì phong hàn ở biểu chưa trừ, dương khí trong ngực bị hàn làm uất, nên đều không thể công hạ.
Nôn khan mà sợ lạnh, phát nhiệt thuộc Thái dương. Hay nôn, nóng lạnh qua lại thuộc Thiếu dương.
Nay tuy có chứng Dương minh, không sợ lạnh, đại tiện cứng, nhưng nôn nhiều vẫn không thể công hạ, vì khí nghịch còn ở trên, tà chưa thu kết thành thực.
TẬP CHÚ
Thẩm Minh Tông nói: Nôn kèm sợ lạnh, phát nhiệt thuộc Thái dương; nôn kèm nóng lạnh qua lại thuộc Thiếu dương; nôn mà chỉ sợ nóng, không sợ lạnh thuộc Dương minh.
Nhưng nôn nhiều thì khí đã nghịch lên, tà khí thiên về phạm vùng thượng quản, hoặc còn kiêm Thiếu dương. Vì vậy, tuy có chứng Dương minh cũng phải thận trọng, không được công hạ.
ĐIỀU VĂN
Dương minh trúng phong, miệng đắng, họng khô, bụng đầy, hơi suyễn, phát nhiệt, sợ lạnh, mạch phù mà khẩn. Nếu công hạ thì bụng đầy, tiểu tiện khó.
CHÚ GIẢI
“Dương minh” chỉ lý chứng Dương minh; “trúng phong” chỉ biểu chứng Thái dương.
Miệng đắng, họng khô là nhiệt chứng Thiếu dương. Bụng đầy là nhiệt chứng Dương minh. Hơi suyễn, phát nhiệt, sợ lạnh là chứng Thái dương thương hàn. Mạch phù mà khẩn là mạch thương hàn.
Đây là phong hàn cùng gây thương tổn, biểu lý cùng bệnh, phải xét biểu lý để điều trị.
Nếu bệnh Thái dương, Dương minh chiếm phần nhiều thì dùng Quế chi gia Đại hoàng thang giải cả hai. Nếu bệnh Thiếu dương, Dương minh chiếm phần nhiều thì dùng Đại sài hồ thang vừa hòa giải vừa công hạ.
Nếu chỉ trị lý, vội dựa vào một chứng bụng đầy mà cho là nhiệt vào Dương minh rồi công hạ, thì biểu tà thừa hư hãm vào thêm, nên bụng càng đầy. Lý nhiệt càng làm hao tân dịch, nên tiểu tiện khó.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói Dương minh còn kiêm biểu tà Thái dương, Thiếu dương thì không thể công hạ.
Dương minh trúng phong là nhiệt tà; bụng đầy mà suyễn là nhiệt đã vào lý. Nhưng chỉ hơi suyễn thì chưa hoàn toàn vào lý.
Phát nhiệt, sợ lạnh, mạch phù khẩn đều là chứng Thái dương chưa hết. Miệng đắng, họng khô là còn phần bán biểu bán lý của Thiếu dương.
Nếu công hạ nhầm thì biểu tà thừa hư hãm vào, bụng càng đầy. Lại thêm tân dịch hao tổn nhiều, nên tiểu tiện khó.
Trình Ứng Mao nói: Điều này tương đồng với chứng Đại thanh long của Thái dương.
Ở Thái dương, phong hàn giữ dinh vệ, nên có phiền táo mà không có bụng đầy. Ở đây, phong hàn giữ Dương minh, nên có bụng đầy mà không có phiền táo.
Tuy nhiên, miệng đắng, họng khô thực ra có cùng đầu mối bệnh cơ với phiền táo.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, mạch phù mà khẩn, họng khô, miệng đắng, bụng đầy mà suyễn, phát nhiệt, ra mồ hôi, không sợ lạnh mà trái lại sợ nóng, thân nặng.
Nếu phát hãn thì táo, trong lòng rối loạn, lại nói sảng. Nếu dùng ôn châm, ắt kinh sợ, phiền táo, không ngủ được.
Nếu công hạ thì trong vị trống rỗng, khách khí làm động vùng cách, trong lòng áo não, trên lưỡi có rêu; Chi tử thị thang chủ trị.
Nếu khát, muốn uống nước, miệng khô, lưỡi ráo, Bạch hổ gia Nhân sâm thang chủ trị.
Nếu mạch phù, phát nhiệt, khát muốn uống nước, tiểu tiện không lợi, Trư linh thang chủ trị.
Bệnh Dương minh, ra nhiều mồ hôi mà khát, không được dùng Trư linh thang, vì mồ hôi nhiều khiến trong vị khô táo, Trư linh thang lại làm lợi tiểu.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, bổ sung ý nghĩa và nói rõ trị pháp.
Điều trước biểu chứng chiếm phần nhiều, răn không được công hạ nhầm. Điều này biểu lý lẫn lộn, mạch chứng xen tạp, không chỉ không được công hạ nhầm mà cũng không được phát hãn nhầm.
Nếu vì mạch phù khẩn mà phát hãn nhầm thì làm hao dịch, tổn âm. Hoặc dùng châm nung nóng thì càng trợ dương tà, nên nói sảng, phiền táo, kinh sợ, tâm thần rối loạn, không ngủ.
Hoặc vì bụng đầy, sợ nóng mà công hạ nhầm thì trong vị trống rỗng, khách khí là tà nhiệt làm nhiễu ngực và cách, trong lòng áo não, lưỡi sinh rêu. Đó đều là lỗi công hạ nhầm, nên dùng Chi tử thị thang làm tà nhiệt thoát lên thì có thể yên.
Nếu mạch phù nhưng không khẩn, không áo não, chỉ phát nhiệt, khát muốn uống nước, miệng khô, lưỡi ráo, là biểu tà Thái dương đã suy, táo nhiệt Dương minh đang mạnh. Nên dùng Bạch hổ gia Nhân sâm thang tư dưỡng dịch, sinh tân.
Nếu phát nhiệt, khát muốn uống nước, tiểu tiện không lợi, là thủy ẩm và nhiệt của Dương minh cùng thịnh. Nên dùng Trư linh thang lợi thủy, tư dưỡng phần khô.
Nhưng bệnh Dương minh thường có nhiều mồ hôi. Nếu vì mồ hôi quá nhiều mà tiểu tiện ít, khát, thì không được dùng Trư linh thang.
Vì mồ hôi nhiều khiến vị khô, không có đủ thủy dịch đi xuống. Đây là tiểu tiện ít do thủy dịch hao kiệt, không phải tiểu tiện không lợi do thủy dịch tích lại. E rằng Trư linh thang làm lợi tiểu thêm, càng hao tân dịch, trợ táo.
LỜI ÁN
Bệnh Thái dương, phiền nhiệt, không ra mồ hôi mà khát: tiểu tiện lợi là chứng Đại thanh long thang; tiểu tiện không lợi là chứng Tiểu thanh long thang bỏ Bán hạ, thêm Thiên hoa phấn và Phục linh.
Bệnh Thái dương, phiền nhiệt, có mồ hôi mà khát: tiểu tiện lợi là chứng Quế chi thang hợp Bạch hổ thang; tiểu tiện không lợi là chứng Ngũ linh tán.
Bệnh Dương minh, phiền nhiệt, không ra mồ hôi mà khát: tiểu tiện lợi thì nên dùng Cát căn thang thêm Thạch cao; tiểu tiện không lợi thì dùng Ngũ linh tán thêm Thạch cao, Hàn thủy thạch, Hoạt thạch.
Bệnh Dương minh, phiền nhiệt, có mồ hôi mà khát: tiểu tiện lợi thì nên dùng Bạch hổ thang; tiểu tiện không lợi thì dùng Trư linh thang.
Bệnh Thiếu dương, nóng lạnh, không ra mồ hôi mà khát: tiểu tiện lợi thì dùng Tiểu sài hồ thang bỏ Bán hạ, thêm Thiên hoa phấn; tiểu tiện không lợi thì dùng Tiểu sài hồ thang thêm Phục linh.
Thái âm không có khát.
Thiếu âm do dương tà, phiền, nôn, tiểu tiện đỏ mà khát, dùng Trư linh thang. Thiếu âm do âm tà, hạ lợi, tiểu tiện trong trắng mà khát, dùng Chân vũ thang.
Quyết âm do dương tà, có tiêu khát, dùng Bạch hổ gia Nhân sâm thang. Quyết âm do âm tà, chuyển thuộc Dương minh, khát muốn uống nước, cho uống từng ít một thì khỏi.
Chứng đã khác thì trị pháp cũng khác, phải xét kỹ, phân biệt rõ.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Phần từ đầu đến “phát nhiệt” giống điều trước. Nhưng ra mồ hôi, không sợ lạnh, trái lại sợ nóng, thân nặng, bốn chứng ấy đều là biểu hiện Dương minh, nên phát hãn, công hạ và châm nung nóng đều không thể dùng.
Lưỡi có rêu là nhiệt ở cách thịnh, nên dùng Chi tử thị thang làm tà nhiệt thoát lên, nhẹ nhàng trừ nhiệt ở cách. Như vậy trị Thái dương mà không trở ngại Dương minh.
Nếu các chứng trước thêm miệng khô, lưỡi ráo thì nên dùng Bạch hổ thang giải nhiệt, sinh tân; thêm tiểu tiện không lợi thì nên dùng Trư linh thang dẫn nhiệt, tư dưỡng phần khô.
Ra nhiều mồ hôi mà khát không được dùng Trư linh thang là vì nhiệt tà truyền vào Dương minh đã hao tân dịch trước; lại thêm mồ hôi nhiều làm hao ở ngoài, nếu lợi tiểu nữa thì tiếp tục hao ở dưới, có nguy cơ tân dịch nhanh chóng cạn kiệt. Vì vậy mới đưa ra lời răn.
Trình Ứng Mao nói: Nhiệt ở thượng tiêu nên dùng Chi tử thị thang; nhiệt ở trung tiêu nên dùng Bạch hổ gia Nhân sâm thang; nhiệt ở hạ tiêu nên dùng Trư linh thang.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đoạn này không nêu cân lượng thuốc mới nên không có lượng gam cần bổ sung. Những chữ khuyết được phục hồi theo ngữ cảnh: “硬” là cứng, “谵语” là nói sảng, “懊憹” là áo não. “五芩散” được hiểu là “五苓散”, tức Ngũ linh tán.
Câu chú giải của đoạn “nôn nhiều” có dấu hiệu sai chép ở phần nói về sợ lạnh; bản dịch theo mạch ý và lời tập chú phía sau: chứng Dương minh không sợ lạnh, trái lại sợ nóng. Các ý kiến khác nhau về điều kiện công hạ được giữ riêng theo từng chú gia.
Phép đưa nước rễ Thổ qua vào hậu môn và quan niệm dùng Chi tử thị thang để gây nôn là nội dung lịch sử, không phải hướng dẫn tự thực hiện. Các dấu hiệu mắt mất linh hoạt, thần chí hôn mông, suyễn hoặc bụng đau kèm bí đại tiện cần được đánh giá y tế khẩn cấp.
Trường Xuân biên soạn
TRƯ LINH THANG 猪苓汤
Trư linh bỏ vỏ, Phục linh, A giao, Trạch tả, Hoạt thạch đập vụn, mỗi vị một lạng (liều tham khảo hiện đại: mỗi vị 9 g).
Năm vị trên dùng bốn thăng nước. Trước tiên sắc bốn vị, lấy hai thăng, bỏ bã; cho A giao vào hòa tan. Uống ấm mỗi lần bảy hợp, ngày ba lần.
TẬP GIẢI
Triệu Vũ Hoàng nói: Trọng Cảnh lập Trư linh thang để thông hành thủy nhiệt của hai kinh Dương minh và Thiếu âm. Tuy nhiên, ý chính hoàn toàn ở ích âm, không chuyên về lợi thủy.
Thương hàn biểu hư rất kỵ vong dương; lý hư lại lo vong âm. Vong âm là hao mất âm của thận và tân dịch của vị. Vì vậy, người âm hư không chỉ không được tùy tiện công đại tiện, mà cũng phải tránh làm thông lợi tiểu tiện quá mức. Nếu âm hư mà thấm lợi quá nhiều thì tân dịch trái lại sẽ hao kiệt.
A giao có chất keo nhuận, dưỡng âm, tư dưỡng phần khô. Hoạt thạch có tính trơn, trừ nhiệt, lợi thủy. Phối hợp với tác dụng thấm lợi của Trư linh, Phục linh, vừa khai thông trọc nhiệt, không để ứ đọng, vừa nhuận chân âm, không để khô kiệt. Đây là phương tốt để lợi thủy mà không tổn thương âm.
Phép lợi thủy ở Thái dương dùng Ngũ linh tán, vì Thái dương chủ hàn thủy nên thêm Quế để ôn, tức làm ấm thận để hành thủy.
Ở Dương minh và Thiếu âm dùng Trư linh thang, vì hai kinh đều liên quan đến tân dịch, nên đặc biệt dùng A giao, Hoạt thạch để nhuận. Đó là tư dưỡng phần vô hình để vận hành phần hữu hình.
Cùng là lợi thủy nhưng hàn, ôn khác hẳn nhau; người hiểu rõ mới phân biệt được.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù mà đại, vùng dưới tim trái lại cứng, có nhiệt; thuộc tạng thì công hạ, không cho phát hãn; thuộc phủ thì không làm tiểu tiện nhiều lần.
Tiểu tiện nhiều thì đại tiện cứng; mồ hôi nhiều thì nhiệt giải; mồ hôi ít thì đại tiện khó. Mạch trì thì vẫn chưa thể công hạ.
CHÚ GIẢI
“Thuộc tạng” ở đây nghĩa là thuộc lý; “thuộc phủ” nghĩa là thuộc biểu. “Sưu” nghĩa là tiểu tiện.
Mạch phù đại là mạch của Thái dương và Dương minh. Phù thuộc biểu, đại thuộc lý. Nay biểu của Thái dương với mạch phù chưa giải, mà vùng dưới tim trái lại cứng, lý của Dương minh lại cấp, thì phải cân nhắc giữa phát hãn và công hạ.
Nếu lý có nhiệt thực, công hạ không còn nghi ngờ, không nhất thiết phải phát hãn giải ngoại trước.
Nếu không có nhiệt thực mà còn biểu chứng với mạch phù thì không chỉ không được công hạ, ngay cả tiểu tiện không lợi cũng không được dùng phép lợi tiểu, vẫn phải giải ngoại.
Vì e rằng tiểu tiện nhiều, mồ hôi nhiều sẽ làm hao tân dịch, khiến đại tiện cứng, nhiệt càng thành thực.
Nếu mồ hôi ít, mạch trì, dù đại tiện cứng, lý vẫn chưa thực, cũng chưa thể công hạ.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói: Luận nói mạch phù đại, lại phát hãn hoặc lại công hạ là nghịch. Điều này vì vùng dưới tim cứng, có nhiệt, biết tà đã truyền vào lý, nên bỏ việc chỉ dựa vào mạch mà theo chứng.
Vì sao cho phép công đại tiện mà không cho lợi tiểu tiện? Vì công đại tiện thì nội nhiệt được trừ; lợi tiểu tiện thì tân dịch bị tổn thương.
Lâm Lan nói: Vùng dưới tim cứng khác với bụng cứng đầy. Bụng cứng là tà đã kết tụ thành thực. Ở đây chỉ cứng tại vùng dưới tim, tự khác với trường hợp nhất thiết phải công hạ.
Phủ và tạng được nêu đối nhau, để biểu thị một bên đã vào lý, một bên vẫn thuộc biểu.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, mạch trì, khó ăn đến no; ăn no thì hơi phiền, đầu choáng, ắt tiểu tiện khó. Đây là sắp thành cốc đản.
Dù công hạ, bụng đầy vẫn như cũ. Nguyên nhân là vì mạch trì.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, không đi đại tiện, đã ăn vẫn như đói, ăn vào thì bụng đầy, mạch sác, là vị nhiệt, thuộc chứng có thể công hạ.
Nay mạch trì, trì là trung hàn. Trung hàn không thể tiêu hóa thức ăn, nên tuy đói muốn ăn nhưng khó ăn đến no; ăn no thì phiền muộn, bức bối, vì chức năng kiện vận mất điều hòa.
Phần thanh bị ngăn, không thăng lên nên đầu choáng; phần trọc bị ngăn, không giáng xuống nên tiểu tiện khó.
Thức ăn uất, thấp ứ, là dấu hiệu sắp thành cốc đản, không giống bụng đầy, phát vàng do thấp nhiệt Dương minh.
Dù công hạ khiến bụng đầy tạm giảm, chốc lát lại như cũ, vì mạch trì biểu thị trung hàn.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Trì là hàn, không tiêu hóa được thức ăn nên khó ăn đến no. Thấp uất rồi bốc lên, khí nghịch không đi xuống nên hơi phiền, đầu choáng, tiểu tiện khó.
Đản là bệnh vàng da. Cốc đản là thấp của thủy cốc bốc lên khiến thân phát vàng.
Trương Lộ nói: Công hạ mà bụng đầy vẫn như cũ, vì bụng đầy vốn đã là tà hãm vào, nhưng mạch trì thì vị chưa thực. Chỉ công hạ chất cặn bã, bệnh không trừ mà còn gây hại.
Chứng Dương minh vốn có trường hợp nên công hạ; Dương minh đến mức đau bụng thì càng có trường hợp phải công hạ gấp. Riêng chứng này, công hạ mà bụng đầy vẫn như cũ, vì mạch trì biểu thị vị khí trống hư, tân dịch không đầy đủ.
Sự đầy ấy chỉ là hư nhiệt ứ ở trong, không giống nhiệt kết cần công hạ.
Qua đó biết mạch trì, vị hư, không chỉ công hạ vô ích mà phát hãn, lợi tiểu cũng không thể dùng. Chỉ nên dùng phép hòa, như Cam thảo can khương thang, trước tiên ôn trung, sau đó cho một ít Điều vị thừa khí để nhẹ nhàng điều hòa vị khí.
Trình Ứng Mao nói: Bụng đầy do nhiệt tích thành vàng thì công hạ có thể trừ. Ở đây, khí của thủy cốc không được tuyên thông, do vị khí hư hàn. Công hạ càng làm hư thêm, nên bụng đầy vẫn như cũ.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, nếu trúng hàn thì không ăn được, tiểu tiện không lợi, tay chân ra mồ hôi liên tục. Đây là sắp thành cố hà; đại tiện ắt phần đầu cứng, phần sau lỏng.
Nguyên nhân là trong vị lạnh, thủy cốc không phân biệt được.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh có nội nhiệt thì không đi đại tiện, ăn được, tiểu tiện lợi, tay chân ra mồ hôi liên tục; đó là chứng có thể công hạ.
Nay trung hàn, không ăn được, tiểu tiện không lợi, tuy tay chân ra mồ hôi liên tục cũng không được công hạ. Đây là trung hàn sắp thành cố hà.
Làm sao biết? Vì đại tiện ắt phần đầu cứng, phần sau lỏng. Nguyên nhân là trong vị hư lạnh, thủy cốc không phân chia, nên tiểu tiện không lợi mà đại tiện ắt lỏng.
LỜI ÁN
Không ăn được và “khó ăn đến no” ở điều trên đều là không thể làm chín, tiêu hóa thủy cốc.
Tiểu tiện không lợi và “tiểu tiện khó” ở điều trên đều là không thể chuyển thủy dịch xuống bàng quang.
Chỉ có tay chân ra mồ hôi liên tục khác với ăn no thì hơi phiền, đầu choáng ở điều trước. Một bên sắp thành cốc đản, một bên sắp thành cố hà, đều do trong vị hàn lạnh.
Một bên hơi phiền, đầu choáng, dương ở trung và thượng tiêu, nên không thành tiết tả mà thành vàng da. Một bên tay chân ra mồ hôi, dương ở tứ chi, nên không thành vàng da mà thành tiết tả.
Điều trước trung hàn, khó ăn đến no, không ra mồ hôi, tiểu tiện khó, sắp thành cốc đản, vì vẫn có thể ăn ít, hơi phiền, còn dương khí.
Điều này trung hàn, không ăn được, tay chân ra mồ hôi lạnh, tiểu tiện không lợi, sắp thành cố hà, là hàn thấp không hóa, thuộc thuần âm.
Cố hà tức đại hà tiết, dân gian gọi là đi lỏng. “Cố” nghĩa là kéo dài không dứt.
LỜI ÁN
Mồ hôi của con người được ví như mưa của trời đất. Âm dương hòa rồi mới có mưa. Dương quá thịnh thì nóng, mưa ít; âm thịnh thì lạnh, mưa nhiều. Mồ hôi của người cũng như vậy.
Tứ chi, tay chân thuộc thổ; thổ chủ tỳ vị. Nếu mạch đại, mồ hôi bốc nóng thì là dương thịnh, thuộc chứng có thể công hạ. Nếu mạch trì, mồ hôi thấm lạnh thì là âm thịnh, thuộc chứng có thể ôn.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Thủy cốc không phân biệt thường được quy về thấp nhiệt thấm lệch. Ở đây chỉ rõ “trong vị lạnh”, để người học biết bệnh gốc ở hàn, nên theo hàn mà trị, không chỉ chú trọng tiểu tiện.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, mạch bộ thốn hoãn, bộ quan phù, bộ xích nhược; người bệnh phát nhiệt, ra mồ hôi, lại sợ lạnh, không nôn, chỉ vùng dưới tim bĩ. Đó là do thầy thuốc đã công hạ.
Nếu chưa công hạ, người bệnh không sợ lạnh mà khát, thì bệnh đã chuyển thuộc Dương minh.
Tiểu tiện nhiều lần thì đại tiện ắt cứng; mười ngày không đi đại tiện mà không có gì khổ sở. Khát muốn uống nước thì cho từng ít một, chỉ dùng phép thích hợp để cứu trị. Người khát nên dùng Ngũ linh tán.
LỜI ÁN
Năm chữ “chỉ dùng phép để cứu” nên là “nếu tiểu tiện không lợi”, mới phù hợp với ý “tiểu tiện nhiều lần” ở trên và “người khát” ở dưới.
Bệnh thế điều này không cấp, nên lời nói về cứu trị rất không thích hợp, ắt có thiếu sót hoặc sai chép.
Vương Tam Dương cũng nói: Ở đây khó dùng Ngũ linh tán; nếu không thì dưới chữ “người khát” phải có văn bị khuyết.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương, mạch phù hoãn mà nhược là mạch trúng phong; phát nhiệt, ra mồ hôi, sợ lạnh là chứng trúng phong.
Không nôn thì lý khí hòa. Vì sao lại có vùng dưới tim bĩ? Ắt do thầy thuốc đã công hạ.
Nếu chưa trải qua công hạ, tà nhiệt tự truyền vào lý, người bệnh không sợ lạnh mà khát, thì tà đã rời Thái dương, chuyển thuộc Dương minh.
Nếu tiểu tiện nhiều lần, đại tiện ắt cứng. Nhưng dù hơn mười ngày không đi đại tiện mà không có đầy đau, vẫn là cứng do hư táo, chưa thành thực, không thể bàn đến công hạ, có thể chờ.
Nếu khát muốn uống nước, ắt trong vị khô táo; cho uống từng ít một để tư dưỡng vị là đủ.
Nếu tiểu tiện không lợi mà khát thì lại là thủy dịch ngừng lại, không hóa. Nên dùng Ngũ linh tán dẫn thông phần thủy đang tích. Vì bệnh ở bàng quang nên vẫn trị Thái dương, không trị Dương minh.
TẬP CHÚ
Trương Kiêm Thiện nói: Vì sao mười ngày không đi đại tiện mà không dùng phép công phạt? Vì đây không phải nhiệt kết. Tuy không đi đại tiện nhưng không có triều nhiệt, nói sảng và các chứng có thể công hạ.
Phải thận trọng, không được chỉ vì số ngày kéo dài mà vội công hạ.
Dụ Xương nói: Thốn hoãn, quan phù, xích nhược, phát nhiệt, ra mồ hôi, sợ lạnh, hoàn toàn là chứng Thái dương trúng phong chưa hết. Nếu không công hạ nhầm, sao có vùng dưới tim bĩ kết?
Nếu không công hạ nhầm, chứng Thái dương dần truyền kinh, đến mức không sợ lạnh mà khát thì tà vào Dương minh đã rõ.
Nhưng tân dịch Dương minh thấm lệch vào tiểu tiện, đại tràng mất nhuận dưỡng, nên đại tiện cứng. Điều ấy khác với nhiệt kết trong ruột, vì vậy mười ngày không đi đại tiện mà không có gì khổ sở.
Uông Hổ nói: Tiểu tiện nhiều lần, đại tiện cứng, vì sao trong luận Trọng Cảnh không nêu trị pháp? Vì đây chính là chỗ không cần dùng thuốc. Đợi âm dương tự hòa, tiểu tiện dần ít lại, đại tiện ắt tự ra.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, vùng dưới tim cứng đầy, không được công hạ. Công hạ khiến hạ lợi không ngừng thì chết; hạ lợi ngừng thì khỏi.
CHÚ GIẢI
Điều này nói thêm về sự biến đổi do công hạ nhầm trong trường hợp bĩ cứng, mười ngày không đi đại tiện mà không có gì khổ sở ở trên.
Bệnh Dương minh không phải vị gia thực mà vùng dưới tim cứng đầy thì không được công hạ.
Nếu công hạ khiến người bệnh hạ lợi không ngừng thì chính khí thoát mà chết. Nếu hạ lợi tự ngừng, tà lui, vẫn có thể khỏi.
TẬP CHÚ
Uông Hổ nói: Có người hỏi, kết hung cũng là vùng dưới tim cứng đầy, vì sao lại có thể công hạ?
Vì kết hung có vùng dưới tim cứng đầy mà đau, thuộc thực nên có thể công hạ. Chứng này không đau, phải là hư cứng, hư đầy, gần giống vùng dưới tim bĩ cứng của chứng Bán hạ tả tâm thang, nên nói không được công hạ.
ĐIỀU VĂN
Các chứng hư không được công hạ. Công hạ thì đại khát; người muốn uống nước dễ khỏi, người ghét nước thì bệnh nặng.
CHÚ GIẢI
Người hư lại bị công hạ là làm hư thêm. Âm dịch hao mất, tự nhiên đại khát.
Người muốn uống nước còn dương khí nên dễ khỏi. Nếu ghét nước thì dương khí đã tuyệt, khó khỏi.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Các chứng hư ắt có phần dương tân, âm dịch bị hao mất, nên công hạ sẽ đại khát.
Muốn uống nước là vong âm; ghét nước là vong dương, nên có sự phân biệt dễ khỏi và bệnh nặng.
Qua đó biết Trọng Cảnh lo công hạ nhầm làm âm hàn tăng thêm, còn hơn lo công hạ nhầm làm hao âm dịch.
ĐIỀU VĂN
Sau công hạ mạnh lại phát hãn, tiểu tiện không lợi là do hao mất tân dịch. Không dùng phép trị tiểu tiện; khi tiểu tiện thông lợi thì ắt tự khỏi.
CHÚ GIẢI
Sau công hạ mạnh lại phát hãn, tân dịch hao tổn nhiều lần. Tiểu tiện ắt ít vì thủy dịch bên trong đã kiệt.
“Không trị” nghĩa là không dùng phép lợi tiểu. Phải đợi tân dịch hồi phục, tiểu tiện thông lợi thì ắt tự khỏi.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói sau công hạ lại phát hãn, có phép đợi tân dịch tự hồi phục.
Nếu cưỡng ép phải có tiểu tiện, trong lúc khí hóa bàng quang không vận hành, thì rõ ràng có thể làm tăng cứng đầy, suyễn, trướng. Vì vậy nên lấy không can thiệp thêm làm phép trị.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, ra huyết, nói sảng, là nhiệt nhập huyết thất. Nếu chỉ đầu ra mồ hôi thì châm Kỳ môn, tùy thực mà dùng phép tả. Mồ hôi ra liên tục thì khỏi.
CHÚ GIẢI
Phụ nữ mắc thương hàn, đúng lúc kinh nguyệt đến thì có chứng nhiệt nhập huyết thất, nên châm Kỳ môn.
Nam giới mắc thương hàn, có ra huyết, nói sảng, cũng là nhiệt nhập huyết thất.
Nếu nhiệt theo huyết đi ra thì toàn thân ắt ra mồ hôi mà giải. Nếu huyết đã ngừng nhưng nhiệt chưa đi, tích ở Dương minh, không thể thoát ra ngoài, lại bốc lên, chỉ đầu ra mồ hôi mà chưa giải, cũng nên châm Kỳ môn, tùy thực mà tả; toàn thân ắt ra mồ hôi liên tục mà khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Huyết thất, mồ hôi đầu và Kỳ môn đều đã được chú giải trong thiên Thái dương.
Nhánh đi thẳng của mạch Dương minh từ Khuyết bồn xuống bờ trong vú, đi hai bên rốn, vào khí nhai.
Mạch của huyết thất khởi từ khí nhai, đi lên đến ngực rồi phân tán.
Vì vậy, phụ nữ đang hành kinh, nhiệt nhập huyết thất thì giống kết hung mà nói sảng, theo phần lý của Dương minh. Nam giới ra huyết, nhiệt nhập huyết thất, chỉ đầu ra mồ hôi mà cũng nói sảng, theo phần ngoài của Dương minh. Cả hai đều nên châm Kỳ môn.
Trình Ứng Mao nói: Ra huyết khiến kinh mạch trống hư, nhiệt thừa hư vào huyết thất.
Nói sảng là vì huyết thất tuy thuộc mạch Xung nhưng tâm thực sự là chủ của huyết thất. Huyết thất bị nhiệt quấy nhiễu nên tâm thần không thanh.
Chỉ đầu ra mồ hôi là vì huyết hao ở dưới thì thân không ra mồ hôi; nhiệt nhiễu ở trên thì mồ hôi bị nung bốc.
Châm Kỳ môn vì nhiệt vào âm phận, thực ở âm. Tùy thực mà tả thì dinh khí hòa, tâm khí thông xuống, nên mồ hôi ra liên tục mà giải.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, miệng khô, chỉ muốn súc nước mà không muốn nuốt, ắt sẽ chảy máu mũi.
CHÚ GIẢI
Dương minh thuộc vị, khai khiếu ở miệng. Dương minh có nhiệt nên miệng khô.
Chỉ muốn súc nước mà không muốn nuốt là tuy khô nhưng không khát. Qua đó biết nhiệt ở kinh, không ở phủ; ở huyết, không ở khí.
Nhiệt ở kinh huyết, bức huyết đi sai đường, ắt gây chảy máu mũi.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Miệng khô khác với khát. Súc nước mà không muốn nuốt thì biết không khát.
Bệnh Dương minh, miệng khô, chỉ súc nước mà không muốn nuốt, thì biết tà vào huyết phận. Mạch Dương minh khởi ở mũi, nên biết huyết gặp nhiệt đi sai đường, ắt ra qua mũi.
Thẩm Minh Tông nói: Bệnh Dương minh, miệng khô, súc nước mà không muốn nuốt, là tà uất ở kinh, chưa vào phủ.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù, phát nhiệt, miệng khô, mũi ráo, còn ăn được thì sẽ chảy máu mũi.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nói rõ mạch chứng để bổ sung ý nghĩa.
Bệnh Dương minh, mạch phù, phát nhiệt, miệng mũi khô, là nhiệt ở kinh. Nếu người bệnh ăn được thì vị hòa; vị hòa, tà nên trở ra biểu để giải.
Tà trở ra biểu, nếu không giải qua vệ thì giải qua dinh. Ra mồ hôi mà giải là giải qua vệ; chảy máu mũi mà giải là giải qua dinh.
Nay ăn được, lại chảy máu mũi, thì biết bệnh muốn giải qua dinh.
TẬP CHÚ
Trương Tích Câu nói: Điều này bàn về táo nhiệt ở kinh mạch Dương minh.
Nhiệt ở kinh mạch nên mạch phù, phát nhiệt. Nhiệt theo kinh Dương minh đi lên nên miệng khô, mũi ráo. Không tổn thương vị khí nên ăn được.
“Ăn được thì chảy máu mũi” là nói bệnh không ở vị phủ, không phải vì ăn được mà gây chảy máu mũi.
ĐIỀU VĂN
Chứng Dương minh, người bệnh hay quên, ắt có súc huyết. Nguyên nhân là vốn có huyết ứ lâu ngày nên hay quên.
Phân tuy cứng nhưng đại tiện trái lại dễ, màu ắt đen; nên dùng Để đương thang công hạ.
CHÚ GIẢI
Kinh nói: “Huyết dồn ở dưới, rối loạn mà hay quên.” Hay quên là thường quên lời nói trước và chuyện đã qua.
Nay bệnh Dương minh, người bệnh hay quên, là vốn có huyết ứ lâu ngày, cùng nhiệt dồn lên tâm, nên hay quên.
Phân của chứng súc huyết tuy cứng nhưng đại tiện trái lại dễ, màu ắt đen. Vì huyết cùng chất cặn bã đi ra nên dễ đi, màu đen.
Không dùng Đào nhân thừa khí thang mà dùng Để đương thang công hạ mạnh là vì người bệnh vốn có huyết ứ lâu ngày.
TẬP CHÚ
Trương Chí Thông nói: Súc huyết Thái dương ở bàng quang nên xét tiểu tiện lợi hay không lợi. Súc huyết Dương minh ở trường vị nên xét đại tiện đen hay không đen.
Trương Lộ nói: Đại tiện đen tuy được nói là huyết ứ, nhưng táo kết cũng có thể đen. Huyết ứ thì dính như sơn; táo kết thì tối như than. Đó là điểm cần phân biệt rõ.
Trịnh Trọng Quang nói: Chứng Thái dương nhiệt kết bàng quang, nhẹ thì như cuồng, nặng thì phát cuồng.
Như cuồng mà huyết tự ra thì dùng Đào nhân thừa khí thang, thuận theo thế mà dẫn thông. Phát cuồng mà huyết không ra thì phải dùng Để đương thang.
Điều này chỉ hay quên, nhẹ hơn cuồng, sao lại dùng phương mạnh trị phát cuồng?
Vì kinh Thái dương ít huyết, kinh Dương minh nhiều huyết, nên thích hợp dùng Để đương thang công mạnh.
Thái dương nói “chủ trị” là phép xác định không đổi. Ở đây nói “nên dùng” thì chứng còn có nặng nhẹ, phải tùy lúc cân nhắc.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh không có chứng biểu lý rõ rệt, phát nhiệt bảy, tám ngày, tuy mạch phù sác cũng có thể công hạ.
Giả sử đã công hạ, mạch sác vẫn không giải, nhiệt kết hợp khiến tiêu hóa nhanh, mau đói; đến sáu, bảy ngày không đi đại tiện, là có huyết ứ, nên dùng Để đương thang.
Nếu mạch sác không giải mà hạ lợi không ngừng thì ắt kèm nhiệt, đi đại tiện ra mủ máu.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp ý súc huyết, hay quên ở trên, nói về nhiệt kết mà không có chứng biểu lý rõ rệt thì nên công hạ.
Người bệnh không có chứng biểu lý nghĩa là không có biểu chứng Thái dương và lý chứng Dương minh rõ rệt. Chỉ phát nhiệt, không sợ lạnh, bảy, tám ngày, tuy mạch phù sác cũng không thể phát hãn.
Nếu phân cứng thì có thể công hạ. Giả sử đã công hạ, mạch không còn phù nhưng sác chưa giải, là biểu nhiệt đã đi, lý nhiệt chưa đi.
Đến sáu, bảy ngày lại không đi đại tiện, nếu không tiêu hóa nhanh, mau đói thì là vị thực nhiệt, dùng Đại thừa khí thang công hạ.
Nay tiêu hóa nhanh, mau đói, là vị hòa mà kết hợp với nhiệt, không phải vị tà kết hợp với nhiệt. Vì vậy phân tuy cứng nhưng màu ắt đen, là huyết ứ kết với nhiệt khiến không đi đại tiện; nên dùng Để đương thang.
Nếu mạch sác không giải, không phải đại tiện cứng mà hạ lợi không ngừng, thì ắt có huyết ứ lâu ngày, kèm nhiệt mà hư hoại, đi ra mủ máu. Khi ấy không nên dùng Để đương thang công hạ.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Bệnh tuy đã bảy, tám ngày, vẫn phát nhiệt, mạch phù sác thì còn thuộc biểu chứng Thái dương.
Do công hạ nhầm dẫn tà vào trong nên mạch sác không giải; tà trong ngoài kết hợp khiến tiêu hóa nhanh, mau đói.
Thức ăn vào nhiều mà sáu, bảy ngày không đi đại tiện, lại không phiền khát, thì biết chứng không phải nhiệt kết ở vị mà là nhiệt kết ở huyết.
Vì biểu chứng bị công hạ nhầm, còn kiêm nhiệt Thái dương theo kinh chưa hết, nên dùng Để đương là thích đáng.
Nếu mạch sác không giải mà hạ lợi không ngừng thì phải tùy có ra huyết hay không mà trị khác nhau. Nếu nhiệt tà trong huyết phận chưa trừ thì ắt kèm nhiệt, đi ra mủ máu.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, đã phát hãn, thân và mắt phát vàng. Nguyên nhân là hàn thấp ở trong chưa giải. Không thể công hạ, phải tìm trị pháp trong hàn thấp.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, đã phát hãn, thân và mắt phát vàng, là vì biểu có hàn, lý có thấp chưa giải.
Biểu hàn, lý thấp uất mà phát vàng, tự khác với thấp nhiệt ứ bên trong, uất mà thành vàng. Vì vậy không thể công hạ.
Chỉ nên tìm trị pháp trong biểu hàn, lý thấp: phát tán hàn ở biểu, thông lợi thấp ở lý.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Thương hàn đã phát hãn, nhiệt tà đã giải, vì sao lại nung bốc khiến thân và mắt vàng?
Vì hàn thấp kết tụ ở phần trong của thân thể nên phát vàng. “Lý” là tên gọi chung của phần bên trong, không phải nói hàn thấp đã vào sâu trong tạng phủ. Thân và mắt ở phần thân thể bên ngoài, không liên quan trực tiếp đến tạng phủ.
“Tìm trong hàn thấp” là tìm trị pháp thích hợp với hàn thấp.
Trình Ứng Mao nói: Người bệnh vốn có thấp tà ở trong. Biểu hàn tuy đã qua phát hãn nhưng bị lý thấp giữ lại, rốt cuộc vẫn ở trong, không có đường giải tán.
Hàn sau phát hãn cùng thấp uất bốc thành nhiệt, nhưng không phải thực nhiệt nên không thể công hạ. Vẫn phải xét hàn thấp ở nông hay sâu để trị.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, nhiệt ứ ở trong, thân ắt phát vàng; Ma hoàng liên diêu xích tiểu đậu thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, biểu tà chưa giải, lại gặp người vốn có thấp tà ở Dương minh. Nhiệt vào trong kết hợp với thấp, thấp nhiệt nung bốc, ứ lại, lan ra cơ biểu, thân ắt phát vàng.
Nếu đầu ra mồ hôi, tiểu tiện không lợi, đại tiện cứng thì có thể dùng phép thanh, công hạ hoặc lợi tiểu, tự có thể khỏi.
Nay không ra mồ hôi mà tiểu tiện lợi, là nhiệt ứ ở lý chưa sâu, sự uất bế ở biểu còn nặng. Vì vậy dùng Ma hoàng liên diêu xích tiểu đậu thang, phát tán biểu bên ngoài, trừ thấp bên trong.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Tà thương hàn gặp thấp thì không vận hành, nên nhiệt ứ trong thân mà phát vàng. Nếu câu nệ chữ “lý”, sao lại có lý lẽ tà ở lý mà trị biểu?
Trình Ứng Mao nói: Thương hàn có nhiệt ứ ở trong đều do thấp nung bốc mà thành, nên thân ắt phát vàng.
Nhiệt ứ này chưa sâu, chỉ cần từ biểu khai thông sự uất trệ, giải tán thấp nhiệt; Ma hoàng liên diêu xích tiểu đậu thang là phương chủ trị.
Lâm Lan nói: Chứng Ma hoàng liên diêu tuy nói ở lý nhưng ắt do khi tà còn ở biểu đã không được giải tán. Nay tuy phát vàng, vẫn nên kiêm phép phát hãn để trị.
Uông Hổ nói: Hàn tà từ ngoài đến, nếu kèm nội thấp ứ trong kinh lạc thì uất mà hóa nhiệt, khiến thân và mắt phát vàng.
Điều này là từ kinh Thái dương truyền đến. Thái dương thương hàn vốn nên dùng Ma hoàng thang. Chỉ vì tà truyền Dương minh, nhiệt ứ ở lý, mà “lý” không phải vị phủ; kinh Dương minh nằm phía trong Thái dương, tức phần trong của thân thể mà Thượng luận thiên nói đến.
Vì phần ấy có nhiệt nên phương lấy Ma hoàng thang bỏ tính cay nóng của Quế chi; thêm Xích tiểu đậu, Sinh khương, Đại táo có vị ngọt cay để giải tán hàn thấp ở biểu; lại thêm Liên diêu, vỏ trắng cây Tử tươi có vị đắng lạnh để thanh giải nhiệt ứ trong cơ nhục.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Lượng 9 g mỗi vị trong Trư linh thang là liều tham khảo hiện đại được ghi trong tài liệu phương tễ, không phải phép quy đổi chính xác một lạng cổ. Cách sắc và lượng nước vẫn được giữ theo nguyên văn để phục vụ việc đọc cổ thư. tcm.szmdata.com
Các chữ khuyết được phục hồi theo ngữ cảnh: “硬” là cứng, “衄” là chảy máu mũi, “懊憹” là áo não. “五芩” được hiểu là “五苓”, tức Ngũ linh. “Cốc đản” và “cố hà” được giữ như tên chứng cổ, không đồng nhất trực tiếp với một chẩn đoán hiện đại.
Điều văn “chỉ dùng phép để cứu” được giữ nguyên; đề nghị đổi thành “nếu tiểu tiện không lợi” là ý kiến hiệu đính trong lời án. Cách giải câu “mồ hôi nhiều thì nhiệt giải” trong điều văn và cách bàn về hao tân dịch trong chú giải có khác nhau; bản dịch giữ riêng hai phần.
Các lời “không trị”, “tự khỏi” và tiên lượng sống chết là nhận định trong hoàn cảnh của cổ thư. Không dùng chúng để trì hoãn thăm khám khi có tiểu ít rõ rệt, tiêu chảy kéo dài, nói sảng, ra máu hoặc vàng da. Đại tiện đen cũng cần loại trừ xuất huyết tiêu hóa, không chỉ quy về huyết ứ.
Trường Xuân biên soạn
MA HOÀNG LIÊN DIÊU XÍCH TIỂU ĐẬU THANG 麻黄连轺赤小豆汤
Ma hoàng bỏ đốt hai lạng (liều tham khảo hiện đại: 6 g), Xích tiểu đậu một thăng (liều tham khảo hiện đại: 15 g), Hạnh nhân bỏ vỏ và đầu nhọn bốn mươi hạt (liều tham khảo hiện đại: 9 g), Sinh khương thái lát hai lạng (liều tham khảo hiện đại: 6 g), Đại táo bổ mười hai quả, Cam thảo chích hai lạng (liều tham khảo hiện đại: 6 g), vỏ trắng cây Tử tươi thái nhỏ một thăng (liều tham khảo hiện đại: 9 g), Liên diêu hai lạng (tài liệu tham khảo hiện đại dùng Liên kiều 15 g).
Tám vị trên dùng một đấu nước mưa đọng. Trước tiên đun Ma hoàng, cho sôi hai lượt, hớt bọt phía trên, thêm các vị còn lại, sắc lấy ba thăng. Chia làm ba lần uống ấm, uống hết trong nửa ngày.
PHƯƠNG GIẢI
Thấp nhiệt gây phát vàng mà không có chứng biểu lý rõ rệt: nhiệt thịnh thì thanh nhiệt; tiểu tiện không lợi thì lợi tiểu; lý thực thì công hạ; biểu thực thì phát hãn. Tất cả đều nhằm tìm đường thoát cho tà gây bệnh.
Dùng Ma hoàng thang để mở biểu, khiến sắc vàng theo đường ngoài mà tiêu tán.
Bỏ Quế chi để tránh tính nóng; phối hợp Sinh khương, Đại táo để điều hòa dinh vệ; thêm Liên diêu, vỏ cây Tử để tả nhiệt, Xích tiểu đậu để lợi thấp. Các vị cùng tạo nên tác dụng trị phát vàng do biểu thực.
Liên diêu tức rễ Liên kiều. Không có vỏ cây Tử thì dùng Nhân trần thay thế.
TẬP GIẢI
Chu Dương Tuấn nói: Đây cũng là phép giải cả biểu và lý. Vì vậy, dùng thuốc phát hãn bên ngoài phải kiêm vị thấm thấp.
Thương hàn phát vàng là vì người bệnh vốn có thấp nhiệt ở Thái âm, lại thêm hàn tà chưa giải. Hai tà kết hợp, nung bốc, uất lại mà thành vàng.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn bảy, tám ngày, thân vàng như màu quả quýt, tiểu tiện không lợi, bụng hơi đầy; Nhân trần cao thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thân phát vàng là bệnh do thấp nhiệt. Thấp nhiều hơn nhiệt thì sắc vàng tối; nhiệt nhiều hơn thấp thì sắc vàng sáng. “Như màu quả quýt” nghĩa là sắc vàng sáng.
Thương hàn bảy, tám ngày, thân vàng sáng, tiểu tiện không lợi, bụng hơi đầy, là lý nhiệt đã sâu.
Vì vậy, lấy Nhân trần cao, vị trị bệnh vàng da, làm quân; Đại hoàng làm tá, Chi tử làm sứ, khiến thấp nhiệt thoát qua cả đại tiện và tiểu tiện. Sắc vàng và bụng đầy tự có thể hết.
TẬP CHÚ
Đường Bất Nham nói: Vàng như màu hun khói là âm hoàng; vàng như quả quýt là dương hoàng.
Trình Tri nói: Đây là phép trừ thấp, thanh nhiệt.
Thương hàn bảy, tám ngày là thời điểm có thể công hạ; tiểu tiện không lợi, bụng hơi đầy là chứng có thể công hạ. Lại thêm sắc vàng tươi sáng thì không còn nghi ngờ đây là tà từ ba kinh dương đã vào lý.
Vì vậy, dùng Nhân trần trừ thấp, Chi tử thanh nhiệt, Đại hoàng hỗ trợ tống trừ tà.
Chứng này tuy có thể công hạ nhưng vẫn phải lấy trừ thấp làm chính, không chuyên dùng phép công hạ. Ý lập phương là như vậy.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc theo một tài liệu phương tễ hiện đại, không phải phép quy đổi chính xác đơn vị cổ. Đại táo được giữ nguyên số quả của bản gốc. Liên diêu được chú gia giải là rễ Liên kiều; tài liệu hiện đại dẫn Liên kiều, nên hai cách ghi được phân biệt rõ, không coi là cùng một dược liệu một cách mặc nhiên. tcm.szmdata.com
“Lạo thủy” là nước mưa đọng theo cách gọi cổ. Cách sắc, lượng nước và lời thay vỏ cây Tử bằng Nhân trần được giữ theo nguyên văn để nghiên cứu, không phải hướng dẫn tự thay thuốc hoặc dùng nước đọng để sắc.
Trường Xuân biên soạn
NHÂN TRẦN CAO THANG 茵陈蒿汤
Nhân trần cao sáu lạng (liều tham khảo hiện đại: 18 g), Chi tử bổ mười bốn quả (liều tham khảo hiện đại: 12 g), Đại hoàng bỏ vỏ hai lạng (liều tham khảo hiện đại: 6 g).
Ba vị trên dùng một đấu hai thăng nước. Trước tiên sắc Nhân trần, để nước giảm sáu thăng, cho hai vị còn lại vào, sắc lấy ba thăng, bỏ bã, chia làm ba lần uống.
Tiểu tiện sẽ thông lợi, nước tiểu như nước quả bồ kết, màu đỏ rõ. Sau một đêm, bụng bớt đầy; theo nguyên văn, sắc vàng theo đường tiểu tiện mà thoát ra.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, thân phát vàng, phát nhiệt; Chi tử bá bì thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, thân phát vàng, phát nhiệt: nếu có biểu chứng không ra mồ hôi thì dùng Ma hoàng liên diêu xích tiểu đậu thang để phát hãn.
Nếu có lý chứng đã thành thực thì dùng Nhân trần cao thang để công hạ cũng được.
Nay bên ngoài không có biểu chứng cần phát hãn, bên trong không có lý chứng cần công hạ, nên chỉ dùng Chi tử bá bì thang để thanh nhiệt.
TẬP CHÚ
Lâm Lan nói: Thương hàn, thân phát vàng, trong vị có nhiệt ứ, vốn cần công hạ. Nhưng ở đây phát nhiệt mà nhiệt chưa thành thực, nên dùng Chi tử bá bì thang để giải.
Uông Hổ nói: Thân phát vàng kèm phát nhiệt là phát nhiệt trong chứng vàng da, không phải phát nhiệt của chứng Ma hoàng hoặc Quế chi.
Nhiệt đã uất mà phát vàng, tuy có biểu hiện bên ngoài nhưng không thuần thuộc biểu chứng. Chỉ cần thanh phần nhiệt uất để lui sắc vàng thì phát nhiệt tự hết.
Ngụy Lệ Đồng nói: Ba điều này tuy đều thuộc chứng ngoại hàn kèm thấp, ứ lại mà thành nhiệt, nhưng tà ở biểu hay ở lý, thấp thắng hay nhiệt thắng, càng phải chú ý phân biệt. Sao có thể đều coi là lý chứng rồi dùng phép công hạ lẫn lộn?
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc là liều tham khảo hiện đại theo tài liệu phương tễ của Nhà xuất bản Nhân dân Vệ sinh, không phải phép quy đổi chính xác các đơn vị cổ. Mười bốn quả Chi tử không có khối lượng cố định; 12 g là lượng tham khảo của phương hiện đại. rwzyzs.pmphai.com
Cách sắc và mô tả nước tiểu được giữ theo nguyên văn. Nước tiểu đỏ không được mặc nhiên xem là dấu hiệu thuốc có hiệu quả; cần phân biệt với tiểu ra máu hoặc những biến đổi do bệnh lý.
Trường Xuân biên soạn
CHI TỬ BÁ BÌ THANG 栀子柏皮汤
Chi tử bổ mười lăm quả (liều tham khảo hiện đại: 10 g), Cam thảo chích một lạng (liều tham khảo hiện đại: 3 g), Hoàng bá hai lạng (liều tham khảo hiện đại: 6 g).
Ba vị trên dùng bốn thăng nước, sắc còn một thăng rưỡi, bỏ bã, chia làm hai lần uống ấm.
LỜI ÁN
Cam thảo trong phương này phải là Nhân trần cao; ắt là lỗi sao chép, truyền bản.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh bị dùng lửa, trán hơi ra mồ hôi mà tiểu tiện không lợi, ắt phát vàng.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh không ra mồ hôi, không dùng Cát căn thang phát hãn mà dùng lửa cưỡng bức lấy mồ hôi, khiến nhiệt thịnh, tân dịch khô. Người bệnh uống nước, nước ngừng lại, bị nhiệt nung bốc lên nên trán hơi ra mồ hôi, còn toàn thân trái lại không có mồ hôi.
Nếu tiểu tiện lợi thì bệnh theo táo hóa, ắt phiền khát, nên dùng Bạch hổ thang. Nếu tiểu tiện không lợi thì bệnh theo thấp hóa, ắt phát vàng, nên dùng Nhân trần cao thang.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Bệnh Dương minh, thấp ngừng, nhiệt uất, phiền khát tăng thêm, thế bệnh ắt dẫn đến phát vàng. Nhưng nếu ra mồ hôi, nhiệt thoát ra ngoài thì có thể tránh phát vàng; tiểu tiện nhiều, nhiệt thoát xuống dưới thì cũng có thể tránh phát vàng.
Nếu công hạ nhầm, nhiệt tà càng hãm vào, tân dịch càng tổn thương, mồ hôi và tiểu tiện càng khó có.
Nếu dùng lửa nhầm, nhiệt tà càng mạnh, tân dịch dồn lên trên. Trán tuy hơi ra mồ hôi nhưng toàn thân càng không có mồ hôi, tiểu tiện càng khó. Sao tránh được biến chứng phát vàng?
Trình Tri nói: Thái dương phát vàng do hàn làm uất thấp, thấp không được giải. Dương minh phát vàng do thấp làm ứ nhiệt, nhiệt không được thoát. Vì vậy phải phân kinh mà luận trị.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, không ra mồ hôi, tiểu tiện không lợi, trong lòng áo não, thân ắt phát vàng.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh không ra mồ hôi là nhiệt không có đường thoát ra ngoài. Tiểu tiện không lợi là thấp không thể thoát xuống dưới. Trong lòng áo não là thấp ứ, nhiệt uất ở lý. Vì vậy thân ắt phát vàng.
Nên dùng Ma hoàng liên diêu xích tiểu đậu thang, phát tán bên ngoài, thông lợi bên trong.
Nếu sau phát hãn, gây nôn hoặc công hạ, hoặc tiểu tiện lợi mà trong lòng áo não, thì là nhiệt uất, không phải thấp ứ.
Đại tiện cứng thì dùng Điều vị thừa khí thang công hạ; đại tiện mềm thì dùng Chi tử thị thang làm tà nhiệt thoát lên.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Không ra mồ hôi, tiểu tiện không lợi thì thấp ngừng, gây áo não. Thấp ngừng, nhiệt uất, nên biết ắt phát vàng.
Trương Lộ nói: Bên ngoài không có mồ hôi, bên dưới không có tiểu tiện, thấp nhiệt uất trong ngực không được thoát, thế bệnh ắt nung bốc toàn thân mà thành vàng.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, mặt ứng sắc đỏ, không được công hạ. Công hạ thì ắt phát nhiệt, sắc vàng, tiểu tiện không lợi.
CHÚ GIẢI
Bệnh ở kinh Dương minh, mặt đáng lẽ ứng sắc đỏ, là nhiệt tà còn uất trong kinh, chưa vào lý thành thực. Vì vậy, dù không đi đại tiện cũng không được công hạ.
Nếu công hạ, tà uất trong kinh không được giải, ắt khiến phát nhiệt, sắc vàng.
Nếu người bệnh lý táo, tiểu tiện lợi thì theo táo hóa, không phát vàng mà đại tiện ắt cứng.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Hợp” nghĩa là ứng. Đỏ là sắc của nhiệt. Vị nhiệt đi lên, mặt ứng sắc đỏ. Công hạ làm hao tân dịch, nên phát nhiệt, sắc vàng, vì tiểu tiện không lợi.
Trình Tri nói: Điều này nói nhiệt ở kinh Dương minh, không thể công hạ. Nhiệt ở kinh là dương khí uất ở biểu. Công hạ thì nhiệt trong kinh chưa được giải tán qua biểu, ắt phát nhiệt, sắc vàng, do tiểu tiện không lợi.
Trình Ứng Mao nói: Nhiệt bị ngăn giữa cơ nhục và da nên phát nhiệt, tiểu tiện vì thế không lợi, uất mà thành vàng.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, phát nhiệt, ra mồ hôi, là nhiệt thoát ra ngoài, không thể phát vàng.
Chỉ đầu ra mồ hôi, thân không có mồ hôi, mồ hôi đến cổ thì dừng; tiểu tiện không lợi, khát uống nước và nước uống loãng, là nhiệt ứ ở lý, thân ắt phát vàng. Nhân trần cao thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh phát nhiệt, ra mồ hôi, là nhiệt thoát ra ngoài. Nếu tiểu tiện lợi, đại tiện vì thế cứng, thì không phát vàng.
Chỉ đầu ra mồ hôi, thân không có mồ hôi, là nhiệt Dương minh không thể thoát ra ngoài mà nung bốc lên trên.
Tiểu tiện không lợi là thấp tích ở bàng quang. Khát uống nước là nhiệt nung đốt vị phủ.
Đó là thấp nhiệt ứ tích ở lý, lan ra da thịt, nên thân ắt phát vàng.
Nhân trần cao thang chủ trị là để thông lợi đại tiện và tiểu tiện, khiến thấp nhiệt thoát qua các khiếu dưới.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Việt” nghĩa là tán. Các chú giải về mồ hôi đầu, nhiệt ứ, phát vàng đều đã có trong thiên Thái dương.
Nhân trần trừ sắc vàng do thấp ứ; Chi tử trừ nhiệt ở vị; Đại hoàng tống phần ứ bế. Ba vị dùng tính đắng để tiết nhiệt; nhiệt được tiết thì sắc vàng tiêu tán.
Trình Ứng Mao nói: Đầu ra mồ hôi, thân không có mồ hôi, đến cổ thì dừng, đủ chứng tỏ dương nhiệt uất kết bên trong, không được thoát, nên chỉ bốc lên đầu, vì đầu là nơi đứng đầu của các dương.
Khí không đi xuống nên tiểu tiện không lợi. Khí của phủ quá táo nên khát uống nước.
“Nhiệt ứ ở lý” ở đây được nhận biết qua không ra mồ hôi. Không ra mồ hôi mà tiểu tiện lợi thì thuộc hàn; không ra mồ hôi mà tiểu tiện không lợi thì thuộc thấp nhiệt. Hai tà cùng uất, không được tuyên tiết, nên nung ủ mà phát vàng.
Giải nhiệt, trừ thấp, không gì bằng Nhân trần, Chi tử thanh phần trên, Đại hoàng tẩy phần dưới. Nhiệt toàn thân được tiết thì sắc vàng nào lại không tiêu tán?
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch phù mà hoãn, tay chân tự ấm, là bệnh liên hệ với Thái âm. Thuộc Thái âm thì thân đáng lẽ phát vàng. Nếu tiểu tiện tự lợi thì không phát vàng.
Đến ngày thứ bảy, thứ tám, đại tiện cứng, là bệnh Dương minh.
CHÚ GIẢI
Đây là chứng Thái âm chuyển thuộc Dương minh.
Thương hàn, mạch phù hoãn, tay chân nóng, là Thái dương. Nay tay chân chỉ tự ấm, không phải chứng Thái dương, là bệnh liên hệ với Thái âm.
Nhưng mạch Thái âm đáng lẽ trầm hoãn, nay phù hoãn lại là mạch Thái dương. Chứng thuộc Thái âm mà mạch thuộc Thái dương, là tà từ Thái dương truyền vào Thái âm, nên nói liên hệ với Thái âm.
Nếu tiểu tiện tự lợi thì không theo thấp hóa của Thái âm mà phát vàng. Đến ngày thứ bảy, thứ tám, đại tiện cứng, là theo táo hóa, trở thành Dương minh.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Bệnh Dương minh lấy vị gia thực làm gốc. Vị gia thực không chỉ do ba kinh dương mắc tà rồi chuyển thuộc Dương minh; ba kinh âm mắc tà cũng có thể chuyển thuộc Dương minh. Ở đây chỉ lấy một kinh Thái âm làm ví dụ.
Mạch phù hoãn là biểu mạch, nhưng không có phát nhiệt, đau đầu, sợ lạnh và các ngoại chứng khác, tay chân chỉ ấm, thì tà không ở biểu mà ở lý.
Tà vào lý có phân âm dương, phải dùng tiểu tiện để phân biệt.
Tiểu tiện không lợi, thấp bốc, nhiệt ứ mà phát vàng, là vì trong vị vốn không có táo khí. Tiểu tiện tự lợi, vị khô, đại tiện cứng mà thành thực, là vì trong vị vốn có táo khí.
Bệnh tuy thành vào ngày thứ bảy, thứ tám nhưng lúc đầu mạch phù hoãn, tay chân tự ấm, thực sự từ Thái âm chuyển thuộc mà đến.
Từ Thái âm, Dương minh suy ra, ba chứng Đại thừa khí ở Thiếu âm và một chứng Tiểu thừa khí ở Quyết âm, có chứng nào không phải bệnh chuyển thuộc Dương minh?
Ngụy Lệ Đồng nói: Bệnh ở Thái dương, nhiệt bị thấp làm uất, tụ ở lý, ắt phải có nơi quy về. Đã không phát vàng, tiểu tiện tự lợi, thì tà quy về đâu? Không thể không quy về vị, nơi mọi vật đều quy về.
Đến ngày thứ bảy, thứ tám, tiểu tiện tự nhiều, đại tiện tự cứng, trở thành bệnh Dương minh.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn chuyển liên hệ với Dương minh thì người bệnh có mồ hôi nhẹ, ra liên tục.
CHÚ GIẢI
Mọi bệnh thương hàn, bất kể ba kinh âm hay ba kinh dương, nếu chuyển liên hệ với Dương minh thì người bệnh phải có chứng mồ hôi nhẹ ra liên tục, mới xác định là chuyển thuộc Dương minh.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương bị dùng phép gây nôn. Bệnh Thái dương vốn phải sợ lạnh, nay trái lại không sợ lạnh, không muốn áo chạm gần người; đó là nội phiền do phép gây nôn.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương bị gây nôn, biểu đã giải thì không sợ lạnh; lý đã giải thì cũng không sợ nóng.
Nay không sợ lạnh, không muốn áo chạm gần người, là sợ nóng. Do sau gây nôn, biểu giải mà lý chưa giải, bên trong sinh phiền nhiệt.
Không có mồ hôi mà phiền nhiệt, nhiệt ở biểu, là chứng Đại thanh long. Có mồ hôi mà phiền nhiệt, nhiệt ở lý, là chứng Bạch hổ.
Sau gây nôn hoặc công hạ, trong lòng áo não, không có mồ hôi, phiền nhiệt, đại tiện tuy cứng nhưng nhiệt còn ở bên trong, là chứng Chi tử thị thang. Có mồ hôi, phiền nhiệt, đại tiện đã cứng, nhiệt hoàn toàn vào phủ, là chứng Điều vị thừa khí thang.
Nay do gây nôn mà sinh nội phiền nhiệt, là hư phiền do khí dịch đã tổn thương, không phải thực phiền khi chưa trải qua phát hãn, công hạ.
Các phép trên đều không thích hợp. Chỉ nên dùng Trúc diệp thạch cao thang, trong phép ích khí, sinh tân mà thanh nhiệt, an phiền.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Gây nôn làm tổn thương dịch trong vị nên nội phiền, không muốn áo chạm gần người.
Tuy đã biểu hiện hư phiền, vẫn nhẹ hơn trường hợp mạch bộ quan tế sác, hình thành hư nhiệt, cả tỳ lẫn vị đều tổn thương. Tuy chưa thành nghịch, vẫn là lỗi gây nôn nhầm.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương vốn phải sợ lạnh, phát nhiệt. Nay tự ra mồ hôi, trái lại không sợ lạnh, phát nhiệt, mạch bộ quan tế sác, là lỗi do thầy thuốc gây nôn.
Gây nôn vào ngày thứ nhất, thứ hai thì trong bụng đói mà miệng không ăn được. Gây nôn vào ngày thứ ba, thứ tư thì không thích cháo, muốn ăn thức ăn lạnh; sáng ăn, chiều nôn, là do thầy thuốc gây nôn. Đây là tiểu nghịch.
LỜI ÁN
Sau câu “muốn ăn thức ăn lạnh” phải có câu “gây nôn vào ngày thứ năm, thứ sáu”. Nếu không có câu ấy thì “không thích cháo, muốn ăn thức ăn lạnh” và “sáng ăn, chiều nôn” không liên kết về ý nghĩa.
Xét kỹ cách nêu ngày thứ nhất, thứ hai, rồi ngày thứ ba, thứ tư, sẽ biết ắt còn câu “gây nôn vào ngày thứ năm, thứ sáu”, nhằm trình bày từ nông đến sâu.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương chưa giải thì phải sợ lạnh, phát nhiệt. Nay tự ra mồ hôi, không còn sợ lạnh, phát nhiệt, là biểu đã giải.
Mạch bộ quan tế sác là vị không hòa. Tế biểu thị vị khí hư; sác biểu thị vị khí nhiệt.
Mạch chứng không hòa, hỏi nguyên nhân thì biết do lỗi gây nôn của thầy thuốc.
Ngày thứ nhất, thứ hai, bệnh ở Thái dương, chính khí chưa suy. Gây nôn làm tổn thương vị chưa sâu, nên bụng biết đói mà miệng không ăn được.
Ngày thứ ba, thứ tư, bệnh ở Dương minh, trong vị đã có nhiệt. Gây nôn lại tổn thương tân dịch, nên không thích cháo, muốn ăn thức ăn lạnh.
Ngày thứ năm, thứ sáu, bệnh sắp chuyển vào kinh âm, chính khí đã suy. Gây nôn khiến trong vị hư lạnh, nên sáng ăn, chiều nôn.
Đều do thầy thuốc gây nôn mà thành, vẫn còn có thể trị, nên gọi là tiểu nghịch.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Vốn là bệnh Thái dương, thầy thuốc gây nôn khiến biểu tà thừa hư truyền vào Dương minh, làm tổn thương vị khí, nên mạch quan tế sác.
Trình Ứng Mao nói: Khí Dương minh đi xuống là thuận, đi lên là nghịch. Do thầy thuốc gây nôn mà thành, không phải bệnh vốn có của tỳ vị, nên gọi là tiểu nghịch.
Không được tiếp tục trị nhầm, khiến tiểu nghịch thành đại nghịch.
ĐIỀU VĂN
Ăn thức ăn thì muốn nôn, thuộc Dương minh; Ngô thù du thang chủ trị. Uống thuốc mà bệnh trái lại nặng hơn thì thuộc thượng tiêu.
CHÚ GIẢI
Ăn thức ăn muốn nôn thuộc Dương minh vì vị chủ tiếp nhận. Nay trong vị có hàn, không thể tiếp nhận thức ăn, nên muốn nôn.
Dùng Ngô thù du thang ôn trung, giáng nghịch, có thể ngừng nôn.
Nếu uống thuốc mà bệnh nặng hơn, ắt không phải lý hàn Dương minh ở trung tiêu, mà là biểu nhiệt Thái dương ở thượng tiêu.
Ngô thù du khí vị đều nóng, thuốc không hợp bệnh nên bệnh nặng hơn.
Theo phép trị Thái dương, Dương minh hợp bệnh, không hạ lợi mà chỉ nôn, nên dùng Cát căn gia Bán hạ thang.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Ăn thức ăn muốn nôn là vị hàn, nên nói thuộc Dương minh, để phân biệt với sợ lạnh, nôn nghịch. Thượng tiêu ở đây nói vùng cách.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh mạch sác. Sác là nhiệt, đáng lẽ tiêu hóa nhanh, muốn ăn, nhưng trái lại nôn. Đó là do phát hãn làm dương khí suy vi, khí ở cách hư, nên mạch sác.
Sác ở đây là khách nhiệt, không thể tiêu hóa thức ăn. Vì trong vị hư lạnh nên nôn.
CHÚ GIẢI
Người bệnh mạch sác, sác biểu thị có nhiệt, đáng lẽ tiêu hóa nhanh, muốn ăn. Nay ăn vào lại nôn, là vì thân nóng, mạch sác bị nhầm là biểu nhiệt rồi phát hãn, khiến dương khí suy vi, khí ở cách hư.
Không biết mạch sác này là sác do ngoại tà, khách nhiệt, không phải sác do thực nhiệt trong vị.
Không tiêu hóa được thức ăn, ăn vào lại nôn, là vì trong vị vốn hư lạnh.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Sau phát hãn, mạch sác, nôn thức ăn, phải xét đến dương của vị bị hư.
Dương nhận khí ở ngực. Phát hãn quá nhiều khiến dương khí suy vi, khí ở cách hư, khách nhiệt thoát ra ngoài, nên mạch sác.
Khách nhiệt không thể tiêu hóa thức ăn, khiến nôn, phải quy nguyên nhân về vị hư lạnh. Nếu vì mạch sác mà dùng thuốc thanh vị thì sai.
Trình Ứng Mao nói: Thấy mạch sác mà trái lại nôn, sác vốn là nhiệt mạch, nhưng vô lực thì là hư mạch.
Khí ở cách hư, dương trú ở trên, không thể xuống làm ấm, nên trong vị hư lạnh. Nhiệt là khách nhiệt, hàn là chân hàn.
Xét căn nguyên chỉ do phát hãn làm dương khí suy vi. Vậy dương khí quý trọng biết bao, sao có thể phát hãn nhầm?
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh không ăn được, công phần nhiệt thì ắt uế. Nguyên nhân là trong vị hư lạnh. Người bệnh vốn hư, công nhiệt thì ắt uế.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh không ăn được là trung hàn. Dù có mạch sác, khách nhiệt, điều trước đã răn không được phát hãn, điều này lại nói không được công hạ.
Nếu công phần nhiệt thì làm lạnh vị dương, cũng ắt gây uế. Vì khách nhiệt tuy trừ nhưng vị lại hư lạnh.
Người bệnh vốn vị hư, nên công nhiệt thì ắt uế. Uế tức nôn khan.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Thuốc công nhiệt đều là thuốc lạnh, nên biết ắt gây uế. Vị hư được nhận biết qua không ăn được. Đây cũng là lời răn thận trọng.
Lâm Lan nói: Dương minh nói sảng, triều nhiệt, không ăn được, có thể công hạ vì bên trong có phân khô.
Nhưng cũng có không ăn được do vị hư lạnh, phải phân biệt kỹ, không thể vội coi không ăn được là thực chứng.
Nếu công hạ nhầm thì nhiệt đi, uế xuất hiện. Sao có thể cho rằng mọi bệnh Dương minh đều thích hợp công hạ?
ĐIỀU VĂN
Nếu trong vị hư lạnh, không ăn được, uống nước thì uế.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp ý điều trên: dù không công hạ cũng có thể uế.
Người bệnh trong vị hư lạnh, không ăn được, tuy không công nhiệt nhưng uống nước thì uế. Vì vị đã hư lạnh, lại gặp tính lạnh của nước, nên uế.
Dùng Lý trung thang thêm Đinh hương, Ngô thù du, ôn mà giáng thì được.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Biểu nhiệt, lý hàn, phép trị phải cứu lý trước. Trong kinh Thái dương cũng dùng Tứ nghịch thang, ở Dương minh càng có thể biết.
Điều này hư hàn nặng hơn điều trước, nên không chỉ công nhiệt gây uế, mà uống nước cũng uế.
Uông Hổ nói: Trong vị hư lạnh, không ăn được, uống nước thì thủy và hàn tác động lẫn nhau, khí nghịch cũng gây uế. Phép trị phải đại ôn.
ĐIỀU VĂN
Mạch Phu dương phù; phù là hư. Phù và hư tác động lẫn nhau, khiến khí bị nghẹn kết, nghĩa là vị khí hư kiệt.
Mạch hoạt thì gây uế. Đó là lỗi của thầy thuốc, lẽ ra xét hư lại trị như thực, làm phần giữ ở trong trống rỗng, bức huyết.
Mạch phù, trong mũi khô, ắt chảy máu mũi.
CHÚ GIẢI
Công hạ nhầm, uống lạnh đều có thể gây nghẹn kết khí, điều ấy đã rõ.
Nay mạch Phu dương của vị phù mà không đại, vô lực thuộc hư, là vị hư tác động với tà. Dù không công hạ nhầm hoặc uống lạnh cũng có thể gây nghẹn kết khí.
Nếu mạch Phu dương hoạt mà uế thì đó là uế do nhiệt khí ứ uất, không phải uế do vị khí hư kiệt. Thầy thuốc sao có thể nhầm thực với hư rồi tự gây lỗi?
Nếu mạch Phu dương phù, trong mũi khô, là nhiệt chiếm dinh phận, dinh nhiệt bức huyết đi sai đường, ắt chảy máu mũi.
Người đời có người coi uế là nấc, không biết uế tức nôn khan, vì có tiếng “uế uế” nên gọi là uế.
Xét người nấc hiện nay, cho uống nước lạnh thì khí từ dưới rốn xung lên, ra miệng thành tiếng nấc. Tiếng dài, có lúc ngừng là thực, có thể trị; tiếng ngắn, không ngừng là hư, khó trị.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này lại nêu mạch Phu dương, nói về uế và chảy máu mũi, đều do cưỡng bức lấy mồ hôi mà không ra được.
“Cữu” là lỗi. “Trách hư” là tìm nguyên nhân bệnh ở hư; “thủ thực” là trái lại coi hư thành thực mà công.
Huyết thuộc âm, giữ bên trong, nên nói phần giữ ở trong trống rỗng. “Bức huyết” là cưỡng ép lấy mồ hôi.
ĐIỀU VĂN
Mạch thốn khẩu phù đại mà thầy thuốc trái lại công hạ, đó là đại nghịch.
Phù thì không có huyết, đại thì có hàn. Hàn khí tác động lẫn nhau thì bụng sôi.
Thầy thuốc không biết, lại cho uống nước lạnh, khiến mồ hôi ra nhiều. Nước gặp hàn khí, lạnh ắt tác động lẫn nhau, người bệnh ắt bị khí nghẹn kết có tiếng.
LỜI ÁN
Bốn chữ “khiến mồ hôi ra nhiều” phải là văn thừa.
CHÚ GIẢI
Mạch thốn khẩu phù đại chỉ cả sáu bộ mạch đều phù đại.
Cả sáu bộ phù đại thì không phải mạch đại của Dương minh khi ấn xuống vẫn đại, mà là mạch đại của Thái dương khi chưa ấn đã thấy đại.
Thầy thuốc trái lại công hạ, là đại nghịch. Mạch phù trước đó biến thành hư do thiếu huyết; mạch đại biến thành trì do vị lạnh. Hư hàn tác động lẫn nhau thì bụng sôi.
Thầy thuốc không biết, lại cho uống nước lạnh. Thủy hàn gặp hư trong vị, nên ắt gây khí nghẹn kết.
Chứng này là khí nghẹn kết, phát tiếng, tức chứng nấc hiện nay.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói sự biến đổi do tà ở biểu mà bị công hạ bừa.
Thốn khẩu phù đại nhưng không có cứng đầy, tạng nhiệt, phép trị đáng lẽ phát hãn. Trái lại công hạ thì là đại nghịch.
Đã công hạ nhầm, cái gọi là phù trở thành bên trong trống rỗng, thiếu huyết; cái gọi là đại trở thành lý hư, có hàn. Hư hàn tác động thì bụng sôi.
Thầy thuốc thấy mạch đại, cho là có nhiệt, cho uống nước lạnh, muốn lấy tính lạnh thắng nhiệt để tạo mồ hôi. Lý đã hư hàn, lại gặp nước lạnh, lạnh kết ở thượng tiêu, ắt gây nghẹn bế ở họng, khí nghịch.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, uế mà bụng đầy, phải xét đường trước và đường sau, biết đường nào không lợi, làm thông đường ấy thì khỏi.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, uế mà không đầy bụng là chính khí hư, thuộc chứng Ngô thù du thang.
Uế mà bụng đầy là tà khí thực. Xét đại tiện, tiểu tiện, đường nào không lợi thì làm thông đường ấy sẽ khỏi.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Uế mà bụng đầy là khí đi lên, không đi xuống. Xét đường trước, đường sau có nơi không lợi thì làm thông để giáng khí.
Đường trước là tiểu tiện, đường sau là đại tiện.
Trình Tri nói: Đường trước không lợi, người đời sau trị bằng Ngũ linh; đường sau không lợi, người đời sau trị bằng Thừa khí.
Thẩm Minh Tông nói: Tà truyền vào vị, vị khí ứ bế, hai khí tác động lẫn nhau, khí nghịch xung lên thì thành uế.
Trương Tích Câu nói: Thương hàn đến mức uế, nếu không phải vị khí suy bại thì là trong vị có hàn.
Nhưng cũng có lý thực không thông, khí không thể thoát xuống, trái lại nghịch lên mà gây uế. Phải phân biệt kỹ.
ĐIỀU VĂN
Thực thì nói sảng; hư thì trịnh thanh. Trịnh thanh là nói lặp lại.
CHÚ GIẢI
Chứng nói sảng có hư, có thực.
Thực thì nói sảng: Dương minh nhiệt thịnh lấn lên tâm, nói hỗn loạn, không thứ tự, tiếng cao rõ, là tà khí thực.
Hư thì trịnh thanh: tinh thần suy yếu, không tự chủ, lời nói lặp lại, tiếng nhỏ, ngắn, là chính khí hư.
TẬP CHÚ
Đới Nguyên Lễ nói: Nói sảng thuộc dương, trịnh thanh thuộc âm. Kinh nói: “Thực thì nói sảng, hư thì trịnh thanh.”
Nói sảng là đảo lộn, rối loạn, lời không có thứ tự, thường nói một mình vào khoảng không, như thấy ma quỷ.
Trịnh thanh là nói lặp đi lặp lại, tuy lời sai nhưng cứ nhắc mãi không thôi. Người già gặp việc mà lẩm bẩm không ngừng là vì dương khí hư, không sáng rõ.
Đó là sự khác nhau giữa hư và thực của nói sảng, trịnh thanh.
Hai chứng vốn không khó phân biệt. Nhưng dương thịnh, lý thực và âm thịnh cách dương đều có thể nói sai loạn, phải dựa vào các chứng khác để phân biệt, tùy chứng mà trị.
Lâu Toàn Thiện nói: Tôi dùng các phương có Nhân sâm, Hoàng kỳ, Đương quy, Bạch truật để trị nói sảng, người khỏi rất nhiều. Sao có thể không phân hư thực mà đều dùng Hoàng liên giải độc, Đại thừa khí, Tiểu thừa khí để trị?
Lời án: Trường hợp ông nói cũng là trịnh thanh.
Trương Tích Câu nói: Thực thì nói sảng, vì táo nhiệt Dương minh quá thịnh khiến thần hôn, khí loạn, nên không phân thân sơ, nói bừa, chửi mắng.
Hư thì trịnh thanh, vì thần khí hư, không tự chủ, nên tiếng không chính, lời nói lặp lại.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn bốn, năm ngày, mạch trầm, suyễn, đầy. Trầm là bệnh ở lý, nhưng lại phát hãn, khiến tân dịch thoát ra, đại tiện khó. Biểu hư, lý thực, kéo dài thì nói sảng.
CHÚ GIẢI
Thương hàn bốn, năm ngày là thời kỳ vào lý. Mạch trầm, suyễn, đầy, là suyễn đầy ở lý.
Trái lại phát hãn, tân dịch thoát ra thì biểu hư. Ra mồ hôi làm vị khô, đại tiện khó thì lý thực.
Kéo dài, vị nhiệt mạnh lên, ắt phát nói sảng.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Thoát ra” nghĩa là đi ra theo đường không thích hợp.
Trương Lộ nói: Thương hàn bốn, năm ngày chính là lúc tà nhiệt truyền lý. Lại thấy mạch trầm, suyễn đầy ở lý mà phát hãn, ắt gây táo kết, nói sảng.
Táo kết, nói sảng khá giống chứng Đại thừa khí. Nhưng ở đây do phát hãn quá mức làm hao tân dịch, chưa đến đại thực, đại mãn, đau bụng, nên chỉ dùng Tiểu thừa khí là thích đáng.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, người bệnh ra nhiều mồ hôi, tân dịch thoát ra ngoài, trong vị khô, đại tiện ắt cứng. Cứng thì nói sảng; Tiểu thừa khí thang chủ trị.
Nếu uống một lần, nói sảng ngừng, thì không uống tiếp.
CHÚ GIẢI
Điều này nói rõ điều trên để chỉ trị pháp.
Bệnh Dương minh, người bệnh ra nhiều mồ hôi, tân dịch thoát ra ngoài, trong vị khô, đại tiện ắt cứng. Kéo dài thì nói sảng, nên dùng Tiểu thừa khí thang.
Nếu uống một lần, đi đại tiện, nói sảng ngừng, phải thận trọng, không uống tiếp.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Ra nhiều mồ hôi, nói sảng, là chứng công hạ có tính cấp thiết.
Nhưng người bệnh đã ra nhiều mồ hôi, tân dịch hao ở ngoài, nên không thích hợp công hạ mạnh. Chỉ cho một ít Tiểu thừa khí, điều hòa vị khí, nói sảng tự ngừng.
Nếu uống quá mức lại làm tổn thương tân dịch.
Thẩm Minh Tông nói: Mồ hôi nhiều, vị táo, không thể trị giống hoàn toàn với thực chứng.
ĐIỀU VĂN
Ra mồ hôi, nói sảng, là trong vị có phân khô. Đây là phong tà. Trường hợp cần công hạ phải đợi tà qua kinh rồi mới hạ.
Công hạ quá sớm, lời nói ắt hỗn loạn, vì biểu hư, lý thực. Công hạ thì khỏi, nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh tự ra mồ hôi mà nói sảng là vì vốn có phân khô trong vị, do phong tà Thái dương truyền vào, cần công hạ.
Nhưng phải đợi tà Thái dương đã đi qua kinh Dương minh, vào phủ Dương minh, mới công hạ.
Nếu công hạ sớm, lý nhiệt chưa kết, không chỉ nhiệt chưa trừ hết mà còn làm hư bên trong. Nhiệt thừa hư lấn lên tâm, lời nói ắt hỗn loạn.
Đây là biểu hư nên ra mồ hôi, lý thực nên nói sảng. Vì vậy phải đợi qua kinh, vào phủ, rồi công hạ thì khỏi, nên dùng Đại thừa khí thang.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Qua kinh” là thà chậm một chút, không phải nhất thiết đợi sau ngày thứ mười ba.
Trình Tri nói: Điều này nói không được công hạ sớm khi nói sảng.
Đã ra mồ hôi mà nói sảng thì ắt có phân khô trong vị, thuộc phong. Phong là dương tà; dương tà vào lý nên nói sảng.
Nhưng phải đến sáu, bảy ngày mới có thể công hạ. Hạ sớm thì phong tà chưa giải ở biểu, hoàn toàn vào lý; lý tà táo thực, lời nói càng hỗn loạn.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, nói sảng, có triều nhiệt, trái lại không ăn được, trong vị ắt có năm, sáu viên phân khô.
Nếu ăn được thì chỉ đại tiện cứng mà thôi. Nên dùng Đại thừa khí thang công hạ.
LỜI ÁN
Câu “nên dùng Đại thừa khí thang công hạ” phải đặt sau câu “ắt có năm, sáu viên phân khô”, mới phù hợp ý dùng Đại thừa khí.
Nếu chỉ đại tiện cứng mà dùng Đại thừa khí công hạ thì mất ý thận trọng của Trọng Cảnh, luôn lo công hạ nhầm.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, nói sảng, triều nhiệt, trái lại không ăn được, thì biết trong vị ắt có phân khô đã kết thực, nên dùng Đại thừa khí công hạ.
Nếu ăn được thì biết vị sắp hòa, chỉ đại tiện cứng mà thôi. Nên dùng phép dẫn, không được công hạ.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Điều này dựa vào ăn được hay không ăn được để phân biệt táo kết nhẹ hay nặng.
Triều nhiệt, nói sảng đều do nhiệt trong vị quá thịnh. Vị nhiệt đáng lẽ tiêu hóa thức ăn nhanh; nay trái lại không ăn được, ắt là nhiệt làm tổn thương tân dịch trong vị, khí hóa không thể đi xuống, phân khô nghịch công lên vị.
Nên dùng Đại thừa khí, nhanh chóng trừ dương quá thịnh, cứu âm sắp kiệt.
Nếu ăn được, khí hóa trong vị tự vận hành, nhiệt tà không thịnh, tân dịch không bị tổn thương nhiều. Đại tiện tuy cứng nhưng không lâu sẽ tự đi, không cần dùng thuốc làm tổn thương khí.
ĐIỀU VĂN
Hạ lợi mà nói sảng là có phân khô; nên dùng Tiểu thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Hạ lợi gợi lý hư, nói sảng gợi lý thực. Nếu mạch hoạt đại, chứng kiêm lý cấp, thì biết bên trong ắt có thức ăn lưu tích.
Chất đi ra khi hạ lợi ắt đặc dính, hôi bẩn, biết nhiệt cùng thức ăn lưu tích kết hợp mà gây bệnh. Qua đó có thể xác định có phân khô, nên dùng Tiểu thừa khí công hạ.
Suy ra, nhận biết phân khô không chỉ ở đại tiện cứng hay không, mà còn ở lý có cấp hay không, phân có hôi hay không.
TẬP CHÚ
Uông Hổ nói: Hạ lợi là bệnh trường vị. Nếu nói sảng thì là vị gia thực, không liên quan đến Quyết âm, mà do trong ruột có phân khô không xuống được.
Dùng Tiểu thừa khí vì vừa có đi lỏng, vừa có kết, chỉ cần công hạ hòa hoãn.
Ông lại nói: Có người hỏi, đã hạ lợi thì nhiệt khí có đường thoát xuống, vì sao còn nói sảng và có phân khô?
Đây là chứng Dương minh phủ thực, đại nhiệt. Cặn bã trong vị bị tà làm ứ, lưu bên trong. Phần chưa cứng đôi lúc đi ra, phần đã cứng rốt cuộc không ra được.
Phân khô là gốc của hạ lợi. Phân khô không ra, tà nhiệt lấn lên tâm, nên nói sảng.
Chứng này phải dùng tay ấn vùng rốn, bụng, thấy chắc đau mới là dấu hiệu có phân khô.
ĐIỀU VĂN
Mắt nhìn thẳng, nói sảng, suyễn đầy thì chết; hạ lợi cũng chết.
CHÚ GIẢI
Điều trên hạ lợi, nói sảng có thể trị; điều này hạ lợi, nói sảng lại chết. Phải biết không phải chết vì hạ lợi, mà vì mắt nhìn thẳng.
Mắt nhìn thẳng là tinh không lên nuôi mắt. Nói sảng là thần không giữ ở tâm, đã thuộc dấu hiệu nguy hiểm.
Thêm suyễn đầy là dương thoát lên trên, nên nói chết. Hạ lợi là âm thoát xuống dưới, nên cũng nói chết.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mắt nhìn thẳng là tinh không nuôi mắt; nói sảng là thần không chủ ở tâm.
Suyễn thì dương tranh ở trên, hạ lợi thì âm tranh ở dưới. Vị là trung thổ; âm dương tranh đoạt trên dưới, trung khí không giữ, nên không có phép cứu trị, đều tiên lượng chết.
ĐIỀU VĂN
Phát hãn nhiều, hoặc phát hãn mạnh thêm, làm mất dương, nói sảng. Mạch đoản thì chết; mạch tự hòa thì không chết.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương, phát hãn quá nhiều chưa giải, lại phát hãn mạnh thêm, khiến khí dịch cùng hao mất. Nhiệt tà thừa táo truyền vào Dương minh, sinh nói sảng.
Nói sảng là vị nhiệt thuộc dương. Mạch đoản là khí suy thuộc âm. Bệnh dương thấy mạch âm, là âm thắng dương, nên chết.
Nếu mạch không đoản, âm dương tự hòa thì không chết.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Phương Hữu Chấp cho điều này là đoạn rơi sót của kinh Thái dương, nhưng không biết Thái dương không có trường hợp nói sảng; phải kéo dài, kiêm Dương minh hoặc Thiếu dương mới có nói sảng.
Vì vậy, điều này nói lúc mới mắc Thái dương đã phát hãn quá nhiều, đến khi truyền Dương minh lại phát hãn mạnh, hình thành chứng vong dương mà nói sảng.
Người vong dương chỉ còn âm khí, nên thần hồn không định, thấy nghe sai loạn, khác với chứng nhiệt tà lấn tâm.
Mạch đoản thì âm dương không gắn với nhau; mạch hòa thì âm dương chưa lìa. Sống chết ở đây dựa vào mạch mà định.
Uông Hổ nói: Nói sảng, mạch đáng lẽ đại thực hoặc hồng hoạt, đó là tự hòa. Tự hòa nghĩa là mạch không trái với bệnh. Bệnh tuy nặng nhưng không chết.
Nếu nói sảng mà mạch đoản thì tà nhiệt thịnh, chính khí suy, là dương chứng thấy âm mạch, không còn phép cứu.
ĐIỀU VĂN
Phát hãn nhiều, vong dương, nói sảng, không được công hạ. Dùng Sài hồ quế chi thang điều hòa dinh vệ, thông tân dịch, sau đó tự khỏi.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên để nêu trị pháp.
Nói sảng thuộc Dương minh nhiệt thực, vốn là chứng có thể công hạ. Nhưng phát hãn quá nhiều, khí dịch hao mất nhiều mà nói sảng, là nói sảng do tân khô sinh táo, không phải do nhiệt quá thịnh, nội thực, nên không thể công hạ.
Lý có nhiệt thì nên dùng Bạch hổ gia Nhân sâm thang. Biểu chưa giải thì dùng Sài hồ quế chi thang điều hòa dinh vệ, thông tân dịch, sau đó tự khỏi.
LỜI ÁN
Phát hãn quá nhiều, vong dương, nói sảng, vì không có đại tiện cứng, đầy đau nên không thể công hạ. Vì không có thân lạnh, ra mồ hôi, sợ lạnh nên không thể dùng phép ôn.
Qua đó biết phát hãn Thái dương quá nhiều gây nói sảng thì không còn phát nhiệt, ra mồ hôi, sợ lạnh.
Phát hãn Dương minh quá nhiều gây nói sảng thì có triều nhiệt, sợ nóng, không đi đại tiện.
Ở đây là phát hãn Thiếu dương quá nhiều gây nói sảng, tức điều trong luận nói Thiếu dương không được phát hãn, phát hãn thì nói sảng.
Ngoài Tiểu sài hồ thang không có trị pháp khác. Nhưng chỉ dùng Sài hồ lại e thăng tán, không thích hợp với vong dương, nên hợp Quế chi để điều hòa dinh vệ, thông tân dịch, tự có thể khỏi.
ĐIỀU VĂN
Dương minh trúng phong, mạch huyền, phù, đại, đoản khí, bụng đầy, dưới sườn và vùng tim đau; ấn lâu, khí vẫn không thông, mũi khô, không có mồ hôi, thích nằm, toàn thân và mắt đều vàng, tiểu tiện khó, có triều nhiệt, từng lúc uế, trước sau tai sưng.
Châm thì hơi đỡ. Ngoại chứng chưa giải, bệnh quá mười ngày, mạch tiếp tục phù, dùng Tiểu sài hồ thang.
Mạch chỉ phù, không còn chứng khác, dùng Ma hoàng thang. Nếu không tiểu tiện, bụng đầy, lại thêm uế thì không trị được.
LỜI ÁN
Chữ “phù” trong “mạch tiếp tục phù” phải là “huyền” mới hợp ý nghĩa, mới có thể dùng Tiểu sài hồ thang.
Nếu đều là “phù”, mạch phù ở trên dùng Tiểu sài hồ, thì vì sao mạch phù ở dưới lại dùng Ma hoàng?
CHÚ GIẢI
Trúng phong truyền Dương minh, bệnh Thái dương chưa hết, mạch đáng lẽ phù hoãn.
Nay mạch huyền, phù, đại: huyền là mạch Thiếu dương, phù là mạch Thái dương, đại là mạch Dương minh. Mạch đã kiêm nhiều kinh, chứng cũng như vậy.
Bụng đầy là chứng Thái dương, Dương minh. Dưới sườn và vùng tim đau, ấn lâu mà khí không thông dễ chịu, là chứng Thiếu dương.
Mũi khô là chứng Dương minh. Không có mồ hôi là chứng Thái dương. Thích nằm là chứng Thiếu âm. Mặt mắt đều vàng là chứng Thái âm.
Tiểu tiện khó là chứng phủ Thái dương. Triều nhiệt là lý chứng Dương minh. Uế nghịch là chứng vị suy bại. Trước sau tai sưng là chứng Thiếu dương. Đoản khí là chứng khí suy.
Những điều Trọng Cảnh lập phép mà không nêu phương đều là chứng âm dương xen tạp, biểu lý lẫn lộn như vậy. Chỉ dạy người học đợi xem hướng bệnh thế, nắm thời cơ để trị.
Vì vậy dùng phép châm, đợi bệnh hơi đỡ. Nếu ngoại chứng không giải thì đã thành tình trạng nguy hiểm.
Quá mười ngày, mạch tiếp tục huyền, không phù, là tà đã hướng về Thiếu dương. Có thể dùng Tiểu sài hồ hòa giải, khiến tà Dương minh theo Thiếu dương mà giải.
Nếu mạch chỉ phù, không đại, không còn chứng khác, là tà đã hướng về Thái dương. Dùng Ma hoàng thang phát hãn, khiến tà Dương minh theo Thái dương mà giải.
Nếu đã hơn mười ngày, bệnh thế không giảm, không quy về vị mà thành thực, lại thêm không tiểu tiện, bụng đầy, uế nặng và các chứng nghịch, thì dù có một, hai dấu hiệu có thể công hạ, vị khí đã suy bại, không thể trị.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này hoàn toàn là biểu chứng chưa giải, không có ra mồ hôi, táo khát, nên không dùng Bạch hổ.
Tuy có triều nhiệt nhưng không có cứng đầy, nói sảng, mồ hôi ra liên tục, nên không dùng Thừa khí.
Không bằng đợi khí tự hồi phục, vẫn có thể dần dẫn tà ra ngoài.
Trình Ứng Mao nói: Điều này lấy ba chữ “không có mồ hôi” làm chủ. Vì vậy cân nhắc giữa Sài hồ và Ma hoàng để khai thông sự bế tắc lâu ngày; nói chung là cần có mồ hôi.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù mà khâu. Phù thuộc dương, khâu thuộc âm. Phù và khâu cùng tác động, vị khí sinh nhiệt, phần dương ấy sẽ tuyệt.
CHÚ GIẢI
Mạch phù khâu, phù là dương thịnh, khâu là âm hư.
Dương thịnh thì phát nhiệt, âm hư thì ra mồ hôi. Hai bên tác động, nhiệt trong vị càng thịnh, tân dịch trong vị nhanh chóng hao mất.
“Phần dương ấy sẽ tuyệt” nghĩa là dương hao mất, tân dịch kiệt.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Phù là khí đi lên nên gọi dương; khâu là huyết bên trong tổn thương nên gọi âm.
Vị sinh nhiệt là âm không đủ hòa dương, tân dịch khô, thành khô táo.
Trương Lộ nói: Điều này nói chứng tỳ ước đáng công hạ mà không công hạ, mạch phù sáp chuyển thành phù khâu, tân dịch kiệt, khó công hạ.
“Dương ấy sẽ tuyệt” tức dương tuyệt ở lý, là cách diễn đạt tương ứng với hao mất tân dịch.
Triệu Lương nói: Dương nhiệt trong vị quá thịnh, tỳ không có âm khí để hòa, cô dương không có phần phối hợp, sẽ nung đốt đến kiệt mới ngừng.
Thẩm Minh Tông nói: Đây là phân biệt mạch của Dương minh khi tân dịch kiệt.
Phù là tà khí mạnh, khâu là âm huyết hư. Dương tà thịnh, âm huyết hư, phù và khâu tác động, vị khí sinh nhiệt, nên nói dương ấy sẽ tuyệt; cũng là cách nói tương ứng với hao tân dịch.
Thấy mạch này phải dưỡng tân dịch, không thể vội công hạ.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, trái lại không có mồ hôi mà tiểu tiện lợi. Hai, ba ngày, nôn mà ho, tay chân quyết lạnh, ắt khổ vì đau đầu.
Nếu không ho, không nôn, tay chân không quyết lạnh thì đầu không đau.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh thường nhiều mồ hôi, nay trái lại không có mồ hôi mà tiểu tiện lợi, là hàn khí công vào trong.
Đến hai, ba ngày nôn mà ho, là hàn tà nghịch lên. Tay chân quyết lạnh là hàn khí biểu hiện ở tứ chi.
Khí nghịch lên thì ho, đau đầu nhiều. Nếu không ho, không nôn, không quyết lạnh thì đầu không đau.
Đau đầu của chứng này là ngọn; ho nghịch, tay chân quyết lạnh là gốc.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Không có mồ hôi, tiểu tiện lợi, nôn, ho, chi quyết, đau đầu, vì sao không gọi bệnh Thái dương?
Vì lúc đầu không có đau đầu và các biểu chứng. Đau đầu này do sau hai, ba ngày nôn, ho, quyết lạnh mà sinh, không phải vì đau đầu rồi gây nôn, ho, quyết lạnh.
Nôn và ho đều có ở Thái dương, Thiếu dương. Biểu chứng chưa giải thì thuộc Thái dương; nóng lạnh qua lại thì gọi Thiếu dương.
Quyết lạnh có ở Quyết âm, nhưng không kiêm nôn và ho như ở đây.
Trương Lộ nói: Dương minh không có mồ hôi, nôn, ho, tay chân quyết lạnh, là dinh vệ cùng tổn thương, tà vào sâu.
Nhưng tiểu tiện lợi thì tà không ở trong mà ở ngoài, không ở dưới mà ở trên, nên biết ắt đau đầu nhiều. Vẫn nên dùng Tiểu thanh long chủ trị.
Nếu không nôn, không ho, không quyết lạnh mà tiểu tiện lợi, tà ắt thuận đường thủy đạo mà ra, sao lại nghịch công lên đỉnh đầu?
Lâm Lan nói: Phải biết Dương minh cũng có tay chân quyết lạnh. Vị chủ tứ chi, trung hư, khí hàn gây ra.
Nhưng đau đầu nhiều mà ho, tự khác với âm hàn chỉ có quyết lạnh. Những điều loại này rất khó giải.
Ngô Nhân Câu nói: Nôn, ho, tay chân quyết lạnh, đau đầu đều do trái lại không có mồ hôi.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, chỉ đầu choáng, không sợ lạnh, ăn được mà ho, họng người ấy ắt đau. Nếu không ho thì họng không đau.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh đáng lẽ sợ nóng, không sợ lạnh. Nếu từ thương hàn truyền đến thì không ăn được; nay từ trúng phong truyền đến nên ăn được.
Thương hàn kèm hàn tà thì có đau đầu; trúng phong kèm phong tà thì có đầu choáng, lẽ vốn như vậy.
Hàn tà thuộc âm, nếu kiêm thủy ẩm thì ho mà nôn. Nay không nôn mà đau họng, vì phong thuộc dương tà, phong bệnh kiêm hỏa, nên ho mà họng đau, theo cùng loại mà ứng.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Choáng là phong xoay chuyển khiến mắt hoa. Do phong nên không sợ lạnh, ăn được.
Ho là khí nghịch. Họng liên hệ với vị. Vị nhiệt, khí nghịch công lên họng, thì ho làm tổn thương họng.
Trình Tri nói: Âm tà đi xuống nên không có mồ hôi, tiểu tiện lợi. Dương tà đi lên nên không sợ lạnh, đầu choáng.
Hàn thì nôn, không ăn được; phong thì ăn được. Hàn thì đau đầu; phong thì đau họng. Đó là phân biệt phong và hàn vào vị.
Trình Ứng Mao nói: Dương minh lấy đi xuống làm thuận, nghịch thì đi lên. Trúng hàn có đau đầu, trúng phong có đầu choáng.
Không sợ lạnh mà ăn được thì biết nhiệt uất ở lý.
Hàn công lên gây ho, ho kiêm nôn nên không ăn được, tay chân quyết lạnh. Nhiệt công lên cũng gây ho, nhưng ho không nôn nên ăn được, họng đau. Vì vị khí thông lên phế, họng là cửa của vị phủ.
Đau họng vốn có ở Thiếu âm. Nay do ho làm tổn thương mà đau, không ho thì không đau, lại có đầu choáng, không sợ lạnh, càng phân biệt được là uất nhiệt Dương minh.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh có hàn, lại phát hãn, trong vị lạnh, ắt nôn ra giun đũa.
CHÚ GIẢI
“Có hàn” nghĩa là trong vị có hàn. “Lại phát hãn” nghĩa là đã phát hãn rồi phát hãn thêm.
Vị hàn lại phát hãn, dương khí càng suy vi, vị càng lạnh, giun không yên nên ắt nôn ra giun. Có thể dùng Lý trung thang để uống Ô mai hoàn.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Mồ hôi sinh từ tinh hoa thủy cốc, do dương khí trong vị tạo thành.
Có hàn lại phát hãn thì biết vị dương không còn được giữ bên trong. Giun sao có thể yên?
ĐIỀU VĂN
Sau phát hãn, nước và thuốc không vào miệng được, là nghịch. Nếu phát hãn thêm thì ắt nôn, hạ lợi không ngừng.
LỜI ÁN
Chữ “hạ” trong “ắt nôn, hạ lợi không ngừng” phải là văn thừa.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên: sai rồi lại sai, ắt biến thành nghịch.
Trong vị hư lạnh vốn do phát hãn nhầm. Nước và thuốc không vào miệng được, vào thì nôn, là nghịch.
Nếu phát hãn thêm thì vị nghịch càng nặng, không thể tiếp nhận. Không chỉ nước thuốc vào mới nôn, mà ắt nôn nghịch liên tục.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Sau phát hãn, nước thuốc không vào miệng được là nôn nghịch.
Phát hãn làm hao dương, vị hư lạnh. Nếu phát hãn thêm thì dương khí càng tổn thương, vị khí đại hư, nên nôn không ngừng.
Trình Ứng Mao nói: Sau phát hãn thấy chứng này là vì trước đó người bệnh đã trung hư, có hàn. Vì vậy một lần sai đã không chịu nổi, không thể sai thêm.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù mà trì, biểu nhiệt, lý hàn, hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu; Tứ nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, mạch phù trì: phù chủ biểu nhiệt, trì chủ lý hàn.
Nay có hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, là lý hàn quá nặng. Phép trị phải ôn, nên dùng Tứ nghịch thang.
TẬP CHÚ
Uông Hổ nói: Bệnh ở kinh Dương minh, mạch đáng lẽ trường; nay chỉ phù, là nhiệt ở biểu ngưng lại.
Bệnh ở phủ, mạch đáng lẽ sác; nay quá trì, là hàn ở lý rất nặng, nên hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu.
Thức ăn đi ra không đổi màu, không hôi, tức nguyên hạt chưa tiêu hóa. Đây là lý hàn cực nặng, nên dùng Tứ nghịch thang.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh muốn giải, từ giờ Thân đến giờ Tuất.
CHÚ GIẢI
Mọi bệnh Dương minh, bất kể ở kinh hay ở phủ, đều nhân lúc khí của kinh vượng mà giải.
Thân, Dậu, Tuất là lúc Dương minh vượng. Kinh khí vượng thì tà khí tự lui, nên bệnh giải.
TẬP CHÚ
Trương Chí Thông nói: Kinh nói: “Mặt trời về phía Tây thì dương khí suy”, là thời Dương minh chủ.
Từ Thân đến Tuất là lúc Dương minh chủ khí. Tà ở biểu lý muốn thoát thì theo lúc khí vượng mà giải.
CHÚ ÂM CUỐI THIÊN
Nguyên bản ghi cách đọc một số chữ: “yểm” đọc gần “yếm”; “phu” đọc như “phu”; “đoàn” đọc như “đoàn”; “thỉ” đọc như “thỉ”; “mô” đọc gần “mạc”; “niệm” đọc gần “nhiếp”; “trám” dùng phép phiên thiết Trang–Hãm; “đĩnh” dùng âm Đình, thanh thượng; “nhiễu” đọc như “nhiễu”; “hội” dùng phép phiên thiết Chiêm–Đối; “truật” có chữ đầu của phép phiên thiết bị khuyết, chữ sau là Luật; “đản” đọc gần “đán”; “hà” dùng phép phiên thiết Hạp–Nha; “sấu” đọc như “sấu”; “diêu” dùng phép phiên thiết Thời–Nhiêu; chữ chỉ vỏ cây Bá đọc gần “bá”; “lạo” dùng phép phiên thiết Lang–Đáo; “phí” đọc gần “phất”; “niệu” cùng nghĩa với “nịch”; “chuyển” dùng phép phiên thiết Chu–Luyến; một chữ khuyết đọc như “ế”; “hồi” đọc như “hồi”.
Các chỉ dẫn trên ghi âm theo hệ chú âm cổ của nguyên bản, không phải hướng dẫn phát âm tiếng Việt hiện đại.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam của Chi tử bá bì thang là liều tham khảo hiện đại, không phải phép quy đổi chính xác đơn vị cổ. Cơ sở dữ liệu phương tễ của Đại học Baptist Hồng Kông ghi Chi tử 10 g, Cam thảo chích 3 g, Hoàng bá 6 g. sys01.lib.hkbu.edu.hk
Đề nghị đổi Cam thảo thành Nhân trần cao là ý kiến hiệu đính của lời án; bản dịch vẫn giữ Cam thảo trong nguyên phương. Tương tự, các đề nghị thêm câu “gây nôn vào ngày thứ năm, thứ sáu”, bỏ chữ “hạ”, đổi mạch “phù” thành “huyền”, hoặc chuyển vị trí câu chỉ định Đại thừa khí đều được giữ riêng, không sửa lẫn vào điều văn.
Các chữ khuyết được phục hồi khi ngữ cảnh rõ: “硬” là cứng, “谵语” là nói sảng, “懊憹” là áo não, “胁” là sườn. Những chữ khuyết liên quan đến khí nghẹn có tiếng được diễn đạt theo chú giải của sách. Bộ chú này phân biệt “uế” là nôn khan với “nấc”; đó là cách giải của chú gia, không phải cách dùng thuật ngữ thống nhất trong mọi tài liệu.
Giờ Thân đến giờ Tuất tương ứng khoảng 15 đến 21 giờ theo cách chia giờ thông dụng. Đây là quan niệm thời điểm giải bệnh trong cổ thư, không phải căn cứ chờ bệnh tự khỏi.
Các lời tiên lượng “sống”, “chết”, “không trị được” được dịch đúng ý lịch sử, không dùng như kết luận hiện đại. Nói sảng, mắt nhìn bất thường, không tiểu tiện hoặc nôn đến mức không uống được nước đều cần đánh giá y tế khẩn cấp.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH THIẾU DƯƠNG — TOÀN THIÊN
Thiếu dương chủ mùa xuân. Khí của mùa xuân một nửa đã ra ngoài mặt đất, một nửa còn ở trong lòng đất; khí trong cơ thể người cũng như vậy, cho nên Thiếu dương chủ nửa biểu nửa lý. Nửa biểu là nói đến Thái dương ở phía ngoài; nửa lý là nói đến Thái âm ở phía trong. Tà đi vào khoảng giữa ấy, âm dương chuyển dịch, rét nóng xen nhau xuất hiện; tà khí và chính khí giằng co, tiến lui chống giữ lẫn nhau. Trong tình thế này, cả ba phép phát hãn, gây nôn và công hạ đều thuộc điều cấm, vì vậy lập phép hòa giải bằng Tiểu sài hồ thang, tùy chứng gia giảm mà điều trị.
Tuy nhiên, trong phép gia giảm Tiểu sài hồ thang lại có trường hợp: miệng không khát, thân hơi nóng thì thêm Quế chi để lấy mồ hôi. Lại có trường hợp sau khi công hạ, ngực sườn đầy, hơi kết, tiểu tiện không thông lợi, khát mà không nôn, đầu ra mồ hôi, rét nóng qua lại thì dùng Sài hồ quế chi can khương thang để phát hãn.
Lại có trường hợp chứng Sài hồ đã đầy đủ mà thầy thuốc lại công hạ, khiến vùng dưới tâm đầy, cứng và đau: đó là kết hung, Đại hãm hung thang chủ trị. Hoặc chứng Sài hồ vẫn còn thì trước hết cho Tiểu sài hồ thang; nếu nôn không dứt, vùng dưới tâm căng tức, âm ỉ hơi phiền thì bệnh chưa giải, cho Đại sài hồ thang để công hạ.
Còn có trường hợp vốn là chứng Sài hồ, thầy thuốc dùng thuốc hoàn công hạ, khiến hơi tiêu chảy, ngực sườn đầy mà nôn, chiều muộn phát triều nhiệt thì dùng Tiểu sài hồ gia mang tiêu thang để công hạ.
Như vậy, Trọng Cảnh cũng có phép phát hãn và công hạ trong bệnh Thiếu dương. Điều cốt yếu là khi lâm chứng phải xét kỹ, tùy bệnh mà điều trị, không được cố chấp một phép.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu dương có biểu hiện: miệng đắng, họng khô, mắt hoa.
CHÚ GIẢI
Thiếu dương là kinh Đởm. Đường kinh khởi ở khóe mắt ngoài, từ phía sau tai đi vào trong tai, đi sát họng rồi ra vùng cằm và hàm. Tà làm tổn thương kinh ấy, cho nên miệng đắng, họng khô, mắt hoa.
Miệng đắng là do nhiệt hun đốt, khiến khí Đởm tràn lên trên. Họng khô là do nhiệt hao tổn tân dịch. Mắt hoa là do nhiệt hun lên mắt, khiến trước mắt tối sầm.
Điều này nêu tổng cương về tà của trúng phong và thương hàn truyền vào Thiếu dương. Trong thiên này, hễ nói Thiếu dương trúng phong hoặc Thiếu dương thương hàn thì đều có những chứng ấy.
TẬP CHÚ
Lâm Lan nói: Trong luận, khi nói bệnh Thiếu dương đã trình bày rõ những chứng nửa biểu nửa lý như ngực sườn đau, tai điếc, rét nóng qua lại, tâm phiền, hay nôn, ngực sườn bĩ cứng. Vậy tại sao ở đây lại nói miệng đắng, họng khô, mắt hoa? Đại để những bệnh ở kinh lạc đã được nói đầy đủ trong các điều của thiên này; còn nếu phủ Đởm tự mắc bệnh do nhiệt thì nhất định lại có những chứng này.
Thẩm Minh Tông nói: Tuy đây là những chứng chung của Thiếu dương, nhưng thiên về lý. Thiếu dương chủ Đởm, đường kinh đi theo vùng sườn và liên lạc với tai, cho nên ngực sườn đau mà tai điếc. Trọng Cảnh nêu thêm một cách nhận xét riêng để bổ sung những lý chứng miệng đắng, họng khô, mắt hoa; đó là nói bao quát cả phong làm tổn thương vệ, hàn làm tổn thương dinh, cũng như phong hàn cùng gây tổn thương trong bệnh Thiếu dương.
Ngô Nhân Câu nói: Thiếu dương là nhất dương. Trên Thiếu dương, tướng hỏa làm chủ. Nếu bệnh theo hỏa mà hóa thì hỏa thịnh gây khô, cho nên miệng đắng, họng khô. Thiếu dương thuộc mộc, mộc chủ Can, Can chủ mắt, cho nên mắc bệnh thì mắt hoa.
Ngụy Lệ Đồng nói: Phủ Đởm và kinh Thiếu dương có quan hệ biểu lý; quan hệ ấy không phải điều được gọi là nửa biểu nửa lý. Nửa biểu là nói đối với toàn biểu của Thái dương; nửa lý là nói đối với toàn lý của Thái âm. Vì vậy, Thiếu dương ở khoảng nửa biểu nửa lý, nói chung là xét theo ranh giới của kinh lạc.
Ông lại nói: Câu trong kinh văn “không nhất thiết phải có đủ tất cả” là chỉ những chứng phụ có thể xuất hiện. Còn các chủ chứng của kinh Thiếu dương và phủ Đởm thì chưa từng có chuyện không đầy đủ mà đã vội xác định bệnh Thiếu dương đã hình thành.
ĐIỀU VĂN
Thiếu dương trúng phong, hai tai không nghe được, mắt đỏ, trong ngực đầy mà phiền thì không được gây nôn hoặc công hạ. Nếu gây nôn, công hạ thì sẽ hồi hộp và kinh sợ.
CHÚ GIẢI
Thiếu dương là nói những chứng miệng đắng, họng khô, mắt hoa ở điều đầu. Trúng phong nghĩa là bệnh Thiếu dương này do tà trúng phong truyền đến.
Đường kinh Thiếu dương khởi ở khóe mắt ngoài, từ phía sau tai đi vào trong tai. Nhánh của nó hội ở Khuyết bồn, đi xuống trong ngực rồi men theo vùng sườn. Biểu tà truyền vào kinh này, cho nên mắt đỏ, tai điếc, trong ngực đầy mà phiền.
Tuy nhiên, đây là chứng ngực đầy mà phiền thuộc nửa biểu nửa lý của Thiếu dương, không giống chứng ngực đầy mà phiền do tà hãm vào trong khi các chứng Thái dương còn đầy đủ. Vì vậy không được gây nôn hoặc công hạ. Nếu gây nôn, công hạ thì làm hư phần bên trong, thần chí suy yếu, nhút nhát, do đó hồi hộp và kinh sợ.
Điều này nêu đại cương về tà trúng phong truyền vào Thiếu dương.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Thiếu dương chỉ nên hòa giải. Nếu gây nôn thì làm hư dương mà sinh hồi hộp; nếu công hạ thì làm hư âm mà sinh kinh sợ.
Uông Hổ nói: Thiếu dương có điều cấm gây nôn và công hạ. Chỉ vì thấy phiền và đầy mà người ta dùng nhầm hai phép ấy. Thành Vô Kỷ chú rằng: gây nôn làm tổn thương khí, khí hư thì hồi hộp; công hạ làm hao huyết, huyết hư thì kinh sợ. Nhưng kinh sợ và hồi hộp đều liên quan đến Tâm. Gây nôn rồi lại công hạ sai phép khiến tân dịch suy hao, thần chí suy yếu, nhút nhát, cho nên hồi hộp và kinh sợ.
Thẩm Minh Tông nói: Trong ngực phiền đầy, dường như có thể gây nôn. Nhưng bệnh ở Thiếu dương, tà đã đi xuống ngực và theo vùng sườn; gây nôn chỉ làm tổn thương khí trong ngực, khiến tà dồn vào trong, bức bách thần minh, do đó hồi hộp và kinh sợ.
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều này Trọng Cảnh không nêu phương thuốc. Trong điều Tiểu sài hồ có những chứng tâm phiền và hồi hộp ở vùng dưới tâm, có lẽ không cần tìm phương khác. Cả ba phép phát hãn, gây nôn và công hạ đều không thể dùng thì phải hòa giải. Tiểu sài hồ là thuốc phù hợp với chứng Thiếu dương, nên có thể quyết định dùng phương ấy.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch huyền tế, đau đầu, phát nhiệt thì thuộc Thiếu dương. Thiếu dương không được phát hãn; phát hãn thì nói sảng. Đó là bệnh chuyển thuộc Vị. Vị hòa thì khỏi; Vị không hòa thì phiền và hồi hộp.
CHÚ GIẢI
Không nói “Thiếu dương thương hàn” mà chỉ nói “thương hàn” là cách nói tóm lược, nghĩa là bệnh Thiếu dương này do tà thương hàn truyền đến.
Mạch huyền tế là mạch Thiếu dương. Điều trên không nói mạch, điều này nói mạch để bổ sung. Đau đầu, phát nhiệt, không có mồ hôi là chứng thương hàn; lại kèm những chứng Thiếu dương như miệng đắng, họng khô, mắt hoa, cho nên nói thuộc Thiếu dương.
Bệnh Thiếu dương đã thuộc nửa lý, vì vậy không được phát hãn. Nếu phát hãn thì càng tổn thương tân dịch, lại giúp nhiệt tăng lên, nhất định phát nói sảng. Đã nói sảng thì bệnh đã chuyển thuộc Vị.
Nếu người ấy vốn có tân dịch đầy đủ, Vị có thể tự hòa thì bệnh có thể khỏi. Nếu không, tân dịch khô, nhiệt kết, Vị không thể hòa; chẳng những nói sảng mà còn thêm phiền và hồi hộp.
Điều này nêu đại cương về tà thương hàn truyền vào Thiếu dương.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói: Đau đầu, phát nhiệt thường là bệnh ở biểu. Tại sao riêng đau đầu, phát nhiệt ở đây lại thuộc Thiếu dương? Vì mạch huyền tế, nên biết tà đã vào phạm vi Thiếu dương.
Dụ Xương nói: Thiếu dương thương hàn cấm phát hãn; Thiếu dương trúng phong cấm gây nôn và công hạ. Hai ý được nêu bổ sung cho nhau, khiến lời răn càng nghiêm.
Đau đầu, phát nhiệt của thương hàn vốn thường thích hợp với phát hãn, mà ở đây còn không được phát hãn, thì trúng phong không được phát hãn càng không cần nói. Ngực đầy mà phiền của trúng phong, dường như có thể gây nôn hoặc công hạ, mà còn không được dùng hai phép ấy, thì thương hàn không được gây nôn hoặc công hạ càng không cần nói.
Mạch huyền tế là tà muốn vào lý, tân dịch ở Vị đã bị nhiệt hao tổn. Lại phát hãn để đẩy tân dịch ra ngoài, làm sao không sinh nói sảng?
Uông Hổ nói: Phát hãn sai phép mà sinh nói sảng là do tân dịch bị đoạt, Vị khô, cho nên lời nói rối loạn. Tà Thiếu dương đã chuyển thuộc Vị. “Vị hòa thì khỏi” nghĩa là phải dùng thuốc hạ nhiệt trong Vị, khiến Vị được điều hòa. Nếu Vị không hòa thì chẳng những nói sảng, mà còn thêm phiền loạn, hồi hộp. Đó là nói Vị nhiệt phạm lên Tâm, khiến thần được tàng giữ không thể yên ổn.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn hoặc trúng phong đến ngày thứ năm, thứ sáu, rét nóng qua lại, ngực sườn đầy tức khó chịu, lặng lẽ không muốn ăn uống, tâm phiền, hay nôn; hoặc trong ngực phiền mà không nôn; hoặc khát; hoặc đau bụng; hoặc dưới sườn bĩ cứng; hoặc vùng dưới tâm hồi hộp, tiểu tiện không thông lợi; hoặc không khát, thân hơi nóng; hoặc ho: Tiểu sài hồ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối ba điều trên, bổ sung chứng trạng cho nhau để làm rõ phép trị.
Thương hàn hoặc trúng phong đến ngày thứ ba, thứ tư, thấy miệng đắng, họng khô, mắt hoa và mạch huyền tế thì biết tà đã truyền vào Thiếu dương. Nếu kèm tai điếc, mắt đỏ, ngực đầy mà phiền thì biết bệnh từ trúng phong truyền đến; nếu kèm đau đầu, phát nhiệt, không có mồ hôi thì biết bệnh từ thương hàn truyền đến.
Nay đến ngày thứ năm, thứ sáu, lại thấy rét nóng qua lại, ngực sườn đầy tức khó chịu, lặng lẽ không muốn ăn uống, tâm phiền, hay nôn thì biết đây là những chứng cùng có thể xuất hiện trong cả trúng phong và thương hàn.
Tà Thiếu dương tiến có thể truyền vào lý của Thái âm, lui có thể trở về biểu của Thái dương, còn ở giữa thì nằm trong khoảng nửa biểu nửa lý. Tà dồn ra ngoài, nửa biểu không giải thì phát rét; tà dồn vào trong, nửa lý không hòa thì phát nóng. Khi ở biểu, khi ở lý, không cố định, cho nên rét nóng qua lại không nhất định.
Đường kinh Thiếu dương đi xuống ngực và theo vùng sườn. Tà tụ vào kinh ấy, cho nên ngực sườn đầy tức khó chịu. Tà Thiếu dương đã gần phần âm, cho nên người bệnh lặng lẽ. Thiếu dương thuộc mộc, khi mắc bệnh thì mộc tà cản trở thổ, cho nên không muốn ăn uống.
Tà ở ngực sườn, hỏa không có đường tiết ra, bức lên Tâm, cho nên tâm phiền. Tà muốn vào lý mà lý khí chống ra ngoài, cho nên nôn; nôn thì mộc khí được thư giải, vì vậy hay nôn. Đó đều là những chứng thường có của phương Sài hồ.
Những chứng khác có thể thỉnh thoảng xuất hiện; nói chung đều nên lấy Tiểu sài hồ thang làm chủ, tùy chứng hiện có mà gia giảm điều trị.
Đã phân biệt tà từ trúng phong hoặc thương hàn truyền đến, tại sao lại không phân biệt phép trị? Vì ở Thái dương có sự phân chia dinh và vệ, cho nên phải phân biệt phong hàn chặt chẽ. Khi truyền đến Dương minh, Thiếu dương thì không còn phân chia dinh vệ như vậy; hơn nữa, tà đều đã hóa nhiệt, cho nên phép trị cùng quy về một hướng.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Tà ở khoảng giữa biểu và lý được gọi là nửa biểu nửa lý. “Thương hàn, trúng phong” nghĩa là hoặc thương hàn, hoặc trúng phong, không phải đã thương hàn rồi lại trúng phong, hoặc đã trúng phong rồi lại thương hàn.
Ngày thứ năm, thứ sáu là lúc tà từ biểu truyền vào lý. Tà ở biểu thì rét, ở lý thì nóng; nay ở khoảng nửa biểu nửa lý, chưa có chỗ cố định, cho nên rét nóng qua lại.
Tà ở biểu thì vùng tâm và bụng không đầy; tà ở lý thì vùng tâm và bụng trướng đầy. Nay nói ngực sườn đầy tức khó chịu, cũng là biểu hiện tà ở khoảng giữa biểu và lý.
Tà ở biểu thì người bệnh rên rỉ không yên; tà ở lý thì bên trong phiền. Kinh nói: “Dương đi vào âm thì yên lặng.” Người bệnh lặng lẽ là vì tà đang từ biểu vào lý, ở khoảng giữa biểu và lý.
Tà ở biểu thì còn ăn được; tà ở lý thì không ăn được. Không muốn ăn chưa đến mức nhất định không thể ăn, cho nên cũng thuộc khoảng giữa biểu và lý.
Tà ở biểu thì không phiền, không nôn; tà ở lý thì phiền đầy mà nôn. Phiền và hay nôn là tà ở biểu đang truyền vào lý. Tà mới vào lý, chưa có chỗ cố định, đường truyền không chỉ một, cho nên có những chứng có thể xuất hiện hoặc không.
Phương Hữu Chấp nói: Ngày thứ năm, thứ sáu chỉ là nói đại khái. Rét nóng qua lại là do tà đi vào phía trong thân thể nhưng còn ở ngoài tạng phủ, tại khoảng giáp ranh giữa hai phần; đó là nửa biểu nửa lý, thuộc phạm vi Thiếu dương làm chủ.
Vì vậy, tà đi vào và dồn về âm thì rét; đi ra và dồn về dương thì nóng. Ra vào không cố định, cho nên rét nóng xen nhau xuất hiện.
Riêng kinh Thái dương có sự khác nhau giữa dinh và vệ, cho nên phong và hàn có phép trị khác nhau. Dương minh sát với Thái dương, đường vận hành của dinh vệ còn gần, vì vậy sự phân biệt phong hàn vẫn phải chặt chẽ. Kinh Thiếu dương đã vượt qua Dương minh, cách xa Thái dương, nên phong hàn không còn phép trị khác nhau.
Kinh văn dùng xen nhau các chữ thương hàn, trúng phong, ngày thứ năm thứ sáu và rét nóng qua lại là để làm rõ rằng phong hàn đến giai đoạn này đều cùng quy về một phép trị.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đoạn này chưa có cân lượng dược liệu nên chưa cần ghi lượng tham khảo hiện đại. Những chữ khuyết rõ nghĩa đã được phục hồi khi dịch: 胁 là “sườn”, 硬 là “cứng”, 谵语 là “nói sảng”. Các nhận định về kinh, phủ, dinh vệ và phép trị được giữ theo từng nhà chú giải, kể cả những chỗ cách giải thích khác nhau.
Trường Xuân biên soạn
TIỂU SÀI HỒ THANG 小柴胡汤
Sài hồ nửa cân (lượng tham khảo hiện đại: 24 g), Hoàng cầm ba lạng (9 g), Nhân sâm ba lạng (9 g), Bán hạ rửa sạch nửa thăng (lượng tham khảo hiện đại: 9 g), Cam thảo chích ba lạng (9 g), Sinh khương thái lát ba lạng (9 g), Đại táo bẻ ra mười hai quả (bản tham khảo hiện đại dùng bốn quả). Các lượng trong ngoặc là lượng tham khảo của phương hiện đại, không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng thời Hán. 记录页面
Bảy vị trên, dùng nước một đấu hai thăng, sắc còn sáu thăng, bỏ bã rồi sắc tiếp còn ba thăng. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày uống ba lần.
PHÉP GIA GIẢM
Nếu trong ngực phiền mà không nôn, bỏ Bán hạ và Nhân sâm, thêm một quả Qua lâu.
Nếu khát, bỏ Bán hạ, thêm Nhân sâm để tổng lượng, kể cả lượng đã có trong phương, thành bốn lạng rưỡi (lượng theo tỷ lệ thu nhỏ: 13,5 g), thêm Qua lâu căn bốn lạng (12 g).
Nếu đau bụng, bỏ Hoàng cầm, thêm Thược dược ba lạng (9 g).
Nếu dưới sườn bĩ cứng, bỏ Đại táo, thêm Mẫu lệ bốn lạng (12 g).
Nếu vùng dưới tâm hồi hộp, tiểu tiện không thông lợi, bỏ Hoàng cầm, thêm Phục linh bốn lạng (12 g).
Nếu không khát, bên ngoài hơi nóng, bỏ Nhân sâm, thêm Quế chi ba lạng (9 g). Uống ấm, ra chút mồ hôi thì khỏi.
Nếu ho, bỏ Nhân sâm, Đại táo và Sinh khương, thêm Ngũ vị tử nửa thăng, Can khương hai lạng (lượng theo tỷ lệ thu nhỏ: 6 g). Nửa thăng Ngũ vị tử là lượng đong, không có một số gam cố định để quy đổi trực tiếp.
PHƯƠNG GIẢI
Tà truyền đến Thái dương, Dương minh thì có các phép phát hãn, gây nôn và công hạ. Tà truyền đến Thiếu dương thì chỉ nên hòa giải; cả ba phép phát hãn, gây nôn và công hạ đều thuộc điều cấm, vì tà ở nửa biểu nửa lý, giằng co tại ranh giới bên trong thân thể.
Ở nửa biểu là khách tà gây bệnh; ở nửa lý là khí của cơ thể chịu bệnh. Tà khí và chính khí ở khoảng giữa hai phần ấy, mỗi bên đều không tiến không lui, giữ thế giằng co. Vì vậy lập phép hòa giải.
Dùng Sài hồ giải biểu hàn ở kinh Thiếu dương, Hoàng cầm giải lý nhiệt ở phủ Thiếu dương. Nhưng còn lo chính khí của Thái âm ở phía trong một khi suy hư thì tà khí ở kinh Thiếu dương sẽ thừa cơ xâm nhập. Cho nên dùng Sinh khương, Đại táo và Nhân sâm hòa trung, tăng sức cho lý khí từ trước, khiến lý không nhận tà mà được hòa, để tà trở ra biểu rồi giải.
Người đời không xét kỹ chỗ tà đang chiếm giữ có thật ở nửa biểu nửa lý hay không, có thích hợp với phép hòa giải hay không, cũng không phân biệt những chứng âm dương dễ lẫn, mà cứ lấy Tiểu sài hồ làm phương dùng theo khuôn.
Thầy thuốc mừng vì tưởng cách xử trí của mình không có lỗi; người bệnh thích vì thấy các vị thuốc ôn hòa. Nhưng không biết rằng cứ lần lữa như thế có thể làm hại người không ít. Vì vậy, người chữa bệnh phải nhận biết điều chưa xảy ra, sớm nắm lấy cơ chuyển của bệnh mà xử trí.
TẬP GIẢI
Trình Ứng Mao nói: Phương mang tên Tiểu sài hồ là lấy ý tương ứng với Thiếu dương. Còn ý nghĩa lập phương và phép gia giảm đã được bao quát trong câu: “Thượng tiêu được thông, tân dịch được xuống, Vị khí nhờ đó mà hòa.”
Trong phương, Sài hồ sơ mộc, khiến tà ở nửa biểu được tuyên giải ra ngoài; Hoàng cầm thanh hỏa, khiến tà ở nửa lý được thanh giải bên trong. Bán hạ khai thông đàm ẩm, giáng khí nghịch ở lý; Nhân sâm bổ hư bên trong, giúp khí sinh phát. Cam thảo phối hợp với Sài hồ và Hoàng cầm, điều hòa trong ngoài; Sinh khương và Đại táo phối hợp với Nhân sâm và Bán hạ, thông đạt dinh vệ. Các vị giúp đỡ nhau, khiến tà không hướng vào trong mà được giải ra ngoài.
Phiền mà không nôn là hỏa khí táo thực bức vào ngực, cho nên bỏ Nhân sâm và Bán hạ, thêm Qua lâu thực.
Khát là táo đã hao dịch, bức đến Phế, cho nên bỏ Bán hạ, thêm Qua lâu căn.
Đau bụng là mộc khí tản vào thổ, Vị dương bị cản trở, cho nên bỏ Hoàng cầm để yên thổ, thêm Thược dược để thu giữ mộc.
Dưới sườn bĩ cứng là tà lưu lại, khiến mộc khí thực, cho nên bỏ Đại táo có vị ngọt và tính hòa hoãn, thêm Mẫu lệ có vị mặn để làm mềm chỗ kết.
Vùng dưới tâm hồi hộp, tiểu tiện không thông lợi là thủy tà xâm phạm Tâm, cho nên bỏ Hoàng cầm đắng lạnh, thêm Phục linh nhạt thấm.
Không khát, thân hơi nóng là hàn ở nửa biểu còn lưu tại cơ biểu, cho nên bỏ Nhân sâm, thêm Quế chi để giải.
Ho là hàn ở nửa biểu xâm nhập Phế, cho nên bỏ Nhân sâm và Đại táo, thêm Ngũ vị tử, đổi Sinh khương thành Can khương để ôn. Tuy Phế hàn nhưng không giảm Hoàng cầm, vì lo Can khương trợ nhiệt.
Nói chung, tà ở Thiếu dương là nhiệt ở nửa biểu nửa lý, bị uất mà không thăng đạt, cho nên dùng Tiểu sài hồ để trị. Đó là ý tùy thuận sự thăng, giáng, phù, trầm mà điều chỉnh.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn hoặc trúng phong, có chứng Sài hồ, chỉ thấy một chứng là được, không nhất thiết phải có đủ tất cả.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối phần trên. Bất luận thương hàn hay trúng phong, tà truyền vào Thiếu dương, bệnh ở nửa biểu nửa lý, có chứng Sài hồ thì chỉ cần thấy một chứng, có thể dùng Tiểu sài hồ tùy chứng gia giảm, không cần chờ các chứng đều đầy đủ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này tiếp nối điều trên, nêu ý chính để nhận biết bệnh thuộc kinh Thiếu dương.
Trịnh Trọng Quang nói: “Có chứng Sài hồ, chỉ thấy một chứng là được, không nhất thiết phải có đủ tất cả” nghĩa là rét nóng qua lại là chứng Sài hồ. Ngoài ra, nếu kèm ngực sườn đầy cứng, tâm phiền, hay nôn, hoặc bất cứ một chứng nào trong các chứng đã nêu thì đó là nửa biểu nửa lý. Vì vậy mới nói: nôn mà phát nhiệt thì Tiểu sài hồ thang chủ trị.
Sài hồ là phương điều chỉnh xu cơ. Phong hàn chưa hoàn toàn ở biểu, cũng chưa hoàn toàn vào lý thì đều có thể dùng, cho nên không cần các chứng đều đầy đủ, mà phương có phép gia giảm.
Tuy nhiên, có những chứng giống chứng Sài hồ cần xét kỹ. Chẳng hạn dưới sườn đầy đau, vốn khát nhưng uống nước thì nôn, không thích hợp dùng Sài hồ. Hoặc chỉ muốn nôn, trong ngực đau, đại tiện hơi lỏng thì cũng không phải chứng Sài hồ. Những trường hợp ấy phải phân biệt cẩn thận.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn đến ngày thứ ba, mạch Thiếu dương nhỏ là bệnh sắp khỏi.
CHÚ GIẢI
Chữ thương hàn ở đây bao gồm cả trúng phong. Tà đến ngày thứ ba thì Thiếu dương nhận bệnh. Nếu mạch lớn là tà thịnh, muốn truyền tiếp; nay mạch nhỏ là tà suy, bệnh sắp tự khỏi.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Mạch nhỏ là dương được âm điều hòa, tà đã lui hết mà chính khí đang phục hồi.
Trương Tích Câu nói: Ngày thứ ba là thời kỳ Thiếu dương chủ khí. Mạch nhỏ thì bệnh lui.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn đến ngày thứ tư, thứ năm, thân nóng, sợ gió, cổ gáy cứng, dưới sườn đầy, tay chân ấm mà khát thì Tiểu sài hồ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn đến ngày thứ tư, thứ năm là lúc tà ở ba kinh dương.
Thân nóng, sợ gió là chứng Thái dương; cổ gáy cứng là chứng Thái dương và Dương minh; dưới sườn đầy, tay chân ấm mà khát là chứng Dương minh và Thiếu dương.
Đây là lúc bắt đầu hợp bệnh ba kinh dương, vốn phải cân nhắc bên nào hoãn, bên nào cấp để điều trị. Nhưng người bệnh dưới sườn đầy, tay chân ấm mà khát, đã bộc lộ cơ chuyển rời biểu vào lý, quy về Thiếu dương, cho nên riêng theo Thiếu dương mà trị.
Dùng Tiểu sài hồ làm chủ để hòa giải biểu lý. Đây là một phép dùng Sài hồ trong hợp bệnh ba kinh dương, dù các chứng Sài hồ chưa đầy đủ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Ba kinh dương đều hiện bệnh mà chỉ theo Thiếu dương, dùng Tiểu sài hồ để trị, là vì tà Thái dương và Dương minh nhẹ, Thiếu dương gần lý và lý chứng đã hiện. Vì vậy theo Thiếu dương, dùng một phép hòa mà cả ba đều được lợi.
Dụ Xương nói: Vốn nên theo phép trị hợp bệnh hoặc tính bệnh ba kinh dương mà dùng phép giải biểu. Nhưng tay chân ấm, lại thêm khát, là ngoại tà đã bức vào Thiếu dương, cơ chuyển hướng vào lý đã rõ. Nếu tiếp tục dùng thuốc cay ngọt phát tán thì càng tăng nhiệt và hao tổn nhiều tân dịch.
Vì vậy dùng phép hòa của Tiểu sài hồ, khiến dương tà lui mà âm dịch không bị tổn thương, một phép đạt được hai mục đích. Tiểu sài hồ thang phải theo phép gia giảm: không nôn mà khát thì bỏ Bán hạ, thêm Qua lâu căn mới đúng.
Trương Chí Thông nói: Tay chân ấm nghĩa là tay chân không lạnh. Không phải người bệnh tự cảm thấy ấm, mà người khám sờ thấy như vậy. Nếu không, tại sao đã nói thân nóng, lại còn nói tay chân ấm?
Uông Hổ nói: Điều này là ba kinh dương cùng mắc bệnh, nhưng tà Thiếu dương chiếm phần nhiều.
Thương hàn Thái dương đã đến ngày thứ tư, thứ năm, không nói phát nhiệt sợ gió mà chỉ nói thân nóng, đó là tà Thái dương đang suy dần. Chứng Dương minh đi kèm không nói mũi khô, không nằm được, mà chỉ nói cổ gáy cứng, đó là tà Dương minh cũng sắp suy.
Chỉ có dưới sườn đầy là chứng riêng của kinh Thiếu dương. Lại kèm tay chân ấm và khát thì cơ chuyển tà sắp truyền vào lý đã rõ.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, phát triều nhiệt, đại tiện lỏng, tiểu tiện bình thường, ngực sườn đầy không hết thì cho Tiểu sài hồ thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh phát triều nhiệt thì đáng lẽ đại tiện phải cứng, tiểu tiện nhiều lần. Nay đại tiện lỏng, tiểu tiện như thường thì biết đây không phải triều nhiệt do tà Dương minh nhập phủ.
Huống chi còn có chứng Thiếu dương là ngực sườn đầy không hết. Vì vậy không theo Dương minh mà trị, mà theo Thiếu dương, dùng Tiểu sài hồ thang làm chủ.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói: Bệnh Dương minh là Vị gia thực. Nay đại tiện lỏng mà vẫn gọi bệnh Dương minh là vì có ngoại chứng Dương minh: thân nóng, ra mồ hôi, không sợ lạnh mà lại sợ nóng.
Trình Ứng Mao nói: Mắc bệnh Dương minh mà phát triều nhiệt, dường như là dấu hiệu Vị thực. Nhưng Vị thực nhất định đại tiện cứng, tiểu tiện nhiều lần. Nay đại tiện lỏng, tiểu tiện bình thường thì nhiệt này không phải nhiệt nhập phủ. Lại xét chứng ngực sườn thì dùng Tiểu sài hồ làm chủ không còn nghi ngờ.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Dương minh, dưới sườn cứng đầy, không đại tiện mà nôn, trên lưỡi có rêu trắng thì có thể cho Tiểu sài hồ thang. Thượng tiêu được thông, tân dịch được xuống, Vị khí nhờ đó mà hòa; toàn thân ra mồ hôi nhuận đều rồi bệnh giải.
CHÚ GIẢI
Bệnh Dương minh, không đại tiện, dưới sườn cứng đầy mà nôn là bệnh Dương minh truyền sang Thiếu dương.
Nếu rêu lưỡi vàng, khô ráp thì nhiệt Dương minh chưa hết, nên cho Đại sài hồ thang để giải cả hai. Nay rêu lưỡi trắng, trơn nhuận là đã truyền sang Thiếu dương, cho nên có thể dùng Tiểu sài hồ để hòa giải.
Khi thượng tiêu được thông thì nôn có thể dứt; tân dịch được xuống thì đại tiện có thể thông; Vị khí nhờ đó mà hòa, cứng đầy được trừ, toàn thân sẽ ra mồ hôi nhuận đều rồi bệnh giải.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói Dương minh kiêm Thiếu dương thì nên dùng Tiểu sài hồ.
Không chỉ đại tiện lỏng mới chứng tỏ Vị chưa thực; ngay cả không đại tiện mà nôn cũng là tà chưa vào lý. Cứng đầy ở sườn chứ không ở bụng, rêu lưỡi trắng chứ không vàng, đều cho thấy chứng Thiếu dương nhiều hơn.
Vì vậy phải dùng Tiểu sài hồ để phân giải âm dương, khiến trên dưới thông hòa, ra mồ hôi nhuận đều, tà ở biểu và lý nhờ đó cùng được giải.
Trình Ứng Mao nói: Dưới sườn cứng đầy, không đại tiện mà nôn là chứng Đại sài hồ thang. Ở đây dùng Tiểu sài hồ vì rêu lưỡi trắng, vẫn còn mang biểu hàn.
Nếu rêu không trơn nhuận mà khô ráp, tức thuộc tình trạng trên lưỡi khô, phiền, muốn uống vài thăng nước, nghĩa là lý nhiệt đã hao tổn tân dịch, thì phương này không thể làm chủ.
Ông lại nói: “Thượng tiêu được thông” là đối chiếu với dưới sườn cứng đầy; “tân dịch được xuống” là đối chiếu với rêu lưỡi và nôn; “Vị khí nhờ đó mà hòa” là đối chiếu với không đại tiện. Điều trên nhận ra bệnh Dương minh từ triều nhiệt; điều này nhận ra bệnh Dương minh từ không đại tiện.
ĐIỀU VĂN
Phàm có chứng bệnh của Sài hồ thang mà bị công hạ, nếu chứng Sài hồ chưa hết thì lại cho Sài hồ thang. Nhất định sẽ nóng bừng rồi run, sau đó phát nhiệt, ra mồ hôi mà giải.
CHÚ GIẢI
Phàm có chứng bệnh của Sài hồ thang, không cho Sài hồ mà lại công hạ, nếu chưa biến thành bệnh khác và chứng Sài hồ vẫn còn thì có thể lại cho Sài hồ thang để giải.
Nhưng vì công hạ sai phép, chính khí tất đã hư, cho nên lúc giải bệnh sẽ nóng bừng, rồi run rét; tà và chính tranh nhau, sau đó ra mồ hôi mà giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Nóng bừng rồi run là phát chiến hãn. Nhất định phải như vậy rồi mới giải là vì sau công hạ, phần lý đã hư.
Trình Tri nói: Tà khí trở ra biểu, cho nên nóng bừng; sau công hạ, chính khí hư, cho nên run động.
ĐIỀU VĂN
Mắc bệnh sáu, bảy ngày, mạch trì, phù, nhược, sợ gió lạnh, tay chân ấm. Thầy thuốc công hạ hai, ba lần, khiến không ăn được, dưới sườn đầy đau, mặt, mắt và thân vàng, cổ gáy cứng, tiểu tiện khó. Sau khi cho Sài hồ thang, nhất định sẽ sinh cảm giác nặng trệ, mót rặn khi đại tiện.
Vốn khát mà uống nước thì nôn, không thích hợp cho Sài hồ thang. Ăn thức ăn ngũ cốc thì uế.
LỜI ÁN
Bốn chữ “ăn thức ăn ngũ cốc thì uế” là văn thừa. Ăn vào rồi nôn thì có, chưa từng có trường hợp ăn vào mà uế.
CHÚ GIẢI
Mắc bệnh sáu, bảy ngày là lúc Thiếu dương đi vào Thái âm.
Mạch trì là mạch Thái âm; phù nhược là mạch Thái dương. Sợ gió lạnh là chứng Thái dương; tay chân ấm là chứng Thái âm. Thầy thuốc không dùng Sài hồ quế chi thang để giải và hòa, mà lại công hạ hai, ba lần, khiến cả biểu và lý đều bị xử trí sai.
Nay không ăn được, dưới sườn đầy đau, tuy giống chứng Thiếu dương nhưng thực ra không phải Thiếu dương. Mặt, mắt và thân phát vàng thì chứng Thái âm đã đầy đủ; cổ gáy cứng là tà Dương minh chưa hết; tiểu tiện khó là biểu hiện tân dịch bị đoạt do công hạ nhiều lần.
Tất cả đều do thầy thuốc công hạ sai, khiến biểu lý xen lẫn, âm dương cùng mắc bệnh.
Nếu lại dựa vào một chứng dưới sườn đầy đau, lấy câu “không cần có đủ tất cả” để cho nhầm Sài hồ thang thì sau đó nhất định sinh nặng trệ, mót rặn khi đại tiện, tức khiến tà tiến thêm vào Thái âm.
Tuy có khát, nhưng đó là khát do nhiều lần công hạ làm mất tân dịch. Uống nước vào liền nôn cũng không phải chứng nôn vốn có của Thiếu dương, mà do công hạ sai gây ra. Vì vậy không thích hợp dùng Sài hồ thang.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Phần trước nói có chứng Sài hồ, chỉ thấy một chứng là được. Ở đây lại nói dưới sườn đầy đau cũng có trường hợp không thích hợp với Sài hồ, để làm lời răn.
Trình Ứng Mao nói: Chỉ xét một chứng khát để phân biệt: điều trước tay chân ấm mà khát là nhiệt ở lý, chưa bị công hạ nhiều lần, nên còn có thể tiếp nhận và vận hóa nước.
Nay vốn khát nhưng uống nước thì nôn, biết đây là khát do vùng cách khô, tân dịch hao mất. Công hạ nhiều lần khiến trung khí hư, không thể vận hóa nước; rốt cuộc không liên quan đến Vị dương nhiệt thịnh.
Như vậy, dùng Sài hồ thang cho Thiếu dương, sao có thể chỉ nói thấy một chứng là được? Lại sao có thể cứ nói sau công hạ, chứng Sài hồ chưa hết thì lại cho Sài hồ thang?
ĐIỀU VĂN
Thương hàn sáu, bảy ngày, phát nhiệt, hơi sợ lạnh, các khớp chi đau nhức khó chịu, hơi nôn, vùng dưới tâm có chỗ kết nhỏ, ngoại chứng chưa hết thì Sài hồ quế chi thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn sáu, bảy ngày, phát nhiệt, hơi sợ lạnh, các khớp chi đau nhức khó chịu, hơi nôn, vùng dưới tâm có chỗ kết nhỏ là tà Thái dương truyền vào Thiếu dương.
Vì vậy lấy nửa phương Quế chi để tán tà Thái dương chưa hết; lấy nửa phương Sài hồ để giải bệnh nôn và kết ở Thiếu dương.
Không gọi là Quế chi sài hồ thang vì ngoại chứng Thái dương tuy chưa hết, nhưng bệnh cơ đã hiện ở phần lý của Thiếu dương. Cho nên đặt Sài hồ trước Quế chi, có ý lấy giải Thiếu dương làm chính, tán Thái dương làm kiêm.
Chữ “chi” nghĩa là bên cạnh, cũng có nghĩa là nhỏ. “Chi kết” tức chỗ kết nhỏ ở bên cạnh vùng dưới tâm.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Chi tiết” là các khớp xương của tứ chi. “Chi kết” là nói chi ẩm tụ lại mà kết. Những chứng từ phát nhiệt đến hơi nôn thuộc biểu Thái dương, cho nên nói ngoại chứng chưa hết.
Trình Tri nói: Đây là tà đã vào Thiếu dương nhưng chứng Thái dương chưa hết.
Phát nhiệt, sợ lạnh, các khớp chi đau nhức khó chịu là chứng Thái dương. Nhưng sợ lạnh chỉ nhẹ, chỉ đau nhức các khớp chi mà không đau cứng đầu gáy thì chứng Thái dương đã giảm phần nào.
Nôn và chi kết là chứng Thiếu dương. Nhưng nôn nghịch chỉ nhẹ, chỉ kết ở một bên vùng dưới tâm, chưa kết ở khoảng hai sườn thì bệnh Thiếu dương cũng còn nông.
Trường hợp như vậy chỉ nên dùng Sài hồ thang hòa giải Thiếu dương, kết hợp Quế chi thang phát tán Thái dương. Đó là phép không thể thay đổi.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Chữ “筋” trong “半筋” được hiểu là lỗi chép của “斤”, nghĩa là nửa cân. Các chữ khuyết rõ nghĩa đã được phục hồi thành “sườn”, “cứng”; những lời sửa kinh văn và cách giải thích khác nhau vẫn được giữ riêng theo từng tác giả.
Lượng của phương chính trong ngoặc dựa vào tài liệu Đại học Baptist Hồng Kông. Riêng lượng gam ở phép gia giảm là lượng trình bày theo tỷ lệ thu nhỏ ba lạng ứng với 9 g, không phải cân lượng lịch sử hay liều kê cho một người cụ thể. Lượng đong bằng thăng và số quả được giữ nguyên khi chưa có đối chiếu phù hợp. Nước sắc và cách chia uống cũng được dịch theo cổ văn, không áp dụng máy móc cho lượng thuốc hiện đại.
Chữ “Bán hạ rửa sạch” được giữ theo nguyên văn cổ; khi sử dụng hiện nay cần dược liệu đã chế biến phù hợp. Câu “chỉ thấy một chứng là được” phải đọc cùng những điều phân biệt và chống chỉ định ngay trong đoạn này, không hiểu là chỉ cần một triệu chứng riêng lẻ đã đủ để tự chọn thuốc.
Trường Xuân biên soạn
SÀI HỒ QUẾ CHI THANG 柴胡桂枝汤
Sài hồ bốn lạng (lượng tham khảo hiện đại: 12 g), Quế chi một lạng rưỡi (4,5 g), Nhân sâm một lạng rưỡi (4,5 g), Cam thảo chích một lạng (3 g), Bán hạ rửa sạch hai hợp rưỡi (lượng tham khảo hiện đại: 6 g), Hoàng cầm một lạng rưỡi (4,5 g), Thược dược một lạng rưỡi (4,5 g), Đại táo bẻ ra sáu quả, Sinh khương thái lát một lạng rưỡi (4,5 g). Những lượng trong ngoặc là lượng tham khảo của phương hiện đại, không phải phép quy đổi trực tiếp đơn vị cổ. dayi.org.cn
Chín vị trên, dùng nước bảy thăng, sắc còn ba thăng, bỏ bã, uống ấm mỗi lần một thăng.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Trong sách Trọng Cảnh, hai phương Sài hồ và Quế chi được coi trọng nhất. Quế chi giải cơ biểu Thái dương, lại có thể điều hòa cơ biểu của các kinh; Tiểu sài hồ giải nửa biểu Thiếu dương, cũng có thể hòa nửa biểu của ba kinh dương.
Vì vậy, ngoài tên bệnh của sáu kinh, riêng có cách gọi “chứng Quế chi” và “chứng Sài hồ”, cho thấy tác dụng quan trọng của hai phương không bị giới hạn trong một kinh.
Như điều “dương phù, âm nhược” là lời Trọng Cảnh tự chú giải chứng Quế chi; điều “huyết nhược, khí tận” là lời Trọng Cảnh tự chú giải chứng Sài hồ.
Quế chi có hoại bệnh, Sài hồ cũng có hoại bệnh; Quế chi có chứng dễ nhầm, Sài hồ cũng có chứng dễ nhầm. Chẳng hạn bệnh giống chứng Quế chi nhưng chân co quắp, hoặc trong ngực bĩ cứng; bệnh giống chứng Sài hồ nhưng vốn khát, uống nước thì nôn, hoặc chỉ muốn nôn mà trong ngực đau, đều thuộc những trường hợp ấy.
Điều này nói thương hàn đến ngày thứ sáu, thứ bảy, lúc rét nóng đáng lẽ phải lui, lại thấy các biểu chứng như phát nhiệt, sợ lạnh, đồng thời thấy những lý chứng như vùng dưới tâm có chỗ kết nhỏ. Biểu lý chưa giải thì theo phép phải giải cả biểu lẫn lý.
Tuy nhiên, sợ lạnh nhẹ thì biết phát nhiệt cũng nhẹ; các khớp chi đau nhức khó chịu thì biết không phải mọi khớp xương toàn thân đều đau. Hơi nôn thì biết vùng dưới tâm cũng chỉ hơi kết, vì vậy gọi là “chi kết”.
Đó là biểu chứng tuy chưa hết nhưng đã nhẹ, lý chứng tuy đã xuất hiện nhưng chưa nặng. Cho nên lấy nửa phương Quế chi để tán tà Thái dương chưa hết, lấy nửa phương Sài hồ để giải chứng kết nhẹ ở Thiếu dương.
Miệng không khát, thân hơi nóng thì theo phép đáng lẽ phải bỏ Nhân sâm. Nhưng đến ngày thứ sáu, thứ bảy, tà tuy chưa giải mà chính khí đã hư, cho nên vẫn dùng Nhân sâm.
Ngoại chứng tuy còn, nhưng bệnh cơ đã xuất hiện ở lý, vì vậy tên phương đặt Sài hồ trước Quế chi. Đây là phương nhẹ để cùng giải hai kinh dương.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn đến ngày thứ năm, thứ sáu, đã phát hãn rồi lại công hạ; ngực sườn đầy, hơi kết, tiểu tiện không thông lợi, khát mà không nôn, chỉ đầu ra mồ hôi, rét nóng qua lại, tâm phiền: đó là bệnh chưa giải, Sài hồ quế chi can khương thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn đến ngày thứ năm, thứ sáu, đã phát hãn, biểu chưa giải mà lại công hạ.
Nếu tà hãm vào lý của Dương minh thì nhất định xuất hiện những chứng như kết hung, bĩ cứng, hiệp nhiệt hạ lợi. Nay tà hãm vào lý của Thiếu dương, cho nên ngực sườn đầy và hơi kết.
Tiểu tiện không thông lợi, khát mà không nôn, không phải do thủy đình, mà do phát hãn và công hạ làm tổn thương tân dịch.
Trong luận có trường hợp thân không ra mồ hôi, riêng đầu ra mồ hôi, phát nhiệt, không sợ lạnh, tâm phiền. Đó là biểu nhiệt Dương minh bị uất, không thể thoát ra ngoài mà gây mồ hôi ở đầu.
Nay chỉ đầu ra mồ hôi, rét nóng qua lại, tâm phiền, không có chứng Dương minh thì biết đó là biểu nhiệt Thiếu dương bị uất, không hòa, hun bốc lên trên mà gây mồ hôi ở đầu.
Đây là chứng biểu lý Thiếu dương chưa giải, cho nên dùng Sài hồ quế chi can khương thang làm chủ, chuyên giải tà ở nửa biểu, đồng thời tán chỗ kết ở nửa lý.
TẬP CHÚ
Lâm Lan nói: Đến ngày thứ năm, thứ sáu, đã trải qua phát hãn và công hạ thì tà đáng lẽ phải giải. Nay ngực sườn đầy, hơi kết, rét nóng qua lại, tâm phiền thì tà vẫn còn ở khoảng nửa biểu nửa lý.
Tiểu tiện không thông lợi mà khát là do sau phát hãn và công hạ, tân dịch hao mất, bên trong khô. Nếu có ẩm kèm nhiệt thì người ấy nhất định nôn; nay khát mà không nôn thì biết không phải ẩm nhiệt.
Thương hàn ra mồ hôi thì được hòa. Nay chỉ đầu ra mồ hôi, những nơi khác không có mồ hôi là tân dịch không đủ, bệnh chưa hòa. Cho Sài hồ quế chi can khương thang để giải biểu lý và phục hồi tân dịch.
Uông Hổ nói: Thương hàn mà đầu ra mồ hôi là dương bị uất ở biểu, không phải dương hư ở trên.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Hai hợp rưỡi” Bán hạ là đơn vị đong cổ; 6 g trong ngoặc là lượng tham khảo hiện đại của phương, không phải khối lượng cố định của thể tích ấy. Lượng nước sắc và cách chia uống được giữ theo cổ văn, không áp dụng máy móc cho lượng thuốc hiện đại. Bán hạ khi sử dụng hiện nay cần là dược liệu đã được chế biến phù hợp.
“Hoại bệnh” chỉ bệnh đã biến đổi do điều trị không đúng. “Chi kết” được giữ theo cách giải thích ở đoạn trước: chỗ kết nhỏ, lệch bên vùng dưới tâm. Đoạn này mới nêu chứng trị của Sài hồ quế chi can khương thang, chưa có thành phần và cân lượng của phương ấy.
Trường Xuân biên soạn
SÀI HỒ QUẾ CHI CAN KHƯƠNG THANG 柴胡桂枝干姜汤
Sài hồ nửa cân (lượng tham khảo hiện đại: 24 g), Quế chi ba lạng (9 g), Can khương hai lạng (6 g), Qua lâu căn bốn lạng (12 g), Hoàng cầm ba lạng (9 g), Mẫu lệ hai lạng (6 g), Cam thảo chích hai lạng (6 g). Lượng trong ngoặc là lượng tham khảo hiện đại theo tài liệu của Nhà xuất bản Y tế Nhân dân, không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng thời Hán. rwzyzs.pmphai.com
Bảy vị trên, dùng nước một đấu hai thăng, sắc còn sáu thăng, bỏ bã rồi sắc tiếp còn ba thăng. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày uống ba lần. Lần đầu uống hơi phiền; uống tiếp, ra mồ hôi thì khỏi.
PHƯƠNG GIẢI
Biểu lý Thiếu dương chưa giải, cho nên lấy Sài hồ và Quế chi phối hợp làm chủ. Đây chính là phép biến hóa từ Tiểu sài hồ thang.
Bỏ Nhân sâm vì chính khí không hư; bỏ Bán hạ vì không nôn, lại lo thuốc trợ táo. Thêm Qua lâu căn vì có thể chỉ khát, đồng thời sinh tân dịch.
Tăng gấp đôi Sài hồ, thêm Quế chi để chủ trị phần biểu của Thiếu dương; thêm Mẫu lệ để làm mềm chỗ kết ở Thiếu dương.
Can khương giúp Quế chi tán phần hàn trong rét nóng qua lại; Hoàng cầm giúp Sài hồ trừ phần nhiệt trong rét nóng qua lại, đồng thời kiềm chế Can khương, không để làm tăng tâm phiền.
Các thuốc có tính hàn, ôn khác nhau, nhất thiết cần Cam thảo để điều hòa.
Lần đầu uống hơi phiền là sức thuốc chưa đến. Uống tiếp, ra mồ hôi thì khỏi, cho thấy chứng này phải có mồ hôi thì mới giải.
ĐIỀU VĂN
Uống Sài hồ thang xong mà khát thì bệnh thuộc Dương minh, theo phép mà điều trị.
CHÚ GIẢI
Tà phong hàn từ Dương minh truyền sang Thiếu dương, ban đầu không khát. Nay uống Sài hồ thang xong lại khát thì Thiếu dương đã chuyển thuộc Dương minh.
“Theo phép mà điều trị” nghĩa là phải phân biệt những chứng hiện ở kinh hay ở phủ để chữa. Các phương Cát căn, Bạch hổ, Điều vị, tùy trường hợp thích hợp mà dùng.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Chữ “dĩ” nghĩa là xong. Uống Sài hồ thang xong mà khát thì không phải khát thoáng qua. Có thể biết nhiệt đã vào Vị, làm hao tân dịch mà gây khát, cho nên nói thuộc Dương minh.
Thẩm Minh Tông nói: Uống Sài hồ thang xong mà khát là tà Thiếu dương không truyền vào ba kinh âm, mà chuyển vào Dương minh. Phải tùy chứng Dương minh đang hiện mà điều trị, cho nên gọi là theo phép mà chữa.
Trịnh Trọng Quang nói: Bệnh cơ Thiếu dương và Dương minh được phân biệt trong hai chứng nôn và khát. Khát thì chuyển thuộc Dương minh; nôn thì vẫn ở Thiếu dương.
Như nôn nhiều, dù có chứng Dương minh cũng không được công hạ, vì bệnh chưa rời Thiếu dương. Uống Sài hồ thang thì khát đáng lẽ phải dứt. Nếu uống xong lại khát thêm thì nhiệt đã vào phủ Vị, hao tân dịch, tiêu nước; đó là bệnh Vị thuộc Dương minh.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn năm, sáu ngày, đầu ra mồ hôi, hơi sợ lạnh, tay chân lạnh, vùng dưới tâm đầy, không muốn ăn, đại tiện cứng, mạch tế: đó là dương tà kết nhẹ, nhất định vừa có biểu vừa có lý. Mạch trầm cũng là ở lý.
Ra mồ hôi là dương vi. Giả sử thuần là âm kết thì không thể còn có ngoại chứng, mà phải hoàn toàn vào lý. Trường hợp này là một nửa ở lý, một nửa ở ngoài.
Mạch tuy trầm khẩn, không được coi là bệnh Thiếu dương. Sở dĩ như vậy là âm không thể có mồ hôi; nay đầu ra mồ hôi, cho nên biết không phải Thiếu âm. Có thể cho Tiểu sài hồ thang. Nếu vẫn chưa khỏi hẳn thì đại tiện được, bệnh sẽ giải.
LỜI ÁN
“Mạch tế” phải là “mạch trầm tế”. Xem chữ “cũng” trong câu phía dưới “mạch trầm cũng là ở lý” thì tự biết.
Chữ “khẩn” trong “mạch tuy trầm khẩn” phải là chữ “tế”. Phía trên điều này không có chữ “khẩn”, sao lại nói “mạch tuy trầm khẩn”? Chữ “tuy” ở đây dựa vào đâu? Nhất định là lỗi sao chép truyền lại.
CHÚ GIẢI
Thương hàn năm, sáu ngày, ở biểu có đầu ra mồ hôi, hơi sợ lạnh, tức dương tà chưa hết; ở lý có vùng dưới tâm đầy, không muốn ăn, đại tiện cứng, tức dương kết đã hình thành.
Nhưng tay chân lạnh, mạch trầm tế thì mức độ dương tà kết còn nhẹ, cho nên nói: “Đó là dương tà kết nhẹ, nhất định vừa có biểu vừa có lý.”
Mạch trầm tế dường như là âm thịnh ở lý, nhưng đầu ra mồ hôi lại là biểu dương bị uất.
Giả sử thuần là âm kết thì không thể còn ngoại chứng đầu ra mồ hôi; như vậy mới phù hợp với thuần âm kết hoàn toàn vào lý. Đã không phải thuần âm kết hoàn toàn vào lý thì nhất định là dương tà kết nhẹ, một nửa ở lý, một nửa ở biểu.
Vì vậy, mạch tuy trầm tế cũng không được coi là bệnh Thiếu âm. Sở dĩ như vậy là ba kinh âm không có mồ hôi; nay đầu ra mồ hôi, cho nên biết không phải Thiếu âm.
Có thể cho Tiểu sài hồ thang để điều hòa tình trạng toàn thân không ra mồ hôi mà hơi sợ lạnh. Nếu vẫn chưa khỏi hẳn thì nhất định đại tiện cứng chưa được trừ; nên làm thông đại tiện, khiến phân ra được thì bệnh giải.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: “Dương vi kết” là dương tà kết nhẹ, chưa tán hết. Chú giải cũ cho là dương khí suy yếu nên tà khí tụ kết, như vậy sai khác rất lớn.
Nếu đúng như thế thì đầu ra mồ hôi phải là chứng vong dương, không phải chứng nửa biểu nửa lý. Nếu đúng như thế thì âm kết cũng phải là âm khí suy yếu.
Xét những lời trong điều văn như “giả sử thuần là âm kết”, cùng ý rằng nếu không phải dương tà kết nhẹ mà là thuần âm tà kết bên trong thì không thể còn ngoại chứng, ý nghĩa đã rất rõ.
Trình Tri nói: Điều này nói bệnh Thiếu dương có trường hợp giống Thiếu âm, phải phân biệt kỹ mạch và chứng.
Trình Ứng Mao nói: Mạch tế, mạch trầm đều là âm mạch. Nay cùng xuất hiện với dương chứng thì đó là dấu hiệu dương nhiệt uất kết, không liên quan đến Thiếu âm.
Có thể thấy dương khí một khi uất kết thì chẳng những dương chứng giống âm chứng, mà cả dương mạch cũng giống âm mạch.
Thẩm Minh Tông nói: “Đại tiện được thì bệnh giải” là nên dùng phép Đại sài hồ.
Ngô Nhân Câu nói: Chứng này thường bị nhận nhầm là âm hàn, rồi dùng thuốc ôn nhiệt, gây biến chứng nghiêm trọng. Nguyên nhân là thấy sợ lạnh, tay chân lạnh, mạch tế mà trầm, nhưng không xét nguồn gốc và diễn biến từ đầu đến cuối.
Chu Dương Tuấn nói: Điều này có sợ lạnh, tay chân lạnh, không muốn ăn, mạch tế hoặc trầm, dường như thuộc âm, rất khó phân biệt. Trọng Cảnh đặc biệt nêu ba chữ “dương vi kết” để chỉ rõ cho người đời sau.
Lấy đầu ra mồ hôi làm dấu hiệu thuộc dương, vì âm không có mồ hôi. Đến ngày thứ năm, thứ sáu, đau đầu, phát nhiệt thì chứng vốn thuộc dương, cho nên dù thấy mạch Thiếu âm cũng không được coi là bệnh Thiếu âm.
Tuy nhiên, chưa thấy một chứng Thiếu dương nào, sao đã vội cho là bệnh Thiếu dương? Đó là lý do Trọng Cảnh lại nói rõ: một nửa ở biểu, một nửa ở lý.
Lúc ấy lý chứng đã nhiều, không được chỉ dùng thuốc biểu để phát hãn; ngoại chứng giống âm, cũng không được lại dùng thuốc ôn lý. Vì vậy dùng Tiểu sài hồ đưa tà ra khỏi khoảng giữa biểu và lý.
Nếu đại tiện cứng, bệnh chưa khỏi hẳn thì phải công hạ để phân ra được, không còn nghi ngờ.
Trọng Cảnh lo người đọc chưa hiểu nên tự phân biệt tỉ mỉ. Nhờ đó mới biết tay chân lạnh, hơi sợ lạnh chính là vì dương tà uất kết, không thông ra tứ chi, cho nên chỉ đầu ra mồ hôi.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, dương mạch sáp, âm mạch huyền, theo lẽ sẽ đau bụng co thắt. Trước cho Tiểu kiến trung thang; nếu không khỏi thì cho Tiểu sài hồ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn có mạch phù sáp là dinh vệ không đủ; có mạch trầm huyền là mộc xâm nhập thổ.
Dinh vệ không đủ thì biểu hư; mộc xâm nhập thổ thì lý co thắt. Vì biểu hư, lý co thắt nên đau bụng cấp, do đó trước dùng Tiểu kiến trung thang. Phương này có thể bổ dinh vệ, đồng thời làm dịu sự co thắt ở trung tiêu, nên đau có thể giảm và khỏi.
Nếu không khỏi thì nhất định tà vẫn lưu ở biểu. Khi ấy biết mạch sáp là dinh vệ không thông, mạch huyền là mạch vốn có của Thiếu dương, cho nên dùng Tiểu sài hồ thang, theo phép mà điều trị.
Thành Vô Kỷ cho rằng nên bỏ Hoàng cầm, thêm Thược dược để sơ giải bên ngoài, điều hòa trung tiêu; cách giải thích ấy cũng đúng.
TẬP CHÚ
Uông Hổ nói: Mạch huyền chưa hết, đau vẫn chưa dứt là “không khỏi”. Đó là kinh Thiếu dương còn tà lưu lại.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, trong ngực có nhiệt, trong Vị có tà khí, đau bụng, muốn nôn ói thì Hoàng liên thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn chưa giải mà muốn nôn ói là trong ngực có nhiệt tà nghịch lên; đau bụng là trong Vị có hàn tà công kích bên trong.
Đây là nhiệt tà ở ngực, hàn tà ở Vị. Khí âm dương không hòa, mất quy luật thăng giáng thường có. Vì vậy dùng Hoàng liên thang, phối hợp hàn và ôn, cùng dùng ngọt và đắng, để điều lý âm dương mà hòa giải.
Tuy nhiên, trường hợp này thuộc ngoại nhân, do tà hàn nhiệt ở trên và dưới mà có những chứng như vậy. Nếu là tạp bệnh do nội nhân, nôn ói mà đau bụng thì phần nhiều do thức ăn lưu tích.
Từ đó suy ra, bệnh do ngoại nhân và nội nhân có thể cùng chứng trạng nhưng tình hình bên trong khác nhau.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Âm tà ở bụng thì dương không vào được để hòa âm, cho nên đau bụng. Dương tà ở trên thì âm không vào được để hòa dương, cho nên muốn nôn nghịch.
Uông Hổ nói: Trong Thượng luận thiên đều lấy hai tà phong và hàn để phân âm dương, hàn nhiệt. Nhưng phong lúc mới đến chưa chắc không có tính hàn; hàn sau khi vào trong cũng có thể hóa nhiệt, không được câu nệ.
Trịnh Trọng Quang nói: Nhiệt tà trúng vào thượng tiêu, hàn tà trúng vào hạ tiêu, âm dương không giao nhập, mất quy luật lên xuống, thăng giáng thường có.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“半筋” được hiểu là “半斤”, nghĩa là nửa cân. “栝蒌根” là Qua lâu căn, thường gọi Thiên hoa phấn. Lượng nước sắc và cách chia uống được giữ theo cổ văn, không áp dụng máy móc cho lượng thuốc tham khảo hiện đại.
Trong điều “dương vi kết”, bản bác gửi ghi “không được coi là bệnh Thiếu dương”, nhưng câu tiếp theo, phần chú giải và các lời tập chú đều phân biệt với Thiếu âm. Bản dịch giữ chữ Thiếu dương trong điều văn; xét mạch văn, đây nhiều khả năng là lỗi chép “少阳” thay cho “少阴”.
“谓胃” trong phần chú giải được hiểu là lỗi chép của “调胃”, tức Điều vị. “汁出” trong phương giải được hiểu là “汗出”, tức ra mồ hôi. Câu “tăng gấp đôi Sài hồ” được giữ theo nguyên văn; so với Tiểu sài hồ thang vừa dịch, lượng Sài hồ đều là nửa cân nên lời này có điểm chưa khớp.
Nhận định “âm không có mồ hôi” được giữ theo lập luận của cổ chú trong chứng đang bàn, không dùng như quy tắc tuyệt đối để chẩn đoán mọi trường hợp hiện nay.
Trường Xuân biên soạn
HOÀNG LIÊN THANG 黄连汤
Hoàng liên ba lạng (lượng tham khảo hiện đại: 9 g), Cam thảo chích ba lạng (9 g), Can khương ba lạng (9 g), Nhân sâm hai lạng (6 g), Quế chi ba lạng (9 g), Bán hạ rửa sạch nửa thăng (lượng dùng trong một nghiên cứu hiện đại: 7,5 g), Đại táo bẻ ra mười hai quả. Những lượng trong ngoặc là lượng đối chiếu hiện đại, không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng thời Hán. journal-platform-1305836431.cos.ap-beijing.myqcloud.com
Bảy vị trên, dùng nước một đấu, sắc còn sáu thăng, bỏ bã, uống ấm; ban ngày uống ba lần, ban đêm uống hai lần.
PHƯƠNG GIẢI
Tà khí thương hàn vào lý, tùy tình trạng hàn nhiệt vốn có trong tạng khí của từng người mà biến hóa thành bệnh.
Như bệnh Dương minh, cứng đầy, không đại tiện mà nôn, rêu lưỡi trắng thì dùng Tiểu sài hồ thang; hoặc bệnh Thái dương bị công hạ, lý hư, trong lòng bứt rứt khó chịu, trên lưỡi có rêu thì dùng Chi tử thị thang. Những trường hợp ấy là bệnh biến hóa theo tình trạng trong ngực có hàn, đan điền có nhiệt.
Trường hợp này lại biến hóa theo tình trạng trong Vị có hàn, trong ngực có nhiệt, gây đau bụng, muốn nôn ói, cho nên lấy phương này làm chủ.
Lấy Hoàng liên làm quân để thanh nhiệt trong Vị; Can khương làm thần để ôn hàn trong Vị. Bán hạ giáng nghịch, giúp Hoàng liên khiến nôn ói có thể dứt; Nhân sâm bổ trung, giúp Can khương khiến đau bụng có thể trừ. Quế chi để yên phần ngoài, Đại táo để bồi dưỡng trung tiêu.
Tuy nhiên, phương này có thuốc hàn và ôn khác nhau, cùng dùng vị ngọt và đắng, cho nên nhất định phải thêm Cam thảo để phối hợp, điều hòa các thuốc.
Đây là trị pháp hàn nhiệt cùng dùng khi âm dương ngăn cách, không giao hòa.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương đã hơn mười ngày, mạch phù tế, thích nằm là ngoại tà đã giải. Nếu ngực đầy, sườn đau thì cho Tiểu sài hồ thang; nếu mạch chỉ phù thì cho Ma hoàng thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương hơn mười ngày, không có chứng khác, mạch phù tế, thích nằm là ngoại tà đã giải, không cần dùng thuốc.
Nếu có ngực đầy, sườn đau và những chứng tương tự thì biết ngoại tà ở Thiếu dương chưa giải, cho nên dùng Tiểu sài hồ thang để hòa giải.
Nếu mạch chỉ phù mà không tế, lại có đau đầu, phát nhiệt, sợ lạnh, không có mồ hôi thì vẫn là ngoại tà Thái dương chưa giải, phải dùng Ma hoàng thang để phát hãn.
LỜI ÁN
Trong luận, mạch phù tế là mạch Thái dương và Thiếu dương; mạch huyền tế là mạch Thiếu dương; mạch trầm tế là mạch Thiếu âm.
Mạch phù tế, thân nóng, thích nằm thì thuộc dương. Mạch trầm tế, thân không nóng, thích nằm thì thuộc âm. Mạch hoãn tế, thân thể điều hòa, thích nằm thì bệnh đã giải.
Những điều ấy đều phải xét kỹ.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói: Điều này hẳn là hợp bệnh Thái dương và Thiếu dương.
Ngực đầy tuy giống nhau, nhưng mạch phù tế, thích nằm thì biểu tà đã giải; sườn đau là Thiếu dương còn tà, cho nên cho Tiểu sài hồ thang.
Nếu mạch chỉ phù thì lại phải trị Thái dương trước, cho nên cho Ma hoàng thang. Đây là lời giả định những tình huống để chỉ phép biến thông, không phải nói uống Sài hồ rồi mạch trở thành phù.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, phát nhiệt, ra mồ hôi mà bệnh không giải, vùng tâm bĩ cứng, nôn ói và tiêu chảy thì Đại sài hồ thang chủ trị.
LỜI ÁN
Chữ “hạ” trong “hạ lợi” phải là chữ “bất”. Nếu là chữ “hạ”, há có lẽ nào trên nôn, dưới tiêu chảy mà lại dùng Đại sài hồ thang để công hạ?
CHÚ GIẢI
Thương hàn, phát nhiệt, ra mồ hôi mà bệnh không giải là biểu vẫn chưa hết. Vùng tâm bĩ cứng, đại tiện không thông thì lý bệnh lại cấp.
Nôn ói là chứng có thể cùng xuất hiện ở Thiếu dương và Dương minh. Bệnh ở Thiếu dương và Dương minh đều cấp, nhiệt kết vùng tâm thành bĩ, cho nên dùng Đại sài hồ thang.
Bên ngoài giải phần biểu Thiếu dương còn phát nhiệt chưa hết; bên trong công phần lý Dương minh đã thành thực, bĩ cứng.
LỜI ÁN
Bệnh Thái dương, phát nhiệt, ra mồ hôi mà bệnh không giải, vùng dưới tâm bĩ cứng, tiêu chảy nhưng không nôn ói thì cả biểu và lý đều hư, đó là chứng Quế chi nhân sâm thang.
Nếu nôn ói mà đại tiện không thông thì cả biểu và lý đều thực, đó là chứng Đại sài hồ thang.
Trường hợp trước mạch vi nhược; trường hợp sau mạch nhất định có lực.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương, đã qua kinh hơn mười ngày, lại bị công hạ hai, ba lần. Sau đó bốn, năm ngày, chứng Sài hồ vẫn còn thì trước cho Tiểu sài hồ thang.
Nếu nôn không dứt, vùng dưới tâm căng tức, âm ỉ hơi phiền thì bệnh chưa giải. Cho Đại sài hồ thang để công hạ thì khỏi.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương đã truyền qua các kinh của tam dương hơn mười ngày. Thầy thuốc không tùy kinh mà điều trị, lại công hạ hai, ba lần, nhưng chưa gây biến chứng nghịch.
Sau đó bốn, năm ngày, chỉ thấy chứng Sài hồ của Thiếu dương, rét nóng qua lại vẫn còn thì nên trước cho Tiểu sài hồ thang để giải biểu, hòa lý.
Nếu không khỏi, nôn không dứt, vùng dưới tâm đầy và căng tức, âm ỉ hơi phiền thì cả biểu lẫn lý Thiếu dương đều chưa giải. Cho Đại sài hồ thang để công hạ, công lý mà hòa biểu, bệnh có thể khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Qua kinh” cũng như hoại bệnh. Không biết bệnh đã phạm nghịch gì mà lại công hạ hai, ba lần, chính là làm bệnh thành nghịch, cho nên nói “lại”.
Công hạ rồi lại công hạ, Dương minh tuy chưa tổn thương nhưng Thiếu dương cũng chưa được trừ, cho nên nói chứng Sài hồ vẫn còn.
Nôn không dứt, âm ỉ hơi phiền là tà quấy nhiễu hai kinh dương, cho nên nói bệnh chưa giải.
Trình Tri nói: Điều này nói bệnh đã qua kinh, bị công hạ sai, có phép dùng Tiểu sài hồ và Đại sài hồ để giải cả hai phần.
Tà của người ấy vì nhiều lần công hạ mà vào sâu. Nếu biểu chứng chưa hết thì nhất định trước dùng Tiểu sài hồ để hòa nửa biểu, sau đó mới có thể đồng thời công phần lý.
Trình Ứng Mao nói: Phải cân nhắc kỹ điều này cùng với điều “nôn nhiều, dù có chứng Dương minh cũng không được công hạ”.
Ở chứng Dương minh ấy, nôn ở trên, tà cũng ở phía trên cơ hoành, chưa vào phủ, cho nên không được công hạ.
Điều này nôn không dứt, vùng dưới tâm căng tức là tà ở phía dưới cơ hoành, đã thuộc Vị, cho nên có thể công hạ.
Có thể công hạ hay không thể công hạ, những chỗ như vậy tuyệt đối không được nhầm.
Lâm Lan nói: Nôn không dứt thì chứng nửa biểu nửa lý vẫn còn. Nhưng vùng dưới tâm căng tức, âm ỉ hơi phiền thì nhất định bên trong có táo thỉ, tức phân khô kết, không công hạ để trừ thì không được. Vì vậy dùng Đại sài hồ để kiêm trị.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Lượng nước sắc và số lần uống được giữ theo cổ văn. Nguyên văn không ghi rõ lượng thuốc mỗi lần uống, vì vậy không tự bổ sung. Nửa thăng Bán hạ là lượng đong cổ; 7,5 g trong ngoặc là lượng của một nghiên cứu hiện đại, không phải khối lượng quy đổi cố định. Khi sử dụng hiện nay, Bán hạ cần được chế biến phù hợp.
Trong phương giải, nguyên văn nói bệnh có “nhiệt ở ngực, hàn ở Vị”, nhưng sau đó lại viết Hoàng liên “thanh nhiệt trong Vị”. Bản dịch giữ cả hai câu để bảo toàn văn bản, không tự sửa.
Điều Đại sài hồ có chữ “hạ lợi” được dịch là tiêu chảy theo điều văn. Đề nghị đổi thành “bất lợi”, tức đại tiện không thông, là ý kiến hiệu đính của tác giả, được trình bày riêng trong LỜI ÁN; phần chú giải tiếp theo diễn giải theo cách sửa ấy.
Trường Xuân biên soạn
ĐẠI SÀI HỒ THANG 大柴胡汤
Sài hồ nửa cân (lượng tham khảo hiện đại: 15 g), Hoàng cầm ba lạng (9 g), Bán hạ rửa sạch nửa thăng (lượng tham khảo hiện đại: 9 g), Thược dược ba lạng (9 g), Chỉ thực chích bốn quả (lượng tham khảo hiện đại: 9 g), Đại hoàng hai lạng (6 g), Sinh khương thái lát năm lạng (15 g), Đại táo bẻ ra mười hai quả (bản tham khảo hiện đại dùng bốn quả). Những lượng trong ngoặc theo tài liệu Đại học Baptist Hồng Kông, không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng cổ. 記錄頁面
Tám vị trên, dùng nước một đấu hai thăng, sắc còn sáu thăng, bỏ bã rồi sắc tiếp. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày uống ba lần.
LỜI ÁN
Hứa Thúc Vi nói: Đại sài hồ thang có bản không dùng Đại hoàng, có bản dùng Đại hoàng. Phương này dùng Đại hoàng vì Đại hoàng có công năng tẩy trừ nhiệt tích chứa, là thuốc quan trọng trong trị thương hàn.
Vương Thúc Hòa nói: Nếu không dùng Đại hoàng, e rằng không thể gọi là Đại sài hồ thang.
Hơn nữa, kinh văn nói rõ “công hạ thì khỏi”. Nếu không có Đại hoàng thì lấy gì để công hạ, giải sự căng tức ở vùng dưới tâm? Nên theo ý Thúc Hòa mới đúng.
PHƯƠNG GIẢI
Chứng Sài hồ vẫn còn, lại có thêm lý chứng, cho nên lập phép giải cả hai phần của Thiếu dương.
Lấy Tiểu sài hồ thang thêm Chỉ thực và Thược dược để giải bên ngoài, hòa bên trong.
Bỏ Nhân sâm và Cam thảo vì phần lý không hư; thêm một ít Đại hoàng để tả nhiệt kết; tăng Sinh khương vì nôn không dứt.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái dương đã qua kinh hơn mười ngày, trong lòng nao nao muốn nôn, trong ngực đau, đại tiện lại lỏng, bụng hơi đầy, âm ỉ hơi phiền.
Nếu trước đó đã bị gây nôn và công hạ quá mức thì cho Điều vị thừa khí thang. Nếu không phải như vậy thì không được cho.
Chỉ muốn nôn, trong ngực đau, đại tiện hơi lỏng thì không phải chứng Sài hồ. Do nôn mà biết đã bị gây nôn và công hạ quá mức.
LỜI ÁN
Vương Khẳng Đường nói: Hai chữ “ôn ôn” phải là “ốt ốt”, diễn tả trạng thái nao nao muốn nôn.
Ông lại nói: Sau hai chữ “do nôn” hẳn có văn bị thiếu.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái dương đã qua kinh hơn mười ngày, từng bị gây nôn và công hạ mà bệnh không giải.
Gây nôn quá mức làm hư phần ngực; tà nhiệt thừa hư vào ngực, cho nên vùng dưới tâm nao nao muốn nôn, trong ngực đau.
Công hạ quá mức làm hư phần lý; tà nhiệt thừa hư vào lý, cho nên đại tiện lại lỏng, bụng hơi đầy, âm ỉ hơi phiền.
Hỏi kỹ, nếu biết trước đó quả thật đã bị gây nôn và công hạ quá mức thì biểu tà nhiệt đã hãm cả vào ngực bụng. Những chứng hiện có đều là lý chưa hòa, cho nên nên dùng Điều vị thừa khí thang để công hạ mà điều hòa.
“Nếu không phải như vậy” nghĩa là không do gây nôn, công hạ quá mức mà xuất hiện các chứng ấy thì lại không được dùng phương này.
Chỉ muốn nôn thuộc Thiếu dương; trong ngực đau thuộc Thái dương; đại tiện hơi lỏng là hạ lợi của hợp bệnh Thái dương và Thiếu dương. Không có những chứng nao nao, uất phiền trong lòng, bụng đầy, phiền nhiệt thì vốn không được dùng Thừa khí thang.
Tuy nhiên, đây cũng không phải chứng Sài hồ, cho nên Sài hồ thang cũng không được dùng. Phải theo phép trị hợp bệnh Thái dương và Thiếu dương có hạ lợi; nếu nôn thì có thể cho Hoàng cầm gia bán hạ sinh khương thang.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Trong ngực đau là tà ở vùng cách.
Nếu từng bị gây nôn quá mức thì phải có trạng thái vùng dưới tâm nao nao muốn nôn. Vì sao? Vì vùng cửa Vị đã bị tổn thương do gây nôn, tà nhiệt tụ lên vùng cách, cho nên muốn nôn mà không nôn được.
Bụng hơi đầy, âm ỉ hơi phiền là tà ở Vị. Nếu từng bị công hạ quá mức thì đại tiện phải hơi lỏng. Vì sao? Vì công hạ khiến Vị hư; tà tuy thực ở Vị nhưng đại tiện lại không thể kết cứng.
Cho nên nói: trước đó đã bị gây nôn và công hạ quá mức thì cho Điều vị thừa khí thang, nghĩa là phải tẩy trừ nhiệt để điều hòa Vị.
“Nếu không phải như vậy” là nói chưa từng bị gây nôn và công hạ quá mức.
Từ câu “chỉ muốn nôn” đến hết điều là giải thích thêm ý phía trên.
Dụ Xương nói: Bệnh Thái dương đã qua kinh hơn mười ngày, vùng dưới tâm nao nao, muốn nôn mà không nôn, trong ngực đau, đại tiện lại lỏng, bụng hơi đầy, âm ỉ hơi phiền thì phải phân biệt hai trường hợp.
Nếu từng bị gây nôn và công hạ mạnh thì biểu tà đã được giải theo phép gây nôn, đồng thời bệnh đã vào lý, có thể dùng phép Điều vị thừa khí.
Nếu chưa từng bị gây nôn và công hạ quá mức, chỉ muốn nôn mà không nôn, trong ngực đau, đại tiện hơi lỏng thì đau không phải do gây nôn làm tổn thương, đại tiện lỏng không phải do công hạ gây ra; phép Điều vị không thể dùng.
Trình Tri nói: “Qua kinh” nghĩa là bệnh đã qua bảy, tám ngày đến mười ba ngày, kinh khí đã vận hành hết một vòng mà bệnh vẫn chưa giải.
Không chỉ mười ba ngày, còn có trường hợp hơn hai mươi ngày. Bệnh qua kinh mà chưa giải thì nhất định còn lưu luyến ở các kinh dương. Nếu ở kinh âm thì sao có thể kéo dài như thế? Đã không thể kéo dài, còn mong gì sống được?
Trình Ứng Mao nói: Đại tiện lỏng thì khí đã được tiết xuống, bụng đáng lẽ không đầy, phiền đáng lẽ không âm ỉ uất lại.
Nay bụng vẫn hơi đầy, âm ỉ hơi phiền thì nhất định trong Vị có sự ngăn trở, sau công hạ vẫn chưa thông sướng.
Bệnh thuộc chứng Dương minh mà lại không có biểu hiện Dương minh, chỉ có biểu hiện Thiếu dương thì trong đó nhất định có điều xử trí sai. Vì vậy phải tìm đến tận nguyên nhân gây chứng, rồi mới có thể dựa vào chứng để nhận biết bệnh.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn mười ba ngày chưa giải, ngực sườn đầy mà nôn, chiều muộn phát triều nhiệt, sau đó hơi tiêu chảy.
Đây vốn là chứng Sài hồ, công hạ mà không được thông lợi. Nay lại tiêu chảy thì biết thầy thuốc đã dùng thuốc hoàn để công hạ, không đúng phép trị.
Triều nhiệt là thực. Trước nên dùng Tiểu sài hồ thang để giải phần ngoài; sau lấy Sài hồ gia mang tiêu thang làm chủ.
CHÚ GIẢI
Phàm thương hàn đã qua kinh mà chưa giải, phần nhiều nhiệt tà chuyển thuộc phủ Vị, đều phải công hạ.
Nay thương hàn mười ba ngày chưa giải, đã qua kinh, ngực sườn đầy mà nôn, chiều muộn phát triều nhiệt, sau đó hơi tiêu chảy, vốn là chứng Đại sài hồ.
Công hạ mà chưa được thông lợi, nay lại tiêu chảy; hỏi kỹ mới biết thầy thuốc đã dùng thuốc hoàn để công hạ mạnh, không đúng phép trị.
Công hạ mạnh thì nước tuy đã ra nhưng phân khô vẫn còn. Lo thầy thuốc cho rằng tiêu chảy sau công hạ là hư, nên lại chỉ rõ: “Triều nhiệt là thực”, tức vẫn có thể công hạ tiếp.
Nhưng tà ở ngực sườn chưa hết, cho nên trước nên dùng Tiểu sài hồ thang để giải phần ngoài của Thiếu dương. Sau lại dùng Tiểu sài hồ thang thêm Mang tiêu để công phần lý của Thiếu dương.
Không dùng Đại hoàng mà thêm Mang tiêu vì lý bệnh không cấp, lại đã qua công hạ mạnh; chỉ muốn làm mềm chỗ cứng, nhuận phần khô. Đây cũng là ý trong công hạ có kiêm điều hòa.
TẬP CHÚ
Nội đài phương nghị nói: Triều nhiệt là thực, tại sao không dùng Đại sài hồ, Đại thừa khí hoặc Tiểu thừa khí để công hạ, mà lại dùng Mang tiêu?
Vì triều nhiệt tuy thuộc thực, nhưng trước đó đã dùng thuốc hoàn, làm tổn thương, xáo động tạng phủ. Nếu lại dùng Đại hoàng công hạ thì Tỳ khí bị tổn thương, thành hoại chứng. Vì vậy chỉ dùng Mang tiêu nhuận táo để làm thông đại tiện.
Phương Hữu Chấp nói: Mười ba ngày là đã qua kinh. Không giải là hoại chứng, do điều trị không đúng.
Phần trên truy tìm nguyên nhân khiến bệnh thành hoại, do thầy thuốc xử trí sai. Phần dưới đến hết điều là phép trị để cứu sai lầm ấy.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“半筋” được hiểu là “半斤”, nghĩa là nửa cân. Lượng Sài hồ tham khảo trong nguồn dùng cho Đại sài hồ thang là 15 g, khác mức 24 g ở một số phương Sài hồ đã dịch trước. Sự khác nhau này cho thấy lượng hiện đại được lựa chọn theo từng tài liệu và từng phương, không phải một phép đổi cố định từ cân lượng cổ.
Nguyên văn cách sắc chỉ ghi “bỏ bã rồi sắc tiếp”, không ghi sắc tiếp còn bao nhiêu; bản dịch không tự bổ sung. Lượng nước và cách chia uống được giữ theo cổ văn. Bán hạ khi sử dụng hiện nay cần là dược liệu đã chế biến phù hợp.
Hai chữ “ôn ôn” được dịch theo ý hiệu đính “ốt ốt”: nao nao muốn nôn. Câu cuối điều văn về gây nôn, công hạ có dấu hiệu thiếu văn, như Vương Khẳng Đường đã nhận xét; bản dịch giữ nguyên ý câu hiện có.
Nhận định của Trình Tri về bệnh ở kinh âm không thể kéo dài được giữ như lời cổ chú, không xem là kết luận tiên lượng tuyệt đối trong thực hành hiện nay.
Trường Xuân biên soạn
SÀI HỒ GIA MANG TIÊU THANG 柴胡加芒硝汤
Trong phương Tiểu sài hồ thang, thêm Mang tiêu sáu lạng (lượng theo tỷ lệ thu nhỏ: 18 g), các phần còn lại theo phép trước mà uống. Nếu bệnh chưa giải thì uống tiếp.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn mười ba ngày chưa giải, đã qua kinh, nói sảng là vì có nhiệt, phải dùng thuốc thang để công hạ.
Nếu tiểu tiện thông lợi thì đại tiện đáng lẽ phải cứng, nhưng lại tiêu chảy, mạch điều hòa thì biết thầy thuốc đã dùng thuốc hoàn để công hạ, không đúng phép trị.
Nếu tự tiêu chảy thì mạch phải vi, tay chân phải quyết lạnh. Nay trái lại mạch điều hòa thì đó là bên trong thực, Điều vị thừa khí thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối điều trên, bổ sung ý nghĩa cho nhau để làm rõ phép trị.
Thương hàn mười ba ngày chưa giải, đã qua kinh mà nói sảng là vì có nhiệt, phải dùng thuốc thang để công hạ nhiệt ấy.
Nhưng nhiệt gây triều nhiệt ở điều trên nằm tại biểu và lý, đại tiện đáng lẽ chưa cứng. Nhiệt gây nói sảng ở điều này đã quy về phủ Vị, theo lẽ đại tiện phải cứng.
Nếu tiểu tiện thông lợi thì đại tiện đáng lẽ phải cứng. Nay đại tiện không cứng mà lại tiêu chảy, mạch điều hòa thì biết đây là tiêu chảy do thầy thuốc dùng thuốc hoàn công hạ, không đúng phép trị.
Nếu chưa dùng thuốc hoàn công hạ mà tự tiêu chảy thì thuộc nội hư. Tiêu chảy do nội hư, mạch phải vi nhược và tay chân quyết lạnh.
Nay trái lại mạch điều hòa, không vi nhược, không quyết lạnh thì đó là nội thực có nhiệt, không phải nội hư có hàn. Tuy tiêu chảy nhưng là nhiệt lợi, vẫn phải công hạ nhiệt, cho nên Điều vị thừa khí thang chủ trị.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn đến ngày thứ ba, ba kinh dương đã hết lượt, ba kinh âm đáng lẽ nhận tà. Người bệnh lại ăn được mà không nôn thì đó là ba kinh âm không nhận tà.
CHÚ GIẢI
Tà thương hàn, ngày thứ nhất Thái dương nhận, ngày thứ hai Dương minh nhận, ngày thứ ba Thiếu dương nhận, ngày thứ tư Thái âm nhận, ngày thứ năm Thiếu âm nhận, ngày thứ sáu Quyết âm nhận. Đó là thứ tự truyền kinh.
Nay thương hàn đến ngày thứ ba, biểu tà của ba kinh dương đã hết lượt, ba kinh âm đáng lẽ nhận tà; người bệnh đáng lẽ không ăn được mà nôn.
Nay trái lại ăn được, không nôn thì đó là phần lý điều hòa, ba kinh âm không nhận tà.
Tuy nhiên, đây là Nội kinh nói về đại thể, rốt cuộc không thể câu nệ vào số ngày.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Biểu tà truyền vào lý, lý không hòa thì không ăn được mà nôn. Nay trái lại ăn được, không nôn thì tà không truyền vào âm, chỉ còn ở dương.
Phương Hữu Chấp nói: Dương là nói biểu, âm là nói lý. Ăn được, không nôn thì lý khí điều hòa, Vị khí phục hồi, có thể biết phần âm không nhận tà.
Uông Hổ nói: Tà ở Thiếu dương vốn gây nôn, không ăn được. Nay trái lại ăn được mà không nôn thì chứng tỏ lý khí đã hòa, tà Thiếu dương tự giải.
Lý đã hòa, tà Thiếu dương đã giải thì có thể chắc chắn không truyền vào ba kinh âm, cho nên nói ba kinh âm không nhận tà.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn sáu, bảy ngày, không có nhiệt lớn mà người bệnh táo phiền, đó là vì dương rời đi mà vào âm.
CHÚ GIẢI
Thương hàn sáu, bảy ngày là lúc tà muốn vào lý.
Không có nhiệt lớn là biểu nhiệt nhẹ; táo phiền là lý nhiệt thịnh. Đó là dương rời đi mà vào âm.
“Dương rời đi mà vào âm” nghĩa là dương tà rời biểu vào lý, truyền đến ba kinh âm.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Nội nhiệt gây phiền, tức trong lòng uất phiền; ngoại nhiệt gây táo, tức bên ngoài thân thể nóng và bứt rứt.
Nội nhiệt là hỏa có gốc, cho nên chỉ phiền mà không táo, hoặc trước phiền sau táo thì đều có thể trị.
Ngoại nhiệt là hỏa không gốc, cho nên chỉ táo mà không phiền, hoặc trước táo sau phiền thì đều không thể trị.
Phương Hữu Chấp nói: “Khứ” nghĩa là đi. Biểu tà đi vào lý, cho nên bên ngoài không có nhiệt khác, mà bên trong lại phiền táo.
ĐIỀU VĂN
Phụ nữ trúng phong, phát nhiệt, sợ lạnh, kinh nguyệt vừa đến. Mắc bệnh được bảy, tám ngày, nhiệt hết, mạch trì, thân mát, vùng ngực và dưới sườn đầy như hình trạng kết hung, nói sảng: đó là nhiệt nhập huyết thất.
Phải châm Kỳ môn, tùy mức thực mà dùng phép tả.
CHÚ GIẢI
Phụ nữ trúng phong, phát nhiệt, sợ lạnh là bệnh ở biểu. Nếu kinh nguyệt không đến thì nhiệt không có đường truyền vào huyết thất.
Nay kinh nguyệt vừa đến, mắc bệnh được bảy, tám ngày, mạch trì, nhiệt hết, thân mát, dường như biểu sắp giải.
Nếu lại thấy vùng ngực và dưới sườn đầy, như hình trạng kết hung, cùng chứng nói sảng thì biết không phải biểu đã giải rồi bệnh vào lý, mà là nhiệt của biểu tà nhân lúc kinh nguyệt vừa đến, thừa hư vào huyết thất.
Theo phép phải châm Kỳ môn. Đây là huyệt của Can; Can là nơi tàng huyết. Nay tà vào huyết thất, cho nên châm Kỳ môn, tùy thực nhiệt ở huyết phận mà tả.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Huyết thất là nơi dinh huyết lưu giữ, nơi kinh huyết hội tụ, tức huyết hải được nói trong mạch Xung.
Mạch ấy khởi ở Khí xung, đi cùng kinh Thiếu âm, men hai bên rốn đi lên đến ngực rồi phân tán. Vì vậy nhiệt vào gây bệnh thì có những chứng như thế.
Hai huyệt Kỳ môn ở hai bên Bất dung, mỗi bên cách một thốn năm phân theo phép đồng thân thốn; đó là huyệt mộ của Can.
Can tiếp nhận huyết, cho nên châm Kỳ môn để tả thực nhiệt ở huyết phận.
Uông Hổ nói: Tà truyền vào Thiếu dương, nhiệt nhập huyết thất, cho nên xuất hiện nói sảng và những chứng khác.
Trọng Cảnh lo người ta nhận nhầm là chứng phủ thực Dương minh, tùy tiện dùng ba phương Thừa khí làm tổn thương Vị khí, cho nên đặc biệt nêu phép châm Kỳ môn để chữa.
ĐIỀU VĂN
Phụ nữ trúng phong bảy, tám ngày, tiếp đó xuất hiện rét nóng, phát tác có lúc; kinh nguyệt vừa dứt, đó là nhiệt nhập huyết thất, huyết nhất định kết lại, cho nên bệnh giống sốt rét, phát tác có lúc. Tiểu sài hồ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Phụ nữ trúng phong bảy, tám ngày, tiếp đó xuất hiện rét nóng, phát tác có lúc, kinh nguyệt vừa dứt, đó là nhiệt nhập huyết thất.
Huyết và nhiệt kết hợp, huyết nhất định kết lại. Tuy kết nhưng không có ngực sườn đầy, hình trạng kết hung, nói sảng và những chứng tương tự thì đó là kết mà chưa thành thực.
Vẫn có rét nóng giống sốt rét, phát tác có lúc thì tà còn ở Thiếu dương, nửa biểu nửa lý. Vì vậy dùng Tiểu sài hồ thang hòa biểu lý, nhiệt tự giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều trước kinh nguyệt vừa đến, nhiệt vào huyết thất, huyết ra mà nhiệt còn lưu lại.
Điều này kinh nguyệt vừa dứt: nhiệt nhân lúc huyết đến mà vào, kết hợp với phần huyết đến sau, cùng lưu lại không ra, cho nên nói huyết nhất định kết.
Trình Tri nói: Chứng trước kinh nguyệt đến, ngực sườn đầy kết, nói sảng là tà thực ở tạng, cho nên châm để tả.
Chứng này do huyết kết mà rét nóng giống sốt rét, tà phát ở kinh, cho nên dùng Tiểu sài hồ thang để hòa.
ĐIỀU VĂN
Phụ nữ thương hàn, phát nhiệt, kinh nguyệt vừa đến; ban ngày tỉnh táo, chiều tối nói sảng như thấy ma quỷ, đó là nhiệt nhập huyết thất.
Không được làm tổn thương Vị khí và hai tiêu phía trên, bệnh nhất định tự khỏi.
CHÚ GIẢI
Hai điều trên làm rõ chứng nhiệt nhập huyết thất do phong tà; điều này làm rõ chứng nhiệt nhập huyết thất do hàn tà.
Phụ nữ thương hàn, phát nhiệt, không có mồ hôi, kinh nguyệt vừa đến thì nhiệt nhất định vào huyết thất.
Ban ngày tỉnh táo, biết tà không ở phần dương. Chiều tối nói sảng như thấy ma quỷ là tà ở phần âm.
“Không được làm tổn thương Vị khí và hai tiêu phía trên” là nói bao quát tam tiêu.
Đó là cấm tùy tiện dùng cả ba phép phát hãn, gây nôn và công hạ. Phải chờ kinh huyết lưu hành, nhiệt theo huyết ra thì bệnh khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Nhất định tự khỏi” nghĩa là chờ kinh huyết lưu hành và đi xuống, tà nhiệt có đường theo huyết cùng ra, cũng như chảy máu mũi được gọi là “mồ hôi đỏ”, cho nên tự khỏi.
Đây là lời cảnh tỉnh, không được công kích bừa bãi khiến bệnh biến loạn.
Lâm Lan nói: Thương hàn phát nhiệt là hàn đã hóa nhiệt. Kinh nguyệt vừa đến thì huyết thất trống hư, tà nhiệt thừa hư vào huyết thất.
Nếu ban ngày nói sảng thì tà ở phủ, tranh với dương. Nay ban ngày tỉnh táo, chiều tối nói sảng như thấy ma quỷ là tà không vào phủ, mà vào huyết thất, tranh với âm.
Dương thịnh nói sảng thì nên công hạ. Trường hợp này không được công hạ vì sẽ làm tổn thương Vị khí.
Trường hợp nhiệt vào, huyết kết, rét nóng thì dùng Tiểu sài hồ thang để tán tà, phát hãn. Trường hợp này tuy nhiệt nhập huyết thất nhưng không lưu kết, không được dùng thuốc phát hãn làm tổn thương thượng tiêu.
Nếu nhiệt vào, ngực sườn đầy như kết hung thì có thể châm Kỳ môn. Trường hợp này tuy nhiệt nhập huyết thất nhưng không đầy kết, không được châm Kỳ môn, vì sẽ làm tổn thương trung tiêu.
“Nhất định tự khỏi” là vì kinh nguyệt lưu hành thì nhiệt theo huyết ra; huyết xuống, tà nhiệt được trừ hết mà bệnh khỏi.
ĐIỀU VĂN
Huyết yếu, khí suy kiệt, tấu lý mở, tà khí nhân đó vào, kết hợp với chính khí, kết ở dưới sườn.
Chính và tà tranh nhau, rét nóng qua lại, lúc ngừng lúc phát có thời điểm, người bệnh lặng lẽ không muốn ăn uống.
Tạng phủ liên hệ với nhau, chỗ đau nhất định ở dưới; tà ở cao, đau ở thấp.
Một bản khác ghi: “Tạng phủ liên hệ với nhau, bệnh nhất định ở dưới, đau trong vùng sườn và cách.”
Vì vậy gây nôn. Tiểu sài hồ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này giải thích thêm ba điều trên.
Phụ nữ trúng phong hoặc thương hàn, kinh nguyệt vừa đến mà ra quá nhiều, khiến huyết yếu, khí suy kiệt, tấu lý không kín; tà nhiệt thừa hư vào huyết thất.
Tà và chính kết hợp, kết tại phạm vi Thiếu dương, cho nên tà kết ở dưới sườn.
Tà chính tranh nhau: tranh ở phần dương thì nóng, tranh ở phần âm thì rét, cho nên rét nóng qua lại. Tranh xong thì sức suy, suy thì ngừng, cho nên lúc ngừng lúc phát có thời điểm.
Bệnh Thiếu dương đã vào nửa lý, gần Quyết âm, cho nên người bệnh lặng lẽ không muốn ăn uống.
Đởm Thiếu dương và Can Quyết âm có quan hệ biểu lý, cho nên nói tạng phủ liên hệ với nhau.
Mạch Thiếu dương đi xuống trong ngực, theo phía ngoài vùng sườn; mạch Quyết âm đến bụng dưới, theo phía trong vùng sườn, cho nên đau nhất định lan đến dưới sườn.
Tà Thiếu dương từ ngực đi xuống sườn, do ngực mà bệnh lan đến sườn, cho nên nói tà ở cao, đau ở thấp.
Tà từ ngực theo sườn vào lý, lý khí chống ngược lên, cho nên gây nôn.
Trọng Cảnh nhắc lại điều này, vẫn lấy Tiểu sài hồ thang làm chủ, để người đọc biết phép trị không ra ngoài Thiếu dương, không cần riêng tìm phép chữa trong huyết thất thuộc Quyết âm.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Bốn điều đều bổ sung ý nghĩa cho nhau.
Một điều nói kinh nguyệt vừa đến, một điều nói kinh nguyệt vừa dứt.
Một điều nói bảy, tám ngày nhiệt hết, mạch trì, thân mát; một điều nói bảy, tám ngày tiếp đó xuất hiện rét nóng, phát tác có lúc.
Một điều nói vùng ngực và dưới sườn đầy; một điều nói tà khí nhân đó vào, kết hợp với chính khí, kết ở dưới sườn.
Một điều nói như hình trạng kết hung; một điều nói tà ở cao, đau ở thấp.
Một điều nói nói sảng; một điều nói ban ngày tỉnh táo, chiều tối nói sảng như thấy ma quỷ.
Một điều nói giống sốt rét; một điều nói rét nóng qua lại, lúc ngừng lúc phát có thời điểm.
Một điều nói châm Kỳ môn; một điều nói dùng Tiểu sài hồ thang; một điều nói không được làm tổn thương Vị khí và hai tiêu phía trên.
Tất cả đều bổ sung cho nhau để làm rõ đại ý, đồng thời tự làm lời chú thích. Người học thử dựa vào đó mà suy xét kỹ toàn sách thì đã hiểu được quá nửa.
Bốn chữ “như hình trạng kết hung”, Trọng Cảnh có lẽ lo chưa diễn tả hết, nên lại dùng những lời “tạng phủ liên hệ với nhau”, “tà ở cao, đau ở thấp” để trình bày rõ bệnh tình.
Huyết thất là mạch Xung, ở phía dưới trong bụng, do Can Quyết âm làm chủ. Đởm Thiếu dương lại liên hệ với Can.
Tà ở phủ nằm trên, tà ở tạng nằm dưới; vùng cửa Vị bị kẹp giữa ranh giới của hai tà, cho nên người bệnh lặng lẽ không muốn ăn uống, chỉ hay nôn.
Kỳ môn là huyệt mộ của Can. “Tùy mức thực mà tả” là tả thực ở Can, cũng là lời chú giải cho phép châm Kỳ môn.
Tiểu sài hồ thang là chính pháp trị Thiếu dương.
Không được làm tổn thương Vị khí và hai tiêu phía trên thì ngoài Kỳ môn và Tiểu sài hồ thang, không còn phép khác.
ĐIỀU VĂN
Nôn mà phát nhiệt thì Tiểu sài hồ thang chủ trị.
Lời biên chú trong nguyên bản: Đây là văn lặp, đã thấy ở phần trên điều Bán hạ tả tâm thang trong thiên giữa về bệnh Thái dương.
Bệnh Thiếu dương muốn giải, vào khoảng từ giờ Dần đến hết giờ Thìn.
CHÚ GIẢI
Dần, Mão, Thìn là lúc mộc vượng.
Kinh nói: “Thiếu dương trong dương thông với khí mùa xuân.” Vì vậy, bệnh Thiếu dương thường nhân lúc khí vượng mà giải. Kinh khí phục hồi, theo lý vốn là như vậy.
TẬP CHÚ
Ngụy Lệ Đồng nói: Bệnh ở Thiếu dương, nhân lúc chính khí đang vượng, điều trị đúng phép thì bệnh nào không khỏi?
CHÚ ÂM CỦA NGUYÊN BẢN
Chữ “thiếu” đọc thanh khứ. Chữ “sáp” được chú là đọc như “sắc”. Chữ “ốt” được ghi bằng phép phiên thiết “ất–cốt”. Chữ “tấu” được chú là đọc như “thấu”.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Mang tiêu sáu lạng được ghi trong ngoặc là 18 g theo tỷ lệ thu nhỏ dùng để trình bày văn bản, không phải liều kê cụ thể. Phương này có dị bản quan trọng: một số bản dùng một phần ba lượng Tiểu sài hồ thang và Mang tiêu hai lạng, khác với bản bác gửi dùng Tiểu sài hồ thang thêm Mang tiêu sáu lạng. Vì vậy không được trộn lượng thuốc và cách sắc của hai bản. shzyyzz.shzyyzz.com
Những chữ khuyết rõ nghĩa được phục hồi thành “nói sảng”, “sườn”, “cứng”. “厥阳” trong chú giải được hiểu là lỗi chép của “厥阴”, tức Quyết âm. Giờ Dần đến hết giờ Thìn tương ứng khoảng 3 giờ đến 9 giờ sáng theo cách chia giờ thông dụng; đây là lý luận thời điểm giải bệnh của cổ thư, không phải lý do để trì hoãn điều trị.
Vị trí Kỳ môn được dịch nguyên theo lời cổ chú, không dùng làm hướng dẫn tự xác định huyệt hay tự châm. Những lời “nhất định tự khỏi”, “không thể trị” được giữ như nhận định của tác giả cổ. Trong thực tế hiện nay, sốt kèm nói sảng, ảo giác hoặc rối loạn ý thức cần được đánh giá y tế khẩn cấp, không chờ kinh nguyệt hay thời điểm giải bệnh.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH THÁI ÂM — TOÀN THIÊN
Tà của sáu khí cảm vào người tuy giống nhau, nhưng mỗi người tiếp nhận mà sinh bệnh khác nhau, vì sao?
Vì hình thể có dày mỏng, khí có thịnh suy, tạng có hàn nhiệt. Tà tiếp nhận vào thường theo tạng khí của từng người mà biến hóa, cho nên bệnh sinh ra khác nhau: hoặc theo hư mà hóa, hoặc theo thực mà hóa, hoặc theo hàn mà hóa, hoặc theo nhiệt mà hóa.
Ví như nước và lửa: nước thịnh thì lửa tắt, lửa thịnh thì nước hao. Bên nào mạnh thì bên kia theo đó mà biến hóa, theo lý vốn là như vậy.
Nếu thật sự hiểu điều này thì còn nghi ngờ gì? Sao lại thấy dương tà truyền vào âm, biến hàn hoặc hóa nhiệt mà cho là lạ?
Từ thời Hậu Hán đến nay, hơn nghìn năm, người ta đều nói hàn tà ở ba kinh âm không truyền tiếp; lại gọi âm tà thương hàn truyền kinh là “trực trúng”. Nhưng có biết trực trúng là chứng trúng hàn, không phải tà truyền kinh hay không?
Đó đều là do chưa đọc kỹ sách Trọng Cảnh nên có sai lầm ấy.
Như trong luận nói: tiêu chảy, bụng trướng đầy, thân thể đau nhức thì trước ôn lý, sau công biểu; ôn lý nên dùng Tứ nghịch thang, công biểu nên dùng Quế chi thang. Đây là dương tà của ba kinh dương truyền vào Thái âm, tà theo âm mà hóa thành hàn chứng.
Như bệnh Thiếu âm, tiêu chảy, Bạch thông thang chủ trị: đây là hàn tà Thái âm truyền vào Thiếu âm mà thành hàn chứng.
Như tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, trong lạnh ngoài nóng, ra mồ hôi mà tay chân quyết lạnh, Thông mạch tứ nghịch thang chủ trị: đây là hàn tà Thiếu âm truyền vào Quyết âm mà thành hàn chứng.
Những điều ấy đều có bằng chứng rõ ràng. Sao có thể nói trong thương hàn, tà ở các kinh âm không truyền cho nhau, hoặc không có lẽ dương theo âm mà biến hóa?
Thái âm thuộc thấp thổ, là tạng thuần âm. Vì vậy, bệnh một khi vào Thái âm thì tà theo âm mà hóa nhiều, theo dương mà hóa ít.
Theo âm mà hóa, như trong luận nói: bụng đầy, nôn thức ăn, tự tiêu chảy, không khát, tay chân vẫn ấm, thỉnh thoảng tự đau bụng; nên dùng những phương thuộc loại Lý trung, Tứ nghịch để ôn trị.
Theo dương mà hóa, như trong luận nói: sau phát hãn, bệnh không giải, bụng đầy đau thì phải cấp hạ, nên dùng Đại thừa khí thang; hoặc bụng đầy, thực nhiều, đau thì Quế chi gia đại hoàng thang chủ trị.
Tỳ và Vị cùng ở trong bụng, cho nên cả hai đều có thể gây bụng đầy, đau bụng.
Tuy nhiên, bụng đầy là chủ chứng của Thái âm; vùng dưới tâm đầy là chủ chứng của Dương minh.
Dương minh cũng có bụng đầy, nhưng bụng đầy Dương minh cùng hóa theo nhiệt, cho nên nhất định có triều nhiệt, tự ra mồ hôi, không đại tiện. Không giống Thái âm cùng hóa theo thấp, có những chứng phát vàng, đột nhiên phiền, tiêu chảy ra chất hôi thối.
Nếu có thể xét kỹ hư thực qua những biểu hiện bụng đau từng lúc, đau do thực nhiều, bụng đầy đau, rồi cân nhắc phép ôn hay phép hạ thì không còn ý nghĩa nào chưa rõ.
Vì vậy, dùng những điều này để khái quát thì tự biết phép trị trọng yếu của Thái âm.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái âm, bụng đầy mà nôn, thức ăn không xuống được, tự tiêu chảy càng nặng, thỉnh thoảng tự đau bụng. Nếu công hạ thì nhất định vùng dưới ngực kết cứng.
LỜI ÁN
Ngô Nhân Câu nói: Bốn chữ “tự lợi ích thậm”, nghĩa là tự tiêu chảy càng nặng, phải đặt sau câu “nhất định vùng dưới ngực kết cứng”. Cách nói ấy rất đúng.
Nếu đặt sau câu “nôn, thức ăn không xuống được” thì đã nôn, thức ăn không xuống, lại tự tiêu chảy càng nặng. Trọng Cảnh còn nói “nếu công hạ” thì không còn chỗ thích hợp để diễn giải.
CHÚ GIẢI
Thái âm là kinh Tỳ. Đường kinh phân bố trong Vị, liên lạc với họng.
Hàn tà truyền vào Thái âm, cho nên bụng đầy, thỉnh thoảng tự đau bụng. Hàn tà theo đường kinh phạm Vị, cho nên nôn, thức ăn không xuống được.
Đây là chứng Thái âm lý hư, tà theo hàn mà hóa; phải dùng những phương thuộc loại Lý trung, Tứ nghịch để ôn trị.
Nếu bụng đầy, họng khô, không đại tiện, thực nhiều mà đau thì mới là chứng Thái âm lý thực, tà theo nhiệt mà hóa; phải dùng Quế chi gia đại hoàng thang để công hạ.
Nếu đem chứng đầy đau do hư hàn Thái âm nhận nhầm thành đầy đau do thực nhiệt Thái âm rồi công hạ thì hàn và hư kết hợp, nhất định biến thành tạng kết, bĩ cứng, đồng thời tự tiêu chảy càng nặng.
Đây là đề cương của toàn thiên bệnh Thái âm. Sau này hễ gọi bệnh Thái âm thì đều nói đến những chứng ấy.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Dương tà cũng có bụng đầy, nhưng nôn được thì đầy hết, thức ăn xuống được. Nay bụng đầy mà nôn, thức ăn không xuống thì đầy là do hàn gây trướng, nôn là do hàn ngăn cách.
Dương tà cũng có tiêu chảy, đau bụng, nhưng đại tiện được thì đau theo đó mà giảm. Nay tiêu chảy mà vẫn thỉnh thoảng tự đau bụng thì tiêu chảy là hàn lợi, đau là hàn thống.
Nói “dưới ngực” là âm tà kết ở phần âm dưới ngực, khác với dương tà kết hung ở ngực, ấn vào thì đau.
Nói “kết cứng” là không có dương để khí hóa, âm ngưng lại thành cứng chắc, khác với chứng bĩ có thể mềm khi ấn.
Những chứng kia đều do dương tà từ trên hãm xuống rồi ngăn trở, lưu lại; chứng này do âm tà từ dưới nghịch lên mà không trở về. Hàn nhiệt khác nhau rất lớn.
Ngô Nhân Câu nói: Tự tiêu chảy có lúc, bụng tự đau, không giống tích tụ gây đau thường xuyên.
Nếu cho mọi chứng đau đều là thực rồi công hạ thì bụng đầy càng nặng, nhất định khiến cả vùng dưới ngực kết cứng, tự tiêu chảy càng nặng.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn đến ngày thứ tư, thứ năm, đau bụng; nếu khí chuyển động đi xuống bụng dưới thì đó là sắp tự tiêu chảy.
CHÚ GIẢI
Thương hàn đến ngày thứ tư, thứ năm là lúc tà vào Thái âm.
Đau bụng mà không có khí chuyển động đi xuống thì thuộc Dương minh. Nay đau bụng, khí chuyển động đi xuống bụng dưới thì đó là dấu hiệu Thái âm sắp tự tiêu chảy.
Điều này Trọng Cảnh chỉ cho người đọc biết không được xem mọi chứng đau đều là thực, rồi tùy tiện bàn đến công hạ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Đau bụng, khí chuyển động đi xuống là phần lý hư, không giữ được, hàn tà bức xuống dưới.
Trương Lộ nói: Đau bụng cũng có trường hợp thuộc hỏa; đau ấy nhất định từ dưới công lên trên. Nếu đau từ trên đi xuống thì nhất định thuộc hàn thống, không nghi ngờ.
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều này chú trọng nhận biết trước tình trạng sắp tiêu chảy, không phải phân biệt hàn nhiệt. Xét hai chữ “nếu” và “sắp” thì thấy việc phân biệt hàn tà còn có phép khác.
ĐIỀU VĂN
Tự tiêu chảy mà không khát thì thuộc Thái âm, vì trong tạng có hàn. Phải ôn trị, nên dùng những phương thuộc loại Tứ nghịch.
CHÚ GIẢI
Phàm tự tiêu chảy mà khát thì trong lý có nhiệt, thuộc dương. Nếu tự tiêu chảy mà không khát thì trong lý có hàn, thuộc âm.
Nay tự tiêu chảy, không khát thì biết tạng Thái âm vốn có hàn, cho nên phải ôn trị.
“Những phương thuộc loại Tứ nghịch” là chỉ các phương Tứ nghịch, Lý trung, Phụ tử và những phương tương tự.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói Thái âm tự tiêu chảy thuộc hàn, nên ôn trị.
Thiếu âm thuộc Thận thủy, nhiệt vào làm hao nước, cho nên tự tiêu chảy mà khát. Thái âm thuộc Tỳ thổ, hàn vào thì theo thấp mà hóa, cho nên không khát mà tiêu chảy. Vì vậy Thái âm tự tiêu chảy phải ôn trị.
Trình Ứng Mao nói: Ba kinh âm cùng có tạng hàn. Thiếu âm và Quyết âm có chứng khát, riêng Thái âm không có chứng khát, vì hàn ở trung tiêu, nói chung không liên quan đến long hỏa và lôi hỏa.
Trong Thiếu âm có long hỏa; hàn ở dưới quá mạnh thì long hỏa bốc lên, cho nên tự tiêu chảy mà khát.
Trong Quyết âm có lôi hỏa, cho nên có tiêu khát. Thái dương vừa chiếu thì sấm mưa thu tiếng, cho nên phát nhiệt thì tiêu chảy dứt; thấy quyết lạnh thì lại tiêu chảy.
Ngụy Lệ Đồng nói: Hai chữ “tự lợi” chỉ tình trạng tiêu chảy hình thành khi chưa bị công hạ, phát hãn hoặc gây nôn sai phép. Vì vậy biết trong tạng vốn có hàn.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đoạn này chưa có thành phần và cân lượng bài thuốc nên chưa cần ghi lượng tham khảo hiện đại. Những chữ khuyết rõ nghĩa được phục hồi thành “cứng”.
Vị trí câu “tự tiêu chảy càng nặng” được giữ nguyên trong ĐIỀU VĂN; đề nghị chuyển câu xuống cuối là ý kiến hiệu đính của Ngô Nhân Câu, được trình bày riêng trong LỜI ÁN.
“Long hỏa”, “lôi hỏa” là cách diễn đạt bằng hình tượng trong cổ chú. Những nhận định như hướng đau xác định hàn nhiệt hoặc không khát xác định tạng hàn được giữ theo lời từng tác giả, không dùng riêng lẻ như tiêu chuẩn chẩn đoán tuyệt đối.
Trường Xuân biên soạn
LÝ TRUNG HOÀN 理中圆
Nhân sâm, Bạch truật, Cam thảo chích, Can khương, mỗi vị ba lạng (lượng tham khảo khi dùng dạng thang hiện đại: mỗi vị 9 g; không phải lượng quy đổi cho cả mẻ hoàn cổ).
Bốn vị trên, giã rồi rây, trộn mật làm hoàn, mỗi viên lớn khoảng lòng đỏ trứng gà. Dùng vài hợp nước sôi hòa một viên, nghiền tan, uống ấm. Ban ngày uống ba hoặc bốn lần, ban đêm uống hai lần.
Nếu trong bụng chưa ấm thì tăng đến ba hoặc bốn viên. Tuy nhiên, tác dụng vẫn không bằng thuốc thang.
Phép dùng dạng thang: bốn vị trên, theo cân lượng đã ghi mà thái, dùng nước tám thăng, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày uống ba lần.
PHÉP GIA GIẢM
Nếu phía trên rốn có cảm giác đập thúc thì đó là Thận khí động, bỏ Bạch truật, thêm Quế bốn lạng (lượng theo tỷ lệ thu nhỏ: 12 g).
Nếu nôn nhiều, bỏ Bạch truật, thêm Sinh khương ba lạng (9 g).
Nếu tiêu chảy nhiều thì vẫn dùng Bạch truật. Nếu hồi hộp, thêm Phục linh hai lạng (6 g).
Nếu khát, muốn uống nước, tăng Bạch truật, kể cả lượng đã có, thành bốn lạng rưỡi (13,5 g).
Nếu đau bụng, tăng Nhân sâm, kể cả lượng đã có, thành bốn lạng rưỡi (13,5 g).
Nếu lạnh, tăng Can khương, kể cả lượng đã có, thành bốn lạng rưỡi (13,5 g).
Nếu bụng đầy, bỏ Bạch truật, thêm Phụ tử một củ (không có lượng gam cố định tương ứng).
Sau khi uống thuốc thang, chờ khoảng thời gian ăn một bữa, uống chừng một thăng cháo nóng, giữ thân thể hơi ấm, không vén mở áo chăn.
TẬP GIẢI
Trình Ứng Mao nói: Sự vận động của dương bắt đầu từ ôn. Có ôn khí thì tinh chất của thức ăn được vận chuyển; cốc khí thăng lên thì trung khí đầy đủ, cho nên gọi là Lý trung. Thực chất là dùng công năng điều hòa để giúp dương của trung tiêu.
Dương hư tức trung khí không giữ được chức năng. Đản trung không có tác dụng tuyên phát, sáu phủ không có công năng phân bố, giống như củi không còn ngọn lửa. Vì vậy, ở dưới thì tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, ở trên thì mất khả năng tiếp nhận, cảm nhận thức ăn; năm tạng bị lấn át, các chứng do đó mà sinh.
Nhân sâm, Bạch truật và Cam thảo chích dùng để giữ trung châu. Can khương vị cay, ôn trung; phải nhờ nó nhóm lại lửa trong củi, làm dương khí bốc lên.
Nhờ vậy, thức ăn vào phần âm mà nuôi lớn khí ở phần dương; trên vận chuyển đến Hoa cái, dưới thu giữ Châu đô, năm tạng sáu phủ đều được nhận khí. Đó là ý nghĩa của Lý trung.
Nếu thủy và hàn cùng thắng thì phải ôn cả Tỳ lẫn Thận, thêm Phụ tử để giúp Mệnh môn, làm ấm nguồn sinh dưỡng của thổ.
Bạch truật bổ Tỳ, phối với Nhân sâm có thể làm khí bị ủng. Vì vậy, động khí dưới rốn, nôn nhiều, bụng đầy thì đều bỏ Bạch truật.
Thêm Quế để trừ tà ở Thận; thêm Sinh khương để chỉ nôn; thêm Phụ tử để tiêu âm hàn.
Tiêu chảy nhiều là thấp thắng, vẫn dùng Bạch truật để táo thấp.
Khát muốn uống nước là khát do ẩm, thêm Bạch truật để ẩm được hóa, tân dịch được sinh.
Vùng dưới tâm hồi hộp là thủy đình, thêm Phục linh để dẫn thủy.
Đau bụng, tăng Nhân sâm là vì đau do hư. Lạnh, thêm Can khương là vì hàn nặng.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, vốn tự có hàn hạ, thầy thuốc lại gây nôn và công hạ, khiến hàn ngăn cách, lại nghịch thêm do gây nôn và công hạ. Nếu thức ăn vừa vào miệng liền nôn thì Can khương hoàng liên hoàng cầm nhân sâm thang chủ trị.
LỜI ÁN
Trong kinh luận không có bệnh “hàn hạ”, cũng không có lời “hàn hạ”.
Xét câu phía dưới “hàn ngăn cách, lại nghịch thêm do gây nôn và công hạ” thì biết chữ “hạ” trong “hàn hạ” phải là chữ “cách”; như vậy văn nghĩa mới liên hệ với nhau.
Các nhà chú giải đều hiểu là Vị hàn gây tiêu chảy, chẳng những không phù hợp văn nghĩa, mà còn không phù hợp với các thuốc Hoàng cầm, Hoàng liên.
CHÚ GIẢI
Kinh nói: “Cách thì nôn nghịch.” “Cách” là tên của bệnh nôn nghịch.
Sáng ăn, chiều nôn là hàn cách ở Tỳ; thức ăn vào liền nôn là nhiệt cách ở Vị.
“Vốn tự có hàn cách” nghĩa là người ấy vốn đã có bệnh hàn cách, sáng ăn chiều nôn.
Nay mắc thương hàn, thầy thuốc thấy những chứng có thể gây nôn, có thể công hạ thì chấp vào phép sẵn có, lại dùng hai phép ấy. Đó là hàn cách bị gây nôn và công hạ làm nghịch thêm.
Phải dùng Lý trung thang để ôn Thái âm, thêm Đinh hương để giáng hàn nghịch thì được.
Nếu thức ăn vừa vào miệng liền nôn thì không phải hàn cách mà là nhiệt cách. Phải dùng Can khương và Nhân sâm để yên Vị, Hoàng liên và Hoàng cầm để giáng Vị hỏa.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“圆” trong tên phương được dùng với nghĩa “丸”, tức hoàn. Lượng 9 g mỗi vị là cách trình bày tham khảo cho dạng thang hiện đại; không được xem là toàn bộ lượng thuốc của mẻ hoàn, hoặc là lượng của một viên. Tài liệu Đại học Baptist Hồng Kông cũng trình bày riêng cách làm hoàn và cách dùng dạng thang. 记录页面
Những lượng gam ở phép gia giảm được ghi theo tỷ lệ thu nhỏ để đối chiếu văn bản, không phải liều kê cụ thể. Các đơn vị nước, cháo và số viên được giữ theo cổ văn. Phụ tử cần được chế biến và sử dụng dưới sự hướng dẫn chuyên môn, không lấy “một củ” làm liều cố định.
Phép gia giảm ghi động khí “trên rốn”, nhưng tập giải lại ghi “dưới rốn”; bản dịch giữ sự khác nhau ấy. Chữ “Quế” được giữ nguyên, không tự đổi thành Quế chi hoặc Nhục quế.
“Hàn hạ” được giữ trong ĐIỀU VĂN vì đó là chữ của bản gửi về. Đề nghị sửa thành “hàn cách” là ý kiến hiệu đính của tác giả, trình bày riêng trong LỜI ÁN. Đoạn này mới nêu tên Can khương hoàng liên hoàng cầm nhân sâm thang, chưa có thành phần và cân lượng của phương.
Trường Xuân biên soạn
CAN KHƯƠNG HOÀNG LIÊN HOÀNG CẦM NHÂN SÂM THANG 干姜黄连黄芩人参汤
Can khương, Hoàng liên, Hoàng cầm, Nhân sâm, mỗi vị ba lạng (lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ: mỗi vị 9 g; không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng thời Hán).
Bốn vị trên, dùng nước sáu thăng, sắc còn hai thăng, bỏ bã, chia hai lần uống ấm.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, thầy thuốc công hạ, tiếp đó tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu không dứt, thân đau nhức thì phải gấp cứu lý.
Sau đó, thân vẫn đau nhức nhưng đại tiện đã tự điều hòa thì phải gấp cứu biểu.
Cứu lý nên dùng Tứ nghịch thang; cứu biểu nên dùng Quế chi thang.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, thầy thuốc không phân biệt biểu lý, hàn nhiệt, hư thực mà công hạ sai, tiếp đó tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu không dứt là phần lý bị làm lạnh.
Tuy vẫn có biểu chứng đau nhức toàn thân chưa hết, nhưng tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu không dứt thì lý hàn đã thịnh, theo phép phải gấp cứu lý.
Đợi đại tiện tự điều hòa mà thân vẫn đau nhức không dứt, khi ấy mới cứu biểu.
Cứu lý nên dùng Tứ nghịch thang để ôn trung, thắng hàn; cứu biểu nên dùng Quế chi thang để điều dinh, hòa vệ.
TẬP CHÚ
Vương Tam Dương nói: Chứng này phải lưu ý phân biệt với hiệp nhiệt hạ lợi. Cần xét màu sắc của chất thải và mức độ cấp, hoãn của bệnh, không được tùy tiện cho Tứ nghịch hoặc Quế chi.
Dụ Xương nói: Khi công lý, nhất định phải trước trị biểu, sau trị lý, mới tránh được việc làm trái thứ tự.
Chỉ khi âm hàn ở lý quá thịnh thì không thể không gấp cứu lý. Đợi lý chứng tạm ổn, vẫn phải cứu biểu. Đó là nói cứu lý rồi lại cứu biểu.
ĐIỀU VĂN
Tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu thì không được công biểu. Nếu làm ra mồ hôi, nhất định bụng trướng đầy.
CHÚ GIẢI
Điều này giải thích rõ trường hợp ở điều trên: không cứu lý trước mà lại phát tán phần biểu, đồng thời làm rõ chứng Thái âm và Thiếu âm cùng mắc bệnh.
Tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu là hàn tà Thái âm đã truyền vào Thiếu âm. Dù có thân đau cũng không được công biểu.
Nếu công biểu sai phép thì dù mồ hôi ra, biểu Thái dương được giải, nhưng hàn ở Thái âm ngưng lại, nhất định bụng trướng đầy.
ĐIỀU VĂN
Tiêu chảy, bụng trướng đầy, thân thể đau nhức thì trước ôn lý, sau mới công biểu.
Ôn lý nên dùng Tứ nghịch thang; công biểu nên dùng Quế chi thang.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối điều trên, bổ sung chứng trạng để làm rõ phép trị trước lý, sau biểu.
Tiêu chảy, bụng trướng đầy là hàn tà ở lý; thân thể đau nhức là hàn tà ở biểu.
Phàm chứng hàn tà ở biểu và lý cùng xuất hiện thì đều lấy ôn lý làm việc cấp thiết. Vì vậy phải trước ôn lý, sau công biểu.
Ôn lý nên dùng Tứ nghịch thang; công biểu nên dùng Quế chi thang.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Lý hư, biểu thực. Chính vì lý hư nên nhất định phải trị trước; chính vì biểu thực nên có thể trị sau.
ĐIỀU VĂN
Sau phát hãn, bụng trướng đầy thì Hậu phác sinh khương bán hạ cam thảo nhân sâm thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Sau phát hãn, biểu đã giải mà bụng đầy thì đó là trướng đầy do lý hư Thái âm.
Vì vậy dùng Hậu phác sinh khương cam thảo bán hạ nhân sâm thang làm chủ, để tiêu trướng, tán đầy, bổ trung, giáng nghịch.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Trướng đầy sau gây nôn và trướng đầy sau công hạ đều thuộc thực, nghĩa là tà khí thừa hư vào lý mà thành thực.
Sau phát hãn, phần ngoài đã giải, bụng trướng đầy thì biết không phải lý thực. Đó là do Thái âm không đủ, Tỳ khí không thông, cho nên ủng lại mà đầy.
Cho phương này để hòa Tỳ Vị, giáng nghịch khí là thích hợp.
Uông Hổ nói: Điều này là bụng trướng đầy do khí hư sau phát hãn. Người bệnh tuy trướng đầy nhưng bên trong không có vật thực kết tụ, cho nên dùng các thuốc ngọt ấm bổ ích như Nhân sâm, Cam thảo chích là không có gì đáng nghi.
Trương Tích Câu nói: Điều này nói phát hãn làm tổn thương Tỳ khí.
Tỳ chủ bụng, cho nên bụng đầy là chủ chứng của Thái âm. Sau phát hãn mà bụng trướng đầy thì biết người ấy vốn có Tỳ khí hư.
Nay Tỳ khí càng hư, không thể vận chuyển, trọc khí không giáng, thanh khí không thăng, do đó sinh trướng đầy.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Lượng 9 g mỗi vị ở phương đầu được ghi theo tỷ lệ thu nhỏ để đối chiếu văn bản, không phải liều kê cho một người cụ thể. Lượng nước sắc và cách chia uống giữ theo cổ văn, không áp dụng máy móc cho lượng thuốc hiện đại.
“Thanh cốc” nghĩa là đại tiện còn thức ăn chưa tiêu. “Cứu biểu” và “công biểu” trong đoạn này nói đến xử trí biểu tà, không phải phép công hạ.
Các nhận định về trướng đầy sau gây nôn, công hạ hoặc phát hãn được giữ theo lời cổ chú; cần đọc cùng mạch, chứng và diễn biến bệnh, không dùng riêng thời điểm xuất hiện trướng đầy để kết luận hư thực.
Đoạn này mới nêu tên Hậu phác sinh khương bán hạ cam thảo nhân sâm thang, chưa có thành phần và cân lượng của phương.
Trường Xuân biên soạn
HẬU PHÁC SINH KHƯƠNG BÁN HẠ CAM THẢO NHÂN SÂM THANG 厚朴生姜半夏甘草人参汤
Hậu phác chích, bỏ vỏ, nửa cân (lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ: 24 g), Sinh khương rửa sạch nửa cân (24 g), Bán hạ rửa sạch nửa thăng (giữ lượng đong cổ, không quy đổi trực tiếp sang gam), Cam thảo chích hai lạng (lượng đối chiếu: 6 g), Nhân sâm một lạng (3 g).
Năm vị trên, dùng nước một đấu, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày uống ba lần.
ĐIỀU VĂN
Phát hãn mà bệnh không giải, bụng đầy đau thì phải cấp hạ, nên dùng Đại thừa khí thang.
Bụng đầy không giảm, hoặc giảm không đáng kể, phải công hạ, nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Điều này giải thích thêm điều trên, bổ sung ý nghĩa cho nhau để phân biệt phép trị.
Sau phát hãn, biểu đã giải, bụng đầy mà không đau là hư mãn: bụng đầy có lúc giảm, rồi lại đầy như cũ. Phải ôn trị, đó là chứng Hậu phác sinh khương bán hạ cam thảo nhân sâm thang.
Nay sau phát hãn, biểu chưa giải, bụng đầy đau nhiều là thực mãn: bụng đầy không giảm, hoặc giảm không đáng kể. Phải công hạ, nên dùng Đại thừa khí thang.
Vì lý bệnh cấp nên công lý trước, sau đó hòa biểu.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Bốn chữ “giảm không đáng kể” diễn tả bụng đầy rõ như vẽ. Đầy đến mười phần, dù giảm một hoặc hai phần cũng không đủ làm nhẹ thế bệnh.
Vì vậy, dù ngoại tà chưa giải vẫn phải công hạ, không nghi ngờ.
Trình Ứng Mao nói: Công hạ mà bụng vẫn đầy như cũ, dù giảm một hoặc hai phần cũng không tính là giảm. Sau công hạ có thể lại công hạ, nhất định phải lấy hết đầy làm mức.
Lưu Hoành Bích nói: Thái âm không có phép công hạ. Nếu bệnh ở kinh thì các kinh vốn không có lý để công hạ; nếu bệnh ở tạng thì Thái âm càng không phải nơi chịu phép công hạ. Như vậy, sao có thể không nghi ngờ Quế chi gia đại hoàng thang?
Nhưng phải biết Tỳ và Vị có quan hệ biểu lý. Thái dương bị công hạ sai, Thái âm nhận tà; gặp lúc Vị có thức ăn lưu tích thì Tỳ theo cái thực của Vị mà thành thực, đồng thời vì tà Thái dương mà đau.
Đã đầy nhiều, đau nhiều, thành Vị thực thì không còn là trường hợp phương ấy có thể chữa, cho nên phải dùng Đại thừa khí thang.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái âm, mạch phù thì có thể phát hãn, nên dùng Quế chi thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh ở kinh Thái âm, mạch đáng lẽ phù hoãn; bệnh ở tạng Thái âm, mạch đáng lẽ trầm hoãn.
Nay tà đến Thái âm, mạch phù mà không hoãn thì biết biểu tà Thái dương vẫn chưa hết hoàn toàn.
Vì vậy, dù có một hoặc hai chứng như nôn, tiêu chảy, không ăn được, bụng đầy, đau từng lúc, nhưng mạch không trầm mà phù thì có thể dùng Quế chi để phát hãn, trước giải phần ngoài.
Đợi phần ngoài đã giải rồi lại điều hòa phần trong.
Qua đây cũng biết trường hợp trong luận nói thân đau, bụng đầy, tiêu chảy, phải gấp cứu lý trước thì mạch nhất định không phù.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói: Bệnh ở Thái dương, mạch phù, không có mồ hôi thì nên dùng Ma hoàng thang.
Ở đây mạch phù, hẳn cũng không có mồ hôi nhưng không nói, vì cho rằng âm không có mồ hôi, không cần nói thêm.
Không dùng Ma hoàng thang mà dùng Quế chi thang là vì ba kinh âm kiêm bệnh ở biểu đều không nên làm ra nhiều mồ hôi. Phải biết không có mồ hôi cũng có trường hợp dùng Quế chi.
Trình Tri nói: Điều này nói bệnh Thái âm có trường hợp nên phát tán.
Bệnh Thái âm là nói có đau bụng, tiêu chảy. Mạch Thái dương phù ở cả thốn và xích; nay mạch phù thì biết tà trở ra biểu, cho nên dùng Quế chi để giải tán.
Không dùng Ma hoàng vì bệnh âm không được làm ra nhiều mồ hôi. Quế chi thang còn có ý hòa lý.
Trình Ứng Mao nói: Đây là Thái dương trong bệnh Thái âm. Tuy có lý bệnh, vẫn theo biểu Thái dương mà trị, mới không dẫn tà vào tạng.
ĐIỀU VĂN
Vốn là bệnh Thái dương, thầy thuốc lại công hạ, nhân đó bụng đầy, đau từng lúc thì thuộc Thái âm, Quế chi gia thược dược thang chủ trị.
Nếu thực nhiều mà đau thì Quế chi gia đại hoàng thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Vốn là bệnh Thái dương trúng phong, thầy thuốc không dùng Quế chi thang để phát tán mà lại công hạ, khiến tà hãm vào lý.
Không có chứng khác, chỉ bụng đầy, đau từng lúc thì thuộc lý hư thống của Thái âm. Vì vậy nên dùng Quế chi gia thược dược thang để bên ngoài giải biểu Thái dương, bên trong điều hòa lý hư Thái âm.
Nếu đầy nhiều, thực mà đau thì thuộc Thái âm hóa nhiệt, Vị thực gây đau. Vì vậy nên dùng Quế chi gia đại hoàng thang để bên ngoài giải biểu Thái dương, bên trong công lý thực Thái âm.
TẬP CHÚ
Triệu Tự Chân nói: Chứng bụng đầy Thái âm có ba loại: tà truyền kinh theo thứ tự; tà trực tiếp vào trong gây trúng hàn; tà hãm vào trong sau công hạ. Không thể không phân biệt.
Dụ Xương nói: Bệnh Thái dương bị công hạ sai, những biến chứng thường ở vùng ngực sườn trở lên.
Ở đây, sau công hạ sai lại bụng đầy, đau từng lúc, không có chứng ngực sườn thì tà đã vào vị trí thuộc âm, cho nên bệnh thuộc Thái âm.
Vẫn dùng phép giải cơ của Quế chi để thăng phát tà Thái dương; tăng gấp đôi Thược dược để điều hòa khí Thái âm. Phương gốc không thêm một vị thuốc nào, thật là thần diệu.
Thực nhiều, đầy nhiều thì nên cấp hạ. Nhưng tà ở phần dương mới hãm vào Thái âm, chưa thể công mạnh; chỉ thêm một ít Đại hoàng vào Quế chi thang, lấy bảy phần biểu, ba phần lý để phân giải, làm giảm tà ở mỗi phần. Ý nghĩa giống Đại sài hồ thang.
Trình Ứng Mao nói: Công hạ sai bệnh Thái dương mà thành bụng đầy, đau từng lúc thì chứng Thái âm đã xuất hiện.
Nhưng đây là biểu tà hãm vào trong, lưu trệ ở Thái âm, không phải bệnh tạng hàn.
Vẫn dùng Quế chi thang để thăng phát dương tà, chỉ tăng gấp đôi Thược dược để điều hòa.
Nếu thực nhiều mà đau, xét chứng dường như có thể cấp hạ, nhưng là âm thực chứ không phải dương thực. Vẫn theo phép Quế chi để thăng phát dương tà, chỉ thêm Đại hoàng phá vật kết trệ, khiến tà ở biểu và lý đều có đường ra.
Hàn theo cái thực mà đi thì không cần ôn cũng tự ấm.
Hai chứng này tuy thuộc Thái âm nhưng thực ra từ Thái dương truyền đến, cho nên biết mạch nhất định vẫn còn phù.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“半筋” được hiểu là “半斤”, nghĩa là nửa cân. Lượng gam trong phương đầu chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải khối lượng lịch sử hay liều kê cụ thể. Bán hạ nửa thăng là lượng đong; khi dùng hiện nay cần chọn dược liệu đã chế biến và xác định lượng riêng.
Những cách giải thích “Thái âm không có phép hạ”, “Thái âm hóa nhiệt”, “âm thực” được giữ riêng theo từng nhà chú giải, không gộp thành một nhận định thống nhất.
Các lời “công hạ tiếp đến khi hết đầy” và “âm không có mồ hôi” là lập luận trong cổ chú, không dùng làm quy tắc tuyệt đối để tự điều trị hiện nay. Đoạn này mới nêu chứng trị của Quế chi gia thược dược thang và Quế chi gia đại hoàng thang, chưa có cân lượng hai phương ấy.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI GIA THƯỢC DƯỢC THANG 桂枝加芍药汤
Trong phương Quế chi thang, thêm Thược dược ba lạng (lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ: 9 g), cộng với lượng đã có thành sáu lạng (18 g). Các phần còn lại theo phép Quế chi thang.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
18 g là tổng lượng Thược dược theo tỷ lệ thu nhỏ dùng để đối chiếu văn bản, không phải thêm 18 g vào phương gốc, cũng không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng thời Hán.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI GIA ĐẠI HOÀNG THANG 桂枝加大黄汤
Quế chi ba lạng (lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ: 9 g), Đại hoàng hai lạng (6 g), Thược dược sáu lạng (18 g), Cam thảo chích hai lạng (6 g), Sinh khương thái lát ba lạng (9 g), Đại táo bẻ ra mười hai quả.
Sáu vị trên, dùng nước bảy thăng, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày uống ba lần.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Bụng đầy là chứng cả Thái âm và Dương minh đều có, nhưng vị trí tuy giống nhau mà chức năng khác nhau.
Thái âm chủ xuất. Thái âm mắc bệnh thì khí của chất mục trệ, ô uế ngưng lại, không thông lợi, cho nên bụng đầy, đau từng lúc.
Dương minh chủ nạp. Dương minh mắc bệnh thì chất mục trệ, ô uế khô kết, không đi được, cho nên thực nhiều mà đau. Như vậy biết đau do thực nhiều là bệnh Dương minh, không phải bệnh Thái âm.
Trọng Cảnh vì biểu chứng chưa giải, dương tà đã hãm vào Thái âm nên tăng gấp đôi Thược dược để ích Tỳ, điều trung, trừ chứng bụng đầy đau từng lúc. Đây là phép dùng âm để hòa dương.
Nếu biểu tà chưa giải mà dương tà hãm vào Dương minh thì thêm Đại hoàng để nhuận Vị, thông kết, trừ đau do thực nhiều. Đây là phép giải cả biểu lẫn lý.
Phàm công hạ bừa bãi nhất định làm tổn thương khí và dịch của Vị. Vị khí hư thì dương tà xâm vào âm, cho nên chuyển thuộc Thái âm. Vị dịch khô cạn thì hai dương tranh nhau, cho nên chuyển thuộc Dương minh.
Thuộc Thái âm thì bụng đầy, đau từng lúc mà không thực, đó là âm đạo hư. Thuộc Dương minh thì bụng đầy, thực nhiều mà đau, đó là dương đạo thực.
Đầy mà đau từng lúc là dấu hiệu sắp tiêu chảy; thực nhiều mà đau là dấu hiệu phân khô kết.
Vì vậy tăng gấp đôi Thược dược, hơi biến đổi phương Kiến trung; thêm ít Đại hoàng, thể hiện nhẹ phép Điều vị.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái âm, mạch nhược, người bệnh tiếp đó sẽ tự tiêu chảy. Nếu cần dùng Đại hoàng, Thược dược thì nên giảm lượng, vì Vị khí của người ấy yếu, đại tiện dễ bị tác động.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thái âm nhất định có bụng đầy và đau. Phép trị phải căn cứ vào mạch mà cân nhắc.
Nếu mạch nhược thì bên trong không thực. Tuy chưa có khí chuyển động đi xuống bụng dưới, nhưng tiếp đó nhất định sẽ tự tiêu chảy.
Nếu cần dùng Đại hoàng, Thược dược thì nên giảm lượng, vì Vị khí yếu, khó chịu được công kích mạnh, đại tiện dễ bị tác động.
Suy từ đó có thể biết: dù đại tiện cứng, bất luận bệnh ở âm hay dương, hễ mạch nhược đều không được tùy tiện công hạ.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói Thái âm có mạch nhược, lo tiếp đó tự tiêu chảy; dù đau bụng cũng không nên dùng phép công. Ý nghĩa bổ sung cho Kiến trung thang.
Dụ Xương nói: Lời dặn kỹ trong đoạn này bổ sung cho những điều ở thiên Dương minh.
Thiên Dương minh nói không trung tiện, trước cứng sau lỏng, hoặc chưa chắc đã thành phân cứng, đều là lo làm tổn thương Tỳ khí Thái âm.
Ở đây là chứng Thái âm mà mạch nhược, lo tiếp đó tự tiêu chảy; dù đau bụng cũng giảm Đại hoàng, Thược dược, lại là lo làm tổn thương Vị khí Dương minh.
Uông Hổ nói: Có người hỏi: Đại hoàng có thể làm tổn thương Vị khí nên phải giảm; Thược dược có thể điều hòa Tỳ âm, tại sao cũng giảm?
Đáp: Mạch nhược thì khí suy, không đầy đủ. Trọng Cảnh lấy thuốc ngọt ấm để sinh khí. Thược dược vị chua, tính hàn, tuy không mạnh như Đại hoàng nhưng cũng không phải thứ người khí yếu nên dùng nhiều, cho nên cũng giảm.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch phù mà hoãn, tay chân vẫn ấm thì bệnh ở Thái âm.
Thái âm đáng lẽ phát vàng toàn thân. Nếu tiểu tiện thông lợi thì không phát vàng.
Đến ngày thứ bảy, thứ tám, dù đột nhiên phiền, tiêu chảy hơn mười lần một ngày, nhất định sẽ tự dứt, vì Tỳ gia thực, chất mục trệ, ô uế phải được tống ra.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, mạch phù mà hoãn, tay chân nóng thì bệnh ở Thái dương. Nay tay chân chỉ ấm, cho nên biết bệnh ở Thái âm.
Thái âm thuộc thấp. Thấp và nhiệt uất lại thì đáng lẽ thân phát vàng. Nếu tiểu tiện thông lợi thì thấp không tích, nhiệt không uất, cho nên không phát vàng.
Nếu đến ngày thứ bảy, thứ tám, đại tiện cứng thì bệnh chuyển thuộc Dương minh.
Nay đại tiện không cứng, dù đột nhiên phiền, tiêu chảy hơn mười lần một ngày, nhất định sẽ tự dứt. Vì sao?
Vì mạch phù hoãn, tay chân ấm thì biết Tỳ gia Thái âm vốn có thực lực, không dung chứa tà, cho nên chất mục trệ, ô uế phải được tống ra.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói chứng tự tiêu chảy, mạch phù hoãn, tay chân ấm thì thuộc Tỳ thực.
Mạch Thái âm vốn hoãn. Vì vậy, phù hoãn tuy giống Thái dương trúng phong, nhưng tay chân vẫn ấm thì không giống phát nhiệt Thái dương, càng không giống quyết nghịch của Thiếu âm và Quyết âm, cho nên bệnh ở Thái âm.
Thấp nhiệt Thái âm hun đốt nhau thì theo thế bệnh sẽ phát vàng. Nhưng tiểu tiện thông lợi thì thấp tiết xuống dưới, không phát vàng.
Tuy đột nhiên phiền, tiêu chảy nhiều lần, giống chứng Thiếu âm, nhưng tiêu chảy ấy sẽ tự dứt.
Vì mạch phù hoãn, tay chân ấm thì biết Tỳ khí có thực lực, không giống hư hàn. Chất mục trệ, ô uế do thấp nhiệt tích lại tự phải bị đẩy xuống mà ra.
Nếu không phân biệt rõ, lại dùng phép Tứ nghịch để chữa thì sai.
Trình Ứng Mao nói: Thái âm có mạch phù hoãn, tay chân ấm thì Vị dương đang làm việc, tự không có đau do tạng hàn, nhưng có thể có âm uất.
Tiểu tiện không thông lợi thì nhất định phát vàng; dù phát vàng cũng không phải âm hoàng.
Nếu tiểu tiện thông lợi thì không phát vàng. Âm muốn uất, nhưng dương nhất định đẩy đi. Đến ngày thứ bảy, thứ tám, dù đột nhiên phiền, tiêu chảy hơn mười lần một ngày, nhất định sẽ tự dứt.
Vì mạch không trầm nhược mà phù hoãn, tay chân không lạnh mà vẫn ấm; âm được dương bảo vệ thì không hàn, không hàn thì không hư, đó là Tỳ gia thực.
Kinh nói: Dương đạo thực, âm đạo hư. Âm vận hành theo dương đạo thì sao chịu để tà lưu lại lâu? Vì vậy chất mục trệ, ô uế phải được tống ra.
Uông Hổ nói: Tiêu chảy rồi phiền táo là chết. Đó là trước tiêu chảy, sau phiền, chính khí thoát mà tà khí quấy nhiễu.
Trường hợp này lại trước phiền, sau tiêu chảy, vì chính khí của Tỳ có thực lực, không nhận tà mà tranh với tà, cho nên đột nhiên phát phiền nhiệt.
ĐIỀU VĂN
Thái âm trúng phong, tứ chi đau nhức khó chịu, dương mạch vi, âm mạch sáp mà trường thì bệnh sắp khỏi.
CHÚ GIẢI
Thái âm trúng phong nghĩa là bệnh Thái âm này từ Thái dương trúng phong truyền đến, cho nên có chứng tứ chi đau nhức khó chịu.
Âm dương ở đây nói theo phù và trầm.
Mạch Thái âm phù thì vi, trầm thì sáp, lại kèm mạch trường của Dương minh thì đó là âm bệnh có dương mạch, tà từ tạng truyền sang phủ, cho nên bệnh sắp khỏi.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Thương hàn là âm tà, cho nên tự tiêu chảy, nên dùng Tứ nghịch. Thương phong là dương tà, cho nên đau nhức khó chịu biểu hiện ở tứ chi.
Phàm bệnh Thái âm có mạch phù, phần nhiều là Thái âm trúng phong.
Dụ Xương nói: Trong mạch vi sáp, lại xét thấy mạch trường mà không đoản thì biết nguyên khí chưa suy tán, bệnh sẽ tự khỏi.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thái âm muốn giải, vào khoảng từ giờ Hợi đến hết giờ Sửu.
CHÚ GIẢI
Tà được giải nhất định vào lúc kinh khí vượng. Hợi, Tý, Sửu là lúc Thái âm vượng.
Đúng lúc khí vượng, tà không thể thắng nên tự giải.
CHÚ ÂM CỦA NGUYÊN BẢN
Chữ “xu” được ghi bằng phép phiên thiết “thất–cú”. Chữ “yết” được chú đọc như “kiết”. Chữ “hủ” được chú đọc như “phủ”. Chữ “uế” được ghi bằng phép phiên thiết “ư–phế”.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Lượng gam ở phương đầu được trình bày theo tỷ lệ thu nhỏ để đối chiếu văn bản, không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng cổ hay liều kê cụ thể. Thược dược 18 g là tổng lượng trong phương. Nước sắc và cách chia uống giữ theo cổ văn.
“Tỳ gia thực” trong đoạn này chủ yếu nói Tỳ khí còn có sức chống tà, không đồng nghĩa hoàn toàn với thực chứng do tích trệ. Các nhận định “nhất định tự dứt”, “là chết” được giữ theo cổ chú, không xem là tiên lượng tuyệt đối. Tiêu chảy nhiều lần cần đánh giá tình trạng mất nước và diễn biến thực tế, không chỉ chờ tự dứt.
Giờ Hợi đến hết giờ Sửu tương ứng khoảng 21 giờ đến 3 giờ sáng hôm sau theo cách chia giờ thông dụng.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH, CHỨNG VÀ PHÉP TRỊ BỆNH THIẾU ÂM — TOÀN THIÊN
Thiếu âm là kinh Thận, tạng của thủy và hỏa. Tà làm tổn thương kinh này, tùy tình trạng hư thực của từng người mà hoặc theo thủy hóa thành hàn, hoặc theo hỏa hóa thành nhiệt.
Thủy hóa thành âm hàn là bản; hỏa hóa thành dương nhiệt là tiêu.
Âm tà có mạch trầm tế mà vi; dương tà có mạch trầm tế mà sác. Những chứng biểu hiện cũng khác nhau.
Âm tà chỉ muốn ngủ, thân không nóng; dương tà tuy muốn ngủ nhưng phần nhiều có tâm phiền.
Âm tà khiến lưng sợ lạnh, trong miệng bình thường; dương tà khiến lưng sợ lạnh nhưng miệng khô.
Âm tà gây đau họng mà không sưng; dương tà gây đau họng thì sưng.
Âm tà gây đau bụng, tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu; dương tà gây đau bụng, tiêu chảy ra nước trong hoặc đại tiện có mủ máu.
Âm tà có thể ngoài nóng, mặt đỏ, nhưng trong lạnh, đại tiện lỏng, nước tiểu trong trắng.
Dương tà có thể ngoài lạnh, tay chân quyết lạnh, nhưng trong nóng, đại tiện bí, nước tiểu đỏ.
Đó là mạch và chứng hàn nhiệt thuộc tiêu, bản của Thiếu âm.
Phàm trị theo bản thì đều nên ôn hàn, hồi dương; trị theo tiêu thì đều nên công nhiệt, cứu âm.
Cơ chuyển để hồi dương, cứu âm rất tinh vi. Khi lâm chứng phải xét kỹ, phân biệt tiêu bản, hàn nhiệt, rồi kịp thời điều trị, mới mong cứu chữa được. Chậm một chút có thể không còn kịp.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, mạch vi tế, chỉ muốn ngủ.
CHÚ GIẢI
Thiếu âm là kinh Thận, tạng có âm thịnh.
Thiếu âm nhận tà thì dương khí suy vi, cho nên mạch tế.
Vệ khí đi ở phần dương thì thức, đi ở phần âm thì ngủ. Thiếu âm nhận tà, âm thịnh, khí đi ở phần âm nhiều, cho nên chỉ muốn ngủ.
Đây là đề cương của bệnh Thiếu âm. Sau này hễ gọi bệnh Thiếu âm thì đều nói đến mạch và chứng ấy.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Thiếu âm là kinh Thận, ở vị trí thấp nhất, đường kinh khởi ở phía dưới ngón chân út.
Linh khu nói: “Những bệnh do kinh này làm chủ có thích nằm, chỉ muốn ngủ.”
Con người tương ứng với trời đất. Khí trời đất đi ở dương thì mở ra, thành ban ngày; đi ở âm thì khép lại, thành ban đêm. Vì vậy, khí của người đi ở dương thì hoạt động và thức; đi ở âm thì yên tĩnh và ngủ.
Phàm người bệnh chỉ muốn ngủ là tà ở phần âm.
Trương Lộ nói: Điều này nói tổng mạch và tổng chứng của Thiếu âm.
Thiếu âm thuộc thủy, chủ tĩnh. Dù nhiệt tà truyền đến kinh này, mạch trước đó tuy phù đại, lúc này cũng nhất định chuyển thành trầm tế; chứng trước đó tuy phiền nhiệt, không yên, lúc này cũng nhất định chuyển thành lơ mơ, thích nằm.
Nhưng phải phân biệt: mạch tế, trầm, sác, miệng khô là nhiệt chứng; mạch trầm, vi, tế, miệng bình thường là hàn chứng. Phân biệt rõ như vậy thì không nhầm lẫn.
Trình Ứng Mao nói: Phàm âm mạch đều trầm, khác với mạch phù của Thái dương, không cần nói thêm.
Mạch Dương minh đại; vi là ngược với đại. Mạch Thiếu dương huyền; tế là ngược với huyền. Trầm mà kèm vi tế thì âm chứng đã xác định.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm mới mắc, trái lại phát nhiệt, mạch trầm thì Ma hoàng phụ tử tế tân thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thiếu âm là nói chỉ muốn ngủ. Mạch trầm là nói mạch không vi tế mà trầm.
Nay mới mắc bệnh, đáng lẽ không phát nhiệt mà trái lại phát nhiệt thì đó là lý hàn Thiếu âm, đồng thời có biểu nhiệt Thái dương.
Vì vậy nên dùng Ma hoàng phụ tử tế tân thang để ôn trung, phát hãn, chăm giữ dương khí. Như vậy, hàn tà của hai phần cùng mắc bệnh đều được giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Phát nhiệt là tà ở biểu. Mạch trầm là Thiếu âm ở phương Bắc, cư tại lý.
Vì Thiếu âm ở lý mà tà lại ở biểu, gây phát nhiệt, cho nên nói “trái lại”.
Tà ở biểu, không ở lý, cho nên dùng Ma hoàng để phát tán. Vì gốc thuộc âm, ngọn thuộc hàn, cho nên dùng Phụ tử để ôn.
Tế tân cay ấm, thông vào Thiếu âm, dùng để giúp thuốc chủ trị, vì chuyên vào kinh ấy mà làm vị dẫn đường.
Trình Tri nói: Phép giải biểu của ba kinh âm khác với ba kinh dương.
Ba kinh âm nhất định phải dùng thuốc ôn kinh làm cơ sở cho phép giải biểu. Thiếu âm lại càng là chỗ then chốt, cho nên dùng thuốc tán tà, ôn kinh, khiến ngoại tà đã vào sâu có thể ra, mà nội dương cũng không vì thế thoát ra ngoài.
Trình Ứng Mao nói: Ngay lúc khởi bệnh đã phát nhiệt, lại không có mồ hôi như bệnh ở kinh âm. Người đời dựa vào số ngày và đối chiếu chứng thường biết dùng Ma hoàng, nhưng lại e ngại Phụ tử.
Không biết mạch trầm là vì kinh Thận của người ấy vốn hàn, lý dương không thể phối hợp ứng ra ngoài, cho nên mạch trầm mà không phù được.
Trầm thuộc Thiếu âm thì không được phát hãn; nhưng ngay khi mới mắc bệnh đã phát nhiệt thì kiêm Thái dương, lại không thể không phát hãn.
Phải dùng Phụ tử ôn kinh, trợ dương, giữ vững phần lý, khiến dương không theo mồ hôi mà thoát ra ngoài. Khi ấy Ma hoàng mới có thể phối hợp với Tế tân để dùng.
Lâm Lan nói: Tà truyền vào trong và âm hàn đều có mạch trầm. Mạch trầm chỉ có thể cho biết bệnh ở lý, chưa thể riêng dựa vào trầm mà xác định hàn.
Trong chứng Thiếu âm, mạch vi tế mà trầm với mạch tế sác mà trầm khác nhau rất lớn về hàn nhiệt.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Đoạn này mới nêu tên Ma hoàng phụ tử tế tân thang, chưa có thành phần và cân lượng nên chưa ghi lượng tham khảo hiện đại.
“Chỉ muốn ngủ” trong văn cảnh này bao gồm trạng thái mệt lả, lơ mơ, thích nằm, không đơn thuần là ngủ nhiều. Những biểu hiện hàn nhiệt được giữ theo lời cổ chú; cần xét phối hợp toàn bộ chứng trạng, không chỉ dựa vào mạch trầm, miệng khô hay tay chân lạnh.
Trường Xuân biên soạn
MA HOÀNG PHỤ TỬ TẾ TÂN THANG 麻黄附子细辛汤
Ma hoàng bỏ đốt hai lạng (lượng tham khảo hiện đại: 6 g), Tế tân hai lạng (lượng tham khảo hiện đại: 3 g), Phụ tử bào chế, bỏ vỏ, chẻ tám miếng, một củ (không có khối lượng gam cố định tương ứng). Lượng Ma hoàng và Tế tân trong ngoặc theo tài liệu Nhà xuất bản Y tế Nhân dân, không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng cổ. rwzyzs.pmphai.com
Ba vị trên, dùng nước một đấu, trước sắc Ma hoàng cho giảm hai thăng, vớt bọt nổi, cho các thuốc còn lại vào, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày uống ba lần.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, mắc được hai, ba ngày, dùng Ma hoàng phụ tử cam thảo thang để làm ra chút mồ hôi. Vì hai, ba ngày mà không có lý chứng, cho nên chỉ phát hãn nhẹ.
CHÚ GIẢI
Điều này giải thích thêm điều trên: bệnh Thiếu âm mắc được hai, ba ngày, vẫn mạch trầm, phát nhiệt chưa giải thì nên dùng Ma hoàng phụ tử cam thảo thang để phát hãn nhẹ.
Nghĩa là sau hai, ba ngày không thấy những lý hàn chứng như nôn, tiêu chảy thì biết tà đã suy. Tuy nhiên, nhiệt vẫn còn ở ngoài, vẫn phải phát hãn, nhưng không được quá mức.
Vì vậy không dùng Tế tân mà dùng Cam thảo, có ý điều hòa trong phép ôn tán.
Hai chứng này đều không nói “không có mồ hôi”, không phải Trọng Cảnh bỏ sót, mà vì cho rằng âm không có mồ hôi nên không cần nói.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Thiếu âm không có phép phát hãn; phát hãn nhất định dẫn đến vong dương.
Chỉ riêng chứng này, bên ngoài có phát nhiệt, không có mồ hôi của Thái dương; bên trong không có nôn, tiêu chảy, táo phiền, nôn nghịch hoặc khát thì mới có thể ôn kinh, tán hàn, lấy chút mồ hôi thoáng nhẹ.
Trình Ứng Mao nói: Đã nói phát hãn nhẹ, lại dùng hai chữ “vì” và “cho nên” để truy rõ nguyên do, đủ thấy ý thận trọng.
Xét hai điều này với điều trong thiên Thái dương nói phát nhiệt, đau đầu, mạch trầm, dùng Tứ nghịch, vốn là cùng một loại chứng.
Ở điều kia, bệnh không khỏi thì biết đã quá ba ngày, bệnh đã vào lý. Tuy vẫn mang biểu hiện đau đầu Thái dương, phải trực tiếp xét theo phép Thiếu âm mà trị.
Ở đây, bệnh Thiếu âm mới mắc hai, ba ngày, tuy không có chứng đau đầu, cũng không thể hoàn toàn chỉ theo Thiếu âm mà trị, cho nên vẫn phải kiêm phép Thái dương để xét.
Một bên tà ra, một bên tà vào, sự phân định rõ như văn bản xét án.
Giả sử điều trước mới mắc hai, ba ngày, còn hai điều sau đã quá hai, ba ngày mà không khỏi thì Tứ nghịch và Ma hoàng đổi chỗ cho nhau cũng theo cùng một lẽ.
Uông Hổ nói: Điều trên trái lại phát nhiệt, mạch trầm; điều này cũng trái lại phát nhiệt, mạch trầm.
Nhưng điều trên nói mới mắc, thế bệnh cấp; điều này nói đã mắc hai, ba ngày, thế bệnh hoãn.
Thế bệnh hơi hoãn thì phép trị cũng hoãn.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Tế tân hai lạng được đối chiếu với 3 g trong tài liệu hiện đại của phương này, khác cách trình bày theo tỷ lệ thu nhỏ 3 g cho một lạng. Vì vậy không áp dụng một tỷ lệ chung cho mọi vị thuốc.
Phụ tử tính bằng củ được giữ nguyên theo cổ văn. Cách bào chế và sắc trong bản dịch là nội dung lịch sử, không thay thế quy trình sử dụng Phụ tử đã chế biến hiện nay; không tự sắc dùng theo số củ.
Những câu “Thiếu âm không có phép phát hãn” và “âm không có mồ hôi” được giữ theo lập luận của từng nhà chú giải trong văn cảnh này, không hiểu là quy tắc tuyệt đối cho mọi bệnh thuộc âm.
Đoạn này mới nêu chứng trị của Ma hoàng phụ tử cam thảo thang, chưa có cân lượng của phương ấy.
Trường Xuân biên soạn
MA HOÀNG PHỤ TỬ CAM THẢO THANG 麻黄附子甘草汤
Ma hoàng bỏ đốt hai lạng (lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ: 6 g), Phụ tử bào chế, bỏ vỏ, chẻ tám miếng, một củ (không có khối lượng gam cố định tương ứng), Cam thảo chích hai lạng (lượng đối chiếu: 6 g).
Ba vị trên, dùng nước bảy thăng, trước đun Ma hoàng sôi một hoặc hai lượt, vớt bọt nổi, cho các thuốc còn lại vào, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày uống ba lần.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Trường hợp kia là bệnh Thái dương mà mạch lại trầm, liền dùng Tứ nghịch để gấp cứu lý, đó là lý hàn, âm thịnh.
Trường hợp này có mạch Thiếu âm mà biểu lại nóng, liền thêm Phụ tử vào phương giải biểu để giữ vững dương khí từ trước, đó là biểu nhiệt, dương suy.
Phát nhiệt, không có mồ hôi là biểu Thái dương; mạch trầm, chỉ muốn ngủ là lý Thiếu âm.
Nếu dùng Ma hoàng mở tấu lý, Tế tân tán nhiệt ở ngoài mà không có Phụ tử giữ nguyên dương thì chút dương của Thái dương sẽ mất ra ngoài.
Chỉ khi Phụ tử và Ma hoàng cùng dùng thì hàn tà được tán mà dương không mất. Đây là lý bệnh liên lụy đến biểu, mạch trầm mà phải phát hãn, khác hẳn bệnh ở biểu, mạch phù mà phát hãn.
Nếu biểu chỉ hơi nóng thì mức cảm hàn cũng nhẹ, cho nên dùng Cam thảo thay Tế tân để phát hãn nhẹ. Lấy vị ngọt để làm hòa hoãn, so với lấy vị cay để phát tán, lại có khác biệt nhỏ.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, mạch vi thì không được phát hãn, vì sẽ vong dương.
Dương đã hư, mạch xích nhược sáp thì lại không được công hạ.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thiếu âm, mạch vi, dù có phát nhiệt cũng là lý hàn ngoại nhiệt của Thiếu âm, không thể so với phát nhiệt Thái dương. Vì vậy không được phát hãn; phát hãn thì vong dương.
Dương đã hư, tân dịch đã cạn, dù thấy những chứng có thể công hạ của Thiếu âm như miệng khô, họng khô, nhưng nếu mạch xích nhược sáp thì vẫn không được công hạ, vì lại lo vong âm.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch vi là dương khí không đầy đủ, cho nên gọi là vô dương. Không có dương thì khí hóa không vận hành, vì vậy không được phát hãn.
Bộ xích dùng để xét âm. Nhược sáp là âm huyết không đủ, cho nên nói lại không được công hạ. Qua đó cũng biết phải gấp dùng phép ôn bổ.
Trình Ứng Mao nói: Thiếu âm phần nhiều có chứng tự tiêu chảy, người ta vốn không muốn tùy tiện công hạ.
Nhưng đặc biệt nêu “mạch xích nhược sáp” thì có thể ngầm thấy rằng chứng Đại thừa khí thang của Thiếu âm nhất định có mạch xích mạnh mà hoạt.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh có mạch âm dương đều khẩn, trái lại ra mồ hôi thì đó là vong dương, thuộc Thiếu âm. Theo lẽ phải đau họng, lại nôn và tiêu chảy.
CHÚ GIẢI
Người bệnh có mạch âm dương đều khẩn, phát nhiệt, không có mồ hôi là chứng Thái dương thương hàn.
Phát nhiệt, ra mồ hôi không dứt là chứng Thái dương vong dương.
Nay mạch khẩn, không nóng mà trái lại ra mồ hôi thì thuộc Thiếu âm. Chứng Thiếu âm này, theo lẽ phải đau họng, lại nôn và tiêu chảy.
Điều trên mạch vi, không có mồ hôi, không được phát hãn là lấy mạch làm chủ. Điều này có mồ hôi, mạch khẩn, không được phát hãn là lấy chứng làm chủ.
Theo mạch hay theo chứng, không thể không xét kỹ.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Âm dương đều khẩn là mạch thương hàn, theo lẽ không có mồ hôi. Nay trái lại ra mồ hôi thì dương của Thái dương mất ra ngoài.
Nếu đem chứng Thiếu âm vong dương nhận thành chứng Thái dương trúng phong thì sai.
Hàn Thiếu âm bức lên thì đau họng và nôn; bức xuống thì tiêu chảy.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, mạch khẩn, đến ngày thứ bảy, thứ tám tự tiêu chảy, mạch đột nhiên vi, tay chân trái lại ấm, mạch khẩn mất đi thì bệnh sắp giải.
Dù phiền và tiêu chảy, nhất định tự khỏi.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối điều trên, bổ sung ý nghĩa để phân biệt âm dương, hàn nhiệt.
Bệnh Thiếu âm có mạch trầm vi tế là mạch hàn tà; mạch trầm sác tế là mạch nhiệt tà.
Mạch khẩn, ra mồ hôi là chứng hàn hư Thiếu âm. Nay mạch khẩn, không có mồ hôi là chứng hàn thực Thiếu âm.
Bệnh kéo dài đến ngày thứ bảy, thứ tám rồi tự tiêu chảy. Nếu hàn thực được giải thì mạch nhất định hết khẩn, đột nhiên trở thành vi; tay chân nhất định từ lạnh chuyển sang ấm.
Như vậy biết tà theo tiêu chảy mà ra, bệnh sắp giải. Vì vậy lúc này dù phiền và tiêu chảy cũng là âm lui, dương hồi, cho nên biết bệnh nhất định tự khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Khẩn là hàn tà. Tự tiêu chảy, mạch đột nhiên vi là âm hàn được tả ra từ bên trong.
Vì vậy nói tay chân “trái lại ấm”, nghĩa là dương hồi. Dương hồi thì âm lui, cho nên nói mạch khẩn mất đi, bệnh sắp giải.
Hàn tà ở âm, mạch khẩn; tự tiêu chảy rồi mạch đột nhiên vi, tay chân ấm, mạch khẩn mất thì bệnh sắp giải. Cũng như tà ở dương, mạch sác, thân nóng; ra mồ hôi rồi mạch hòa, thân mát, mạch sác mất thì bệnh sắp khỏi.
Cả hai cùng là cơ chuyển âm dương thắng và phục.
Trình Ứng Mao nói: Sau tiêu chảy, mạch đang khẩn đột nhiên chuyển thành vi; tay chân từ không ấm chuyển thành ấm.
Mạch vi này không phải mạch vi của những chứng vong dương, mà là mạch vi sau khi khẩn mất, người bệnh yên ổn.
Vì hàn trước đó đã theo tiêu chảy mà ra, dương khí được hồi phục, bệnh sắp giải. Dù phiền và tiêu chảy cũng nhất định tự khỏi.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, mới mắc một, hai ngày, trong miệng bình thường, lưng sợ lạnh thì phải cứu; Phụ tử thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Lưng sợ lạnh là chứng cả âm và dương đều có.
Như bệnh Dương minh, thân không nóng nhiều, miệng khô khát, tâm phiền, lưng hơi sợ lạnh thì đó là chứng Bạch hổ gia nhân sâm thang.
Nay bệnh Thiếu âm, chỉ muốn ngủ, mắc được hai, ba ngày, miệng không khô mà bình thường, lưng sợ lạnh thì đó là lưng sợ lạnh do dương hư Thiếu âm, không phải do nhiệt Dương minh hun đốt.
Vì vậy phải dùng phép cứu, đồng thời lấy Phụ tử thang làm chủ để trợ dương, tiêu âm.
Miệng khô và miệng bình thường thật là dấu hiệu xác đáng để phân biệt hai trường hợp.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Đây là chứng mới mắc, trong miệng bình thường, không khát, không khô, hoàn toàn không có lý nhiệt.
Nội kinh nói: “Lưng thuộc dương.” Lưng sợ lạnh thì biết dương hư, âm thịnh, hàn sâu.
Nếu phong hàn ở biểu gây sợ lạnh thì toàn thân đều lạnh.
Dùng phép cứu để trợ dương, tiêu âm; cho Phụ tử thang để ôn kinh, tán hàn.
Trong luận nói: thương hàn, thân không nóng nhiều, miệng khô khát, tâm phiền, lưng hơi sợ lạnh thì Bạch hổ gia nhân sâm thang chủ trị.
Trường hợp ấy là dương nhiệt thừa âm hư mà hãm vào trong, gây sợ lạnh; khác với âm hàn thịnh ở đây.
Dương vào âm thì miệng khô, tâm phiền. Âm hàn thịnh thì không thể nung hao tân dịch, cho nên miệng bình thường.
Trương Lộ nói: Biểu khí Thái dương rất hư, tà được vào phạm Thiếu âm, cho nên mới mắc một, hai ngày mà vẫn lưng sợ lạnh, không phát nhiệt.
Đây là âm dương đều suy, khác với lưỡng cảm.
Lưỡng cảm, biểu lý đều thuộc nhiệt tà, còn có thể giải biểu, công lý. Trường hợp này trong ngoài đều thuộc hư hàn, không có tà nhiệt để công kích.
Chỉ nên ôn kinh, bổ dương để bù phần không đủ, lại cứu Quan nguyên để hỗ trợ.
Tuy chứng có vẻ chậm hơn trường hợp phát nhiệt, mạch trầm, nhưng mức nguy hiểm lại nặng hơn.
Uông Hổ nói: Trong điều này, Trọng Cảnh không nói phải cứu huyệt nào.
Thường Khí Chi nói: Phải cứu Cách du, Quan nguyên, huyệt ở hàng thứ ba của vùng du huyệt lưng.
Quách Ung nói: Ở đây có chữ sai, phải là cứu Cách du, Quan nguyên; Cách du là huyệt ở hàng thứ hai của vùng du huyệt lưng.
Xét Cách du quả thuộc hàng thứ hai. Nhưng huyệt ở hàng thứ ba mà Thường Khí Chi nói hẳn là Cách quan, không phải Cách du.
Đồ kinh nói: Hai huyệt Cách quan ở dưới đốt sống thứ bảy, hai bên, mỗi bên cách ba thốn, trong chỗ lõm; ngồi thẳng để lấy huyệt. Đây là nơi khí mạch Túc Thái dương phát ra, chuyên trị lưng sợ lạnh, cột sống cứng, khó cúi ngửa, có thể cứu năm tráng.
Thiếu âm trúng hàn nhất định do Thái dương mà vào, cho nên thích hợp cứu huyệt ấy.
Huyệt Quan nguyên ở đường giữa bụng, dưới rốn ba thốn, là nơi hội của ba kinh âm ở chân và mạch Nhâm, có thể cứu một trăm tráng.
Thường Khí Chi nói cứu Cách quan là ôn biểu để tán ngoại tà; cứu Quan nguyên là ôn lý để giúp nguyên khí.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, thân thể đau, tay chân lạnh, các khớp xương đau, mạch trầm thì Phụ tử thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối điều trên, nêu rõ chứng trạng, bổ sung ý nghĩa để đưa ra phép trị.
Thân thể đau là chứng cả biểu và lý đều có.
Như bệnh Thái dương, mạch phù, phát nhiệt, sợ lạnh, thân đau, tay chân nóng, các khớp xương đau thì thuộc biểu hàn. Phải lấy Ma hoàng thang làm chủ, giải biểu để tán hàn.
Nay bệnh Thiếu âm, mạch trầm, không nóng, sợ lạnh, thân đau, tay chân lạnh, các khớp xương đau thì thuộc lý hàn.
Vì vậy Phụ tử thang chủ trị, ôn lý để tán hàn.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Thiếu âm là Thận; Thận chủ cốt, hàn quá thịnh thì gây đau.
Trình Ứng Mao nói: Thân thể đau, tay chân lạnh, các khớp xương đau, Thái dương thương hàn cũng có những chứng ấy.
Phải lấy mạch trầm để phân biệt. Trầm thuộc âm hàn nặng, ngưng trệ; lý âm có thừa, biểu dương không đủ, cho nên Phụ tử thang chủ trị.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Lượng gam ở phương đầu được ghi theo tỷ lệ thu nhỏ để đối chiếu văn bản, không phải liều kê cụ thể. Phụ tử một củ không có khối lượng cố định tương ứng; cách bào chế và sắc trong cổ văn không thay thế quy trình sử dụng dược liệu đã chế biến hiện nay.
“Một hai sôi” được hiểu là đun sôi một hoặc hai lượt, không phải cân lượng. Điều văn ghi mới mắc “một, hai ngày”, nhưng chú giải ghi “hai, ba ngày”; bản dịch giữ sự khác nhau ấy.
“Cứu” là phép dùng ngải cứu. Vị trí huyệt và số tráng được dịch nguyên như tư liệu lịch sử, không phải hướng dẫn tự cứu theo những mức ấy. “Tráng” chỉ một đơn vị mồi ngải dùng trong phép cứu cổ.
Mạch đột nhiên yếu sau tiêu chảy chỉ được cổ chú xem là dấu hiệu hồi phục khi đi cùng tay chân ấm và tình trạng chung cải thiện. Không hiểu rằng mạch yếu hoặc tiêu chảy kéo dài tự nó báo bệnh sắp khỏi.
Đoạn này mới nêu chứng trị của Phụ tử thang, chưa có thành phần và cân lượng phương ấy.
Trường Xuân biên soạn
PHỤ TỬ THANG 附子汤
Phụ tử bỏ vỏ, dùng sống, chẻ tám miếng, hai củ (giữ số lượng cổ, không quy đổi thành số gam cố định), Phục linh ba lạng (lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ: 9 g), Nhân sâm hai lạng (6 g), Bạch truật bốn lạng (12 g), Thược dược ba lạng (9 g).
Năm vị trên, dùng nước tám thăng, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm mỗi lần một thăng, ngày uống ba lần.
PHƯƠNG GIẢI
Thiếu âm là tạng của hàn thủy, cho nên những trường hợp bị hàn làm tổn thương nặng phần nhiều vào Thiếu âm. Vì vậy, trong kinh Thiếu âm có nhiều chứng nguy tử nhất.
Trong phương, lấy hai củ Phụ tử làm quân để dùng sức thuốc mạnh, đồng thời giao cho vị này trọng trách.
Dùng sống, một là để làm mạnh dương của thiếu hỏa, một là để tán hàn ở trong và ngoài. Nhờ đó thân đau tự dứt, sợ lạnh tự hết, tay chân tự ấm.
Lấy Nhân sâm làm thần để giữ vững nguồn sinh khí, khiến năm tạng sáu phủ có gốc, mười hai kinh mạch có rễ; mạch tự không còn trầm, các khớp xương được điều hòa.
Lại dùng Bạch truật để bồi thổ, Thược dược để bình mộc, Phục linh để trừ thủy.
Thủy được trừ thì hỏa tự vượng; hỏa vượng thì âm che lấp được tiêu. Mộc được bình thì thổ càng yên; thổ yên thì thủy được chế ngự; thủy được chế ngự thì sinh hóa vận hành.
Đây thật là phép chu toàn. Có người sợ mà không dám dùng, khiến chần chừ rồi sai lầm, chẳng đáng tiếc hay sao?
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, mạch trầm thì phải gấp ôn trị, nên dùng Tứ nghịch thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thiếu âm, chỉ muốn ngủ, mạch trầm, nếu không có những chứng phát nhiệt, miệng khô thì hàn tà đã vào tạng.
Không cần chần chừ, phải gấp dùng Tứ nghịch thang để ôn trị, tiêu âm, trợ dương.
TẬP CHÚ
Ngô Nhân Câu nói: Mạch trầm phải phân biệt hư thực và bệnh mới mắc hay đã lâu.
Nếu mắc bệnh nhiều ngày, hoặc mạch trầm mà thực thì phải xét theo trường hợp khác.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Dùng sống” được giữ đúng theo bản bác gửi và lời phương giải. Đây là tư liệu lịch sử, không phải hướng dẫn dùng Phụ tử sống hiện nay. Phụ tử sống có độc tính cao; việc lựa chọn dược liệu đã chế biến, lượng dùng và cách sắc cần do người có chuyên môn xác định.
Các lượng gam còn lại chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng cổ hay liều kê cụ thể. Nước sắc và cách chia uống giữ theo nguyên văn.
“Thiếu hỏa” chỉ hỏa sinh lý có tác dụng ôn dưỡng, sinh khí. Lời tập chú nhấn mạnh rằng không thể chỉ dựa vào mạch trầm để quyết định dùng thuốc ôn.
Trường Xuân biên soạn
TỨ NGHỊCH THANG 四逆汤
Cam thảo chích hai lạng (lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ: 6 g), Can khương một lạng rưỡi (4,5 g), Phụ tử dùng sống, bỏ vỏ, chẻ tám miếng, một củ (giữ số lượng cổ, không quy đổi thành số gam cố định).
Ba vị trên, dùng nước ba thăng, sắc còn một thăng hai hợp, bỏ bã, chia hai lần uống ấm.
Người khỏe mạnh có thể dùng một củ Phụ tử lớn, Can khương ba lạng (lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ: 9 g).
PHƯƠNG GIẢI
Phương mang tên Tứ nghịch vì chủ trị Thiếu âm trong ngoài đều hàn, tứ chi quyết nghịch.
Lấy Cam thảo ngọt ấm làm quân để ôn dưỡng dương khí; lấy Can khương và Phụ tử cay ấm làm thần để trợ dương, thắng hàn.
Cam thảo phối với Can khương, Phụ tử thì khơi dậy Thận dương, làm ấm hàn ở trung tiêu, có công năng làm ấm thổ trong thủy.
Can khương, Phụ tử phối với Cam thảo thì thông các khớp, đi đến tứ chi, có sức trừ âm hàn, hồi dương.
Thận dương được khơi dậy, hàn âm được tiêu thì dương khí đạt ra ngoài, mạch tự nổi lên, tay chân tự ấm.
TẬP GIẢI
Uông Hổ nói: Bệnh Thiếu âm vốn có mạch vi tế, chỉ muốn ngủ.
Nay ấn nhẹ thì không thấy mạch vi; ấn sâu thì mạch tế gần như mất, ẩn sâu xuống mức trầm. Đó là hàn tà vào sâu trong lý, gần vào tạng, không thể không gấp ôn trị.
Hơi chậm thì sợ lạnh, thân co quắp, nôn, tiêu chảy, phiền táo, không nằm ngủ được, tay chân quyết lạnh, mạch không đến; những chứng nguy tử liền xuất hiện.
Việc dùng Tứ nghịch thang há có thể chậm trễ sao?
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, tiêu chảy thì Bạch thông thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thiếu âm, chỉ muốn ngủ, mạch vi tế, đã là dương bị âm vây hãm.
Lại thêm tiêu chảy thì lo âm giáng đến cực độ, dương thoát xuống dưới.
Vì vậy lấy Thông bạch làm quân, thông mạnh dương khí, khiến dương thăng lên; dùng Can khương, Phụ tử làm tá để nhanh chóng thắng âm hàn, làm chậm thế giáng. Nhờ đó, dương chưa thoát có thể phục hồi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Bệnh Thiếu âm lại thêm tiêu chảy thì không chỉ bệnh ở kinh, mà còn hàn nặng ở tạng, âm thịnh.
Dùng Can khương, Phụ tử để thắng âm thì hàn tự tán. Dùng Thông bạch mà gọi là Bạch thông, vì thông dương thì âm tự tiêu.
Trình Tri nói: Điều này nói tiêu chảy nên thông dương.
Bệnh Thiếu âm là nói có mạch vi tế, muốn ngủ. Thiếu âm tiêu chảy, âm thịnh đến cực độ, lo dẫn đến cách dương, cho nên dùng Can khương, Phụ tử để tiêu âm, Thông bạch để thăng dương.
Chữ “thông” có hai ý: một là ôn để dương khí có thể vào; một là phát để âm khí dễ tán.
Uông Hổ nói: Thận hư, không có hỏa thì không thể chủ thủy, cho nên tiêu chảy. Dùng Bạch thông thang là để ôn lý, tán hàn.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam được ghi theo tỷ lệ thu nhỏ để đối chiếu văn bản, không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng thời Hán hay liều kê cụ thể. Lượng nước và cách chia uống giữ theo cổ văn.
“Phụ tử dùng sống” và “người khỏe dùng củ lớn” được dịch đúng nguyên văn lịch sử, không phải hướng dẫn áp dụng hiện nay. Phụ tử sống có độc tính cao; việc dùng dược liệu đã chế biến, xác định liều và cách sắc cần người có chuyên môn phụ trách.
“Thông bạch” là phần trắng của hành. “Cách dương” chỉ tình trạng âm hàn quá thịnh, ngăn cách dương khí theo lý luận cổ. Đoạn này mới nêu chứng trị Bạch thông thang, chưa có thành phần và cân lượng của phương.
Trường Xuân biên soạn
BẠCH THÔNG THANG 白通汤
Thông bạch bốn thân (phần trắng của bốn cây hành), Can khương một lạng (lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ: 3 g), Phụ tử sống, bỏ vỏ, chẻ tám miếng, một củ (giữ số lượng cổ, không quy đổi thành số gam cố định).
Ba vị trên, dùng nước ba thăng, sắc còn một thăng, bỏ bã, chia hai lần uống ấm.
TẬP GIẢI
Uông Hổ nói: Phương này tương tự Tứ nghịch thang, riêng bỏ Cam thảo.
Vì muốn trừ hàn nhanh, lấy tính cay mạnh để phát huy tác dụng mau chóng, đi thẳng đến hạ tiêu, cho nên không muốn dùng vị ngọt làm hòa hoãn.
Nhưng trọng tâm vẫn ở Thông bạch. Âm của Thiếu âm và hàn khí của trời đều thuộc âm. Hai âm kết hợp, thiên về gây tiêu chảy thì ngăn cách với dương khí, không thông.
Sức Can khương và Phụ tử tuy có thể ích dương, nhưng không bảo đảm chân dương đi vào được trong âm. Chỉ Thông bạch vị cay, có thể thông dương khí, khiến âm được dương thì thông lợi, nhờ đó bệnh có thể khỏi.
Thuốc rất cay, rất nóng chẳng qua được mượn để tăng dương khí cho người. Nếu không có thuốc thông đạt, khiến chân dương giao hòa, hội hợp thì làm sao cứu chữa được?
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, tiêu chảy, mạch vi thì cho Bạch thông thang.
Nếu tiêu chảy không dứt, tay chân quyết nghịch, không có mạch, nôn khan, phiền thì Bạch thông gia trư đởm trấp thang chủ trị.
Sau uống thuốc, mạch đột ngột xuất hiện thì chết; mạch dần dần tiếp nối yếu nhẹ thì sống.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối điều trên, giải thích rõ thêm về mạch để làm sáng tỏ ý bệnh tiến triển.
Bệnh Thiếu âm, tiêu chảy, mạch vi, cho Bạch thông thang thì tiêu chảy đáng lẽ phải dứt.
Nay tiêu chảy không dứt, chuyển sang tay chân quyết nghịch, không có mạch, lại thêm nôn khan và phiền thì đó là âm hàn thịnh đến cực độ, cách dương, dương sắp thoát.
Nếu chỉ dùng thuốc nóng để trị hàn, hàn đã quá nặng thì sẽ ngăn chống, không cho thuốc vào. Vì vậy thêm nước tiểu người và mật lợn, những chất thuộc âm, vào phương trước để dẫn thuốc dương vào âm.
Kinh nói: “Nghịch thì thuận theo nó”, chính là nói điều này.
“Không có mạch” nghĩa là khi bắt mạch thấy gần như muốn tuyệt.
Sau uống thuốc, lại xét mạch. Nếu mạch đột ngột xuất hiện thì giống ngọn nến sắp tàn bỗng bùng lửa cao, cho nên chủ chết.
Nếu mạch từ từ tiếp nối yếu nhẹ rồi hiện ra thì chân dương đang dần phục hồi, cho nên có thể sống.
Vì vậy, điều trên vừa thấy tiêu chảy đã dùng Bạch thông để chữa trước khi tình trạng nặng hình thành, thật là phép tốt.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói âm thịnh cách dương, dùng phép lấy mật để thông âm.
Cho Bạch thông thì đáng lẽ dương có thể được cứu. Nay tiêu chảy không dứt, lại đến mức quyết nghịch, không có mạch thì âm tà càng không bị chế ngự.
Nôn khan và phiền là thuốc dương còn ở vùng cách, không vào được âm.
Đây không phải thuốc không thắng được bệnh, mà là thiếu sức dẫn đường.
Thêm nước tiểu người và mật lợn có tính âm hàn thì có thể dẫn tính ôn của Can khương, Phụ tử vào nơi hàn đang ngăn chống, điều hòa sự nghịch ấy. Đây là phép tòng trị của Nội kinh.
Trình Ứng Mao nói: Mạch đột ngột xuất hiện thì chết, vì dương không gốc bỗng bật ra ngoài.
Mạch dần tiếp nối yếu nhẹ thì sống, vì dương khí dần giao hòa, âm chịu tiếp nhận.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Can khương 3 g là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải phép quy đổi trực tiếp cân lượng cổ hay liều kê cụ thể. Phụ tử sống, nước tiểu người và mật lợn được dịch đúng như tư liệu lịch sử, không phải hướng dẫn tự sử dụng hiện nay.
Những lời “mạch đột ngột xuất hiện thì chết, dần tiếp nối thì sống” là nhận định tiên lượng của cổ chú, không dùng như kết luận tuyệt đối. Tiêu chảy không dứt kèm tay chân lạnh, mạch khó bắt hoặc suy giảm ý thức là tình trạng cần cấp cứu.
Đoạn này mới nêu chứng trị Bạch thông gia trư đởm trấp thang, chưa có cân lượng của phương ấy.
Trường Xuân biên soạn
BẠCH THÔNG GIA TRƯ ĐỞM TRẤP THANG 白通加猪胆汁汤
Thông bạch bốn thân (phần trắng của bốn cây hành), Can khương một lạng (lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ: 3 g), Phụ tử sống, bỏ vỏ, chẻ tám miếng, một củ (không quy đổi thành số gam cố định), nước tiểu người năm hợp, mật lợn một hợp (giữ đơn vị đong cổ, không tự quy đổi sang mililít).
Ba vị thuốc đầu, dùng nước ba thăng, sắc còn một thăng, bỏ bã. Cho mật lợn và nước tiểu người vào, hòa đều, chia hai lần uống ấm. Nếu không có mật lợn thì cũng có thể dùng.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này chính là Bạch thông thang ở trên thêm nước tiểu người và mật lợn.
Thêm hai chất ấy là thuận theo cùng loại.
Sau khi uống xuống, phần lạnh của chúng được tiêu đi, tính nóng của thuốc liền phát huy. Vừa không trái với tình thế bệnh, vừa đem lại lợi ích lớn, nhờ đó sự ngăn chống giữa hai khí được điều hòa, âm dương trên dưới được thông.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, muốn nôn mà không nôn, tâm phiền, chỉ muốn ngủ; đến ngày thứ năm, thứ sáu, tự tiêu chảy mà khát thì thuộc Thiếu âm.
Vì hư nên muốn uống nước để tự cứu. Nếu nước tiểu trong trắng thì hình trạng bệnh Thiếu âm đã đầy đủ.
Nước tiểu trong trắng là vì hạ tiêu hư, có hàn, không thể chế ngự thủy, cho nên sắc trắng.
CHÚ GIẢI
Bệnh Thiếu âm, muốn nôn mà không nôn, trong lòng phiền, chỉ muốn ngủ; đến ngày thứ năm, thứ sáu, tự tiêu chảy mà khát thì thuộc chứng tà truyền vào Thiếu âm, có thể gặp cả hàn lẫn nhiệt.
Nếu là Thiếu âm nhiệt, khô táo, khát muốn uống nước thì nước tiểu nhất định đỏ. Đó là Thiếu âm táo, không thể sinh tân dịch, hạ tiêu có nhiệt.
Nay là khát do Thiếu âm hư, muốn uống nước để tự cứu, cho nên nước tiểu trong trắng. Đó là Thiếu âm hư lạnh, không thể hóa dịch, hạ tiêu có hàn.
Qua đây biết hình trạng bệnh Thiếu âm tuy đầy đủ, nhưng chứng khát vẫn có hai mặt hàn và nhiệt khác nhau.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Muốn nôn mà không nôn, tâm phiền là biểu tà truyền vào lý.
Nếu bụng đầy đau thì thuộc Thái âm. Ở đây chỉ muốn ngủ thì biết thuộc Thiếu âm.
Ngày thứ năm, thứ sáu là lúc tà truyền vào Thiếu âm. Nếu tự tiêu chảy mà không khát thì hàn ở trung tiêu, thuộc Thái âm.
Ở đây tự tiêu chảy mà khát là hàn ở hạ tiêu, thuộc Thiếu âm. Thận hư, thủy dịch khô thiếu, cho nên khát muốn uống nước để tự cứu.
Hạ tiêu hư hàn, cho nên nước tiểu trong trắng. Tiêu chảy mà khát, nước tiểu trong trắng thì biết không phải lý nhiệt.
Phương Hữu Chấp nói: Điều này nhắc đi nhắc lại để người đọc không nhận mọi chứng phiền khát đều là nhiệt chứng, dẫn đến điều trị sai.
Trình Ứng Mao nói: Chứng phiền không phải đều thuộc Thiếu âm, cho nên chỉ rõ thêm “chỉ muốn ngủ”. Chứng khát không phải đều thuộc Thiếu âm, cho nên chỉ rõ thêm “nước tiểu trong trắng”.
Kết lại bằng “hạ tiêu hư, có hàn” là dạy người ta bệnh ở trên mà phép trị ở dưới.
Phần trên hư, không có âm dịch để giúp, rốt cuộc do phần dưới hư, không có dương để ôn. Hai chữ “hư” đều bắt nguồn từ chữ “hàn”.
Ông lại nói: Nôn, tiêu chảy mà khát giống chứng Trư linh thang; chỗ khác nhau nằm ở “chỉ muốn ngủ”. Hơn nữa, chứng Trư linh nhất định tiểu tiện không thông lợi, sắc đỏ.
Khát uống nước cũng giống chứng Bạch đầu ông, nhưng chứng ấy nói “vì có nhiệt”, nước tiểu nhất định cũng không trong trắng.
Lâm Lan nói: Muốn nôn mà không nôn, tâm phiền là dương hư bị ngăn cách, vượt lên trên.
Chỉ muốn ngủ, tự tiêu chảy, nước tiểu trong trắng là chân hàn ở lý đã sâu.
Chứng khát này khác với khát có miệng khô, lưỡi khô.
Nếu kèm bụng đầy, đại tiện bí, nói sảng thì phải theo dương tà truyền vào lý mà trị. Đã lý hư, tự tiêu chảy, nước tiểu trong trắng thì hư hàn rất rõ.
Đặc biệt nói hạ tiêu cho thấy âm đã thịnh ở dưới, dương nhất định bị ngăn cách ở trên. Sao có thể vì phiền khát mà công nhầm nhiệt?
Uông Hổ nói: Xét toàn điều, rất giống nhiệt chứng. Chỉ nhờ nước tiểu trong trắng mà biết là chân hàn.
“Chỉ muốn ngủ” ở đây khác với nhiệt tà: trạng thái muốn ngủ ấy nhất định không mê mờ nặng, hơi thở nhất định ngắn, nhỏ.
Nói “thuộc Thiếu âm” là để phân biệt đây không phải khát do dương tà, mà là bên trong thiếu tân dịch, muốn uống nước để tự cứu. Nếu thử cho uống nước lạnh thì người bệnh nhất định không uống nhiều.
Xét kỹ nước tiểu, nếu trong trắng thì chứng Thiếu âm hư hàn đã đầy đủ, biết không phải nhiệt tà.
Thẩm Minh Tông nói: Đây là phân biệt chứng Thiếu âm hư hàn có vẻ giống nhiệt.
Người đời chỉ biết tứ chi quyết nghịch là hư hàn, đâu biết nước tiểu trong trắng cũng là dấu hiệu xác đáng?
Ngô Nhân Câu nói: Dương minh muốn nôn thì không ngủ được; Thiếu âm thì chỉ muốn ngủ. Dùng điều ấy để phân biệt thịnh và hư.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, thức ăn uống vào miệng thì nôn, trong lòng nao nao muốn nôn mà lại không nôn được.
Mới mắc bệnh, tay chân lạnh, mạch huyền trì thì đó là thực ở trong ngực. Không được công hạ, phải dùng phép gây nôn.
Nếu trên vùng cách có hàn ẩm, nôn khan thì không được gây nôn, phải ôn trị, nên dùng Tứ nghịch thang.
LỜI ÁN
“Ôn ôn” phải là “ốt ốt”. “Ốt ốt” diễn tả trạng thái muốn nôn chất ẩm.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp nối chứng muốn nôn mà không nôn ở trên, phân biệt kỹ mạch và chứng để làm rõ phép trị.
Thức ăn uống vào liền nôn, lại trong lòng nao nao muốn nôn mà không nôn được, buồn nôn không dứt, không phải nôn do hàn hư Thiếu âm, mà là nôn do hàn thực ở ngực.
Vì vậy, lúc mới mắc bệnh có mạch huyền trì. Huyền là ẩm, trì là hàn.
Tay chân lạnh là vì dương khí trong ngực bị hàn ẩm ngăn trở, không thông đến tứ chi.
Hàn thực ở ngực thì phải thuận thế đưa ra phía trên, cho nên không được công hạ.
Nếu trên vùng cách có hàn ẩm, chỉ nôn khan, có tiếng mà không có vật ra thì đó là ẩm do hàn hư Thiếu âm, không phải ẩm hàn thực trong ngực.
Vì vậy không được gây nôn, chỉ phải gấp ôn trị, nên dùng Tứ nghịch thang. Hoặc dùng Lý trung thang thêm Đinh hương, Ngô thù du cũng được.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói Thiếu âm có ẩm gây nôn, là tà ở Thận nghịch lên, phải ôn trị, không nên gây nôn.
Muốn nôn mà không nôn là chứng âm tà nghịch lên.
Nếu mới mắc bệnh, tà chưa vào sâu, tay chân chỉ lạnh mà chưa quyết nghịch, mạch chỉ huyền trì mà chưa trầm tế thì tà thực ở ngực, hàn còn ở biểu, thuộc phần dương; phải gây nôn, không được công hạ.
“Thổ” có vật ra, “ẩu” ở đây không có vật ra, hai điều phải phân biệt.
Nếu trên vùng cách có hàn ẩm, chỉ nôn khan mà không nôn ra được thì đó là âm hàn nghịch lên, phải ôn trị, không được gây nôn.
Nói phải gấp ôn trị để làm rõ rằng nếu không ôn thì sẽ xuất hiện các biến chứng như quyết nghịch, không có mạch.
Trình Ứng Mao nói: Hàn ở trong ngực, theo phép không được công hạ. Nếu thuộc thực tà thì dùng phép gây nôn một lần, dương khí được thông; khi ấy phép gây nôn cũng chính là phép làm ấm.
Nếu trên vùng cách có hàn ẩm, nôn khan thì hư hàn từ dưới lên trên, ngăn giữ chất ẩm ở ngực. Rốt cuộc không phải bệnh bắt nguồn từ ngực, chỉ cần dùng Tứ nghịch thang để gấp ôn phần dưới.
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, mạch vi tế trầm, chỉ muốn nằm, ra mồ hôi mà không phiền, tự muốn nôn.
Đến ngày thứ năm, thứ sáu, tự tiêu chảy, lại phiền táo, không nằm ngủ được thì chết.
CHÚ GIẢI
Điều này làm rõ điều trên, bổ sung mạch và chứng, giải thích việc không kịp ôn trị khiến bệnh biến đổi.
Mạch vi tế trầm, chỉ muốn nằm là hàn Thiếu âm.
Đáng lẽ không có mồ hôi, nay trái lại ra mồ hôi mà không phiền thì đó là Thiếu âm vong dương.
Lại tự muốn nôn là âm hàn nghịch lên, chính lúc phải gấp ôn trị.
Bỏ lỡ không chữa, chần chừ đến ngày thứ năm, thứ sáu, thêm tự tiêu chảy, lại phiền táo, không nằm ngủ được thì đó là chân dương trong Thận Thiếu âm rối loạn, vượt ra ngoài, sắp tuyệt — một tử chứng.
Đến lúc này dù ôn trị cũng không còn kịp.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch vi trầm tế, chỉ muốn nằm là bệnh vốn có của Thiếu âm.
Ra mồ hôi mà không phiền nhiệt là không có dương. Muốn nôn là tà ở kinh chưa lui. Tự tiêu chảy là bệnh ở tạng tiến thêm.
Lại phiền táo, không nằm ngủ được là dương sắp tuyệt, rối loạn không yên.
Trình Ứng Mao nói: Người bàn trị bệnh hiện nay, nếu chưa thấy cùng lúc những chứng như sợ lạnh, nằm co quắp, tứ chi quyết lạnh thì không dám ôn trị.
Không biết chứng đã đến mức ấy thì ôn trị còn kịp sao? Huống chi có những chứng đến chết vẫn chưa từng xuất hiện.
Vậy sao không giải thích rõ từng điểm trọng yếu trong bản luận?
Bệnh Thiếu âm, mạch nhất định trầm vi tế. Luận nêu điều này ngay đầu, đã chỉ cho người đọc mạch có thể ôn trị.
Bệnh Thiếu âm chỉ muốn nằm, luận cũng đã chỉ rõ chứng có thể ôn trị.
Ra mồ hôi ở kinh dương không được ôn; ở Thiếu âm thì nên gấp ôn. Luận lại chỉ rõ nguyên do vong dương.
Huống chi còn có chứng không phiền, tự muốn nôn, âm tà nghịch lên? Khi ấy Chân vũ, Tứ nghịch thật chẳng khác gì ngải đã để ba năm, sẵn dùng lúc cần cứu chữa.
Lại không biết lo liệu từ trước, chậm trễ đến ngày thứ năm, thứ sáu: trước muốn nôn, nay lại tiêu chảy; trước không phiền, nay vừa phiền vừa táo; trước muốn nằm, nay không nằm được.
Dương hư rối loạn, âm thịnh tăng thêm, sao không chết được?
ĐIỀU VĂN
Bệnh Thiếu âm, hai, ba ngày chưa khỏi; đến ngày thứ tư, thứ năm, đau bụng, tiểu tiện không thông lợi, tứ chi nặng và đau, tự tiêu chảy thì đó là có thủy khí.
Người bệnh hoặc ho, hoặc tiểu tiện không thông lợi, hoặc tiêu chảy, hoặc nôn: Chân vũ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Trong luận, vùng dưới tâm có thủy khí, phát nhiệt, có mồ hôi, phiền khát muốn uống nước, tiểu tiện không thông lợi thì thuộc Thái dương trúng phong, là chứng Ngũ linh tán.
Phát nhiệt, không có mồ hôi, nôn khan, không khát, tiểu tiện không thông lợi thì thuộc Thái dương thương hàn, là chứng Tiểu thanh long thang.
Nay bệnh Thiếu âm, hai, ba ngày chưa khỏi; đến ngày thứ tư, thứ năm, đau bụng, tiêu chảy thì âm hàn đã sâu.
Nếu tiểu tiện thông lợi thì thuần hàn, không có thủy, là chứng Phụ tử thang.
Nay tiểu tiện không thông lợi, hoặc ho, hoặc nôn thì đó là âm hàn kiêm thủy khí.
Thủy hàn công ra biểu thì tứ chi nặng và đau; thịnh bên trong thì đau bụng, tự tiêu chảy.
Thủy khí đình ở thượng tiêu, vùng ngực Phế thì ho, suyễn, không nằm được.
Đình ở trung tiêu, phủ Vị thì nôn, hoặc tiêu chảy.
Đình ở hạ tiêu, Bàng quang thì tiểu tiện không thông lợi, hoặc bụng dưới đầy.
Những chứng khác nhau đều không ngoài thủy thuộc âm hàn.
Không dùng Ngũ linh vì không phải ẩm có biểu nhiệt; không dùng Tiểu thanh long vì không phải ẩm có biểu hàn.
Vì vậy chỉ lấy Chân vũ thang làm chủ, ôn hàn để chế thủy.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Trong thiên Thái dương, quyết nghịch, gân giật, cơ thịt máy động mà vong dương thì dùng Chân vũ.
Nay thủy thấp Thiếu âm nghịch lên, vẫn dùng Chân vũ để trấn giữ.
Có thể thấy Bàng quang Thái dương và Thận Thiếu âm, một phủ một tạng, cùng thuộc hàn thủy.
Tà ở phủ thuộc dương tà thì mượn Ma hoàng, Quế chi làm Thanh long; tà ở tạng thuộc âm tà thì mượn Phụ tử làm Chân vũ.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các chất nước tiểu người, mật lợn và Phụ tử sống được dịch đúng như tư liệu lịch sử, không phải hướng dẫn tự sử dụng. Năm hợp, một hợp là lượng đong cổ; không tự gán lượng mililít khi chưa xác định hệ đo lường phù hợp. Can khương 3 g chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ.
Trong đoạn này, “nước tiểu sắc trắng” được hiểu là nước tiểu trong, nhạt màu, không đồng nghĩa với nước tiểu trắng đục. Những nhận định dựa vào màu nước tiểu, kiểu khát hoặc trạng thái muốn ngủ được giữ theo cổ chú, không dùng riêng lẻ để kết luận hàn nhiệt. Lời “thử cho uống nước lạnh” cũng được giữ như lời tác giả, không phải phép thử được đề nghị áp dụng.
Phép gây nôn và những kết luận “chết”, “không còn kịp” thuộc văn bản cổ. Trong thực tế hiện nay, ra mồ hôi, tay chân lạnh, mạch khó bắt, nôn hoặc tiêu chảy kèm lơ mơ, kích động cần được cấp cứu, không chờ đủ ngày hay tự gây nôn.
“Ngải để ba năm” là hình ảnh cổ chỉ thuốc, phương tiện cứu chữa cần được chuẩn bị sẵn. Đoạn này mới nêu chứng trị Chân vũ thang, chưa có cân lượng của phương.
Trường Xuân biên soạn
CHÂN VŨ THANG 真武汤
Phục linh ba lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 9 g), Thược dược ba lạng (9 g), Sinh khương thái lát ba lạng (9 g), Bạch truật hai lạng (6 g), Phụ tử một củ, đã bào chế, bỏ vỏ, bổ tám miếng (không quy cố định sang gam).
Năm vị trên, dùng tám thăng nước, sắc còn ba thăng, bỏ bã, uống ấm bảy hợp mỗi lần, ngày ba lần.
Nếu ho, thêm Ngũ vị tử nửa thăng, Tế tân và Can khương mỗi vị một lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: mỗi vị 3 g). Nếu tiểu tiện thông lợi, bỏ Phục linh. Nếu hạ lợi, bỏ Thược dược, thêm Can khương hai lạng (6 g). Nếu nôn, bỏ Phụ tử, thêm Sinh khương cho đủ tổng lượng nửa cân (lượng đối chiếu thu nhỏ: 24 g).
PHƯƠNG GIẢI
Tiểu thanh long thang chữa bệnh biểu chưa giải, có thủy khí, trong ngoài đều thuộc hàn thực. Chân vũ thang chữa bệnh biểu đã giải, có thủy khí, trong ngoài đều thuộc hàn hư.
Chân Vũ là vị thần phương Bắc cai quản nước. Lấy tên ấy đặt cho phương thuốc là mượn ý trấn giữ thủy khí.
Trong cơ thể con người, tỳ chế ước thủy, thận chủ thủy. Thận là cửa quan của vị; thủy tụ lại và theo về nơi cùng loại với nó. Nếu trong thận không có dương, thì dù cơ chế vận chuyển của tỳ còn hoạt động, cửa quan của thận vẫn không mở. Thủy tuy muốn lưu hành, nhưng ai làm chủ cho nó? Bởi vậy, thủy không được chủ quản và chế ước, tràn lan, đi sai đường mà sinh ra những chứng này.
Dùng Phụ tử cay nóng để làm mạnh nguyên dương của thận, khiến thủy có nơi chủ quản. Dùng Bạch truật đắng, táo để gây dựng trung thổ, khiến thủy được chế ước.
Sinh khương cay, tán, giúp Phụ tử bổ dương, trong phép ôn trung có ý tán thủy. Phục linh nhạt, thấm, giúp Bạch truật kiện thổ, trong phép chế thủy có đường lợi thủy.
Điều đặc biệt khéo léo là thêm Thược dược chua, thu liễm vào các vị chủ thủy và chế thủy. Một là tiết thủy, khiến “con lấy khí của mẹ, làm mẹ suy”, nhờ đó tránh được thủy khí đi càn. Hai là thu liễm dương, khiến dương trở về gốc trong âm, không còn lo dương bay vượt ra ngoài.
Ai nói vị thuốc âm hàn không có ích cho dương? Người chưa hiểu thì không biết đạo lý thừa tiếp và chế ước ấy. Trong luận, trường hợp dùng nhầm Thanh long thang, phát hãn làm mất dương rồi dùng phương này cứu chữa, cũng theo ý nghĩa đó.
Tuy nhiên, khi hạ lợi thì giảm Thược dược, vì dương không tán ra ngoài; thêm Can khương để ôn trung, thắng hàn.
Thủy hàn làm tổn thương phế thì ho. Thêm Tế tân và Can khương để tán thủy hàn; thêm Ngũ vị tử để thu liễm phế khí.
Tiểu tiện thông lợi thì bỏ Phục linh, vì tuy có hàn nhưng thủy không đình lại.
Nôn thì bỏ Phụ tử, tăng Sinh khương, vì bệnh không ở hạ tiêu mà thủy đình ở vị. Do đó, không cần ôn thận để hành thủy, chỉ nên ôn vị để tán thủy. Dùng Sinh khương còn vì vị này có công năng chỉ nôn.
TẬP GIẢI
Trình Tri nói: Bạch thông, Thông mạch và Chân vũ đều được đặt ra để chữa hạ lợi trong bệnh thiếu âm. Trong bốn chứng dùng Bạch thông, Phụ tử đều dùng sống; riêng chứng dùng Chân vũ thì dùng Phụ tử đã bào chế. Bởi Phụ tử dùng sống thì ôn kinh, tán hàn; bào chế chín thì ôn trung, trừ thủy ẩm.
Các phương Bạch thông coi trọng thông dương; Chân vũ thang lấy ích dương làm trước. Vì thế, dùng thuốc có sự khác nhau về nặng nhẹ. Can khương giúp Phụ tử sống ôn kinh; Sinh khương giúp Phụ tử đã bào chế tán thủy ẩm.
Trương Lộ nói: Xét phương Chân vũ thang vốn chữa bệnh thiếu âm, thủy ẩm kết tụ bên trong, nên trước hết chú trọng Bạch truật và Phụ tử, phối hợp Phục linh, Sinh khương để vận tỳ, thấm thủy. Điều này người ta dễ hiểu.
Còn ý nghĩa tinh tế của việc dùng Thược dược, nếu không phải Trọng Cảnh thì khó làm được. Chứng này tuy gọi là bản bệnh của thiếu âm, nhưng thực ra do thủy ẩm chứa bên trong, nên bụng đau, tự hạ lợi, tứ chi đau và nặng, mà tiểu tiện lại không thông lợi.
Nếu cực hư, cực hàn, tiểu tiện ắt phải trong trắng, không giữ được. Làm sao lại có lý tiểu tiện không thông lợi?
Chứng này không chỉ chân dương bất túc, mà chân âm cũng hẳn vốn đã suy, hoặc trong âm có dương tà ẩn phục gây nên. Nếu không dùng Thược dược giữ gìn âm, làm sao chịu nổi sức mạnh mãnh liệt của Phụ tử?
ĐIỀU VĂN
Người bệnh thân rất nóng mà trái lại muốn được mặc áo, ấy là nhiệt ở da, hàn ở cốt tủy. Thân rất lạnh mà trái lại không muốn áo chạm vào mình, ấy là hàn ở da, nhiệt ở cốt tủy.
CHÚ GIẢI
Thân thể là biểu, tạng phủ là lý: đây là lấy trong ngoài để phân biểu lý.
Da là biểu, cốt tủy là lý; sáu phủ là biểu, năm tạng là lý: đây là lấy nông sâu của thân thể, âm dương của tạng phủ để phân biểu lý.
“Người bệnh” là người đã mắc bệnh.
“Thân rất nóng” nghĩa là toàn thân trong ngoài đều nóng, giống chứng tam dương. Nhưng trái lại muốn được mặc áo, thì đó là giả nhiệt. Nhiệt tuy hiện ở lớp da nông bên ngoài, chân hàn thực sự lại ở cốt tủy sâu bên trong. Đây là chứng âm cực mà giống dương.
“Thân rất lạnh” nghĩa là toàn thân trong ngoài đều lạnh, giống chứng tam âm. Nhưng trái lại không muốn áo chạm vào mình, thì đó là giả hàn. Hàn tuy hiện ở lớp da nông bên ngoài, chân nhiệt thực sự lại ở cốt tủy sâu bên trong. Đây là chứng dương cực mà giống âm.
LỜI ÁN
Điều này căn cứ vào điều người bệnh khó chịu và điều họ mong muốn để xét hàn nhiệt thật giả, rồi định chứng âm dương.
Nên tham khảo cùng các điều trong thiên thiếu âm và厥 âm nói về biểu nhiệt lý hàn, lý nhiệt biểu hàn, mạch hoạt mà quyết, sợ lạnh nhưng không muốn mặc áo, miệng khô họng ráo.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Nói da là nói phần nông; nói cốt tủy là nói phần sâu. Da thuộc ngoài, cốt tủy thuộc trong.
Thân nóng mà muốn mặc áo là biểu nhiệt lý hàn. Thân lạnh mà không muốn mặc áo là biểu hàn lý nhiệt.
Thông thường, biểu nhiệt lý hàn thì mạch ắt trầm trì; lý nhiệt biểu hàn thì mạch ắt hoạt sác. Cần phân biệt rõ.
Trịnh Trọng Quang nói: Da là phần bên ngoài cốt tủy, thuộc lớp nông nổi. Cốt tủy là phần bên trong da, thuộc lớp sâu chìm.
Muốn được mặc áo là mượn sự ấm bên ngoài để chống lại hàn bên trong: đó là chân hàn.
Áo chạm vào thân liền gây khó chịu, không tùy thuộc áo dày hay mỏng: đó là giả hàn.
Không xét điều người bệnh khó chịu và mong muốn, thì làm sao biết được chân hàn, chân nhiệt để định tiêu bản?
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, trong hàn ngoài nhiệt, tay chân quyết nghịch, mạch vi muốn tuyệt, thân trái lại không sợ lạnh, sắc mặt đỏ; hoặc bụng đau, hoặc nôn khan, hoặc họng đau, hoặc hạ lợi đã ngừng mà mạch không hiện: Thông mạch tứ nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thiếu âm thuộc thận; thận ứng với tượng quẻ Khảm. Một hào dương nằm giữa hai hào âm. Nếu hai âm quá thịnh, một dương ắt suy, âm tà mới có thể xâm nhập bên trong, còn dương đơn độc vì thế vượt ra ngoài.
Hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, tay chân quyết lạnh, mạch vi muốn tuyệt, là âm bên trong thịnh đến cực điểm.
Thân trái lại không sợ lạnh, sắc mặt trái lại đỏ, bên ngoài trái lại nóng, là âm đẩy dương ra ngoài.
Vì thế, dù có các chứng bụng đau, nôn khan, họng đau, cũng nên phỏng theo phép Bạch thông thang, thêm hành vào Tứ nghịch thang để tiêu âm, phục hồi dương.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Nhiệt do hàn cách trở mà sinh. Bất luận bụng đau, nôn khan hay họng đau, đều là chứng cách dương trong hạ lợi.
Dù hạ lợi đã ngừng, nhưng mạch vẫn như trước, muốn tuyệt, không hiện, cũng không được cho rằng lý hàn đã lui rồi tùy tiện chữa cái nhiệt bên ngoài.
Phải theo phép Tứ nghịch thang, tiêu trừ âm hàn che lấp ở phần dưới; chỉ thêm Thông bạch để tuyên thông dương khí ở hạ tiêu. Khi dương khí thông, mạch cũng hiện trở lại, mới là thực sự khỏi bệnh.
Lâm Lan nói: “Cách” là ngăn chặn, chống lại. Cũng gọi là “cách dương”, nghĩa là âm dương ngăn cách nhau. Lại gọi là “đới dương”, nghĩa là dương nổi lên trên, như đội ở phía trên.
Chân hàn đã vào lý thì âm khí không thể không thịnh. Nhưng khi bệnh trở nên nghiêm trọng, chẳng qua là dương càng suy, âm càng thịnh mà thôi!
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ để đọc phương: tạm lấy một lạng đối chiếu với 3 g, một cân gồm mười sáu lạng. Đây không phải phép quy đổi trọng lượng cổ, cũng không phải liều kê dùng. Ngũ vị tử nửa thăng và Phụ tử một củ không quy cố định sang gam; lượng nước và cách chia uống cổ được giữ nguyên theo văn bản.
Trong phương, Thược dược được bỏ khi hạ lợi; phần phương giải lại nói “giảm Thược dược”. Hai cách diễn đạt được giữ đúng như bản gửi. Câu “con lấy khí của mẹ, làm mẹ suy” thuộc lý luận ngũ hành: mộc là con của thủy, diễn tả ý dùng Thược dược để tiết chế thủy.
Nhận xét về Phụ tử sống và Phụ tử bào chế là quan điểm của tác giả cổ. Phụ tử có độc tính; không tự dùng Phụ tử sống hoặc áp dụng máy móc cách sắc cổ. Các dấu hiệu tay chân lạnh, mạch rất yếu, tiêu chảy kéo dài hoặc rối loạn ý thức cần được đánh giá y tế khẩn cấp.
Trường Xuân biên soạn
THÔNG MẠCH TỨ NGHỊCH THANG 通脉四逆汤
Cam thảo chích hai lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 6 g), Can khương ba lạng (9 g), người khỏe mạnh có thể dùng bốn lạng (12 g), Phụ tử một củ lớn, dùng sống, bỏ vỏ, bổ tám miếng (không quy cố định sang gam).
Ba vị trên, dùng ba thăng nước, sắc còn một thăng hai hợp, bỏ bã, chia uống ấm hai lần. Mạch hiện trở lại thì khỏi.
Sắc mặt đỏ, thêm hành chín cọng. Bụng đau, bỏ hành, thêm Thược dược hai lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 6 g). Nôn, thêm Sinh khương hai lạng (6 g). Họng đau, bỏ Thược dược, thêm Cát cánh một lạng (3 g). Hạ lợi đã ngừng mà mạch không hiện, bỏ Cát cánh, thêm Nhân sâm hai lạng (6 g). Bệnh chứng phải phù hợp với phương thuốc thì mới dùng.
PHƯƠNG GIẢI
Trong luận, các phương phù dương, ức âm được phân biệt như sau: trung tiêu hàn, dương yếu không thể thông đạt ra ngoài thì chủ trị bằng Tứ nghịch thang; trong ngoài đều hàn, dương khí rất hư thì chủ trị bằng Phụ tử thang; âm thịnh ở dưới, cách dương ở trên thì chủ trị bằng Bạch thông thang; âm thịnh bên trong, cách dương ra ngoài thì chủ trị bằng Thông mạch tứ nghịch thang.
Như vậy có thể biết: Tứ nghịch thang vận hành dương khí; Phụ tử thang ôn bổ dương khí; Bạch thông thang tuyên thông dương khí trên dưới; Thông mạch tứ nghịch thang thông đạt dương khí trong ngoài.
Nay mạch vi muốn tuyệt, lý hàn ngoại nhiệt, là âm trong thận quá thịnh, đẩy dương ra ngoài, nên dùng phương này chủ trị.
Tăng Can khương, thêm Cam thảo giúp Phụ tử, đổi tên thành Thông mạch tứ nghịch thang, vì phương có thể làm mạnh nguyên dương, chủ trì cả trong lẫn ngoài, cùng kéo cái nhiệt bên ngoài trở vào trong.
Lúc này sinh khí đã lìa, sự mất còn chỉ trong khoảnh khắc. Nếu lấy Cam thảo mềm hòa, chậm dịu làm quân, thì làm sao nhanh chóng gọi dương bên ngoài trở về? Bởi vậy đổi sang lấy Can khương làm quân.
Tuy nhiên, phải thêm Cam thảo bằng lượng Can khương, vì e rằng sau khi khí đã tản mát, sức mạnh mãnh liệt của Khương, Phụ không thể yên dưỡng nguyên khí. Đây là ý nghĩa của một đội quân có sự tiết chế.
Nếu mặt đỏ, thêm hành để thông dương đang bị ngăn cách ở trên. Bụng đau, thêm Thược dược để điều hòa âm bên trong. Nôn nghịch, thêm Sinh khương để chỉ nôn. Họng đau, thêm Cát cánh để lợi yết hầu.
Hạ lợi đã ngừng mà mạch không hiện, khí ít, thì tăng gấp đôi Nhân sâm, nhằm sinh nguyên khí, phục hồi mạch.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, nôn và hạ lợi, tay chân không quyết lạnh mà trái lại phát nhiệt thì không chết. Nếu mạch không đến, cứu kinh thiếu âm bảy tráng.
CHÚ GIẢI
Thiếu âm nôn và hạ lợi, theo lẽ thường phải có tay chân quyết lạnh. Nay không quyết lạnh mà trái lại phát nhiệt, là dương chưa suy, nên nói không chết.
Nếu mạch không đến, dù có nhiệt bên ngoài vẫn e là giả nhiệt, cần phòng dương thoát. Nên nhanh chóng cứu kinh thiếu âm để thông dương, nhờ đó mạch có thể phục hồi.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều trước dùng Thông mạch tứ nghịch thang là lý hàn ngoại nhiệt, tay chân quyết lạnh, mạch không đến. Điều này dùng phép cứu là lý hàn ngoại nhiệt, tay chân không quyết lạnh, nhưng mạch không đến. Động mạch của kinh thiếu âm ở vùng mắt cá trong của chân.
Dụ Xương nói: Chứng lưng sợ lạnh ở điều trước, sau khi cứu còn dùng Phụ tử thang, vì âm hàn ngưng kết bên trong, không phải chỉ một lần cứu là có thể thắng được.
Điều này tay chân trái lại nóng, chỉ là âm ở trong, dương ở ngoài, nên chỉ cứu bản kinh để dẫn dương vào trong, không cần dùng thêm thuốc ôn.
Uông Hổ nói: Kinh nói nguyên huyệt của thận ở Thái khê. Cứu thiếu âm bảy tráng là cứu Thái khê. Hai huyệt nằm ở chỗ lõm có động mạch, phía sau mắt cá trong, vùng xương gót.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, nôn và hạ lợi, tay chân quyết lạnh, phiền táo đến mức như muốn chết: Ngô thù du thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Gọi là bệnh thiếu âm mà dùng thuốc chủ trị quyết âm, vì thiếu âm và quyết âm thường hợp bệnh. Chứng trạng giống nhau nhưng tình hình bệnh khác nhau, nên cách chữa cũng khác.
Thiếu âm có nôn và hạ lợi, quyết âm cũng có nôn và hạ lợi. Thiếu âm có quyết nghịch, quyết âm cũng có quyết nghịch. Thiếu âm có phiền táo, quyết âm cũng có phiền táo. Đây là hợp bệnh mà chứng trạng giống nhau.
Quyết của thiếu âm có mức nhẹ và nặng; quyết của quyết âm có hàn và nhiệt. Phiền táo của thiếu âm thường thiên về táo; phiền táo của quyết âm thường thiên về phiền.
Bệnh thiếu âm phần nhiều do âm thịnh cách dương, nên dùng Can khương, Phụ tử trong Tứ nghịch thang để trục âm, hồi dương. Bệnh quyết âm phần nhiều do âm thịnh làm dương bị uất, nên dùng tính cay mạnh của Ngô thù du để nhanh chóng tán tà, thông dương. Đây là bệnh tình khác nhau nên cách chữa khác nhau.
Nay nôn nhưng không nôn ra giun đũa, tay chân quyết lạnh, nên gọi tên là bệnh thiếu âm.
Tuy nhiên, quyết lạnh không vượt quá khuỷu tay và đầu gối, phiền nhiều hơn táo, khổ sở như muốn chết, thì thuộc phạm vi chủ trị của bệnh quyết âm. Vì thế không dùng Tứ nghịch thang mà dùng Ngô thù du thang.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Nôn và hạ lợi là âm tà ở lý, xâm phạm lên tỳ vị. Quyết lạnh là dương không làm ấm được tứ chi.
Phiền rồi táo là âm thịnh đến cực điểm, khiến dương khí bộc lộ, nhiễu loạn không yên. Chứng đến mức này đã gần nguy hiểm.
Không có tính cay ấm của Ngô thù du thì không thể giáng âm khí đang nghịch lên. Không có tính ngọt ấm của Nhân sâm, Khương, Táo thì không thể bồi dưỡng trung thổ để chế ước thận tà.
Táo phiền và phiền táo cũng khác nhau. Táo là âm táo; phiền là dương phiền.
Táo phiền nghĩa là từ táo chuyển sang phiền, âm tà đã bức ra ngoài. Phiền táo nghĩa là từ phiền chuyển sang táo, dương khí vẫn còn tranh đấu bên trong.
Sự khác biệt về nặng nhẹ, nông sâu ấy, người học nên xét kỹ.
Trình Ứng Mao nói: Phép ôn vốn đặt ra để chữa âm hàn, nên chân hàn thường có giả nhiệt. Những trường hợp âm thịnh cách dương, âm chứng giống dương chứng đều là chỗ bệnh thiếu âm dễ làm mê lầm tai mắt người ta. Phải từ biểu hiện giả mà xét ra bản chất thật, mới không bị chúng chi phối.
Như nôn, hạ lợi mà có quyết lạnh, là vị dương suy, thận âm cùng xâm nhập. Ai cũng biết đó là hàn, nhưng trái lại xuất hiện phiền táo khổ sở như muốn chết để làm người ta lầm tưởng. Đó đều do dương bị âm cự tuyệt, không có nơi nương náu, nên hiện ra tình trạng ấy.
Ngô thù du thang mượn sức của mộc để tăng thế của hỏa, khiến thổ được ấm, thủy hàn lui đi.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải trọng lượng cổ quy đổi hoặc liều kê dùng. Lượng nước, cách sắc và chia uống được giữ theo nguyên văn.
Phần phương thuốc ghi Cam thảo hai lạng, Can khương ba lạng; nhưng phương giải lại nói dùng Cam thảo bằng lượng Can khương. Phép gia giảm ghi thêm Nhân sâm hai lạng, còn phương giải nói tăng gấp đôi Nhân sâm. Những điểm không thống nhất này được giữ nguyên, không tự sửa.
“Bảy tráng” là cách tính lượng cứu bằng bảy mồi ngải theo phép cổ. Những lời “không chết”, “mạch hiện thì khỏi” là nhận định tiên lượng trong cổ thư, không phải bảo đảm kết quả. Phụ tử sống và phép cứu trong tình trạng nôn, tiêu chảy, tay chân lạnh, mạch khó bắt không nên tự thực hiện; các biểu hiện này cần được cấp cứu và đánh giá trực tiếp.
Trường Xuân biên soạn
NGÔ THÙ DU THANG 吴茱萸汤
Ngô thù du một thăng (giữ đơn vị dung tích cổ, không quy cố định sang gam), Nhân sâm ba lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 9 g), Sinh khương một lạng (3 g), Đại táo mười hai quả.
Bốn vị trên, dùng bảy thăng nước, sắc còn hai thăng, uống ấm bảy hợp mỗi lần, ngày ba lần.
TẬP GIẢI
La Thiên Ích nói: Phép của Trọng Cảnh, đối với thiếu âm thì coi trọng củng cố nguyên dương; đối với quyết âm thì coi trọng củng cố sinh khí.
Can mộc quyết âm tuy là nơi hai âm giao nhau đến tận cùng, nhưng chân khí của một dương thực sự khởi lên ở đó. Một khi sinh khí này hư, trọc khí của tam âm liền bức thẳng lên trung tiêu, thượng tiêu. Không những các chứng của bản kinh xuất hiện đầy đủ, mà sự kiện vận của dương minh cũng mất chức năng, khiến chân dương thiếu âm nổi lộ ra ngoài. Do đó, nôn, hạ lợi, quyết nghịch, phiền táo khổ sở như muốn chết, ăn vào muốn nôn, cùng nhiều chứng khác phát sinh.
Ngô thù du nhận khí Chấn phương Đông, cay đắng, rất nóng, có thể khai thông mộc uất, đi thẳng vào quyết âm, giáng trọc khí do âm thịnh, nên dùng làm quân.
Nhân sâm mang chính khí trung hòa, ngọt ấm, đại bổ, có thể tiếp nối thiên chân, cứu vãn tính mạng, nâng sinh khí sắp tuyệt, nên dùng làm thần.
Phối hợp Khương, Táo để hòa vị, đưa khí đến bốn đầu chi. Như vậy, thần Chấn phối hợp đức của các vị thuốc, mộc thổ không làm hại nhau; công dụng nhiệm mầu của một dương được thành tựu, trong tam âm đều có khí sinh hóa nối tiếp. Các chứng sao còn không lui?
Phương Hữu Chấp nói: Nôn làm tổn thương dương, hạ lợi làm tổn thương âm. Quyết lạnh là âm tổn mà nghịch; phiền táo là dương tổn mà loạn.
Ngô thù du cay ấm, tán hàn, làm ấm vị, chỉ nôn. Nhân sâm ngọt ấm, ích dương, củng cố gốc, bổ trung. Đại táo giúp vị, ích tỳ. Sinh khương là vị thuốc quý để chữa nôn. Vì thế, bốn vị này là những vị cần dùng để ôn trung, giáng nghịch.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, nôn, hạ lợi, táo phiền, tứ nghịch thì chết.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, làm sáng tỏ ý nghĩa, phân biệt trường hợp có thể chữa và không thể chữa.
Nôn, hạ lợi, phiền táo, quyết nghịch ở điều này đều giống điều trước. Một điều dùng Ngô thù du thang chữa, một điều nói chết, không chữa được, là vì sao?
Bởi phiền táo của thiếu âm thường táo nhiều, phiền ít; táo thuộc âm. Phiền táo của quyết âm thường phiền nhiều, táo ít; phiền thuộc dương.
Tay chân quyết lạnh trong quyết âm không vượt quá khuỷu tay và đầu gối, dương nhỏ chưa tuyệt, nên có thể chữa.
Tứ chi quyết lạnh trong thiếu âm không thể ấm trở lại, âm đơn độc không hóa, nên nói chết.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Từ nôn, hạ lợi chuyển thành táo phiền, có thể biết âm dương đã lìa thoát, nhiễu loạn. Lại thêm tứ nghịch thì dương đã tuyệt, còn chờ gì mà không chết? Nếu sớm biết ôn trung, sao đến nỗi này?
Trương Lộ nói: Điều này không khác điều trước, vì sao điều trước có thể chữa mà điều này không thể chữa? Hẳn là đã dùng phép ôn trung mà không khỏi, lại tăng táo phiền, nên mới đoán là chết.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, sợ lạnh, thân co quắp mà hạ lợi, tay chân quyết lạnh thì không chữa được.
CHÚ GIẢI
Điều này bổ sung ý nghĩa tay chân quyết lạnh, không chữa được ở điều trước.
Sợ lạnh, nằm co quắp tuy thuộc chứng thiếu âm, nhưng chưa đến mức chết. Nếu hạ lợi không ngừng, tay chân quyết lạnh không ấm trở lại, là có âm mà không có dương. Dù không xuất hiện nôn và táo phiền, cũng không chữa được.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Âm thịnh, không có dương, dù dùng các phép Tứ nghịch để gọi dương khí trở về từ nơi hầu như không còn gì, phần nhiều vẫn không thể phục hồi, nên nói không chữa được.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, tứ nghịch, sợ lạnh, thân co quắp, mạch không đến, không phiền mà táo thì chết.
CHÚ GIẢI
Điều này tổng kết ba điều trên, nói rõ tử chứng không chữa được.
Tứ nghịch nghĩa là tứ chi quyết lạnh, vượt quá khuỷu tay, đầu gối mà không ấm trở lại.
Biểu dương hư nên sợ lạnh. Âm chủ co rút nên nằm co quắp, không duỗi ra.
Mạch không đến là sinh khí đã tuyệt. Nếu có phiền mà không táo, vẫn còn dương có thể phục hồi. Nay không phiền mà táo, là có âm không có dương, nên nói chết.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Các biểu hiện âm tà đều hiện rõ, mạch lại không đến, dương đã tuyệt trước. Không phiền mà táo là âm đơn độc không có nơi nương tựa, sắp tự cùng tận.
Kinh nói: “Âm khí tĩnh thì thần được giữ bên trong; táo thì tiêu vong.” Bởi táo là thần của âm tạng mất ra ngoài; mất thì chết. Nếu sớm biết phục mạch để thông dương, sao đến nỗi này?
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, hạ lợi, mạch vi sáp, nôn mà ra mồ hôi, đáng lẽ đi ngoài nhiều lần, trái lại lượng ra ít, thì nên ôn phần trên, dùng phép cứu.
CHÚ GIẢI
Mạch vi là dương hư; mạch sáp là huyết ít.
“Đi ngoài nhiều lần” nghĩa là hạ lợi thường xuyên. “Trái lại ít” nghĩa là muốn đi ngoài nhưng lượng phân ra ít. Đây chính là chứng hạ lợi có dương hư, huyết ít, bụng quặn, mót rặn.
Nôn mà ra mồ hôi là âm thịnh bên trong, nghịch lên gây nôn; dương hư mất sự bảo vệ nên mồ hôi ra. Nên ôn phần trên, dùng phép cứu.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Bệnh thiếu âm hạ lợi thì có thể biết dương suy. Mạch lại vi mà sáp, không chỉ dương suy mà âm cũng cạn.
Dương suy nên âm tà nghịch lên gây nôn. Âm cạn mà mồ hôi vẫn ra, đi ngoài thường xuyên, phải rặn.
Trong một phép chữa, vừa muốn trợ dương, vừa muốn bảo vệ âm, thì các phương Tứ nghịch, Phụ tử đều khó dùng.
Chỉ có cứu huyệt Bách hội trên đỉnh đầu để ôn, vừa thay được tác dụng trợ dương, hướng lên của Khương, Phụ, vừa tránh tính cay mạnh, chạy tán, làm khô phần dưới của Khương, Phụ. Vì vậy, hạ lợi có thể ngừng mà âm huyết không bị tổn thương.
Có thể thấy bệnh ở thiếu âm, không được vì khó dùng phép ôn mà bỏ hẳn phép ôn.
Uông Hổ nói: Trong điều này, Trọng Cảnh không nói nên cứu huyệt nào.
Mạch kinh nói cứu Quyết âm du. Thường Khí Chi nói cứu Thái xung. Đều sai. Quách Ung nói cứu Thái khê, tuy là huyệt kinh thiếu âm, cũng sai.
Trọng Cảnh nói nên ôn phần trên. Phương Hữu Chấp nói: “Trên là đỉnh đầu, tức huyệt Bách hội.”
Đồ kinh nói: Huyệt này còn tên Tam dương ngũ hội, nằm sau Tiền đỉnh một tấc rưỡi, ở chính giữa đỉnh đầu; vốn chữa trẻ em sa trực tràng lâu không khỏi, có thể cứu bảy tráng.
Điều này cũng dùng cứu là để nâng dương, điều hòa âm.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, hạ lợi đã ngừng mà đầu choáng, thường tự hôn mạo thì chết.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm, hạ lợi ngừng, nếu vị hòa, ăn được, thần tỉnh, khí khoan khoái thì là muốn khỏi.
Nay hạ lợi ngừng mà đầu choáng, thường hôn mê không biết, là khí thoát, thần lìa. Vì thế, dù hạ lợi đã ngừng, vẫn đoán là chết.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Đầu huyễn, thường gọi là choáng váng. Các dương hội ở đầu. Hạ lợi ngừng mà đầu choáng là dương không có nơi nương tựa, nổi vượt ra ngoài, thần khí tán loạn, nên thường tự hôn mạo; có thể biết là chết.
Trương Tích Câu nói: Tử chứng của điều này phải nhận ra ở đầu choáng và tự hôn mạo. Nếu hạ lợi ngừng mà đầu không choáng, không hôn mạo, thì bên trong đã hòa, sao có thể chết?
Trương Lộ nói: Âm dương trong người nương tựa, gắn bó với nhau. Âm mất ở dưới thì các dương tụ trên đầu đều động loạn, nên đầu choáng, thường tự hôn mạo. Dương thoát ở trên nên đoán chết.
Có thể thấy dương hồi mà hạ lợi ngừng thì sống; âm tận mà hạ lợi ngừng thì chết.
Uông Hổ nói: Hạ lợi ngừng thì bệnh đáng lẽ khỏi. Nay trái lại là dấu hiệu chết, vì không phải dương hồi mà hạ lợi ngừng, mà là dương thoát, hạ lợi đến chỗ cùng tận.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, sáu bảy ngày, hơi thở dồn lên cao thì chết.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm chỉ muốn ngủ, nếu hơi thở bình ổn, khí hòa thì thuận. Nay hơi thở dồn lên cao, gấp gáp thì nghịch. Người bệnh nằm mà thở cao, thở gấp, phần nhiều chết.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Những chữ “sáu bảy ngày” phân biệt chứng rất tinh tế. Bởi tà truyền vào thiếu âm mà hơi thở dồn lên cao, khác hẳn biểu chứng thái dương hai ba ngày phát suyễn.
Trình Tri nói: Thận là nguồn sinh khí. Hơi thở dồn lên cao là khí tán, chạy vào trong ngực, không thể trở về khí hải, nên đoán chết.
Trình Ứng Mao nói: Phế chủ khí, thận là nguồn sinh khí, là cửa ngõ của hô hấp, có quan hệ rất lớn đến sống chết.
Hơi thở dồn lên cao là sinh khí đã tuyệt ở dưới, không còn thu nạp. Hơi thở trôi nổi chỉ còn thở ra ở trên mà không có nơi để hít vào.
Cái chết khó tránh xảy đến sau sáu bảy ngày, nhưng dấu hiệu đã báo trước từ trước sáu bảy ngày. Khi thiếu âm đã mắc bệnh, sao không sớm giữ gìn, phòng ngừa, lại để chân dương tản mát đến mức không thể trở về?
Trong các điều, trước hết nhắc đi nhắc lại việc cấm phát hãn, tiếp đó khẩn thiết coi trọng phép ôn, đều vì đã thấy trước điều này.
Ngụy Lệ Đồng nói: Bệnh kéo dài bảy ngày, hơi thở dồn lên cao, khí nghịch, cùng với thường tự hôn mạo đều là thoát ở trên.
Một bên choáng, hôn mạo, dương thăng không trở lại; một bên hơi thở dồn lên cao, gốc khí đã bị nhổ bật. Cùng một lý nhưng hiện chứng khác nhau, nên Trọng Cảnh đều đoán chết.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, mạch tế trầm sác, bệnh ở lý, không được phát hãn.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm chỉ muốn ngủ, nếu mạch tế trầm vi thì tà theo hàn hóa. Nay mạch tế trầm sác là tà theo nhiệt hóa.
Dù có phát nhiệt, cũng là sắp chuyển thuộc dương minh, không giống bệnh thiếu âm mới mắc, trái lại phát nhiệt, mạch trầm mà không sác, nên dùng Ma hoàng phụ tử tế tân thang phát hãn đã nói trước.
Vì vậy nói bệnh ở lý, không được phát hãn.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói nhiệt tà ở lý, có điều cấm phát hãn.
Mạch thiếu âm vi tế là thường. Nay trầm lại thêm sác, chính là dấu hiệu nhiệt tà ở lý. Phát hãn sẽ động kinh, tăng táo nhiệt, dẫn đến biến chứng tổn huyết.
Trịnh Trọng Quang nói: Mạch tế trầm mà sác, bên trong có dương ẩn phục, nên nói bệnh ở lý. Đây là chứng nhiệt tà truyền vào lý, tuyệt đối không được phát hãn. Phát hãn sẽ động kinh khí, có biến chứng mất huyết.
Thiếu âm phát nhiệt, mạch trầm, bệnh ở biểu, vì không có lý chứng nên có thể phát hãn.
Nếu mạch phù mà trì, biểu nhiệt lý hàn, hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, thì trì là không có dương, bệnh ở lý. Không được chỉ vì mạch phù mà cho là ở biểu rồi phát hãn.
Phải biết trong âm có dương, mạch trầm cũng có thể phát hãn; trong dương có âm, mạch phù cũng nên ôn.
Điều này mạch tế trầm sác: sác là nhiệt, trầm là ở lý. Đây là dương tà vào lý, nên đưa ra lời răn không được phát hãn.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, chỉ có quyết, không có mồ hôi, mà cưỡng ép phát hãn, ắt làm động huyết. Không biết huyết sẽ theo đường nào ra: hoặc từ miệng mũi, hoặc từ mắt. Đó gọi là hạ quyết thượng kiệt, khó chữa.
CHÚ GIẢI
Điều này nói rõ cưỡng ép phát hãn trong thiếu âm nhiệt tà sẽ gây biến chứng động huyết.
Bệnh thiếu âm, mạch tế trầm sác, lại thêm quyết, cũng là nhiệt quyết. Âm vốn không có mồ hôi; dù không có mồ hôi cũng không nên phát hãn.
Nếu phát hãn là cưỡng ép phát hãn đối với thiếu âm nhiệt tà. Không đáng phát mà cố phát, càng giúp nhiệt thiếu âm bốc lên, sôi động, ắt làm động huyết của bản kinh. Huyết có thể từ miệng mũi hoặc từ mắt ra, gọi là hạ quyết thượng kiệt.
Hạ quyết là thiếu âm nhiệt quyết ở dưới; thượng kiệt là huyết thiếu âm cạn kiệt ở trên, nên khó chữa.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Cưỡng ép thiếu âm ra mồ hôi mà làm động huyết, huyết ắt nghịch lên, ra ở các khiếu thuộc dương, vì thuốc phát hãn đều là dương dược.
Trình Ứng Mao nói: Ngũ dịch đều do thận chủ. Cưỡng ép phát hãn thiếu âm thì khí toàn thân đều nghịch; huyết bị khí bôn nghịch thúc bức mà xuất hiện, nên không biết sẽ ra theo đường nào.
Thẩm Minh Tông nói: Bệnh thiếu âm chỉ có quyết, không có mồ hôi, bệnh ở lý, nên dùng Tứ nghịch tán hòa âm, tán tà. Bệnh tự lui, quyết tự khỏi. Sao có thể cưỡng ép phát hãn?
Ngụy Lệ Đồng nói: Quyết mà có mồ hôi là hình tượng nội hàn bức dương mất ra ngoài, nên thuộc hàn hóa.
Âm tà không có mồ hôi mà quyết là nhiệt tà ẩn phục bên trong, không thoát ra ngoài, tà nhiệt hao tổn ở trong. Như vậy có thể xét là dương tà nhiệt hóa.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, ho mà hạ lợi, nói sảng, là do bị hỏa khí cưỡng ép. Tiểu tiện ắt khó, vì đã cưỡng ép thiếu âm ra mồ hôi.
CHÚ GIẢI
Thiếu âm thuộc thận, chủ thủy. Thiếu âm mắc tà, không thể chủ thủy; thủy công lên thì ho, công xuống thì hạ lợi.
Tà theo hàn hóa là chứng Chân vũ thang; tà theo nhiệt hóa là chứng Trư linh thang.
Nay bị hỏa khí cưỡng ép ra mồ hôi, tà theo nhiệt hóa, chuyển thuộc vị nên nói sảng. Tân dịch bên trong cạn nên tiểu tiện khó. Đều do cưỡng ép thiếu âm phát hãn.
Muốn cứu âm, có thể tùy chứng chọn Bạch hổ thang hoặc Trư linh thang.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Cưỡng ép” là đòi hỏi quá mức. Nước tiểu và mồ hôi đều thuộc huyết dịch. Thiếu âm ít huyết, cưỡng ép ra mồ hôi làm mất huyết thì nguồn nước tiểu khô cạn, nên tiểu tiện khó.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, hạ lợi sáu bảy ngày, ho, nôn, khát, tâm phiền không ngủ được: Trư linh thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thiếu âm hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, ho, nôn mà không khát thì thuộc hàn ẩm.
Nay bệnh thiếu âm sáu bảy ngày, hạ lợi phân dính, hôi bẩn, ho, nôn, khát, phiền không ngủ được, là thủy ẩm có nhiệt gây bệnh trong thiếu âm.
Thủy ẩm và nhiệt kết hợp, công lên thì ho, công vào giữa thì nôn, công xuống thì hạ lợi. Nhiệt hao tân dịch nên khát. Nhiệt nhiễu tâm nên phiền, không ngủ được.
Nên dùng Trư linh thang lợi thủy, tư nhuận táo khô, các chứng ẩm nhiệt đều có thể khỏi.
TẬP CHÚ
Triệu Tự Chân nói: Thiếu âm ho, hạ lợi, nôn, khát, tâm phiền không ngủ, cùng với quyết âm hạ lợi muốn uống nước, đều là nhiệt của tà truyền kinh; mạch ắt trầm tế sác, nên dùng Hoàng liên, Hoạt thạch và các vị thanh lợi.
Còn thiếu âm tự hạ lợi mà khát, muốn nôn không nôn được, tâm phiền, chỉ muốn ngủ, tiểu tiện trong trắng, là hàn của âm tà bản kinh; mạch ắt trầm vi, nên dùng Phụ tử, Can khương ôn.
Uông Hổ nói: Hạ lợi, ho, nôn, khát, tâm phiền không ngủ, làm sao biết không phải bệnh thiếu dương, dương minh?
Nếu thiếu dương, dương minh có những chứng này thì thuộc lý thực, mạch ắt huyền đại mà trường. Bệnh này mạch ắt vi tế, nên biết chắc là bệnh thiếu âm.
Lâm Lan nói: Hạ lợi là tà đã dồn xuống dưới, vì sao lại nôn và ho?
Bởi đến sáu bảy ngày, khát, tâm phiền không ngủ, thì tà truyền kinh khách ở trên lại thịnh. Khát thì thường uống nhiều, uống nhiều ắt thủy đình. Tà nhiệt chưa giải mà chứng thủy chứa lại phát sinh.
Hạ lợi do nhiệt tà truyền hãm không thể so với nôn, hạ lợi cùng xuất hiện do âm hàn.
Nôn mà khát: nếu nôn trước, khát sau thì tà muốn giải; nếu khát trước, nôn sau thì thường do thủy đình. Lại có thể xét thêm thủy hàn bắn lên phế gây ho. Do đó biết bên trong ắt có thủy ẩm đi kèm.
Thẩm Minh Tông nói: Tâm phiền không ngủ được của Hoàng liên a giao thang khá giống điều này, vì sao cách chữa khác nhau?
Điều này là phong nhiệt thiếu âm chuyển vào dương minh gây hạ lợi, nên dùng Trư linh thang dẫn thủy tà trở về đường bàng quang mà ra, lấy việc cứu tân dịch trong vị làm chính.
Điều kia tâm phiền không ngủ mà không có hạ lợi, là thận thủy khô ít, nên dùng Hoàng liên a giao thang tư âm, thanh hỏa, lấy việc cứu thận âm làm chính.
Ngụy Lệ Đồng nói: Ho mà họng không đau, khát mà miệng không khát, thì biết tà tuy là nhiệt truyền kinh vào trong, nhưng có thủy ẩm lẫn vào, nên thế nhiệt không thể quá mạnh.
Thế tà tuy xung lên gây ho, nôn, nhưng không đến mức đau họng; ngăn trở tân dịch bình thường gây khát, nhưng không đến mức khô ráo.
Lại có tâm phiền không ngủ, trong âm chứng thiếu âm vốn chỉ muốn ngủ mà xuất hiện dương chứng, chẳng phải là nhiệt truyền kinh kèm thủy thấp hay sao?
Không phát vàng là vì bệnh thiếu âm vốn có hạ lợi, thấp không thể lưu, nhiệt không thể chứa. Xét như vậy, nhiệt tà kèm thủy ẩm đã rõ.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, tứ nghịch, người bệnh hoặc ho, hoặc hồi hộp, hoặc tiểu tiện không lợi, hoặc bụng đau, hoặc tiết lợi, mót rặn: Tứ nghịch tán chủ trị.
CHÚ GIẢI
Tứ nghịch trong thiếu âm tuy có thể do âm thịnh, không làm ấm được bên ngoài, nhưng cũng có trường hợp dương bị âm uất, không thể tuyên đạt, khiến tứ chi quyết lạnh.
Vì vậy có các chứng hoặc ho, hoặc hồi hộp, hoặc tiểu tiện không lợi, hoặc bụng đau, tiết lợi, mót rặn.
Nay chỉ có tứ nghịch mà không có các chứng hàn nhiệt khác, tức không có hàn cần ôn, cũng không có nhiệt cần hạ. Chỉ nên sơ thông dương, nên dùng Tứ nghịch tán chủ trị.
TẬP CHÚ
Lý Trung Tử nói: Dùng thuốc trong thiếu âm có phân âm dương. Nếu âm hàn mà tứ nghịch thì không có Khương, Phụ không thể chữa.
Chứng này tuy nói tứ nghịch nhưng ắt không quá lạnh; hoặc đầu ngón còn hơi ấm, hoặc mạch không trầm vi, là chứng trong âm có chứa dương.
Chỉ vì khí không tuyên thông nên quyết lạnh. Vì vậy dùng Sài hồ làm mát biểu, Thược dược thanh phần giữa. Đây vốn là phương của can đởm, nhưng dùng trong thiếu âm vì thủy mộc cùng nguồn.
Dùng Chỉ thực khai thông các cửa thất xung, Cam thảo điều hòa khí tam tiêu. Khí cơ tuyên thông thì tứ nghịch có thể khỏi.
Trình Tri nói: Thương hàn lấy dương làm chủ. Tứ nghịch có hình tượng âm tiến; nếu hạ thì dương càng suy, hãm vào trong không ra được.
Vì vậy, nhiệt tà truyền kinh đến mức tay chân quyết lạnh là chỗ khó nhận biết nhất.
Cho là hàn sâu trong lý thì không có hình tượng mạch vi muốn tuyệt. Cho là nhiệt sâu trong lý thì không có chứng phiền khát.
Chỉ là nhiệt tà vào, kết bên trong, dương khí không thể thuận hành đến tứ chi. Chứng này nên hòa giải, không nên dùng thuốc hàn để hạ.
Trong các phương dùng thuốc nhẹ và ít của kinh, không phương nào bằng phương này. Có thể thấy rõ ý nghĩa giải tán nhẹ nhàng, hòa hoãn.
Trình Ứng Mao nói: Tứ nghịch mới xuất hiện vốn không phải nhiệt chứng, cũng không phải hàn sâu.
Ho, hồi hộp, hoặc tiểu tiện không lợi, có vẻ như thủy chứa. Bụng đau, tiết lợi, lại có vẻ như hàn ngưng.
Trong đó còn kèm mót rặn, chẳng phải khí trệ ở phần phu dương, khiến kinh lạc mất sự tuyên thông hay sao?
Uông Hổ nói: Tứ nghịch tán chữa dương tà truyền biến vào âm kinh, là giải tà truyền kinh, không phải chữa âm hàn.
Dương nhiệt đến cực điểm có thể làm sáu bộ mạch tế nhược, tiếng nói nhỏ nhẹ, thần sắc lười, yên tĩnh, tay chân chỉ hơi ấm, giống âm chứng. Nhưng đại tiện kết, tiểu tiện nhiều lần, răng khô, lưỡi có rêu; nhiệt đã ẩn bên trong, ắt có phát nhiệt.
Nếu dùng thuốc nóng thì nội nhiệt càng mạnh. Dùng thuốc mát thì nhiệt bị hàn bó lại, không tán được.
Trị pháp chỉ nên hòa biểu, giải cơ, sơ thông khí huyết, thì lý nhiệt tự trừ. Đó là lý do Trọng Cảnh đặt ra Tứ nghịch tán.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải quy đổi trọng lượng cổ hoặc liều kê dùng. Phương Ngô thù du thang trong bản gửi ghi Sinh khương một lạng; bản dịch giữ nguyên con số ấy.
Câu của Ngụy Lệ Đồng “khát mà miệng không khát” không thống nhất với câu tiếp nói “gây khát nhưng không đến mức khô ráo”; có khả năng văn bản bị sai chữ. Bản dịch giữ nguyên, không tự sửa thành “miệng không khô”.
Những lời “chết”, “không chữa được” là tiên lượng của cổ thư, không nên hiểu thành chỉ dẫn từ bỏ điều trị. Nôn, tiêu chảy kèm tay chân lạnh, mạch khó bắt, hôn mê hoặc thở gấp là tình trạng cần cấp cứu. Những nhận định chọn thuốc, huyệt cứu và phân biệt hàn nhiệt ở trên là lời của từng tác giả cổ, không phải hướng dẫn tự chữa.
Trường Xuân biên soạn
TỨ NGHỊCH TÁN 四逆散
Cam thảo chích, Chỉ thực bổ ra, ngâm nước rồi sao khô, Sài hồ, Thược dược.
Bốn vị trên, mỗi vị mười phân, giã, rây thành bột. Dùng nước cơm hòa uống một phương thốn chủy, ngày ba lần.
Nếu ho, thêm Ngũ vị tử và Can khương, mỗi vị năm phân; phép gia giảm này cũng chủ trị hạ lợi. Nếu hồi hộp, thêm Quế chi năm phân. Nếu tiểu tiện không lợi, thêm Phục linh năm phân. Nếu bụng đau, thêm Phụ tử một củ, bào đến khi nứt.
Nếu tiết lợi, mót rặn, trước dùng năm thăng nước sắc với ba thăng Giới bạch, lấy ba thăng, bỏ bã. Cho ba phương thốn chủy thuốc bột vào nước sắc ấy, sắc còn một thăng rưỡi, chia uống ấm hai lần.
PHƯƠNG GIẢI
Phương mang tên Tứ nghịch tán, cùng với Tứ nghịch thang đều chữa tay chân quyết lạnh. Nhưng Tứ nghịch thang chữa hàn quyết do âm tà; phương này chữa nhiệt quyết do dương tà.
Nhiệt quyết là tam dương truyền vào quyết âm, thành hợp bệnh. Thái dương hợp quyết âm là chứng Ma hoàng thăng ma thang, Cam thảo can khương thang. Dương minh hợp quyết âm là chứng Bạch hổ thang, Đại thừa khí thang.
Phương này thuộc thiếu dương hợp quyết âm, nên lấy Sài hồ làm quân để sơ thông dương của can; Thược dược làm thần để tiết âm của can; Cam thảo làm tá để hòa hoãn khí của can; Chỉ thực làm sứ để phá nghịch của can.
Ba vị phối hợp với Sài hồ, có thể đi ra ngoài đến phần dương của thiếu dương, đi vào trong đến phần âm của quyết âm. Nhờ đó, tính sơ tiết của can đởm được thuận, chứng quyết có thể thông giải.
Ho hoặc hạ lợi là tà ẩm gây bệnh ở trên hoặc dưới. Thêm Ngũ vị tử, Can khương để ôn trung, tán ẩm.
Hồi hộp là thủy ẩm đình lại, lấn phạm tâm. Thêm Quế chi để thông dương, ích tâm.
Tiểu tiện không lợi là thủy ẩm chứa ở bàng quang. Thêm Phục linh để lợi thủy, dẫn thủy ẩm ra ngoài.
Bụng đau là hàn ngưng bên trong. Thêm Phụ tử để ôn trung, định thống.
Tiết lợi, mót rặn là hàn nhiệt uất kết. Thêm Giới bạch để khai kết, sơ thông hàn nhiệt.
TẬP GIẢI
Phương Hữu Chấp nói: Tứ chi con người ấm hòa là thuận, nên không ấm hòa gọi là nghịch.
Chỉ không ấm hòa mà chưa đến mức quyết lạnh thì nhiệt chưa vào sâu. Vì vậy, dùng Sài hồ để giải, Chỉ thực để tiết, Thược dược để thu, Cam thảo để hòa.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, hạ lợi; nếu hạ lợi tự ngừng, sợ lạnh, nằm co quắp, tay chân ấm thì có thể chữa.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm, sợ lạnh, quyết lạnh, hạ lợi không ngừng là âm hàn thịnh.
Nay hạ lợi có thể tự ngừng, tay chân có thể tự ấm, dù còn sợ lạnh, nằm co quắp, cũng là dấu hiệu âm lui, dương hồi, nên nói có thể chữa.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Bệnh thiếu âm, hạ lợi rồi tự ngừng, là âm hàn cũng được trừ xuống dưới mà chưa đến mức thoát.
Dù còn những biểu hiện không tốt như sợ lạnh, nằm co quắp, nhưng tay chân ấm thì dương khí còn cơ hội phục hồi. Vì vậy, có thể dùng phép ôn để cứu.
Thẩm Minh Tông nói: Tay chân ấm là chân dương chưa lìa. Nhanh chóng dùng các phương như Bạch thông, Tứ nghịch để ôn kinh, tán hàn, thì tà lui, chân dương phục hồi, nên nói có thể chữa.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, sợ lạnh, thân co quắp, thỉnh thoảng tự phiền, muốn bỏ áo chăn thì có thể chữa.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm, sợ lạnh, thân co quắp là chứng âm hàn. Nếu thỉnh thoảng tự phiền, muốn bỏ áo chăn, thì đây là dấu hiệu dương hồi, âm lui, nên nói có thể chữa.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, mắc đã hơn hai ba ngày, trong lòng phiền, không nằm ngủ được: Hoàng liên a giao thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước để nêu cách chữa.
Bệnh thiếu âm, mắc đã hơn hai ba ngày, nghĩa là có thể đến bốn năm ngày. Trong hai ba ngày đầu, thiếu âm chỉ muốn ngủ; đến bốn năm ngày, trái lại chuyển thành trong lòng phiền, không nằm ngủ được.
Lại không có các chứng hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, ho và nôn, nên biết không phải hàn, vì thế không dùng Bạch thông thang; cũng không phải thủy ẩm, nên không dùng Trư linh thang.
Đây là nhiệt, nên dùng Hoàng liên a giao thang, khiến thiếu âm không bị thiêu đốt, tự có thể khỏi.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Hai ba ngày, tà ở thiếu âm; bốn năm ngày đã chuyển thuộc dương minh, nên không có các chứng nôn, hạ lợi, quyết nghịch.
Tâm phiền không nằm ngủ được là nhiệt dương minh nhiễu vào thiếu âm, khiến không muốn ngủ. Nên lấy giải nhiệt, tư âm làm Trị pháp chính.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Mỗi vị mười phân” ở đây biểu thị lượng bằng nhau giữa bốn vị; các vị gia thêm năm phân bằng một nửa lượng của mỗi vị chính. Không nên đồng nhất đơn vị “phân” cổ này với đơn vị cân hiện đại.
“Phương thốn chủy” là dụng cụ đong thuốc bột cổ, không phải đơn vị khối lượng cố định. Vì chưa có căn cứ quy đổi phù hợp cho bản này, các lượng thuốc bột và Giới bạch được giữ nguyên, không tự gán số gam.
Tứ nghịch tán và Tứ nghịch thang là hai phương khác nhau; không thể chỉ dựa vào tay chân lạnh để dùng thay nhau. Phần gia giảm có Phụ tử là ghi chép của cổ thư, không phải hướng dẫn tự dùng.
Trường Xuân biên soạn
HOÀNG LIÊN A GIAO THANG 黄连阿胶汤
Hoàng liên bốn lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 12 g), Hoàng cầm hai lạng (6 g), Thược dược hai lạng (6 g), lòng đỏ trứng gà hai quả, A giao ba lạng (9 g).
Năm vị trên, dùng sáu thăng nước, trước sắc ba vị Hoàng liên, Hoàng cầm, Thược dược, lấy hai thăng, bỏ bã. Cho A giao vào, khuấy cho tan hết. Để hơi nguội, thêm lòng đỏ trứng gà, khuấy đều cho hòa quyện. Uống ấm bảy hợp mỗi lần, ngày ba lần.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Đây là phương tả tâm của thiếu âm. Phàm tả tâm đều phải nhờ Hoàng liên, Hoàng cầm, nhưng cách dẫn thuốc có phân biệt âm dương.
Bệnh ở tam dương, vị không hòa, tâm hạ bĩ cứng, nếu hư thì thêm Nhân sâm, Cam thảo để bổ; nếu thực thì thêm Đại hoàng để hạ.
Bệnh ở thiếu âm, trong lòng phiền, không nằm ngủ được, thì không thể dùng Nhân sâm, Cam thảo để trợ dương, cũng không thể dùng Đại hoàng làm tổn thương vị.
Vì vậy, dùng Hoàng cầm, Hoàng liên để trực tiếp giáng tâm hỏa; dùng A giao để bổ thận âm. Lòng đỏ trứng gà giúp Hoàng cầm, Hoàng liên, trong phép tả tâm có bổ tâm huyết. Thược dược giúp A giao, trong phép bổ âm có thu liễm âm khí.
Nhờ đó, tâm thận giao hòa, thủy thăng, hỏa giáng. Phương vốn phù âm, tả dương, trở thành phương tư âm, hòa dương.
Như vậy, hỏa của thiếu âm đều trở về đúng bộ vị, chứng tâm phiền không ngủ được có thể trừ.
Kinh nói: “Âm bình dương bí, tinh thần nãi trị” — âm bình hòa, dương được giữ vững, tinh thần mới ổn định. Phải chăng chính là nói về phương này!
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, hạ lợi, họng đau, ngực đầy, tâm phiền: Trư phu thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thân ấm, bụng đầy, hạ lợi là chứng thái âm. Thân lạnh, muốn ngủ, hạ lợi là chứng thiếu âm.
Thân nóng, không ngủ, họng đau là nhiệt tà. Thân lạnh, muốn ngủ, họng đau là hàn tà.
Nay thân lạnh, muốn ngủ, hạ lợi, họng đau, đồng thời có ngực đầy, tâm phiền, thì là nhiệt tà trong thiếu âm.
Mạch thiếu âm đi theo họng; nhánh của nó từ phế ra, liên lạc với tâm, rót vào trong ngực. Vì vậy, nhiệt tà thiếu âm nghịch lên, nơi nào đi qua cũng có thể phát bệnh.
Dùng Trư phu thang để giải nhiệt ở thượng tiêu của thiếu âm, đồng thời ngừng hạ lợi ở hạ tiêu.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Hạ lợi, họng đau, ngực đầy, tâm phiền là nhiệt tà thiếu âm tràn khắp trên, dưới và giữa, không nơi nào không đến. Không thể dùng thuốc hàn hạ, nên đặt ra phép Trư phu thang.
Dương suy thì dùng Phụ tử ôn kinh; âm cạn thì dùng Trư phu nhuận táo. Trong phép ôn kinh và nhuận táo đều có ý nghĩa tán tà.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải quy đổi trọng lượng cổ hoặc liều kê dùng. Lượng nước và cách chia uống được giữ nguyên theo văn bản cổ, không áp dụng máy móc cho lượng thuốc thu nhỏ.
“Trư phu” là da lợn. Đoạn này mới nêu chứng và lời giải của Trư phu thang, chưa có thành phần phương thuốc.
Phần chú giải xác định nhiệt tà khi thân lạnh, muốn ngủ cùng xuất hiện với ngực đầy, tâm phiền. Đây là cách biện luận của tác giả, cần đọc trong toàn bộ mạch chứng, không lấy riêng một biểu hiện để kết luận hàn nhiệt.
Trường Xuân biên soạn
TRƯ PHU THANG 猪肤汤
Trư phu, tức da lợn, một cân.
Một vị trên, dùng một đấu nước, nấu còn năm thăng, bỏ bã. Thêm mật ong trắng một thăng, bạch phấn năm hợp đã rang thơm, hòa đều, chia uống ấm sáu lần.
PHƯƠNG GIẢI
Trư phu là lớp da mỏng bên ngoài phần da dày. Thể nhẹ, vị mặn; nhẹ thì có thể tán, mặn thì vào thận. Vì vậy chữa họng đau trong thiếu âm, trong phép giải nhiệt có hàm ý tán tà.
TẬP GIẢI
Thành Vô Kỷ nói: Lợn là loài vật thuộc thủy. Khí của nó trước tiên vào thận, giải khách nhiệt của thiếu âm.
Thêm mật để nhuận táo, trừ phiền; bạch phấn để ích khí, ngừng hạ lợi.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm hai ba ngày, họng đau, có thể dùng Cam thảo thang. Không khỏi thì dùng Cát cánh thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm hai ba ngày, họng đau mà không có chứng khác, là khách nhiệt nhẹ ở kinh thiếu âm. Có thể dùng Cam thảo thang để hòa hoãn, tiết nhiệt thiếu âm.
Nếu không khỏi, dùng Cát cánh thang, tức Cam thảo thang thêm Cát cánh để khai thông uất nhiệt.
Không dùng thuốc đắng lạnh vì e nhiệt bị uất trong âm kinh.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Dùng Cam thảo để làm hòa hoãn thế bệnh; dùng Cát cánh để khai thông, đưa tà lên mà giải.
Đây là lúc bệnh mới hai ba ngày, các chứng khác chưa xuất hiện đầy đủ, nên có thể dùng.
Nếu đến năm sáu ngày, các chứng hạ lợi, nôn nghịch của thiếu âm đều phát sinh, thì phép này lại chưa thể dùng.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Bạch phấn” được giữ theo tên trong nguyên văn; không phải phấn trắng dùng ngoài da. Đoạn gửi chưa giải thích nguyên liệu cụ thể, nên không tự thay bằng một loại bột khác.
Các lượng cân, đấu, thăng, hợp được giữ nguyên theo phương cổ; không quy sang gam hoặc mililít khi chưa có căn cứ phù hợp. Cam thảo thang và Cát cánh thang mới được nêu tên và chứng dùng, chưa có thành phần trong đoạn này.
Trường Xuân biên soạn
CAM THẢO THANG 甘草汤
Cam thảo hai lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 6 g).
Một vị trên, dùng ba thăng nước, sắc còn một thăng rưỡi, bỏ bã. Uống ấm bảy hợp mỗi lần, ngày hai lần.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Nguyên văn không ghi chích Cam thảo, nên giữ là Cam thảo. Lượng 6 g chỉ để đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải quy đổi trọng lượng cổ hoặc liều kê dùng. Lượng nước và cách chia uống giữ theo nguyên văn.
Trường Xuân biên soạn
CÁT CÁNH THANG 桔梗汤
Cát cánh một lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 3 g), Cam thảo hai lạng (6 g).
Hai vị trên, dùng ba thăng nước, sắc còn một thăng, bỏ bã, chia uống ấm hai lần.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, đau trong họng: Bán hạ tán và thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Trong bệnh thiếu âm, “họng đau” nghĩa là đau một chỗ, hoặc bên trái, hoặc bên phải.
“Đau trong họng” nghĩa là khắp trong họng đều đau, nặng hơn chứng họng đau nói trên. Đau nặng thì đàm dãi quấn tụ trong họng, nên dùng Bán hạ tán để tán phong tà, trục đàm dãi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này nói về phong tà có nhiệt mạnh, đàm dồn lên, gây bế tắc và đau.
Vì vậy, lấy Quế chi làm chủ để khu phong; phối hợp Bán hạ để tiêu đàm; dùng Cam thảo điều hòa, trừ nhiệt. Ba vị ấy tạo thành một Trị pháp khác để chữa họng đau.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc chỉ để đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải quy đổi trọng lượng cổ hoặc liều kê dùng. Nguyên văn không ghi Cam thảo chích, nên giữ là Cam thảo.
“Bán hạ tán và thang” chỉ hai dạng thuốc bột và thuốc sắc. Đoạn này chưa nêu đầy đủ phương thuốc và cách dùng; lời tập chú mới giải thích vai trò của ba vị Quế chi, Bán hạ, Cam thảo.
Trường Xuân biên soạn
BÁN HẠ TÁN VÀ THANG 半夏散及汤
Bán hạ rửa, Quế chi, Cam thảo chích, mỗi vị lượng bằng nhau.
Ba vị trên, giã và rây riêng từng vị, rồi trộn đều. Dùng nước cơm hòa uống một phương thốn chủy, ngày ba lần.
Nếu không uống được dạng bột, dùng một thăng nước, đun sôi bảy lượt, cho hai phương thốn chủy thuốc bột vào, đun thêm ba lượt sôi. Nhấc khỏi lửa, để hơi nguội, nuốt từng ít một.
Bán hạ có độc, dường như không nên uống dưới dạng bột.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, trong họng tổn thương, sinh loét, không nói được, tiếng không phát ra: Khổ tửu thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm, họng đau không khỏi, nếu trở nặng thì trong họng bị tổn thương, dần sinh loét, không nói được, tiếng không phát ra, là điều có thể xảy đến.
Dùng Khổ tửu thang chủ trị: Bán hạ để trừ đàm dãi, lòng trắng trứng để thu liễm vết loét, khổ tửu để tiêu sưng. Nhờ đó, họng được thanh sạch, tiếng nói phát ra.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Họng đau kiêng phát hãn, kiêng dùng thuốc hàn để công hạ. Vì vậy, ba phương Cam thảo thang, Cát cánh thang và Khổ tửu thang đều dùng phép hòa giải.
Riêng Bán hạ tán và thang ở điều trước là phép dùng vị cay để tán tà, ôn giải.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Phương thốn chủy” là dụng cụ đong thuốc bột cổ, không có khối lượng gam cố định. Phương này chỉ ghi các vị bằng nhau, nên không tự thêm liều gam.
“Bán hạ rửa” là cách ghi trong cổ phương, không đồng nghĩa với Bán hạ đã được bào chế phù hợp để dùng hiện nay. Câu cảnh báo về độc tính và việc uống dạng bột có ngay trong bản gửi, được giữ nguyên.
“Khổ tửu” ở đây là giấm. Đoạn này mới nêu chứng và ý nghĩa phối hợp thuốc, chưa có đầy đủ phương Khổ tửu thang.
Trường Xuân biên soạn
KHỔ TỬU THANG 苦酒汤
Bán hạ rửa, bổ thành miếng lớn bằng hạt táo, mười bốn miếng; trứng gà một quả, bỏ lòng đỏ, cho giấm vào trong vỏ trứng, giữ lại lòng trắng.
Hai vị trên, cho Bán hạ vào giấm trong vỏ trứng. Đặt vỏ trứng vào vòng cán dao, đặt trên lửa, đun sôi ba lượt, bỏ bã, ngậm rồi nuốt từng ít một. Nếu chưa khỏi, làm thêm ba thang.
TẬP GIẢI
Lý Cảo nói: Bệnh thiếu âm thường có chứng tổn thương họng, họng đau. Cổ phương dùng giấm nấu trứng gà để chữa mất tiếng ở họng, lấy tính chua thu liễm, vốn là thích hợp.
Bán hạ cay, táo, vì sao lại dùng? Bởi thiếu âm phần nhiều có hàn chứng, lấy tính cay có thể phát tán. Một vị phát tán, một vị thu liễm, nhờ đó có công dụng điều trị họng.
Trình Tri nói: Lòng trắng trứng tượng trời, lòng đỏ tượng đất.
Hoàng liên a giao thang ở trước dùng lòng đỏ trứng, lấy ý vào thận, tư âm. Khổ tửu thang này dùng lòng trắng trứng, lấy ý vào phế, nhuận đàm.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm tám chín ngày, toàn thân và tay chân đều nóng, là nhiệt ở bàng quang, ắt đại tiện ra máu.
CHÚ GIẢI
Tà truyền vào thiếu âm, không theo âm hóa mà hiện hàn chứng, cũng không theo dương hóa mà hiện nhiệt chứng, là do người ấy thận khí vốn đầy đủ.
Vì vậy, tuy tạng chịu tà, bệnh lưu lại tám chín ngày, vẫn có thể truyền trở về phủ mà tán ra ngoài.
Thái dương chủ biểu, nên toàn thân và tay chân đều nóng. Nếu nhiệt trở về vệ phận, không ra mồ hôi thì không giải; nếu nhiệt trở về dinh phận, không chảy máu mũi thì không giải.
Nhiệt mạnh ở trên thì đầu đau, mắt nhắm, chảy máu mũi. Nhiệt mạnh ở dưới thì bụng đau, tiểu tiện khó, đại tiện ra máu. Đó là lẽ tất nhiên theo cách biện luận này.
Phàm nhiệt ít, huyết nhiều thì huyết ứ thành súc huyết. Nhiệt nhiều, huyết ít thì nhiệt bức huyết, huyết không thể chứa lại.
Nay tà nhiệt thiếu âm chuyển trở lại bàng quang, làm tổn thương dinh phận, bức huyết đi xuống khiếu dưới, nên đại tiện ra máu.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều trước nói bệnh thiếu âm, tay chân không quyết lạnh, trái lại phát nhiệt thì không chết, vì dương chưa suy hết.
Điều này đến tám chín ngày, toàn thân và tay chân đều nóng, là âm thịnh bên trong.
Trương Lộ nói: Bệnh thiếu âm khó có được nhiệt; có nhiệt thì âm tà hết, dương phục hồi. Vì vậy, trong thiên thiếu âm nói tay chân không quyết lạnh, trái lại phát nhiệt thì không chết.
Nhưng bệnh đến tám chín ngày, là lúc âm tà bên trong giải, mà trái lại toàn thân và tay chân đều nóng, thì thiếu âm vốn không có chứng này. Hẳn là tà từ tạng chuyển sang phủ, thận chuyển nhiệt sang bàng quang.
Bàng quang chủ biểu, nên toàn thân và tay chân đều nóng. Huyết ở bàng quang bị nhiệt thiếu âm bức, tất theo khiếu âm mà ra, vì âm chủ giáng.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm hai ba ngày, đến bốn năm ngày bụng đau, tiểu tiện không lợi, hạ lợi không ngừng, đại tiện ra mủ máu: Đào hoa thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm hai ba ngày không có chứng âm tà; đến bốn năm ngày mới bụng đau, tiểu tiện không lợi, là dương tà thiếu âm công vào lý.
Nếu bụng đau, miệng khô, họng ráo, tà theo táo hóa, thì là chứng có thể công hạ.
Nay bụng đau, tiểu tiện không lợi, là nhiệt uất lại bên trong, thủy không có đường ra, thế bệnh ắt bức xuống đại tràng gây hạ lợi.
Nếu hạ lợi lâu, nhiệt làm tổn thương dinh, dinh bị hỏa hóa, huyết hư hoại thành mủ, thì là chứng có thể dùng phép thanh.
Nay hạ lợi ngày đêm không ngừng, đại tiện ra mủ máu, thì có thể biết nhiệt đã theo hạ lợi mà giảm, còn hạ tiêu bị hoạt thoát. Vì vậy dùng Đào hoa thang để ích trung, cố thoát.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Kim quỹ yếu lược nói, dương chứng có nội nhiệt thì máu tươi tràn ra; âm chứng có nội hàn thì máu xuống màu tím đen như gan lợn.
Dụ Xương nói: Chữa phần dưới trước hết phải củng cố trung tiêu. Trung khí không sa xuống thì hoạt thoát không còn nguồn mà tự ngừng.
Các nhà chú giải thấy dùng Can khương liền cho là hàn tà làm tổn thương vị. Không biết nhiệt tà kèm khí thiếu âm bít đầy trong vị, nên phối hợp một ít Can khương, lấy tính cay để tán.
Trình Tri nói: Đây là Trị pháp đối với hạ lợi ra mủ máu.
Bụng đau, tiểu tiện không lợi là nhiệt tà thiếu âm. Hạ lợi không ngừng, đại tiện ra mủ máu thì chứng đã làm tổn thương huyết, lại có nguy cơ trung khí thoát xuống. Vì vậy dùng Đào hoa thang để cố sáp ruột, ngừng hạ lợi.
Ngụy Lệ Đồng nói: Chứng này là nhiệt ở hạ tiêu, hun bốc lên trung tiêu, khiến khí hóa do nhiệt uất mà không vận hành, đại tiện do nhiệt thịnh mà tự hạ lợi.
Lâu ngày hạ lợi không ngừng, các chất uế trọc trong ruột vị, giống mủ lẫn máu, đều theo đại tiện xuống. Nhiệt chưa tiêu ngày nào thì hạ lợi chưa ngừng ngày ấy.
Thẩm Minh Tông nói: Tà kèm thấp bên trong, ngưng trệ ở huyết phận, nên đại tiện ra mủ máu.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Cách đun thuốc trong vỏ trứng đặt trên vòng cán dao là thao tác của cổ phương, được dịch để bảo tồn văn bản. “Bán hạ rửa” không đồng nghĩa với Bán hạ đã được bào chế phù hợp để dùng hiện nay; không tự thực hiện phương này với Bán hạ sống.
Các tác giả có cách giải thích khác nhau về đại tiện ra máu và Đào hoa thang. Trình Tri nói “âm thịnh bên trong”, trong khi phần chú giải và Trương Lộ bàn về tà nhiệt chuyển từ tạng sang phủ; Ngụy Lệ Đồng nhấn mạnh nhiệt còn thì hạ lợi còn, còn phần chú giải cho rằng nhiệt đã giảm nhưng hoạt thoát chưa ngừng. Bản dịch giữ riêng các ý kiến, không ghép thành một kết luận chung.
Đại tiện ra máu hoặc mủ máu cần được khám trực tiếp; không dựa riêng vào màu máu để tự kết luận hàn nhiệt. Đoạn này chưa có thành phần phương Đào hoa thang.
Trường Xuân biên soạn
ĐÀO HOA THANG 桃花汤
Xích thạch chi một cân, một nửa dùng nguyên, một nửa nghiền và rây thành bột; Can khương một lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 3 g), gạo nếp một thăng.
Ba vị trên, dùng bảy thăng nước, nấu cho gạo chín, bỏ bã. Mỗi lần lấy bảy hợp thuốc ấm, thêm một phương thốn chủy bột Xích thạch chi, uống ngày ba lần. Nếu uống một lần đã khỏi thì không uống phần còn lại.
PHƯƠNG GIẢI
Hàn tà thiếu âm thường gây hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu; nhiệt tà thiếu âm thường gây đại tiện ra mủ máu. Kéo dài không ngừng thì cửa giữ không vững, hạ tiêu hoạt thoát.
Phương này lấy Xích thạch chi có thể chất nhuận như cao, tính sáp làm quân, dưỡng ruột để cố thoát. Phối hợp gạo nếp vị ngọt, nhiều dịch, ích khí, tư dưỡng trung tiêu. Nhờ đó, dù hạ lợi lâu ngày, trung tiêu hư, tân dịch khô cạn, vẫn có thể chữa khỏi.
Điều đặc biệt khéo léo là dùng một ít Can khương. Ý không ở ôn mà ở tán hỏa uất, nhờ đó khai thông, khiến mủ máu vốn không có đường chuyển hóa được hóa giải.
Nếu uống một lần đã khỏi thì không uống phần còn lại, vì tính dính và sáp của phương rất mạnh.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, hạ lợi, đại tiện ra mủ máu: Đào hoa thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Các chứng hạ lợi trong thiếu âm dùng phép ôn là vì thuộc hư hàn.
Chứng thiếu âm hạ lợi ra mủ máu này là nhiệt làm tổn thương dinh. Nhưng không dùng ngay thuốc đắng lạnh, vì bệnh kéo dài, nhiệt đã theo huyết mà ra, thận chịu tà, cửa giữ không vững. Vì vậy dùng Đào hoa thang chủ trị.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, hạ lợi, đại tiện ra mủ máu, có thể châm.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm, hạ lợi ra mủ máu, dùng Đào hoa thang mà không ngừng, là nhiệt ứ ở âm phận. Có thể châm huyệt của bản kinh để tiết nhiệt. Nhiệt hết thì mủ máu tự ngừng.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Trước hạ lợi lâu ngày, sau mới đại tiện ra mủ máu thì dùng Đào hoa thang.
Nếu trước đó không hạ lợi, nay hạ lợi đồng thời ra mủ máu thì có thể châm huyệt của kinh. Châm không khỏi thì nên dùng Bạch đầu ông thang.
Nếu lại có họng khô, tâm phiền, không ngủ được, thì dùng Hoàng liên a giao thang mới hợp phép.
Lâm Lan nói: Châm là tiết kinh khí để tuyên thông.
Hạ lợi ra mủ máu đã chủ trị bằng Đào hoa thang, nay lại nói có thể châm, giống như chứng bĩ mà hạ lợi không ngừng thì lợi tiểu tiện, dùng Ngũ linh tán để bổ cứu chỗ Xích thạch chi vũ dư lương thang không giải quyết được.
Vì vậy, phép châm này cũng để hỗ trợ chỗ Đào hoa thang chưa đạt tới.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, mắc hai ba ngày, miệng khô, họng ráo, phải gấp công hạ, nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Tà đến thiếu âm hai ba ngày đã có miệng khô, họng ráo, hẳn người ấy vị hỏa vốn thịnh, thận thủy vốn suy.
Nên dùng Đại thừa khí thang nhanh chóng tả vị hỏa để cứu thận thủy. Nếu tiếp tục kéo dài, thận thủy cạn, âm ắt mất; dù công hạ cũng không còn kịp.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Dùng Đại thừa khí thang gấp công hạ để bảo toàn thận là vì sao?
Kinh nói: Tam âm mắc bệnh, tà đã vào phủ thì có thể công hạ. Như vậy, bệnh thiếu âm ở điều trên là chứng tà đã vào phủ.
Tà nhiệt thiếu âm đã chuyển thuộc vị phủ. Thực nhiệt trong phủ thiêu đốt thận thủy, nên miệng khô, họng ráo. Dùng Đại thừa khí thang tả phủ thì thực nhiệt tự trừ.
Tạng thiếu âm vốn là thận, thuộc thủy; vị phủ thuộc thổ. Tả thổ là để cứu thủy.
Phương Hữu Chấp nói: Miệng khô, họng ráo vì mạch thiếu âm đi theo họng, kẹp gốc lưỡi; tà nhiệt khách ở kinh, khiến thận thủy khô cạn.
Thủy khô thì thổ táo; thổ táo thì thủy càng khô. Vì vậy phải gấp công hạ.
Trương Lộ nói: Ba chứng thiếu âm cần gấp công hạ: một thuộc nhiệt tà truyền kinh mạnh đến cực điểm; một thuộc nhiệt tà chuyển vào vị phủ; một thuộc ôn nhiệt phát từ thiếu âm. Đều là chứng không thể chậm trễ.
Phải nhanh chóng cứu thận thủy sắp tuyệt, cùng với ba phép gấp công hạ của dương minh, là cùng nguồn mà khác nhánh.
Uông Hổ nói: “Bệnh thiếu âm mắc hai ba ngày” không phải mới mắc bệnh hai ba ngày đã miệng khô, họng ráo; mà nghĩa là chứng miệng khô, họng ráo của thiếu âm đã kéo dài hai ba ngày.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm, tự hạ lợi nước trong, màu thuần xanh, vùng tâm hạ ắt đau, miệng khô ráo, phải gấp công hạ, nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm tự hạ lợi nước trong nghĩa là hạ lợi không có bã phân. Màu thuần xanh nghĩa là những gì đi ra đều là nước bẩn.
Không có bã phân, chỉ toàn nước bẩn, thuộc thực nhiệt thiếu âm. Vì thế vùng tâm hạ ắt đau, miệng khô, họng ráo.
Đây rõ là chứng thiếu âm cần gấp công hạ, nên dùng Đại thừa khí thang.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Dương tà, nhiệt kết thì miệng ắt khô ráo. Nếu là âm tà thì miệng bình hòa, không khô. Vì vậy nên gấp công hạ để cứu âm.
Thẩm Minh Tông nói: Tà truyền dương minh, phải chờ đại tiện rắn cứng mới công hạ, là nói trường hợp tân dịch trong vị chưa bị tổn thương.
Chứng hạ lợi nước trong này do tà nhiệt thiếu âm quá mạnh, bức ép tân dịch trong vị, trong khoảnh khắc đã gần nguy hiểm. Không thể không dùng phép thông; theo thế thông mà công hạ gấp để trừ tà, cứu âm của vị và thận sắp tuyệt.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm sáu bảy ngày, bụng trướng, không đại tiện, phải gấp công hạ, nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh thiếu âm sáu bảy ngày, bụng trướng, không đại tiện, là vì người ấy dương khí vốn thịnh, trong vị có thức ăn lưu tích.
Tà truyền đã vào thiếu âm, lại chuyển thuộc dương minh, thành vị thực. Vì vậy nên dùng Đại thừa khí thang gấp công hạ.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Chứng thiếu âm phần nhiều tự hạ lợi. Hư hàn thì hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu; hư nhiệt thì hạ lợi ra mủ máu, nên thường dùng phép ôn bổ đối với tà truyền kinh.
Dương tà kết bên trong thì tự hạ lợi toàn nước xanh; bệnh ôn nhiệt thì tự hạ lợi, phiền khát; đều nên công hạ, thanh nhiệt.
Điều này sáu bảy ngày không đại tiện mà bụng trướng, có thể thấy tà nhiệt đã chuyển về dương minh, thành chứng vị thực, nên phải gấp công hạ.
ĐIỀU VĂN
Mạch của bệnh thiếu âm trúng phong, dương vi, âm phù thì là muốn khỏi.
CHÚ GIẢI
Mạch thiếu âm trúng phong, nếu thấy dương phù, âm nhược, là phong tà truyền vào thiếu âm, thế tà đang mạnh, chưa dễ nói khỏi.
Nay dương mạch trái lại vi, âm mạch trái lại phù. Dương vi thì ngoại tà tán, biểu khí hòa; âm phù thì lý khí thắng, tà đi ra ngoài. Vì vậy là muốn khỏi.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thiếu âm muốn giải, từ giờ Tý đến hết giờ Dần.
CHÚ GIẢI
Tý, Sửu, Dần là thời kỳ dương sinh và dần tăng trưởng.
Bệnh ở thiếu âm giải vào lúc dương sinh, chính là dương tiến thì âm lui; âm được dương thì tà tự giải.
Có thể thấy điều thiếu âm coi trọng là chân dương.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Phương trong bản gửi ghi gạo nếp, nên bản dịch giữ nguyên. Một cân Xích thạch chi, một thăng gạo và lượng thuốc bột đo bằng phương thốn chủy không được tự quy sang liều gam hiện đại. Cách sắc, lượng uống là ghi chép cổ phương.
Các tác giả giải thích khác nhau về thời điểm “hai ba ngày” và cơ chế hạ lợi ra mủ máu; bản dịch giữ riêng từng ý kiến. “Nước trong” ở đây được chú giải là nước không có bã phân, không nhất thiết là nước không màu. “Tâm hạ” chỉ vùng dưới tim, tương ứng vùng thượng vị.
Giờ Tý đến hết giờ Dần tương ứng khoảng 23 giờ đến 5 giờ sáng theo cách chia giờ truyền thống. Đây là quan niệm về thời gian bệnh giải trong cổ thư, không phải giờ khỏi bệnh cố định.
Những lời “gấp công hạ” là Trị pháp trong văn bản cổ, không phải chỉ dẫn tự dùng thuốc xổ khi khô miệng, tiêu chảy hoặc bụng trướng. Cần đánh giá toàn bộ tình trạng bệnh trước khi điều trị.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH QUYẾT ÂM — TOÀN THIÊN 辨厥阴病脉证并治全篇
Quyết âm là tạng ở chỗ âm tận, dương sinh, có quan hệ biểu lý với thiếu dương. Vì vậy, bệnh của quyết âm thường âm dương xen lẫn, hàn nhiệt hỗn tạp. Tà đến kinh này, sự chuyển hóa tùy người mà khác nhau.
Nếu người ấy vốn thiên về nhiệt, tà theo dương hóa, thì xuất hiện các dương chứng như tiêu khát, khí xung lên tâm, trong tâm đau nóng, hồi quyết, miệng loét, họng đau, hầu tý, ung mủ, đại tiện ra máu.
Nếu người ấy vốn thiên về hàn, tà theo âm hóa, thì xuất hiện các âm chứng như tay chân quyết lạnh, mạch vi muốn tuyệt, da lạnh, tạng quyết, hạ lợi, trừ trung.
Vì vậy, thiếu dương không giải, truyền biến sang quyết âm thì bệnh nguy; bệnh quyết âm suy giảm, chuyển thuộc thiếu dương thì là muốn khỏi. Trong sự tiêu trưởng của âm dương ẩn chứa những bước ngoặt nguy hiểm.
Thiên này trình bày rõ sự chuyển hóa theo âm dương và ý nghĩa tinh tế của quyết, nhiệt thắng phục, để người lâm chứng nắm được đường lối chẩn trị trọng yếu.
ĐIỀU VĂN
Bệnh quyết âm có tiêu khát, khí xung lên tâm, trong tâm đau nóng, đói mà không muốn ăn, ăn thì nôn ra giun đũa. Nếu công hạ thì hạ lợi không ngừng.
CHÚ GIẢI
Điều này nói tổng quát cương lĩnh bệnh quyết âm.
Quyết âm là tạng ở chỗ âm tận, dương sinh. Tà đến kinh này, theo âm thì hóa hàn, theo dương thì hóa nhiệt, nên bệnh âm dương xen lẫn, hàn nhiệt hỗn tạp.
Tiêu khát là uống nhiều nước mà tiểu tiện ít, do quyết âm nhiệt hóa, hao tổn thủy.
Mạch quyết âm khởi từ ngón chân cái, theo mặt trong đùi vào vùng âm, vòng quanh bộ phận sinh dục, đến bụng dưới, xuyên qua vùng tâm cách; nhánh của nó rót vào phế. Nhiệt tà theo kinh nghịch lên vùng cách, nên khí xung lên tâm, trong tâm đau nóng.
Đói mà không muốn ăn không phải hoàn toàn không ăn, mà vì ăn vào làm giun đũa động rồi nôn. Vì vậy, tuy đói vẫn không muốn ăn, ăn thì nôn ra giun đũa.
Tiêu khát, uống nhiều, đói mà không ăn được, thì trong vị chỉ có thủy và nhiệt. Nếu lại thấy nhiệt khí quyết âm kèm giun đũa xung gây đau, nhận nhầm là thực thống đã chuyển thuộc dương minh rồi công hạ, thì vị càng hư, hạ lợi ắt không ngừng.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Tà từ thái dương truyền đến thái âm thì bụng đầy, họng khô, chưa thành khát. Đến thiếu âm thì miệng khô, lưỡi ráo mà khát, chưa thành tiêu. Đến quyết âm thì thành tiêu khát, vì thế tà quá mạnh, có thể làm tiêu hao nước.
Lại dẫn lời Trương Khanh Tử: Từng thấy vài trường hợp tiêu khát quyết âm, lưỡi đỏ toàn bộ, quyết lạnh, mạch vi, khát dữ dội; dùng Bạch hổ, Hoàng liên và các phương khác đều không cứu được. Bởi tiêu khát quyết âm là tà hàn nhiệt xen lẫn, không thể so với chứng thuần dương, nhiệt quá mạnh.
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều này giải thích nhiệt tà truyền kinh gây bệnh ở quyết âm, liệt kê các chứng để cấm công hạ sai.
Tà thương hàn truyền vào thiếu âm là lý trong lý; từ thiếu âm truyền sang quyết âm lại đến chỗ tận cùng của tam âm.
Tà đến nơi âm tận, không còn nơi truyền tiếp, nhưng cùng thiếu dương có đường ra của thăng giáng. Thiếu dương không có phép hạ; âm tà quyết âm cũng không có phép hạ, nên công hạ là sai.
Đầu tiên nêu hai chữ “tiêu khát”. Phàm nhiệt thì khát, nhưng hàn thấp ngăn trở chính khí cũng có thể gây khát. Tuy muốn uống nước, người bệnh hàn thấp ắt không uống được nhiều.
Không có chuyện uống rồi vẫn khát, uống đến đâu tiêu đến đó, khát đến đó. Nếu như vậy, tiêu khát chắc chắn là nhiệt tà truyền kinh đã vào quyết âm.
ĐIỀU VĂN
Bệnh quyết âm, khát muốn uống nước, cho uống từng ít một thì khỏi.
CHÚ GIẢI
Bệnh quyết âm, khát muốn uống nước là dương hồi, muốn hòa, tìm nước để tự tư dưỡng, là dấu hiệu bệnh sắp giải.
Nên cho từng ít một để hòa vị. Vị hòa, mồ hôi ra thì tự có thể khỏi.
Nếu cho quá nhiều, nước trái lại đình lại trong vị, ắt gây quyết và hạ lợi.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Dương khí sắp phục hồi nên muốn uống nước.
Cho uống từng ít một vì âm tà mới muốn giải tán, dương khí chưa hoàn toàn phục hồi. Nếu uống tùy ý mà không tiêu hóa được, trái lại có nguy cơ thủy đình chứa.
Uông Hổ nói: Quyết âm có chứng tiêu khát mà không nói tự khỏi, vì nhiệt quá mạnh, thiêu hao tân dịch. Dù uống nước cũng không thắng được sự khô nóng, là dấu hiệu tà vào sâu, bệnh chưa khỏi.
Còn điều này khát muốn uống nước, cho uống thì khỏi, là nhiệt không giống tiêu khát, mà là cơ hội tà hướng ra ngoài, muốn giải. Hai trường hợp vốn khác nhau.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, quyết mà vùng tâm hạ hồi hộp, nên chữa thủy trước, dùng Phục linh cam thảo thang, rồi chữa quyết. Nếu không, thủy ngấm vào vị, ắt gây hạ lợi.
LỜI ÁN
Sau câu “quyết mà vùng tâm hạ hồi hộp”, nên có bốn chữ “do uống nước nhiều”.
Nếu không có những chữ này, đó là quyết, hồi hộp do âm thịnh, không phải do thủy đình. Làm sao biết ngay là thủy mà nói nên chữa thủy trước?
CHÚ GIẢI
Thương hàn, quyết mà vùng tâm hạ hồi hộp, nếu không khát, không uống nhiều, thì là quyết, hồi hộp do âm thịnh. Nếu do uống nước nhiều thì là quyết, hồi hộp do thủy đình.
Vì vậy, nên chữa thủy trước rồi chữa quyết, dùng Phục linh cam thảo thang, tức Quế chi cam thảo thang thêm Phục linh, Sinh khương.
Quế chi, Cam thảo bổ dương hư; phối hợp Sinh khương để tán hàn tà bên ngoài, thì quyết có thể hồi. Lấy Phục linh làm quân để đưa thủy theo đường nước bên trong, thì hồi hộp có thể yên. Đó là phép chữa thủy trước, quyết sau.
Người có thủy đình ắt tiểu tiện không lợi. Nếu không chữa như vậy, thủy đình ngấm vào vị, ắt gây hạ lợi.
LỜI ÁN
Trong thiên thái dương, có chứng mồ hôi ra, biểu chưa hòa, tiểu tiện không lợi. Điều này là thương hàn, biểu chưa giải, quyết mà vùng tâm hạ hồi hộp.
Hai chứng đều dùng Phục linh cam thảo thang vì tuy biểu hiện khác nhau, nhưng lý không có nhiệt, biểu chưa hòa, thủy đình thì giống nhau.
Vì vậy, một trường hợp dùng phương để điều hòa dinh vệ, lợi thủy; một trường hợp dùng để giải biểu, thông dương, lợi thủy, đều thích hợp.
Chứng này tuy không nói tiểu tiện không lợi, nhưng ý ấy đã có trong đó. Nếu tiểu tiện thông lợi thì thủy không đình, quyết và hồi hộp thuộc âm hàn; sao lại nên phát biểu, lợi thủy?
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Kim quỹ nói thủy đình ở tâm hạ, nặng thì hồi hộp. Như vậy, hồi hộp là thủy mạnh, quyết là hàn mạnh.
Hàn không có hình tượng, thủy có hình. Thủy đi thì hàn tiêu, quyết cũng khỏi. Thủy vào vị là thủy có thể ngấm vào thổ.
Dụ Xương nói: Trong thiên thái dương, người uống nhiều nước thì tâm hạ ắt hồi hộp. Vì thế, quyết mà tâm hạ hồi hộp ở đây rõ ràng do uống nước gây nên.
Nhân lúc thủy chưa ngấm vào vị, dùng Phục linh cam thảo thang chữa thủy trước để dẹp nguồn hạ lợi, sau mới chữa quyết, tránh quyết và hạ lợi gây ảnh hưởng lẫn nhau.
Trình Ứng Mao nói: Hàn do thủy đình gây quyết, lấy hồi hộp ở tâm hạ làm dấu hiệu nhận biết.
Quyết âm có chứng này phần nhiều từ tiêu khát mà sinh. Thủy là gốc, hàn là ngọn. Không chữa thủy trước mà chữa quyết trước, còn phải phòng thủy ngấm vào vị, sao dám công hạ?
Uông Hổ nói: Quyết mà tâm hạ hồi hộp rõ ràng do uống nhiều nước, hàn ẩm lưu ở tâm hạ, dương trong ngực không thể phân bố ra bốn phía, nên thấy quyết.
Đây không giống hàn từ ngoài đến. Vì vậy, phép chữa nên trị thủy trước, phải dùng Phục linh cam thảo thang; cách chữa quyết đã nằm ngay trong đó.
Thủy đi thì quyết tự trừ. Nếu không chữa thủy, thủy ngấm xuống vị, ắt gây hạ lợi.
Ngô Nhân Câu nói: Khí mạch lưu hành không theo đường thường là nghịch loạn, gọi là quyết.
Nhưng quyết có khác nhau do đàm, thực, hàn, nhiệt, khí, thủy. Điều này là do thủy.
Thủy khí không theo đường cũ, hàn khí của thủy thừa lên tâm gây hồi hộp. Vì vậy, chữa thủy chính là trừ hồi hộp, quyết cũng hồi.
Nếu không, thủy quá mạnh, thổ trở nên lầy ướt, do đó gây hạ lợi.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch vi mà quyết, đến bảy tám ngày da lạnh, người bệnh táo, không lúc nào tạm yên: đây là tạng quyết, không phải hồi quyết.
Hồi quyết thì người bệnh đáng lẽ nôn ra giun đũa. Nay người bệnh yên tĩnh nhưng thỉnh thoảng lại phiền, đây là tạng hàn.
Giun đũa lên vào vùng cách nên phiền, chốc lát lại ngừng. Ăn vào mà nôn, lại phiền, là giun đũa ngửi mùi thức ăn mà ra; người bệnh sẽ tự nôn ra giun đũa.
Hồi quyết, Ô mai hoàn chủ trị; phương này còn chủ trị hạ lợi lâu ngày.
LỜI ÁN
Chữ “đây” trong câu “đây là tạng hàn” nên là chữ “không”.
Nếu là “đây”, thì trở thành tạng quyết, không phù hợp với ý phân biệt hồi quyết.
CHÚ GIẢI
Điều đầu tổng luận dương tà quyết âm hóa nhiệt. Điều này phân biệt rõ âm tà quyết âm hóa hàn, nói sự khác nhau giữa tạng quyết và hồi quyết, đồng thời nêu cách chữa.
Thương hàn, mạch vi mà quyết là mạch chứng quyết âm. Đến bảy tám ngày không hồi, tay chân quyết lạnh, lại thêm da toàn thân lạnh, táo không lúc nào tạm yên, là tạng quyết do dương hư, âm thịnh trong quyết âm, không phải hồi quyết do âm dương xen lẫn.
Nếu hồi quyết, người bệnh sẽ nôn ra giun đũa. Nay người bệnh yên tĩnh nhưng thỉnh thoảng phiền, không giống tạng quyết táo không lúc nào tạm yên, thì biết không phải táo do tạng hàn, mà do giun đũa lên vùng cách.
Vì vậy, phiền chốc lát lại ngừng. Ăn vào mà nôn, lại phiền, là giun đũa ngửi mùi thức ăn mà ra nên lại phiền.
Ăn vào, giun đũa động gây nôn; giun theo nôn mà ra, nên nói người bệnh sẽ tự nôn ra giun đũa.
Hồi quyết dùng Ô mai hoàn; phương còn chủ trị hạ lợi lâu ngày vì tính vị chua, đắng, cay, ấm, dùng cả hàn và nhiệt, có thể giải tà âm dương xen lẫn, hàn nhiệt hỗn tạp.
Tạng quyết nên dùng Ngô thù du thang. Nếu kiêm thiếu âm, nên dùng các phương Tứ nghịch, Thông mạch, Phụ tử. Người lâm chứng tùy tình trạng mà cân nhắc sử dụng.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch vi mà quyết là nói chung. Da lạnh nghĩa là không chỉ tay chân lạnh, cho thấy dương khí hãm vào trong. Tạng quyết nghĩa là bệnh không ở kinh.
Dụ Xương nói: Mạch vi mà quyết thì có thể biết dương khí suy, nhưng chưa xác định là tạng quyết hay hồi quyết.
Chỉ khi da lạnh mà táo, không lúc nào tạm yên, mới là tạng quyết. Tạng quyết dùng Tứ nghịch và phép cứu; quyết không hồi thì chết.
Hồi quyết thì lúc quyết, lúc phiền, chưa phải dấu hiệu chết. Nhưng nếu từ đó dần đến vị không còn dương thì chết.
Trình Tri nói: Chứng quyết có phân biệt tạng và giun đũa.
Tạng quyết là dương của thận tạng không vận hành. Hồi quyết là tay chân lạnh mà nôn giun đũa, dương của vị phủ không vận hành.
Hồi quyết, giun đũa động thì phiền nhưng có lúc yên, không giống tạng quyết táo không lúc nào tạm yên.
Đây là vị dương bị bệnh, không liên quan đến thận dương. Vì vậy, tuy quyết giống nhau, chứng lại khác.
Trình Ứng Mao nói: Mạch vi mà quyết, hình tượng thuần âm đã được chứng thực ở mạch. Bảy tám ngày da lạnh, hình tượng không có dương đã được chứng thực ở thân.
Âm cực thì phát táo, không lúc nào tạm yên. Đây vốn là tạng quyết thiếu âm, thuộc chứng không chữa được; trong quyết âm không có chứng này.
Nôn giun đũa là bản chứng quyết âm. Có thể liên hệ hồi quyết với tình trạng âm dương không thuận tiếp nhau để làm rõ.
Ô mai hoàn được gọi là an hồi, thực ra là an vị. Lại chủ trị hạ lợi lâu ngày, cho thấy các chứng âm dương không thuận tiếp, quyết mà hạ lợi, đều có thể được bao quát bằng phương này.
Lâm Lan nói: Dương phiền, âm táo; phiền nhẹ, táo nặng. Nói tạng quyết dùng chữ táo, nói hồi quyết dùng chữ phiền, đã thể hiện sự khác nhau về an nguy.
Tạng quyết là dương khí sắp thoát, khí của tạng muốn tuyệt mà tranh đấu, nên là tử chứng.
Hồi quyết thì khí của tạng hư hàn nhưng chưa tuyệt. Tạng khí hàn, giun đũa không yên ở chỗ của nó mà động; tạng khí hư, giun đũa tìm thức ăn mà ra. Vì vậy, chứng này ắt có nôn ra giun đũa.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Quyết” trong thiên này có nhiều nghĩa liên quan đến khí nghịch và tay chân lạnh, cần hiểu theo từng điều. “Hồi quyết” là chứng quyết liên quan đến giun đũa; “tạng quyết” là cách gọi của cổ thư đối với chứng quyết do bệnh ở tạng. “Trừ trung” là hiện tượng đột nhiên muốn ăn trong bệnh nặng, sẽ được giải thích ở những điều sau.
Điều văn giữ câu “đây là tạng hàn”; phần lời án đề nghị sửa thành “không phải tạng hàn”, và phần chú giải diễn giải theo ý sửa ấy. Các tác giả cũng không thống nhất về việc tạng quyết thuộc thiếu âm hay quyết âm; bản dịch giữ riêng từng quan điểm.
“Tiêu khát” ở đây được chính bản chú giải định nghĩa là uống nhiều, tiểu tiện ít, không nên tự đồng nhất với một bệnh danh hiện đại. Các nhận định về giun đũa “ngửi mùi thức ăn” là cách giải thích trong cổ thư.
Trường Xuân biên soạn
Ô MAI HOÀN 乌梅丸
Ô mai ba trăm quả, Tế tân sáu lạng, Can khương mười lạng, Hoàng liên mười sáu lạng, Đương quy bốn lạng, Phụ tử bỏ vỏ, bào chế sáu lạng, Thục tiêu sao cho tiết dầu bốn lạng, Quế chi sáu lạng, Nhân sâm sáu lạng, Hoàng bá sáu lạng.
Mười vị trên, giã và rây riêng, rồi trộn đều.
Ngâm Ô mai trong giấm một đêm, bỏ hạt, đặt hấp dưới năm đấu gạo. Khi cơm chín, giã Ô mai thành nhuyễn, trộn đều với bột thuốc. Cho vào cối, thêm mật, giã hai nghìn lượt, làm hoàn lớn bằng hạt ngô đồng.
Trước bữa ăn, dùng nước uống mười hoàn, ngày ba lần, tăng dần đến hai mươi hoàn. Kiêng đồ sống lạnh, đồ trơn nhuận, thức ăn có mùi hôi và những thứ tương tự.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Trong sáu kinh, chỉ quyết âm là khó chữa. Bản của nó là âm, tiêu là nhiệt; thể thuộc mộc, dụng thuộc hỏa.
Phải chế phục cái nó chủ quản, trước hết chữa nguyên nhân của nó. Hoặc thu, hoặc tán, hoặc nghịch trị, hoặc thuận trị, tùy điều có lợi mà làm; điều hòa trung khí cho bình hòa, đó là phép chữa quyết âm.
Quyết âm ở chỗ hai âm giao nhau đến tận cùng, còn gọi là phần dương bị âm làm cách tuyệt, đáng lẽ không có nhiệt. Nhưng theo lý cuối tháng tối, đầu tháng mới, âm vừa tận thì dương vừa sinh. Vì vậy, bệnh quyết âm có nhiệt là do thiếu dương khiến nên.
Hỏa thịnh thì thủy suy, nên tiêu khát, khí xung lên tâm, trong tâm đau nóng. Khí có dư thì hóa hỏa.
Mộc thịnh sinh phong, giun thuộc sự hóa của phong. Đói thì trong vị trống rỗng, giun đũa ngửi mùi thức ăn mà ra, nên nôn giun đũa; tuy đói vẫn không muốn ăn.
Trọng Cảnh lập phương thường lấy vị cay, ngọt, đắng làm quân, không dùng vị chua thu liễm. Phương này lại dùng vì quyết âm chủ can mộc.
Hồng phạm nói: “Mộc là cong thẳng, sinh vị chua.” Nội kinh nói: “Mộc sinh chua, chua vào can.” Lấy Ô mai rất chua làm quân là chế phục cái quyết âm chủ quản.
Phối hợp Hoàng liên để tả tâm, trừ đau; dùng Hoàng bá tư thận, trừ khát, là chữa trước nguyên nhân gây bệnh.
Hoàng liên, Hoàng bá chữa dương tà quyết âm thì có dư, nhưng không đủ để chữa âm tà. Vì vậy, cùng dùng Thục tiêu, Phụ tử, Tế tân, Can khương là những vị rất cay. Không chỉ chữa âm tà quyết âm, mà can muốn tán thì dùng cay để tán.
Lại thêm Quế chi, Đương quy, vì can tàng huyết, nên tìm đến những vị tương ứng với chức năng ấy.
Thuốc hàn nhiệt dùng lẫn, khí vị không hòa, nên phối hợp Nhân sâm để điều hòa trung khí.
Ngâm Ô mai bằng giấm là cùng khí tìm nhau. Hấp dưới gạo để nhờ cốc khí. Thêm mật làm hoàn, cho ít rồi tăng dần, dùng phép chậm để chữa gốc.
Giun đũa thuộc loài trùng. Đồ sống lạnh và khí thấp nhiệt cùng tạo điều kiện cho nhau, nên thuốc cũng dùng cả hàn lẫn nhiệt.
Ngực phiền mà nôn giun đũa, dùng Hoàng liên, Hoàng bá là phép “hàn nhân nhiệt dụng”.
Giun gặp chua thì yên, gặp cay thì phục, gặp đắng thì xuống. Quả là phương hay chữa giun.
Hạ lợi lâu thì hư. Điều hòa hàn nhiệt, dùng chua để thu liễm, hạ lợi tự ngừng.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn sáu bảy ngày, mạch vi, tay chân quyết lạnh, phiền táo, cứu kinh quyết âm; nếu quyết không hồi thì chết.
CHÚ GIẢI
Điều này nói rõ thêm trọng chứng tạng quyết trong quyết âm.
Thương hàn sáu bảy ngày, mạch vi, tay chân quyết lạnh, phiền táo, là bệnh nặng do âm tà quyết âm.
Nếu không sớm tính cách làm âm tiêu, dương trưởng, âm khí ắt dần thịnh, quyết lạnh ngày càng sâu, phiền táo ngày càng nặng.
Dù dùng các phương Ngô thù du, Phụ tử, Tứ nghịch, vẫn e chậm không kịp cứu. Chỉ nên cứu kinh quyết âm để thông dương.
Nếu tay chân quyết lạnh, quá một thời gian vẫn không hồi, là dương đã mất, nên chết.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Cứu là để thông dương. Dương không hồi nên đoán chết.
Trình Tri nói: Sáu bảy ngày là lúc tà truyền quyết âm. Mạch vi mà quyết chưa phải nguy chứng; nguy ở phiền táo, vì dương nhỏ đã lộ ra ngoài.
Trình Ứng Mao nói: Mạch vi, quyết lạnh mà phiền táo chính là chứng tạng quyết đã dẫn ở điều trước; trước sáu bảy ngày chưa có tình trạng ấy.
Uông Hổ nói: Phiền táo là dương hư mà tranh đấu. Chân dương trong tạng muốn thoát, thần khí vì thế nổi vượt, nên sinh phiền táo.
Có thể cứu huyệt Thái xung, vì hai huyệt Thái xung là nơi mạch túc quyết âm rót đến. Huyệt nằm ở chỗ lõm phía sau gốc ngón chân cái hai tấc, hoặc một tấc rưỡi; có thể cứu ba tráng.
ĐIỀU VĂN
Tay chân quyết lạnh, mạch tế muốn tuyệt: Đương quy tứ nghịch thang chủ trị.
Nếu người ấy bên trong có hàn lâu ngày, nên dùng Đương quy tứ nghịch gia Ngô thù du sinh khương thang.
CHÚ GIẢI
Điều này nói rõ thêm khinh chứng tạng quyết trong quyết âm.
Tay chân quyết lạnh, mạch tế muốn tuyệt là mạch chứng âm tà quyết âm theo hàn hóa.
Nhưng không có da toàn thân lạnh, cũng không táo đến mức không lúc nào tạm yên, thì không thể so với dương hư, âm thịnh.
Vì vậy, không dùng các vị Can khương, Phụ tử, mà dùng Đương quy tứ nghịch thang để hòa quyết âm, tán hàn tà, điều dinh vệ, thông dương khí.
Nếu người ấy bên trong có hàn lâu ngày, nên dùng Đương quy tứ nghịch thang thêm Ngô thù du, Sinh khương, để đi thẳng vào quyết âm, ôn mà tán hàn.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Không dùng Can khương, Phụ tử vì chứng không có hạ lợi, không thuộc thuần âm.
Người mạch tế muốn tuyệt, Can khương, Phụ tử cũng có thể làm hao tổn âm. Vì vậy, không chỉ không tùy tiện công hạ, mà cũng không tùy tiện dùng phép ôn.
Trịnh Trọng Quang nói: Tay chân quyết lạnh, mạch tế muốn tuyệt là ngoại chứng của thương hàn quyết âm. Đương quy tứ nghịch thang là thuốc giải biểu của thương hàn quyết âm.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Ô mai hoàn là phương chế thành một mẻ thuốc hoàn, không phải lượng thuốc sắc dùng trong một ngày. Vì vậy, các lượng cổ được giữ nguyên, không áp dụng tỷ lệ thu nhỏ của phương thang để gán liều gam. Kích thước “hạt ngô đồng” và số hoàn cũng không tự quy đổi sang viên thuốc hiện đại.
“Thục tiêu xuất hãn” chỉ thao tác sao cho nguyên liệu tiết dầu, thường gọi là sao ra mồ hôi. Những giải thích về giun “ngửi mùi thức ăn”, “gặp chua thì yên” thuộc lý luận của tác giả cổ.
Nhận định “quyết không hồi thì chết” là tiên lượng trong cổ thư, không phải chỉ dẫn từ bỏ điều trị. Tay chân lạnh kèm mạch rất yếu, kích động hoặc rối loạn ý thức cần được cấp cứu; không tự dùng Phụ tử hoặc cứu ngải theo thao tác cổ.
Trường Xuân biên soạn
ĐƯƠNG QUY TỨ NGHỊCH THANG 当归四逆汤
Đương quy ba lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 9 g), Quế chi ba lạng (9 g), Thược dược ba lạng (9 g), Tế tân ba lạng (9 g), Thông thảo hai lạng (6 g), Cam thảo chích hai lạng (6 g), Đại táo bổ hai mươi lăm quả.
Bảy vị trên, dùng tám thăng nước, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm một thăng mỗi lần, ngày ba lần.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải quy đổi trọng lượng cổ hoặc liều kê dùng; đặc biệt không lấy con số đối chiếu của Tế tân làm liều tự sử dụng.
Tên “Thông thảo” được giữ theo nguyên văn cổ, cần xác định đúng dược liệu khi đối chiếu với cách gọi hiện nay. Lượng nước và cách chia uống giữ theo bản gốc.
Trường Xuân biên soạn
ĐƯƠNG QUY TỨ NGHỊCH GIA NGÔ THÙ DU SINH KHƯƠNG THANG 当归四逆加吴茱萸生姜汤
Trong phương Đương quy tứ nghịch thang ở trước, thêm Ngô thù du nửa thăng, Sinh khương ba lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 9 g).
Chín vị trên, dùng sáu thăng nước hòa với sáu thăng rượu trong, sắc còn năm thăng, bỏ bã, chia uống ấm năm lần. Một bản khác dùng nước và rượu mỗi thứ bốn thăng.
PHƯƠNG GIẢI
Bệnh quyết âm thường có mạch tế mà quyết, vì quyết âm là chỗ tận cùng của tam âm, âm tận thì dương sinh. Nếu chịu tà, khí âm dương không thuận tiếp nhau, nên mạch tế mà quyết.
Tướng hỏa gửi ở tạng quyết âm. Kinh tuy hàn nhưng tạng không hàn, nên trước quyết thì sau ắt phát nhiệt.
Vì vậy, thương hàn mới khởi, thấy tay chân quyết lạnh, mạch tế muốn tuyệt, đều không được vội cho là hư hàn rồi dùng Can khương, Phụ tử.
Phương này lấy Quế chi thang làm cơ sở, dùng Đương quy làm quân vì quyết âm chủ can, là huyết thất.
Phối hợp Tế tân có vị rất cay, thông đạt tam âm, ngoài ôn kinh, trong ôn tạng. Thông thảo có tính rất thông, làm thông lợi khớp, trong thông khiếu, ngoài thông dinh.
Tăng Đại táo là phép dùng vị ngọt, giống như Kiến trung thang thêm Di đường. Bỏ Sinh khương vì e vị cay quá mạnh, tán nhanh.
Can khổ vì cấp, thần của can muốn tán. Cùng dùng ngọt và cay thì chí được thuận, thần được vui. Thần chí quyết âm đã thuận hòa thì không có lý mạch tế vẫn không hiện, tay chân vẫn không ấm.
Không cần Nhân sâm, Phục linh để bổ, không dùng sức mạnh của Can khương, Phụ tử, vì quyết nghịch của quyết âm không chữa giống thái âm, thiếu âm.
Nếu bên trong có hàn lâu ngày, các vị cay ấm, ngọt hòa không thể đồng thời chữa được, thì thêm Ngô thù du, Sinh khương cay nóng, lại sắc bằng rượu. Các vị này giúp Tế tân đi thẳng vào tạng quyết âm, nhanh chóng tán hàn trong ngoài. Đây lại là phép cứu quyết âm bị hàn làm tổn thương cả trong lẫn ngoài.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh tay chân quyết lạnh, nói: “Tôi không bị kết hung.” Bụng dưới đầy, ấn đau, là lãnh kết ở vùng bàng quang, Quan nguyên.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, nói rõ thêm chứng.
Kinh nói: Ngày thứ sáu, quyết âm chịu tà. Quyết âm đi theo bộ phận sinh dục, liên lạc với can, nên phiền đầy, bìu co rút.
Tà truyền quyết âm, người vốn có nhiệt thì tà theo dương hóa, gây phiền khát, bụng dưới đầy, bìu co rút, là chứng Tứ nghịch tán, Thừa khí thang.
Người vốn có hàn thì tà theo âm hóa, gây tay chân quyết lạnh, bụng dưới đầy, bìu co rút, là chứng Đương quy tứ nghịch gia Ngô thù du thang.
Nay người bệnh tay chân quyết lạnh, nói không kết hung, nghĩa là bụng trên không đầy, chỉ bụng dưới đầy, ấn đau.
Trong luận, bụng dưới đầy, ấn đau mà tiểu tiện tự lợi là huyết kết ở bàng quang; tiểu tiện không lợi là thủy kết ở bàng quang; tay chân nóng, tiểu tiện đỏ, khó là nhiệt kết ở bàng quang.
Điều này tay chân lạnh, tiểu tiện nhiều lần, trong trắng, nên biết là lãnh kết ở bàng quang.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Tay chân quyết, không kết hung là không có nhiệt. Bụng dưới đầy, ấn đau là lãnh kết ở hạ tiêu.
Trình Tri nói: Dương tà kết ở trên, âm tà kết ở dưới. Tay chân quyết lạnh, bụng dưới đầy, ấn đau, có thể biết là âm tà kết ở dưới. Nên dùng phép ôn, phép cứu.
Quan nguyên là tên huyệt, ở dưới rốn ba tấc, thuộc vị trí cực âm, là nơi hội của túc tam âm và mạch Nhâm, vùng bàng quang cư trú.
Trình Ứng Mao nói: Phát quyết, tuy không kết hung, nhưng bụng dưới đầy thực, đau, kết, có vẻ như có thể công hạ.
Tuy nhiên, kết ở hạ tiêu phần nhiều là lãnh, không giống kết ở thượng tiêu phần nhiều là nhiệt. Huống chi tay chân quyết, thượng tiêu không kết, chỉ kết ở vùng bàng quang, Quan nguyên, nên nói là lãnh kết.
ĐIỀU VĂN
Phàm quyết là khí âm dương không thuận tiếp nhau mà thành. Quyết chính là tay chân nghịch lạnh.
Các chứng tứ nghịch, quyết đều không được công hạ; người vốn hư cũng vậy.
CHÚ GIẢI
Điều này nói rõ nguyên nhân gây quyết trong các điều, nhắc phải thận trọng, không được công hạ.
Quyết tuy có trong các âm kinh, nhưng thuộc về quyết âm. Vì vậy, bệnh quyết âm, bất luận hàn nhiệt đều có quyết; nếu không quyết thì không phải quyết âm.
Thái âm hàn nhẹ nên tay chân ấm, không quyết lạnh. Thiếu âm hàn nặng nên có hàn quyết mà không có nhiệt quyết. Quyết âm âm cực sinh dương nên cả hàn quyết và nhiệt quyết đều có.
“Phàm quyết” là nói quyết do âm dương, hàn nhiệt. “Âm dương không thuận tiếp” nghĩa là khí âm dương không thuận tiếp, giao thông với nhau. Không giao thông thì dương tự thành dương mà gây nhiệt, âm tự thành âm mà gây hàn, thành bệnh quyết.
Biểu hiện của quyết là tay chân nghịch lạnh. “Các chứng tứ nghịch, quyết” là nói các bệnh có tứ nghịch, quyết lạnh.
Bệnh quyết đã có âm dương không thuận tiếp, nên phải thận trọng, không được công hạ. Người vốn hư mà có quyết càng không được công hạ, nên nói người hư cũng vậy.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Tam âm, tam dương của tay tiếp nhau ở mười ngón tay; tam âm, tam dương của chân tiếp nhau ở mười ngón chân.
Dương khí hãm vào trong, không thuận tiếp với âm, nên tay chân quyết lạnh.
Dụ Xương nói: Đối với chứng quyết âm, Trọng Cảnh nhìn chung không muốn công hạ, đều nhằm khiến tà trở về biểu, để âm theo dương mà giải.
Điều này chỉ nêu hai trường hợp đặc biệt không thể công hạ để nhấn mạnh lời răn.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn năm sáu ngày, không kết hung, bụng mềm, mạch hư, lại có quyết, không được công hạ. Đây là mất huyết, công hạ thì chết.
LỜI ÁN
Hai chữ “kết hung” nên là hai chữ “đại tiện”.
Không kết hung, bụng mềm, mạch hư, lại có quyết đều không có lý do công hạ. Vậy lời “không được công hạ” còn nhằm nói điều gì?
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, nói rõ thêm ý không được công hạ.
Thương hàn năm sáu ngày, tà đến quyết âm, không đại tiện có vẻ như có thể công hạ.
Nếu bụng mềm, mạch hư, lại có quyết, thì đây là hư táo do mất huyết, càng không được công hạ. Hạ sẽ phạm điều răn làm hư thêm người đã hư mà chết.
Sau bệnh nặng, sau phát hãn, sản phụ và người mất huyết thường có chứng này.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Thương hàn năm sáu ngày, tà vào quyết âm, nhiệt đã sâu. Nhưng nay mạch hư mà lại quyết, thì không giống nhiệt sâu cần công hạ.
Vì mất huyết, tổn tân dịch, đại tiện khô, khó, e người ta nhận nhầm là táo kết do nhiệt vào dương minh sau năm sáu ngày, nên có lời răn không được công hạ.
Mạch hư, bụng mềm thì biết trong ngoài không có nhiệt; quyết là âm khí làm chủ. Nên chữa theo phép dành cho người mất huyết.
Nếu âm huyết suy hơn dương, hoặc trong âm hơi kèm dương tà, không chịu được thuốc cay nóng, thì lại thuộc chứng Đương quy tứ nghịch thang.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thương hàn, quyết năm ngày, nhiệt cũng năm ngày. Đến ngày thứ sáu, đáng lẽ lại quyết; nếu không quyết thì tự khỏi.
Quyết cuối cùng không quá năm ngày; vì nhiệt năm ngày nên biết tự khỏi.
CHÚ GIẢI
Tà thương hàn truyền quyết âm, âm dương xen lẫn gây bệnh.
Nếu dương giao với âm, trong âm có dương thì không quyết lạnh. Âm giao với dương, trong dương có âm thì không phát nhiệt.
Chỉ khi âm thịnh không giao với dương, âm tự làm âm thì quyết lạnh. Dương mạnh không giao với âm, dương tự làm dương thì phát nhiệt.
Quyết và nhiệt lấn thắng nhau thì nghịch, bệnh tiến. Quyết và nhiệt cân bằng thì thuận, bệnh khỏi.
Nay số ngày quyết và nhiệt bằng nhau, khí tự cân bằng, nên biết âm dương hòa, bệnh tự khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Quyết năm ngày, nhiệt cũng năm ngày, âm dương thắng phục không thiên lệch. Đáng lẽ lại quyết mà không quyết là dương khí thắng. Dương chủ sinh, nên có thể biết tự khỏi.
Trương Lộ nói: Điều này nói quyết cuối cùng không quá năm ngày là nói diễn biến thường. Điều sau nói quyết đến chín ngày mà hạ lợi là nói biến chứng. Diễn biến thường dễ chữa, biến chứng khó phục hồi.
Lâm Lan nói: Thương hàn ở tam âm, thái âm là đầu thì tay chân ấm, thiếu âm thì tay chân lạnh, quyết âm thì tay chân quyết nghịch.
Bệnh đến quyết âm là âm cực, sao lại có lý phát nhiệt? Vì dương cực sinh âm nên dương bệnh có quyết lạnh; âm cực sinh dương nên quyết nghịch có phát nhiệt.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, nhiệt ít, quyết nhẹ, đầu ngón lạnh, lặng lẽ không muốn ăn, phiền táo vài ngày; tiểu tiện thông lợi, màu trong trắng, là nhiệt đã trừ.
Muốn ăn thì bệnh khỏi. Nếu quyết mà nôn, ngực sườn phiền đầy, về sau ắt đại tiện ra máu.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, nhiệt ít, quyết nhẹ, nên tay chân không lạnh, chỉ đầu ngón lạnh, hàn tà còn nông.
Lặng lẽ thuộc âm; phiền táo thuộc dương. Không muốn ăn là vị chưa hòa.
Đây là bệnh nhẹ có âm dương xen lẫn của quyết âm, tức chứng nhiệt nhẹ, quyết cũng nhẹ trong luận.
Nếu vài ngày tiểu tiện thông lợi, màu trong trắng, thì tà nhiệt đã đi. Muốn ăn là vị đã hòa. Nhiệt đi, vị hòa, âm dương tự cân bằng, nên bệnh khỏi.
Nếu tiểu tiện không lợi, màu đỏ, quyết không nhẹ mà nặng; không chỉ lặng lẽ mà còn phiền, không chỉ không muốn ăn mà còn nôn, ngực sườn đầy, thì nhiệt chưa trừ, lại còn sâu. Đó là chứng quyết sâu, nhiệt cũng sâu.
Nhiệt sâu không trừ, lưu lâu ở âm phận, về sau ắt đại tiện ra máu. “Vài ngày” cũng có nghĩa là liên tiếp nhiều ngày.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói: Nếu chưa muốn ăn, nên dùng Can khương cam thảo thang.
Nôn mà ngực sườn phiền đầy là chứng thiếu dương. Thiếu dương và quyết âm có quan hệ biểu lý; tà phạm phủ nên nôn, ngực sườn phiền đầy. Can chủ huyết, nên về sau ắt đại tiện ra máu.
Phương Hữu Chấp nói: Nhiệt ít, quyết nhẹ là tà nông, nên tay chân không lạnh, chỉ đầu ngón lạnh.
Lặng lẽ nghĩa là không nói. Không muốn ăn vì mạch quyết âm kẹp vị. Phiền táo là nội nhiệt, nên lấy tiểu tiện để phân biệt.
Muốn ăn là tà lui, vị hồi. Quyết mà nôn, ngực sườn phiền đầy vì mạch quyết âm kẹp vị, xuyên cách, phân bố ở sườn. Đại tiện ra máu là âm tà ắt đi theo khiếu dưới.
Lâm Lan nói: Nhiệt quyết nói đầu ngón lạnh. Hàn quyết nhẹ nói tay chân lạnh, nặng nói tứ nghịch. Phải xét kỹ nặng nhẹ, nông sâu của quyết nghịch.
Uông Hổ nói: Điều này Trọng Cảnh không nêu phép chữa. Quách Ung nói nhiệt không trừ mà đại tiện ra máu có thể dùng Tê giác địa hoàng thang.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn từ một hai ngày đến bốn năm ngày mà quyết thì ắt phát nhiệt. Trước có nhiệt thì sau ắt quyết.
Quyết sâu thì nhiệt cũng sâu; quyết nhẹ thì nhiệt cũng nhẹ.
Quyết đáng lẽ phải công hạ mà trái lại phát hãn, ắt miệng tổn thương, loét đỏ.
CHÚ GIẢI
Thương hàn một hai ngày đã quyết, đến bốn năm ngày vẫn quyết không ngừng, là hàn quyết do âm thịnh, dương suy. Hàn quyết tức tạng quyết.
Nếu một hai ngày quyết, đến bốn năm ngày có nhiệt; hoặc một hai ngày có nhiệt, đến bốn năm ngày quyết, thì trước quyết sau nhiệt, trước nhiệt sau quyết, là nhiệt quyết do âm dương thay nhau thắng phục. Nhiệt quyết tức dương quyết.
Quyết sâu thì nhiệt cũng sâu; quyết nhẹ thì nhiệt cũng nhẹ. Đây là nhiệt quyết cần công hạ, không phải hàn quyết cần ôn tán.
Nếu nhận nhầm hàn quyết rồi ôn tán, sẽ giúp nhiệt công lên, ắt miệng tổn thương, loét đỏ.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Kinh nói các chứng tứ nghịch không được công hạ, đến đây lại nói nên hạ, phải xét kỹ nhất.
Tiền nhân nói nhiệt quyết tuy tay chân lạnh nhưng có lúc ấm; tuy tay chân nghịch lạnh nhưng lòng bàn tay, bàn chân ắt ấm.
Đới Nguyên Lễ lại lấy móng tay ấm hay lạnh, đỏ hay xanh để phân biệt hàn nhiệt của quyết. Đều là thận trọng đến cùng.
Uông Hổ nói: Điều này là nhiệt tà truyền kinh, dương cực giống âm.
Thương hàn một hai ngày đến bốn năm ngày mà quyết, nghĩa là một hai ngày đầu vốn phát nhiệt, đến bốn năm ngày mới quyết, là dấu hiệu tà truyền quyết âm.
“Ắt phát nhiệt” nghĩa là tứ chi và phần ngoài da tuy lạnh, nhưng trong thân ắt có nhiệt.
“Trước nhiệt thì sau ắt quyết” nói rõ một hai ngày là trước, bốn năm ngày là sau, để thấy nhiệt cực ắt phát quyết.
Dương tà ẩn sâu, nên dùng thuốc đắng lạnh công hạ nhiệt, khiến âm khí được vươn ra; âm dương cân bằng thì tứ chi hòa thuận, không quyết.
Người chữa vụng thấy quyết, nhận là hàn, lại dùng thuốc cay ấm. Thuốc cay ấm đều thăng, dẫn nhiệt lên, ắt miệng tổn thương, loét đỏ, vì mạch quyết âm đi trong má, vòng trong môi.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh tay chân quyết lạnh, mạch chợt khẩn, tà kết trong ngực, tâm hạ đầy mà phiền, đói không ăn được, bệnh ở ngực, nên dùng phép thổ, thích hợp Qua đế tán.
CHÚ GIẢI
Người bệnh tay chân quyết lạnh, nếu mạch vi tế thì là hàn hư; hàn hư có thể ôn, bổ.
Nay mạch chợt khẩn, mạnh là hàn thực; hàn thực nên ôn, nên thổ.
Thỉnh thoảng phiền, nôn giun đũa, đói không ăn được là bệnh ở vị. Nay trong ngực phiền đầy, đói không ăn được là bệnh ở ngực.
Hàn ẩm, thực tà bít ngực, khiến dương khí trong ngực bị tà ngăn, không thể thông đạt ra tứ chi. Vì vậy, tay chân quyết lạnh, ngực đầy, phiền, đói không ăn được.
Nên dùng Qua đế tán làm thổ, đưa tà ở trên ra ngoài, thì đầy có thể tiêu, quyết có thể hồi.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Điều này khác hẳn kết hung thái dương. Mạch chợt khẩn thì tà cũng ắt chợt kết. Dùng Qua đế tán đưa tà lên mà ra, dương tà vẫn theo dương mà giải.
Trình Ứng Mao nói: Tay chân quyết lạnh là tà khí ngăn bên trong. Mạch chợt khẩn nghĩa là khẩn không thường xuyên, trong lúc mạch qua lại đột nhiên thấy một lần.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch hoạt mà quyết là lý có nhiệt; Bạch hổ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, mạch vi tế, thân không nóng, tiểu tiện trong trắng mà quyết là hàn hư quyết, nên ôn.
Mạch chợt khẩn, thân không nóng, ngực đầy mà phiền, có quyết là hàn thực quyết, nên thổ.
Mạch thực, đại tiểu tiện bế, bụng đầy, cứng, đau mà quyết là nhiệt thực quyết, nên công hạ.
Nay mạch hoạt mà quyết; hoạt là dương mạch, có thể biết lý nhiệt, là nhiệt quyết.
Nhưng không có bụng đầy đau, không đại tiện, thì tuy có nhiệt, lý chưa thành thực. Không thể công hạ nhưng có thể thanh, nên dùng Bạch hổ thang.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Mạch hoạt mà quyết là quyết do dương thực cự âm. Bạch hổ thang có tính mát để thanh lý, vị cay để giải biểu. Vì vậy nên bỏ biểu hiện chứng mà theo mạch.
Lâm Lan nói: Nhiệt quyết cũng khác nhau. Tà truyền vào phủ, bế kết không thông, có phân táo bên trong, không thể không hạ, là chứng dùng Thừa khí thang.
Nếu hỏa cực giống thủy, lý có đại nhiệt nhưng đại tiện không bế, không có phân táo cần trừ, thì hoạt là lý nhiệt đã sâu, quyết là tà hãm đã cực.
Không dùng Bạch hổ thang gột nhiệt cực mạnh thì làm sao thanh được dương quá thịnh?
Ngô Nhân Câu nói: Quyết do dương khí không thuận tiếp, mạch đáng lẽ có hình tượng âm.
Mạch hoạt là khí có dư, dương thịnh ở trong, cách âm ra ngoài; trong thực nhiệt, ngoài giả hàn. Bạch hổ thang thanh giải thực nhiệt thì quyết tự giải.
Cách phân biệt là lạnh không quá mạnh; sờ nông thấy lạnh, ấn xuống dưới cơ, gần xương, trái lại nóng.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch xúc, tay chân quyết nghịch, có thể dùng phép cứu.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, âm chứng mà thấy dương mạch, tuy khốn nhưng không hại, có thể yên lòng chờ.
Nay thương hàn, mạch xúc, tay chân quyết nghịch, lại nói có thể cứu, vì muốn ôn thì có nghi ngờ do dương mạch, muốn thanh thì vướng âm quyết.
Mạch và chứng không có căn cứ hàn nhiệt chắc chắn. Nếu chỉ vì mạch xúc là dương mạch mà thanh, e sai ở mạch; nếu chỉ vì quyết là âm chứng mà ôn, lại e sai ở chứng.
Vì vậy đặt ra phép cứu có thể thích ứng cả hai, thông dương mà không trợ nhiệt, hồi quyết mà không tổn âm.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Thương hàn, mạch xúc thì biết dương khí bị bó hẹp. Lại tay chân quyết nghịch, dương ắt bị âm ngăn cách, không thể trở lại, nên cứu để thông dương.
Trương Lộ nói: Tay chân quyết nghịch vốn nên dùng Tứ nghịch thang. Nhưng vì mạch xúc, biết dương khí bị ngăn bên trong, không phải dương hư, nên chỉ cứu để thông dương, không dùng ôn kinh để trợ dương.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn phát nhiệt bốn ngày, quyết lại ba ngày, rồi nhiệt bốn ngày. Quyết ít, nhiệt nhiều, bệnh đáng lẽ khỏi.
Từ bốn ngày đến bảy ngày, nhiệt không trừ, ắt đại tiện ra mủ máu.
Thương hàn quyết bốn ngày, nhiệt lại ba ngày, rồi quyết năm ngày, bệnh tiến. Hàn nhiều, nhiệt ít, dương khí lui, nên bệnh tiến.
CHÚ GIẢI
Tà thương hàn ở quyết âm, dương tà thì phát nhiệt, âm tà thì quyết hàn. Âm dương xen lẫn, thay nhau thắng phục, nên lúc quyết, lúc nhiệt.
Phát nhiệt bốn ngày, quyết cũng bốn ngày là cân nhau. Nay quyết chỉ ba ngày, rồi nhiệt bốn ngày, nhiệt nhiều, quyết ít, dương thắng, âm lui, nên bệnh đáng lẽ khỏi.
Đáng khỏi mà không khỏi, nhiệt vẫn không ngừng thì nhiệt uất ở âm, về sau ắt đại tiện ra mủ máu.
Nếu tổng cộng quyết chín ngày, nhiệt chỉ ba ngày, thì quyết nhiều, nhiệt ít, âm thắng, dương lui, nên bệnh tiến.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Đây chính là cơ chế quyết nhiệt qua lại, biết ý nghĩa âm dương tiến lui. Chứng quyết coi trọng dương, qua đó đại ý quyết âm đã rõ.
Trương Lộ nói: Thái dương lấy sợ lạnh, phát nhiệt làm bệnh tiến, vì e tà truyền vào lý. Quyết âm lấy quyết ít, nhiệt nhiều làm bệnh lui, vì mừng âm tận, dương phục.
Trình Ứng Mao nói: Quyết âm, thiếu dương, một tạng một phủ.
Thiếu dương là chỗ tận cùng của tam dương; dương tận thì âm sinh, nên có hàn nhiệt qua lại. Quyết âm là chỗ tận cùng của tam âm; âm tận thì dương sinh, nên có quyết nhiệt thắng phục.
Gặp chứng này, không cần bàn tà đến từ tam dương hay khởi ở tam âm, chỉ xét quyết và nhiệt nhiều ít.
Nhiệt nhiều, quyết ít thì biết dương thắng, bệnh đáng lẽ khỏi. Quyết nhiều, nhiệt ít thì biết âm thắng, bệnh ngày càng tiến.
Nhiệt xuất hiện sau mà không lui là dương thắng quá mức; âm không thể phục, sinh đại tiện ra máu và các nhiệt chứng.
Quyết xuất hiện sau mà không lui là âm thắng quá mức; dương không thể phục, sinh mất dương và các tử chứng.
Trị pháp điều hòa hai bên phải phù hợp cơ chế âm dương tiến lui. Dương thắng nên hạ, âm thắng nên ôn. Nếu không sớm tính cách chữa, để âm kiệt, dương mất, thì chết là tất nhiên.
Ngô Nhân Câu nói: Nội kinh nói người bị hàn làm tổn thương thì thành bệnh nhiệt, nhiệt tuy mạnh cũng không chết. Đó là thương hàn coi nhiệt là quý.
Nhưng nhiệt không đủ thì bệnh, quá mức cũng bệnh. Hai đoạn này bàn hàn nhiệt nhiều ít để nói rõ không được quá mức hoặc bất cập.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn ban đầu phát nhiệt sáu ngày, quyết lại chín ngày mà hạ lợi.
Phàm quyết, hạ lợi thì không ăn được. Nay trái lại ăn được, e là trừ trung. Cho ăn bánh thường; không phát nhiệt thì biết vị khí còn, ắt khỏi.
E nhiệt đột ngột đến, hiện ra rồi lại mất. Sau ba ngày chẩn mạch, nếu nhiệt vẫn tiếp tục, có thể định bệnh sẽ khỏi vào sáng sớm hoặc nửa đêm ngày hôm sau.
Vì ban đầu phát nhiệt sáu ngày, quyết chín ngày, lại phát nhiệt ba ngày, cộng sáu ngày trước cũng thành chín ngày, tương ứng với quyết, nên định khỏi vào sáng sớm hoặc nửa đêm ngày hôm sau.
Sau ba ngày chẩn mạch, mạch sác, nhiệt không ngừng, là nhiệt khí có dư, ắt phát ung mủ.
LỜI ÁN
Chữ “không” trong câu “không phát nhiệt” nên là chữ “nếu”.
Nếu là “không” thì chính là trừ trung, làm sao nối với câu sau “e nhiệt đột ngột đến, hiện ra rồi lại mất”?
CHÚ GIẢI
Có nhiệt mà không quyết thuộc dương; có quyết mà không nhiệt thuộc âm.
Thương hàn ban đầu phát nhiệt sáu ngày, quyết cũng sáu ngày; đến ngày thứ bảy vẫn phát nhiệt mà không quyết là dương trở lại, đáng tự khỏi.
Nay quyết chín ngày, nhiều hơn nhiệt ba ngày, là âm thắng dương nên hạ lợi.
Phàm quyết, hạ lợi, trung tiêu ắt hàn, không ăn được. Nay trái lại ăn được, e âm tà đã trừ mất dương khí trong vị, thành bệnh trừ trung.
“E” là lời nghi ngờ, chưa xác định, nên dùng bánh thường để thử.
Ăn xong không phát nhiệt là trừ trung. Nếu phát nhiệt, biết vị khí còn, không phải trừ trung, có thể biết sẽ khỏi.
Nếu sau ăn tuy đột ngột phát nhiệt, vẫn e nhiệt chỉ tạm hiện rồi mất, còn là trừ trung. Vì vậy phải chờ ba ngày, nhiệt tiếp tục không mất, tương ứng với quyết, mới định khỏi vào sáng sớm hoặc nửa đêm ngày hôm sau.
Nếu chờ ba ngày, nhiệt không ngừng mà bệnh cũng không khỏi, mạch vẫn sác, là nhiệt khí có dư, lưu ở dinh vệ, ắt phát ung mủ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Chữ “thực” ở đây nghĩa là cho ăn. “Sách” nghĩa là thường, tức cho ăn loại bánh thường ăn.
Một cách giải khác: không có thịt gọi là “sách”, nghĩa là không để phạm điều kiêng ăn.
“Đán nhật” là sáng sớm ngày hôm sau, lúc dương trưởng. Nửa đêm là lúc âm tận, dương sinh. Mạch sác dùng để xét nhiệt.
Ung mủ vì quyết âm chủ huyết; huyết nhiệt kéo dài thì bít, ứ; bít, ứ thì hư hoại, nên có thể đoán trước.
Ngô Nhân Câu nói: “Trừ” là mất, “trung” là trung khí. Trung khí mất, muốn nhờ thức ăn bên ngoài để tự cứu.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch trì sáu bảy ngày, trái lại dùng Hoàng cầm thang để trừ nhiệt.
Mạch trì là hàn, nay dùng Hoàng cầm thang lại trừ nhiệt, bụng đáng lẽ lạnh, không ăn được. Nay trái lại ăn được, gọi là trừ trung, ắt chết.
LỜI ÁN
Sau câu “thương hàn, mạch trì sáu bảy ngày”, nên có bốn chữ “quyết mà hạ lợi”.
Không có bốn chữ ấy thì không thành chứng trừ trung. Có chúng mới phù hợp với ý “trái lại dùng Hoàng cầm thang” ở dưới.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, mạch sác, sáu bảy ngày quyết mà hạ lợi là nhiệt quyết hạ lợi, nên dùng Hoàng cầm thang trừ nhiệt.
Nay mạch trì, sáu bảy ngày quyết mà hạ lợi là hàn quyết hạ lợi, nên dùng Lý trung thang ôn hàn.
Trái lại dùng Hoàng cầm thang để trừ nhiệt, bụng đáng lẽ lạnh, không ăn được; nay lại ăn được, gọi là trừ trung.
Đây là vị khí sắp tuyệt, cầu thức ăn để cứu nhưng cuối cùng không bổ ích được vị, nên nói ắt chết.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Trái lại” là không thuận đạo. Hoàng cầm thang là thuốc hàn. “Triệt” cũng là trừ; “ứng” cũng là đáng lẽ.
Trái lại ăn được là vị muốn tuyệt, tìm thức ăn để tự cứu. Trung chỉ vị. Nói chết vì vạn vật không có thổ thì không sinh.
Trình Tri nói: Mạch trì là hàn, không nên dùng thêm thuốc hàn, gây biến chứng trừ trung.
Trung khí bị âm hàn loại mất, dương khí không gốc trong vị sắp hết, tìm thức ăn để cứu, nên là tử chứng.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, trước quyết, sau phát nhiệt, hạ lợi ắt tự ngừng. Thấy quyết trở lại thì lại hạ lợi.
CHÚ GIẢI
Quyết nghịch thuộc âm; phát nhiệt thuộc dương.
Trước quyết, sau nhiệt, hạ lợi tự ngừng là âm lui, dương tiến. Thấy quyết trở lại, hạ lợi lại phát là dương lui, âm tiến.
Nhiệt nhiều, quyết ít, bệnh dù nặng cũng có thể khỏi. Quyết nhiều, nhiệt ít, bệnh dù nhẹ cũng chuyển nặng.
Có thể biết quyết nhiệt là cơ chế âm dương tiến lui, sống chết.
TẬP CHÚ
Uông Hổ nói: Quyết âm là chỗ âm tận, dương khí trong kinh rất ít. Vì vậy, bất luận âm chứng hay dương chứng, tà hàn hay nhiệt đến kinh này đều có thể phát quyết.
Quyết là nghịch, khởi ở tay chân. “Trước quyết” là mới khởi đã quyết, quyết thì hạ lợi. Phát nhiệt là dương khí phục hồi, hạ lợi ắt tự ngừng.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, trước quyết, sau phát nhiệt, hạ lợi ắt tự ngừng. Nhưng trái lại ra mồ hôi, đau trong họng thì họng thành tý.
Phát nhiệt, không có mồ hôi, hạ lợi cũng ắt tự ngừng. Nếu không ngừng, ắt đại tiện ra mủ máu. Đại tiện ra mủ máu thì họng không tý.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, phân biệt rõ để nêu chứng.
Trước quyết, sau nhiệt, hạ lợi tự ngừng; quyết hồi, lợi ngừng, nhiệt lui thì muốn khỏi.
Nếu quyết hồi, lợi ngừng mà nhiệt không lui, trái lại ra mồ hôi, là bệnh quyết âm theo dương hóa nhiệt. Tà theo mạch bản kinh đi lên, nên họng đau, tý.
Nếu quyết hồi, phát nhiệt, không có mồ hôi, hạ lợi không ngừng, là tà nhiệt quyết âm theo hạ lợi bức xuống, làm tổn huyết trong mạch, nên ắt đại tiện ra mủ máu.
Đại tiện ra mủ máu thì họng không tý, nghĩa là nhiệt tà xuống gây hạ lợi, không còn lên gây đau họng.
Có thể biết hạ lợi ngừng, họng thành tý là nhiệt tà đã lên gây đau họng, không còn xuống gây hạ lợi.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Trước quyết, sau nhiệt, hạ lợi ngừng là bệnh muốn khỏi.
Nhưng trái lại ra mồ hôi, đau họng, là nhiệt tà có dư, công lên họng thành tý.
Đã phát nhiệt, dù không có mồ hôi, dương đã hồi nên hạ lợi cũng tự ngừng.
Nếu không ngừng, không có mồ hôi rõ là tà không ra ngoài, nhiệt uất ở lý, ắt đại tiện ra mủ máu.
Đại tiện ra mủ máu thì họng không tý, cho thấy nhiệt tà ở lý thì không còn ở biểu, ở dưới thì không còn ở trên.
Uông Hổ nói: Đau họng là nhiệt làm tổn khí phận thượng tiêu. Tý là bế. Đau họng nặng, họng ắt bế tắc vì kinh quyết âm đi phía sau họng, lên vùng nối họng với mũi.
Không có mồ hôi, hạ lợi không ngừng, ra mủ máu, là nhiệt làm tổn huyết phận hạ tiêu. Nhiệt tà dồn xuống thì không phạm trên, nên họng không tý.
ĐIỀU VĂN
Hạ lợi, mạch sác, có nhiệt nhẹ, mồ hôi ra, để tự khỏi. Nếu mạch lại khẩn thì chưa giải.
CHÚ GIẢI
Quyết âm hạ lợi, mạch sác là nhiệt lợi.
Nếu nhiệt nhẹ, mồ hôi ra, biết tà nhẹ, muốn giải, hạ lợi ắt tự ngừng, nên để tự khỏi.
Nếu mạch lại khẩn là biểu tà còn mạnh, chưa giải được.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Hạ lợi là âm bệnh; mạch sác là dương mạch. Âm bệnh thấy dương mạch thì sống.
Nhiệt nhẹ, mồ hôi ra là dương khí được thông, hạ lợi ắt tự khỏi.
Các mạch khẩn đều thuộc hàn. Nếu mạch lại khẩn thì hàn tà còn mạnh, nên nói chưa giải.
Thẩm Minh Tông nói: Những điều này chỉ trường hợp quyết, hạ lợi, đại tiện ra mủ máu.
Có thể thấy các mạch thực đại, phù sác, vi nhược, trầm sáp, huyền khẩn, hồng trường; phải phân hư thực, hàn nhiệt thì mới biết muốn khỏi hay chưa khỏi. Đó thực là ý nghĩa tinh tế của xét bệnh.
ĐIỀU VĂN
Hạ lợi, có nhiệt nhẹ mà khát, mạch nhược, để tự khỏi.
CHÚ GIẢI
Quyết âm hạ lợi, đại nhiệt mà khát, mạch mạnh là tà và nhiệt đều thịnh.
Nay hạ lợi, nhiệt nhẹ mà khát, mạch nhược là tà nhiệt suy. Tà nhiệt đã suy nên có thể để tự khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Nhiệt nhẹ là dương dần hồi. Khát là nội táo chưa phục. Mạch nhược là tà lui. “Để tự khỏi” nghĩa là không cần chữa.
Trình Tri nói: Hạ lợi lấy dương phục, tà nhẹ làm khỏi. Nhiệt nhẹ mà khát, chứng đã chuyển dương; mạch nhược thì tà khí đã lui, nên không chữa tự khỏi.
Nếu hạ lợi, đại nhiệt, mạch thịnh thì lại là nghịch chứng.
ĐIỀU VĂN
Hạ lợi, mạch sác mà khát, để tự khỏi. Nếu không khỏi, ắt đại tiện ra mủ máu, vì có nhiệt.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, bổ sung để nói rõ biến chứng.
Hạ lợi, mạch sác mà khát là bên trong có nhiệt. Nếu thân không nóng, tà đã suy, cũng có thể để tự khỏi.
Nếu hạ lợi, mạch sác mà khát, lâu ngày không khỏi, dù thân không nóng cũng ắt đại tiện ra mủ máu, vì nội nhiệt làm tổn âm.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch sác và nhiệt nhẹ ở trên làm sáng tỏ lẫn nhau.
Trình Ứng Mao nói: Mạch sác mà khát là dương thắng âm, nên cũng để tự khỏi.
Nếu không khỏi thì âm hư, nhiệt nhập. Đó là điều kinh nói mạch sác không giải, hạ lợi không ngừng, ắt kèm nhiệt mà đại tiện ra mủ máu.
ĐIỀU VĂN
Hạ lợi, mạch thốn trái lại phù sác, mạch xích tự sáp, ắt đại tiện ra mủ máu.
CHÚ GIẢI
Quyết âm nhiệt lợi, mạch thốn đáng lẽ trầm sác. Nay mạch thốn trái lại phù sác là nhiệt ở ngoài, không ở trong.
Mạch xích tự sáp là nhiệt ở ngoài không giải, nhân hạ lợi mà vào lý, làm tổn âm. Nhiệt và huyết ứ lại, ắt đại tiện ra mủ máu.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Mạch phù sác, nếu tà trở về biểu thì mạch xích tự biểu hiện.
Nay mạch xích tự sáp là nhiệt tà kết ở âm phận. Dù thốn khẩu có dương mạch, cuối cùng âm tà vẫn đi xuống khiếu dưới, đại tiện ra mủ máu.
Uông Hổ nói: Điều này là dấu hiệu hạ lợi chuyển thành mủ máu.
Nhiệt lợi có mạch sác không phải trái thường; có mạch phù mới là trái thường.
Điều này không có phép chữa, nên dùng Hoàng cầm thang của Trọng Cảnh.
ĐIỀU VĂN
Hạ lợi, mạch trầm huyền là mót rặn. Mạch đại là chưa ngừng. Mạch vi nhược sác là muốn tự ngừng; dù phát nhiệt cũng không chết.
CHÚ GIẢI
Điều này nói rõ thêm chứng và mạch của hạ lợi ra mủ máu.
Mạch trầm chủ lý, mạch huyền chủ cấp. Hạ trọng là hậu trọng, tức mót rặn. Hạ lợi, mạch trầm huyền nên bụng quặn, mót rặn.
Phàm hạ lợi, phát nhiệt, mạch đại là tà thịnh, chưa ngừng. Mạch vi nhược sác là tà suy, muốn tự ngừng; dù phát nhiệt cũng không chết.
Từ đó có thể biết chứng trệ hạ, mạch đại, thân nóng, ắt chết.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Hạ lợi mà mạch trầm huyền chủ bụng quặn, mót rặn, thành chứng trệ hạ, tức chứng lỵ ngày nay.
Mạch đại là đại trong trầm huyền. Mạch vi nhược sác là vi nhược sác trong trầm huyền.
ĐIỀU VĂN
Hạ lợi muốn uống nước là vì có nhiệt; Bạch đầu ông thang chủ trị.
Nhiệt lợi, mót rặn: Bạch đầu ông thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước để nêu cách chữa.
Hạ lợi muốn uống nước là nhiệt lợi làm mất tân dịch xuống dưới, tìm nước để cứu khô.
Nhiệt lợi, mót rặn là nhiệt làm tổn thương, khí trệ, bụng quặn, mót rặn, đại tiện ra mủ máu.
Cả hai đều dùng Bạch đầu ông thang vì phương rất đắng, rất lạnh; lạnh thắng nhiệt, đắng táo thấp.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Thiếu âm tự hạ lợi mà khát cũng có trường hợp do hư, uống nước để tự cứu. Vẫn phải lấy tiểu tiện đỏ hay trong trắng, mạch trì hay sác để phân biệt.
Điều này nói nhiệt tà kết bên trong. Nhiệt tà nội kết gây mót rặn, nên thuần dùng thuốc đắng lạnh để thắng nhiệt, làm vững ruột.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Tài liệu đã dịch hết đến phần chứng dùng Bạch đầu ông thang; chưa có thành phần phương ấy.
Các lời án đề nghị sửa “kết hung” thành “đại tiện”, sửa “không phát nhiệt” thành “nếu phát nhiệt”, và thêm “quyết mà hạ lợi”. Điều văn được giữ theo bản gửi; phần chú giải được dịch theo cách hiểu của tác giả.
Trong văn bản, những nhận định chung “quyết không được công hạ” được đối chiếu với các trường hợp nhiệt quyết cần công hạ. Đây là điểm các tác giả tự nhấn mạnh phải phân biệt, không thể dùng riêng tay chân lạnh để quyết định thuốc ôn hay thuốc hạ.
Các mốc ngày, lời tiên lượng “ắt khỏi”, “ắt chết”, phép thử bằng thức ăn, phép gây nôn và cứu ngải là ghi chép cổ. Không dùng chúng làm chỉ dẫn tự điều trị hoặc trì hoãn chăm sóc y tế.
Trường Xuân biên soạn
BẠCH ĐẦU ÔNG THANG 白头翁汤
Bạch đầu ông ba lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 9 g), Hoàng liên bỏ rễ con ba lạng (9 g), Hoàng bá bỏ lớp vỏ ngoài ba lạng (9 g), Tần bì ba lạng (9 g).
Bốn vị trên, dùng bảy thăng nước, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm một thăng; chưa khỏi thì uống thêm một thăng.
PHƯƠNG GIẢI
Tam âm đều có chứng hạ lợi. Tự hạ lợi mà không khát thuộc thái âm; tự hạ lợi mà khát thuộc thiếu âm.
Riêng hạ lợi quyết âm, thuộc hàn thì quyết mà không khát, hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu; thuộc nhiệt thì tiêu khát, hạ lợi, mót rặn, đại tiện ra mủ máu.
Nhiệt lợi, mót rặn này là hỏa uất, thấp hun bốc, uế khí bức xuống đại tràng, hậu môn nặng trệ, khó đi. Chính là điều Nội kinh nói: “Đột ngột tiêu chảy, bức xuống dưới.”
Lấy Bạch đầu ông lạnh, đắng, cay làm quân; Tần bì lạnh, đắng, sáp làm thần. Lạnh thắng nhiệt, đắng táo thấp, cay tán hỏa uất, sáp thu liễm hạ lợi có mót rặn.
Hoàng liên làm tá để thanh hỏa thượng tiêu, khát có thể ngừng. Hoàng bá làm sứ để tả nhiệt hạ tiêu, hạ lợi tự trừ.
Chữa nhiệt lợi quyết âm có hai phép.
Mới hạ lợi thì dùng vị đắng của phương này để tả hỏa: dùng đắng để táo, cay để tán, sáp để cố. Đó là phép dùng hàn chữa nhiệt.
Hạ lợi lâu thì dùng vị chua của Ô mai hoàn để thu hỏa, phối hợp đắng lạnh, xen thuốc ôn bổ. Đó là nghịch trị hay thuận trị, tùy điều có lợi mà làm, điều hòa khí cho cân bằng.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, hạ lợi mỗi ngày hơn mười lần, mạch trái lại thực thì chết.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, hạ lợi mỗi ngày hơn mười lần là chính khí hư, mạch đáng lẽ hư. Nay trái lại thực là tà khí thịnh.
Chính hư, tà thịnh, nên đoán chết.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Hạ lợi là lý hư, mạch đáng lẽ vi nhược. Trái lại thực là bệnh thắng tạng, nên chết. Đó gọi là mạch không tương ứng với bệnh.
Trịnh Trọng Quang nói: Mạch thực thì vị khí mất vẻ hòa hoãn, chỉ thấy chân tạng mạch, là tà thịnh, chính khí thoát.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn sáu bảy ngày không hạ lợi, rồi phát nhiệt mà hạ lợi, mồ hôi ra không ngừng thì chết, vì có âm không có dương.
CHÚ GIẢI
Thương hàn sáu bảy ngày là lúc tà truyền quyết âm.
Quyết mà không hạ lợi là âm tà chưa thịnh. Nếu phát nhiệt thì vẫn chưa đến mức chết.
Nay sáu bảy ngày không hạ lợi, bỗng hạ lợi, phát nhiệt, mồ hôi ra không ngừng, là âm thịnh bên trong, dương mất bên ngoài. Vì vậy gọi là có âm không có dương, có thể biết sẽ chết.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Phát nhiệt mà hạ lợi là lý âm thịnh bên trong, nên nói có âm. Mồ hôi ra không ngừng là biểu dương tuyệt bên ngoài, nên nói không có dương.
Trình Tri nói: Điều này nói hạ lợi đột ngột, mồ hôi ra, là tử chứng mất dương.
Sáu bảy ngày không hạ lợi, bỗng phát nhiệt, hạ lợi, đến mức mồ hôi không ngừng, hoàn toàn là ngoài dương, trong âm; chân dương trong khoảnh khắc không còn.
Uông Hổ nói: Hàn trúng quyết âm đến sáu bảy ngày thì đáng lẽ cũng quyết sáu bảy ngày. Không nói quyết là lược văn.
Quyết đáng lẽ hạ lợi mà chưa hạ lợi là dương khí chưa bại, còn có thể chống tà. Nếu phát nhiệt, hạ lợi cũng đáng lẽ ngừng.
Nay phát nhiệt và hạ lợi đột ngột cùng đến, lại thêm mồ hôi không ngừng, thì biết nhiệt không phải do dương hồi mà do dương thoát. Vì vậy cùng có hạ lợi và mồ hôi không ngừng.
Trương Lệnh Thiều nói: Bệnh quyết âm phát nhiệt thì không chết, nhưng phát nhiệt vẫn chết có ba chứng: táo không nằm được, quyết không ngừng, mồ hôi không ngừng.
ĐIỀU VĂN
Phát nhiệt mà quyết, đến bảy ngày hạ lợi thì khó chữa.
CHÚ GIẢI
Điều này nói rõ thêm ý phát nhiệt mà quyết ở trên.
Phát nhiệt mà quyết đến bảy ngày, nếu quyết hồi, hạ lợi ngừng thì có thể tự giải.
Nay đến bảy ngày vẫn phát nhiệt, quyết, hạ lợi không ngừng, thì khó chữa.
Điều trước có âm không có dương nên đoán chết. Điều này âm thịnh, dương không phục nên khó chữa.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Quyết bảy ngày mà hạ lợi là âm thịnh, dương không phục.
Trương Lộ nói: Quyết, hạ lợi và nhiệt có thế không cùng tồn tại.
Phát nhiệt mà quyết bảy ngày, nhiệt tự nhiệt, quyết và hạ lợi tự quyết và hạ lợi; âm dương đều đi về phía thiên lệch, không có kỳ hòa hợp. Vì vậy, dù chưa thấy phiền táo cũng đã khó chữa.
Chữa nhiệt thì quyết và hạ lợi càng tăng; chữa quyết, hạ lợi thì nhiệt càng tăng, đến khi âm dương cùng tuyệt mới ngừng.
ĐIỀU VĂN
Hạ lợi, mạch trầm trì, mặt hơi đỏ, thân có nhiệt nhẹ, hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, ắt uất mạo, ra mồ hôi mà giải.
Người bệnh ắt có quyết nhẹ, vì mặt đới dương, phía dưới hư.
CHÚ GIẢI
Mạch trầm trì, hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu là lý có âm hàn. Nếu mặt hơi đỏ, thân có nhiệt nhẹ, lại thuộc biểu có dương nhiệt.
Trong có lý âm hàn, ngoài có biểu dương nhiệt, cũng có trường hợp âm được dương hóa mà giải.
Nhưng trước khi giải, người bệnh ắt uất mạo, sau đó ra mồ hôi mới giải. Vì hư dương hiện ở mặt và hư âm gây hạ lợi hòa thuận với nhau nên bệnh giải.
Đây không phải âm ở dưới cách dương ở trên. Vì vậy, tuy người bệnh hôn mạo nhưng quyết ắt nhẹ, không giống hôn mạo, quyết nặng của bệnh không giải.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Hạ lợi, mạch trầm trì là lý hàn. Mặt hơi đỏ, có nhiệt nhẹ là vẫn kiêm ngoại tà, ắt theo mồ hôi mà giải.
Nhưng chứng đới dương ắt thấy quyết nhẹ, trong đó ẩn chứa bước ngoặt nguy hiểm, cách dùng phép phải khác hẳn thông thường.
Sáu kinh đều có hạ lợi, riêng thiếu âm, quyết âm khó chữa. Tà vào lý, hạ lợi sâu ắt gây quyết; quyết sâu cũng gây hạ lợi.
Vì vậy, hạ lợi trong thiếu âm và quyết âm đều được nói kỹ. Thương hàn hạ lợi, bất luận thiếu âm hay quyết âm, Trị pháp đều có thể tham thông.
Uông Hổ nói: Uất mạo là đầu mắt uất, hôn mạo. Dương khí có thể thắng hàn tà, lý dương hồi, biểu hòa thuận nên giải.
Ra mồ hôi mà giải là dương hồi, lý hàn tán, dinh vệ hòa nên mồ hôi ra; không phải công biểu để ép ra mồ hôi.
ĐIỀU VĂN
Hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, lý hàn ngoại nhiệt, mồ hôi ra mà quyết: Thông mạch tứ nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, làm rõ thêm ý nghĩa và nêu cách chữa.
Hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu là lý hàn; thân có nhiệt nhẹ là ngoại nhiệt.
Điều trước có biểu không mồ hôi, khí uất, mặt đỏ, còn có thể mong hôn mạo rồi ra mồ hôi mà giải.
Điều này mồ hôi ra mà quyết, biến chứng mất dương đã hiện. Vì vậy dùng Thông mạch tứ nghịch thang cứu dương, thắng âm.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Hạ lợi nên nói lý hàn, âm không giữ. Ngoại nhiệt, mồ hôi ra là dương không vững.
Thông mạch tứ nghịch thang cứu biểu lý, thông khí huyết, phục hồi âm dương.
Dụ Xương nói: Điều trước biện chứng, điều này dùng thuốc, làm sáng tỏ lẫn nhau.
Không chỉ vậy, bệnh thiếu âm hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, sắc mặt đỏ, đã dùng phép này.
Ngô Nhân Câu nói: Hạ lợi kèm nhiệt cũng có thể có thức ăn nguyên vẹn, không tiêu, vì tà nhiệt không làm chín cốc. Sự khác nhau nằm ở mạch âm dương, hư thực.
ĐIỀU VĂN
Mồ hôi ra nhiều, nhiệt không lui, bên trong co quắp, tứ chi đau, lại hạ lợi, quyết nghịch, sợ lạnh: Tứ nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Toàn thân ra nhiều mồ hôi thì nhiệt đáng lẽ lui. Nhiệt vẫn không lui, không có chứng khác, là tà chưa hết, bệnh chưa giải.
Nay ra nhiều mồ hôi, nhiệt không lui, lại co quắp, chân tay đau, hạ lợi, quyết nghịch, sợ lạnh, là dương mất ở biểu, hàn thịnh ở lý.
Vì vậy dùng Tứ nghịch thang ôn kinh, thắng hàn, hồi dương, liễm hãn.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mồ hôi ra nhiều là dương hư, biểu không vững. Nhiệt không lui là tà chưa trừ.
Trong co quắp, tứ chi đau là mất tân dịch, khí ở xương không thông lợi. Hạ lợi, quyết nghịch, sợ lạnh là mất dương, âm hàn bên trong rất mạnh.
Trình Tri nói: Sau đại hãn, hạ lợi, quyết nghịch, phải gấp hồi dương.
Mồ hôi nhiều mà nhiệt không lui, chính e chân dương bay vượt. Nếu trong co quắp, tứ chi đau, lại hạ lợi, quyết nghịch, sợ lạnh, thì bên trong thuần là âm hàn.
Trình Ứng Mao nói: Chứng đại hãn, nhiệt không lui này vì sao không xếp vào tử chứng mất dương?
Mất dương là do mồ hôi không ngừng mà dương mất. Chứng này trong co quắp, tứ chi đau, là mồ hôi đã ngừng, dương chưa mất mà sợ lạnh, nên có thể dùng phép ôn.
ĐIỀU VĂN
Đại hãn, hoặc đại hạ lợi mà quyết lạnh: Tứ nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Đại hãn, mồ hôi không thu là chứng Quế chi gia phụ tử thang. Đại hạ lợi không ngừng là chứng Lý trung gia phụ tử thang.
Nay đại hãn, lại đại hạ lợi không ngừng, thêm quyết lạnh, là dương mất bên ngoài, hàn thịnh ở giữa, không phải Quế chi, Lý trung có thể chữa.
Nên dùng Tứ nghịch thang gấp hồi dương, thắng âm. Mồ hôi, hạ lợi ngừng, quyết lạnh hồi thì vẫn có thể sống.
Ba điều trên đều thiếu âm, quyết âm cùng bệnh. Vì thiếu âm hàn nặng nên đều theo thiếu âm mà chủ trị.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Chứng này không có ngoại nhiệt xen lẫn, nên dễ biết là âm hàn.
Nhưng đã đại hãn, đại hạ lợi thì âm dịch cũng mất. Lúc này không thể không lấy cứu dương làm gấp; dương hồi mới có thể từ từ cứu âm.
ĐIỀU VĂN
Hạ lợi, tay chân quyết lạnh, không có mạch, cứu mà không ấm; nếu mạch không hồi, trái lại hơi suyễn thì chết.
Sau hạ lợi, mạch tuyệt, tay chân quyết lạnh; qua một ngày đêm, mạch hồi, tay chân ấm thì sống; mạch không hồi thì chết.
CHÚ GIẢI
Hạ lợi, tay chân quyết lạnh, không có mạch là có âm không có dương.
Dù dùng các phương Phụ tử, Tứ nghịch, vẫn e dương không thể hồi nhanh. Nên gấp cứu kinh quyết âm để thông dương.
Mạch hồi, tay chân ấm thì sống. Mạch không hồi, tay chân không ấm, trái lại hơi suyễn, là suyễn do không còn khí tiếp nối, dương khí thoát lên trên, nên đoán chết.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Suyễn ấy ắt hơi thở ngắn, tiếng không nối tiếp, là dương khí suy tuyệt.
Trình Tri nói: Thiếu âm hạ lợi, quyết nghịch, không mạch, uống Bạch thông thang, mạch đột ngột hiện thì chết, dần nối lại thì sống.
Quyết âm hạ lợi, quyết nghịch, mạch tuyệt, dùng cứu, qua một ngày đêm mạch hồi thì sống, không hồi thì chết.
Có thể thấy tìm dương khí không phải tìm chung chung ở nơi hoàn toàn không còn gì. Trong hai thận phải còn chút khả năng tiếp nối, mới có thể nhờ ôn cứu như keo loan để nối lại.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn phát nhiệt, hạ lợi, quyết nghịch, táo không nằm được thì chết.
Thương hàn phát nhiệt, hạ lợi rất nặng, quyết không ngừng thì chết.
CHÚ GIẢI
Thương hàn phát nhiệt, hạ lợi mà quyết, trái lại phiền táo không nằm được, là hàn thịnh bên trong, dương đơn độc nhiễu loạn.
Hoặc phát nhiệt, hạ lợi rất nặng, quyết nghịch không ngừng, dù không phiền táo cũng là biểu dương tán ngoài, lý dương thoát trong, nên đều chết.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Thương hàn phát nhiệt là tà ở biểu. Hạ lợi, quyết nghịch là dương khí hư. Táo không nằm là bệnh thắng tạng, nên chết.
Kim quỹ yếu lược nói: Khí lục phủ tuyệt bên ngoài thì tay chân lạnh; khí ngũ tạng tuyệt bên trong thì hạ lợi không giữ được.
Thương hàn phát nhiệt là tà riêng mạnh. Hạ lợi rất nặng, quyết không ngừng là khí phủ tạng tuyệt, nên chết.
Trình Tri nói: Bệnh quyết âm chỉ phát nhiệt thì không chết, vì phát nhiệt là tà ra biểu, lý chứng tự trừ.
Nếu ngoài phát nhiệt, trong quyết nghịch, hạ lợi không ngừng, lại phiền táo không giải, thì phát nhiệt trở thành dấu hiệu dương khí tán ngoài, nên đoán chết.
Trương Lộ nói: Táo không nằm được là hình tượng dương khí trong thận vượt thoát.
Hạ lợi mà tay chân quyết lạnh đều là dấu hiệu nguy, vì tứ chi là gốc của các dương.
Lại phát nhiệt, táo không nằm, không chỉ hư dương phát lộ mà chân âm cũng đã tiêu hết, sao không chết?
ĐIỀU VĂN
Nôn, mạch nhược, tiểu tiện lại thông lợi, thân có nhiệt nhẹ, thấy quyết thì khó chữa; Tứ nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Quyết âm nôn, mạch nhược, đại tiện thường hạ lợi. Nay tiểu tiện lại thông lợi, dù thân có nhiệt nhẹ vẫn thấy quyết lạnh, là tà nghịch lên, hạ tiêu hư hàn không giữ, hình tượng âm tiến, dương lui, nên khó chữa.
Dùng Tứ nghịch thang để nhanh chóng làm mạnh dương. Dương hồi thì có thể mong sống.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch nhược tuy giống tà suy, nhưng tiểu tiện lại thông lợi thì lý thuộc hư hàn. Vì vậy nói thấy quyết thì khó chữa.
Do thân còn nhiệt nhẹ, dù quyết vẫn có thể dùng Tứ nghịch thang cứu dương, khiến dương phục hồi.
Trình Tri nói: Nôn mà quyết nên ôn phần dưới.
Nôn là tà khí nghịch lên. Mạch nhược, tiểu tiện thông lợi là hư hàn hiện ở dưới.
Thân có nhiệt nhẹ, đáng lẽ là dương tà ở biểu. Nhưng thấy quyết nghịch thì là âm thịnh ở lý, có nguy cơ dương nhỏ không tự tồn tại được.
Uông Hổ nói: Các điều quyết, hạ lợi đều nói đại tiện hạ lợi.
Điều này lấy nôn làm chủ bệnh, riêng tiểu tiện thông lợi mà có quyết, là cửa giữ trước sau không khóa được.
Dùng Tứ nghịch thang, lấy Phụ tử tán hàn, giáng khí nghịch, trợ hỏa mệnh môn; trên trừ nôn, dưới ngừng tiểu tiện, ngoài hồi quyết nghịch.
ĐIỀU VĂN
Nôn khan, nôn đàm dãi bọt, đầu đau: Ngô thù du thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thái âm có nôn thức ăn mà không có ọe. Thiếu âm có muốn nôn không nôn được, ho mà nôn. Quyết âm có quyết mà nôn, nôn ra giun đũa.
Nôn khan là có tiếng mà không có vật. Nôn đàm dãi bọt là dãi trong, bọt lạnh theo nôn mà ra, do hàn quyết âm phạm lên vị.
Tam dương có đầu đau thì ắt kiêm thân nóng. Thái âm, thiếu âm đều không có đầu đau. Riêng quyết âm hội với mạch Đốc ở đỉnh đầu, nên có đầu đau mà không nóng thân.
Đây là thiếu dương không giải, truyền vào quyết âm, âm tà nghịch lên, nên nôn và đầu đau.
Dùng Ngô thù du thang, chữa theo gốc quyết âm.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Nôn mà đầu đau nên ôn trung, giáng nghịch.
Trương Tích Câu nói: Ọe là có tiếng, có vật; thổ là đẩy vật ra.
Vì vậy có ọe khan, không có thổ khan. Nay nôn khan rồi nôn đàm dãi bọt, là đàm dãi bọt theo động tác ọe mà ra.
ĐIỀU VĂN
Người hay nôn có ung mủ, không được chỉ chữa nôn; mủ hết thì tự khỏi.
CHÚ GIẢI
Tâm phiền mà nôn là nôn do nội nhiệt. Khát, uống nước rồi nôn là nôn do thủy đình.
Nay nôn mà có mủ, ắt bên trong có ung mủ, nên nói không được chữa nôn, chỉ chờ nôn hết mủ thì tự khỏi.
Ung mủ hư hoại, uế trọc muốn ra nên nôn. Không nên chữa riêng nôn. Nếu làm ngừng nôn sẽ đi ngược cơ chế, khiến nhiệt tà bít trong, đường ra bị chặn, không có nơi tiết, ắt gây biến chứng khác.
Mủ hết, nhiệt theo mủ đi, nôn tự ngừng.
TẬP CHÚ
Uông Hổ nói: Phế, vị thành ung do phong hàn chứa trong kinh lạc, tà uất ở phế hoặc vào vị phủ, biến thành nhiệt.
Nhiệt mạnh thì khí ứ, huyết tích thành ung. Ung là bít, nghĩa là nhiệt độc bít tụ thành mủ.
Trịnh Trọng Quang nói: Tà nhiệt nghịch lên, kết thành nội ung, tức ung ở phế, vị.
ĐIỀU VĂN
Quyết âm trúng phong, mạch hơi phù là muốn khỏi; không phù là chưa khỏi.
CHÚ GIẢI
Quyết âm trúng phong ở đây bao gồm thương hàn.
Mạch vi là mạch quyết âm; phù là mạch biểu dương.
Bệnh quyết âm đã có mạch dương phù, là tà trở về biểu, nên muốn khỏi.
Không phù thì trầm; trầm là mạch lý âm, tà vẫn ở lý nên chưa khỏi.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Mạch phù là dấu hiệu tà trở về biểu, sắp ra mồ hôi, nên nói muốn khỏi.
Không phù là tà vào sâu, dễ có nhiều biến chứng, nên nói chưa khỏi.
Phương Hữu Chấp nói: Phong mạch đáng lẽ phù. Quyết âm vốn vi hoãn, không phù, nên hơi phù thì tà biểu hiện trở về biểu, là muốn khỏi.
ĐIỀU VĂN
Bệnh quyết âm muốn giải, từ giờ Sửu đến hết giờ Mão.
CHÚ GIẢI
Sửu, Dần, Mão là ba thời điểm phong mộc quyết âm đương vượng.
Chính khí được thời vượng thì tà tự lui, nên bệnh giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Bệnh quyết âm giải, đến Dần, Mão thì kết thúc; bệnh thiếu dương giải, từ Dần, Mão thì bắt đầu.
Dần là dương mới động, âm còn mạnh. Mão là trời đất mở, âm dương phân.
Vì vậy hai kinh cùng vượng, thời điểm bệnh giải từ đó có chỗ kết thúc, có chỗ bắt đầu.
ÂM THIẾT
撞 đọc theo phiên thiết “trạch giang”, nghĩa là xung, va mạnh. 渍 đọc theo “tật trí”, nghĩa là ngâm. 蒂 đọc như “đế”. 食 trong ngữ cảnh cho ăn dùng cùng nghĩa với 饲. 索 nên viết là 素, nghĩa là thường hoặc không có thịt. Chữ ghi là 瘾 trong bản gửi đọc theo “ư dung”. 痹 đọc như “tý”. 清 dùng cùng nghĩa với 圊; 圊 đọc theo “thất tình”, chỉ đi ngoài. 晬 đọc theo “tổ đối”, ở đây chỉ trọn một ngày đêm.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Bạch đầu ông trong bản gửi ghi ba lạng; bản dịch giữ nguyên. Các lượng gam chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải quy đổi trọng lượng cổ hoặc liều kê dùng.
Điều văn nói “đại hãn, hoặc đại hạ lợi”, nhưng phần chú giải diễn giải thành đại hãn đồng thời đại hạ lợi. Hai cách diễn đạt được giữ riêng.
Những lời “ắt chết”, “không chết”, “tự khỏi” là tiên lượng của cổ thư, không phải kết luận chắc chắn hoặc chỉ dẫn từ bỏ chăm sóc. Đặc biệt, lời “mủ hết tự khỏi” được dịch theo nguyên văn, không có nghĩa người nôn ra mủ nên chờ tại nhà.
Giờ Sửu đến hết giờ Mão tương ứng khoảng 1 giờ đến 7 giờ sáng theo cách chia giờ truyền thống. Đây là quan niệm thời gian bệnh giải của cổ thư.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ HỢP BỆNH, TỊNH BỆNH 辨合病并病脉证并治篇
Thương hàn có chứng của sáu kinh, có mạch của sáu kinh. Nếu chứng và mạch rõ ràng, không xen lẫn, thì có thể xác định ngay là bệnh của kinh nào.
Nếu hai kinh, ba kinh cùng có bệnh, âm dương hỗn tạp, không thể gọi bằng tên một kinh; hoặc một kinh chưa hết bệnh, tà lại truyền sang kinh khác, hai kinh, ba kinh cùng bệnh mà không quy về một kinh, thì gọi là hợp bệnh.
Nếu hai kinh, ba kinh cùng bệnh, về sau quy tụ vào một kinh, chỉ còn kinh ấy mắc bệnh, thì gọi là tịnh bệnh.
Trong luận, hợp bệnh và tịnh bệnh tuy chỉ nêu các dương kinh, chưa nói đến âm kinh, nhưng dương kinh đã có hợp bệnh, tịnh bệnh thì có thể biết âm kinh cũng có.
Như bệnh thái dương mà mạch trái lại trầm, bệnh thiếu âm mà trái lại phát nhiệt, là thiếu âm và thái dương hợp bệnh.
Bệnh dương minh mà mạch trì, bệnh thái âm mà đau thực dữ dội, là thái âm và dương minh hợp bệnh.
Bệnh thiếu dương mà mạch tế, có quyết; bệnh quyết âm mà nôn, phát nhiệt, là quyết âm và thiếu dương hợp bệnh.
Những trường hợp ấy tuy không mang tên hợp bệnh nhưng thực sự có hợp bệnh.
Tam dương đều có chứng phát nhiệt, tam âm đều có chứng hạ lợi. Phát nhiệt mà hạ lợi là âm dương hợp bệnh.
Âm dương hợp bệnh, nếu dương thịnh thì thuộc dương kinh, hạ lợi là thực nhiệt. Đó là những trường hợp trong luận gọi là thái dương và dương minh, dương minh và thiếu dương, thái dương và thiếu dương hợp bệnh.
Nếu âm thịnh thì thuộc âm kinh, hạ lợi là hư hàn. Đó là những trường hợp thiếu âm hạ lợi mà trái lại phát nhiệt thì không chết; hoặc thiếu âm hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu, lý hàn ngoại nhiệt, không sợ lạnh mà mặt đỏ.
Dương hợp với dương, không hợp với âm, thành tam dương hợp bệnh, thì không hạ lợi mà tự ra mồ hôi, là chứng Bạch hổ thang.
Âm hợp với âm, không hợp với dương, thành tam âm hợp bệnh, thì không phát nhiệt mà nôn, hạ lợi, quyết nghịch, là chứng Tứ nghịch thang.
Tạng phủ con người nương gốc vào nhau, âm dương phối hợp. Tam dương đã có hợp bệnh, tịnh bệnh thì tam âm cũng có, không cần đợi nói mới biết.
ĐIỀU VĂN
Thái dương và dương minh hợp bệnh, ắt tự hạ lợi: Cát căn thang chủ trị.
Thái dương và dương minh hợp bệnh, không hạ lợi, chỉ nôn: Cát căn gia bán hạ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Một kinh chưa hết bệnh, tà lại truyền sang kinh khác; hai kinh, ba kinh cùng bệnh mà không quy về một kinh, gọi là hợp bệnh.
Thái dương và dương minh hợp bệnh nghĩa là các chứng thái dương như phát nhiệt, sợ lạnh, không có mồ hôi, cùng các chứng dương minh như phiền nhiệt, không ngủ được, đồng thời xuất hiện.
Khí biểu lý mất sự thăng giáng bình thường, nên không hạ lợi thì nôn lên trên.
Trị pháp chỉ cần trước hết giải biểu thái dương. Biểu giải thì lý dương minh tự hòa.
Nếu hạ lợi, nên dùng Cát căn thang giải biểu, thăng khí, hạ lợi tự có thể ngừng. Nếu nôn thì thêm Bán hạ, giải biểu, giáng khí, nôn tự có thể trừ.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Tà khí thịnh bên ngoài, dương không chủ được bên trong, nên lý khí không hòa.
Lý khí đi xuống mà không đi lên thì chỉ hạ lợi, không nôn. Lý khí nghịch lên mà không đi xuống thì chỉ nôn, không hạ lợi.
Vì vậy dùng Cát căn thang tán biểu tà, thêm Bán hạ để giáng khí nghịch.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Hợp bệnh” và “tịnh bệnh” ở đây được trình bày theo cách định nghĩa của tác giả: hợp bệnh là nhiều kinh cùng bệnh, chưa quy về một kinh; tịnh bệnh là về sau bệnh quy tụ vào một kinh. Bản dịch giữ cách phân biệt ấy xuyên suốt đoạn.
Đoạn này mới nêu chứng dùng Cát căn thang và Cát căn gia bán hạ thang, chưa có thành phần phương thuốc.
Trường Xuân biên soạn
CÁT CĂN THANG 葛根汤
Cát căn bốn lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 12 g), Ma hoàng bỏ đốt ba lạng (9 g), Quế chi hai lạng (6 g), Thược dược hai lạng (6 g), Cam thảo chích hai lạng (6 g), Sinh khương thái lát ba lạng (9 g), Đại táo bổ mười hai quả.
Bảy vị trên, cắt nhỏ. Dùng một đấu nước, trước sắc Ma hoàng và Cát căn, để nước giảm hai thăng, hớt bọt, cho các vị còn lại vào, sắc lấy ba thăng.
Uống ấm một thăng, đắp chăn để ra mồ hôi hơi nhẹ. Không cần húp cháo. Những việc điều dưỡng và kiêng kỵ còn lại theo phép dùng Quế chi thang.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Chữ khuyết trong “□咀” được hiểu là “㕮咀”, chỉ việc cắt nhỏ dược liệu để sắc.
Các lượng gam trong ngoặc chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải quy đổi trọng lượng cổ hoặc liều kê dùng. Lượng nước, cách uống và lấy mồ hôi được giữ theo nguyên văn.
Trường Xuân biên soạn
CÁT CĂN GIA BÁN HẠ THANG 葛根加半夏汤
Trong Cát căn thang, thêm Bán hạ nửa thăng. Những phần còn lại theo phép dùng Cát căn thang.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này tức Quế chi thang thêm Ma hoàng, Cát căn.
Ma hoàng giúp Quế chi phát hãn ở dinh vệ thái dương. Cát căn làm quân, phối hợp Quế chi để giải tà ở cơ biểu dương minh.
Không gọi là Quế chi thang gia Ma hoàng, Cát căn mà lấy Cát căn đặt tên, vì ý nghĩa chủ yếu ở dương minh, bởi nôn và hạ lợi phần nhiều thuộc dương minh.
Biểu của hai dương kinh đều cấp; nếu không uống ấm, đắp chăn lấy mồ hôi thì biểu chưa dễ giải.
Hoặc nôn, hoặc hạ lợi, lý đã mất hòa. Dù húp cháo, vị cũng không thể đưa tinh khí ra da lông, nên không cần húp cháo.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Lý Cảo xác định Cát căn là thuốc của kinh dương minh. Khiết Cổ nói: “Chưa vào dương minh thì không được dùng ngay.” Chẳng lẽ hai vị ấy chưa đọc sách Trọng Cảnh?
Điều cốt yếu là Cát căn và Quế chi đều có công dụng giải cơ, hòa lý. Vì vậy, có mồ hôi hay không có mồ hôi, hạ lợi hay không hạ lợi đều có thể dùng, khác với Ma hoàng chuyên phát biểu.
Uông Hổ nói: Ngoại đài phương nghị hỏi: Kinh nói hạ lợi không được phát hãn, phát hãn thì trướng đầy. Nay hạ lợi lại phát hãn là vì sao?
Đáp: Thiếu âm hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu là lý hư. Nếu lại phát hãn thì tỳ hư mà trướng.
Nay bệnh thái dương chưa hết, còn đầu đau, sợ gió lạnh và các biểu chứng khác, mạch vẫn mang tính phù; bệnh đã truyền vào dương minh, có khát, thân nóng, lại tự hạ lợi.
Phải dùng phương này phát tán biểu thái dương, vì trong phương có Cát căn trừ tà dương minh.
Vì vậy, các chứng phát nhiệt, kiêm bệnh ở lý mà mạch phù, phương này rất thích hợp.
ĐIỀU VĂN
Thái dương và dương minh hợp bệnh, suyễn mà ngực đầy, không được công hạ, nên dùng Ma hoàng thang.
CHÚ GIẢI
Thái dương, dương minh hợp bệnh mà không hạ lợi, không nôn, là lý khí đầy đủ, không chịu tà.
Nếu suyễn mà ngực đầy, là biểu tà mạnh, khí bít ở giữa ngực và phế.
Tà ở phần biểu phía trên, không phải kết hung, nên không được công hạ. Dùng Ma hoàng thang phát biểu, thông phế, suyễn và ngực đầy tự khỏi.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Hai kinh hợp bệnh đáng lẽ dùng thuốc của hai kinh, vì sao chỉ dùng Ma hoàng thang?
Bởi tà thái dương và dương minh hợp nhau, nếu công vị thì không nôn sẽ hạ lợi, nên dùng Cát căn thang.
Nay tà công phế, nên suyễn mà ngực đầy. Ma hoàng, Hạnh nhân là những vị chuyên chữa phế khí suyễn nghịch.
Ngụy Lệ Đồng nói: Hai kinh hợp bệnh, chỉ hiện chứng ở vùng ngực, phế, suyễn mà đầy, chính là biểu tà của hai kinh gây bệnh.
Không được nhận nhầm ngực cách thuộc lý mà tùy tiện công hạ, như dùng Đại hãm hung, Tiểu hãm hung.
ĐIỀU VĂN
Thái dương và thiếu dương hợp bệnh, tự hạ lợi, dùng Hoàng cầm thang. Nếu nôn, Hoàng cầm gia bán hạ sinh khương thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thái dương và thiếu dương hợp bệnh nghĩa là các chứng thái dương như phát nhiệt, sợ lạnh, cùng các chứng thiếu dương như hàn nhiệt qua lại, đồng thời xuất hiện.
Nếu biểu tà mạnh, khớp chân tay đau nhức, nên dùng Sài hồ quế chi thang để cùng giải biểu của hai kinh.
Nay lý nhiệt mạnh, tự hạ lợi, nên dùng Hoàng cầm thang thanh nhiệt, hòa lý.
Nếu nôn, thêm Bán hạ, Sinh khương, là trong phép thanh hòa có kiêm phép giáng.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói thái dương, thiếu dương hợp bệnh, hạ lợi, nên dùng phép hòa.
Nói thái dương thì vẫn còn biểu chứng. Nhưng đã hạ lợi, nhiệt vào lý đã rõ, nên không giải bên ngoài mà thanh bên trong.
Thành Vô Kỷ nói: Thái dương, dương minh hợp bệnh, hạ lợi là bệnh ở biểu, nên dùng Cát căn thang. Dương minh, thiếu dương hợp bệnh, hạ lợi là bệnh ở lý, có thể dùng Thừa khí thang.
Thái dương, thiếu dương hợp bệnh ở đây, hạ lợi là bệnh ở bán biểu bán lý, không thích hợp phát hãn hoặc công hạ, nên dùng Hoàng cầm, Thược dược để hòa giải.
Nôn là tà nghịch lên, nên thêm Bán hạ, Sinh khương để tán khí nghịch.
Uông Hổ nói: Thái dương, thiếu dương hợp bệnh đến mức hạ lợi, thì hàn tà ở biểu đã vào trong, hóa thành lý nhiệt.
Lý nhiệt chưa thành thực, nên dùng Hoàng cầm thang thanh lý nhiệt. Lý nhiệt được thanh thì tà ở biểu tự hòa.
Vì vậy, bệnh ở điều này không chỉ cần tránh Quế chi của thái dương, mà cũng không cần dùng Sài hồ của thiếu dương.
CÁC PHƯƠNG TRONG THIÊN NÀY — XUẤT XỨ ĐIỀU VĂN
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Bán hạ nửa thăng được giữ theo đơn vị dung tích cổ, không tự quy sang gam. Tên phương và phép gia thêm được giữ đúng bản gửi; phần phương giải chủ yếu bàn về nền phương Cát căn thang.
Trường Xuân biên soạn
HOÀNG CẦM THANG 黄芩汤
Hoàng cầm ba lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 9 g), Cam thảo chích hai lạng (6 g), Thược dược hai lạng (6 g), Đại táo bổ mười hai quả.
Bốn vị trên, dùng một đấu nước, sắc còn ba thăng, bỏ bã. Uống ấm một thăng mỗi lần, ban ngày hai lần, ban đêm một lần.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải quy đổi trọng lượng cổ hoặc liều kê dùng. Lượng nước và cách chia uống giữ theo nguyên văn.
Trường Xuân biên soạn
HOÀNG CẦM GIA BÁN HẠ SINH KHƯƠNG THANG 黄芩加半夏生姜汤
Trong Hoàng cầm thang, thêm Bán hạ nửa thăng, Sinh khương ba lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 9 g). Những phần còn lại theo phép dùng Hoàng cầm thang.
PHƯƠNG GIẢI
Lý nhiệt không hòa nên tự hạ lợi. Dùng Hoàng cầm thanh nhiệt, Cam thảo hòa trung; phối hợp Thược dược, Đại táo thì công dụng tăng thêm. Nhiệt được thanh, lý được hòa, hạ lợi có thể ngừng.
TẬP GIẢI
Kha Cầm nói: Vì nhiệt không ở bán biểu nên không dùng Sài hồ. Nhiệt đã vào bán lý nên lấy Hoàng cầm phối hợp Thược dược làm chủ.
Không có mạch vi nhược, vị hư thì không cần Nhân sâm. Nếu kiêm nôn, vẫn có thể thêm Bán hạ, Sinh khương.
ĐIỀU VĂN
Dương minh và thiếu dương hợp bệnh, ắt hạ lợi. Mạch không “phụ” thì thuận.
“Phụ” là thất thế; hai bên làm hại nhau gọi là phụ.
Mạch hoạt sác là có thức ăn lưu tích, nên công hạ, thích hợp Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Dương minh thuộc thổ, thiếu dương thuộc mộc. Hai kinh thiên về lý nên hợp bệnh ắt hạ lợi.
Mạch dương minh đại, mạch thiếu dương huyền. Có mạch đại huyền là mạch tương ứng với hai kinh, nên dùng Hoàng cầm thang thanh nhiệt, hòa thổ, đồng thời tiết mộc tà, hạ lợi tự ngừng.
Nếu mạch chỉ đại, không huyền, là thổ không chịu tà, bệnh dễ khỏi, gọi là thuận.
Nếu chỉ huyền, không đại, là mộc khắc thổ, bệnh khó chữa, gọi là phụ.
Nay mạch không đại, huyền mà hoạt sác, thì biết không phải mộc thổ làm hại nhau, mà là nhiệt lợi do thức ăn lưu tích. Vì vậy không dùng Hoàng cầm thang mà dùng Đại thừa khí thang công hạ.
Thái dương, dương minh hợp bệnh hạ lợi, biểu chứng nhiều nên dùng Cát căn thang phát biểu.
Dương minh, thiếu dương hợp bệnh hạ lợi, lý chứng nhiều nên dùng Đại thừa khí thang công hạ.
Thái dương, thiếu dương hợp bệnh hạ lợi, bán biểu bán lý nhiều nên dùng Hoàng cầm thang hòa giải.
Nếu không phải hợp bệnh, thì Quế chi thang, Ma hoàng thang phân biệt chủ trị biểu thái dương; Ngũ linh tán, Để đương thang phân biệt chủ trị lý thái dương.
Cát căn thang chủ trị biểu dương minh, ba phương Thừa khí chủ trị lý dương minh.
Tiểu sài hồ thang chủ trị biểu thiếu dương, Đại sài hồ thang chủ trị lý thiếu dương. Mỗi phương đều có nhiệm vụ riêng.
TẬP CHÚ
Trương Kiêm Thiện nói: Phàm hợp bệnh đều hạ lợi, lấy ngoại chứng để phân biệt.
Bệnh thái dương có đầu gáy đau, lưng eo cứng. Bệnh dương minh có mắt đau, mũi khô, không nằm ngủ được. Bệnh thiếu dương có ngực sườn đau, tai điếc.
Gặp chứng của hai kinh đồng thời xuất hiện mà hạ lợi thì gọi là hợp bệnh. Mỗi kinh chỉ cần hiện một hai chứng, không cần đầy đủ.
Lâm Lan nói: Đoạn này có ba tình trạng. Đại thừa khí thang chỉ chữa chứng mạch hoạt sác, có thức ăn lưu tích, không phải chữa luôn hai tình trạng phía trên.
Mạch không phụ, tuy hạ lợi nhưng chưa thuần huyền; điều văn không nêu Trị pháp.
Đào Hoa nói từng dùng Tiểu sài hồ thang thêm Cát căn, Bạch thược, hiệu quả dễ như nhặt cọng cỏ.
Phụ là mạch thuần huyền. Thổ bại, chỉ thấy mạch của tà khắc hại, không cần chữa nữa.
Tuy cùng là dương minh hợp bệnh, nhưng khác nhau giữa tà vào kinh và ở phủ. Sao có thể khi tà còn ở kinh đều quy về Thừa khí?
ĐIỀU VĂN
Tam dương hợp bệnh, mạch phù đại, lên ở bộ quan, chỉ muốn ngủ, nhắm mắt thì ra mồ hôi.
LỜI ÁN
Chữ “lên” trong “phù đại lên” nên là chữ “huyền”, mới phù hợp với mạch tam dương hợp bệnh trong luận.
Nếu là chữ “lên”, thì trong kinh luận chưa từng có lý hai bộ thốn chủ bệnh tam dương.
CHÚ GIẢI
Mạch phù đại huyền là mạch tam dương hợp bệnh.
Cả phù, đại, huyền đều thấy ở bộ quan, thì biết nhiệt tà tam dương đều tụ ở dương minh.
Nhiệt tụ dương minh đáng lẽ phiền, không ngủ được. Nay chỉ muốn ngủ là ngủ mê do nhiệt thịnh làm thần hôn. Ngủ mê tự nhiên nhắm mắt, nhiệt hun bốc thì mồ hôi tự ra.
Nếu chữa thích hợp, khiến tà trở về biểu mà giải thì tốt; nếu không, chưa thể đoán được.
Nên cân nhắc ba phương Sài hồ, Quế chi, Bạch hổ, chọn phối hợp theo tình trạng thích hợp.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch thái dương phù, dương minh đại, bộ quan là vị trí thiếu dương, nên gọi là tam dương hợp bệnh.
Ngụy Lệ Đồng nói: Mạch phù thuộc thái dương, đại thuộc dương minh; mạch dài, vươn lên bộ quan thì có thể biết là huyền.
Huyền lại thuộc thiếu dương. Tam dương cùng chịu tà nên mạch của ba kinh cùng hiện bệnh.
Xét kỹ chứng, chỉ muốn ngủ không phải thiếu âm mà là ngủ do dương thịnh, thần hôn.
Nhắm mắt thì ra mồ hôi là dương thắng, tranh đấu trong âm mà ra mồ hôi.
ĐIỀU VĂN
Tam dương hợp bệnh, bụng đầy, thân nặng, khó trở mình, miệng mất cảm giác, mặt như có cáu bẩn, nói sảng, tiểu tiện không tự chủ.
Phát hãn thì nói sảng; công hạ thì trán ra mồ hôi, tay chân nghịch lạnh.
Nếu tự ra mồ hôi, Bạch hổ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, nói rõ thêm chứng và cách chữa.
Tam dương hợp bệnh là thái dương, dương minh, thiếu dương cùng bệnh. Các chứng thái dương như đầu đau, phát nhiệt; dương minh như sợ nóng, không ngủ; thiếu dương như tai điếc, hàn nhiệt, đều có.
Thái dương chủ lưng, dương minh chủ bụng, thiếu dương chủ bên sườn. Nay toàn thân đều bị nhiệt tà tam dương làm khốn, nên thân nặng, khó trở mình.
Vị khai khiếu ở miệng, nhiệt tà công lên nên miệng mất cảm giác.
Dương minh chủ mặt, nhiệt tà hun bốc nên mặt như có cáu bẩn.
Nhiệt kết trong lý thì bụng đầy. Nhiệt thịnh ở vị nên nói sảng.
Nhiệt bức bàng quang thì tiểu tiện không tự chủ. Nhiệt hun cơ tấu thì tự ra mồ hôi.
Chứng tuy thuộc tam dương nhưng nhiệt đều tụ trong vị, nên chủ trị theo nhiệt chứng dương minh.
Nếu theo biểu thái dương mà phát hãn, tân dịch càng cạn, vị nhiệt càng sâu, nói sảng ắt tăng.
Nếu theo lý dương minh mà công hạ, âm càng tổn, dương không có nơi nương tựa mà tán, nên trán ra mồ hôi, chân tay lạnh.
Phải xét người chưa từng phát hãn, công hạ, thân nóng, tự ra mồ hôi, mới là chứng xác thực của dương minh. Nên dùng Bạch hổ thang thanh mạnh vị nhiệt, gấp cứu tân dịch để giữ âm.
TẬP CHÚ
Giang Hổ nói: Có người hỏi Bạch hổ thang vì sao giải được nhiệt tam dương?
Đáp: Bệnh đến mức tự ra mồ hôi thì tà thái dương, thiếu dương đều quy về dương minh. Sao không theo dương minh mà chuyên chữa?
Trịnh Trọng Quang nói: Tam dương hợp bệnh là biểu lý đều tổn thương.
Phát hãn thiên về công thái dương thì tà dồn vào dương minh, nói sảng càng nặng.
Công hạ thiên về chữa dương minh thì trán ra mồ hôi, mồ hôi không chảy thành dòng, tay chân quyết lạnh, ắt thành chứng mất dương.
Không thích hợp phát hãn hoặc công hạ, chỉ có Bạch hổ thang cùng giải nhiệt biểu lý dương minh.
Nếu không tự ra mồ hôi, biểu chưa giải, vẫn chưa thể áp dụng điều này. Nên tham khảo cùng chứng trúng nắng.
ĐIỀU VĂN
Hai dương kinh tịnh bệnh: thái dương mới mắc, phát hãn, nhưng mồ hôi lúc đầu ra chưa thấu, nhân đó chuyển thuộc dương minh, tiếp tục tự ra mồ hôi nhẹ, không sợ lạnh.
Nếu chứng thái dương chưa hết, không được công hạ; hạ là nghịch. Trường hợp này có thể phát hãn nhẹ.
Nếu mặt liên tục đỏ thuần, là dương khí uất ở biểu, nên giải, xông cho ra mồ hôi.
Nếu phát hãn chưa thấu, lượng mồ hôi quá ít, dương khí uất không thoát được, đáng ra mồ hôi mà không ra, người bệnh táo phiền, không biết đau ở đâu, lúc ở bụng, lúc ở tứ chi, ấn không tìm được chỗ đau; người ấy hơi thở ngắn, chỉ ngồi, là do mồ hôi ra chưa thấu.
Phát hãn lại thì khỏi. Vì sao biết mồ hôi chưa thấu? Vì mạch sáp.
LỜI ÁN
Hai chữ “xông cho” sau “nên giải” nên là hai chữ “bằng mồ hôi”, mới phù hợp văn nghĩa trên dưới.
CHÚ GIẢI
Một kinh chưa hết bệnh, tà lại truyền sang kinh khác, cùng bệnh rồi về sau quy về một kinh tự mắc bệnh, gọi là tịnh bệnh.
Hai dương là thái dương và dương minh.
Thái dương mới mắc, phát hãn nhưng chưa thấu, tà chưa hết chuyển thuộc dương minh.
Nếu tiếp tục tự ra mồ hôi nhẹ, không sợ lạnh mà sợ nóng, mới là chứng dương minh có thể công hạ.
Nếu không ra mồ hôi nhẹ mà sợ lạnh, thì biểu thái dương chưa hết, không được công hạ; hạ là nghịch.
Đã phát hãn mà biểu còn chưa hết, nên dùng Ma hoàng quế chi các bán thang hoặc Quế chi nhị việt tỳ nhất thang, phát hãn nhẹ để hòa biểu, bệnh tự có thể giải.
“Duyên duyên” là liên tục không ngừng. “Chính xích” là đỏ thuần, không lẫn màu khác, nghĩa là toàn mặt liên tục đỏ.
Do mồ hôi chưa thấu, dương khí uất không tuyên thoát, nên phiền táo, hơi thở ngắn, mạch sáp; không biết chỗ đau, lúc ở bụng, lúc ở tứ chi, tìm không thấy.
Đều do tà bít mạnh trong kinh, không có đường ra, chỉ ngồi vì mồ hôi chưa thấu.
Nên dùng Đại thanh long thang hoặc Cát căn thang phát hãn lại thì khỏi.
LỜI ÁN
Chứng mặt đỏ có nhiều loại.
Gò má đỏ do lao tổn, phát vào buổi chiều, là cốt chưng, âm hư.
Đỏ nổi do cách dương, kèm quyết, hạ lợi, mạch vi, là dương hư.
Màu đỏ sâu, đậm, kèm triều nhiệt, đại tiện cứng, là lý thực.
Màu đỏ nhạt, kèm sợ lạnh, không mồ hôi, là biểu thực.
Hơi thở ngắn, mạch sáp do nội nhân phần nhiều là khí huyết hư.
Hơi thở ngắn do ngoại nhân ắt có khí thô, là mồ hôi chưa thấu, tà bít, thúc ở ngực, không thể phân bố hơi thở. Không phải phát hãn quá mức làm tổn khí, khí thiếu không nối được hơi thở.
Mạch sáp do ngoại nhân ắt có lực, là mồ hôi chưa thấu, tà bít trệ, dinh vệ không lưu thông. Không phải phát hãn quá mức làm tổn dịch, dịch ít không nuôi được mạch đạo.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói: Vì bệnh thái dương nên phải phát hãn; vì bệnh dương minh nên phải phát hãn nhẹ.
Chữ “trước” có thứ tự rất rõ, là chỗ then chốt của Trọng Cảnh. Công hạ dùng Đại, Tiểu thừa khí; phát hãn dùng Ma hoàng và các phương tương tự.
Trình Ứng Mao nói: Thái dương đã chuyển thuộc dương minh, nên chữa theo dương minh.
Nhưng e trong lúc chuyển, biểu tà chưa hết, lý tà chưa sâu, hai tà cùng giữ nhau, trước sau xen hiện, gọi là tịnh bệnh.
Dù biểu ít, lý nhiều, vẫn là dương minh kiêm biểu.
Thái dương không nên có bụng đau. Vì tà không có đường ra, muốn công vào trong nên đau chợt ở đó mà vẫn không biết rõ chỗ.
Lâm Lan nói: Mồ hôi chưa thấu thì mạch ắt sáp. Không phát hãn lại, tà lấy đâu mà đi?
Chưa phát hãn là tịnh bệnh; đã phát hãn thì chuyển thuộc dương minh.
Chưa phát hãn là dương khí uất ở biểu; đã phát hãn mà chưa giải là mồ hôi chưa thấu.
Mồ hôi chưa thấu thì phải phát hãn lại. Đã chuyển thuộc thì phải công hạ. Chưa phát hãn thì có thể phát hãn nhẹ. Uất ở biểu thì có thể giải bằng mồ hôi.
Nguồn tà khác nhau, bệnh khác nhau, nên cách chữa cũng khác.
ĐIỀU VĂN
Hai dương kinh tịnh bệnh, chứng thái dương đã hết, chỉ phát triều nhiệt, tay chân ra mồ hôi dấp dính, đại tiện khó, nói sảng; công hạ thì khỏi, nên dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Hai dương tịnh bệnh là thái dương, dương minh cùng bệnh.
Chứng thái dương đã hết, hoàn toàn quy về dương minh, nên chỉ triều nhiệt, tay chân ra mồ hôi dấp dính, đại tiện khó, nói sảng.
Đều là chứng vị thực dương minh, nên công hạ thì khỏi, dùng Đại thừa khí thang.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Hai điều tịnh bệnh đều là thái dương, dương minh.
Điều trước mới vào dương minh, tà thái dương chưa hết, nên vẫn phát hãn.
Điều này đã vào dương minh, chứng thái dương hết, hoàn toàn quy về dương minh, nên công hạ.
Trình Tri nói: Tịnh bệnh là chứng một kinh nhiều, một kinh ít, có thế quy tụ.
Chứng thái dương hết, quy về dương minh, tay chân ra mồ hôi dấp dính là đại tiện đã cứng. Có thể dùng Đại thừa khí thang hạ vị nhiệt.
ĐIỀU VĂN
Thái dương và thiếu dương tịnh bệnh, đầu gáy cứng đau, hoặc choáng, hôn mạo, lúc giống kết hung, tâm hạ bĩ cứng, nên châm Đại chùy, Đệ nhất gian, Phế du, Can du.
Thận trọng, không được phát hãn. Phát hãn thì nói sảng.
Mạch huyền, năm sáu ngày nói sảng không ngừng, nên châm Kỳ môn.
CHÚ GIẢI
Thái dương, thiếu dương tịnh bệnh nên có đầu gáy cứng đau, hoặc choáng, hôn mạo, lúc giống kết hung, tâm hạ bĩ cứng.
Nói “hoặc”, nói “lúc giống” là hình trạng bệnh chưa xác định hai dương sẽ quy về đâu.
Bệnh trạng chưa định, không thể dùng thuốc; nên châm Phế du để tiết thái dương, vì thái dương thông với phế; châm Can du để tiết thiếu dương, vì can hợp với đởm.
Châm rồi chờ cơ chuyển biến.
Nếu không biết, thấy đầu gáy cứng đau cho là tà thái dương, mắt choáng, ngực đầy cho là tà thiếu dương rồi phát hãn, tà hai dương nhân táo vào vị, sinh nói sảng.
Nếu mạch trường đại thì vẫn thuận, có thể công hạ.
Nay mạch không đại mà huyền, năm sáu ngày nói sảng không ngừng, là thổ bệnh mà thấy mộc mạch, gọi là phụ. Phụ là tà khắc hại.
Phải thận trọng, không công hạ; nên châm Kỳ môn để trực tiếp tiết can.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Tịnh có nghĩa gần với hợp.
Hai bên cùng kiêm hợp, nhưng nặng nhẹ, nhiều ít khác nhau, gọi là tịnh.
Thiếu dương cách thái dương bởi dương minh, ở xa thái dương, nên chỉ kiêm tịnh.
Dụ Xương nói: Mạch thiếu dương liên lạc vùng sườn. Tà thái dương cùng nhập nên giống kết hung mà thực không phải.
Can hợp đởm, châm Can du để tiết đởm.
Bàng quang không hợp phế, nhưng phế chủ khí. Châm Phế du để thông khí thì khí hóa bàng quang vận hành, tà không thể lưu lại.
Phát hãn thì nói sảng, cùng ý mộc thịnh khắc thổ trong hợp bệnh.
Mạch huyền cũng là cách nói thiếu dương thắng, dương minh phụ trong hợp bệnh. Châm Kỳ môn để tiết mộc tà thịnh.
Lâm Lan nói: Đại chùy tức huyệt Bách lao, ở chỗ lõm trên đốt sống thứ nhất, chủ tiết các nhiệt khí trong ngực.
Đệ nhất gian nghi là Thương dương, ở phía trong ngón trỏ, chủ ngực khí đầy, bệnh nhiệt không ra mồ hôi.
Can du ở dưới đốt sống thứ chín, Phế du ở dưới đốt sống thứ ba, mỗi bên cách giữa cột sống hai tấc. Hai huyệt cùng chủ tiết nhiệt ngũ tạng.
Kỳ môn ở đầu hai xương sườn vùng dưới vú, chủ thương hàn, ngực phiền nhiệt, qua kinh mà không ra mồ hôi.
ĐIỀU VĂN
Thái dương, thiếu dương tịnh bệnh, tâm hạ cứng, cổ gáy cứng mà choáng, nên châm Đại chùy, Phế du, Can du; thận trọng, không công hạ.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, răn không được công hạ.
Thái dương, thiếu dương tịnh bệnh, tâm hạ cứng mà choáng thuộc thiếu dương; cổ gáy cứng thuộc thái dương.
Nên châm Phế du, Can du để tiết tà thái dương, thiếu dương, thận trọng không công hạ.
Nếu thấy tâm hạ cứng mà công hạ nhầm, ắt biến thành nghịch chứng.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Thận trọng không công hạ.
Công tà thiếu dương thì tà thái dương nhân hư vào lý, ắt thành kết hung.
Kinh nói: Thái dương, thiếu dương tịnh bệnh, trái lại công hạ, thành kết hung.
Trình Tri nói: Điều trên nói không được phát hãn, điều này nói không được công hạ.
Không phát hãn vì e nói sảng; không công hạ vì e kết hung.
Trình Ứng Mao nói: Tịnh bệnh này nêu tâm hạ cứng trước, cổ gáy cứng mà choáng sau, có vẻ vẫn công hạ được.
Không biết thiếu dương có điều cấm đối với ba phép; chỉ có thể châm, phải thận trọng không công hạ.
Uông Hổ nói: Một huyệt Đại chùy thực sự phối hợp thái dương, thiếu dương để cùng tiết tà.
Các nhà chú giải không làm rõ lý dùng châm, bỏ Đại chùy không bàn, là sai lầm rất lớn.
ĐIỀU VĂN
Thái dương, thiếu dương tịnh bệnh, trái lại công hạ, thành kết hung, tâm hạ cứng, hạ lợi không ngừng, nước uống không xuống, người bệnh tâm phiền.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, nói biến chứng do công hạ sai.
Thái dương, thiếu dương tịnh bệnh, không châm Phế du, Can du, lại công hạ, tà hai dương nhân hư hãm vào lý; lúc trước chỉ giống kết hung, nay thực thành kết hung.
Tâm hạ cứng, biến thành hạ lợi không ngừng, nước uống không vào.
Trên không vào, dưới luôn ra, trung tiêu trống rỗng, không có gì. Người bệnh tâm phiền, rối loạn, thành hoại chứng.
Dù có phép châm ở điều trước, cũng không còn chỗ dùng.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Đây là biến chứng công hạ sai trong hai dương tịnh bệnh.
Biểu tà thái dương nhân hư vào lý thì kết hung, tâm hạ cứng.
Tà bán lý thiếu dương nhân hư vào lý thì hạ lợi không ngừng.
Trên dưới cùng bệnh, dương minh ở giữa đến mức nước uống không vào, tâm phiền.
Dụ Xương nói: Tịnh bệnh, ngay khi chưa dùng sai phát hãn, công hạ, đã giống kết hung, tâm hạ bĩ cứng; huống chi lại công hạ sai?
Vì vậy, biến chứng so với công hạ sai ở riêng thái dương có lẽ còn nặng hơn.
Câu “người bệnh tâm phiền” có vẻ chưa nói hết. Kinh nói kết hung đủ chứng, táo phiền thì chết. Có lẽ điều này cũng muốn nói người bệnh tâm phiền thì chết chăng?
Uông Hổ nói: Bệnh thái dương ở kinh không được công hạ; bệnh thiếu dương, công hạ cũng thuộc điều cấm. Vì vậy nói công hạ là “trái lại”.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các chữ khuyết rõ nghĩa được phục hồi khi dịch: “ngực sườn”, “nói sảng”, “cứng”, “mồ hôi dấp dính”. Chữ “phụ” 負 được giữ để chỉ tình trạng một bên thất thế trong cách biện luận mộc khắc thổ.
Điều văn ghi “mạch phù đại, lên ở bộ quan”; lời án đề nghị sửa chữ “lên” thành “huyền”. Bản dịch giữ riêng điều văn và ý sửa. Tương tự, “xông cho” trong điều hai dương tịnh bệnh được lời án đề nghị sửa thành “bằng mồ hôi”.
Tên “Giang Hổ” được giữ theo chữ 江琥 trong bản gửi, không tự đổi thành Uông Hổ.
Các mô tả vị trí huyệt và việc đồng nhất Đại chùy với Bách lao, Đệ nhất gian với Thương dương là lời của tác giả cổ; không dùng đoạn này làm hướng dẫn xác định huyệt hoặc tự châm. Các phương thuốc, phép phát hãn và công hạ cũng cần được hiểu trong toàn bộ mạch chứng.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ LAO PHỤC, THỰC PHỤC, ÂM DƯƠNG DỊCH SAU KHI KHỎI BỆNH 辨差后劳复食复阴阳易病脉证并治篇
Thương hàn mới khỏi, do sinh hoạt, làm việc mệt nhọc mà bệnh tái phát, gọi là lao phục.
Gắng ăn cơm và thức ăn, khiến bệnh tái phát, gọi là thực phục.
Nam nữ giao hợp, người mới khỏi bệnh tự phát bệnh trở lại, gọi là phòng lao phục.
Nam nữ giao hợp, bệnh truyền đổi sang người kia, gọi là âm dương dịch: nam truyền sang nữ vốn không bệnh, nữ truyền sang nam vốn không bệnh, giống như trao đổi.
Theo cách giải thích của tác giả, người ấy mới khỏi, dư tà còn ẩn trong tạng phủ, chưa được giải hết, nên phạm điều kiêng thì bệnh tái phát.
Người học khi lâm chứng phải xét mạch chứng, phân biệt kỹ, thì việc chữa trị mới tránh sai lầm.
ĐIỀU VĂN
Sau khi bệnh nặng đã khỏi, bị lao phục: Chỉ thực chi tử thị thang chủ trị.
Nếu có thức ăn lưu tích, thêm Đại hoàng năm sáu miếng, mỗi miếng lớn như quân cờ.
CHÚ GIẢI
“Sau khi bệnh nặng đã khỏi” là nói thương hàn mới khỏi.
Lao phục là do sinh hoạt, làm việc mệt nhọc mà bệnh tái phát, không phải phòng lao phục. Nên dùng Chỉ thực chi tử thị thang chủ trị.
Đắp chăn giữ ấm, khiến ra mồ hôi hơi nhẹ thì tự khỏi. Không nhằm gây nôn, vì nhiệt không ở ngực mà ở kinh.
Nếu do ăn quá nhiều mà bệnh tái phát, gọi là thực phục, vì có thức ăn lưu tích. Nên dùng Chỉ thực chi tử thị thang thêm Đại hoàng để công hạ.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Lao phục thì nhiệt khí nổi vượt, dùng Chỉ thực chi tử thị thang để giải.
Thực phục thì vị có thức ăn lưu tích, thêm Đại hoàng để công hạ.
Vương Khẳng Đường nói: Tà của thương hàn từ ngoài vào; tà của lao phục từ trong phát ra.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Âm dương dịch” là bệnh danh và cách giải thích của cổ thư, được giữ để bảo tồn ý nghĩa văn bản; không tự đồng nhất với một bệnh lây truyền hiện đại.
Đại hoàng “năm sáu miếng lớn như quân cờ” là cách mô tả kích thước cổ, chưa đủ căn cứ quy sang gam. Đoạn này chưa nêu đầy đủ thành phần Chỉ thực chi tử thị thang.
Trường Xuân biên soạn
CHỈ THỰC CHI TỬ THỊ THANG 枳实栀子豉汤
Chỉ thực chích ba quả, Chi tử bổ mười bốn quả, Đậu thị bọc vải một thăng.
Ba vị trên, dùng bảy thăng nước tương trong, trước đun riêng nước còn bốn thăng. Cho Chỉ thực, Chi tử vào, sắc còn hai thăng. Thêm Đậu thị, đun thêm năm sáu lượt sôi, bỏ bã, chia uống ấm hai lần. Đắp chăn để ra mồ hôi hơi nhẹ.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này dùng bảy thăng nước tương trong, đun riêng còn bốn thăng, là muốn nước được nấu kỹ, có xu hướng đi xuống, không muốn bốc lên gây nôn.
Cho Đậu thị vào, đun năm sáu lượt sôi rồi bỏ bã ngay, là lấy khí thanh nhẹ do lên men để đi ra biểu, dễ lấy mồ hôi.
Bệnh thái dương dùng phương này để gây nôn; lao phục dùng để lấy mồ hôi.
Sự khéo léo của Trọng Cảnh trong dùng phương là dược liệu tuy giống nhau nhưng cách sắc khác nhau, nên cách sử dụng khác nhau. Từ đây có thể suy rộng.
TẬP GIẢI
Phương Hữu Chấp nói: Đại tà mới lui, khí huyết mới hư, sinh hoạt, làm việc mệt nhọc khiến dư nhiệt lại phát.
Dùng thuốc đắng lạnh để phát mồ hôi nhẹ, vì nhiệt tái phát do lao tổn không cùng loại với thực nhiệt lúc mới bệnh.
Phương dùng bảy thăng nước tương trong, đun riêng còn bốn thăng, hoàn toàn nhằm làm nước được nấu kỹ, hướng xuống, không bốc lên gây nôn.
Khác với phép gây nôn khi thân nóng sau công hạ trong thiên thái dương trung. Vì vậy mới đắp chăn để ra mồ hôi hơi nhẹ.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn đã khỏi, về sau lại phát nhiệt: Tiểu sài hồ thang chủ trị.
Mạch phù thì giải bằng phát hãn; mạch trầm thực thì giải bằng công hạ.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trước, nói rõ chứng và mạch để phân biệt cách chữa.
Thương hàn đã khỏi, sau lại phát nhiệt, tuy có lao phục, thực phục khác nhau, vẫn phải phân biệt trường hợp nên hòa, nên phát hãn hay nên công hạ.
Mạch phù, có biểu chứng, nên giải bằng phát hãn thì dùng Chỉ thực chi tử thị thang.
Mạch trầm, có lý chứng, nên giải bằng công hạ thì dùng Chỉ thực chi tử thị thang thêm Đại hoàng.
Không có biểu lý chứng, thuộc trường hợp nên hòa giải, thì dùng Tiểu sài hồ thang.
Theo chứng mà chữa mới là hợp phép.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này nêu phép lớn đối với bệnh tái phát do sau khi khỏi không thận trọng điều dưỡng.
Mạch phù là có cảm tà trở lại. Mạch trầm là ăn uống mất điều độ.
Ngụy Lệ Đồng nói: Sau bệnh nặng không nên phát hãn mạnh. Dụ Xương chú rằng dùng Chỉ thực chi tử thị thang để phát hãn nhẹ là đúng.
Sau bệnh nặng không nên công hạ mạnh. Dụ Xương chú rằng dùng Chỉ thực chi tử thị thang thêm Đại hoàng để công hạ nhẹ là đúng.
Tuy nhiên, cũng có những trường hợp không thể bao quát hết bằng cách ấy.
Khi dùng phép phát hãn, công hạ, luôn phải lưu ý người bệnh vừa qua bệnh nặng, để chữa được bệnh tái phát mà không gây trở ngại cho sự hồi phục sau bệnh nặng.
ĐIỀU VĂN
Sau khi bệnh nặng đã khỏi, từ thắt lưng trở xuống có thủy khí: Mẫu lệ trạch tả tán chủ trị.
CHÚ GIẢI
Sau khi thương hàn đã khỏi, từ thắt lưng trở xuống sưng phù là có thủy khí.
Nên dùng Mẫu lệ trạch tả tán để mạnh sức trục thủy. E chậm thì thủy thịnh, ắt phạm lên phần dương ở trên.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Sau bệnh nặng, khí tỳ vị hư, không thể chế ước thận thủy. Thủy tràn ở hạ tiêu nên từ thắt lưng trở xuống sưng phù.
Kim quỹ yếu lược nói: Phù từ thắt lưng trở xuống nên lợi tiểu tiện. Dùng Mẫu lệ trạch tả tán để lợi tiểu tiện, tán thủy là thích hợp.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Tiêu đề bản gửi viết “鼓”; bản dịch dùng “豉”, tương ứng với Đậu thị trong thành phần phương.
“Nước tương trong” dịch từ 清浆水, chỉ loại nước chua lên men dùng trong cổ phương, không phải nước tương dùng làm gia vị hiện nay. Các lượng thăng và số quả được giữ nguyên, không tự quy sang gam hoặc mililít.
Những giải thích về cách sắc để gây nôn hay lấy mồ hôi là quan điểm của các tác giả cổ. Đoạn này mới nêu chứng dùng Mẫu lệ trạch tả tán, chưa có thành phần phương thuốc.
Trường Xuân biên soạn
MẪU LỆ TRẠCH TẢ TÁN 牡蛎泽泻散
Mẫu lệ sao, Trạch tả, Qua lâu căn, Thục tất rửa bằng nước ấm cho hết mùi tanh, rễ Thương lục sao, Hải tảo rửa cho hết vị mặn, Khổ đình lịch sao; mỗi vị lượng bằng nhau.
Bảy vị trên, giã riêng, rây thành bột, rồi cho lại vào cối, nghiền trộn đều. Dùng nước cơm hòa uống một phương thốn chủy, ngày ba lần. Tiểu tiện thông lợi thì ngừng những lần uống sau.
PHƯƠNG GIẢI
Thủy đình bên trong, tràn ra ngoài thành phù. Phù từ thắt lưng trở lên nên phát hãn, như dùng Tiểu thanh long thang, Việt tỳ thang. Phù từ thắt lưng trở xuống nên lợi tiểu tiện, như phương này.
Dùng Mẫu lệ phá sự kết chắc của thủy; Trạch tả lợi thủy chứa; Hải tảo tán thủy tràn; Qua lâu căn tiêu phù do thủy.
Lại dùng Thục tất, Khổ đình lịch, rễ Thương lục, là những vị cay đắng, có độc, đánh thẳng vào nơi thủy tụ, mạnh sức trục thủy khí, khiến thủy theo đại tiện và tiểu tiện mà ra.
Phương này dùng cho người hình thể và khí lực còn thực thì phù có thể theo đó mà khỏi.
Nếu sau bệnh, thổ hư không chế được thủy, thận hư không hành được thủy, thì phải bàn theo cách khác, thận trọng không dùng phương này.
ĐIỀU VĂN
Sau khi bệnh nặng đã khỏi, thường khạc nhổ nước dãi, lâu ngày không dứt, trên ngực có hàn, nên dùng thuốc hoàn để ôn, thích hợp Lý trung hoàn.
CHÚ GIẢI
Sau bệnh nặng, thường khạc nhổ nước dãi, lâu không dứt, là vị hư hàn, không thể vận hóa tân dịch, tụ lại thành nước dãi.
Vì vậy, khạc nhổ kéo dài, không lúc nào ngừng. Nên dùng Lý trung hoàn ôn bổ vị thì tự có thể hết.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Sau bệnh, dương khí bất túc, vị hư hàn, không thu nạp được tân dịch, nên thường khạc nhổ nước dãi không dứt.
Phương Mẫu lệ trạch tả dùng dạng tán là muốn thuốc lưu ở phế mà đưa thủy xuống. Lý trung dùng dạng hoàn là muốn ôn vị, thu giữ nước dãi.
Dụ Xương nói: Tân dịch trong thân do vị hàn mà ngưng kết, thành nước dãi đục, lâu ngày không thanh. Người ấy ắt gầy sút, mất vẻ nhuận.
Vì vậy không dùng thuốc thang để gột mạnh, mà dùng thuốc hoàn chữa từ từ.
Trương Lộ nói: Sau khi thương hàn đã khỏi, thân thể hư thường còn dư nhiệt, nên kiêng ôn bổ.
Dù có người vốn bẩm hư hàn, cũng chỉ nên dùng Lý trung hoàn điều dưỡng, chưa từng tùy tiện dùng Quế chi, Phụ tử.
ĐIỀU VĂN
Sau khi thương hàn đã giải, người hư gầy, khí ít, khí nghịch muốn nôn: Trúc diệp thạch cao thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Sau khi thương hàn đã giải mà hư gầy, là hàn làm tổn hình thể. Khí ít là nhiệt làm tổn khí.
Khí nghịch muốn nôn là dư tà kèm thủy ẩm phạm vị.
Vì vậy nên dùng Trúc diệp thạch cao thang bổ hư, thanh nhiệt, giáng khí nghịch.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Sau bệnh, hư gầy, khí ít, tỳ vị chưa mạnh, thức ăn khó tiêu hóa, nên đàm ẩm dễ sinh. Thủy ẩm đình, khí nghịch, vì vậy muốn nôn.
Trình Tri nói: Sau khi thương hàn đã giải, tân dịch bất túc thì hư gầy; dư nhiệt chưa hết thì tổn khí.
Dùng Trúc diệp thạch cao thang để điều vị, trừ hư nhiệt.
Điều trước chữa hư hàn sau bệnh; điều này chữa hư nhiệt sau bệnh.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Mẫu lệ trạch tả tán chỉ ghi các vị bằng nhau, không có lượng cân cụ thể. “Phương thốn chủy” là dụng cụ đong bột thuốc cổ, không có khối lượng gam cố định, nên không tự thêm liều hiện đại.
Phương có Thục tất, Thương lục và các vị trục thủy mạnh; ngay phần phương giải cũng nhấn mạnh không dùng cho trường hợp hư sau bệnh. Đây là bản dịch cổ phương, không phải hướng dẫn tự chữa phù.
“Thường khạc nhổ nước dãi” dịch từ 喜唾, không mang nghĩa thích khạc nhổ. Đoạn này chưa nêu thành phần Trúc diệp thạch cao thang.
Trường Xuân biên soạn
TRÚC DIỆP THẠCH CAO THANG 竹叶石膏汤
Trúc diệp hai nắm, Thạch cao một cân, Bán hạ rửa nửa thăng, Nhân sâm hai lạng (lượng đối chiếu thu nhỏ: 6 g), Cam thảo chích hai lạng (6 g), gạo tẻ nửa thăng, Mạch đông bỏ lõi một thăng.
Bảy vị trên, dùng một đấu nước, sắc còn sáu thăng, bỏ bã. Cho gạo tẻ vào, nấu đến khi gạo chín, nước thuốc thành. Bỏ gạo, uống ấm một thăng mỗi lần, ngày ba lần.
PHƯƠNG GIẢI
Phương này tức Bạch hổ thang bỏ Tri mẫu, thêm Nhân sâm, Mạch đông, Bán hạ, Trúc diệp.
Từ phương đại hàn chuyển thành phương thanh bổ, đây là biến phương của Bạch hổ do Trọng Cảnh lập ra.
Kinh nói: “Hình thể bất túc thì dùng khí để ôn; tinh bất túc thì dùng vị để bổ.”
Vì vậy, dùng Nhân sâm, gạo tẻ bổ hình khí; phối hợp Trúc diệp, Thạch cao thanh vị nhiệt.
Thêm Mạch đông sinh tân; Bán hạ giáng nghịch, đồng thời trục đàm ẩm. Cam thảo bổ trung, lại điều hòa các vị thuốc.
ĐIỀU VĂN
Mạch bệnh đã giải mà lúc chiều tối hơi phiền, là vì bệnh mới khỏi, người khác cố cho ăn, khí tỳ vị còn yếu, không tiêu được thức ăn nên hơi phiền. Giảm thức ăn thì khỏi.
CHÚ GIẢI
“Mạch bệnh đã giải” nghĩa là các bệnh mạch đều đã hết.
Chỉ còn hơi phiền khi mặt trời ngả về Tây, vì bệnh mới khỏi, bị ép ăn quá sớm, vị khí còn yếu, không tiêu được thức ăn nên hơi phiền.
Không cần dùng thuốc, giảm thức ăn thì tự khỏi.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Cố cho ăn” nghĩa là ép người bệnh ăn. “Giảm” nghĩa là nên tiết chế, bớt đi.
Dụ Xương nói: Các nhà chú giải gắn chiều tối với giờ dương minh vượng, nên cho rằng giảm thức ăn là nên công hạ nhẹ.
Không biết điều này bàn chứng sau khi khỏi, không phải bàn chứng sáu kinh chuyển sang dương minh.
Chiều tối mang ý nghĩa Nội kinh nói mặt trời ngả về Tây, dương khí đã suy, nên không tiêu được thức ăn.
Không được viện điều thức ăn lưu tích ở trước mà tùy tiện dùng Đại hoàng, làm tổn thương nặng thêm tỳ vị.
Vương Hạc Điền nói: Điều này nói sau khi khỏi bị ép ăn, thành thực chứng trong hư.
Sau bệnh, sinh hoạt, ngồi nằm đều nên thuận theo tự nhiên, không được gượng ép. Gượng ép thì không đúng điều người bệnh muốn, trái tính mà bất an. Không chỉ riêng việc ăn.
ĐIỀU VĂN
Bệnh âm dương dịch sau thương hàn có thân nặng, khí ít, bụng dưới co thắt; hoặc kéo đến bộ phận sinh dục gây co rút; nhiệt xung lên ngực, đầu nặng không muốn ngẩng, mắt hoa, gối và cẳng chân co căng: Thiêu khố tán chủ trị.
CHÚ GIẢI
Sau khi thương hàn mới khỏi, nam nữ không thận trọng, giao hợp, rồi phát nhiệt, bệnh tái phát, gọi là phòng lao phục.
Nam dùng Lục vị địa hoàng thang, nữ dùng Tứ vật thang, tùy chứng gia giảm.
Nếu giao hợp, bệnh của nam truyền sang nữ, bệnh của nữ truyền sang nam, đổi sang nhau mà thành bệnh, gọi là âm dương dịch.
Các chứng thân nặng, khí ít, bụng dưới co đau, kéo đến bộ phận sinh dục, gối và cẳng chân co căng; hoặc nhiệt khí xung ngực, đầu nặng không muốn ngẩng, mắt hoa, đều được giải thích là dư độc nhân hư truyền đổi.
Nên dùng Thiêu khố tán chủ trị.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói: Phòng lao phục là mới khỏi, hoặc còn chưa khỏi, nam nữ giao hợp khiến bệnh tái phát. Nếu có chứng giống âm dương dịch thì chữa theo âm dương dịch.
Cũng có hàn nhiệt, nhiều mồ hôi, đầu nặng, mắt choáng, bụng co thắt, các khớp như rời rạc, kinh mạch yếu mềm, gân xương mềm yếu, không thể vận động, tinh tủy trống rỗng, tâm thần hoảng hốt, kéo dài nhiều tháng năm mới chết. Nên dùng Đương quy tứ nghịch thang.
Quyết thì thêm Phụ tử; hàn thì thêm Ngô thù du, Sinh khương để chữa.
Xét người sau khi khỏi, nam nữ giao hợp mà mắc bệnh, nếu không có chứng âm dương dịch nhưng có biểu chứng, không được chữa theo âm dương dịch; nên chữa theo phong hàn mắc sau phòng sự.
Các phép phát hãn, thổ, hạ đều không được tùy tiện dùng.
Dù có chứng nên phát hãn, nên thổ, thì phát hãn dùng Bổ trung ích khí thang thêm Ma hoàng, Quế chi để lấy mồ hôi nhẹ; quyết thì thêm Phụ tử bào chế.
Thổ thì dùng Bổ trung ích khí thang thêm Đạm đậu thị, kích thích gây nôn.
Đạt mức thích hợp thì ngừng. Luôn phải nhớ đây là người vừa qua bệnh.
Phương Hữu Chấp nói: Thương hàn ở đây bao gồm trúng phong.
“Dịch” mang nghĩa trao đổi, biến đổi. Bệnh nặng mới khỏi, khí huyết chưa phục, gượng giao hợp thì hai khí giao cảm, đổi sang nhau mà thành bệnh.
Thân nặng, khí ít là chân nguyên suy kiệt, mệt mỏi.
Bụng dưới co thắt, hoặc kéo đến bộ phận sinh dục gây co rút, là khí truyền đổi công vào trong.
Nhiệt xung ngực, đầu không muốn ngẩng, mắt hoa, là hư dương sinh nhiệt, hun lên trên.
Gối và cẳng chân co căng là mạch loạn, gân tổn thương.
Phần đáy quần gần bộ phận sinh dục là nơi hai khí âm dương tụ. Nam nữ dùng đổi cho nhau, là vật đều trở về gốc của nó.
Dụ Xương nói: Người mắc thương hàn, nhiệt độc chứa trong khí huyết thì dần được giải tán qua biểu lý. Riêng nhiệt độc chứa trong cốt tủy không có đường phát tiết.
Vì vậy, sau khi khỏi, giao hợp với người không bệnh, nam truyền sang nữ không bệnh, nữ truyền sang nam không bệnh, nên gọi là âm dương dịch, mang nghĩa trao đổi.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các lượng gam trong ngoặc chỉ là lượng đối chiếu theo tỷ lệ thu nhỏ, không phải quy đổi trọng lượng cổ hoặc liều kê dùng. Thạch cao một cân, Bán hạ, gạo và Mạch đông đo bằng thăng được giữ nguyên, không tự gán lượng hiện đại. Gạo được cho vào sau khi sắc và bỏ bã các vị thuốc.
Chữ “筋” trong lượng Thạch cao được hiểu là “斤”, tức cân. Tên “Thiêu khố tán” phục hồi từ chữ khuyết “烧□散”, căn cứ đoạn tập chú nói đến phần đáy quần; đoạn gửi chưa có phương thuốc đầy đủ.
“Âm dương dịch” và cơ chế “nhiệt độc truyền đổi qua giao hợp” là bệnh danh, quan niệm của cổ thư, không được xem là lời giải thích đã xác lập về bệnh lây truyền hiện đại. Các phép gây nôn và phương thuốc nêu trong tập chú được dịch để giữ nguyên văn, không phải hướng dẫn tự thực hiện.
Trường Xuân biên soạn
THIÊU KHỐ TÁN 烧裈散
Lấy phần đáy quần trong của phụ nữ, ở chỗ gần bộ phận kín, đốt thành tro.
Một thứ trên, dùng nước uống một phương thốn chủy, ngày ba lần. Tiểu tiện thông lợi, đầu bộ phận sinh dục hơi sưng, đó là dấu hiệu khỏi.
Nếu phụ nữ mắc bệnh thì lấy phần đáy quần của nam giới, đốt thành tro để uống.
PHƯƠNG GIẢI
Phần đáy quần của nam nữ là vật chứa chất đục, cũ bẩn. Đốt thành tro để dùng, lấy ý thông tán, cũng là ý nghĩa cùng khí tìm nhau.
Sau uống, hoặc ra mồ hôi, hoặc tiểu tiện thông lợi thì khỏi.
Đầu bộ phận sinh dục hơi sưng được giải thích là độc truyền đổi theo khiếu sinh dục mà ra, nên sưng.
ÂM THIẾT
垢 đọc như “cẩu”. 沸 đọc như “phất”. 郁 đọc như “uất”. 挛 đọc theo phiên thiết “lực toàn”, nghĩa là co rút. 胫 đọc theo “hồ định”, chỉ cẳng chân. Chữ khuyết đọc như “côn”, viết là 裈, cùng nghĩa với 裤, tức quần.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các chữ khuyết được phục hồi là 裈, chỉ quần trong; “裈裆” là phần đáy quần.
Đây là phương dân gian được ghi trong cổ thư, không phải hướng dẫn điều trị hiện nay. Không đốt quần áo lấy tro uống; lời giải thích về “độc truyền đổi” và dấu hiệu sưng được giữ như quan điểm lịch sử của tác giả.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ HOẠI BỆNH 辨坏病脉证并治篇
Hoại bệnh là bệnh biến thành do không nên phát hãn mà phát hãn, không nên thổ mà thổ, không nên hạ mà hạ; hoặc tuy nên dùng các phép ấy nhưng làm quá mức, hay bỏ lỡ thời điểm thích hợp. Đều do chữa trị không đúng mà thành hoại bệnh.
Trong tam âm, tam dương, các phép phát hãn, thổ, hạ, ôn châm, dùng lửa xông, chườm, cứu hoặc cưỡng ép lấy mồ hôi có thể gây các hoại bệnh.
Có trường hợp sau phát hãn mất dương, choáng, hôn mạo, run giật, mồ hôi vã không thu.
Có trường hợp sau công hạ trung tiêu hư, kết hung, tâm hạ bĩ cứng, hạ lợi không ngừng.
Có trường hợp sau thổ phiền loạn, bụng đầy; sau ôn châm mất huyết, kinh cuồng.
Nặng hơn có dương độc phát ban, cuồng loạn; âm táo khổ sở như muốn chết; thần hôn, nói sảng, lần áo, sờ giường.
Các điều luận bàn rải rác trong nhiều thiên, nay hợp lại thành một tập để tiện cho người học sau. Nếu còn sót, người có khả năng từ một điều suy ra ba điều sẽ bổ khuyết.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương ba ngày, đã phát hãn, hoặc thổ, hoặc hạ, hoặc ôn châm mà vẫn không giải, đó là hoại bệnh. Không thích hợp dùng Quế chi thang.
Xét mạch chứng, biết đã phạm nghịch nào, tùy chứng mà chữa.
CHÚ GIẢI
Bệnh thái dương ba ngày là lúc tà ở tam dương.
Nếu đã phát hãn, hoặc thổ, hoặc hạ, hoặc ôn châm, các phép đều đã thi hành mà bệnh vẫn không giải, thì là hoại bệnh do chữa trị không đúng.
Lúc này dù có biểu chứng, Quế chi thang cũng không thích hợp. Phải xét mạch chứng, biết đã dùng sai gây nghịch gì, rồi tùy chứng mà chữa, không được câu nệ phép có sẵn.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Đã không thể xác định bằng tên bệnh thông thường, cũng khó nêu một phép chữa cố định.
Vì vậy chỉ dạy ý nghĩa tinh tế của tùy cơ ứng biến. Lấy một nguyên tắc xuyên suốt, lời này đã nói hết.
Trình Tri nói: Bệnh ở thái dương, chữa không đúng liền thành hoại bệnh, nên lần chữa đầu phải thận trọng.
Không dùng Quế chi vì chứng Quế chi đã hết. Nếu chứng Quế chi vẫn còn thì không gọi là hoại bệnh.
Trình Ứng Mao nói: Sau phát hãn mất dương, động kinh, khát, táo, nói sảng; sau công hạ hư phiền, kết hung, bĩ khí; sau thổ nội phiền, bụng trướng đầy; sau ôn châm nôn máu, chảy máu mũi, kinh cuồng — các chứng xen xuất đều do phép chữa trước làm hỏng.
Người sau tuyệt đối không được chấp phép có sẵn để cứu nghịch.
Chứng trước tuy thuộc Quế chi, nhưng đã biến hoại thì Quế chi cũng không thích hợp. Phải xét mạch chứng, biết phạm nghịch nào, tùy chứng mà chữa, nhằm chuyển nghịch thành thuận.
Không tìm ra căn nguyên trước sau qua vọng, văn, vấn, thiết thì không thể tùy chứng dùng phép. “Tùy chứng chữa” không phải đau đầu thì chỉ chữa đầu.
Ngô Nhân Câu nói: Không được câu nệ ba ngày là biểu bệnh rồi dùng Quế chi. Phải căn cứ biến chứng hiện tại để cứu chữa.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương vốn không giải, chuyển vào thiếu dương, dưới sườn cứng đầy, nôn khan, không ăn được, hàn nhiệt qua lại; chưa từng thổ, hạ, mạch trầm khẩn, dùng Tiểu sài hồ thang.
Nếu đã thổ, hạ, phát hãn, ôn châm, nói sảng, chứng Sài hồ đã hết, đó là hoại bệnh. Biết phạm nghịch nào, dùng phép mà chữa.
LỜI ÁN
“Mạch trầm khẩn” nên là “mạch trầm huyền”.
Nếu trầm khẩn là hàn thực trong ngực, thuộc chứng nên thổ. Chỉ trầm huyền mới phù hợp ý nghĩa phía trên, nên có thể dùng Tiểu sài hồ thang.
CHÚ GIẢI
Bệnh thái dương không giải, có dưới sườn cứng đầy, nôn khan, không ăn được, hàn nhiệt qua lại, mạch trầm huyền, là tà chuyển vào thiếu dương.
Nếu chưa thổ, hạ, nên dùng Tiểu sài hồ thang giải tà bán biểu bán lý.
Nếu đã thổ, hạ, phát hãn, ôn châm, biểu lý đều hư, lại nói sảng, chứng Sài hồ hết, thì là hoại bệnh. Tiểu sài hồ thang cũng không thích hợp.
Phải xét đã phạm nghịch gì, tùy chứng dùng phép mà chữa.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Chuyển vào thiếu dương là chứng Sài hồ.
Đã thổ, hạ, phát hãn, ôn châm, không chỉ phạm ba điều cấm của thiếu dương, lại dùng ôn châm cưỡng bức, hao tổn tân dịch, vị khô, ắt nói sảng.
Chứng Sài hồ hết nghĩa là không còn dưới sườn cứng đầy, nôn khan, không ăn được, hàn nhiệt qua lại. Đó là hoại bệnh.
Thẩm Minh Tông nói: Thái dương không giải, truyền thiếu dương, dùng Tiểu sài hồ hòa giải là phép định.
Trái lại thổ, hạ, phát hãn, ôn châm, phạm điều cấm thiếu dương, tà nhiệt hãm vào dương minh nên nói sảng, đã thành hoại chứng.
Phải biết nói sảng là dương minh chịu bệnh, nên nhận ra nghịch ở dương minh mà chữa.
Nếu không nói sảng mà có hoại chứng của kinh khác, phải căn cứ chứng, mạch, dùng phép linh hoạt khác để chữa.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương trúng phong, dùng lửa cưỡng ép phát hãn. Phong tà bị lửa làm nóng, khí huyết tràn loạn, mất mức bình thường.
Hai dương cùng hun đốt, thân phát vàng. Dương thịnh thì muốn chảy máu mũi; âm hư thì tiểu tiện khó.
Âm dương đều hư kiệt, thân khô ráo. Chỉ đầu ra mồ hôi, đến ngang cổ thì dừng; bụng đầy, hơi suyễn, miệng khô, họng loét; hoặc không đại tiện.
Lâu thì nói sảng, nặng đến uế, tay chân táo động, vê áo, sờ giường.
Tiểu tiện thông lợi thì người ấy còn có thể chữa.
CHÚ GIẢI
Thái dương trúng phong, không dùng Quế chi thang phát hãn mà dùng lửa cưỡng ép, nên sinh các nghịch chứng.
Phong thuộc dương tà, gặp lửa càng nóng, khí huyết tràn loạn, mất mức bình thường.
Phong và hỏa đều dương, nên nói hai dương cùng hun đốt. Nhiệt hun, huyết ứ, hiện ra cơ biểu nên thân vàng.
Huyết bị nhiệt bức, nghịch lên, muốn chảy máu mũi. Âm hư, dịch cạn nên tiểu tiện khó.
Âm dương hư kiệt nên thân khô. Dương nhiệt hun đốt, âm dịch vượt lên, nên đầu ra mồ hôi đến ngang cổ thì dừng.
Nhiệt truyền thái âm nên bụng đầy, miệng ráo. Nhiệt truyền thiếu âm nên miệng khô, họng loét.
Nhiệt bít ngực, phế táo nên hơi suyễn. Nhiệt kết vị nên không đại tiện.
Càng lâu, nhiệt càng sâu, nên uế nghịch, nói sảng, thần minh hôn loạn, tay chân táo động, vê áo, sờ giường.
Các hoại chứng này, tìm nguồn đều do tà hỏa nghịch loạn, chân âm nhanh chóng mất, phần nhiều không chữa được.
Nhưng nếu tiểu tiện thông lợi, âm khí còn, thì vẫn có thể chữa. Sao không thận trọng ngay từ đầu?
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Nội kinh nói các chứng trướng, bụng lớn đều thuộc nhiệt. Bụng đầy, hơi suyễn là nhiệt khí uất bên trong.
Kinh nói hỏa khí phát bên trong, lên trên gây miệng khô, họng loét, là hỏa nhiệt hun lên.
Nhiệt khí ở trên, không xuống thì đại tiện không cứng. Nếu nhiệt xuống vị, hao tân dịch thì đại tiện cứng, nên nói hoặc không đại tiện.
Lâu thì vị táo nhiệt, ắt nói sảng.
Kinh nói bệnh sâu thì tiếng uế. Hỏa khí quá mạnh, chính khí nghịch loạn nên uế.
Kinh nói tứ chi là gốc của các dương. Dương thịnh thì động, nên tay chân táo động, vê áo, sờ giường.
Tiểu tiện thông lợi là âm chưa kiệt, còn có thể chữa.
Dụ Xương nói: Chứng này dương tà kèm hỏa nhiễu âm phận, làm mất âm, khác rất xa hai điều mất dương phía trước.
Xét các câu dương thịnh muốn chảy máu mũi, thân khô, thì biết nên nhanh chóng trừ dương tà để giữ chút âm còn lại.
Không được chấp câu “âm dương đều hư kiệt” mà bổ dương, làm hao âm.
Đầu ra mồ hôi là dương tà bít trên, không thông xuống âm, nên dưới cổ không ra mồ hôi.
Nếu chảy máu mũi, tà theo máu mũi giải, đầu cũng không còn mồ hôi. Nếu có mồ hôi thì tà theo mồ hôi giải, không chảy máu mũi.
Điều sau hỏa tà vào sâu, ắt đại tiện ra máu, cũng thân khô, không mồ hôi. Nếu có mồ hôi thì không đại tiện ra máu.
Đọc sách người xưa phải hiểu ý. Sao có lý đã được mồ hôi mà vẫn chảy máu mũi, đại tiện ra máu?
Ông lại nói: Trọng Cảnh lấy tiểu tiện thông lợi để phân biệt chân âm đã mất hay chưa, rất tinh tế.
Thủy từ nguồn cao đi xuống. Tiểu tiện thông lợi thì biết tân dịch chưa khô, phế khí chưa tuyệt.
Thận lấy bàng quang làm phủ. Tiểu tiện thông lợi thì biết khí hóa bàng quang vận hành, thận thủy chưa tuyệt.
Trình Ứng Mao nói: Các chứng trên đều là hình tượng tà hỏa nghịch loạn, chân âm nhanh chóng mất.
Tìm căn nguyên đều do khí huyết tràn loạn, mất mức bình thường. Phong tà bị lửa làm nóng, tác hại sao kể hết?
Lúc này muốn chữa phong thì hỏa sôi mạnh, muốn chữa hỏa thì phong tà bít giữ, chữa từ đâu?
Chỉ có phép lợi tiểu tiện, như Trư linh thang, có thể dẫn nhiệt, tư nhuận khô, khiến tiểu tiện thông. Tà thái dương cũng theo bàng quang mà ra, còn có thể chữa.
Nếu lợi mà không thông, hỏa không có đường ra thì nguy.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương, thầy thuốc phát hãn, rồi phát nhiệt, sợ lạnh; lại công hạ, tâm hạ bĩ, biểu lý đều hư, khí âm dương cùng kiệt.
Không có dương thì âm đơn độc, lại thêm châm kim nung nóng, gây phiền trong ngực.
Mặt xanh vàng, da co giật thì khó chữa. Nay mặt hơi vàng, tay chân ấm thì dễ khỏi.
CHÚ GIẢI
Thái dương biểu bệnh, thầy thuốc phát hãn quá mức, làm hư biểu; lại công hạ, làm hư lý.
Tuy biểu tà chưa hết, hãm vào lý thành bĩ, nhưng biểu lý đều hư, âm dương cùng kiệt, đã thành hoại chứng.
Không có dương thì âm không sinh; âm đơn độc thì dương không hóa.
Lại châm kim nung nóng, hỏa khí công vào trong, âm dương đều bệnh, nên ngực đầy, phiền, mặt xanh vàng, da co giật.
Chứng xen lẫn như vậy nên khó chữa.
Nếu mặt hơi vàng, không xanh; tay chân không quyết mà ấm, là khí âm dương chưa kiệt, nên nói dễ chữa.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Biểu nói theo phát hãn sai; lý nói theo công hạ sai, nên đều hư.
Âm chỉ lý, dương chỉ biểu. Không có dương là dương kiệt; âm đơn độc là bĩ.
Xanh vàng là màu tỳ chịu khắc hại. Hơi vàng là màu thổ hồi sinh. Tay chân ấm là dương khí trở về bốn đầu chi.
Đã nhiều lần chữa sai, lại có màu khắc hại, da co giật không yên, là chân âm của tỳ bại, nên khó chữa.
Nay thổ có màu hồi sinh, bốn đầu chi được ấm, dương của vị phục hồi, nên dễ khỏi.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch phù, tự ra mồ hôi, tiểu tiện nhiều lần, tâm phiền, hơi sợ lạnh, chân co rút.
Trái lại dùng Quế chi thang để công biểu, đó là sai. Uống vào liền quyết.
Họng khô, phiền táo, nôn nghịch, dùng Cam thảo can khương thang để phục hồi dương.
Nếu quyết hết, chân ấm, dùng tiếp Thược dược cam thảo thang, chân liền duỗi.
Nếu vị khí không hòa, nói sảng, dùng một ít Điều vị thừa khí thang.
Nếu phát hãn thêm, lại châm kim nung nóng, Tứ nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, mạch phù, tự ra mồ hôi là chứng trúng phong.
Tiểu tiện nhiều lần, tâm phiền là hư phiền, lý không có nhiệt.
Hơi sợ lạnh là biểu dương hư, không bảo vệ được. Chân co rút là biểu hàn thu dẫn, co căng.
Nên dùng Quế chi thang tăng Quế chi, thêm Phụ tử để ôn kinh, ngừng mồ hôi.
Nay trái lại dùng Quế chi thang công phát biểu, là sai lớn.
Uống xong liền quyết là dương theo mồ hôi mất. Họng khô là âm theo mồ hôi kiệt.
Phiền táo là dương mất nơi giữ. Nôn nghịch là âm ngăn cách, cự tuyệt.
Vì vậy dùng Cam thảo can khương thang để hòa hoãn âm, phục hồi dương.
Quyết hết, chân ấm là dương đã phục. Nên dùng tiếp Thược dược cam thảo thang điều âm, hòa dương, chân liền duỗi.
Nếu vị không hòa, nói sảng, biết tà đã chuyển dương minh. Dùng từng ít Điều vị thừa khí thang, khiến phân hơi mềm, vị hòa thì tự khỏi.
“Phát hãn thêm” nghĩa là không chỉ dùng nhầm Quế chi thang, còn dùng nhầm Ma hoàng thang.
Hoặc lại châm kim nung nóng để ép mồ hôi, khiến đủ chứng mất dương. Khi ấy Cam thảo can khương thang không chữa được, phải dùng Tứ nghịch thang gấp cứu dương.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Mạch phù, tự ra mồ hôi tuy giống chứng Quế chi, nhưng đầu gáy không đau, biết dương đã thiếu ở phần trên.
Sợ lạnh, chân co rút, biết âm tà lại phạm hạ tiêu.
Dương hư, âm thịnh, lý khí nghịch lên nên có tâm phiền. Lý âm công đến biểu dương, chỗ dễ nhầm chỉ ở chữ “phiền”.
Xét câu cuối: Nếu phát hãn thêm, lại châm kim nung nóng thì Tứ nghịch thang chủ trị.
Có thể thấy âm chứng không nhất thiết vốn do hàn trực trúng. Chữa sai một lần, hàn đã trúng ngay từ phép chữa.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Chứng giống Dương đán, theo phép chữa mà nặng thêm, quyết nghịch, họng khô, hai cẳng chân co căng, nói sảng.
Thầy nói đến nửa đêm tay chân sẽ ấm, hai chân sẽ duỗi. Sau đúng như lời thầy. Vì sao như vậy?
Đáp: Mạch thốn khẩu phù đại. Phù là phong, đại là hư. Phong gây nhiệt nhẹ, hư gây hai cẳng chân co rút.
Hình trạng bệnh giống Quế chi, nên thêm Phụ tử vào, tăng Quế chi để mồ hôi ra. Phụ tử ôn kinh vì mất dương.
Quyết nghịch, họng khô, phiền táo, dương minh nội kết, nói sảng, phiền loạn, lại uống Cam thảo can khương thang.
Đến nửa đêm dương khí trở lại, hai chân sẽ nóng. Cẳng chân còn hơi co căng, dùng tiếp Thược dược cam thảo thang thì chân mới duỗi.
Dùng Thừa khí thang khiến đại tiện hơi mềm thì nói sảng ngừng. Vì vậy biết bệnh có thể khỏi.
CHÚ GIẢI
Điều này đặt hỏi đáp để làm rõ điều trước.
Chứng Quế chi nên dùng Quế chi. Gặp thời tiết ấm nóng, hoặc người có nhiệt, dùng Dương đán thang, tức Quế chi thang thêm Hoàng cầm.
Gặp thời tiết lạnh, hoặc người có hàn, dùng Âm đán thang, tức Quế chi thang thêm Can khương.
“Chứng giống Dương đán” nghĩa là tâm phiền, có vẻ có nhiệt. “Theo phép chữa” nghĩa là theo phép dùng Dương đán thang.
Tâm phiền, tiểu tiện nhiều lần, họng khô, có vẻ Dương đán. Nhưng không xét chân co rút, hơi sợ lạnh là âm hàn, liền dùng Dương đán thang công biểu, là sai.
Vì vậy bệnh nặng thêm, các hoại chứng quyết nghịch, họng khô, hai cẳng chân co căng, nói sảng xuất hiện.
Thầy nói nửa đêm tay chân sẽ ấm, chân sẽ duỗi, rồi đúng như lời, là vì sao?
Chẩn mạch phù đại là phong hư, không phải hàn hư. Vì vậy biết dùng Quế chi chưa đủ chữa hàn, phải thêm Phụ tử ôn kinh.
Dù có dương minh nội kết, nói sảng, phiền loạn, cũng chưa lấy đó làm trọng tâm xử trí.
Dùng thêm Cam thảo can khương thang. Đến nửa đêm dương hồi, chân nóng, cẳng chân vẫn hơi co căng, dùng Thược dược cam thảo thang hòa âm, chân mới duỗi.
Sau đó dùng Thừa khí chữa dương minh nội kết, khiến phân hơi mềm, nói sảng ngừng, bệnh có thể khỏi.
Tất cả đều nhờ cứu chữa đúng phép.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Hoại bệnh” ở đây chỉ bệnh biến chứng sau chữa trị không thích hợp. Các chữ khuyết được phục hồi theo ngữ cảnh thành “bĩ cứng”, “nói sảng”, “da co giật”. “Uế” được giữ theo cách dùng của bản chú giải, liên quan đến tiếng và động tác nôn khan.
Điều văn ghi mạch “trầm khẩn”; lời án đề nghị sửa thành “trầm huyền”, và chú giải theo ý sửa. Định nghĩa Dương đán thang, Âm đán thang là cách giải thích của tác giả trong đoạn này.
Các lời tiên lượng và quan hệ giữa mồ hôi, chảy máu mũi, đại tiện ra máu được dịch như lập luận lịch sử của từng nhà chú giải. Không xem các dấu hiệu ấy là quy luật chắc chắn, hoặc dùng các phép hỏa, châm nóng, phát hãn, công hạ để tự cứu chữa.
Trường Xuân biên soạn
DƯƠNG ĐÁN THANG PHƯƠNG (BỔ SUNG)
阳旦汤方(补)
Quế chi ba tiền; Thược dược (sấy với rượu) hai tiền; Cam thảo (chích) hai tiền; Hoàng cầm (sao với rượu) ba tiền; Sinh khương ba lát; Đại táo (bẻ) hai quả.
Các vị trên sắc với nước, bỏ bã, uống ấm, không định giờ; ngày uống hai hoặc ba lần.
Bản phương thêm Can khương, gọi là Âm đán thang.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Nguyên văn dùng đơn vị “tiền”, khác với “lượng” trong các phương trước; giữ nguyên đơn vị để tránh quy đổi lẫn lộn. Bản bổ sung này không ghi lượng Can khương được thêm vào Âm đán thang.
Trường Xuân biên soạn
CAM THẢO CAN KHƯƠNG THANG PHƯƠNG
甘草干姜汤方
Cam thảo (chích) bốn lượng; Can khương (bào) hai lượng.
Hai vị trên dùng ba thăng nước, sắc còn một thăng năm hợp, bỏ bã, chia làm hai lần uống ấm.
Trường Xuân biên soạn
THƯỢC DƯỢC CAM THẢO THANG PHƯƠNG
芍药甘草汤方
Thược dược bốn lượng; Cam thảo (chích) bốn lượng.
Hai vị trên dùng ba thăng nước, sắc còn một thăng năm hợp, bỏ bã, chia làm hai lần uống ấm.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, sau khi dùng phép thổ và hạ, lại phát hãn, sinh hư phiền, mạch rất vi; đến tám, chín ngày, vùng tâm hạ bĩ cứng, dưới sườn đau, khí xông lên họng, hoa mắt, choáng váng, kinh mạch rung động, lâu ngày thành chứng nuy.
LỜI ÁN
Ba câu “đến tám, chín ngày, vùng tâm hạ bĩ cứng; dưới sườn đau; khí xông lên họng” không ăn khớp với ý nghĩa của phần trên và phần dưới, hẳn là đoạn văn bị đặt nhầm chỗ. Các nhà chú giải vì ba câu này mà diễn giải lan man, rời rạc, gượng ép.
Không biết rằng chứng này chủ yếu do ra mồ hôi quá nhiều, làm tổn thương nặng tân dịch mà thành. Nên dùng thuốc bổ khí, bổ huyết, ích gân, tráng cốt; phải qua thời gian dài, có khi đến một năm, mới có thể khỏi.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, sau khi thổ và hạ lại phát hãn, là điều trị không thích hợp, khiến dương khí và âm dịch đều hư.
Âm dịch hư nên sinh hư phiền; dương khí hư nên mạch vi. Dương khí suy vi, không thăng lên được, nên mắt hoa, đầu choáng; âm dịch hư, không nhu dưỡng được, nên kinh mạch rung động.
Dương khí và âm dịch hao tổn, lâu ngày toàn thân mất sự nuôi dưỡng, vì vậy sức yếu, gân mềm nhũn mà thành chứng nuy.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn sáu, bảy ngày, sau khi đại hạ, mạch thốn trầm mà trì, tay chân quyết nghịch, mạch ở bộ dưới không đến, họng không thông lợi, khạc ra mủ máu, tiêu chảy không ngừng, là chứng khó trị; Ma hoàng thăng ma thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn sáu, bảy ngày là lúc tà truyền vào quyết âm, quyết lạnh và phát nhiệt thay nhau thắng phục. Thầy thuốc không xét kỹ âm dương mà dùng phép đại hạ, khiến biến thành hoại chứng với trung tiêu hàn, phần dưới suy kiệt.
Trung tiêu hàn nên mạch thốn trầm trì, tay chân quyết nghịch; phần dưới suy kiệt nên mạch xích không đến, tiêu chảy không ngừng.
Trước khi dùng phép hạ, ở các kinh dương vẫn còn nhiệt tà ẩn tại biểu. Sau khi đại hạ, nhiệt ấy nhân chỗ hư mà hãm xuống, xâm phạm quyết âm ở trong. Kinh quyết âm theo vùng họng, xuyên qua cơ hoành, rót vào phế, nên họng không thông lợi, khạc ra mủ máu.
Đây là chứng âm dương xen lẫn, biểu lý hỗn tạp. Nếu ôn phần dưới thì sợ giúp nhiệt ở trên; nếu thanh phần trên thì càng làm trung tiêu thêm hàn. Vì vậy, Trọng Cảnh dùng phương này, chỉ rõ rằng âm dương xen lẫn là chứng khó trị, phải tìm trị pháp trong quan hệ biểu lý, trên dưới.
Dưới hàn, trên nhiệt, quả thật khó dùng phép ôn đơn thuần; nhưng lý hàn mà không có mồ hôi, vẫn nên giải biểu. Do đó dùng Ma hoàng thăng ma thang để giải biểu hòa lý, thanh trên ôn dưới, tùy chứng mà trị.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Đoạn này nói về chứng quyết nghịch do hạ nhầm mà biến thành. Phàm thương hàn có nhiệt thịnh thì âm tất hư. Sáu, bảy ngày tuy là lúc tà có thể truyền vào lý, nhưng nếu biểu chứng vẫn còn mà đại hạ thì âm bị tổn thương, dương cũng hãm xuống.
Mạch thốn trầm trì, tay chân quyết lạnh, tiêu chảy không ngừng là dương bị tổn thương, khí hãm vào trong. Mạch ở bộ dưới không đến, họng không thông lợi, nôn ra mủ máu là âm bị tổn thương, nhiệt bức ở trong.
Một lần hạ nhầm vừa thương dương, lại thương âm, nên khó trị. Dùng Ma hoàng thăng ma thang để thăng dương, điều hòa phần dưới, thanh nhiệt, tư âm. Nhiệt tà truyền kinh từ ngoài vào trong thì vẫn nên đưa từ trong ra ngoài, vì vậy nói: “Ra mồ hôi thì khỏi.”
Dụ Xương nói: Mạch thốn trầm mà trì rõ ràng là do dương tà rời phần dương, đi vào phần âm, không thể xem giống với dương khí suy vi.
Vì vậy, dù tay chân quyết lạnh, mạch ở bộ dưới không đến, tiêu chảy không ngừng, vẫn biết không phải thuần âm, hoàn toàn không có dương. Huống chi họng không thông lợi, khạc ra mủ máu, lại là dấu hiệu dương tà kết với âm mà nghịch lên.
Cho nên Trọng Cảnh đặc biệt đưa dương tà ra khỏi phần âm; khi ra được mồ hôi thì tà khí hỗn tạp đều được giải.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các chữ khuyết được phục hồi theo ngữ cảnh: “tâm hạ bĩ cứng”, “dưới sườn đau”. “Nuy” chỉ tình trạng gân cơ mềm yếu, vận động suy giảm.
Ý kiến cho rằng ba câu bị đặt nhầm chỗ là nhận định của tác giả phần lời án. Trình Tri và Dụ Xương cũng giải thích bệnh cơ khác nhau; bản dịch giữ riêng từng ý kiến.
Trường Xuân biên soạn
MA HOÀNG THĂNG MA THANG PHƯƠNG
麻黄升麻汤方
Ma hoàng (bỏ đốt) hai lượng rưỡi; Thăng ma một lượng một phân; Đương quy một lượng một phân; Tri mẫu mười tám thù; Hoàng cầm mười tám thù; Uy nhuy mười tám thù; Thạch cao (đập vụn, bọc trong vải) sáu thù; Bạch truật sáu thù; Can khương sáu thù; Thược dược sáu thù; Thiên đông (bỏ lõi) sáu thù; Quế chi sáu thù; Phục linh sáu thù; Cam thảo (chích) sáu thù.
Mười bốn vị trên dùng một đấu nước. Trước tiên đun Ma hoàng sôi một hoặc hai lần, vớt bọt nổi, cho các vị còn lại vào, sắc còn ba thăng, bỏ bã, chia làm ba lần uống ấm. Khoảng cách giữa các lần uống bằng thời gian nấu chín ba thăng gạo, uống hết cả ba phần. Ra mồ hôi thì khỏi.
PHƯƠNG GIẢI
Dưới hàn, trên nhiệt mà không có biểu chứng thì nên lấy Hoàng liên thang làm phép điều trị. Nay có biểu chứng, vì vậy lại lập phương này, để chỉ rõ cách tùy chứng mà cân nhắc, điều chỉnh.
Thăng ma, Uy nhuy, Hoàng cầm, Thạch cao, Tri mẫu, Thiên đông là những vị thăng cử, đi lên, thanh nhiệt; dùng để tránh tác động vào phần hàn ở dưới, đồng thời tư dưỡng phần trên.
Ma hoàng, Quế chi, Can khương, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo là những vị cay ngọt, đi ra ngoài, ôn tán; dùng để tránh làm tăng nhiệt ở trên, đồng thời điều hòa bên trong.
Chia làm ba lần uống ấm cho hết, ra mồ hôi thì khỏi: dụng ý là dùng thuốc thong thả để không tổn thương chính khí, đồng thời giải tà thấu triệt, trừ tà cho hết.
Tuy mạch thốn trầm trì, mạch xích không đến; tuy tay chân quyết nghịch, tiêu chảy không ngừng, nhưng xét đến căn nguyên thì không phải thuần là âm hàn. Vì vậy còn kèm họng đau, khạc ra mủ máu. Đây là bệnh hàn nhiệt hỗn tạp, âm dương xen lẫn, đều do đại hạ làm hao tổn trung khí mà biến thành.
Cho nên Trọng Cảnh dùng thang này, lấy trừ tà làm chính; tà được trừ thì chính khí tự yên.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn tám, chín ngày, dùng phép hạ, sau đó ngực đầy, phiền, dễ kinh sợ, tiểu tiện không lợi, nói sảng, toàn thân nặng nề, không thể trở mình, Sài hồ gia long cốt mẫu lệ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn tám, chín ngày, tà chưa giải, biểu tà chưa hết thì không được dùng phép hạ. Nếu hạ, tà nhân chỗ hư mà hãm vào trong.
Tà ở phần trên, nhẹ thì ngực đầy, nặng thì kết hung. Ngực đầy là nhiệt vào ngực, khiến khí bị bế tắc.
Tà ở phần giữa, nhẹ thì phiền và kinh sợ, nặng thì hôn mê, cuồng loạn. Phiền, kinh sợ, nói sảng là nhiệt xâm phạm tâm, khiến thần không yên.
Tà ở phần dưới, nhẹ thì tiểu tiện không lợi, nặng thì bụng dưới đầy đau. Tiểu tiện không lợi là nhiệt lưu ở hạ tiêu, làm đường nước bị trở ngại.
Tà bế tắc cả tam tiêu thì dinh vệ không lưu hành; nước không có đường thoát, thấm ra cơ thể ở ngoài, vì vậy toàn thân nặng nề, không thể trở mình.
Dùng Sài hồ gia long cốt mẫu lệ thang chủ trị, đại ý là hòa giải, trấn giữ, công và bổ cùng dùng.
LỜI ÁN
Đây là chứng thân nặng do thấp nhiệt ở kinh dương. Nếu cho là tân dịch mất, huyết sáp, dương khí không thể tuyên bố, hoặc thân nặng do thấp hàn ở kinh âm thì sai.
Hàn thấp làm thân nặng, dùng Chân vũ thang, Quế chi phụ tử thang, vì không khát, trong lý không có nhiệt. Nhiệt thấp làm thân nặng, dùng Bạch hổ thang, Sài hồ gia long cốt mẫu lệ thang, vì có phiền và nhiệt ở vị.
Thân nặng do phong thấp, phong ôn cũng không ngoài việc kiêm hàn hoặc kiêm nhiệt. Vì vậy, trong thang này dùng Phục linh, Bán hạ, Đại hoàng làm thuốc phụ trợ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Ngực đầy là do sau khi hạ, bên trong hư, nhiệt tà bên ngoài vào lý, cùng thủy ẩm kết tụ lên vùng cách mô, vì vậy sinh phiền.
Kinh sợ làm tổn thương tâm; tâm tàng thần, nằm ở vùng cách mô. Chính khí hư, tà khí thắng nên thần không yên.
Toàn thân nặng nề, không thể trở mình là vì thương hàn vốn làm toàn thân đau nhức; tân dịch hao mất, huyết sáp, lưu hành không lợi, vì vậy biến thành trì trệ, nặng nề rất rõ.
Trình Tri nói: Sau khi hạ mà tâm phiền, bụng đầy, dùng Chi tử, Hậu phác điều trị, vì tà vào bụng. Sau khi hạ mà ngực đầy, phiền, kinh sợ, dùng Long cốt, Mẫu lệ điều trị, vì tà vào tâm.
Do dùng lửa cưỡng bức phát hãn mà sinh phiền, kinh sợ, dùng Quế chi phối Long cốt, Mẫu lệ, để thu hồi tâm dương đang thoát ra ngoài. Do dùng phép hạ mà sinh phiền, kinh sợ, dùng Sài hồ phối Long cốt, Mẫu lệ, để giải sự bế tắc của tâm dương ở trong.
Đại hãm hung và Tiểu hãm hung được phân biệt theo vị trí cao thấp, mức độ hoãn cấp. Các thang tả tâm được phân biệt theo hàn nhiệt, hư thực.
Bán hạ, Phục linh trị đàm; Hoàng cầm, Hoàng liên giáng nghịch; Chi tử, Đậu thị dùng phép thổ để giải hư phiền; Nhân sâm, Phụ tử hồi phục dương khí hư. Những trị pháp chủ yếu sau khi hạ đều đã đầy đủ ở đây.
Dụ Xương nói: Đến tám, chín ngày, đã qua thời kỳ truyền kinh mới dùng phép hạ, có thể nói là thận trọng rồi! Nhưng ai biết ngoại tà chưa hết, nhân chỗ hư mà hãm vào trong. Tà còn ở khoảng biểu lý mà tai hại đã đến thần minh. Đến lúc này muốn cứu vãn tình thế, như vá trời, nâng mặt trời, há còn dễ dàng sao?
Trương Lộ nói: Đây là lý chứng của thiếu dương; các nhà chú giải cho là bệnh ở tâm kinh thì sai.
Thiếu dương có ba điều cấm, không thể tùy tiện vi phạm. Dù đã đến tám, chín ngày, qua thời kỳ truyền kinh, dùng phép hạ vẫn khiến tà khí xâm phạm bên trong, vị thổ bị tổn thương, đởm mộc mất sự nuôi dưỡng, đàm tụ ở trên cách mô, nên sinh những biến chứng như vậy.
Vì thế lấy Tiểu sài hồ thang hòa giải trong ngoài, trục ẩm, thông tân dịch; thêm Long cốt, Mẫu lệ để trấn định chứng kinh sợ ở can đởm.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Uy nhuy là tên cổ của Ngọc trúc. Các đơn vị lượng, phân, thù được giữ nguyên theo bản nguồn; “phân” trong phương cổ này không nên hiểu theo đơn vị phân của hệ cân hiện nay.
Chữ khuyết trong điều văn được phục hồi thành “nói sảng”. Cụm “以□烦胃有热也” còn một chữ khuyết chưa xác định chắc chắn; bản dịch giữ phần nghĩa rõ là “có phiền và nhiệt ở vị”.
Các giải thích về nguyên nhân thân nặng và vị trí bệnh khác nhau giữa những nhà chú giải được giữ riêng theo nguyên văn.
Trường Xuân biên soạn
SÀI HỒ GIA LONG CỐT MẪU LỆ THANG PHƯƠNG
柴胡加龙骨牡蛎汤方
Sài hồ bốn lượng; Bán hạ (rửa) hai hợp; Long cốt một lượng rưỡi; Nhân sâm một lượng rưỡi; Đại hoàng hai lượng; Mẫu lệ một lượng rưỡi; Phục linh một lượng rưỡi; Duyên đan một lượng rưỡi; Quế chi một lượng rưỡi; Sinh khương một lượng rưỡi; Đại táo (bẻ) hai quả.
Mười một vị trên dùng tám thăng nước, sắc còn bốn thăng. Cho Đại hoàng đã cắt thành miếng như quân cờ vào, đun thêm một hoặc hai lần sôi, bỏ bã, uống ấm một thăng.
PHƯƠNG GIẢI
Chứng này do tà khí âm dương xen lẫn; phương này cũng phối hợp các thuốc công và bổ.
Sài hồ, Quế chi giải biểu tà chưa hết; Đại hoàng công lý nhiệt đã hãm vào trong; Nhân sâm, Sinh khương, Đại táo bổ hư, hòa vị; Phục linh, Bán hạ lợi thủy, giáng nghịch. Long cốt, Mẫu lệ, Duyên đan có tính sáp, chất nặng, dùng để trấn kinh, thu giữ tâm khí, an định thần minh.
Đó là dùng thuốc phối hợp nhiều mặt để trị bệnh có âm dương hỗn tạp.
ĐIỀU VĂN
Người vốn hay ra mồ hôi, nếu lại phát hãn mạnh, tất sinh tinh thần hoảng hốt, tâm trí rối loạn; sau khi tiểu tiện, bộ phận sinh dục đau. Cho dùng Vũ dư lương hoàn.
LỜI ÁN
Vũ dư lương hoàn là thuốc sáp lỵ, không phù hợp với chứng này. Năm chữ “cho dùng Vũ dư lương hoàn” là phần văn thừa.
CHÚ GIẢI
“Hãn gia” là người bình thường vốn hay ra mồ hôi. “Trùng phát hãn” ở đây nghĩa là phát hãn mạnh.
Tâm chủ huyết, mồ hôi là dịch của tâm. Phát hãn mạnh khiến huyết dịch tổn thương nhiều, tâm mất chỗ nương tựa, nên tinh thần hoảng hốt, tâm chí không yên.
Tân dịch ở phần dưới khô kiệt, tông cân mất sự nuôi dưỡng, nên sau khi tiểu tiện, dương vật đau.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Tâm chủ huyết, tàng thần. Mồ hôi ra nhiều thì huyết hư, nơi cư trú của thần trở nên trống rỗng. Tinh thần hoảng hốt, tâm trí rối loạn là vì nơi cư trú trống rỗng, thần bị phân tán.
“Âm” ở đây chỉ bộ phận sinh dục, thuộc tông cân. Đau là do tân dịch khô kiệt, mất sự nuôi dưỡng.
Trình Ứng Mao nói: Tâm chủ huyết, mồ hôi là dịch của tâm. Người bình thường vốn ra mồ hôi nhiều thì có thể biết tâm hư, huyết ít.
Lại phát hãn mạnh khiến tâm mất sự nuôi dưỡng, thần hoảng hốt, thường hồi hộp, bồn chồn; đó là ý nghĩa của chữ “loạn”.
Tiểu trường và tâm có quan hệ biểu lý. Tâm dịch hư thì nước ở tiểu trường cũng khô kiệt, nên sau khi tiểu tiện, bộ phận sinh dục đau.
ĐIỀU VĂN
Người vốn hay chảy máu mũi không được phát hãn. Nếu phát hãn, tất vùng trán lõm xuống, mạch căng gấp, mắt nhìn thẳng, không thể chớp, không ngủ được.
CHÚ GIẢI
“Nục gia” ở đây bao gồm cả người nôn ra máu. Phàm người chảy máu mũi, nôn ra máu, âm khí hao mất đột ngột; nếu lại phát hãn, mồ hôi ra khiến tân dịch khô kiệt, các mạch mất sự nuôi dưỡng, thì vùng góc trán lõm xuống. Mạch ở đó bị nhiệt nung đốt nên căng và gấp.
“Mắt nhìn thẳng” là mắt trừng, nhãn cầu không chuyển động. “Không thể chớp” là mí mắt không khép được. Những hiện tượng này đều do nhiệt nung đốt các mạch, làm chúng co rút.
Không ngủ được là vì dương khí không thể đi vào phần âm.
Các biểu hiện trên đều là nguy chứng dương thịnh, âm suy. Ai có thể cho rằng người chảy máu mũi được tùy tiện phát hãn?
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Mắt nhờ huyết mà nhìn được; mồ hôi thuộc huyết dịch. Người chảy máu mũi vốn đã tổn thương khí thanh dương, nếu lại phát hãn thì vùng trán tất lõm xuống, là biểu hiện thượng tiêu khô kiệt.
Các mạch đều liên hệ với mắt. Gân mạch căng gấp thì mắt trừng lên, không thể khép; mắt không khép thì không ngủ được.
Thương hàn phát phiền, mắt nhắm, sắp chảy máu mũi thì dùng Ma hoàng thang phát hãn. Còn đoạn này nói về người thường xuyên mất máu, răn không được phát hãn, vì sẽ khiến tình trạng hư càng thêm hư.
ĐIỀU VĂN
Người đã mất máu không được phát hãn. Nếu phát hãn thì rét run, thân mình rung động.
CHÚ GIẢI
Phàm sau khi mất máu, huyết khí chưa hồi phục, thuộc người hư do mất máu, đều không được phát hãn.
Lúc đầu, mất máu có thể thuộc dương nhiệt; nhưng sau khi huyết đã mất, nhiệt theo huyết mà đi, nhiệt đã giảm, còn khí cũng theo huyết mà hao mất, nên dương khí cũng nguy.
Nếu lại phát hãn thì dương khí suy vi, không đủ sức chống đỡ, vì vậy thân lạnh, run cầm cập, rung động liên tục là điều tất nhiên.
Phát hãn ở người âm hư thì mồ hôi ra làm vong âm, như phát hãn khi vừa nôn ra máu hoặc chảy máu mũi dữ dội, nên xuất hiện những chứng vong âm như không chớp mắt được, không ngủ được.
Phát hãn ở người dương hư thì mồ hôi ra làm vong dương, như phát hãn ở người hư sau mất máu, nên xuất hiện những chứng vong dương như rét run, thân mình rung động.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mất máu thì âm đã hư; phát hãn lại làm hao mất dương, nên rét run, thân mình rung động.
Trình Ứng Mao nói: Mất máu làm âm hư, dương đã mất chỗ nương tựa. Nếu phát hãn thì dương thoát ra ngoài, nên rét run, rung động; đó là âm dương đều kiệt.
Phàm gặp chứng đáng phát hãn, vẫn phải chú ý đến dinh huyết của các kinh âm, như trường hợp này.
Ngụy Lệ Đồng nói: Đợi mồ hôi ra, dương hao mất rồi mới cứu dương, sao bằng cứu âm trước khi mồ hôi ra để giữ dương, không để phát sinh vong dương do phát hãn?
ĐIỀU VĂN
Người họng khô ráo không được phát hãn.
CHÚ GIẢI
Họng khô ráo là tân dịch không đủ. Lại phát hãn thì tân dịch càng khô kiệt, vì vậy phải kiêng.
Dù có chứng đáng phát hãn, cũng không được phát hãn.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Họng khô ráo là tân dịch vốn thiếu, căn nguyên ở thận thủy không đủ, vì mạch thiếu âm theo vùng họng. Phát hãn thì tân dịch càng hao mất.
Trình Ứng Mao nói: Phàm gặp chứng có thể phát hãn, phải chú ý đến tân dịch của thượng tiêu, như trường hợp này.
Trương Lộ nói: Điều này và chứng bế tắc trong họng có vẻ giống nhau nhưng thực ra khác. Điều này răn phát hãn làm hao đoạt tân dịch của dương minh; điều kia răn phát hãn làm hao đoạt huyết của thiếu âm.
ĐIỀU VĂN
Người mắc chứng lâm không được phát hãn. Nếu phát hãn thì tiểu ra máu.
CHÚ GIẢI
“Lâm gia” là người có thấp nhiệt tích ở bàng quang, tiểu tiện khó, đau rát.
Nếu phát hãn, thấp theo mồ hôi mà đi, nhiệt tất lưu lại riêng, thủy phủ thiếu nước, nhiệt bức huyết của bản kinh đi ra theo tiểu tiện.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Bàng quang có lý nhiệt thì sinh chứng lâm. Lại phát hãn khiến bàng quang càng khô táo, nên tiểu ra máu.
ĐIỀU VĂN
Người mắc sang thương, dù thân thể đau nhức, cũng không được phát hãn. Nếu phát hãn thì sinh chứng kinh.
CHÚ GIẢI
Sang thương mới phát, độc nhiệt chưa thành, theo phép có thể phát hãn để tán tà. Nhưng sau khi đã vỡ, khí huyết bị tổn thương, dù có thân đau và biểu chứng đáng phát hãn, cũng không được phát hãn.
Sợ rằng mồ hôi ra khiến dinh vệ càng hư, ngoại phong nhân đó xâm nhập. Dù không bị ngoại phong, gân mất tân dịch nuôi dưỡng cũng tất khiến cổ gáy cứng, thân ưỡn ngửa, thành chứng kinh.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Thân đau nhức là chứng hàn thương dinh, vốn nên phát hãn. Nhưng người mắc sang thương, cơ biểu vốn hư, dinh huyết âm thầm hao tổn; lại phát hãn thì bên ngoài phong tà thừa hư xâm nhập, bên trong huyết không nuôi dưỡng, tất khiến cổ gáy cứng, thân ưỡn ngửa mà thành chứng kinh. Chứng kinh cũng thuộc bệnh của bàng quang.
ĐIỀU VĂN
Người mắc thái dương thương hàn, dùng ôn châm tất kinh sợ. Dùng kim nung nóng để làm ra mồ hôi, chỗ châm bị lạnh, nổi cục sưng đỏ, tất phát chứng bôn đồn, khí từ bụng dưới xông lên tâm.
Trước tiên cứu trên mỗi cục sưng một tráng, rồi cho dùng Quế chi gia quế thang, tăng thêm Quế chi.
CHÚ GIẢI
“Thái dương thương hàn, dùng ôn châm tất kinh sợ” nghĩa là người mắc thương hàn đột nhiên bị dùng ôn châm thì trong lòng sợ hãi, tất kinh sợ; không phải nói sau khi ôn châm nhất định phát sinh bệnh kinh sợ.
“Thiêu châm” tức là ôn châm. Dùng kim nung nóng để lấy mồ hôi cũng là phép phát hãn, nhưng chỗ châm phải tránh lạnh.
Nếu không cẩn thận, bên ngoài bị hàn tà xâm nhập, hỏa bị uất trong mạch, huyết không lưu hành, tất kết thành cục sưng đỏ nổi lên.
Lửa của ôn châm đã làm phát cục sưng đỏ, lại bị hàn xâm nhập, nên chẳng những tà không giải mà còn dẫn thêm âm tà.
Khi châm, tâm đã bị kinh sợ, vì vậy thận âm nhân lúc tâm hư mà xâm lấn tâm dương ở trên, phát thành chứng bôn đồn.
Bôn đồn là tà của thận âm; biểu hiện là khí từ bụng dưới xông lên tâm.
Trước tiên cứu trên mỗi cục sưng một tráng để trừ hàn tà bên ngoài, sau đó cho dùng Quế chi gia quế thang. Tăng thêm Quế chi là để đánh dẹp thận tà ở trong.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Duyên đan là chế phẩm chứa chì, có độc tính; thành phần này được giữ để phản ánh nguyên phương cổ, không dùng làm hướng dẫn tự chế hoặc uống thuốc hiện nay.
Nhận định “cho dùng Vũ dư lương hoàn” là văn thừa thuộc ý kiến của tác giả lời án. “Chứng kinh” trong đoạn sang thương chỉ tình trạng co cứng, cổ gáy cứng, thân ưỡn ngửa; khác với “kinh sợ”. “Một tráng” là một đơn vị cứu bằng ngải theo cách dùng cổ.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI GIA QUẾ THANG PHƯƠNG
桂枝加桂汤方
Trong phương Quế chi thang, thêm Quế chi hai lượng, thành năm lượng. Các vị còn lại và cách dùng theo phép của Quế chi thang.
TẬP GIẢI
Từ Bân nói: Đây là phong tà ở thái dương, do dùng kim nung nóng làm ra mồ hôi, rồi lại cảm hàn. Tà từ bàng quang, là phủ của thái dương, xâm nhập vào thận tạng có quan hệ tương hợp, phát thành chứng bôn đồn. Vì vậy vẫn theo phép của thái dương, dùng toàn phương Quế chi thang.
Tăng thêm Quế chi để bên trong tiết âm khí, đồng thời xua ngoại tà.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương, dùng lửa hun mà không ra mồ hôi, người bệnh tất táo động. Đến kỳ kinh bệnh vẫn không giải, tất đại tiện ra máu, gọi là hỏa tà.
CHÚ GIẢI
Hun bằng lửa là phép cưỡng bức phát hãn thời cổ, tức như cách dùng giường sưởi nóng, đắp ấm để lấy mồ hôi.
Bệnh thái dương, dùng lửa hun mà không ra mồ hôi, người bệnh tất nội nhiệt, táo động dữ dội, âm dịch càng tổn thương. Dương không có âm để phối hợp thì không thể hóa sinh mồ hôi, vì vậy bệnh chẳng những không giải mà còn nặng thêm.
Hỏa xâm nhập phần âm, làm tổn thương âm lạc, bức huyết đi xuống, nên tất đại tiện ra máu.
Gọi là “hỏa tà” để chỉ rõ phải trị hỏa tà, không chỉ nhằm trị việc đại tiện ra máu.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Táo” là tay chân cử động gấp gáp. Chữ “đáo” có nghĩa như “trái lại”, tức chỉ táo động, rối loạn mà bệnh trái lại không giải.
Mồ hôi là dịch của huyết. Huyết gặp nhiệt thì vận hành; hỏa có tính đại nhiệt, đã không ra được mồ hôi thì huyết tất tràn ra ngoài đường mạch, vì vậy tất đại tiện ra máu.
Trình Ứng Mao nói: Bệnh thái dương dùng lửa hun để lấy mồ hôi mà cuối cùng không ra mồ hôi, có thể biết tân dịch của người ấy vốn ít. Dương không có âm thì không thể hóa sinh mồ hôi.
Âm hư lại bị lửa tác động, nhiệt không có đường thoát, nên người bệnh táo động, không yên.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù, nhiệt rất thịnh, lại dùng phép cứu. Đây vốn là thực chứng, đem thực chứng trị theo phép dành cho hư chứng. Nhiệt nhân lửa mà động, nên họng khô, nôn ra máu.
CHÚ GIẢI
Mạch phù, nhiệt rất thịnh là thực nhiệt ở biểu, không có lý do dùng phép cứu mà lại cứu.
“Đây là thực chứng” có nghĩa là đã lầm thực thành hư. Vì vậy nhiệt nhân lửa mà động, thế nhiệt bốc mạnh, tất khiến họng khô, nôn ra máu.
Điều trước là hỏa làm tổn thương phần âm, bức huyết đi xuống nên đại tiện ra máu. Điều này là hỏa làm tổn thương phần dương, bức huyết đi lên nên nôn ra máu.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Biểu thực có nhiệt, lầm là hư hàn mà dùng phép cứu, nhiệt không có đường tiết, nhân lửa mà động, tự nhiên công vào trong.
Tà bó ở ngoài, hỏa công ở trong, phế kim bị tổn thương, nên họng khô, nôn ra máu.
Uông Hổ nói: Biểu có phong nhiệt mà lại cứu, đó là đem thực chứng trị như hư chứng.
ĐIỀU VĂN
Mạch vi sác rất không nên cứu. Nếu nhân lửa mà sinh tà thì thành phiền nghịch, làm hư càng hư, thực càng thực, huyết hao tán trong mạch.
Hỏa khí tuy nhỏ nhưng sức công vào trong mạnh, làm cháy khô xương, tổn thương gân, huyết khó hồi phục.
CHÚ GIẢI
Mạch vi sác là dấu hiệu âm hư, huyết ít, nhất định không được cứu. Nếu cứu nhầm, lửa ngải công vào trong, gây phiền, gây nghịch.
“Phiền” là âm bị dương quấy nhiễu. “Nghịch” là làm hư càng hư, thực càng thực.
Âm vốn hư, thêm lửa thì càng hư, gọi là “truy hư”. Dương vốn thực, thêm lửa thì càng thực, gọi là “trục thực”.
Huyết đã hao tán; khí của lửa ngải trong mạch tuy nhỏ nhưng sức công vào trong mạnh, nên làm cháy khô xương, tổn thương gân, huyết khó hồi phục.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Mạch vi mà sác là dấu hiệu âm hư, nhiều nhiệt. Lại cứu thì phần hư càng hư, phần nhiệt càng nhiệt, không gây tổn hại nghiêm trọng thì không dừng.
Trình Ứng Mao nói: Người huyết ít, âm hư, mạch hiện vi sác càng không được cứu, vì huyết có nhiệm vụ nhu dưỡng, làm nhuận gân xương.
Nếu mất sự nhu dưỡng ấy thì nơi hỏa đến, xương tất khô cháy, gân tất tổn thương. Bên trong âm bị thương, huyết không khỏi hao tán trong kinh mạch.
ĐIỀU VĂN
Dinh khí suy vi, nếu dùng thêm kim nung nóng thì huyết lưu lại, không vận hành, lại phát nhiệt, táo phiền.
CHÚ GIẢI
Dinh khí suy vi là dinh huyết hư suy. Dinh huyết đã hư suy, nếu dùng nhầm kim nung nóng thì dinh huyết khô cạn, đình lưu, không thể vận hành.
Đâu chỉ làm cháy khô xương, tổn thương gân mà thôi! Vì vậy lại phát nhiệt, táo phiền.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Đoạn này nói dinh khí suy vi thì kỵ dùng kim nung nóng. Âm hư sinh nội nhiệt; nếu dùng kim nung nóng để trợ dương thì hai thứ nhiệt hợp lại, dinh huyết không vận hành, tất bên ngoài phát nhiệt thêm, bên trong phiền táo.
Đường Bất Nham nói: Ban đầu, huyết tuy còn lưu hành yếu ớt nhưng bị kim nung nóng bức ép; về sau, huyết đình lưu, không vận hành, là do kim nung nóng làm huyết khô kiệt.
Trương Lộ nói: Hỏa là dương tà, tất làm tổn thương âm huyết. Trị chứng này phải lấy cứu âm làm chính.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù, nên dùng phép phát hãn để giải. Nếu dùng lửa cứu, tà không có đường ra, nhân lửa mà thịnh; từ thắt lưng trở xuống tất nặng nề, tê trở, gọi là hỏa nghịch.
CHÚ GIẢI
Mạch phù là biểu tà, nên dùng phép phát hãn để giải. Dùng nhầm lửa cứu làm tổn thương huyết dịch, không thể hóa sinh mồ hôi, trái lại khiến biểu tà không có đường ra, tà nhân lửa mà thịnh.
Nếu bên ngoài không cháy khô xương, tổn thương gân, bên trong không nôn ra máu, chảy máu mũi hoặc đại tiện ra máu, mà phát bệnh nặng nề, tê trở từ thắt lưng trở xuống, thì người ấy tất vốn có thấp tà ở dưới, vì vậy bệnh theo thấp mà hóa.
“Nặng” là nặng trệ, bám chặt, không di chuyển.
Không chỉ gọi là chứng tý, vì đây không phải chứng tý do phong, hàn, thấp, mà do hỏa gây nghịch, trên dưới không giao thông, nên gọi là hỏa nghịch.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Tý là bệnh thuộc thấp. Do dùng hỏa điều trị nghịch, hỏa tà cùng dương tà nghịch lên, dương không thông xuống, âm không thực hiện được chức năng, khí hóa không vận hành, nước không tiết ra được, nên thấp bám ở phần dưới cơ thể, gây nặng nề, tê trở.
Trình Ứng Mao nói: Mạch phù là bệnh ở biểu, nên giải bằng phát hãn. Dùng lửa cứu mà không ra mồ hôi thì tà không có đường thoát, nhân lửa mà thịnh.
Dù không làm cháy khô xương, tổn thương gân, hỏa vẫn ngăn trở tà, âm khí dần khô kiệt. Hạ tiêu là nơi dinh huyết làm nhiệm vụ; dinh khí kiệt, không vận hành, tất gây nặng trệ mà thành tý, gọi là hỏa nghịch.
Đó là chỉ rõ muốn trị chứng tý này thì trước tiên nên trị hỏa.
ĐIỀU VĂN
Bệnh trạng giống thương hàn, nhưng mạch không huyền khẩn mà nhược. Mạch nhược thì tất khát; bị dùng lửa thì tất nói sảng.
Người có mạch nhược, phát nhiệt, mạch phù, khi giải bệnh nên làm ra mồ hôi, ra mồ hôi thì khỏi.
LỜI ÁN
Ba chữ “nhược” đều nên là chữ “sác”. Nếu là “nhược” thì nhiệt từ đâu mà có? Không những ý văn không ăn khớp, mà trong luận cũng không có cách nói như vậy.
CHÚ GIẢI
“Bệnh trạng giống thương hàn” là nói hình trạng của bệnh giống thương hàn, nhưng mạch không huyền khẩn mà sác. Sác là nhiệt.
Mạch phù sác là nhiệt ở biểu, thuộc chứng thái dương; mạch trầm sác là nhiệt ở lý, thuộc chứng dương minh.
Mạch sác biểu thị nhiệt. Nhiệt vào dương minh nên tất khát. Nếu bị dùng lửa cưỡng bức phát hãn thì nhiệt càng thịnh, nên tất nói sảng.
Bệnh có mạch sác tuy đều phát nhiệt, nhưng cách điều trị có khác nhau.
Nếu mạch phù sác, phát nhiệt thì nên giải bằng phát hãn; ra mồ hôi có thể khỏi, dùng Đại thanh long thang.
Nếu mạch trầm sác, phát nhiệt thì nên giải bằng phép hạ; hạ có thể khỏi, dùng Điều vị thừa khí thang.
Nếu mạch sác, không có biểu chứng hoặc lý chứng rõ rệt, chỉ phát nhiệt, khát, nói sảng thì không được phát hãn hoặc công hạ; nên dùng Bạch hổ thang, Hoàng liên giải độc thang để thanh nhiệt.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch phù, thầy thuốc dùng lửa bức ép lấy mồ hôi, gây vong dương, tất kinh cuồng, đứng dậy hoặc nằm xuống đều không yên. Quế chi khứ thược dược gia Thục tất Long cốt Mẫu lệ cứu nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, mạch phù, thầy thuốc không dùng thuốc Ma hoàng, Quế chi mà dùng lửa cưỡng bức lấy mồ hôi. Mồ hôi ra quá mức gây vong dương, nên xuất hiện kinh cuồng, đứng nằm không yên.
Đó là do dùng lửa sai phép, nhiệt khí xâm phạm tâm, lại làm tân dịch hao thoát nhiều, thần minh mất chỗ nương tựa.
Không dùng các phương Phụ tử, Tứ nghịch là vì đây thuộc vong dương do dùng lửa cưỡng bức phát hãn.
Nên dùng Quế chi thang bỏ Thược dược, thêm Thục tất, Long cốt, Mẫu lệ để cứu nghịch.
Bỏ Thược dược vì sợ tính âm của vị này làm chậm trệ, đồng thời kiềm chế Quế chi, khiến thuốc không thể nhanh chóng đi ra ngoài, trái với dụng ý cứu cấp.
Huống chi đã thêm Long cốt, Mẫu lệ để giữ lại phần đang thoát, cũng không cần tính chua thu liễm của Thược dược.
Thục tất khí hàn, vị đắng; hàn có thể thắng nhiệt, đắng có thể giáng nghịch. Hỏa tà rối loạn, nghịch hành, nên cần dùng vị này.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Trong thiên trước, uống nhầm Đại thanh long thang, sinh quyết nghịch, gân rung, cơ giật mà vong dương, là do mồ hôi ra nhiều, nên dùng Chân vũ thang cứu trị.
Ở đây, vong dương do lửa bức ép là thần của nguyên dương trong tâm bị lửa cưỡng bức, khiến bay vượt, tán loạn, nên kinh cuồng, đứng nằm không yên.
Gặp chứng như vậy, chỉ chậm một chút thì dù có thần đan cũng khó cứu vãn, nên dùng thang này cứu trị.
Dương thần tán loạn thì phải tìm cách cứu ở phần dương. Quế chi thang là phương thuộc dương, nhưng phải bỏ tính âm thu liễm của Thược dược mới có thể nhanh chóng đi đến phần dương.
Thêm Thục tất vì tính của vị này rất cấp; lại thêm Long cốt, Mẫu lệ, là những vật có hình chất thuộc xương và vỏ, dùng như thuyền bè để chở thần trở về nơi cư trú.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Thanh huyết” trong đoạn này được dịch là đại tiện ra máu. Chữ khuyết “□語” được phục hồi thành “nói sảng”; “肉□” thành “cơ giật”. Một chữ khuyết trong lời Trình Ứng Mao về chứng tý được dịch theo nghĩa chung là “nặng trệ”.
Việc đổi ba chữ “nhược” thành “sác” là ý kiến hiệu đính của tác giả lời án; điều văn vẫn giữ cách đọc của bản nguồn, còn chú giải theo cách hiệu đính ấy.
Các phép hun lửa, kim nung nóng và cách giải thích “cháy khô xương” được giữ theo văn cổ. Thục tất có độc tính, không dùng những mô tả này làm hướng dẫn tự điều trị.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI KHỨ THƯỢC DƯỢC GIA THỤC TẤT LONG CỐT MẪU LỆ CỨU NGHỊCH THANG PHƯƠNG
桂枝去芍药加蜀漆龙骨牡蛎救逆汤方
Quế chi ba lượng; Cam thảo (chích) hai lượng; Sinh khương (thái) ba lượng; Mẫu lệ (rang) năm lượng; Long cốt bốn lượng; Đại táo (bẻ) mười hai quả; Thục tất (rửa bỏ phần chân) ba lượng.
Các vị trên tán thành bột. Dùng một đấu hai thăng nước, trước tiên đun Thục tất, cho nước giảm hai thăng, rồi cho các vị còn lại vào, sắc còn ba thăng, bỏ bã, uống ấm.
ĐIỀU VĂN
Hỏa nghịch, lại dùng phép hạ, do kim nung nóng mà sinh phiền táo, Quế chi cam thảo long cốt mẫu lệ thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
“Hỏa nghịch” là các biến chứng do dùng lửa cưỡng bức lấy mồ hôi. Hỏa nghịch trong điều này do hỏa châm gây nên.
Dùng kim nung nóng cưỡng bức lấy mồ hôi, rồi lại dùng phép hạ. Tà do hỏa nghịch tuy nhờ phép hạ mà giảm, nhưng riêng chứng phiền táo vẫn không hết, là vì phát hãn và công hạ đã làm tổn thương nặng tân dịch.
Vì vậy dùng Quế chi, Cam thảo để cứu biểu; Long cốt, Mẫu lệ để củng cố trung khí. Không trực tiếp trị phiền táo mà phiền táo tự khỏi.
TẬP CHÚ
Dụ Xương nói: Chứng này do sai lầm rồi lại sai lầm. Tuy chưa có những biến chứng như kinh cuồng, nhưng phiền táo vừa là dấu hiệu ngoại tà chưa hết, vừa là cơ báo chân dương sắp hao mất.
Trình Ứng Mao nói: Hỏa nghịch mà lại dùng phép hạ thì lý khí đã hư. Không trị chỗ hư ấy, lại dùng thêm kim nung nóng, tự dẫn đến vong dương.
Chỉ thấy phiền táo, chưa hoàn toàn giống điều trước có kinh cuồng, đứng nằm không yên, là vì thế nhiệt có mức độ hoãn cấp khác nhau. Vì vậy cách gia giảm so với phương trước hơi khác.
Dù thế nào cũng không được để biểu hiện phiền táo giả làm lẫn lộn bản chất chân thực của bệnh.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Bản nguồn ghi “tán thành bột”, được giữ nguyên trong bản dịch. Cụm “rửa bỏ phần chân” của Thục tất chưa mô tả rõ thao tác chế biến. Thục tất có độc tính; cách chế và dùng trong cổ phương không phải hướng dẫn tự sử dụng hiện nay.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI CAM THẢO LONG CỐT MẪU LỆ THANG PHƯƠNG
桂枝甘草龙骨牡蛎汤方
Quế chi một lượng; Cam thảo (chích) hai lượng; Long cốt hai lượng; Mẫu lệ (rang) hai lượng.
Bốn vị trên tán thành bột, dùng năm thăng nước, sắc còn hai thăng rưỡi, bỏ bã, uống ấm tám hợp, ngày ba lần.
TẬP GIẢI
Uông Hổ nói: Phương này tức là Quế chi khứ thược dược gia Thục tất Long cốt Mẫu lệ cứu nghịch thang, được thu nhỏ phương và giảm lượng thuốc để dùng.
Hỏa tà bức vào trong thì sinh phiền táo. Tuy phiền táo có vẻ kèm biểu tà, cũng không nên dùng tính cay nóng của Quế chi để phát tán. Hơn nữa, hỏa nghịch đã qua phép hạ thì âm huyết bị tổn thương; so với Cứu nghịch thang, dường như nên thêm Thược dược.
ÂM THIẾT
灼 đọc như 酌, âm Hán Việt là chước. 摸 có âm thiết “vị các”. 痿 có âm thiết “ô khôi”. 唾 có âm thiết “thang ngọa”. 炊 đọc như 吹, âm Hán Việt là xuy. Chữ khuyết □ đọc như 讦, âm Hán Việt là kiết. 眴 đọc cùng âm với 旬, âm Hán Việt là tuần.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Nhận định không nên dùng Quế chi phát tán và dường như nên thêm Thược dược là ý kiến riêng của Uông Hổ, không phải thành phần được ghi trong nguyên phương.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ ÔN BỆNH
辨温病脉证并治篇
Nội kinh nói: “Nhiệt bệnh đều thuộc loại thương hàn.” Không phải nói nhiệt bệnh giống thương hàn, mà nói cùng thuộc một loại bệnh với thương hàn.
Thương hàn được gọi tên vì tổn thương bởi khí hàn của thời tiết. Ôn bệnh, nhiệt bệnh cũng tùy mùa mà đổi tên.
Kinh nói: “Mùa đông tổn thương bởi hàn thì phát bệnh nhiệt.” Đây là cảm tà rồi phát bệnh ngay trong mùa ấy.
Kinh nói: “Mùa đông tổn thương bởi hàn, mùa xuân tất phát ôn bệnh.” Đây là qua mùa mới phát bệnh.
Kinh nói: “Phàm bệnh do hàn làm tổn thương mà thành ôn, trước hạ chí gọi là ôn bệnh, sau hạ chí gọi là thử bệnh.” Thử ở đây tức là nhiệt. Đây là tùy thời tiết phát bệnh mà đặt tên.
Như vậy, trước thu phân đều có thể gọi là nhiệt bệnh; sau thu phân đều có thể gọi là thương hàn. Đó là ý nghĩa lập tên thương hàn, ôn bệnh, nhiệt bệnh của Hiên Viên, Kỳ Bá và Trọng Cảnh.
Kinh lại nói: “Người tàng giữ được tinh thì mùa xuân không mắc ôn bệnh.” Câu này chỉ rõ căn nguyên khiến qua mùa mà không phát bệnh.
Kinh nói: “Mùa đông không tàng tinh, mùa xuân tất mắc ôn bệnh.” Câu này chỉ rõ nguyên nhân khiến qua mùa mà phát bệnh.
Từ đó có thể biết thương hàn phát bệnh không tùy ở việc tàng tinh hay không tàng tinh; chỉ cần xúc phạm hàn tà là có thể mắc bệnh. Không giống ôn bệnh, nhiệt bệnh: tàng tinh thì không mắc, không tàng tinh thì tất mắc.
Tuy nhiên, người tàng tinh được, dù tình cờ cảm tà, mắc ôn bệnh hoặc thử bệnh thì bệnh thường nhẹ. Người không tàng tinh, dù chỉ cảm tà nhẹ, mắc ôn bệnh hoặc thử bệnh thì bệnh thường nặng. Đó là chỗ khác nhau đôi chút.
Nếu chỉ dựa vào mùa đông không tàng tinh, hoàn toàn không có ngoại cảm, rồi cho là bệnh vốn ở thiếu âm, nhiệt từ trong sinh ra, thì trái với ý nghĩa ôn bệnh của Trọng Cảnh.
Trong luận, Trọng Cảnh chỉ nói: bệnh thái dương mới phát, phát nhiệt, khát, không sợ lạnh là ôn bệnh. Đây là phân biệt với thương hàn, không phải nói hàn tà ở thái dương không từ biểu vào mà bệnh lại hoàn toàn do nhiệt ở thiếu âm sinh ra từ trong.
Kinh lại nói: “Phong ôn phát bệnh, mạch âm dương đều phù.” Đó là chỉ rõ ôn bệnh khởi phát do cảm phong mùa xuân, làm nội nhiệt phát động, vì vậy mạch âm dương đều phù.
Các luận về ôn bệnh, phong ôn và nhiệt bệnh bổ sung, làm sáng tỏ ý nghĩa cho nhau. Riêng luận về nhiệt bệnh, kinh đã nói rõ; nếu lại lập luận thêm thì không khỏi thừa, chứ không phải Trọng Cảnh bàn kỹ thương hàn mà sơ lược ôn chứng.
Nay hợp phục khí, ôn bệnh, phong ôn thành một thiên. Trị pháp ôn nhiệt cũng xét theo sáu kinh. Người đọc nên nghiền ngẫm các thiên Nhiệt luận, Thích nhiệt, Bình nhiệt của Tố vấn, đối chiếu với thiên này, tự sẽ lĩnh hội được.
ĐIỀU VĂN
Thầy nói: Bệnh phục khí phải dùng sự suy xét để nhận biết. Trong tháng này, nếu dự đoán phục khí sắp phát, giả như người ấy trước đây đã có phục khí, thì cần chẩn mạch.
Nếu mạch vi nhược, họng sẽ đau, như bị tổn thương, nhưng không phải hầu tý.
Người bệnh nói: “Quả thật trong họng đau.” Tuy vậy, nay còn có thể sắp phát tiêu chảy.
CHÚ GIẢI
Khí đúng thời tiết của bốn mùa là chính khí; khí trái mùa là tà khí.
Chính khí tác động vào người thường nông. Cảm nặng thì phát bệnh ngay; cảm nhẹ thì ẩn ở da thịt, chưa phát bệnh. Người khỏe mạnh có thể tự khỏi.
Tà khí tác động vào người thường sâu. Dù cảm nhẹ cũng có thể phát bệnh ngay; nặng thì đi thẳng vào tạng, không thể tự khỏi; người hư yếu có thể chết.
Bệnh phục khí nói trong thiên này là bệnh do khí đúng thời tiết của bốn mùa gây nên, không phải tà khí trái mùa, cũng không phải dịch tà do khí bất thường.
Phục khí là như cảm phong hàn mùa đông: cảm nặng, tổn thương dinh vệ, phát ngay trong mùa ấy thì gọi là trúng phong, thương hàn. Cảm nhẹ, tà ẩn ở da thịt, qua mùa mới phát thì gọi là ôn bệnh.
Vì vậy phải phân biệt bệnh do thời khí và bệnh do phục khí.
Ba tháng mùa xuân gọi là “phát trần”, nghĩa là phát triển những gì đã tích chứa; đó là thời kỳ phục khí muốn phát.
Giả như người vốn có phục khí, nhân chỗ sơ hở do mùa đông không tàng tinh mà phát bệnh, thì cần dựa vào mạch để nhận biết.
Trong tháng này, người mới mắc thương hàn hoặc ôn bệnh, nếu mạch vi nhược thì là mạch thiếu âm; nếu trong họng đau thì là chứng thiếu âm.
Nhưng đau tất diễn tiến chậm, không giống hầu tý do ngoại cảm thời khí, sưng, tổn thương và đau dữ dội đột ngột.
Nay người bệnh nói quả thật trong họng đau, mạch lại vi nhược, nên biết là âm hỏa do phục khí thiếu âm phát ra từ trong.
Tuy có họng đau, vẫn phải đề phòng sắp phát tiêu chảy; không được trị như hầu tý do dương hỏa của ngoại cảm thời khí.
TẬP CHÚ
Trương Tích Câu nói: Điều này nói bệnh phục khí từ trong phát ra, không giống bệnh thời hành đột ngột, từ ngoài xâm nhập.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương, phát nhiệt, khát, không sợ lạnh là ôn bệnh. Sau khi phát hãn, thân nóng bỏng, gọi là phong ôn.
Phong ôn phát bệnh, mạch âm dương đều phù, tự ra mồ hôi, thân nặng, ngủ nhiều, hơi thở qua mũi tất có tiếng ngáy, khó nói thành lời.
Nếu bị dùng phép hạ thì tiểu tiện không lợi, mắt nhìn thẳng, tiểu tiện không tự chủ. Nếu bị dùng lửa thì hơi phát sắc vàng; nặng thì như kinh giản, từng lúc co giật. Nếu bị hun lửa, một lần điều trị nghịch còn có thể kéo dài ngày sống; điều trị nghịch lần nữa thì thúc ngắn kỳ hạn tính mạng.
CHÚ GIẢI
Phát nhiệt, không khát, sợ lạnh là chứng thái dương. Phát nhiệt, khát, không sợ lạnh là chứng dương minh.
Nay bệnh thái dương vừa phát, không đợi hàn tà hóa nhiệt, chuyển thuộc dương minh, mà đã nóng, khát, không sợ lạnh, thì biết không phải thái dương thương hàn, mà là thái dương ôn bệnh.
Người ăn uống cao lương, mùa đông không tàng tinh; người lao động vất vả, mùa đông tổn thương bởi hàn: âm bên trong đã hao tổn, dương bên ngoài bị uất, kinh lạc toàn thân sớm đã hóa ôn.
Vì vậy đến mùa xuân, vừa gặp ngoại tà thì bên trong lập tức ứng theo.
Cảm hàn tà thì không có mồ hôi, gọi là ôn bệnh; nên theo phép của Hà Gian, dùng Thủy giải tán, xét biểu lý để giải tà. Thủy giải tán tức là hợp Thiên thủy lục nhất tán với Phòng phong thông thánh tán.
Cảm phong tà thì có mồ hôi, gọi là phong ôn; nên dùng Thủy giải tán giảm Ma hoàng, thêm Quế chi, tăng gấp đôi Thạch cao, khiến hơi ra mồ hôi để điều hòa.
Nếu phát hãn mạnh thì càng trợ nhiệt uất chứa, tất khiến thân nóng như lửa đốt.
Phong ôn là phong tà thịnh ở biểu, nên cả sáu bộ mạch âm dương đều phù. Nhiệt tà bế ở ngực, nên ngủ nhiều, thở qua mũi có tiếng ngáy.
Phong tà thương vệ, biểu khí không vững, nên tự ra mồ hôi. Nhiệt mạnh làm tổn thương khí, nên thân nặng, mệt mỏi, tiếng nói nhỏ, khó nói thành lời.
Nếu dùng phép hạ thì càng hao đoạt âm dịch, nguồn nước khô kiệt, nên tiểu tiện không lợi.
Phủ khí thái dương sắp tuyệt nên mắt nhìn thẳng. Tạng khí thiếu âm không giữ vững nên tiểu tiện không tự chủ.
Nếu dùng lửa thì lấy lửa thêm vào lửa, dương khí nung đốt, sắp phát vàng da, nên hơi hiện sắc vàng. Nặng thì nhiệt cực sinh phong, như kinh giản, từng lúc co giật.
Ban đầu hơi vàng, bệnh sâu thì sắc dần thêm đen, giống như bị lửa hun.
Ôn bệnh, nhiệt bệnh không sợ lạnh là biểu nhiệt; khát, muốn uống nước là lý nhiệt.
Biểu nhiệt không có hàn thì không nên phát hãn; lý nhiệt chưa thành thực thì không nên công hạ. Biểu lý đều nhiệt càng không nên dùng lửa.
“Một lần nghịch” là dùng sai phép phát hãn, công hạ hoặc dùng lửa. “Nghịch lần nữa” là đã phát hãn lại công hạ, đã công hạ lại dùng lửa.
Một lần nghịch đã khiến âm kiệt, nhưng còn có thể kéo dài ngày sống; nghịch lần nữa thì âm lập tức hao mất, nên nói là thúc ngắn kỳ hạn tính mạng.
Thương hàn là tổn thương bởi khí hàn đúng mùa đông. Ôn bệnh, nhiệt bệnh là tổn thương bởi hàn đột ngột trong ba mùa còn lại.
Hàn đột ngột trái mùa là khí khác thường; vì kèm khí của mùa ấy mà gây bệnh, nên mùa xuân kèm phong ôn thì gọi là phong ôn; mùa hè kèm thử nhiệt thì gọi là thử nhiệt.
Người đời gọi chung là thương hàn, cũng gọi là thời khí. Thầy thuốc thấy bệnh truyền biến qua sáu kinh, tình trạng biểu lý giống nhau, nên cùng theo một hệ thống điều trị.
Ôn bệnh, nhiệt bệnh không có mồ hôi thì dùng Đại thanh long thang; lúc không có mồ hôi, lúc có mồ hôi thì dùng Quế chi nhị Việt tỳ nhất thang; có mồ hôi thì dùng Quế chi thang hợp Bạch hổ thang.
Có nội nhiệt thì dùng Phòng phong thông thánh tán. Biểu thực thì tăng gấp đôi Ma hoàng; lý thực thì tăng gấp đôi Đại hoàng.
Cân nhắc bệnh nặng nhẹ, lượng thuốc nhiều ít để giải tà; theo lời tác giả, trong ba ngày đầu chưa có trường hợp nào không khỏi.
Nếu ngoại cảm tà nặng, bên trong âm đã sớm tổn thương, đã qua phát hãn, công hạ mà chưa khỏi, thì phải xét biểu lý, tùy chứng xuất hiện trong quá trình truyền biến mà trị.
Phép này ở miền Tây và miền Bắc có thể dùng cả bốn mùa, thường thu được hiệu quả nhanh.
Ở vùng Giang Hoài, nơi khí hậu thiên ấm, chỉ có thể dùng vào mùa đông và đầu xuân. Từ cuối xuân đến trước mùa thu, dù mạch chứng phù hợp, đáng dùng các thang Ma hoàng, Quế chi, Thanh long, cũng phải dùng nhẹ, giảm lượng, tùy chứng cân nhắc, vừa đủ thì dừng.
Phải thận trọng, không dùng quá mức; quá mức sẽ gây biến chứng nghịch. Đó là ý nghĩa “cùng bệnh mà điều trị khác nhau” được nói trong kinh.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Ôn bệnh, nhiệt từ trong phát ra, nên phát nhiệt, khát, không sợ lạnh.
Phong ôn, nhiệt trong ngoài cùng giao kết, lại tự ra mồ hôi, nên có những chứng thân nặng, ngủ nhiều; từ đó có sự phân biệt nhẹ nặng, sống chết.
Thầy thuốc phải lấy có mồ hôi hay không có mồ hôi làm điểm phân biệt chủ yếu; đó cũng là chỗ cân nhắc tinh tế để quyết định có thể phát hãn hay không thể phát hãn trong cứu trị.
Ông lại nói: Thanh long, Bạch hổ của Trọng Cảnh thật thần diệu! Hiểu được ý ấy mà mở rộng thì có thể ứng dụng không cùng.
Ôn bệnh nên tăng nhiều thuốc thanh lương trong phép phát tán; phong ôn không được tăng nhiều thuốc phát tán trong phép thanh lương.
Trình Ứng Mao nói: Bệnh thái dương ngay ngày đầu đã phát nhiệt, khát, không sợ lạnh là vì tà khí đã tích chứa bên trong từ trước. Ngoại cảm ở thái dương chỉ là đầu mối làm bệnh phát ra.
Nhiệt tích chứa bên trong vốn không phải chỉ trong một sớm một chiều.
Từ mùa đông không tàng tinh, lại tổn thương bởi hàn, thận âm đã hao tổn. Đến khi giao mùa xuân, dương khí phát nhiệt, dù bệnh chưa phát, kinh lạc toàn thân đã chịu sự lan tỏa của khí dương thịnh, âm hư.
Nói đến mùa xuân phát thành ôn bệnh là vì mầm bệnh đã được tiếp nhận từ trước.
ÂM THIẾT
鼾 đọc như 旱, âm Hán Việt là hạn. 痫 đọc như 闲, âm Hán Việt là nhàn. 瘈 đọc như 炽, âm Hán Việt là sí. 瘲 đọc như 踪, âm Hán Việt là tung.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Thiên này trình bày quan niệm ôn bệnh, phục khí và trị pháp của tác giả cổ. Những nhận định như “không tàng tinh thì tất mắc bệnh”, “trong ba ngày đầu chưa có trường hợp nào không khỏi”, cùng cách tăng Ma hoàng hoặc Đại hoàng, được giữ để phản ánh nguyên văn, không phải quy tắc điều trị hiện nay.
“Chính khí” ở đoạn mở đầu chú giải phục khí chỉ khí hậu đúng mùa, khác với nghĩa sức chống bệnh của cơ thể. “Kinh giản” và “co giật” được dùng để diễn đạt các từ chỉ cơn co giật trong văn cổ.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH KINH, THẤP, YẾT
辨痉湿暍病脉证并治篇
Kinh nói: “Các chứng kinh, cổ gáy cứng, đều thuộc thấp.” Lại nói: “Các chứng đột ngột co cứng, đều thuộc phong.” Luận nói: “Bệnh thái dương, phát hãn quá nhiều, do đó thành chứng kinh.”
Sáu khí đều có thể gây chứng kinh, không riêng thấp; sáu kinh đều có chứng kinh, cũng không riêng kinh thái dương.
Phần sau thân thể thuộc thái dương. Phàm đầu gáy co cứng, gáy lưng căng cứng, cột sống cứng, thân ưỡn ngửa, thắt lưng như gãy, đùi không thể co, khoeo chân như thắt nút, đều là chứng kinh của thái dương.
Phần trước thân thể thuộc dương minh. Đầu mặt lay động, miệng ngậm chặt, răng nghiến, vùng khuyết bồn co xoắn đau, chân co quắp, đều là chứng kinh của dương minh.
Hai bên thân thể thuộc thiếu dương. Miệng mắt méo lệch, tay chân bị kéo co, hai bên sườn co căng, nửa người không vận động được, đều là chứng kinh của thiếu dương.
Đến như trong bụng co thắt, sau khi nôn và tiêu chảy mà tứ chi co quắp, cũng có thể là chứng kinh của thái âm.
Sợ lạnh, nằm co, mông thay chỗ gót chân, lưng thay chỗ đầu, cúi mà không thể ngửa, cũng có thể là chứng kinh của thiếu âm.
Tinh hoàn co lên, tông cân kéo xuống, bụng dưới co thắt, bộ phận sinh dục co rút, gối và cẳng chân co căng, cũng có thể là chứng kinh của quyết âm.
Nói chung, chứng kinh được gọi tên theo hình trạng, do gân co căng mà thành. Vì vậy, bệnh ở gân của cả sáu kinh đều có thể gọi là chứng kinh.
Do phong hàn thì tất phát nhiệt, sợ lạnh, không có mồ hôi, mạch phù khẩn, thân co cứng, miệng ngậm chặt. Đó là điều kinh nói: “Các bệnh co cứng đều thuộc phong.” Thế bệnh mạnh, gấp, nên gọi là cương kinh.
Do phong thấp thì phát nhiệt, ra mồ hôi, không sợ lạnh, mạch phù hoãn; cổ gáy căng cứng nhưng thân không co cứng thẳng đờ. Đó là điều kinh nói: “Các chứng kinh, cổ gáy cứng, đều thuộc thấp.” Thế bệnh mềm yếu, nên gọi là nhu kinh.
Nếu do phát hãn nhầm, vong dương, tân dịch khô kiệt, không đủ nuôi gân mà thành chứng kinh, thì chính là điều luận này nói: “Bệnh thái dương, phát hãn quá nhiều mà thành chứng kinh.” Trường hợp ấy không do thấp, không do phong, mà lại do táo.
Chứng kinh khi mới xuất hiện vốn thường không phải bệnh riêng biệt, mà xen trong bệnh khác. Như phụ nữ mất máu, người té ngã bị thương, đều có thể phát chứng kinh.
Nay thấy người mắc chứng này đều quy là phong, thật không phải nhận định chính xác.
Người học phải xét trong chứng trạng để nhận biết nguyên nhân phong, hàn, thấp, táo, trong ngoài, hư thực, rồi phân biệt điều trị, mới tránh sai lầm. Phải thận trọng, không được nhất loạt quy là phong.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương do thương hàn gây nên, cùng các bệnh kinh, thấp, yết, ba loại này nên bàn riêng. Vì chúng giống thương hàn nên được trình bày ở đây.
LỜI ÁN
Bốn chữ “do thương hàn gây nên” rất không có nghĩa, là văn thừa.
CHÚ GIẢI
Thương hàn là một bệnh trong kinh thái dương, không phải kinh thái dương chỉ mắc bệnh thương hàn.
Tà ngoại cảm của sáu khí khi làm tổn thương người, đều có thể từ biểu của thái dương mà vào.
Kinh thuộc phong tà; thấp thuộc thấp tà; yết thuộc thử tà.
Các bệnh phong, hàn, thử, thấp đều có thể thuộc thái dương. Tuy ba bệnh kinh, thấp, yết có hình chứng giống thương hàn, nhưng sự phát bệnh và truyền biến khác nhau, nên nói phải bàn riêng.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Kinh, thấp, yết đều là biến chứng từ phong hàn. Đã thành biến chứng thì nên lập luận riêng.
Nhưng vì từ phong hàn biến thành, vốn thuộc thái dương, vẫn có chỗ giống phong hàn khiến dễ nghi ngờ, nên phải cùng phân biệt, bàn rõ.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh thân nóng, chân lạnh, cổ gáy co cứng, sợ lạnh, từng lúc đầu nóng, mặt đỏ, mạch ở mắt đỏ, chỉ đầu lay động, đột nhiên miệng ngậm chặt, lưng ưỡn ngửa, đó là bệnh kinh.
CHÚ GIẢI
Thân nóng, sợ lạnh là chứng thái dương. Cổ gáy co cứng, mặt đỏ, mắt đỏ là chứng dương minh.
Đầu nóng là dương uất ở trên; chân lạnh là âm ngưng ở dưới.
Mạch thái dương theo lưng lên đầu; gân của dương minh đi lên hai bên miệng. Phong hàn lưu ở hai kinh thì có đầu lay động, miệng ngậm chặt, thân ưỡn ngửa, co cứng, nên gọi là bệnh kinh.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này nêu đầy đủ chứng trạng của bệnh kinh.
Thân nóng, đầu nóng, mặt đỏ, mạch ở mắt đỏ là dương tà phát ở phần dương. Chân lạnh là âm tà nghịch ở phần âm.
Chỉ đầu mặt lay động là phong đi ở phần dương, gây động ở trên.
“Thốt” là đột nhiên. “Cấm” là do hàn mà miệng khép chặt; nghĩa là môi miệng đột nhiên khép kín, co chặt, không thể ăn uống.
Lưng ưỡn ngửa là vì mạch thái dương đi hai bên lưng. Hàn thì gân co căng, co quắp; nhiệt thì gân giãn, mềm lỏng.
Cương kinh và nhu kinh mỗi loại chỉ biểu hiện một mặt của chứng trạng. Chỉ khi phong hàn cùng có, gây bệnh, mới thấy đầy đủ các chứng ấy.
Trịnh Trọng Quang nói: Điều này bàn chung về bệnh kinh, các kinh và kinh du đều mắc bệnh, khí huyết cùng bị tổn thương, thành chứng co cứng, ưỡn ngửa.
Phong thấp cùng có, nên biểu hiện đầy đủ chứng trạng của bệnh kinh.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương, phát nhiệt, mạch trầm mà tế, gọi là chứng kinh.
CHÚ GIẢI
Bệnh thái dương phát nhiệt, mạch đáng lẽ phù đại; nếu mạch trầm tế thì có kiêm thiếu âm.
Nay phát nhiệt, mạch trầm tế mà gọi là chứng kinh, vì sao?
Vì người bệnh đã có chứng kinh, lại thấy mạch trầm tế, nên không được gọi đó là mạch thương hàn thái dương, thiếu âm, mà phải gọi là mạch của bệnh kinh do phong thấp ở thái dương.
Phong tà uất ở phần dương nên phát nhiệt; thấp tà ngưng ở phần âm nên mạch trầm tế.
Điều này tiếp điều trên, nói ý nghĩa bệnh kinh có mạch trầm tế, không phải hễ bệnh thái dương phát nhiệt, mạch trầm tế thì gọi là bệnh kinh.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Phát nhiệt là bệnh thái dương chưa trừ. Trầm là hàn; tế là thấp.
Trình Tri nói: Mạch trầm tế, theo phép nên cứu lý; nhưng bệnh kinh lại có thể thuộc táo nhiệt, nên Kim quỹ nói khó trị.
Không được dễ dàng xem giống trường hợp thái dương phát nhiệt mà mạch trái lại trầm.
Trương Lộ nói: Phát nhiệt, mạch đáng lẽ phù sác mà trái lại trầm tế, có thể biết tà phong bị thấp khí giữ lại.
Vì vậy, thân tuy phát nhiệt nhưng mạch không thể phù sác. Đây là dương chứng mà thấy âm mạch, nên Kim quỹ chỉ rõ là khó trị.
Trình Ứng Mao nói: Bệnh kinh có chứng trạng chung với bệnh khác, cũng có chứng trạng riêng, nên lấy chứng trạng riêng để gọi tên.
Xét mạch trong bệnh thái dương, lại có chỗ riêng biệt: đầu mặt lay động, miệng ngậm chặt, lưng ưỡn ngửa, kết hợp mạch trầm tế. Dù có phát nhiệt và các chứng thái dương, cũng không bị lẫn với thương hàn; như vậy mới xác định gọi là chứng kinh.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương, phát nhiệt, không có mồ hôi, trái lại sợ lạnh, gọi là cương kinh.
Bệnh thái dương, phát nhiệt, ra mồ hôi, không sợ lạnh, gọi là nhu kinh.
LỜI ÁN
Chữ “trái lại” trong câu “trái lại sợ lạnh” là văn thừa. Cương kinh vốn nên sợ lạnh, không phải “trái lại”.
CHÚ GIẢI
Bệnh kinh đã thuộc thái dương thì nên dựa vào hư thực của thái dương mà phân loại.
Vì vậy, bệnh thái dương phát nhiệt, không có mồ hôi, sợ lạnh là tà thực, gọi là cương kinh. Phát nhiệt, ra mồ hôi, không sợ lạnh là tà hư, gọi là nhu kinh.
Điều này giải thích thêm hư thực của bệnh kinh trong hai điều trước, không phải chỉ cần thái dương phát nhiệt, không có mồ hôi, sợ lạnh, hoặc ra mồ hôi, không sợ lạnh, thì gọi ngay là cương kinh, nhu kinh.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Bệnh thái dương, phát nhiệt, không có mồ hôi, sợ lạnh là thương hàn; phát nhiệt, ra mồ hôi, sợ gió là thương phong; phát nhiệt, ra mồ hôi, không sợ lạnh là ôn nhiệt.
Nhưng vì có cổ gáy co cứng, nặng thì thân ưỡn ngửa, nên không gọi là bệnh phong hàn hoặc ôn nhiệt, mà gọi là chứng kinh.
Trương Lộ nói: Kim quỹ nói: “Bệnh thái dương, không có mồ hôi, tiểu tiện trái lại ít, khí xông lên ngực, miệng ngậm chặt, không nói được, sắp thành cương kinh, Cát căn thang chủ trị.”
Đó là giải thích ý nghĩa điều này và bổ sung trị pháp.
Không có mồ hôi, tiểu tiện ít là vì nhiệt của hai kinh thái dương, dương minh tụ ở ngực, tiếp tục làm tổn thương khí thanh túc của phế kim, trong ngoài không thể tuyên thông.
Lại nói: “Bệnh thái dương, các chứng đầy đủ, thân thể co cứng, mạch trái lại trầm trì, đó là chứng kinh, Qua lâu quế chi thang chủ trị.”
Đó cũng là giải thích ý nghĩa điều này và bổ sung trị pháp.
“Các chứng đầy đủ” là phát nhiệt, ra mồ hôi và các chứng khác; Kim quỹ đã nói rõ, không cần nhắc thêm.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương, gáy lưng căng cứng, không có mồ hôi, sợ gió, Cát căn thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này lược bớt các chứng và mạch, chỉ nêu cổ gáy co cứng của bệnh kinh để làm rõ trị pháp.
Mạch thái dương đi xuống gáy, theo vai, dọc hai bên lưng. Mạch dương minh theo họng, vào vùng khuyết bồn, xuyên cơ hoành, xuống bờ trong vùng vú.
Thái dương chủ phần sau, phía trước hợp với dương minh. Dương minh chủ phần trước, phía sau hợp với thái dương.
Nay tà bế tắc trong hai kinh nên có hình trạng co căng, cứng chặt.
Cứng của bệnh thái dương thông thường chỉ ở cổ gáy. Cứng của chứng kinh này khiến không thể cúi ngửa, gáy liên tiếp với ngực lưng đều cứng, nên nói “gáy lưng căng cứng”.
Không có mồ hôi, sợ gió là tà thực, nên dùng Cát căn thang phát tán. Đó là Quế chi thang thêm Ma hoàng, Cát căn, cùng giải tà ở thái dương và dương minh.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Kỷ kỷ” ví như con chim có cánh ngắn, khi cử động phải vươn cổ.
Đó là hình dung cổ gáy của người bệnh đều bị bệnh, cúi ngửa không tự nhiên.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương, gáy lưng căng cứng, trái lại ra mồ hôi, sợ gió, Quế chi gia cát căn thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Bệnh thái dương, gáy lưng căng cứng, không có mồ hôi, sợ gió là tà thực.
Nay trái lại ra mồ hôi, sợ gió là tà hư, nên dùng Quế chi gia cát căn thang để giải phong ở thái dương, làm ra mồ hôi ở dương minh.
TẬP CHÚ
Giang Hổ nói: Bệnh thái dương, gáy lưng đã cứng, lại có hình trạng “kỷ kỷ”, cổ không thể duỗi thoải mái. Kinh ở vùng cổ thuộc dương minh.
Gáy lưng và cổ đều căng cứng như vậy, đáng lẽ không có mồ hôi, nay trái lại ra mồ hôi, sợ gió.
Theo phép của Trọng Cảnh, bệnh thái dương ra mồ hôi, sợ gió thì Quế chi thang chủ trị. Nay vì có hình trạng “kỷ kỷ”, nên thêm Cát căn vào Quế chi thang, để đồng thời trừ phong ở kinh dương minh.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Kinh” 痉 trong thiên này là chứng co cứng, co thắt, có thể kèm thân ưỡn ngửa; khác với “kinh sợ” 惊. “Yết” 暍 chỉ bệnh do thử nhiệt.
Các chữ khuyết được dịch theo ngữ cảnh: “hai bên sườn co căng”, “môi miệng khép kín”. Những mô tả tư thế như “mông thay chỗ gót chân, lưng thay chỗ đầu” được giữ theo văn cổ, biểu thị tư thế co gập bất thường.
Cổ gáy cứng kèm sốt, miệng ngậm chặt hoặc thân ưỡn ngửa là những biểu hiện cần được khám cấp cứu; không dựa riêng vào phân loại cương kinh, nhu kinh để tự dùng thuốc.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI GIA CÁT CĂN THANG PHƯƠNG
桂枝加葛根汤方
Trong phương Quế chi thang, thêm Cát căn ba lượng. Các vị còn lại và cách dùng theo phép của Quế chi thang.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương, phát hãn quá nhiều, do đó thành chứng kinh.
CHÚ GIẢI
Các chứng kinh bàn ở trên đều do ngoại cảm phong, hàn, thấp mà thành.
Nếu bệnh thái dương phát hãn quá nhiều, tân dịch hao mất nhiều, biểu khí không vững, tà phong thừa hư xâm nhập mà thành chứng kinh, thì do bên trong hư gây nên. Không được theo lệ nhu kinh, cương kinh mà trị.
Nên lấy Quế chi gia phụ tử thang, cố biểu, khu phong làm chủ trị.
Từ đó suy ra, phàm bệnh ra mồ hôi quá nhiều, hoặc mới sinh mất máu quá nhiều, rồi biến thành chứng này, đều thuộc loại ấy.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Từ trường hợp này suy ra, có thể biết bệnh do mất tân dịch, mất máu, vì hư mà sinh hàn, vì hư mà sinh táo không phải ít.
Dương khí khi nhu hòa thì nuôi dưỡng gân. Phát hãn quá nhiều làm hao mất dương, tổn thương huyết dịch trong kinh mạch.
ĐIỀU VĂN
Người mắc bệnh thấp, toàn thân đau nhức, phát nhiệt, sắc thân vàng sẫm như bị khói hun.
CHÚ GIẢI
“Thấp gia” là người mắc bệnh thấp.
Thấp gây bệnh, nếu do bên ngoài cảm thấp khí thì toàn thân đau. Nếu do thấp sinh bên trong thì phát nhiệt, thân vàng. Nếu trong ngoài cùng mắc bệnh thì toàn thân đau, phát nhiệt, sắc thân vàng sẫm như bị khói hun.
Vàng như khói hun là phát vàng do thấp thịnh, thuộc thấp ứ ở tỳ, nên sắc tối như bị khói hun.
Không giống phát vàng do nhiệt thịnh trong thương hàn, thuộc uất nhiệt ở dương minh, sắc vàng tươi như màu quả quýt.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Chứng thấp phát vàng phải phân biệt âm dương, biểu lý.
Dương thấp ở lý dùng Nhân trần cao thang; ở biểu dùng Ma hoàng liên diêu xích tiểu đậu thang.
Âm thấp ở lý dùng Bạch truật phụ tử thang; ở biểu dùng Ma hoàng bạch truật thang. Đây là âm thấp ở biểu mà phát vàng.
Kim quỹ nói: “Người mắc bệnh thấp, thân phiền đau, có thể dùng Ma hoàng gia truật thang.”
Hàn hợp với thấp, không nên làm ra mồ hôi nhiều, nên thêm Bạch truật. Ma hoàng được Bạch truật thì mồ hôi không phát ra đột ngột; Bạch truật được Ma hoàng thì thấp trệ được tuyên thông.
ĐIỀU VĂN
Người mắc bệnh thấp, thân đau, phát nhiệt, mặt vàng, thở suyễn, đầu đau, mũi tắc, phiền, mạch đại; vẫn tự ăn uống được, trong bụng điều hòa, không có bệnh.
Bệnh là hàn thấp ở vùng đầu, nên mũi tắc. Đưa thuốc vào mũi thì khỏi.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nêu rõ chứng và mạch để phân biệt trị pháp.
Người mắc bệnh thấp, thân đau, phát nhiệt, mặt vàng, thở suyễn, là bệnh thấp vừa sinh ở trong vừa cảm từ ngoài.
Bên ngoài nên dùng Khương hoạt thắng thấp thang; bên trong nên dùng Nhân trần ngũ linh tán; suyễn nặng dùng Đại hãm hung hoàn.
Nếu lại đầu đau, mũi tắc, phiền, mạch đại, chứng giống thương hàn, nhưng bên trong điều hòa, vẫn ăn được, thì biết không phải thương hàn, không được phát hãn.
Đó là thấp tà ở đầu, nên đầu đau, mũi tắc. Chỉ nên đưa thuốc vào mũi, lấy nước vàng theo nước mũi thoát ra, tự có thể khỏi.
Thuốc đưa vào mũi là loại Qua đế tán.
TẬP CHÚ
Trịnh Trọng Quang nói: Thân đau, phát nhiệt, mặt vàng, thở suyễn, đầu đau, mũi tắc là hàn thấp lưu ở thượng tiêu.
Kinh nói: “Do thấp, đầu như bị bọc.” Chính là trường hợp này.
Dùng Qua đế tán thổi vào mũi là phép “bệnh ở trên thì nhân đó đưa ra ngoài”.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương, các khớp đau nhức, phiền, mạch trầm mà tế, gọi là thấp tý.
Biểu hiện của thấp tý là tiểu tiện không lợi, đại tiện trái lại thông dễ. Chỉ nên lợi tiểu tiện.
CHÚ GIẢI
Người mắc bệnh thấp có mạch phù tế là thấp ở ngoài, nên phát hãn.
Nay bệnh thái dương, các khớp đau nhức, phiền, tiểu tiện không lợi, đại tiện trái lại thông dễ, mạch không phù tế mà trầm tế, là thấp tà thịnh ở trong, gây thấp tý, bế tắc.
Vì vậy chỉ nên lợi tiểu tiện, khiến thấp theo tiểu tiện mà đi. Đó là chính trị của thấp thịnh ở trong.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Thấp thịnh thì đại tiện lỏng. Tiểu tiện không lợi, đại tiện trái lại thông dễ là thấp khí chảy vào bên trong.
Chỉ nên lợi tiểu tiện để tuyên tiết thấp khí trong bụng.
Người xưa nói: “Trị thấp mà không lợi tiểu tiện thì không phải cách trị thích hợp.”
Phương Hữu Chấp nói: Điều này nói về thấp đã vào lý.
Các khớp đau là khí hàn thấp chạy dồn, thấm vào trong, nên mạch trầm mà tế.
“Tý” ở đây nói theo biểu hiện đau. Tiểu tiện không lợi, đại tiện trái lại thông dễ là vì thấp thuộc nước; nước không thấm ra ngoài thì chảy ngang, không theo đường vốn có.
Lợi tiểu tiện là dẫn nước đi theo đường vốn có.
Trương Chí Thông nói: “Quan tiết” là những khớp lớn ở thắt lưng, lưng, khuỷu, gối, nơi các gân lớn liên hệ, khác với cách nói chung về khớp xương.
Thấp chảy vào các khớp, gân lớn mất điều hòa, nên đau, bế tắc.
Thấp làm tổn thương thái dương, gân mạch sáp trệ, nên gọi là thấp tý.
Lợi tiểu tiện thì đường nước lưu hành, việc khai thông dòng nước không trở ngại; thấp tà được trừ, gân mạch điều hòa.
ĐIỀU VĂN
Người mắc bệnh thấp, chỉ đầu ra mồ hôi, lưng cứng, muốn đắp chăn, đến gần lửa.
Nếu dùng phép hạ quá sớm thì sinh uế, ngực đầy, tiểu tiện không lợi, trên lưỡi như có rêu. Đó là vì đan điền có nhiệt, trong ngực có hàn.
Khát, muốn được nước nhưng không thể uống, miệng khô, phiền.
CHÚ GIẢI
Người mắc bệnh thấp chỉ đầu ra mồ hôi là mồ hôi do thấp khí lan lên trên, không phải nhiệt dương minh không thể thoát ra ngoài.
Lưng cứng là nặng cứng do thấp khí gây sáp trệ, không phải co cứng của bệnh kinh.
Muốn đắp chăn, đến gần lửa không phải sợ lạnh do ngoại tà, mà là thấp thịnh sinh nội hàn.
Nếu nhận nhầm mồ hôi đầu do thấp thành mồ hôi đầu do ứ nhiệt dương minh mà dùng phép hạ, thì khí hàn thấp thừa hư vào ngực gây ngực đầy, vào vị gây uế.
Hàn thấp không hóa nên tiểu tiện không lợi. Trong ngực có hàn nên trên lưỡi có rêu trắng trơn. Đan điền có nhiệt nên miệng khô, khát.
Muốn được nước mà không thể uống là vì trong ngực có hàn thấp.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Thương hàn thì không có mồ hôi. Người mắc bệnh thấp tuy có mồ hôi nhưng không thể ra khắp thân, nên chỉ đầu ra mồ hôi.
Trình Ứng Mao nói: Tuy khát, muốn được nước có vẻ giống nhiệt, nhưng không thể uống là điểm phân biệt.
Như vậy chỉ là miệng khô, phiền, thực không phải trong ngực khô táo, phiền nhiệt. Chứng trạng giống nhau nhưng bệnh khác nhau.
ĐIỀU VĂN
Người mắc bệnh thấp bị dùng phép hạ, trán ra mồ hôi, hơi thở suyễn, tiểu tiện thông lợi thì chết. Nếu tiêu chảy không ngừng cũng chết.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nói biến chứng nghịch do hạ nhầm người mắc bệnh thấp.
Hạ nhầm, ngực đầy, sinh uế, tiểu tiện không lợi, lưỡi có rêu, miệng khô, khát mà không thể uống, đã thuộc chứng nghịch nhưng còn có thể trị.
Điều này, sau khi hạ nhầm, mồ hôi trán không dừng, hơi suyễn không ngừng là dương thoát ở trên.
Tiểu tiện trái lại thông lợi, tiêu chảy không ngừng là âm thoát ở dưới.
Âm dương lìa nhau nên chết.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Trị thấp phải lợi tiểu tiện, vậy vì sao ở đây tiểu tiện thông lợi lại chủ chết?
Vì điều trị nhầm khiến âm dương tán mất.
Trình Tri nói: Thấp tác động vào người, phần âm chịu trước. Vì vậy các chứng thấp trong kinh này thường lấy trợ dương, ôn tán làm trị pháp.
Nếu tùy tiện công hạ thì dương hư, âm thịnh, không thể cứu.
Trán ra mồ hôi, hơi suyễn là hư dương sắp thoát lên trên. Hai đường đại tiểu tiện không giữ được là phần âm thịnh sắp thoát xuống dưới.
Âm dương lìa tuyệt thì chết.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh toàn thân đau nhức, phát nhiệt, đến lúc xế chiều thì nặng hơn, gọi là phong thấp.
Bệnh này do ra mồ hôi mà gặp gió, hoặc bị tổn thương lâu ngày vì tìm sự mát lạnh.
CHÚ GIẢI
“Người bệnh” là người toàn thân đau nhức.
Người mắc bệnh thấp toàn thân đau; người mắc phong thấp cũng toàn thân đau.
Nhưng đau do thấp thì nặng trệ, không thể trở mình; đau do phong thấp thì đau kéo giật, không thể co duỗi. Đó là sự khác nhau của đau.
Về phát nhiệt, nhiệt của bệnh thấp không phân sáng tối, không có lúc nhẹ nặng rõ rệt; nhiệt của phong thấp đến xế chiều tất nặng hơn.
Bệnh này do ra mồ hôi mà gặp gió, hoặc bị thấp làm tổn thương lâu ngày, lại cảm phong lạnh.
TẬP CHÚ
Trương Chí Thông nói: Ra mồ hôi mà gặp gió thì thành phong thấp; tổn thương lâu ngày do tìm sự mát lạnh thì thành hàn thấp.
Trương Tích Câu nói: Phát nhiệt nặng hơn lúc xế chiều là vì đến xế chiều dương khí suy, âm khí thịnh. Thấp là âm tà, nên đến lúc khí ấy vượng thì bệnh nặng hơn.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Phong thấp cùng kết hợp, toàn thân đau nhức, theo phép phải ra mồ hôi mới giải.
Gặp trời âm u, mưa không dứt, thầy thuốc nói có thể phát hãn. Phát hãn mà bệnh không khỏi là vì sao?
Đáp: Phát hãn làm mồ hôi ra nhiều thì chỉ phong khí được trừ, thấp khí còn lại, vì vậy không khỏi.
Trị phong thấp, khi phát hãn chỉ nên khiến hơi có vẻ sắp ra mồ hôi, thì phong và thấp cùng được trừ.
CHÚ GIẢI
Điều này nói rõ phong thấp cùng kết hợp, toàn thân đau, không những không được công hạ, mà phát hãn cũng phải đúng mức.
Phong là dương tà, thấp là âm tà. Phong thấp cùng kết hợp, âm dương đều chịu tà, nên toàn thân đau.
Theo phép, ra mồ hôi thì giải; nhưng gặp trời âm u, mưa không dứt, thấp khí thịnh, dù phát hãn làm mồ hôi ra nhiều, bệnh vẫn không khỏi, vì chỉ phong khí được trừ mà thấp khí còn lại.
Đang lúc thấp thịnh mà phát hãn mạnh, khiến ra mồ hôi nhiều, là phát hãn không đúng phép, nên bệnh không giải.
Trị phong thấp nên đợi trời quang sáng mới phát hãn, chỉ khiến mồ hôi hơi có vẻ sắp ra, thì phong và thấp cùng được trừ, bệnh tự giải.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Trời âm u, mưa không dứt thì thấp không được trừ, nên càng cần phát hãn.
Nhưng phong thấp vốn do ra mồ hôi mà gặp gió, nếu lại làm mồ hôi ra nhiều thì thấp trái lại càng tăng.
Chỉ hơi có vẻ sắp ra mồ hôi mà chưa thấy mồ hôi chảy rõ, thì thấp tiêu, phong tán.
Đó là chỗ tinh tế của phép phát hãn. Người đời sau hễ nói đến phát hãn liền nói ra mồ hôi nhiều, thật đã xa đạo lý ấy.
Trương Lộ nói: Phong thấp cùng kết hợp, theo phép phải ra mồ hôi mới giải; nên dùng Quế chi gia truật, khiến hơi bốc mồ hôi, khí biểu lý điều hòa, phong thấp đều được trừ.
Cũng như người mắc bệnh thấp, thân phiền đau, có thể dùng Ma hoàng thang thêm Bạch truật, cùng một ý nghĩa.
Trình Ứng Mao nói: Người mắc bệnh thấp không những không được hạ nhầm, mà phát hãn cũng không được sai phép.
Chứng phong thấp cùng kết hợp, toàn thân đau, tuy hơi kèm biểu tà, nhưng mạch không phù, cuối cùng vẫn không thể làm ra mồ hôi nhiều.
Trị phong đồng thời trị thấp, chỉ khiến hơi có vẻ sắp ra mồ hôi, đó mới là đúng phép.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn tám, chín ngày, phong thấp cùng kết hợp, thân đau nhức, phiền, không thể tự trở mình, không nôn, không khát, mạch phù hư mà sáp, Quế chi phụ tử thang chủ trị.
Nếu người ấy đại tiện cứng, tiểu tiện tự lợi, thì thang bỏ Quế chi, thêm Bạch truật chủ trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nói rõ mạch chứng để làm sáng tỏ trị pháp.
Thương hàn tám, chín ngày, không nôn, không khát là không có chứng lý bệnh của thương hàn. Mạch phù hư sáp là không có mạch biểu bệnh của thương hàn.
Mạch phù hư chủ bệnh ở biểu, thuộc phong hư; sáp chủ bệnh ở kinh, thuộc hàn thấp.
Thân đau nhức, phiền thuộc phong; không thể trở mình thuộc thấp. Đây là chứng phong thấp cùng kết hợp, không phải thương hàn.
Dùng Quế chi phụ tử thang ôn tán phong thấp, khiến tà từ biểu mà giải.
Nếu mạch phù thực thì lại nên dùng Ma hoàng gia truật thang để phát tán mạnh phong thấp.
Nếu có chứng này, dù đại tiện cứng, tiểu tiện tự lợi, vẫn không bàn phép hạ, vì đại tiện cứng không do tà nhiệt vào lý, mà do phong làm khô, thấp đã giảm.
Vì vậy vẫn lấy Quế chi phụ tử thang, bỏ Quế chi. Đại tiện cứng, tiểu tiện tự lợi thì không muốn phát hãn, tiếp tục hao đoạt tân dịch.
Thêm Bạch truật vì thân nặng trệ, thấp ở phần cơ nhục; dùng vị này giúp Phụ tử trục thấp khí ở cơ biểu.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Phiền thuộc phong; thân đau, không thể tự trở mình thuộc thấp.
Kinh nói: “Phong thì mạch phù hư.”
Mạch kinh nói: “Mạch đến sáp là bệnh hàn thấp.”
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các chữ khuyết “đại tiện □” được phục hồi thành “đại tiện cứng”. “Đại tiện thông dễ” trong bệnh thấp có thể kèm phân lỏng, như lời Thành Vô Kỷ giải thích.
Những lời “chết” trong điều văn là nhận định tiên lượng của cổ thư. Cách đưa hoặc thổi Qua đế tán vào mũi cũng là phép cổ; Qua đế có độc tính, không nên tự thực hiện.
Trường Xuân biên soạn
QUẾ CHI PHỤ TỬ KHỨ QUẾ CHI GIA BẠCH TRUẬT THANG PHƯƠNG
桂枝附子去桂枝加白术汤方
Phụ tử (bào, bỏ vỏ, bẻ) ba củ; Bạch truật bốn lượng; Sinh khương (thái) ba lượng; Đại táo (bẻ) mười hai quả; Cam thảo (chích) hai lượng.
Năm vị trên dùng sáu thăng nước, sắc còn hai thăng, bỏ bã, chia làm ba lần uống ấm.
Sau lần uống đầu, người bệnh thấy thân như tê bì. Khoảng nửa ngày sau uống tiếp. Uống hết ba phần, người bệnh có trạng thái như choáng váng, đừng lấy làm lạ.
Đó là vì Phụ tử và Bạch truật cùng đi ra da thịt, trục thủy khí nhưng chưa trừ hết, nên gây như vậy. Theo phép nên thêm Quế chi bốn lượng.
Đây vốn là một phương với hai cách dùng. Đại tiện cứng, tiểu tiện tự lợi thì bỏ Quế chi. Đại tiện không cứng, tiểu tiện không lợi thì nên thêm Quế chi.
Phụ tử ba củ, e là nhiều. Người hư yếu và sản phụ nên giảm lượng dùng.
ĐIỀU VĂN
Phong thấp cùng kết hợp, các khớp xương đau nhức, phiền, đau kéo giật, không thể co duỗi; đến gần, đụng vào thì đau tăng. Ra mồ hôi, hơi thở ngắn, tiểu tiện không lợi, sợ gió, không muốn bỏ áo, hoặc thân hơi phù, Cam thảo phụ tử thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Phong thấp cùng kết hợp, các khớp xương đau nhức, phiền, nặng trệ, không thể trở mình là thấp thắng phong. Đau kéo giật, không thể co duỗi là phong thắng thấp.
Nay đau kéo giật, không thể co duỗi, đến gần, đụng vào thì đau tăng, ra mồ hôi, hơi thở ngắn, sợ gió, không muốn bỏ áo, đều là phong tà bế thịnh, làm tổn thương cơ biểu.
Tiểu tiện không lợi là thấp tích ở trong. Thân hơi phù là thấp lan ra ngoài.
Dùng Cam thảo phụ tử thang làm hơi ra mồ hôi, lấy khu phong làm chính, trừ thấp làm thứ.
Hai điều trên đều nói rõ ý nghĩa của phong thấp, để làm sáng tỏ trị pháp phong thấp.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Đoàn” là kết hợp, tụ lại. Nghĩa là phong và thấp kết hợp, cùng tạo thành một bệnh.
Phiền thuộc phong; đau thuộc thấp. Phong thịnh thì kéo giật, thấp thịnh thì đau. Tà phong thấp dồn vào kinh lạc, chảy đến các khớp, thấm vào tủy xương, nên thân phiền đau, đau kéo giật, vận động không thuận lợi.
Đến gần, đụng vào thì đau tăng là vì ngoại tà lưu ở trong, bị tác động thì chống nghịch.
Hơi thở ngắn là do mồ hôi ra nhiều, hao mất dương, khí bị tổn thương.
Sợ gió, không muốn bỏ áo là vì bị tổn thương nặng, nên sợ gió nhiều.
Cam thảo ích khí, hòa trung; Phụ tử ôn kinh, tán thấp; Bạch truật thắng thấp, làm khô thấp ở tỳ; Quế chi khu phong, củng cố vệ khí.
Bốn vị này là những thuốc thích hợp cho chứng phong thấp cùng kết hợp.
Ngô Nhân Câu nói: Mạch phải trầm mà tế. Nếu mạch phù đại, thịnh thì phong nhiều, thấp ít; việc dùng Phụ tử cần xét kỹ thêm.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Chữ khuyết trong “đại tiện □” được phục hồi thành “đại tiện cứng”.
Nguyên văn xem trạng thái tê bì, choáng váng sau uống là phản ứng khi trục thủy. Tuy nhiên, Phụ tử có độc tính; nếu xuất hiện tê bì, chóng mặt, hồi hộp sau dùng thuốc thì cần ngừng thuốc và được đánh giá y tế ngay, không dựa vào lời “đừng lấy làm lạ” để tiếp tục uống.
Trường Xuân biên soạn
CAM THẢO PHỤ TỬ THANG PHƯƠNG
甘草附子汤方
Cam thảo (chích) hai lượng; Phụ tử (bào, bỏ vỏ, bẻ) hai củ; Quế chi bốn lượng; Bạch truật, bản nguồn không ghi lượng.
Bốn vị trên dùng sáu thăng nước, sắc còn ba thăng, bỏ bã, uống ấm một thăng, ngày ba lần.
Lần đầu uống, hơi ra mồ hôi thì bệnh giải, ăn được. Nếu mồ hôi ngừng mà lại phiền thì uống năm hợp. Nếu sợ một thăng quá nhiều thì uống sáu hoặc bảy hợp là thích hợp.
PHƯƠNG GIẢI
Trị phong thấp dùng Cam thảo phụ tử thang, tức là Quế chi phụ tử thang bỏ Sinh khương, Đại táo, thêm Bạch truật.
Bỏ Sinh khương, Đại táo vì sợ trợ phát hãn; thêm Bạch truật để làm khô thấp ở trung tiêu.
Ngày uống ba lần. Lần đầu uống một thăng, nếu chưa ra mồ hôi để giải bệnh thì vẫn uống một thăng.
Nếu hơi ra mồ hôi mà bệnh giải, ăn được, là bệnh đã giải hoàn toàn, có thể ngừng, không uống tiếp.
Nếu ra mồ hôi mà lại phiền thì bệnh chưa giải hết, vẫn nên uống, nhưng không được uống thêm một thăng, vì đã ra mồ hôi, uống nhiều sợ phát hãn quá mức. Uống năm hợp là được.
Nếu chưa giải, uống tiếp sáu hoặc bảy hợp là thích hợp.
Cách uống như vậy đều nhằm chỉ rõ không nhất thiết phải uống hết toàn thang. Người học còn chỗ chưa hiểu về lý thì tìm ngay trong nguyên văn, tự sẽ lĩnh hội.
ĐIỀU VĂN
Thái dương trúng nhiệt chính là bệnh yết. Người bệnh ra mồ hôi, sợ lạnh, thân nóng, khát.
CHÚ GIẢI
Bệnh do trúng thử nhiệt cũng từ biểu thái dương mà vào, nên nói: “Thái dương trúng nhiệt chính là bệnh yết.”
Người bệnh ra mồ hôi, sợ lạnh, thân nóng, khát, khá giống ôn nhiệt ở thái dương.
Nhưng ôn nhiệt không sợ lạnh, vì nhiệt từ trong phát ra, nên dù ra mồ hôi cũng không sợ lạnh. Trúng yết sợ lạnh là vì thử từ ngoài vào, nên ra mồ hôi mà sợ lạnh.
Xét mạch, ôn nhiệt có mạch phù thì tất phù mà thực; trúng yết có mạch phù thì tất phù mà hư, vì thử nhiệt làm tổn thương khí.
Xét khát, ôn nhiệt lúc mới bệnh chỉ muốn uống nước; trúng yết vừa phát bệnh đã khát nhiều, muốn uống nhiều.
Ôn nhiệt truyền kinh, biến chứng không chỉ một loại; trúng yết thì không truyền, không khỏi có thể chết.
Tuy cùng là bệnh trong kinh thái dương, nhưng hư thực và cách điều trị khác nhau. Nên lấy Nhân sâm bạch hổ thang chủ trị.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Nóng bức như hun hấp gọi là thử; bị thử làm tổn thương gọi là yết.
Ra mồ hôi, sợ lạnh là biểu thái dương không vững. Thân nóng là thử tà làm tổn thương phần dương. Khát là tân dịch hao mất, bên trong khô táo.
Trình Tri nói: Điều này phân biệt mạch chứng của thử nhiệt.
“Thái dương trúng nhiệt” nghĩa là có biểu chứng thái dương nhưng thuộc trúng nhiệt.
Cùng là biểu bệnh thái dương: ra mồ hôi, sợ lạnh, thân nóng mà không khát là trúng phong; ra mồ hôi, thân nóng, khát, không sợ lạnh là ôn bệnh.
Nay ra mồ hôi, sợ lạnh, thân nóng, khát thì là trúng yết. Yết là khí thử nhiệt.
Không nói “yết” mà nói “nhiệt” vì vị nhiệt nổi bật hơn cả. Lý có nhiệt nên thân nóng, khát; thử thương khí nên ra mồ hôi, sợ lạnh.
Ngô Nhân Câu nói: Không được vì sợ lạnh mà dùng thuốc cay ấm; cũng không được vì ra mồ hôi mà cố biểu. Chỉ nên dùng thuốc ngọt lạnh để giải thử nhiệt.
ĐIỀU VĂN
Thái dương trúng yết, phát nhiệt, sợ lạnh, thân nặng, đau nhức, mạch huyền, tế, khâu, trì.
Sau khi tiểu tiện, rét rờn rợn, lông dựng lên, tay chân nghịch lạnh. Chỉ hơi lao động thì thân đã nóng, miệng há, răng cửa phía trước khô.
Nếu phát hãn thì sợ lạnh càng nặng; dùng thêm ôn châm thì phát nhiệt càng nặng; nhiều lần công hạ thì chứng lâm càng nặng.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nêu rõ chứng và mạch, răn không được tùy tiện phát hãn, công hạ, ôn châm.
Thái dương trúng yết, không có mồ hôi, thân nặng, đau nhức, giống thương hàn. Nhưng mạch huyền, tế, khâu, trì không phải mạch thương hàn.
Lại có sau khi tiểu tiện thì rét rờn rợn, lông dựng lên, là do biểu khí của thái dương bàng quang bị thử làm tổn thương.
Tay chân nghịch lạnh là vì thử thương khí; khí bị tổn thương, không thể đến tứ chi, nên lạnh.
Chỉ hơi lao động thì thân đã phát nhiệt, miệng há, răng cửa khô, là vì lao động làm nhiệt phát động, thử nhiệt càng mạnh, tổn thương âm dịch.
Đây đều là nguy chứng của trúng yết.
Nếu thấy phát nhiệt, không có mồ hôi, sợ lạnh, thân đau, nhận nhầm là biểu chứng thương hàn mà tùy tiện phát hãn, thì biểu khí càng hư, sợ lạnh càng nặng.
Nếu thấy tay chân nghịch lạnh, nhận nhầm là dương hư mà tùy tiện dùng ôn châm, thì thử tà càng thịnh, phát nhiệt càng mạnh.
Nếu thấy nhiệt mạnh, răng khô, nhận nhầm là vị hỏa mà nhiều lần công hạ, thì nguồn nước khô kiệt, tiểu tiện khó, đau rát càng nặng.
Các chứng trên đều là biến chứng do trúng yết mà tùy tiện phát hãn, công hạ, ôn châm. Chỉ nên dùng Bạch hổ gia nhân sâm thang chủ trị; hoặc dùng Nhân sâm thang hòa Thần sa lục nhất tán cũng được.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Kinh nói: “Do thử mà ra mồ hôi, phiền thì thở suyễn, thở gấp.”
“Miệng há” là thở suyễn, thở gấp. Thở gấp không ngừng nên răng cửa phía trước khô.
Trình Tri nói: Dương của cơ thể theo mồ hôi mà tiết ra ngoài; âm của cơ thể do nhiệt mà khô kiệt bên trong.
Vì vậy chứng yết cấm dùng phát hãn, công hạ, ôn châm. Phát hãn thì thương dương; công hạ thì thương âm; ôn châm thì dẫn hỏa vào trong.
Trương Tích Câu nói: “Rét rờn rợn” là hình trạng sợ lạnh. “Lông dựng” là lông tơ dựng lên.
ĐIỀU VĂN
Thái dương trúng yết, thân nóng, đau, nặng nề, mạch vi nhược, cũng có thể do mùa hè bị nước lạnh làm tổn thương, thủy khí lưu hành trong da mà gây nên.
CHÚ GIẢI
Trong chứng thái dương trúng yết, thân nóng, đau, nặng nề là thử làm tổn thương hình thể; mạch vi nhược là thử làm tổn thương khí.
Xét chứng và mạch này, cũng có thể do người ấy trong mùa hè nóng bức thích tìm gió mát, uống nước lạnh quá nhiều. Thủy khí chuyển đến da, biểu bị tà bó, không thể theo mồ hôi mà tiết ra.
Lúc này dùng Hương nhu ẩm, Đại thuận tán để phát hãn, có thể khỏi ngay.
Nếu chần chừ không trị, thủy khí không thể thoát ra biểu, gây phù, tất sẽ công vào lý, gây suyễn, trướng. Khi ấy lại nên dùng Đình lịch đại táo thang hoặc Qua đế nhất vật tán để công hạ.
Điều trên răn không được phát hãn, công hạ; điều này chỉ rõ có trường hợp nên phát hãn, công hạ.
Phép của Trọng Cảnh thường như vậy, vì sợ người học cố chấp mà dùng không thích hợp.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Thân nóng, đau, nặng nề mà nói do mùa hè bị nước lạnh làm tổn thương, nước lưu hành trong da, là vì thổ chủ cơ nhục, ghét thấp; nước thấm vào thổ rồi bị nhiệt hun hấp.
Mạch vi nhược là vì nhiệt làm huyết khô, khí hao.
Mùa hè uống nước vốn là việc thường, vậy vì sao nói bị tổn thương?
Thật do thử bức khiến uống quá nhiều, hoặc do tắm rửa bằng nước lạnh, làm thử trái lại đi vào trong.
Trương Lộ nói: Xét ba điều luận về yết, điều đầu nói bệnh do hoạt động mà mắc, gọi là trúng yết, thuộc ngoại nhân.
Điều tiếp nói bệnh mắc khi yên tĩnh, tuy gọi là trúng yết, thực là thử bệnh, thuộc nội nhân.
Điều cuối nói do nóng mà bị lạnh làm tổn thương, là biến chứng của trúng yết, thuộc nguyên nhân không phải nội cũng không phải ngoại.
Không được gọi lẫn cả ba loại.
Trình Ứng Mao nói: Có thể thấy bệnh trúng yết phần nhiều dương khí ở biểu, trong vị hư lạnh, nên thân nóng, đau, nặng nề, mạch vi nhược.
Mùa hè uống nước lạnh, âm ở lý uất giữ dương ở biểu, thủy khí không thể tuyên tiết, lưu hành trong da, thường có chứng này.
Khai uất, tuyên dương trong trường hợp này là bổ sung thêm một ý nghĩa về trị chứng yết.
ÂM THIẾT
几: bản nguồn ghi đọc như 殊, âm Hán Việt là thù. 搏 đọc như 团, âm Hán Việt là đoàn. 掣 đọc như 彻, âm Hán Việt là triệt. 暍 đọc như 谒, âm Hán Việt là yết. 洒 có âm thiết “sở hạ”.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Bản nguồn thiếu lượng Bạch truật, nên bản dịch không tự bổ sung. Những lời “khỏi ngay”, “không khỏi thì chết” là nhận định của cổ thư.
Thần sa là chế phẩm chứa thủy ngân; Qua đế có độc tính. Các cách dùng này được giữ để phản ánh nguyên văn, không phải hướng dẫn tự điều trị.
Mục âm thiết “几 đọc như 殊” có dấu hiệu sai chữ trong bản nguồn, cần đối chiếu bản khác trước khi hiệu đính.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH HOẮC LOẠN
辨霍乱病脉证并治篇
Hoắc loạn do tà phong, hàn, thử, nhiệt cùng thức ăn, đồ sống lạnh xen lẫn, đồng thời gây bệnh ở trung tiêu. Chính khí không chống đỡ nổi, để mặc tà khí làm rối loạn, khiến tam tiêu hỗn loạn, thanh trọc xâm phạm nhau, rối loạn ở trường vị.
Biểu tà nặng thì có đầu đau, thân đau, phát nhiệt, sợ lạnh. Lý tà nặng thì có nôn, tiêu chảy, bụng đau dữ dội. Hàn nặng thì gân co rút, tay chân quyết nghịch, ra mồ hôi lạnh. Thử nặng thì khát nhiều, uống nước không ngừng.
Bệnh khác nhau, trị pháp cũng khác nhau. Phải xét kỹ nguyên nhân, phân biệt điều trị, mới tránh sai lầm trong lúc bệnh phát đột ngột.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Bệnh hoắc loạn là thế nào?
Đáp: Nôn mửa mà tiêu chảy, gọi là hoắc loạn.
CHÚ GIẢI
Hỏi: Bệnh hoắc loạn có hình trạng thế nào?
Đáp: Đột nhiên nôn mửa, tiêu chảy, gọi là hoắc loạn.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Tam tiêu là đường đi của nước và thức ăn.
Tà ở thượng tiêu thì nôn mà không tiêu chảy; ở hạ tiêu thì tiêu chảy mà không nôn; ở trung tiêu thì tất vừa nôn vừa tiêu chảy.
Do ăn uống không điều độ, hàn nhiệt không điều hòa, thanh trọc xâm phạm nhau, âm dương trái cách mà thành hoắc loạn.
Nhẹ thì chỉ gọi là nôn, tiêu chảy; nặng thì phát tác dữ dội, rối loạn, nên gọi là hoắc loạn.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Người bệnh phát nhiệt, đầu đau, thân đau, sợ lạnh, nôn, tiêu chảy, thuộc bệnh gì?
Đáp: Gọi là hoắc loạn. Người bệnh tự nôn, tiêu chảy; sau khi tiêu chảy ngừng, lại phát nhiệt.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nêu rõ chứng trạng.
Đầu đau, thân đau, phát nhiệt, sợ lạnh là phong, hàn, thử, nhiệt ở biểu gây bệnh. Nôn, tiêu chảy là thức ăn, đồ sống lạnh ở lý gây bệnh. Có đủ những chứng ấy gọi là hoắc loạn.
Nếu nôn đã ngừng, tiêu chảy cũng ngừng, nhưng vẫn đầu đau, thân đau, sợ lạnh, lại phát nhiệt, thì lý đã giải mà biểu chưa giải.
Nên dùng Hoắc hương chính khí thang hoặc Hương nhu ẩm để phát tán, điều hòa.
Nếu không còn đầu đau, thân đau, sợ lạnh, nôn, tiêu chảy, mà ra mồ hôi, phát nhiệt, khát, muốn uống nước, thì biểu đã giải mà lý chưa giải.
Nên dùng Thần sa lục nhất tán hoặc Bạch hổ gia nhân sâm thang để bổ và thanh.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Phát nhiệt, đầu đau, thân đau, sợ lạnh là ngoại cảm. Nôn, tiêu chảy là nội thương.
Điều trên từ tên bệnh hỏi chứng; điều này từ chứng xác định tên bệnh, nhằm giải thích nhiều lần cho rõ.
Trình Ứng Mao nói: Hoắc loạn chỉ thấy nôn và tiêu chảy thì ai cũng biết phải chú trọng trung tiêu.
Nếu có phát nhiệt, đầu đau, thân đau, sợ lạnh cùng với nôn, tiêu chảy, thì trong lúc đột ngột, biểu lý khó phân biệt.
Vì vậy xác định bệnh thuộc hoắc loạn, bỏ cách gọi thương hàn, để người học không vì biểu chứng mà nhầm lẫn lý bệnh.
Thẩm Minh Tông nói: Nôn, tiêu chảy đã ngừng, lại phát nhiệt là lý khí đã hòa, biểu tà chưa giải, nên theo phép giải biểu.
Nếu không có biểu chứng, chỉ bụng đau, nôn, tiêu chảy, thì lý tà chưa giải, nên lấy hòa lý làm chính.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, mạch vi sáp, vốn là hoắc loạn, nay giống thương hàn. Nhưng thương hàn phải đến bốn, năm ngày, tà tới kinh âm; chuyển vào âm thì tất tiêu chảy.
Người vốn đã nôn, tiêu chảy thì không được trị như thương hàn.
Muốn đại tiện nhưng chỉ thoát hơi, vẫn không tiêu chảy, thì thuộc dương minh, đại tiện tất cứng. Đến ngày thứ mười ba thì khỏi, vì quá trình truyền kinh đã hết.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, phân biệt phát nhiệt, đầu đau, thân đau, sợ lạnh, nôn, tiêu chảy là những chứng giống thương hàn.
Nếu có các chứng trước mà mạch phù khẩn thì là thương hàn. Nay mạch vi sáp thì vốn là hoắc loạn.
Hoắc loạn lúc mới phát đã nôn, tiêu chảy. Thương hàn phải sau bốn, năm ngày, khi tà truyền vào kinh âm, mới bắt đầu nôn, tiêu chảy.
Trường hợp này vốn là hoắc loạn, vừa phát đã nôn, vừa phát đã tiêu chảy, nên không được trị như thương hàn, mà chờ nôn, tiêu chảy tự ngừng.
Nếu ngừng rồi, có vẻ muốn đại tiện nhưng chỉ thoát hơi, vẫn không đại tiện, thì thuộc dương minh.
Thuộc dương minh thì đại tiện tất cứng. Nhưng cứng ở đây do tổn thương tân dịch, chưa được công hạ.
Nên chờ đến ngày thứ mười ba, quá trình truyền kinh hết, vị hòa, tân dịch hồi phục, đại tiện thông thì tự khỏi.
Nếu quá ngày thứ mười ba mà đại tiện vẫn không thông, là quá kinh mà chưa giải, có thể dùng phép hạ.
TẬP CHÚ
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều này giải thích thêm hoắc loạn có vẻ giống thương hàn. Phải phân biệt rõ nôn, tiêu chảy của thương hàn và nôn, tiêu chảy của hoắc loạn, để xác định trị pháp, tránh sai lầm.
Nôn, tiêu chảy trong thương hàn có hình chứng của sáu kinh. Nôn, tiêu chảy trong hoắc loạn có phân biệt biểu lý, âm dương.
Đều phải nhận biết từng mặt mới có nhận định chắc chắn, không dao động, nhầm lẫn.
ĐIỀU VĂN
Sau khi tiêu chảy, đại tiện đáng lẽ cứng. Đại tiện cứng mà ăn được thì khỏi.
Nay trái lại không ăn được; đến thời kỳ kinh tiếp theo, hơi ăn được, lại qua một kinh thì ăn được. Qua thêm một ngày đáng lẽ khỏi.
Nếu không khỏi thì không thuộc dương minh này.
CHÚ GIẢI
Điều này giải thích thêm ý nghĩa sau tiêu chảy, đại tiện tất cứng.
Phàm sau tiêu chảy, trường vị trống rỗng, tân dịch thiếu hụt, đại tiện đáng lẽ cứng. Đại tiện cứng mà ăn được là vị khí đã hồi phục; đến ngày thứ mười ba, tân dịch trở lại, đại tiện thông thì tự khỏi.
Nay trái lại không ăn được là vị khí chưa hồi phục. Chờ đến sau ngày thứ mười ba, qua thời kỳ truyền kinh, nếu hơi ăn được thì cũng đáng lẽ khỏi.
Nếu không khỏi là đáng khỏi mà không khỏi.
Như vậy có thể biết không thuộc loại dương minh đại tiện cứng, qua kinh đến ngày thứ mười ba thì khỏi, mà thuộc dương minh do vị hư hàn sau nôn, tiêu chảy, không ăn được; hoặc thuộc dương minh do vị hư táo sau nôn, tiêu chảy.
Trường hợp này phải dùng thuốc, chờ đợi mãi cũng không thể tự khỏi. Có thể lựa chọn Lý trung hoặc thuốc trị tỳ ước mà dùng.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Tiêu chảy ngừng mà không ăn được là tà nhiệt đã đi, nhưng vị khí trống rỗng.
Chờ qua một kinh, vị khí dần hồi phục thì tự ăn được.
ĐIỀU VĂN
Hoắc loạn, đầu đau, phát nhiệt, thân đau; nhiệt nhiều, muốn uống nước, Ngũ linh tán chủ trị. Hàn nhiều, không muốn uống nước, Lý trung hoàn chủ trị.
CHÚ GIẢI
Hoắc loạn do thủy ẩm phát động bên trong nên nôn, tiêu chảy cùng xảy ra. Phong hàn xâm nhập bên ngoài nên đầu đau, phát nhiệt, thân đau.
Nhiệt nhiều, muốn uống nước là thủy ẩm kết hợp với nhiệt, dùng Ngũ linh tán để cùng giải ẩm và nhiệt.
Không muốn uống nước là trung tiêu hàn, dùng Lý trung hoàn để chuyên ôn trung tiêu.
Lý trung hoàn là các vị của Lý trung thang được hòa chế thành viên.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Hoắc loạn, nhiệt nhiều, muốn uống nước là dương tà thịnh. Hàn nhiều, không muốn uống nước là âm tà thịnh.
Ngũ linh tán khiến nước lưu hành thì nhiệt được tiết, cũng gọi là cùng giải.
“Lý” là sửa trị, điều lý. “Trung” là bên trong, chỉ phần âm ở lý.
Nhân sâm, Bạch truật vị ngọt, tính ấm, ôn lý; Cam thảo ngọt bình, hòa trung; Can khương cay nóng, tán hàn.
Thẩm Minh Tông nói: Điều này nói hoắc loạn phải phân hàn nhiệt mà trị.
Đầu đau, phát nhiệt, thân đau là phong hàn làm tổn thương biểu.
Bên ngoài có phong, bên trong có nhiệt, ăn uống gây nôn, tiêu chảy, tất muốn uống nước. Nên dùng Ngũ linh tán cùng giải biểu lý, khiến tà ở biểu theo mồ hôi, tà ở lý theo tiểu tiện mà đi.
Không muốn uống nước là hàn nhiều, không có nhiệt, dương khí của vị hư, nên lấy Lý trung hoàn ôn trung, tán hàn làm chính.
Đó là dựa vào biểu lý, hàn nhiệt để biện chứng trị bệnh.
ĐIỀU VĂN
Nôn, tiêu chảy đã ngừng mà thân đau không dứt, nên cân nhắc để hòa giải phần ngoài, dùng Quế chi thang hòa nhẹ.
CHÚ GIẢI
Hoắc loạn, nôn, tiêu chảy đã ngừng mà thân đau không dứt, là lý đã hòa, biểu chưa hòa.
Phải cân nhắc nhẹ nặng để trị, nên dùng Quế chi thang, làm hơi ra mồ hôi để hòa phần ngoài.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Nôn, tiêu chảy ngừng là lý hòa. Thân đau là biểu tà đã lui nhưng cơ thể mới bị hư.
“Tiêu tức” nghĩa là cân nhắc. Quế chi thang củng cố vệ khí, điều hòa biểu.
“Hòa nhẹ” nghĩa là cho uống từng ít, không để quá mức.
Trình Ứng Mao nói: Nôn, tiêu chảy đều ngừng, hoàn toàn không còn chứng hoắc loạn, chỉ thân đau không dứt, mới có thể theo phép Quế chi thang để hòa giải phần ngoài.
Vì trong phương có Thược dược tính hàn nên vẫn phải cân nhắc, vẫn nói “hòa nhẹ”.
Huống chi nôn, tiêu chảy chưa ngừng, sao dám tùy tiện dùng thuốc hàn lương?
Trương Tích Câu nói: Trong kinh này, phàm nói “hòa nhẹ”, “hòa ít” là chỉ tà nhẹ, không cần công mạnh.
ĐIỀU VĂN
Vừa nôn vừa tiêu chảy, tiểu tiện lại nhiều, ra mồ hôi nhiều, tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, trong hàn ngoài nhiệt, mạch vi muốn tuyệt, Tứ nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Hoắc loạn vừa nôn vừa tiêu chảy, tân dịch hao mất bên trong, tiểu tiện đáng lẽ ít, không có mồ hôi.
Nay tiểu tiện lại nhiều, ra mồ hôi nhiều, tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, mạch vi muốn tuyệt, là dương bên ngoài hư, không thể giữ gìn; âm hàn bên trong độc thịnh ở trung tiêu.
Bên trong là chân hàn, bên ngoài là giả nhiệt, nên không dùng Lý trung mà dùng Tứ nghịch chủ trị.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Nôn, tiêu chảy làm mất tân dịch thì tiểu tiện đáng lẽ ít.
Tiểu tiện lại nhiều, ra mồ hôi nhiều là tân dịch không giữ được, dương khí rất hư.
Mạch vi là vong dương. Nếu không có ngoại nhiệt, chỉ nội hàn, tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu thì là thuần âm chứng.
Ở đây có ngoại nhiệt, cho là dương chưa tuyệt, vẫn có thể dùng Tứ nghịch thang cứu trị.
Ngô Nhân Câu nói: Vừa nôn vừa tiêu chảy, lại ra mồ hôi nhiều, thì các đường thoát đều mở; tiểu tiện lại nhiều nữa.
Nói “lại nhiều” là trái lại không muốn tiểu tiện thông nhiều, vì lúc này cần giữ lại.
Tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, trong hàn ngoài nhiệt, mạch vi muốn tuyệt, muốn cứu vãn một sợi dương khí mong manh thật không dễ. Dùng Tứ nghịch sao có thể chậm?
ĐIỀU VĂN
Nôn, tiêu chảy, ra mồ hôi, phát nhiệt, sợ lạnh, tứ chi co căng, tay chân quyết lạnh, Tứ nghịch thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Hoắc loạn, nôn, tiêu chảy, ra mồ hôi, phát nhiệt, sợ lạnh, tứ chi co căng, tay chân quyết lạnh là chứng trong ngoài đều hàn.
Nên dùng Tứ nghịch thang trợ dương để thắng âm.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Nôn, tiêu chảy, tứ chi co căng, tay chân quyết lạnh là âm ở lý thịnh.
Ra mồ hôi, phát nhiệt, sợ lạnh là dương ở biểu hư.
Nên dùng Tứ nghịch thang, là phương cùng cứu trong ngoài.
Trình Tri nói: Nôn, tiêu chảy mà lại ra mồ hôi thì dương khí gần như thoát mất.
Phát nhiệt, sợ lạnh là dương chưa hoàn toàn hao mất. Tứ chi co căng, tay chân quyết lạnh thì không thể không dùng Tứ nghịch để trợ dương, lui âm.
Lại xét chứng thiếu âm có nói: “Sợ lạnh, thân co, tiêu chảy, tay chân quyết lạnh thì không trị được.” Lại nói: “Tiêu chảy, sợ lạnh, nằm co, tay chân ấm thì có thể trị.”
Ở đây nôn, tiêu chảy, ra mồ hôi, tứ chi co căng, tay chân quyết lạnh mà dùng Tứ nghịch trị là vì có chứng phát nhiệt.
Phát nhiệt là dương chưa hoàn toàn hao mất, vẫn là sinh cơ của người bệnh.
Vì vậy kinh lại nói: “Nôn, tiêu chảy, tay chân không nghịch lạnh, trái lại phát nhiệt thì không chết.”
ĐIỀU VĂN
Nôn đã ngừng, tiêu chảy đã dứt, nhưng ra mồ hôi, quyết lạnh, tứ chi co căng không giải, mạch vi muốn tuyệt, Thông mạch tứ nghịch gia trư đởm trấp thang chủ trị.
CHÚ GIẢI
Hoắc loạn, nôn, tiêu chảy đã ngừng, nhưng ra mồ hôi, quyết lạnh, tứ chi co căng, mạch vi muốn tuyệt, là hàn ở trung tiêu thịnh cực, ngăn cách dương khí, khiến không đến được tứ chi.
Nên dùng Thông mạch tứ nghịch thang thêm dịch mật lợn, thuận theo phần âm để thông dương.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Nôn đã ngừng, tiêu chảy đã dứt, tân dịch bên trong khô kiệt, đáng lẽ không ra mồ hôi, quyết lạnh.
Nay ra mồ hôi, quyết lạnh, tứ chi co căng không giải, mạch vi muốn tuyệt là dương khí rất hư, âm khí độc thịnh.
Nếu chỉ dùng thuốc thuộc dương thì sợ phần âm chống lại, khiến nôn hoặc táo động, thuốc không vào được.
Dùng Thông mạch tứ nghịch thang thêm dịch mật lợn. Mật đắng vào tâm, thông mạch; mật lạnh bổ can, hòa âm, dẫn thuốc thuộc dương vào, không bị chống lại.
Nội kinh nói: “Nhẹ thì nghịch trị, nặng thì thuận trị.” Chính là ý nghĩa này.
Phương Hữu Chấp nói: “Dĩ” là ngừng. “Hạ” tức là tiêu chảy. “Đoạn” là dứt.
Nghĩa là nôn, tiêu chảy đều đã ngừng, nhưng các chứng còn lại chưa giải, nên lại nêu trị pháp.
ĐIỀU VĂN
Sợ lạnh, mạch vi, tiêu chảy. Tiêu chảy ngừng là mất huyết. Tứ nghịch gia nhân sâm thang chủ trị.
LỜI ÁN
Tiêu chảy ngừng, mất huyết, sao lại dùng thuốc đại nhiệt để bổ?
“Tiêu chảy ngừng” nên là “tiêu chảy không ngừng”. “Mất huyết” nên là “vong dương”.
CHÚ GIẢI
Hoắc loạn, nôn, tiêu chảy đã ngừng; nếu sợ lạnh, mạch vi mà lại tiêu chảy, tiêu chảy không ngừng, thì dương khí hư.
Nên dùng Tứ nghịch gia nhân sâm để ích dương, bổ khí.
TẬP CHÚ
Lâm Lan nói: Hoắc loạn cốt ở xét kỹ hàn nhiệt để trị.
Nếu quả thật là hoắc loạn do trúng thử trong mùa hè, mạch hư, tiểu tiện đỏ, ít, thì không được dùng Phụ tử, Can khương, phải phân biệt cẩn thận.
Chỉ khi tiêu chảy đã ngừng, mạch vi, sợ lạnh mới có thể dùng.
Ông lại nói: Hoắc loạn do trúng thử chỉ nên dùng Ngũ linh tán, thêm các vị như Hương nhu, Biển đậu, Cát căn, nước Sinh khương, Hoàng liên sao để trị.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Hoắc loạn” trong cổ thư chỉ chứng nôn, tiêu chảy cấp, không đồng nghĩa riêng với bệnh tả do vi khuẩn.
Các chữ khuyết được phục hồi thành “đại tiện cứng”; lỗi chữ “小盒饭少” được hiểu là “tiểu tiện đáng lẽ ít”.
Ở điều cuối, bản dịch giữ nguyên điều văn “tiêu chảy ngừng, mất huyết”, rồi trình bày riêng ý kiến hiệu đính thành “tiêu chảy không ngừng, vong dương”. Lời Lâm Lan vẫn dựa vào cách đọc “tiêu chảy đã ngừng”, nên không sửa cho đồng nhất.
Trường Xuân biên soạn
TỨ NGHỊCH GIA NHÂN SÂM THANG PHƯƠNG
四逆加人参汤方
Trong phương Tứ nghịch thang, thêm Nhân sâm một lượng. Các vị còn lại và cách dùng theo phương Tứ nghịch thang.
ĐIỀU VĂN
Sau nôn, tiêu chảy, phát hãn, mạch bình hòa, hơi phiền, là vì cơ thể mới hư, không chịu được cốc khí.
CHÚ GIẢI
Hoắc loạn, nôn đã ngừng, tiêu chảy đã dứt, mồ hôi đã ngừng, mạch bình hòa là trong ngoài đều đã giải.
Theo phép có thể ăn. Ăn vào mà hơi phiền là vì sau nôn, tiêu chảy, cơ thể mới hư, chưa chịu được cốc khí. Tiết chế ăn uống thì tự có thể khỏi.
TẬP CHÚ
Trịnh Trọng Quang nói: Sau nôn, tiêu chảy, phát hãn, mạch bình hòa, phải âm lui, dương hồi mới có biểu hiện ấy. Tuy vậy, cơ thể mới hư, không chịu được cốc khí nên hơi phiền.
Hoắc loạn, nôn, tiêu chảy, trong khoảng một ngày đêm không được vội cho ăn uống, vì vị khí còn nghịch, kho chứa chưa vững, không thể vội đưa cơm gạo vào.
Trương Tích Câu nói: Hoắc loạn thường gặp nhất vào mùa hè, mùa thu. Tà phong, hàn, thử, thấp tác động vào người đều có thể gây hoắc loạn, không chỉ riêng hàn tà.
Nếu nôn, tiêu chảy quá mức, làm tổn thương khí của trung tiêu, khiến âm dương cách trở, tay chân quyết lạnh, mạch vi muốn tuyệt, không uống nhiều nước, thì bất kể hàn hay thử, đều nên dùng Tứ nghịch, Lý trung để trị.
Tà thịnh mà chính khí thực thì nên tả tà; tà thịnh mà chính khí suy thì nên phù chính.
Huống chi mùa hè, dương khí nổi ở ngoài, âm khí ẩn ở trong; lại dùng gió lạnh làm lạnh hình thể, nước lạnh làm lạnh vị, khiến trong ngoài đều hàn. Tà phong thử không khỏi thừa hư mà vào kinh âm.
Vì vậy, theo ông, mùa hè chỉ có âm chứng mà không có thương hàn. Người mắc thử chứng rồi chết, móng tay chân đều xanh, là âm chứng.
Người xưa dùng Đại thuận tán trị thử, quả có nguyên do.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Cốc khí” ở đây chỉ tác động của thức ăn đối với tiêu hóa; “không chịu được cốc khí” nghĩa là vị khí chưa hồi phục, ăn vào dễ khó chịu.
Lời không cho ăn uống trong một ngày đêm và nhận định mùa hè “chỉ có âm chứng” là quan điểm của nhà chú giải cổ. Không áp dụng lời kiêng ăn uống để trì hoãn bù nước khi nôn, tiêu chảy.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG CỦA BỆNH CÓ THỂ PHÁT HÃN
辨可汗病脉证篇
ĐIỀU VĂN
Bệnh có lúc rất cấp bách, vội tìm xét thì khó nắm được những điểm cốt yếu. Vì vậy, lại tập hợp các phương pháp có thể dùng và không thể dùng; so với việc tìm trong các thiên tam âm, tam dương, ở đây dễ thấy hơn.
Cũng có những điều không chỉ nằm trong các thiên tam âm, tam dương, mà được trình bày trong các thiên nói về phép có thể dùng và không thể dùng.
CHÚ GIẢI
Bệnh rất cấp bách, vội tìm trị pháp thì khó nắm được điểm cốt yếu. Những phép chủ yếu là hãn, thổ, hạ.
Vì vậy, lại tập hợp các phép hãn, thổ, hạ có thể dùng và không thể dùng. So với tìm trong các thiên tam âm, tam dương thì dễ thấy hơn.
Cũng có những điều không chỉ được nêu trong các thiên tam âm, tam dương, mà còn được trình bày trong các thiên về phép có thể dùng và không thể dùng.
ĐIỀU VĂN
Theo đại pháp, mùa xuân và mùa hè thích hợp với phép phát hãn.
CHÚ GIẢI
Mùa xuân, mùa hè, dương khí thư thái, thông đạt, nên thích hợp với phát hãn. Đây là phép thường trong điều trị, gọi là đại pháp.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Mùa xuân, mùa hè thích hợp với phát hãn, vì phát hãn có tác dụng giúp tuyên thông dương khí, tương ứng với ý nghĩa sinh phát, trưởng dưỡng của xuân hè.
Người nay thường xem Ma hoàng thang, Quế chi thang là thuốc cấm dùng trong xuân hè. Dễ dàng làm trái kinh như vậy là vì chưa hiểu đạo trời.
ĐIỀU VĂN
Phàm phát hãn, muốn cho mồ hôi ra khắp, cả tay chân đều có, chỉ hơi rịn đều; kéo dài khoảng một thời gian cũng tốt, không được khiến mồ hôi chảy đầm đìa như nước.
Nếu bệnh chưa giải thì có thể phát hãn lại. Nhưng mồ hôi nhiều tất làm vong dương; dương hư thì không được phát hãn lại.
CHÚ GIẢI
Phàm phát hãn, khiến mồ hôi ra khắp, cả tay chân đều có, là muốn mồ hôi ra từ từ, đều khắp, để tà khí được trừ hết mà chính khí không tổn thương.
Lấy mồ hôi hơi rịn đều, không chảy đầm đìa như nước làm mức độ thích hợp, không muốn mồ hôi ra gấp, quá nhiều.
Nếu ra gấp, quá nhiều thì tà khí chưa hết mà chính khí trái lại bị tổn thương.
Nếu bệnh chưa giải, có thể phát hãn lại. Nhưng lần trước mồ hôi đã nhiều, phát hãn thêm tất làm hao mất dương. Dương hư thì dù bệnh chưa giải cũng không dám phát hãn lại.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Mồ hôi ra từ từ thì tà ở biểu lý được trừ hết. Mồ hôi ra nhiều thì tà không được trừ, chỉ làm vong dương.
Dương hư là không có đủ tân dịch, nên không được phát hãn lại.
Phương Hữu Chấp nói: Đây là lời dặn kỹ về mức độ, chừng mực của phát hãn.
Trương Tích Câu nói: Mồ hôi là tân dịch. Mồ hôi nhiều làm mất tân dịch, vì sao lại nói vong dương?
Kinh nói: “Thượng tiêu khai mở tấu lý, hun nhuận da, làm đầy thân, làm nhuận lông, như sương móc tưới thấm.”
Mồ hôi tuy là tân dịch, nhưng phải nhờ dương khí hun hấp, tuyên phát mới ra được. Vì vậy, mồ hôi nhiều làm mất tân dịch, dương cũng theo đó mà hao mất.
ĐIỀU VĂN
Phàm uống thang thuốc để phát hãn, khi thuốc đã đạt tác dụng trị bệnh thì ngừng, không nhất thiết uống hết thang.
CHÚ GIẢI
Uống thang thuốc phát hãn, mồ hôi ra, bệnh giải thì có thể ngừng, không uống tiếp; không nhất thiết phải uống hết thang.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: “Đạt tác dụng trị bệnh thì ngừng” cũng là lời nói chung cho Ma hoàng và Quế chi.
Chữ “đạt” chỉ rõ phải tiết chế, đồng thời nghiêm cấm dùng thuốc khi không phù hợp với bệnh.
ĐIỀU VĂN
Phàm nói có thể phát hãn, nếu không có thuốc thang thì cũng có thể dùng thuốc hoàn, tán; cốt lấy ra mồ hôi để giải bệnh.
Nhưng không bằng thuốc thang, có thể tùy chứng mà dùng, hiệu nghiệm tốt.
CHÚ GIẢI
Phàm nói có thể phát hãn mà không có thuốc thang, là trong lúc gấp chưa có thuốc thang, có thể dùng hoàn, tán thay thế. Mục đích vẫn là làm ra mồ hôi để giải bệnh.
Nhưng hoàn, tán là phương thuốc cố định, không bằng thuốc thang có thể tùy chứng mà điều chỉnh, hiệu nghiệm xác đáng, nên nói là tốt.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Hoàn, tán chỉ có thể dùng để ứng biến tạm thời; về khả năng tùy chứng thì không bằng thuốc thang.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh có mạch phù đại. Hỏi người bệnh, người ấy nói: “Chỉ đại tiện cứng mà thôi.”
Nếu dùng thuốc công hạ thì là đại nghịch. Đại tiện cứng tuy là thực, nhưng ra mồ hôi thì bệnh giải.
Vì sao? Vì mạch phù, nên dùng phép phát hãn để giải.
CHÚ GIẢI
Mạch phù đại thuộc biểu chưa giải. Tuy có đại tiện cứng, lý thực, cũng không được công hạ.
Vì sao? Vì mạch phù.
Phải giải phần ngoài trước. Biểu giải, nhiệt được trừ, trong ngoài điều hòa thì đại tiện tự thông.
Nếu dùng thuốc công hạ là đại nghịch.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Kết hung tuy cấp, mạch phù đại vẫn không được công hạ; hạ thì chết, huống chi ở đây chỉ đại tiện cứng?
Trong luận có nói: “Vốn nên phát hãn mà lại công hạ, đó là nghịch. Nếu phát hãn trước thì điều trị không nghịch.” Chính là ý nghĩa này.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các chữ khuyết liên quan đại tiện được phục hồi thành “cứng”. Cụm “□□然” được dịch theo ngữ cảnh là “hơi rịn đều”, biểu thị mồ hôi ra nhẹ, không đầm đìa.
Các quy tắc theo mùa và nhận định dựa vào mạch phù là quan điểm trong cổ thư; không dùng riêng mùa hoặc một đặc điểm mạch để quyết định phát hãn.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG CỦA BỆNH KHÔNG ĐƯỢC PHÁT HÃN
辨不可汗病脉证篇
ĐIỀU VĂN
Mạch nhu mà nhược; nhược lại ở bộ quan, nhu lại ở phần phù, vi lại ở bộ thốn, sáp lại ở bộ xích.
Vi thì dương khí không đủ; sáp thì huyết thiếu. Dương khí suy vi, có biểu hiện trúng phong, ra mồ hôi mà lại táo phiền. Sáp là huyết thiếu, nên quyết lạnh, sợ lạnh.
Dương suy vi mà phát hãn thì táo động, không ngủ được.
CHÚ GIẢI
Phù mà không có lực là mạch nhu. Trầm mà không có lực là mạch nhược. Cả phù, trung, trầm đều không có lực, như có như không, là mạch vi. Trệ, không lưu lợi là mạch sáp.
“Đỉnh” chỉ phần phù; “trên” chỉ bộ thốn; “dưới” chỉ bộ xích.
Đoạn mạch nhu mà nhược, nhược ở quan, nhu ở phần phù, vi ở thốn, sáp ở xích, nghĩa là bộ quan lấy nhẹ thấy nhu, lấy sâu thấy nhược; bộ thốn vi, bộ xích sáp.
Dương hư thì mạch thốn vi; huyết ít thì mạch xích sáp. Đây là mạch dương hư, huyết ít, không được phát hãn.
Dương hư thì ra mồ hôi, sợ lạnh; huyết ít thì tâm phiền, phát nhiệt. Đây là chứng dương hư, huyết ít, không được phát hãn.
Nếu nhận nhầm là thái dương trúng phong mà phát hãn, tất khiến âm dương mất sự nương tựa, cả hai đều hao mất, nên trái lại phiền táo, không ngủ, quyết lạnh, sợ lạnh.
ĐIỀU VĂN
Mạch nhu mà nhược; nhược lại ở bộ quan, nhu lại ở phần phù, huyền lại ở bộ thốn, vi lại ở bộ xích.
Huyền là dương vận động; vi là âm hàn. Trên thực, dưới hư, người bệnh muốn được ấm.
Vi và huyền cùng thấy là hư, không được phát hãn. Phát hãn thì rét run, không thể tự hồi phục.
CHÚ GIẢI
Đoạn này nói bộ quan lấy nhẹ thấy nhu, lấy sâu thấy nhược; bộ thốn huyền, bộ xích vi.
Huyền là dấu hiệu nhiệt tà thiếu dương; vi là dấu hiệu hàn tà thiếu âm, nên nói trên thực, dưới hư.
Nhưng vi, huyền cùng thấy, hư thực chưa rõ, phải xét người bệnh muốn được ấm. Đó không phải sợ lạnh do tà ở biểu, mà là sợ lạnh do bệnh ở lý.
Vì vậy không được phát hãn. Nếu phát hãn nhầm thì âm càng thịnh, sinh rét run; dương càng suy, không thể tự hồi phục.
ĐIỀU VĂN
Các mạch sác, động mà vi nhược thì không được phát hãn.
Phát hãn sẽ khiến đại tiện khó, trong bụng khô, vị táo mà phiền. Hình trạng giống nhau nhưng căn nguyên khác nhau.
CHÚ GIẢI
Các bệnh có mạch sác, động là dấu hiệu hữu dư, có thể phát hãn. Nhưng nếu ấn xuống thấy vi nhược thì bên ngoài giả thực, bên trong chân hư, không được phát hãn.
Nếu phát hãn nhầm, làm tổn thương tân dịch, thì trong bụng khô, đại tiện khó, vị táo mà phiền.
Hình trạng giống dương minh vị thực, nhiệt kết, nhưng xét căn nguyên, thực do phát hãn ở người vốn hư, khiến tân dịch khô kiệt, thành dương minh hư táo.
Vì vậy nói: “Hình trạng giống nhau nhưng căn nguyên khác nhau.”
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Động, sác thuộc nhiệt; vi, nhược thuộc hư.
Phát hãn làm hao động tân dịch thì đại tiện khó, bụng khô, vị táo mà phiền.
So với chứng lý nhiệt dương minh, tuy hình trạng giống nhau, nhưng căn nguyên có khác biệt hư thực.
Trương Chí Thông nói: Sác, động là dương mạch; vi, nhược là âm mạch.
Các mạch động, sác mà vi nhược, nghĩa là ở ba bộ hai bên, có thể thấy động, sác nhưng ấn xuống vi nhược; đều không được phát hãn.
Phát hãn khiến tân dịch khô kiệt bên trong nên đại tiện khó; thủy khí tiết ra ngoài nên trong bụng khô; hỏa nhiệt bốc lên nên vị táo mà phiền.
“Hình trạng giống nhau” là sau phát hãn cùng có chứng táo. “Căn nguyên khác nhau” là mạch động, sác thuộc dương, mạch vi, nhược thuộc âm; có âm, có dương, có hư, có thực.
ĐIỀU VĂN
Quyết lạnh, mạch khẩn, không được phát hãn. Phát hãn thì tiếng nói rối loạn, họng khàn, lưỡi mềm yếu, tiếng nói không phát ra được.
CHÚ GIẢI
Mạch có thể phát hãn phải âm dương đều khẩn.
Nay quyết lạnh, mạch khẩn là khẩn của thiếu âm, không phải khẩn của thái dương.
Nếu phát hãn thì làm tổn thương khí thiếu âm, xuất hiện tiếng nói rối loạn, họng khàn, lưỡi mềm yếu, tiếng không phát ra được.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Quyết lạnh, mạch khẩn là thiếu âm thương hàn. Theo phép nên ôn lý mà lại phát hãn thì tổn thương khí thiếu âm.
Mạch thiếu âm không thể thực hiện đường đi vào phế, theo họng, kẹp gốc lưỡi, nên tiếng nói rối loạn, họng khàn, lưỡi mềm yếu, tiếng nhỏ, không thể nói lớn.
Ngụy Lệ Đồng nói: Đoạn này xét mạch trong chứng quyết, nhận biết dương hư phải cấm phát hãn, qua đó làm rõ sai lầm của phát hãn nghịch phép.
Quyết có lãnh quyết, nhiệt quyết, hồi quyết, quyết do hàn nhiệt thay nhau thắng.
Chỉ cần thấy mạch khẩn, bất kể loại quyết nào, bệnh đều ở phần âm. Nếu phát hãn, trái lại công phần dương thì khí tán, huyết kiệt.
Lưỡi có gốc ở thận, tiếng nói phát từ phế. Tiếng rối loạn, họng khàn là phế khí sắp tuyệt. Lưỡi mềm yếu là không còn thực hiện được chức năng. Tiếng không phát ra được là bản khí không phấn chấn.
Đều do phát hãn làm tán mất chân khí của hai tạng thận, phế.
ĐIỀU VĂN
Động khí ở bên phải, không được phát hãn. Phát hãn thì chảy máu mũi, khát, tâm phiền khó chịu, uống vào liền nôn nước.
Động khí ở bên trái, không được phát hãn. Phát hãn thì đầu choáng, mồ hôi không ngừng, gân rung, bên trong co giật.
Động khí ở trên, không được phát hãn. Phát hãn thì khí xông lên, ngay vùng tâm.
Động khí ở dưới, không được phát hãn. Phát hãn thì không có mồ hôi, trong tâm rất phiền, các khớp xương đau nhức, mắt choáng, sợ lạnh; ăn vào lại nôn, thức ăn không đi xuống được.
CHÚ GIẢI
“Động khí” là khí đập, nhảy động từng nhịp.
Trên, dưới, trái, phải của rốn là vị trí của bốn tạng. Khí của bốn tạng không yên ở vị trí nên động.
Do vốn bị khách tà chiếm giữ, khí của bản tạng đã mất khả năng giữ vững, còn phải nhờ vị khí ở trung tiêu làm chủ.
Dù có biểu tà cũng không được phát hãn, vì sợ khí và tân dịch trong vị đều tổn thương, bản tạng mất sự nuôi dưỡng, tà của tạng khắc chế nó nhân đó cùng gây bệnh.
Động khí ở phải là phế khí không điều trị được, tâm mất chức năng thường lệ. Nếu phát hãn nhầm thì tâm khí càng nhiệt, huyết mạch sôi động, nên chảy máu mũi, khát, phiền khó chịu. Phế mất chức năng trị tiết, không thể thông điều thủy đạo, nên uống vào liền nôn nước.
Động khí ở trái là can khí không điều trị được, phế mất chức năng thường lệ. Nếu phát hãn nhầm thì can hư, mất khả năng thăng, nên đầu choáng. Mồ hôi không ngừng, tân dịch không nuôi gân cơ, nên gân rung, cơ giật.
Động khí ở trên là tâm khí không điều trị được, thận mất chức năng thường lệ. Nếu phát hãn nhầm thì tâm khí hư, nên thận khí xông lên ngay vùng tâm.
Động khí ở dưới là thận khí không điều trị được, tỳ mất chức năng thường lệ. Nếu phát hãn nhầm, thận thủy hư kiệt, nên xương đau, sợ lạnh, không có mồ hôi, tâm phiền, mắt choáng. Tỳ thổ quá táo, không giữ được sự vận hóa thường lệ, nên ăn vào lại nôn, không tiếp nhận được thức ăn.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói động khí không được phát hãn.
Chính khí bên trong hư, tạng khí không điều hòa, nên khí đập từng nhịp. Động khí thuộc lý hư, vì vậy không được phát hãn.
Trình Ứng Mao nói: Tạng khí không yên ở vị trí nên động.
Do vốn có tà chiếm giữ, khí của bản tạng ở trong tình trạng nương tựa mong manh, rất dễ rời đường vận hành thường lệ. Muốn giữ vững hoàn toàn phải nhờ vị khí làm chủ.
Phát hãn khiến vị khí hư, bốn tạng mất sự nuôi dưỡng, trái lại bị tà công, mỗi tạng xuất hiện biểu hiện lệch khỏi đường vận hành thường lệ.
Bệnh tuy khác nhau ở trái, phải, trên, dưới, nhưng đều cùng một ý nghĩa là mất khả năng kiến trung.
ĐIỀU VĂN
Trong họng bế tắc, không được phát hãn. Phát hãn thì nôn ra máu, khí suy gần tuyệt, tay chân quyết lạnh, muốn nằm co, không thể tự ấm.
CHÚ GIẢI
Mạch thiếu âm theo họng, liên hệ gốc lưỡi. Trong họng bế tắc là khí thiếu âm không thể thông lên trên.
Nếu cưỡng phát mồ hôi của thiếu âm, dương suy vi không thể hóa sinh mồ hôi, tất làm động huyết.
Vì vậy nôn ra máu, khí suy gần tuyệt, nằm co, quyết lạnh, không thể tự ấm.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Trong họng bế tắc, không được phát hãn, vì âm tà thịnh. Cưỡng phát mồ hôi tất làm động huyết.
Đến khi nôn ra máu, khí sắp tuyệt, thì ngay cả dương khí ít ỏi trong thận cũng không thể tự giữ, nên tay chân quyết lạnh, muốn nằm co, không thể tự ấm.
Dưới quyết, trên kiệt, nằm co, quyết lạnh, đều là nguy chứng trong thiếu âm.
Trình Ứng Mao nói: Thuốc phát hãn thuộc dương, dùng vào kinh âm thì nghịch.
Trong họng bế tắc là do dịch của thiếu âm ít, thận khí không thể thông lên trên.
Phát hãn ở thiếu âm thì dưới quyết, trên kiệt, nên có những chứng như vậy.
ĐIỀU VĂN
Có ho thì bệnh nặng, thường nôn ra nước dãi, bọt, trong họng tất khô, tiểu tiện không lợi, trong tâm có cảm giác đói, phiền.
Cứ một ngày đêm lại phát, hình trạng giống sốt rét, có lạnh mà không có nóng, hư mà rét run.
Ho mà phát hãn thì nằm co, đầy tức khó chịu, trong bụng lại cứng.
CHÚ GIẢI
“Có ho thì bệnh nặng” là ho nhiều. Thường nôn nước dãi, bọt, phế bị tổn thương, tân dịch hao, nên họng khô, tiểu tiện không lợi, trong tâm cảm thấy đói, phiền.
“Chu thời” là trọn một ngày đêm, nghĩa là mỗi ngày đêm phát một lần.
Hình trạng giống sốt rét, có lạnh mà không có nóng, là trung tiêu hư mà sinh rét run.
Nếu nhận nhầm là ho do hình thể bị lạnh mà phát hãn, thì phế khí đã hư, vệ dương lại hao mất.
Dương khí tổn thương cả hai mặt, không thể làm ấm trung tiêu, hạ tiêu; âm khí ngưng ở trong ngoài, nên nằm co, đầy tức khó chịu, trong bụng lại cứng.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này tiếp đoạn trên về mạch nhu, nhược, huyền, vi. Nếu có ho thì bệnh nặng, không được phát hãn.
Ho thì thường nôn nước dãi, bọt; họng tất khô, tiểu tiện tất không lợi. Dương ở vùng cách mô hư thì trong tâm có cảm giác đói, phiền.
Vệ khí trong một ngày đêm đi khắp thân năm mươi vòng. Dương hư không thể tự bảo vệ, nên mỗi ngày đêm rét run như sốt rét, chỉ có lạnh, không có nóng.
Phát hãn trong trường hợp này thì dương khí càng hư, âm hàn càng thịnh, tất nằm co, đầy tức khó chịu, bụng chuyển cứng.
ĐIỀU VĂN
Ho mà tiểu tiện thông lợi, hoặc tiểu tiện không tự chủ, không được phát hãn. Mồ hôi ra thì tứ chi quyết nghịch.
CHÚ GIẢI
Ho phần nhiều do thủy ẩm, tiểu tiện đáng lẽ không lợi. Nếu tiểu tiện thông lợi thì biết không có ẩm.
Nay ho mà tiểu tiện không tự chủ, không những không có ẩm, mà còn là ho do dương ở hạ tiêu hư, bàng quang không giữ vững.
Vì vậy không được phát hãn. Mồ hôi ra thì dương khí càng suy, tứ chi nghịch lạnh.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Nội kinh nói thận ho không ngừng thì bàng quang chịu bệnh; biểu hiện bàng quang ho là ho mà són tiểu.
Vì vậy ho mà tiểu tiện thông lợi, hoặc tiểu tiện không tự chủ, là dương trong thận hư. Phát hãn thì dương khí càng hao mất, nên quyết lạnh.
ĐIỀU VĂN
Các chứng nghịch do phát hãn, bệnh nhẹ thì khó khỏi; bệnh nặng, nói năng rối loạn, mắt choáng thì chết, tính mạng khó bảo toàn.
CHÚ GIẢI
Không đáng phát hãn mà phát hãn, hoặc đáng phát hãn nhưng làm quá mức, đều gây nghịch, nên gọi là “các chứng nghịch”.
Bệnh do phát hãn gây nghịch, nhẹ thì khó khỏi, nặng thì chết.
Nặng là dương thoát, thấy ma quỷ, nói năng rối loạn; âm thoát, mắt mất khả năng nhìn, choáng tối.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Các chứng nghịch phần nhiều thuộc thiếu âm, âm hàn đã cực.
Phát hãn là tiếp tục hao đoạt dương. Tuy có nhẹ, nặng khác nhau, đều liên quan đến sống chết, cho thấy dương là gốc của tính mạng.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn, đầu đau, phát nhiệt nhẹ lan tỏa, hình trạng giống trúng phong, thường hơi ra mồ hôi, tự nôn.
Nếu công hạ thì phiền tăng, trong tâm bứt rứt như đói. Phát hãn thì thành chứng kinh, thân cứng, khó co duỗi.
Hun lửa thì phát vàng, không tiểu tiện được; cứu thì phát ho, khạc nhổ.
CHÚ GIẢI
Đầu đau, phát nhiệt nhẹ lan tỏa, ra mồ hôi, nôn, hình trạng giống trúng phong, nên dùng Quế chi thang giải cơ.
Nếu công hạ, nặng thì biến thành kết hung, bĩ cứng; nhẹ thì trong tâm càng phiền, bứt rứt như đói.
Không dùng Quế chi thang giải cơ mà dùng Ma hoàng thang phát hãn thì biểu hư, phong vào, thành chứng kinh, nên thân cứng, khó co duỗi.
Hoặc dùng lửa hun hấp, cưỡng bức lấy mồ hôi, thì không tiểu tiện được, nhiệt kết hợp với thấp mà phát vàng.
Cứu thì hỏa tà thương phế, nên ho, khạc nhổ không ngừng.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Nếu trái lại công hạ, tà nhiệt thừa hư chảy vào ngực, thành hư phiền, trong tâm bứt rứt như đói.
Nếu phát hãn thì làm biểu hư, nhiệt dồn về kinh lạc, nhiệt thịnh sinh phong, nên thân co cứng thẳng đờ, thành chứng kinh.
Nếu hun lửa thì hỏa nhiệt hợp lại, nung hao tân dịch, nên tiểu tiện không lợi, phát vàng.
Phế ghét hỏa; cứu thì hỏa nhiệt thương phế, tất phát ho, khạc nhổ.
Cao Sĩ Tông nói: Phát hãn, công hạ, hun lửa, cách điều trị khác nhau nhưng cùng làm tổn thương chính khí.
Vì vậy nêu công hạ, hun lửa cùng bàn với phát hãn.
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều này giải thích thêm: dù có biểu chứng, đáng phát hãn, cũng phải xét kỹ để biết điều cấm.
Giống trúng phong, đầu đau, phát nhiệt nhẹ lan tỏa là chứng Quế chi. Nôn thì vẫn có thủy ẩm tích bên trong.
Hạ nhầm làm phiền tăng, bứt rứt như đói, có thể biết trước khi hạ đã phiền; nay chỉ nặng thêm.
Nếu lại phát hãn nhầm, biểu hư, phong vào, nên thân cứng, khó co duỗi.
Hun lửa bức mồ hôi, nhiệt vào lý, nên không tiểu tiện được.
Tiểu tiện thông lợi thì không thành chứng vàng da. Phát vàng cho thấy tiểu tiện bị thấp tà ngăn trở, bị nhiệt tà hao tổn.
Cứu thì nhiệt xông lên, nên ho, khạc ra mủ máu.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Chữ khuyết trong “gân rung, bên trong □” được dịch theo ngữ cảnh là “co giật”; “心懊□” là “trong tâm bứt rứt”.
Bản nguồn ghi “咽中闭寒”, nhưng chú giải và tập chú đều dùng “咽中闭塞”; bản dịch theo nghĩa “trong họng bế tắc”. Cụm “giải đói” trong chú giải điều cuối được hiểu là lỗi chữ của “giải cơ”, phù hợp với câu ngay trước đó.
Các cách quy thuộc động khí quanh rốn vào bốn tạng và những nhận định tiên lượng được giữ theo quan điểm của cổ thư.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG CỦA BỆNH CÓ THỂ DÙNG PHÉP THỔ
辨可吐病脉证篇
ĐIỀU VĂN
Theo đại pháp, mùa xuân thích hợp với phép thổ.
CHÚ GIẢI
Hãn, thổ, hạ là những đại pháp trị bệnh.
Nói mùa xuân thích hợp với phép thổ là dựa theo khí mùa xuân của trời thăng lên mà lập phép.
Tuy nhiên, phàm bệnh đáng dùng phép thổ mới dùng, không được nhất loạt áp dụng.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Phép thổ thuận theo chiều thăng, có ý nghĩa phát ra những gì tích chứa, nên nói mùa xuân thích hợp với phép thổ.
ĐIỀU VĂN
Phàm dùng thang thuốc gây thổ, khi đã đạt tác dụng trị bệnh thì ngừng, không nhất thiết uống hết thang.
CHÚ GIẢI
Dùng thang thuốc gây thổ vốn để trừ tà ở thượng tiêu. Đạt tác dụng trị bệnh thì ngừng.
Nếu bệnh đã hết mà vẫn dùng quá mức, trái lại làm tổn thương trung khí, nên không nhất thiết uống hết thang.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Thổ để trừ tà ở thượng tiêu.
Thượng tiêu là phần thanh dương. Dùng thuốc gây thổ quá mức thì tà đã đi, nhưng dương ở đản trung bị tổn thương. Dương khí không thể không quý trọng, giữ gìn.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thuộc các loại thực tà ở vùng ngực trên, trong ngực uất tức, đau, không ăn được, muốn người khác ấn vào nhưng trái lại có nước dãi.
Tiêu chảy ngày hơn mười lần, mạch trái lại trì, riêng mạch thốn khẩu hoạt. Trường hợp này có thể dùng phép thổ; thổ thì tiêu chảy ngừng.
CHÚ GIẢI
“Các loại thực tà ở vùng ngực trên” là những loại như đàm, nhiệt hoặc hàn.
Thực tà gây bệnh nên trong ngực uất tức, đau, không ăn được.
Muốn người khác ấn vào, nhưng đau không giảm, trái lại có nước dãi, thì biết tà đầy thịnh trong ngực, gặp sự ấn ép mà tràn lên.
Kinh nói: “Tiêu chảy, mạch trì mà hoạt là bên trong có thực.”
Nay tiêu chảy ngày hơn mười lần, mạch trái lại trì, riêng mạch thốn khẩu hoạt, thì biết hàn thực ở trên, nước không chuyển xuống bàng quang mà chạy vào đại trường.
Vì vậy chỉ dùng phép thổ, tiêu chảy tự ngừng.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Đau, không ăn được, ấn vào trái lại có nước dãi, thì biết có hàn đàm trong ngực.
Tiêu chảy, mạch trì, riêng mạch thốn khẩu hoạt là thực tà ở trên cách mô, nên thổ thì tiêu chảy tự ngừng.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh tay chân nghịch lạnh, mạch chợt kết, do khách khí ở trong ngực; tâm hạ đầy, phiền, muốn ăn nhưng không ăn được.
Bệnh ở trong ngực, nên dùng phép thổ.
CHÚ GIẢI
Tay chân quyết lạnh, mạch chợt kết là hàn tà kết với khí ở trong ngực, khiến dương khí không thể thông đạt đến tứ chi.
Tâm hạ đầy, phiền là thực tà kết thì đầy, dương uất thì phiền.
Muốn ăn nhưng không ăn được là khách khí gây bệnh trong ngực, nên dùng phép thổ.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Chứng này giống chứng Qua đế tán. Điều kia nói mạch chợt khẩn, điều này nói mạch chợt kết, chỉ khác ở điểm ấy.
Khẩn là nội thực; chợt khẩn thì tà ở ngực, thực nhưng chưa sâu.
Kết là kết thực; chợt kết thì tà ở ngực, kết nhưng chưa sâu.
Tuy trị pháp giống nhau, mức độ dùng nhẹ hay nặng vẫn có khác biệt.
Trình Tri nói: Mạch đến chậm, thỉnh thoảng ngừng một lần rồi lại đến, gọi là kết. Kết là tên gọi biểu hiện đàm khí kết trệ.
Chứng này giống chứng Qua đế tán, nhưng điều kia nói mạch chợt khẩn là hàn tà thịnh; điều này nói mạch chợt kết là đàm khí thực.
Trương Tích Câu nói: Tay chân quyết lạnh là khí cơ kết ở trong, không thể thông ra tứ chi.
Tâm hạ đầy, phiền là tà thực thì đầy, chính khí bị tổn thương thì phiền.
Ngụy Lệ Đồng nói: Mạch chợt kết không phải trạng thái vốn có của mạch, mà do tà hữu hình ngăn trở tông khí trong ngực, khiến dinh vệ không thể lưu hành thông畅.
Không giống mạch kết do khí huyết hư suy, không đủ sức lưu thông.
ĐIỀU VĂN
Thức ăn tích ở thượng quản thì nên dùng phép thổ.
CHÚ GIẢI
Vị có ba phần quản.
Thức ăn tích ở thượng quản thì đau ở vùng ngực, cách mô; đau muốn nôn, có thể thổ, không được hạ.
Thức ăn tích ở trung quản thì đau ở vùng tâm khẩu; đau muốn nôn, hoặc muốn nôn mà không nôn được, có thể thổ, có thể hạ.
Thức ăn tích ở hạ quản thì đau trên rốn; đau mà không muốn nôn, không được thổ, có thể hạ.
Vì vậy nói: “Thức ăn tích ở thượng quản thì nên dùng phép thổ.”
Điều này nói rõ ý nghĩa tà ở trên thì có thể dùng phép thổ.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Thức ăn tích ở trung quản, hạ quản thì nên hạ; thức ăn tích ở thượng quản thì nên thổ.
Nội kinh nói: “Ở cao thì nhân đó đưa ra trên; ở dưới thì dẫn xuống mà trừ.”
Phương Hữu Chấp nói: Thượng quản là cửa trên của vị phủ.
Trương Chí Thông nói: Vị là biển của nước và thức ăn, có thượng quản, trung quản, hạ quản.
Phần trên chủ tiếp nhận, phần giữa chủ tiêu hóa. Nay thức ăn ở thượng quản không được tiêu hóa nên thành túc thực, cần dùng phép thổ.
Trình Ứng Mao nói: Tông khí tụ trong ngực, sự thăng giáng, hô hấp từ đó mà ra.
Phần thanh dương sao có thể để vật trọc lưu trệ? Dùng phép thổ để tuyên thông, khiến không còn ngăn trở.
Nếu thuộc biểu tà truyền vào, từ vô hình thành hữu hình, gây bĩ mãn, kết hung, thì có trị pháp riêng, không thích hợp áp dụng phép thổ này.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Thổ” ở đây là phép chủ động gây nôn trong y học cổ, khác với triệu chứng nôn tự phát. Các chỉ định được dịch theo nguyên văn, không dùng làm hướng dẫn tự gây nôn.
Thượng quản, trung quản, hạ quản trong đoạn này chỉ các phần của vị theo quan niệm cổ, không phải tên huyệt.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG CỦA BỆNH KHÔNG ĐƯỢC DÙNG PHÉP THỔ
辨不可吐病脉证篇
Đã trình bày đầy đủ trong các thiên về lục kinh.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG CỦA BỆNH CÓ THỂ DÙNG PHÉP HẠ
辨可下病脉证篇
ĐIỀU VĂN
Theo đại pháp, mùa thu thích hợp với phép hạ.
CHÚ GIẢI
Trời đến mùa thu thì khí giáng; vạn vật đến mùa thu thì thành thực. Thực thì thích hợp với phép hạ.
Phàm tà ở dưới đều nên lấy ý nghĩa ấy làm phép.
ĐIỀU VĂN
Phàm bệnh có thể dùng phép hạ, dùng thuốc thang tốt hơn hoàn, tán. Khi đã đạt tác dụng trị bệnh thì ngừng, không nhất thiết uống hết thang.
CHÚ GIẢI
“Thang” có nghĩa là quét sạch; “hoàn” có nghĩa là chậm.
Thuốc hạ quý ở tác dụng nhanh, vì vậy dùng thuốc thang tốt hơn thuốc hoàn.
Đạt tác dụng trị bệnh thì ngừng, không nhất thiết uống hết thang, vì sợ uống hết trái lại làm tổn thương chính khí.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Dùng thang tốt hơn hoàn là quý ở phép linh hoạt. Đạt tác dụng trị bệnh thì ngừng là chỉ rõ phải có tiết chế.
ĐIỀU VĂN
Tiêu chảy, mạch cả ba bộ đều bình hòa, ấn vùng tâm hạ thấy cứng, nên cấp hạ, dùng Đại thừa khí thang.
CHÚ GIẢI
Tiêu chảy, tâm hạ cứng là chứng của các thang tả tâm.
Nếu mạch ba bộ thốn, quan, xích bình, thực, có lực, thì dù tiêu chảy vẫn nên công chỗ cứng ấy.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch ba bộ đều bình hòa thì có thể biết khí huyết điều hòa. Tâm hạ cứng là thực, nên cấp hạ.
Trương Tích Câu nói: Trong kinh này có nói: “Nếu tự tiêu chảy thì mạch đáng lẽ vi, tay chân quyết lạnh. Nay trái lại điều hòa, đó là nội thực.” Vì vậy nên hạ.
ĐIỀU VĂN
Tiêu chảy, mạch trì mà hoạt là nội thực. Tiêu chảy chưa có chiều hướng ngừng, nên dùng phép hạ, Đại thừa khí thang thích hợp.
CHÚ GIẢI
Mạch trì không thể đồng thời là hoạt, nhưng lấy nhẹ thấy trì, lấy sâu thấy hoạt thì có thể có.
Nay tiêu chảy, mạch trì mà hoạt, nghĩa là lấy nhẹ thấy trì, lấy sâu thấy hoạt.
Phù trì thì bên ngoài điều hòa; trầm hoạt thì bên trong thực.
Muốn ngừng tiêu chảy do nội thực vẫn phải dùng phép hạ, khiến tích trệ được trừ thì tiêu chảy tự ngừng. Đại thừa khí thang thích hợp.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Trì mà hoạt, hoạt ở dưới, trì ở trên, thì biết trì do vật ngăn trở, không phải trì do âm hàn.
Vì vậy chỉ cần hạ phần ngăn trở ấy, nội thực được trừ thì tiêu chảy tự ngừng.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Người bệnh có túc thực, làm sao phân biệt?
Thầy nói: Mạch thốn khẩu phù mà đại, ấn xuống trái lại sáp; ở bộ xích cũng vi mà sáp. Vì vậy biết có túc thực, nên dùng phép hạ, Đại thừa khí thang thích hợp.
LỜI ÁN
Chữ “vi” ở bộ xích nên là chữ “đại”. Nếu là “vi” thì nhất định không có lý do dùng phép hạ.
CHÚ GIẢI
Mạch thốn khẩu phù mà đại, ấn xuống trái lại sáp, nghĩa là ấn xuống vừa đại, vừa sáp, vừa có lực. Bộ quan và bộ xích cũng như vậy.
Đại, sáp, có lực là dấu hiệu thực mà không thông lợi, nên biết có túc thực.
Nên dùng phép hạ, Đại thừa khí thang thích hợp.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Hoạt là có thức ăn tích. Khi kết trệ qua đêm thì mạch sáp.
Bộ xích xét bên trong; lấy trầm xét lý. Vì vậy mạch của túc thực, ấn xuống trái lại sáp, ở bộ xích cũng đại mà sáp.
ĐIỀU VĂN
Tiêu chảy, không muốn ăn là vì có túc thực. Nên dùng phép hạ, Đại thừa khí thang thích hợp.
CHÚ GIẢI
Mới tiêu chảy đã không muốn ăn là thương thực, chán thức ăn, nên không muốn ăn.
Nếu tiêu chảy lâu ngày, không muốn ăn thì là tổn thương tỳ; ăn vào đầy trướng, nên không muốn ăn.
Nay vừa tiêu chảy đã không muốn ăn, nên biết có túc thực. Dùng phép hạ, Đại thừa khí thang thích hợp, không nghi ngờ.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Thương thực, chán thức ăn nên không muốn ăn, khác với không thể ăn.
Tiêu chảy có biểu hiện này, lại không có những hư chứng khác, thì biết không phải tiêu chảy thuộc tam âm, mà do túc thực, nên dùng phép hạ.
ĐIỀU VĂN
Tiêu chảy đã khỏi, đến đúng năm, tháng, ngày, giờ ấy lại phát, là vì bệnh chưa được trừ hết. Nên dùng phép hạ, Đại thừa khí thang thích hợp.
CHÚ GIẢI
Sau khi tiêu chảy khỏi, đến đúng năm, tháng, ngày, giờ ấy lại tiêu chảy, là bệnh do túc thực tích tụ chưa được công trừ hết.
Nếu hình thể, khí lực chưa suy, ăn uống vẫn khỏe, thì nên công phần chưa hết, bệnh tự không tái phát. Đại thừa khí thang thích hợp.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Đến kỳ ấy” là đến đúng tháng, ngày ấy sau một năm.
Trình Ứng Mao nói: Sau khi tiêu chảy khỏi, dư tà ở những chỗ quanh co của trường vị chưa hết, đó là phục tà.
Tà ẩn theo thời tiết nào thì vẫn ứng với thời tiết ấy mà phát ra. Dùng phép hạ để tìm trừ cho hết.
ĐIỀU VĂN
Tiêu chảy, mạch trái lại hoạt, tất có vật cần trừ. Hạ thì khỏi, Đại thừa khí thang thích hợp.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, làm rõ thêm ý nghĩa và mạch.
Tiêu chảy, mạch trái lại hoạt, là chứng có vẻ hư mà mạch thực, không tương ứng.
Nếu hình thể, khí lực như thường, ăn uống như trước, thì có tích trệ cần trừ mà chưa được trừ.
Hạ thì khỏi, Đại thừa khí thang thích hợp.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Hoạt thuộc thực, nên có thể dùng phép “thông nhân thông dụng”, dùng thuốc thông để trị chứng có biểu hiện thông tiết.
ĐIỀU VĂN
Bệnh có trong bụng đầy, đau là thực, nên dùng phép hạ, Đại thừa khí thang thích hợp.
CHÚ GIẢI
Trong bụng không đầy mà đau, bệnh có thể thuộc hư. Nếu đầy mà đau thì là thực, nên dùng phép hạ, Đại thừa khí thang thích hợp.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Trong bụng vừa đầy vừa đau là thực kết, không nghi ngờ, phải mau dùng phép hạ.
Trình Ứng Mao nói: Bệnh có trong bụng đầy, đau, dù ở kinh âm cũng có thể hạ, không nhất thiết phải thuộc dương minh.
ĐIỀU VĂN
Sau thương hàn, mạch trầm. Trầm là nội thực, dùng phép hạ thì giải, Đại sài hồ thang thích hợp.
CHÚ GIẢI
Sau thương hàn, bệnh chưa giải, mạch trầm; trầm mà có lực là nội thực, nên dùng phép hạ để giải.
Nhưng người ấy tất có chút triều nhiệt sau buổi trưa, nên chọn Đại sài hồ thang để cùng giải hai mặt.
ĐIỀU VĂN
Mạch hai bên đều huyền mà trì thì tâm hạ tất cứng.
Mạch đại mà khẩn là trong dương có âm, có thể dùng phép hạ, Đại thừa khí thang thích hợp.
CHÚ GIẢI
“Hai bên đều huyền” nghĩa là bộ quan trái và bộ quan phải đều thấy mạch huyền.
Quan trái huyền là bản mạch của can. Quan phải huyền là mộc khắc thổ.
Huyền thuộc ẩm; trì thuộc hàn.
Tâm hạ cứng là can tà mang theo hàn ẩm làm tổn thương vị, nên không được hạ, thuộc chứng Sinh khương tả tâm thang.
Nếu mạch đại, ấn xuống khẩn, là dương hữu dư, âm cũng thực. Đó là cứng do hữu dư, khác với cứng do vị bị tổn thương.
Vì vậy có thể dùng phép hạ, Đại thừa khí thang thích hợp.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các chữ khuyết ở vùng tâm hạ được phục hồi thành “cứng”. Túc thực là thức ăn tích lưu, không được tiêu hóa.
Trong điều về túc thực, điều văn giữ “bộ xích vi mà sáp”; lời án đề nghị đổi “vi” thành “đại”, và chú giải theo cách hiệu đính ấy.
Những nhận định về mùa thu, chu kỳ tái phát và chỉ định công hạ được giữ theo cổ thư; không dùng riêng một biểu hiện như tiêu chảy, bụng đau hoặc mạch trầm để quyết định dùng thuốc hạ.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN MẠCH CHỨNG CỦA BỆNH KHÔNG ĐƯỢC DÙNG PHÉP HẠ
辨不可下病脉证篇
ĐIỀU VĂN
Mạch nhu mà nhược; nhược lại ở bộ quan, nhu lại ở phần phù, vi lại ở bộ thốn, sáp lại ở bộ xích.
Vi thì dương khí không đủ; sáp thì huyết thiếu. Dương khí suy vi, có biểu hiện trúng phong, ra mồ hôi mà lại táo phiền. Sáp là huyết thiếu, nên quyết lạnh, sợ lạnh.
Dương suy vi thì không được hạ. Hạ thì tâm hạ bĩ cứng.
CHÚ GIẢI
Đây chính là điều trước nói không được phát hãn: bộ quan lấy nhẹ thấy nhu, lấy sâu thấy nhược; bộ thốn vi, bộ xích sáp, là dấu hiệu dương hư, huyết ít.
Đã không được phát hãn, cũng không được công hạ, đều vì dương hư.
Nếu hạ nhầm thì hàn và hư làm bên trong suy kiệt, tâm hạ bĩ cứng, tất thành chứng bĩ cứng kèm tiêu chảy do hạ nhầm ở thái âm.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Phát hãn nhầm làm hao mất dương ở phần dương; công hạ nhầm làm hao mất dương ở phần âm.
Không có dương thì âm độc thịnh, địa khí được lên ở trên, nên tâm hạ bĩ cứng.
ĐIỀU VĂN
Mạch nhu mà nhược; nhược lại ở bộ quan, nhu lại ở phần phù, huyền lại ở bộ thốn, vi lại ở bộ xích.
Huyền là dương vận động; vi là âm hàn. Trên thực, dưới hư, người bệnh muốn được ấm.
Vi và huyền cùng thấy là hư. Hư thì không được hạ.
CHÚ GIẢI
Đây cũng là điều trước nói không được phát hãn: bộ quan lấy nhẹ thấy nhu, lấy sâu thấy nhược; bộ thốn huyền, bộ xích vi, là dấu hiệu trên thực, dưới hư.
Vi, huyền biểu thị hư; đã không được phát hãn, cũng không được công hạ, vì phần dưới hư.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Công hạ người vốn hư là làm hư thêm.
ĐIỀU VĂN
Mạch nhu mà nhược; nhược lại ở bộ quan, nhu lại ở phần phù, phù lại ở bộ thốn, sác lại ở bộ xích.
Phù là dương hư; sác là huyết thiếu. Phù thuộc hư; sác sinh nhiệt.
Phù thuộc hư nên tự ra mồ hôi, sợ lạnh. Sác thì đau, run, rét rùng mình.
Vi nhược ở bộ quan, dưới ngực co gấp, thở suyễn, ra mồ hôi, khó hô hấp; trong lúc hô hấp, đau ở sườn.
Run và lạnh cùng kết hợp, hình trạng giống sốt rét. Thầy thuốc trái lại dùng phép hạ, khiến mạch sác, phát nhiệt, chạy cuồng, thấy ma quỷ, tâm hạ bĩ, tiểu tiện nhỏ giọt, bụng dưới rất cứng, tiểu tiện ra máu.
CHÚ GIẢI
Đoạn này nói bộ quan lấy nhẹ thấy nhu, lấy sâu thấy nhược; bộ thốn phù, bộ xích sác.
Quan nhu nhược là trung khí thiếu hụt; thốn phù không có lực là dương hư; xích sác không có lực là huyết hư.
Dương hư nên tự ra mồ hôi, sợ lạnh. Huyết hư nên thân đau, run lạnh. Trung khí thiếu hụt nên vùng ngực, cách mô khí gấp, thở suyễn, ra mồ hôi, khó hô hấp; khi hô hấp, đau kéo đến sườn.
Run lạnh cùng kết hợp, hình trạng giống sốt rét. Lý tà chưa thực, biểu tà chưa giải mà thầy thuốc trái lại công hạ, khiến phần biểu vốn hư dương, tà chưa hết, đều hãm vào lý.
Vì vậy mạch hư sác, mất điều hòa, phát nhiệt, chạy cuồng, thấy ma quỷ, tâm hạ bĩ, bụng dưới rất cứng, tiểu tiện nhỏ giọt, ra máu.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Thốn khẩu phù nhu, quan nhược, xích sác, là vì dương khí người ấy vốn hư, hư dương hãm vào phần âm.
Nếu hạ nhầm, làm tổn thương huyết, tất khiến chạy cuồng, bĩ mãn, tiểu ra máu.
Ngụy Lệ Đồng nói: Điều trước, hư hàn phải kiêng hạ thì dễ biết. Điều này, hư mà kiêm nhiệt phải kiêng hạ thì khó biết.
Vì vậy hai điều đối chiếu, bổ sung cho nhau, để chỉ rõ điều cấm.
ĐIỀU VĂN
Mạch nhu mà khẩn. Nhu thì vệ khí suy vi; khẩn thì trong dinh có hàn.
Dương suy vi, vệ trúng phong, phát nhiệt, sợ lạnh. Dinh khẩn, vệ khí lạnh, hơi nôn, trong tâm phiền.
Thầy thuốc cho là có đại nhiệt, giải cơ, phát hãn, khiến vong dương, hư phiền táo, tâm hạ bĩ cứng khó chịu.
Biểu lý đều hư kiệt, đột nhiên đứng dậy thì đầu choáng. Khách nhiệt ở da, buồn bực, không ngủ được.
Không biết vị khí lạnh, hàn khẩn ở vùng quan nguyên, không còn cách xử trí, lại lấy nước dội lên thân.
Khách nhiệt tạm ngừng, nhưng rét run dữ dội. Đắp nhiều lớp chăn, mồ hôi ra, đầu choáng tối, thân rung, lại run, tiểu tiện hơi khó.
Hàn khí do nước mà phát, tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu không ngừng; nôn biến đổi, ruột sa ra, trở mình qua lại không yên.
Tay chân hơi nghịch lạnh, thân lạnh, bên trong phiền. Muốn cứu chữa về sau, đã chậm, sao còn có thể kéo trở lại?
CHÚ GIẢI
Mạch nhu mà khẩn là lấy nhẹ thấy nhu, lấy sâu thấy khẩn.
Nhu thì vệ biểu suy vi; khẩn thì dinh lý hàn. Bên ngoài có phát nhiệt, ra mồ hôi, sợ lạnh; bên trong có hơi nôn, tâm phiền.
Thầy thuốc cho là có nhiệt, giải cơ, phát hãn, khiến biểu dương càng hư, sinh phiền táo; lý hàn càng gấp, tâm hạ bĩ cứng.
Biểu hư, lý lạnh, nên đột nhiên đứng dậy thì đầu choáng, buồn bực, không ngủ.
Nếu chỉ thấy khách nhiệt ở da, không biết trung tiêu hàn ở lý, lại dùng nước lạnh dội thân, thì khách nhiệt tuy tạm ngừng nhưng rét run, không thể không đắp nhiều lớp chăn.
Mồ hôi ra tất choáng, thân rung, run, quyết nghịch, tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, phiền táo không yên mà chết.
Đó là vì dương ở trong ngoài đều hao mất, không thể hồi phục.
TẬP CHÚ
Trương Tích Câu nói: “Mồ hôi ra, đầu choáng tối” là mồ hôi ra thì dương khí hao mất bên ngoài, đầu hôn choáng, mắt nhìn không rõ.
Tiểu tiện hơi khó là dương hao mất, khí không thực hiện được khí hóa.
“Tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu không ngừng” là không có lúc gián đoạn.
“Nôn biến đổi” là tính chất của chất nôn thay đổi. “Ruột sa ra” là tiêu chảy khiến đại trường sa ra ngoài.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù mà đại. Phù là khí thực; đại là huyết hư.
Huyết hư là không có âm. Dương cô độc đi xuống phần âm thì tiểu tiện đáng lẽ đỏ, khó, trong bàng quang hư.
Nay trái lại tiểu tiện thông lợi, ra mồ hôi nhiều. Theo phép, vệ khí đáng lẽ suy vi, nay trái lại càng thực.
Tân dịch thoát ra khắp nơi, dinh kiệt, huyết hết, khô táo, phiền, không ngủ được, huyết ít, thịt tiêu, thành dịch thoát dữ dội.
Thầy thuốc lại dùng thuốc mạnh công vị, là làm hư thêm. Khách dương mất đi đã có kỳ hạn, tất tiêu chảy như bùn bẩn mà chết.
CHÚ GIẢI
Mạch phù mà đại là lấy nhẹ có lực, ấn xuống đại mà không có lực, thuộc hình tượng mạch cách.
Phù là khí thực, bên ngoài căng gấp; đại là huyết hư, bên trong trống rỗng.
Huyết hư nhiều thì vong âm; âm mất thì dương không có phần phối hợp, nên nói dương cô độc đi xuống phần âm.
Nghĩa là vệ dương đi xuống tìm phần âm. Tiểu tiện đáng lẽ đỏ, khó, vì trong bàng quang hư kiệt.
Nếu dương không đi xuống tìm âm thì tiểu tiện trái lại thông lợi, ra mồ hôi nhiều. Đó là vệ dương ở biểu hư, tà dương vào trong, không có âm để hóa, nên trái lại càng thực.
Tân dịch thoát ra khắp nơi, dinh kiệt, huyết hết, thịt tiêu, vị khô, phiền, không ngủ được.
Thầy thuốc không biết, đem chứng dương minh bên trong trống rỗng, dịch thoát dữ dội nhận nhầm là vị thực, lại dùng thuốc công mạnh, làm hư càng hư.
Vị dương hao mất đã có thể dự liệu, tất tiêu chảy ra chất bẩn như bùn mà chết.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói mạch khí thực, huyết hư, tiểu tiện thông lợi, ra mồ hôi nhiều thì không được hạ.
Trình Ứng Mao nói: Không có âm, dương cô độc đi xuống phần âm; nếu tiểu tiện đỏ, khó thì trong bàng quang chưa hư, chỉ là dương kết hợp với âm.
Dương chưa lìa thì âm còn giữ lại, chưa tán. Nay trái lại tiểu tiện thông lợi, ra mồ hôi nhiều thì vệ khí càng suy vi.
Phần “trái lại càng thực” không phải vệ dương thực, mà là khách dương thực.
Vệ dương còn có thể ôm giữ âm; khách dương thì chuyên công âm. Vì vậy tân dịch thoát ra khắp nơi, thành tiểu tiện thông lợi, ra mồ hôi nhiều.
Nhiệt thịnh bức âm, nên dinh kiệt, huyết hết, khô táo, phiền, không ngủ được, huyết ít, thịt tiêu, thành dịch thoát dữ dội.
“Dịch thoát dữ dội” nghĩa là từng giọt đều do hỏa khí nung ép mà ra.
Dùng thuốc mạnh công vị thì thổ bại, bốn tạng không được sinh dưỡng, tiêu chảy như bùn bẩn mà chết.
ĐIỀU VĂN
Mạch thương hàn, âm dương đều khẩn, sợ lạnh, phát nhiệt, thì mạch có chiều hướng quyết.
Mạch quyết là lúc đầu đến lớn, dần nhỏ, rồi lại dần lớn; đó là biểu hiện của nó.
Người như vậy, sợ lạnh nhiều thì mồ hôi hơi rịn, trong họng đau. Nếu nhiệt nhiều thì mắt đỏ, nhiều mạch đỏ, mắt nhìn không rõ.
Thầy thuốc lại phát hãn thì trong họng tổn thương. Nếu lại công hạ thì hai mắt nhắm; hàn nhiều thì đại tiện ra thức ăn chưa tiêu, nhiệt nhiều thì đại tiện ra mủ máu.
Hun lửa thì thân phát vàng; chườm nóng thì họng khô.
Tiểu tiện thông lợi thì có thể cứu; tiểu tiện khó thì nguy kịch.
CHÚ GIẢI
Thương hàn, mạch âm dương đều khẩn, sợ lạnh, phát nhiệt là biểu chứng thái dương.
“Mạch có chiều hướng quyết” là mạch phù khẩn lúc đầu lớn, dần nhỏ, biết là mạch sắp biểu hiện quyết.
Lúc đầu lớn là do dương nên phát nhiệt; dần nhỏ là do âm nên phát quyết.
Lại lớn thì lại nóng, lại nhỏ thì lại quyết lạnh; đó là biểu hiện của nó.
Phải dựa vào hàn nhiệt để phân biệt quyết.
Sợ lạnh nhiều, mồ hôi hơi rịn, họng đau là hàn quyết thiếu âm.
Phát nhiệt nhiều, mắt đỏ, nhiều mạch đỏ, mắt nhìn không rõ là nhiệt quyết dương minh.
Quyết do hàn nhiều hoặc nhiệt nhiều, nếu phát hãn nhầm thì họng đau như bị tổn thương; nếu công hạ nhầm thì hai mắt thường nhắm.
Phàm quyết tất có tiêu chảy. Hàn quyết thì tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu; nhiệt quyết thì tiêu chảy ra mủ máu. Đó là dựa vào tiêu chảy để phân biệt hàn nhiệt của quyết.
Hun hấp lấy mồ hôi thì thân phát vàng, do thấp nhiệt hợp lại. Chườm lửa lấy mồ hôi thì họng khô, do hỏa thịnh thương tân dịch.
Tiểu tiện thông lợi thì âm chưa hao mất, nên còn cứu được. Tiểu tiện khó thì âm đã hao mất, là nguy kịch.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nói bên ngoài bị hàn làm tổn thương, thành bệnh thấp nhiệt, không được phát hãn, công hạ, hun lửa, chườm nóng.
Trương Lộ nói: Mạch biểu hiện quyết cho thấy hàn nhiệt trong quyết nghịch thay nhau thắng.
Lúc đầu lớn là tà khí phát động; dần nhỏ là chính khí bị tổn thương; lại dần lớn là tà khí lại tiến.
Vì chính khí người ấy vốn hư, không thể giữ chủ, theo sự tiến lui của tà khí, nên mạch cũng theo tà khí tiến lui, lúc lớn, lúc nhỏ.
Tiểu tiện thông lợi là tân dịch chưa kiệt; tiểu tiện khó là tân dịch đã tuyệt, thuộc nguy kịch.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn phát nhiệt, khí từ miệng phả ra mạnh, đầu đau, mắt vàng, chảy máu mũi không cầm được.
Người ham uống nước tất nôn; người không muốn uống nước thì quyết lạnh.
Nếu công hạ thì trong họng sinh loét. Nếu tay chân ấm thì tất mót rặn, đại tiện ra mủ máu.
Đầu đau, mắt vàng, nếu công hạ thì mắt nhắm.
Ham uống nước, nếu công hạ thì mạch tất quyết, tiếng nhỏ như tiếng trẻ khóc, họng bế tắc. Nếu phát hãn thì run rẩy, âm dương đều hư.
Không muốn uống nước, nếu công hạ thì lý lạnh, không muốn ăn, đại tiện ra nguyên thức ăn chưa tiêu.
Nếu phát hãn thì trong miệng tổn thương, lưỡi có rêu trắng, phiền táo, mạch sác thực, không đại tiện sáu, bảy ngày, sau đó tất đại tiện ra máu.
Nếu phát hãn thì tiểu tiện tự lợi.
CHÚ GIẢI
Thương hàn phát nhiệt, khí từ miệng phả ra mạnh, đầu đau, mắt vàng là sắp chảy máu mũi.
Chảy máu mũi không cầm được là vì dương tà thịnh nên chảy nhiều.
Ham uống nước thì nước kết hợp với nhiệt nên nôn. Không muốn uống nước thì âm hàn ở lý thịnh nên quyết lạnh.
Thương hàn phát nhiệt, khí phả mạnh từ miệng, nếu công hạ, nhiệt tà vào nông thì họng sinh loét; vào sâu thì mót rặn, đại tiện ra mủ máu.
Đầu đau, mắt vàng, công hạ thì hai mắt nhắm, do dịch bị tổn thương, khô sáp.
Ham uống nước, công hạ thì nhiệt đi, nước còn lại, nên tứ chi quyết lạnh, tiếng nhỏ, họng bế tắc. Phát hãn quá nhiều làm vong dương, nên run rẩy, biểu lý đều hư.
Không muốn uống nước, công hạ thì lý hàn càng nặng, nên không muốn ăn, tiêu chảy ra nguyên thức ăn chưa tiêu.
Phát hãn làm động hư dương, nên miệng loét, lưỡi có rêu trắng, phiền táo.
Nếu mạch sác có lực, không đại tiện mà không muốn uống nước, là nhiệt ở phần âm, nên sau sáu, bảy ngày tất đại tiện ra máu.
Nếu lại phát hãn, âm dương đều hư, nên tiểu tiện tự lợi.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Thương hàn phát nhiệt là nhiệt ở biểu; khí từ miệng phả ra mạnh là nhiệt ở lý.
Đầu đau, mắt vàng, chảy máu mũi không cầm được là hàn đã cảm và nhiệt bị uất cùng hun hấp lên trên.
Phải dựa vào ham uống nước hay không muốn uống nước để phân biệt.
Ham uống nước là âm hư, nhiệt thắng; nước vào, nhiệt chống lại nên nôn. Không muốn uống nước là dương hư, hàn thắng; nước vào, dương khí không đảm đương được nên quyết lạnh.
Nhiệt khí mang theo hàn tà hun lên, theo phép phải phân biệt hàn nhiệt nhiều ít mà dùng thanh giải.
Nếu không biết, tùy tiện công hạ, là cưỡng ép mà tà không chịu, tất khiến họng loét.
Nếu tay chân ấm, không quyết lạnh, thì nhiệt thắng; công hạ tất khiến đại tiện ra mủ máu.
Đầu đau, mắt vàng, công hạ thì nhiệt hãm vào trong, mắt nhắm.
Ham uống nước là âm hư, bị phép hạ lạnh ngăn ép, mạch tất quyết; tiếng như trẻ khóc yếu, nghẹn tắc, không vang.
Nếu lại phát hãn thì vong dương, run rẩy, dương cũng cùng âm đều hư.
Không muốn uống nước là dương hư; thêm phép hạ lạnh thì biến thành lý lạnh, không muốn ăn, đại tiện ra nguyên thức ăn chưa tiêu.
Nếu lại phát hãn thì hư dương phát ra ngoài, tất miệng loét, lưỡi rêu trắng, phiền táo.
Mạch sác thực, không đại tiện thì sau sáu, bảy ngày sẽ đại tiện ra máu. Trường hợp này nên hạ.
Nếu lại phát hãn thì không chỉ đại tiện không đi, mà tiểu tiện cũng không lợi.
ĐIỀU VĂN
Mạch vi thì ho; ho thì nôn nước dãi.
Công hạ thì ho ngừng, nhưng tiêu chảy không dứt. Tiêu chảy không dứt, trong ngực như sâu cắn, cháo vào liền ra, tiểu tiện không lợi, hai bên sườn co căng, thở khó, cổ lưng kéo căng, cánh tay tê, mất cảm giác.
Hàn cực mà trái lại ra mồ hôi, thân lạnh như băng, mắt nhìn không rõ, nói không ngừng, nhưng lại ăn nhiều, đó là trừ trung.
Miệng tuy muốn nói nhưng lưỡi không đưa ra được.
CHÚ GIẢI
Dương thịnh sinh đàm; dương hư sinh ẩm. Ho mà mạch vi là ho do dương hư, nên ho thì nôn nước dãi, thủy ẩm.
Nếu mạch thực thì có thể hạ. Nay mạch vi, công hạ khiến hàn và hư càng nặng, nên ho tuy ngừng mà tiêu chảy không dứt.
Trong ngực như sâu cắn là vị hàn, giun động, nên cháo vào liền ra.
Dưới tiêu chảy, trên nôn là trung tiêu hàn. Tiểu tiện không lợi là ẩm ngừng.
Hai bên sườn co căng, thở khó, cổ lưng kéo căng, cánh tay tê, đều là chứng hàn ẩm ở trong ngoài.
So với thiếu âm có ẩm ngừng, chứng này không có thân đau; chứng kia không có cổ lưng kéo căng, cánh tay tê.
Nếu hàn cực, nặng thêm, thì trái lại ra mồ hôi, thân lạnh như băng, mắt nhìn không rõ, nói không ngừng mà chết.
Có những chứng như vậy mà lại ăn nhiều, đó là trừ trung.
Miệng tuy muốn nói, lưỡi ngắn, khó đưa ra, cũng là tử chứng.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Hạ nhầm, tiêu chảy không ngừng, vị trống rỗng mà trái lại đột nhiên ăn nhiều, là trừ trung.
Thiếu âm hư hàn mà trái lại ra mồ hôi lạnh là thoát ra ngoài.
Cùng với miệng muốn nói mà lưỡi mềm yếu, không đưa ra được, các tử chứng đều xuất hiện. Tai hại của hạ nhầm như vậy.
ĐIỀU VĂN
Mạch sác, sác lâu không ngừng. Nếu có lúc ngừng thì tà kết, chính khí không thể hồi phục, chính khí kết ở tạng, nên tà khí nổi ra ngoài, kết hợp với da lông.
Mạch sác như vậy không được hạ. Hạ tất phiền, tiêu chảy không ngừng.
CHÚ GIẢI
“Mạch sác” ở đây nói người mạch sác lâu không dứt, có nhiệt.
Nếu mạch sác đang đập mà thỉnh thoảng ngừng một lần, nhiệt vẫn không lui, là tà khí kết, chính khí không thể hồi phục.
Chính khí kết ở tạng, tà khí nổi ở ngoài.
Mạch tuy sác, xúc, không được hạ. Nếu hạ nhầm thì tà nhiệt thừa hư vào lý, tất phiền, tiêu chảy không ngừng.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù đại, nên phát hãn. Thầy thuốc trái lại công hạ, đó là đại nghịch.
CHÚ GIẢI
Mạch phù đại là mạch biểu thực, nên phát hãn.
Nếu thầy thuốc nhận nhầm mạch đại là lý thực mà công hạ, thì là đại nghịch.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Mạch đại và mạch phù mà đại có khác biệt. Phù mà đại, thịnh thực hoàn toàn ở biểu.
Dù có lý chứng, vẫn nên theo biểu mà phát hãn; công hạ thì là đại nghịch.
ĐIỀU VĂN
Động khí ở phải, không được hạ. Hạ thì tân dịch bên trong khô kiệt, họng khô, mũi khô, đầu choáng, tâm hồi hộp.
Động khí ở trái, không được hạ. Hạ thì trong bụng co thắt, thức ăn không xuống, động khí càng nặng; dù thân nóng, nằm vẫn muốn co.
Động khí ở trên, không được hạ. Hạ thì lòng bàn tay nóng, phiền, ngoài thân lạnh nông, mồ hôi nóng tự tiết, muốn lấy nước dội mình.
Động khí ở dưới, không được hạ. Hạ thì bụng trướng đầy, đột nhiên đứng dậy đầu choáng, ăn vào tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, tâm hạ bĩ.
CHÚ GIẢI
Động khí ở phải là phế mất điều hòa. Hạ thì phế hư trước, tân dịch bên trong khô kiệt, nên họng khô, mũi khô, đầu choáng, tâm hồi hộp.
Động khí ở trái là can mất điều hòa. Hạ thì can khí càng gấp, nên thức ăn không xuống, bụng co thắt, động khí càng nặng.
Biểu thực chưa giảm, lý hư càng nặng, nên dù thân nóng, nằm vẫn muốn co.
Động khí ở trên là tâm mất điều hòa. Hạ thì âm dịch càng tổn thương, tâm hỏa càng thịnh, nên lòng bàn tay nóng, phiền nhiệt, ra mồ hôi, muốn lấy nước dội mình.
Dù ngoài thân có cảm giác lạnh nông, cũng là hỏa thịnh cách âm gây nên.
Động khí ở dưới là thận mất điều hòa. Hạ thì hàn và hư bên trong càng nặng, bụng trướng đầy, nên đột nhiên đứng dậy đầu choáng, tâm hạ bĩ mãn, ăn vào tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Động khí mà hạ nhầm là phạm vào tạng.
Trái, phải, trên, dưới, tùy khí của từng kinh mà gây nghịch, nên điều cấm giống với phép phát hãn.
ĐIỀU VĂN
Trong họng bế tắc, không được hạ. Hạ thì trên nhẹ, dưới nặng, nước uống không xuống, nằm muốn co, thân co căng đau, tiêu chảy ngày vài chục lần.
CHÚ GIẢI
Trong họng bế tắc, khô táo, sưng đau là dương tà thiếu âm, nên hạ.
Nay không khô táo, không sưng đau là âm tà thiếu âm, không được hạ.
Hạ thì dương càng suy, âm càng thịnh, nên nói trên nhẹ, dưới nặng.
Nước uống không vào, nằm muốn co, thân co căng đau, tiêu chảy ngày vài chục lần là dương trong ngoài đều hư.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Điều này nói lúc mới bệnh, họng khô, bế tắc, vì chân dương thiếu âm của người ấy vốn thiếu, nên cả hãn và hạ đều cấm.
Nếu hạ thì thiếu âm hư hàn, các chứng đồng loạt xuất hiện.
Trình Ứng Mao nói: Thận tà nghịch lên nên họng bế tắc.
Hạ thì dương khí càng hư, âm khí càng thịnh, nên có những chứng trên nhẹ, dưới nặng.
ĐIỀU VĂN
Các chứng ngoại thực không được hạ.
Hạ thì phát nhiệt nhẹ; mạch mất, tay chân quyết lạnh, chỉ vùng ngay rốn còn một khoảnh nóng.
CHÚ GIẢI
Các chứng ngoại thực, lý tất hư. Dù không đại tiện, nhưng bên trong không có khổ chứng, cũng không được hạ.
Nếu hạ, nhiệt phát bên ngoài tuy nhẹ, nhưng hàn do nội hư thì thịnh.
Nếu không có mạch, quyết lạnh, chỉ vùng ngay rốn còn một khoảnh hơi ấm, cũng là hàn rất nặng.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Các chứng ngoại thực” chỉ mọi tà ở biểu.
Phát nhiệt nhẹ là tà vào lý. Không có mạch là dương hãm vào trong.
Trình Tri nói: Hạ thì biểu tà hãm vào trong, ngoài không nóng mà bên trong phát nhiệt nhẹ.
Mạch mất, quyết lạnh là hàn khí sâu ở trong, chỉ ngay rốn còn một khoảnh nóng.
ĐIỀU VĂN
Bệnh thái dương, ngoại chứng chưa giải, không được hạ. Hạ là nghịch.
CHÚ GIẢI
Điều này được nêu lại để nhấn mạnh lời dặn dò, cảnh giới.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: “Chưa giải” hơi khác với “không giải”. Thế bệnh tuy có chiều hướng cần hạ, vẫn phải chờ.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh muốn nôn, không được hạ.
Nôn nhiều, dù có chứng dương minh, cũng không được công hạ.
CHÚ GIẢI
Muốn nôn là tà ở trên cách mô, thuộc chứng có thể dùng phép thổ.
Nôn nhiều là tà ở thiếu dương, thuộc chứng có thể hòa giải.
Dù có đủ lý chứng, vẫn răn không được công hạ trước.
ĐIỀU VĂN
Người bệnh có nhiều dương chứng, nhiều nhiệt, hạ thì sinh cứng kết.
CHÚ GIẢI
Dương bệnh, lý nhiệt nhiều thì thích hợp với hạ; biểu nhiệt nhiều thì thích hợp với hãn.
Nếu biểu lý đều nhiều nhiệt thì nên cùng giải hai mặt.
Nếu chỉ công hạ, biểu chưa giải mà lý hư, biểu nhiệt hãm vào trong, do đó sinh cứng kết.
TẬP CHÚ
Trương Lộ nói: Dương nhiệt chứng nhiều, dù có chứng dương minh xuất hiện, cũng thuộc kinh chứng, không được hạ.
Không đáng hạ mà hạ nhầm thì dương tà thừa hư hãm vào trong, không thành kết hung thì thành bĩ cứng.
Trình Ứng Mao nói: Dương bệnh là biểu lý đều nhiều nhiệt. Hạ thì nước trong vị khô kiệt.
Cứng ở đây không phải cứng do chuyển thuộc dương minh.
ĐIỀU VĂN
Không có dương, âm mạnh, đại tiện cứng, nếu hạ thì tất tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, bụng đầy.
CHÚ GIẢI
Vong dương, âm thịnh, táo mà không có nhiệt, dù đại tiện cứng, cũng là loại không đại tiện nhưng không có khổ chứng.
Hạ thì trung tiêu hàn càng thịnh, nên tất tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, bụng đầy.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: “Không có dương” là tân dịch hao mất. “Âm nhiều” là hàn nhiều.
Đại tiện cứng là âm kết. Hạ làm vị hư, âm hàn bên trong càng thịnh, nên tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, bụng đầy.
Phương Hữu Chấp nói: Âm ở đây nói về hàn. “Mạnh” có nghĩa là nhiều.
Thức ăn chưa tiêu là âm không thể vận hóa. Bụng đầy là âm hàn ngưng trệ, gây trướng bên trong.
ĐIỀU VĂN
Thương hàn phát nhiệt, đầu đau, hơi ra mồ hôi.
Phát hãn thì không nhận biết người; hun lửa thì thở suyễn, không tiểu tiện được, tâm và bụng đầy.
Công hạ thì hơi thở ngắn, tiểu tiện khó, đầu đau, lưng cứng. Dùng thêm ôn châm thì chảy máu mũi.
CHÚ GIẢI
Thương hàn phát nhiệt, đầu đau, lưng cứng, hơi ra mồ hôi, nếu không sợ lạnh thì không phải ôn bệnh cũng là tà đã truyền dương minh.
Nếu phát hãn nhầm, không thành phong ôn, thân ngoài nóng như đốt, thì tất thành dương minh, nhiệt thịnh làm thần hôn, không nhận biết người.
Dùng lửa hun, ôn châm cưỡng bức thì hỏa khí vào lý; bế ở ngực gây suyễn, ở bụng gây đầy.
Hỏa làm tổn thương tân dịch ở phần vệ thì không tiểu tiện được; làm tổn thương huyết mạch ở phần dinh thì tất chảy máu mũi.
Nếu công hạ thì trung khí tổn thương nên hơi thở ngắn; tân dịch tổn thương nên tiểu tiện khó.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Chứng này gần với ôn bệnh, có nhiệt, không có hàn. Hãn, hạ, ôn châm đều thuộc điều cấm.
ĐIỀU VĂN
Tiêu chảy, mạch đại là hư, do cưỡng công hạ gây nên.
Nếu mạch phù cách, do đó bụng sôi, thì thuộc chứng Đương quy tứ nghịch thang.
CHÚ GIẢI
Tiêu chảy, mạch đại là lý hư, vì không đáng hạ mà cưỡng công hạ.
Mạch phù cách là mạch phù đại, ấn xuống trống rỗng, biểu căng gấp, lý hư; vì vậy bụng sôi.
Thuộc chứng Đương quy tứ nghịch thang, dùng để hòa biểu, ôn lý.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Phù là hư; cách là hàn.
Hàn và hư cùng kết hợp thì bụng sôi, dùng Đương quy tứ nghịch thang.
ÂM THIẾT
漓 có âm thiết “lâm tri”. 嘶 có âm thiết “tiên tề”. 萎 có âm thiết “ư nguy”. 怅 có âm thiết “sửu lượng”. 怏 có âm thiết “ư lượng”. 勃 có âm thiết “bồ một”. 嘤 có âm thiết “ư canh”. 囓 có âm thiết “ngư kết”. 握 có âm thiết “ất giác”.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
Các chữ khuyết được phục hồi theo ngữ cảnh: “tâm hạ bĩ cứng”, “đau ở sườn”, “bụng dưới cứng”, “hai bên sườn co căng”, “đại tiện cứng”. Một chữ khuyết trong câu “chính khí kết ở tạng” không đủ căn cứ phục hồi, nên chỉ dịch phần nghĩa rõ.
Bản nguồn ghi “các chứng ngoại thực không được thượng”, nhưng toàn bộ chú giải nói về cấm công hạ; bản dịch hiểu “thượng” là lỗi chữ của “hạ”.
“Trừ trung” là đột nhiên ăn nhiều trong tình trạng bệnh nặng, được cổ thư xem là dấu hiệu trung khí sắp suy tuyệt, khác với ăn uống hồi phục bình thường.
Ở đoạn tiểu tiện sau phát hãn, điều văn và chú giải nói “tự lợi”, nhưng lời Trình Tri nói “không lợi”; bản dịch giữ riêng sự khác biệt ấy.
Trường Xuân biên soạn
BÌNH MẠCH PHÁP
平脉法篇
Bình mạch là mạch của người bình thường, không bệnh, như mạch bình hòa theo bốn mùa, mạch bình hòa của năm tạng, mạch có âm dương cân bằng.
Người mắc bệnh thì mạch không còn bình hòa, như mạch theo mùa thái quá hoặc bất cập, âm dương tạng phủ thừa khắc, phản khắc nhau, các bệnh xen lẫn, mạch mất điều hòa biểu thị sống chết.
“Bình” còn có nghĩa là chuẩn mực. Người chẩn nếu thật sự biết lấy các mạch bình hòa làm chuẩn để xét mạch không bình hòa, thì những khác biệt thái quá, bất cập, sự sai lệch về nhịp theo hô hấp và ở các bộ thốn, xích đều rõ trong tâm, dưới tay, không chút sai lầm.
Sau đó có thể lấy mạch thương hàn làm chuẩn xét các hoại bệnh, cũng có thể lấy mạch hoại bệnh đối chiếu thương hàn. Đó thật là dùng một nguyên lý xuyên suốt mà không còn điều gì bỏ sót.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Mạch có ba bộ, âm dương thừa nhau. Dinh vệ, huyết khí ở trong thân người, theo hô hấp ra vào, lên xuống bên trong, nhờ hơi thở mà phân bố, cùng tân dịch lưu thông.
Tùy thời mà vận động, biểu hiện thành hình tượng mạch: xuân huyền, thu phù, đông trầm, hạ hồng.
Xét sắc, xem mạch, lớn nhỏ khác nhau. Trong một thời gian, biến đổi không thường, thốn xích chênh lệch, khi ngắn khi dài, trên dưới sai khác, lúc còn lúc mất. Bệnh theo đó thay đổi, tiến lui, cao thấp, khiến tâm ý mê hoặc, dễ mất nguyên tắc.
Xin thầy trình bày đầy đủ để được phân minh.
Thầy nói: Điều con hỏi là căn nguyên của y đạo.
Mạch có ba bộ: thốn, xích và quan. Dinh vệ lưu hành, không mất sự cân bằng. Thận trầm, tâm hồng, phế phù, can huyền, đó là lẽ thường, không sai một thù, một phân.
Ra vào, thăng giáng, tuần hành theo thời khắc. Nước trong đồng hồ nhỏ xuống hai khắc thì hoàn thành một vòng tuần hoàn, lại trở về thốn khẩu; hư thực hiện ở đó.
Biến hóa, thừa nhau, âm dương xâm phạm nhau: phong thì phù hư, hàn thì lao kiên, trầm sâu là nước tích, chi ẩm thì huyền gấp, động là đau, sác là nhiệt phiền.
Nếu mạch và bệnh không tương ứng, phải biết nguyên nhân biến đổi. Ba bộ khác nhau thì bệnh mỗi nơi khác nhau. Thái quá đáng xét, bất cập cũng vậy; tà không xuất hiện vô cớ, cuối cùng tất có nguyên nhân gây hại.
Xét kỹ biểu lý, phân biệt tam tiêu, biết chỗ tà lưu, cân nhắc mà chẩn xét, suy lường tạng phủ, nhận biết riêng rõ như thần.
Ta ghi từng điều cho con, để truyền lại người hiền.
CHÚ GIẢI
Đây là lời tổng thuật căn nguyên của bình mạch, mượn hỏi đáp để chỉ rõ phương pháp.
Mạch là phủ của huyết, là nơi biểu hiện vận động của khí huyết lưu hành.
Ba bộ là thốn ở trên, quan ở giữa, xích ở dưới. Ba bộ đã định thì âm dương thuộc vào đó: trên là dương, dưới là âm.
Âm dương bình hòa thì giao đổi; thiên lệch thì thừa nhau. Giao đổi thì hòa, thừa nhau thì bệnh.
Trong thân người, vệ thống lĩnh khí, đi ngoài mạch; dinh thống lĩnh huyết, đi trong mạch. Vì vậy hô hấp ra vào, lên xuống bên trong, đều nhờ hơi thở mà phân bố đến tứ chi, cùng tân dịch lưu thông khắp thân, tùy thời vận động, biểu hiện hình tượng mạch.
Xét sắc là xét sắc của năm tạng: can xanh, tâm đỏ, phế trắng, thận đen, tỳ vàng. Mỗi sắc tương hợp với tạng.
Nhưng bốn tạng còn lại đều lấy sắc vàng làm nền, các sắc khác phối hợp, vì thổ ký vượng trong bốn mùa.
Xem mạch là xem mạch năm tạng: can huyền, tâm hồng, phế phù, thận trầm, tỳ hoãn. Mỗi mạch chủ một tạng.
Nhưng bốn tạng còn lại đều lấy mạch hoãn làm gốc, vì con người lấy vị khí làm gốc.
Trong đó, sắc có thể chênh lệch, xen lẫn; mạch có thể lớn nhỏ không đều. Trong một thời gian, biến đổi không thường, bệnh thay đổi, mạch lúc còn lúc mất, không có hình tượng cố định.
Thầy nói: Điều con hỏi, mạch là căn nguyên của y đạo. Nên chẩn vào lúc sáng sớm, khi mạch hội lại ở thốn khẩu, để thấy hư thực.
Mạch thốn khẩu phù, không có lực là hư, là phong; lao kiên, có lực là thực, là hàn. Trầm là nước tích; huyền là chi ẩm; động là đau; sác là nhiệt.
Nếu bệnh và mạch không tương ứng, phải xét thái quá, bất cập ở ba bộ, lý âm dương biến hóa, thừa nhau, cân nhắc mà chẩn.
Suy lường tạng phủ thì thuận nghịch, tốt xấu tự nhiên nhận rõ như thần.
ĐIỀU VĂN
Thầy nói: Hô hấp là đầu mối của mạch.
CHÚ GIẢI
Người bình thường, một lần thở ra mạch đập hai lần, một lần hít vào mạch đập hai lần. Một chu kỳ hô hấp, mạch đập bốn lần, là mạch hoãn của người không bệnh.
Tính thêm nhịp do hơi thở sâu thì năm lần đập cũng là bình mạch.
Không dựa vào hô hấp thì không thể xác định số lần mạch đến. Khi bắt mạch phải bắt đầu từ đây, nên nói hô hấp là đầu mối của mạch.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Thở ra là khí ra, mạch đến; hít vào là khí vào, mạch đi.
“Đầu” nghĩa là đầu mối. Mạch theo khí ra vào mà đến đi. Tuy có nhiều tên gọi, hình trạng, nhưng hô hấp là nguồn đầu.
Tuy nhiên, nói về mạch có hai phạm vi. Ở đây nói mạch thốn xích. Nếu xét toàn thân thì tuần hoàn không đầu mối, liên tục không dứt, không thể nói có đầu đuôi. Người học phải biết.
ĐIỀU VĂN
Lúc đầu bắt mạch, mạch đến nhanh, đi chậm, tức ra nhanh, vào chậm, gọi là trong hư, ngoài thực.
Lúc đầu bắt mạch, mạch đến chậm, đi nhanh, tức ra chậm, vào nhanh, gọi là trong thực, ngoài hư.
CHÚ GIẢI
Đây là phép khi bắt mạch, dựa vào đến đi, nhanh chậm để chẩn biểu lý, hư thực.
Đến là mạch ra, thuộc dương, nên xét biểu. Đi là mạch vào, thuộc âm, nên xét lý.
Nhanh là mạch sác, nhanh, hữu dư, nên xét thực. Chậm là mạch trì, chậm, bất túc, nên xét hư.
Mạch ra nhanh, vào chậm là biểu thực, lý hư, nên gọi trong hư, ngoài thực.
Mạch ra chậm, vào nhanh là biểu hư, lý thực, nên gọi trong thực, ngoài hư.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch đến là từ phần xương thịt ra vùng da, khí thăng lên. Mạch đi là từ vùng da trở vào xương thịt, khí giáng xuống.
Ra theo thở ra mà đến; vào theo hít vào mà đi.
Kinh nói: “Đến là dương, đi là âm.” Nhanh là dương thái quá; chậm là âm bất cập.
Trong hư, ngoài thực là âm bất cập, dương thái quá. Trong thực, ngoài hư là âm thái quá, dương bất cập.
Vì vậy đến đi, ra vào là then chốt lớn của mạch; trong ngoài, hư thực là cương lĩnh lớn của bệnh.
Biết âm dương trong ngoài, phân biệt bên nào hư, bên nào thực, là điều thiết yếu của chẩn mạch.
ĐIỀU VĂN
Giả như mạch đến vi, đi đại, gọi là phản, bệnh ở lý.
Mạch đến, đầu nhỏ, gốc lớn, gọi là phúc, bệnh ở biểu.
Trên vi, đầu nhỏ thì ra mồ hôi. Dưới vi, gốc lớn thì quan cách không thông, không tiểu tiện được.
Đầu không có mồ hôi thì có thể trị; có mồ hôi thì chết.
LỜI ÁN
“Mạch đến, đầu nhỏ, gốc lớn” nên là “mạch đến đại, đi nhỏ”.
“Trên vi, đầu nhỏ” nên là “trên vi nhỏ là âm thịnh”.
“Dưới vi, gốc lớn” nên là “dưới vi nhỏ là dương thịnh”.
Như vậy mới phù hợp ý nghĩa trên dưới.
CHÚ GIẢI
Điều trên dựa vào mạch đến đi, nhanh chậm để xét trong ngoài, hư thực. Điều này dựa vào đến đi, lớn nhỏ để chẩn thịnh suy ở biểu lý.
Mạch đến trên vi nhỏ, đi xuống trái lại đại, có hình tượng ngược lại, nên gọi là phản mạch.
Đến trên càng đại, đi xuống vi nhỏ, có hình tượng úp xuống, nên gọi là phúc mạch.
Phản thì bệnh ở lý, thuộc âm thịnh. Phúc thì bệnh ở biểu, thuộc dương thịnh.
Dương thịnh thì bệnh cách; âm thịnh thì bệnh quan. Âm dương thịnh cực, không giao thông thì thành quan cách.
Đầu không có mồ hôi là dương chưa lìa âm, nên có thể trị. Có mồ hôi là dương đã thoát lên trên, nên nói chết.
ĐIỀU VĂN
Ở thốn khẩu, vệ khí thịnh gọi là cao; dinh khí thịnh gọi là chương. Cao và chương cùng kết hợp gọi là cương.
Vệ khí yếu gọi là điệp; dinh khí yếu gọi là ti. Điệp và ti cùng kết hợp gọi là tổn.
Vệ khí hòa gọi là hoãn; dinh khí hòa gọi là trì. Trì và hoãn cùng kết hợp gọi là trầm.
LỜI ÁN
Chữ “trầm” trong “gọi là trầm” nên là chữ “cường”. Xét đoạn sau sẽ biết.
CHÚ GIẢI
Điều này nói rõ thêm hình trạng thịnh suy trong sự đến đi của mạch ở điều trên.
Thốn khẩu ở đây chỉ chung thốn, quan, xích.
Vệ chủ khí, thuộc dương, xét biểu. Dinh chủ huyết, thuộc âm, xét lý.
Mạch dưới tay có lực khi đi lên là vệ khí thịnh, gọi là cao. Có lực khi đi xuống là dinh khí thịnh, gọi là chương.
Cao là vươn lên, thịnh; chương là rõ ràng. Cao và chương hợp lại gọi là cương. Cương là dinh vệ đều hữu dư, có ý nghĩa bao quát, thống lĩnh.
Mạch dưới tay không có lực khi đi lên là vệ khí yếu, gọi là điệp. Không có lực khi đi xuống là dinh khí yếu, gọi là ti.
Điệp là mờ nhạt, không rõ; ti là thu xuống. Điệp và ti hợp lại gọi là tổn. Tổn là dinh vệ đều bất túc, có ý nghĩa tiêu giảm, co rút.
Nếu mạch cao, chương hoặc điệp, ti cùng có đặc tính hoãn trì, không nhanh, không chậm, thì thịnh mà không quá, yếu mà không suy, đều gọi là hòa mạch.
“Cường” chính là điều được trình bày dưới đây.
ĐIỀU VĂN
Mạch thốn khẩu hoãn mà trì. Hoãn thì dương khí phát triển, sắc tươi, mặt sáng, tiếng thanh, tóc lông tốt.
Trì thì âm khí thịnh, cốt tủy sinh, huyết mạch đầy, cơ nhục chắc; “bạc tiên □”.
Âm dương ôm giữ nhau, dinh vệ cùng lưu hành, cương nhu tương hợp, gọi là cường.
LỜI ÁN
Ba chữ “bạc tiên □” không thành câu, nên là văn thừa, cần bỏ.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, giải thích nghĩa chữ “cường”.
Người bẩm dương khí thịnh thì có hình tượng cao, chương; bẩm âm khí thịnh thì có hình tượng điệp, ti. Đó là trạng thái thường của người bình thường.
Nếu đồng thời có bình mạch hoãn trì, thì âm dương ôm giữ nhau, dinh vệ điều hòa, mới gọi là cường.
Cường là sắc tươi, mặt sáng, huyết đầy, cơ chắc.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Hoãn xét vị; trì xét tỳ.
Dương khí phát triển nghĩa là vị khí hữu dư. Sắc mặt, tiếng nói, tóc lông đều thuộc dương.
“Tươi” là đẹp; “sáng” là rạng; “thương” là thanh; “dài” là tốt. Đều hình dung vị dương đầy đủ.
Âm khí thịnh nghĩa là tỳ khí đầy đủ. Cốt tủy sinh, huyết mạch đầy, cơ nhục chắc; cốt tủy, huyết, thịt đều thuộc âm, hình dung tỳ âm sung túc.
Ôm giữ nhau là hòa hợp. Cùng lưu hành là tuần hoàn khắp. Kết hợp là hợp làm một.
Hai khí đạt bình hòa đều do tỳ vị đầy đủ. Như vậy có thể biết người ấy khỏe mạnh, cường tráng, nên gọi là cường.
ĐIỀU VĂN
Thầy nói: Người béo có mạch phù thì phải xét; người gầy có mạch trầm thì phải xét.
Người béo mạch đáng lẽ trầm, nay trái lại phù. Người gầy mạch đáng lẽ phù, nay trái lại trầm, nên phải tìm nguyên nhân.
CHÚ GIẢI
Điều trên dựa vào thịnh suy của mạch để xét mạnh yếu của người. Điều này dựa vào phù, trung, trầm, phân biệt da, mạch, thịt, gân, xương để xét năm tạng.
Tâm, phế đều phù; can, thận đều trầm.
Dựa vào mức phù ở da và mức phù ở huyết mạch để phân biệt tâm, phế. Dựa vào mức trầm ở gân và mức trầm ở xương để phân biệt can, thận.
Tỳ chủ cơ nhục, ở giữa phù và trầm, nên xét ở mức trung.
Người béo da thịt dày, mạch đáng lẽ trầm. Người gầy da thịt mỏng, mạch đáng lẽ phù.
Nay người béo mạch trái lại phù, người gầy mạch trái lại trầm, nên phải xét bệnh ở tạng nào.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Trách” là tìm xét.
Người béo mạch đáng lẽ trầm vì da thịt dày, mạch sâu; nên tìm bệnh khi mạch phù.
Người gầy mạch đáng lẽ phù vì da thịt mỏng, mạch nông; nên tìm bệnh khi mạch trầm.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Kinh nói bắt mạch có mức nặng bằng ba hạt đậu, sáu hạt đậu, nghĩa là gì?
Thầy nói: Dùng ngón tay ấn mạch, lực như sức nặng ba hạt đậu là phế khí; sáu hạt đậu là tâm khí; chín hạt đậu là tỳ khí; mười hai hạt đậu là can khí; ấn đến xương là thận khí.
Giả như tiêu chảy, ở thốn khẩu, bộ quan, bộ xích đều không thấy mạch, nhưng bộ xích thỉnh thoảng hơi thấy mạch, hai lần nhô lên, đó là thận khí.
Nếu thấy tổn mạch đến thì rất khó trị.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, nói rõ da, mạch, thịt, gân, xương, mỗi phần có tạng chủ, để xét bệnh năm tạng.
“Thúc” là đậu, chỉ ước lượng lực nhẹ nặng, không phải thật có hình hạt đậu.
Nan kinh nói: Lực như ba hạt đậu, tương ứng với da lông, là bộ phế. Sáu hạt đậu, tương ứng với huyết mạch, là bộ tâm. Chín hạt đậu, tương ứng với cơ nhục, là bộ tỳ. Mười hai hạt đậu, ngang với gân, là bộ can. Ấn đến xương, nhấc lên mạch đến nhanh, là bộ thận.
Mỗi phần tùy tạng chủ mà xét tạng khí.
Thốn khẩu, bộ quan, bộ xích cũng có vị trí chủ riêng: thốn trái là tâm, thốn phải là phế, quan trái là can, quan phải là tỳ, bộ xích là thận.
Nay riêng lấy bộ thận làm ví dụ để suy ra các tạng khác.
Giả như tiêu chảy nặng, nguyên khí bị hao đoạt đột ngột ở trung tiêu, cả thốn, quan, xích đều không thấy mạch, theo phép là tử chứng.
Nếu chưa chết, tất bộ xích thỉnh thoảng còn hơi thấy mạch.
“Hai lần nhô lên” nghĩa là một lần thở ra mạch nhô hai lần, một lần hít vào nhô hai lần, hợp thành bốn lần đập.
Bộ xích thỉnh thoảng còn hơi thấy mạch, một chu kỳ hô hấp có bốn lần đập, thì nguồn sinh khí giữa hai thận chưa tuyệt. Dù tiêu chảy chưa ngừng vẫn còn dễ trị.
Nếu một chu kỳ hô hấp chỉ hai lần đập, gọi là tổn mạch, là khí suy, không có vị khí, nên khó trị.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Lời ba hạt đậu, sáu hạt đậu trong Nan kinh nói lực ngón tay có mức nhẹ nặng khác nhau để xét khí năm tạng.
Lại nói: Tiêu chảy, thốn, quan, xích đều không thấy mạch là dương khí của vị đã tuyệt.
Nan kinh xem tổn mạch là mạch dương khí thoát xuống dưới, nên nói tổn mạch rất khó trị.
ĐIỀU VĂN
Mạch thốn khẩu phù là ở biểu, trầm là ở lý, sác là ở phủ, trì là ở tạng.
Giả như mạch trì thì bệnh ở tạng.
CHÚ GIẢI
Thốn khẩu ở đây chỉ chung ba bộ.
Đây là phép dựa vào phù, trầm, trì, sác để xét biểu, lý, tạng, phủ.
Phù là lấy ở da thì thấy, phù chủ biểu, nên nói phù là ở biểu.
Trầm là lấy ở gân xương thì thấy, trầm chủ lý, nên nói trầm là ở lý.
Sác là một chu kỳ hô hấp sáu lần đập, sác chủ dương, phủ thuộc dương, nên nói sác là ở phủ.
Trì là một chu kỳ hô hấp ba lần đập, trì chủ âm, tạng thuộc âm, nên nói trì là ở tạng.
Giả như mạch trì thì bệnh ở tạng; lấy một mạch trì làm ví dụ để suy ra các mạch khác.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Ngoài thân, dinh vệ thuộc biểu; trong thân, tạng phủ thuộc lý, nên dùng phù trầm để phân biệt.
Các dương thuộc phủ, các âm thuộc tạng, nên dùng trì sác để phân biệt.
Nhưng trong truyền biến thương hàn cũng có sác mà vào tạng, trì mà vào phủ. Đọc kỹ kinh văn sẽ biết.
Trương Lộ nói: Điều này lấy phù, trầm, trì, sác định biểu, lý, tạng, phủ, nhưng trọng tâm hoàn toàn ở câu “trì là ở tạng”, nên nhắc lại để làm rõ.
Nếu mạch phù trì, dù có biểu chứng, chỉ nên dùng Tiểu kiến trung để điều hòa, không thích hợp với Ma hoàng, Thanh long, vì tạng khí vốn hư.
ĐIỀU VĂN
Dương mạch phù đại mà nhu, âm mạch phù đại mà nhu; âm mạch và dương mạch ngang nhau, gọi là hoãn.
CHÚ GIẢI
Điều này dựa vào âm dương ngang nhau để làm rõ mạch hòa hoãn của người bình thường.
Dương mạch phù đại mà nhu, âm mạch phù đại mà nhu, nghĩa là ở phù, trung, trầm, âm dương đều cân bằng.
Gọi là hoãn, tức mạch hòa hoãn.
Hoãn có hai nghĩa. Hoãn về hình trạng là mạch có lực, mềm mại, không lớn không nhỏ, dùng hình trạng hòa hoãn để xét hai khí điều hòa.
Hoãn về số lần đập là mạch đến bốn lần trong một chu kỳ hô hấp, ung dung, không chậm không nhanh, dùng nhịp hòa hoãn để xét vị khí điều hòa.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Hoãn có hai nghĩa, ở đây nói gồm cả hai, chỉ khí huyết bình hòa.
Trình Tri nói: Hoãn có nghĩa hòa hoãn, rộng thư, gần với hình tượng phù đại, không giống trì.
Vì vậy kinh nói phù đại mà nhu, không nói phù đại mà trì.
Trì sác nói về số lần đập; hoãn cấp nói về hình trạng.
Trương Lộ nói: Mạch tuy phù đại mà nhu, ấn xuống vẫn không mất mới là hoãn.
Nếu ấn xuống liền không thấy thì là hư mạch, không phải hoãn mạch.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Mạch can phương Đông có hình trạng thế nào?
Thầy nói: Can thuộc mộc, gọi là quyết âm. Mạch hơi huyền, nhu nhược mà trường, là mạch can.
Can bệnh mà có mạch nhu nhược thì khỏi.
Nếu có mạch thuần huyền thì chết. Vì sao biết? Vì mạch thẳng như dây cung, đó là can tạng tổn thương, nên biết là tử chứng.
CHÚ GIẢI
Từ đây trở xuống là phép chẩn bình mạch, bệnh mạch, tử mạch của năm tạng theo bốn mùa.
Phương Đông thuộc mộc, chủ phong mùa xuân; ở trời là phong, ở đất là mộc, ở người là can.
Vì vậy can thuộc mộc, tên kinh là túc quyết âm, mạch đáng lẽ huyền.
Nếu hơi huyền, nhu nhược mà trường, là huyền có vị khí, thuộc bình mạch của can, bệnh dễ khỏi.
Nếu hơi huyền mà trường, ít nhu nhược hòa hoãn, là huyền nhiều, vị khí ít, thuộc bệnh mạch của can.
Nếu thuần huyền, thẳng, không nhu nhược hòa hoãn, là chỉ có huyền, không có vị khí, thuộc tử mạch của can.
Ba tạng dưới tuy không ghi “thuần hồng”, “thuần phù”, “thuần trầm”, là lược văn, nên theo đây mà suy.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Vi” ở đây không phải tên mạch vi, mà là hơi huyền, có vị khí.
Ngụy Lệ Đồng nói: Hơi huyền là không quá huyền, lại có nhu nhược. Nếu ngắn, thúc cũng không đúng bản tính của mộc, nên phải kiêm mạch trường.
Đó là tượng mộc mềm hòa, dài vươn, là bản mạch của can.
Can có mạch này là bình mạch; nếu hơi có bệnh cũng dễ khỏi.
Nếu thuần huyền thì như cây sắp khô, cành thân khô cứng, nên biết là tử chứng.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Tháng hai có mạch mao phù, vì sao có thể nói đến mùa thu sẽ chết?
Thầy nói: Tháng hai, mạch đáng lẽ nhu nhược, trái lại có mao phù, nên biết đến thu sẽ chết.
Tháng hai, can làm chủ, can thuộc mộc, mạch phải nhu nhược. Trái lại có mao phù là mạch phế.
Phế thuộc kim, kim đến khắc mộc, nên biết đến thu sẽ chết. Các tạng khác đều theo đó mà suy.
CHÚ GIẢI
Tháng hai thuộc mùa xuân; mao phù là mạch mùa thu.
Xuân có mạch thu, vì sao đoán đến thu sẽ chết?
Xuân can mộc vượng, thu phế kim vượng. Lúc tháng hai can vượng mà đã thấy mạch mao phù của phế, có thể biết can suy.
Đến thu, kim khí càng vượng, kim thừa mộc, mộc càng bị khắc thì tuyệt, nên biết đến thu sẽ chết.
Các tạng khác theo đó mà suy.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này dựa vào khí mạch bốn mùa, quy thuộc ngũ hành sinh khắc, ứng với bệnh, để xét tốt xấu, sống chết.
Nêu một trường hợp làm ví dụ cho các trường hợp khác, nhằm chỉ phép thiết yếu của chẩn mạch.
ĐIỀU VĂN
Mạch tâm phương Nam có hình trạng thế nào?
Thầy nói: Tâm thuộc hỏa, gọi là thiếu âm. Mạch hồng đại mà trường là mạch tâm.
Tâm bệnh mà có mạch hồng đại thì khỏi.
CHÚ GIẢI
Phương Nam thuộc hỏa, chủ nhiệt mùa hè; ở trời là hỏa, ở đất là nhiệt, ở người là tâm.
Vì vậy tâm thuộc hỏa, tên kinh là thủ thiếu âm, mạch đáng lẽ hồng.
Hồng đại, hòa hoãn là hồng có vị khí, thuộc bình mạch của tâm. Dù có tâm bệnh cũng dễ khỏi.
Hồng đại mà ít hòa hoãn là hồng nhiều, vị khí ít, thuộc bệnh mạch của tâm.
Hồng đại mà không hòa hoãn là chỉ có hồng, không có vị khí, thuộc tử mạch của tâm.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Mạch hồng đại mà trường ứng với hình tượng vạn vật phát triển mạnh.
ĐIỀU VĂN
Lập hạ có mạch hồng đại là đúng vị trí vốn có.
Người bệnh thân đau, nặng thì phải phát hãn. Nếu ngày mai thân không đau, không nặng thì không cần phát hãn.
Nếu mồ hôi tự rịn đều thì ngày mai bệnh giải.
Vì sao nói vậy? Lập hạ có mạch hồng đại là mạch đúng mùa, nên như thế. Bốn mùa theo đó mà suy.
CHÚ GIẢI
Bệnh trong bốn mùa phải dựa vào mạch bốn mùa để dự liệu khỏi hay không khỏi.
Ngày lập hạ có mạch hồng đại là mạch đúng mùa đáng có.
Người bệnh thân đau, nặng thì cần phát hãn. Nếu ngày mai thân không đau, không nặng, dù mạch vẫn hồng đại, tất không phải tà mạch mà là mạch theo mùa, không cần phát hãn lại, vì bệnh đã giải.
Nếu ngay ngày ấy mồ hôi tự rịn đều, dấu hiệu giải bệnh đã xuất hiện, dù mạch hồng đại cũng không cần phát hãn, ngày mai tự giải.
Vì sao? Vì lập hạ có mạch hồng đại là đúng mạch theo mùa. Bốn mùa theo đó mà suy.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Điều này nói mạch đúng mùa, được vượng thì bệnh có lúc nên giải.
Nêu mùa hè làm ví dụ cho các mùa khác, để người học suy rộng.
Trình Tri nói: Xuân huyền, hạ hồng, thu mao, đông thạch; đúng mùa có mạch ấy là bình mạch.
Dù ngoại cảm hàn tà, chỉ hơi ra mồ hôi thì tự khỏi. Nặng thì trị, nhẹ không nhất thiết trị.
Nội kinh nói: “Mạch thuận theo bốn mùa.” Chính là ý này.
Trình Ứng Mao nói: Hồng đại là mạch mùa hè, cũng là mạch tà thịnh.
Có bệnh thì xét theo tà; không bệnh thì xét theo mùa. Bệnh giải hay chưa giải không cần tách riêng khỏi sự phân biệt ấy.
ĐIỀU VĂN
Mạch phế phương Tây có hình trạng thế nào?
Thầy nói: Phế thuộc kim, gọi là thái âm, mạch mao phù.
Phế bệnh có mạch này, nếu hoãn trì thì đều khỏi; nếu sác thì bệnh nặng.
Vì sao biết? Sác thuộc hỏa phương Nam. Hỏa khắc kim phương Tây, theo phép sẽ sinh ung thũng, khó trị.
CHÚ GIẢI
Phương Tây thuộc kim, chủ táo mùa thu; ở trời là táo, ở đất là kim, ở người là phế.
Vì vậy phế thuộc kim, tên kinh là thủ thái âm, mạch đáng lẽ phù.
Mao phù, hoãn trì là phù có vị khí, thuộc bình mạch của phế. Dù có phế bệnh cũng dễ khỏi.
Mao phù mà ít hoãn trì là phù nhiều, vị khí ít, thuộc bệnh mạch của phế.
Mao phù mà không hoãn trì là chỉ có phù, không có vị khí, thuộc tử mạch của phế.
Mao phù mà sác thì bệnh nặng. Sác thuộc hỏa phương Nam, hỏa khắc kim phương Tây, nên sẽ phát ung thũng, khó trị.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Phế chủ da lông, ở trên như mái che, nên mạch mao phù.
Hoãn trì là mạch tỳ thổ. Kiêm hoãn trì thì khỏi là phế kim gặp thổ sinh dưỡng.
Sinh ung mủ là kim gặp hỏa mà bị biến hóa.
ĐIỀU VĂN
Mạch thận phương Bắc có hình trạng thế nào?
Thầy nói: Thận thuộc thủy, gọi là thiếu âm. Mạch trầm hoạt là mạch thận.
Thận bệnh có mạch trầm hoạt mà nhu thì khỏi.
LỜI ÁN
Phương Đông, Nam, Tây đều có văn, riêng thiếu phương Bắc, nên phỏng theo kinh văn mà bổ sung.
CHÚ GIẢI
Phương Bắc thuộc thủy, chủ hàn mùa đông; ở trời là hàn, ở đất là thủy, ở người là thận.
Vì vậy thận thuộc thủy, tên kinh là túc thiếu âm, mạch đáng lẽ trầm.
Trầm hoạt mà nhu là trầm có vị khí, thuộc bình mạch của thận. Dù có thận bệnh cũng dễ khỏi.
Trầm hoạt mà ít nhu hòa là trầm nhiều, vị khí ít, thuộc bệnh mạch của thận.
Trầm mà không hoạt nhu là chỉ có trầm, không có vị khí, thuộc tử mạch của thận.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Mạch có hình tượng “hấp yểm trầm”, gọi là hoạt, nghĩa là gì?
Thầy nói: Trầm là thuần âm; hấp là chính dương. Âm dương hòa hợp nên mạch hoạt, bộ quan và xích tự bình hòa.
Mạch dương minh hơi trầm, ăn uống vẫn được.
Mạch thiếu âm hơi hoạt. Hoạt là tên gọi khi mạch khẩn hiện ở phần phù; đó là âm thực. Người ấy tất ra mồ hôi ở mặt trong đùi, vùng dưới bộ phận sinh dục ẩm ướt.
LỜI ÁN
Hai câu “Hoạt là tên gọi khi mạch khẩn hiện ở phần phù” và “đó là âm thực” không phù hợp ý nghĩa trên dưới, nên là đoạn đặt nhầm chỗ.
CHÚ GIẢI
Đây là bình mạch mùa đông.
Nếu mạch quan dương minh hơi trầm mà không hoạt là mất chính dương, vị không hòa, nên ăn uống chỉ tạm được.
Nếu mạch xích thiếu âm hơi hoạt mà không nhu là mất thuần âm, thận không hòa, nên người ấy ra mồ hôi, vùng dưới bộ phận sinh dục ẩm ướt.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Mạch có tương thừa, có tung, có hoành, có nghịch, có thuận, nghĩa là gì?
Thầy nói: Thủy thừa hỏa, kim thừa mộc gọi là tung.
Hỏa thừa thủy, mộc thừa kim gọi là hoành.
Thủy thừa kim, hỏa thừa mộc gọi là nghịch.
Kim thừa thủy, mộc thừa hỏa gọi là thuận.
CHÚ GIẢI
Đây là phép dùng năm mạch để xét năm tạng không bình hòa.
Năm tạng theo ngũ hành: can mộc, tâm hỏa, tỳ thổ, phế kim, thận thủy, đó là quy thuộc.
Mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc, đó là tương sinh.
Mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc, đó là tương khắc.
Tương sinh thì sinh, tương khắc thì chết. Tạng khí con người cũng vậy, nên mạch có tương thừa, tung, hoành, nghịch, thuận.
Thủy thừa hỏa, kim thừa mộc là thừa phần mình vốn khắc, thuộc tương khắc, gọi là tung.
Hỏa thừa thủy, mộc thừa kim là thừa phần vốn khắc mình, thuộc phản vũ, gọi là hoành.
Thủy thừa kim, hỏa thừa mộc là con thừa mẹ, tác động đảo ngược, gọi là nghịch.
Kim thừa thủy, mộc thừa hỏa là mẹ thừa con, thuộc tương sinh, gọi là thuận.
Mạch năm tạng: can huyền, tâm hồng, tỳ hoãn, phế phù, thận trầm. Mỗi tạng hiện bản mạch thì không bệnh.
Nếu thấy mạch khác, theo phép này suy xét: tung thì bệnh nặng, hoành thì bệnh nhẹ, nghịch thì bệnh hư, thuận thì bệnh thực.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Thừa” như cưỡi thuyền xe. Tung là dọc; hoành đối với tung. Thuận là theo; nghịch trái với thuận.
Trình Tri nói: Không đúng mùa mà thấy mạch ấy là tương thừa.
Tung, hoành gây hại nặng nhất; thuận, nghịch còn chưa gây hại lớn.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Làm sao biết tà thừa phủ? Làm sao biết tà thừa tạng?
Thầy nói: Các dương mạch phù sác là thừa phủ; các âm mạch trì sáp là thừa tạng.
CHÚ GIẢI
Điều trên làm rõ mạch năm tạng tương thừa, tung hoành thuận nghịch. Điều này làm rõ phép xét âm dương tương thừa, mỗi loại theo loại của mình.
Phủ thuộc dương; phù sác thuộc dương. Tạng thuộc âm; trì sáp thuộc âm.
Dương thừa dương, âm thừa âm, mỗi loại theo loại của mình mà tương thừa.
Âm tà thừa dương, dương tà thừa âm; phủ tà thừa tạng, tạng tà thừa phủ, đều phải phối hợp mạch chứng mà xét, có thể suy rộng.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Phù sác thuộc dương, ở bộ dương thấy dương mạch nên biết thừa phủ.
Trì sáp thuộc âm, ở bộ âm thấy âm mạch nên biết thừa tạng.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Nhu nhược vì sao lại đến mười một đầu mối?
Thầy nói: Năm tạng, sáu phủ tương thừa nên thành mười một.
CHÚ GIẢI
Điều này tiếp điều trên, làm rõ mạch năm tạng, sáu phủ không bình hòa, tương thừa.
“Thích” là đến; “đầu” là số.
Người thấy mạch nhu nhược mà có tương thừa là vì bên này hư, bên kia thừa vào.
Việt Nhân chỉ nói một mạch có mười biến, vì sao ở đây đến mười một?
Việt Nhân bỏ tâm bào lạc, tam tiêu nên là mười. Nay năm tạng, sáu phủ tương thừa nên là mười một.
Nhưng âm thừa dương, dương thừa âm, phủ thừa tạng, tạng thừa phủ, phối hợp, suy xét thì đâu chỉ mười một?
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Điều này nêu chung yếu điểm của mạch, nói mạch có nhu nhược thì có thể hòa hợp năm tạng, sáu phủ.
Kinh nói: “Hô hấp là đầu mối của mạch.” Nhu nhược là mềm hòa mà hoạt, Nội kinh gọi là có vị khí.
Tà của năm tạng, sáu phủ không khỏi tương thừa, như kim tà thừa mộc, mộc tà thừa hỏa.
Trong các trường hợp tương thừa, nếu có ý mềm hòa mà hoạt thì dễ khỏi.
Vì vậy nhu nhược có thể hòa hợp khí mạch của mười một tạng phủ.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Có bệnh rét rờn rợn, sợ lạnh, lại phát nhiệt, vì sao?
Đáp: Âm mạch không đủ, dương đi theo; dương mạch không đủ, âm đi thừa.
Hỏi: Dương không đủ là gì?
Đáp: Giả như mạch thốn khẩu vi, gọi là dương không đủ. Âm khí đi lên vào phần dương thì rét rờn rợn, sợ lạnh.
Hỏi: Âm không đủ là gì?
Đáp: Mạch xích nhược, gọi là âm không đủ. Dương khí hãm xuống phần âm thì phát nhiệt.
CHÚ GIẢI
Đây là dựa vào thốn, xích để làm rõ mạch bệnh âm dương tương thừa.
Mạch khẩn, không mồ hôi, rét rờn rợn, sợ lạnh, phát nhiệt là thương hàn.
Mạch hoãn, có mồ hôi, rét rờn rợn, sợ lạnh, phát nhiệt là trúng phong.
Nay thốn vi, rét rờn rợn, sợ lạnh là dương không đủ, âm khí thừa lên, vào phần dương.
Xích nhược, phát nhiệt là âm không đủ, dương khí hãm xuống phần âm.
Đây là nội thương bất túc, âm dương tương thừa, sợ lạnh, phát nhiệt có lúc nghỉ.
Không phải ngoại cảm hữu dư, phong hàn làm tổn thương dinh vệ, sợ lạnh, phát nhiệt không có lúc nghỉ.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Dương đi trước, hãm vào âm, nên nói “theo”, là cách nói nhẹ đi. Âm theo dương đi lên, nên nói “thừa”, biểu thị sự tổn thương.
Sợ lạnh là dương không đủ để thắng âm, cùng âm mà hóa. Phát nhiệt là âm không đủ để thắng dương, theo dương mà hóa.
Trình Tri nói: Đây là phân biệt mạch âm dương tương thừa.
Qua lại thì khí âm dương lần lượt thịnh, hư. Âm dồn thì lạnh, dương dồn thì nóng.
Mạch của sốt rét và hàn nhiệt vãng lai đều có ý nghĩa ấy.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Mạch có dương kết, âm kết, làm sao phân biệt?
Đáp: Mạch phù sác, ăn được, không đại tiện là thực, gọi là dương kết; đến ngày thứ mười bảy sẽ nặng.
Mạch trầm trì, không ăn được, thân nặng, đại tiện trái lại cứng, gọi là âm kết; đến ngày thứ mười bốn sẽ nặng.
CHÚ GIẢI
Điều trên dựa vào thốn, xích vi nhược để phân biệt âm dương bất túc. Điều này dựa vào phù trầm có lực để phân biệt âm dương kết thực gây bệnh.
Mạch phù đại mà sác, đầy nổi như tán xe, là mạch dương kết thực.
Mạch trầm như đá mà trì, nối liền như lần dọc cây sào dài, là mạch âm kết thực.
Mạch có thể phân biệt âm dương kết thực, nhưng vẫn phải lấy chứng âm kết, dương kết phối hợp với mạch tương ứng để xét.
Dương kết thì thân nhẹ, ăn được, vì dương có thể tiêu thức ăn. Không đại tiện, đến ngày thứ mười bảy sẽ nặng, vì thể dương cuối cùng khô táo, nên chậm ba ngày.
Âm kết thì thân nặng, không ăn được, vì âm không thể tiêu thức ăn. Không đại tiện, đến ngày thứ mười bốn sẽ nặng, vì thể âm cuối cùng ẩm mềm, nên sớm ba ngày.
“Nặng” là không đại tiện, trong bụng co gấp, mót rặn, vừa đầy vừa đau. Không được chờ thêm ngày, nên sớm tìm cách giải quyết.
Có thể nhuận khiếu để dẫn phân ra, hoặc làm mềm chỗ cứng để hạ, tránh đến kỳ phân khô thành khối lớn, khó ra qua hậu môn, đau khổ nhiều.
Sau bệnh, tân dịch tổn thương, thường có chứng này. Người có kinh nghiệm sâu tự biết.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Không nói “bệnh có” mà nói “mạch có”, vì hai khí bẩm thụ có chỗ thiên thắng.
Dương kết là thiên dương, không có âm để sinh dịch. Âm kết là thiên âm, không có dương để hóa dịch.
Đều dựa vào mạch phù sác, trầm trì để phân biệt.
ĐIỀU VĂN
Dương mạch phù, âm mạch nhược là huyết hư. Huyết hư thì gân co căng.
Mạch trầm là dinh khí suy vi. Mạch phù, mồ hôi chảy như chuỗi hạt là vệ khí suy.
LỜI ÁN
Hai chữ “phù” trong “dương mạch phù” và “mạch phù” nên là “nhu”.
Nếu là phù thì không phù hợp ý vệ suy, mồ hôi chảy như chuỗi hạt.
Chữ “trầm” nên là “nhược”. Nếu là trầm thì không phù hợp ý huyết hư, dinh khí suy vi.
CHÚ GIẢI
Đây là phép dùng phù trầm để phân biệt bệnh do âm dương không đủ.
Dương mạch nhu là phù mà không có lực. Âm mạch nhược là trầm mà không có lực.
Mạch nhược là dinh khí suy vi. Dinh suy vi thì huyết hư, nên không chỉ phát nhiệt mà còn gân co căng.
Mạch nhu là vệ khí suy. Vệ suy thì biểu không vững, nên không chỉ sợ lạnh mà còn mồ hôi chảy như chuỗi hạt.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Trầm xét lý, dinh đi trong mạch, nên có thể biết suy vi.
Phù xét biểu, vệ đi ngoài mạch. Mồ hôi chảy như chuỗi hạt là biểu không vững, nên biết suy yếu.
ĐIỀU VĂN
Mạch đầy nổi như tán xe, gọi là dương kết.
CHÚ GIẢI
“Đầy nổi như tán xe” hình dung mạch phù đại có lực, tức mạch phù sác của dương kết ở trước.
Vì có lực, thịnh nên gọi là dương kết.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Mạch đầy nổi như tán xe là hình dung trong phù sác có tượng dồn lên trên.
ĐIỀU VĂN
Mạch nối liền như lần dọc cây sào dài, gọi là âm kết.
CHÚ GIẢI
“Nối liền như lần dọc cây sào dài” hình dung mạch trầm như đá, có lực, tức mạch trầm trì của âm kết ở trước.
Vì có lực, thịnh nên gọi là âm kết.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Nối liền như lần dọc cây sào dài là hình trạng kéo thẳng, cứng mạnh, âm khí kết chặt, dương không thể điều hòa.
Âm kết, dương kết nói trước chỉ chứng đại tiện cứng; ở đây chuyên nói mạch tượng.
ĐIỀU VĂN
Mạch thoáng nổi như lớp mỡ trên canh là dương khí suy vi.
CHÚ GIẢI
Đây là hình dung mạch phù mà không có lực, tức mạch nhu do vệ khí suy ở trước, nên nói dương khí suy vi.
ĐIỀU VĂN
Mạch liên miên như dòng sơn rót sắp đứt là huyết hao mất.
CHÚ GIẢI
Đây là hình dung mạch trầm mà không có lực, tức mạch nhược do dinh khí suy vi ở trước, nên nói huyết hao mất.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: “Liên miên” là nối tiếp kéo dài. Như dòng sơn rót sắp đứt là phần trước lớn, phần sau nhỏ dần.
ĐIỀU VĂN
Mạch vương vấn như tơ nhện là dương khí suy.
CHÚ GIẢI
Đây là hình dung mạch nhỏ, khó tìm dưới tay; ở phù, trung, trầm như có như không, tức mạch vi do dương không đủ ở trước.
Vì vậy nói dương khí suy.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Vương vấn như tơ nhện là hình trạng kéo vướng, xoay quanh, nhỏ yếu muốn tuyệt.
ĐIỀU VĂN
Thầy nói: Mạch thốn đi xuống không đến quan là dương tuyệt. Mạch xích đi lên không đến quan là âm tuyệt.
Đều không trị được, quyết là tử chứng.
Nếu tính thời gian sống còn lại thì dựa vào tháng, tiết tương khắc để định.
CHÚ GIẢI
Phần trên làm rõ bình mạch; từ đây trở xuống đều nói mạch tử hậu.
Trên dưới của ba bộ thốn, quan, xích xét thăng giáng của âm dương, năm tạng.
Thốn ở trên, xét dương tâm phế, chủ thăng. Thăng cực thì giáng; giáng không đến quan là cô dương, nên nói thốn xuống không đến quan là dương tuyệt.
Xích ở dưới, xét âm can thận, chủ giáng. Giáng cực thì thăng; thăng không đến quan là độc âm, nên nói xích lên không đến quan là âm tuyệt.
Quan ở giữa, xét tỳ, ngăn giữa thốn xích, là nơi thăng giáng, ra vào.
Nay trên dưới không đến quan là thăng giáng, ra vào đã ngừng, nên nói không trị được, quyết là tử chứng.
Nếu âm dương đã lìa nhưng vị khí chưa tuyệt, còn có thể tính thời gian sống, dựa vào tháng, tiết tương khắc.
Như kinh nói: Âm thắng thì dương tuyệt, qua được hè nhưng không qua được đông; dương thắng thì âm tuyệt, qua được đông nhưng không qua được hè.
Can chết vào thu, tâm vào đông, tỳ vào xuân, phế vào hè, thận vào trưởng hạ. Suy đến ngày, giờ cũng vậy.
ĐIỀU VĂN
Chưa biết tạng nào, âm hay dương tuyệt trước.
Nếu dương khí tuyệt trước, âm khí kiệt sau, khi người ấy chết, sắc thân tất xanh.
Nếu âm khí tuyệt trước, dương khí kiệt sau, khi người ấy chết, sắc thân tất đỏ, dưới nách ấm, tâm hạ nóng.
CHÚ GIẢI
Kinh nói: “Người có hai đường chết, không có hai đường sống.”
Có hai đường chết là âm, dương đều có thể dẫn đến chết. Không có hai đường sống là âm, dương không thể sống riêng.
Dương tuyệt trước, âm kiệt sau thì khi chết thân xanh, lạnh.
Âm tuyệt trước, dương kiệt sau thì khi chết thân đỏ, ấm.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Dương chủ nhiệt, sắc đỏ; âm chủ hàn, sắc xanh.
Người đã chết, thân xanh là âm chưa lìa thân, nên biết âm khí kiệt sau.
Thân đỏ, dưới nách ấm, tâm hạ nóng là dương chưa lìa thân, nên biết dương khí kiệt sau.
Trình Tri nói: Dương khí tuyệt trước là hàn bệnh; âm khí tuyệt trước là nhiệt bệnh.
Trị hàn nhiệt sai một lần, dù chết vẫn còn dấu để xét, thật đáng sợ.
ĐIỀU VĂN
Thầy nói: Mạch bệnh mà người không bệnh, gọi là hành thi, vì không có khí sinh vượng. Đột nhiên choáng, ngã, không nhận biết người thì tính mạng ngắn, sẽ chết.
Người bệnh mà mạch không bệnh, gọi là nội hư, vì không có cốc thần; dù mệt khốn cũng không nguy hại.
CHÚ GIẢI
Mạch là gốc của người.
“Mạch bệnh, người không bệnh” là hình thể bên ngoài không có vẻ bệnh nhưng thấy chân tạng bệnh mạch. Gốc bên trong đã tuyệt, tuy sống như chết, chỉ còn thân cùng chút dư khí, nên gọi là hành thi.
Dư khí là khí sinh vượng còn lại của năm tạng chưa hết. Khí vượng vừa lui thì đột nhiên choáng, ngã, không nhận biết người mà chết.
Nếu thầy giỏi nhận biết sớm, trước khi khí vượng lui mà tìm cách cứu, chưa hẳn không có ích.
“Người bệnh, mạch không bệnh” là hình thể gầy yếu như bệnh nhưng mạch tự hòa, gốc còn vững, chỉ vì cốc khí không đầy đủ, gọi là nội hư.
Không thể so với hành thi. Dù mệt khốn cũng không nguy hại. Vị khí hồi phục, cốc khí đầy đủ thì tự yên.
Cốc thần tức cốc khí.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp dẫn lời họ Chu: Hình thể tiều tụy, tinh thần hôn mờ, ăn không ngon, nhưng mạch thuận bốn mùa, không thiên thái quá, bất cập, là người bệnh, mạch không bệnh.
Hình thể yên hòa, nhưng mạch lúc lớn lúc nhỏ, lúc tăng lúc giảm, huyền, khẩn, phù, hoạt, trầm, sáp không thống nhất, làm tổn hại khí điều hòa, là mạch không tương ứng hình thể, tức mạch bệnh, người không bệnh.
Trương Tích Câu nói: Cốc thần là thần khí do nước và thức ăn hóa sinh, người nhờ đó để sống.
Nội hư, ăn ít, cốc khí không đầy đủ thì gọi là không có cốc thần, nên nói không nguy hại.
Nếu không có vị thần vốn làm gốc, sao có thể nói không nguy hại?
ĐIỀU VĂN
Chưa biết tạng nào chịu tai hại trước. Nếu mồ hôi ra, tóc ẩm, thở suyễn không ngừng, đó là phế tuyệt trước.
CHÚ GIẢI
Điều này giải thích thêm việc chưa biết tạng nào tuyệt trước, nêu rõ chứng.
Phế chủ da lông. Phế tuyệt, mồ hôi ra mà không chảy, làm tóc ẩm.
Phế chủ khí. Phế tuyệt thì há miệng, khí ra, không trở lại được, nên nói phế tuyệt trước.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Phế là chủ của khí, là thống lĩnh của tân dịch.
Mồ hôi ra, tóc ẩm là tân dịch thoát. Thở suyễn không ngừng là khí thoát.
ĐIỀU VĂN
Mạch phù hồng, thân ra mồ hôi như dầu, thở suyễn không ngừng, nước uống không xuống, thân mất cảm giác, lúc yên lúc rối loạn, đó là tính mạng sắp tuyệt.
CHÚ GIẢI
Mồ hôi như dầu là dịch hao mất ra ngoài. Suyễn không ngừng là khí thoát lên trên. Nước uống không xuống là vị khí tuyệt. Thân mất cảm giác là dinh vệ bại. Lúc yên lúc rối loạn là tinh thần tán.
Đều là dấu hiệu tính mạng sắp tuyệt.
Từ đó suy ra, mạch tuy phù hồng nhưng tất không có gốc, là dấu hiệu chân tạng, cô dương bay vượt.
TẬP CHÚ
Vương Khẳng Đường nói: Lửa sắp tắt tất bừng sáng. Mạch phù hồng, dâng mạnh là dấu hiệu sắp lìa thân.
Nhưng phải kèm một, hai chứng phía sau mới có thể đoán tính mạng sắp tuyệt.
ĐIỀU VĂN
Dương trái lại còn riêng, hình thể như bị hun, mắt nhìn thẳng, đầu lay động, đó là tâm tuyệt.
CHÚ GIẢI
Tâm tuyệt, âm hết, chỉ dương còn riêng, nên thân rất nóng, hình thể như bị hun, theo hỏa mà hóa.
Tâm tàng thần. Mắt nhìn thẳng là thần đã đi.
Đầu thuộc dương; dương không có chỗ nương tựa nên đầu lay động.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Mạch tâm đi bên họng, liên hệ mắt. Mắt nhìn thẳng là tâm kinh tuyệt.
Đầu là nơi hội các dương. Đầu lay động là âm tuyệt, dương không có gốc.
ĐIỀU VĂN
Môi và khóe miệng trái lại xanh, tứ chi ra mồ hôi, rung động, đó là can tuyệt.
CHÚ GIẢI
Sắc môi, khóe miệng đáng lẽ đỏ pha vàng, trái lại xanh là mộc thổ tương khắc.
Tứ chi ra mồ hôi, rung động không ngừng là can tuyệt.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Môi, khóe miệng là dấu hiệu của tỳ. Can có sắc xanh; can tuyệt thì chân sắc hiện ở phần mà can khắc.
Tứ chi do tỳ chủ, can chủ gân. Can tuyệt thì gân mạch kéo co, phát ở phần mà can khắc.
Phương Hữu Chấp nói: Bờ môi gọi là “vẫn”. Tứ chi là tay chân. Chữ khuyết ở đây chỉ hình trạng ra mồ hôi.
“Tập” là chim bay nhiều lần. Nghĩa là tay chân run lay như chim tập bay, rung động không ngừng.
ĐIỀU VĂN
Quanh miệng đen sạm, ra mồ hôi mềm lạnh, phát vàng, đó là tỳ tuyệt.
CHÚ GIẢI
Sự tươi tốt của tỳ hiện ở môi và vùng trắng quanh môi. Quanh miệng đen sạm là sự tươi tốt đã suy.
Mồ hôi lạnh, vàng âm đều là tỳ tuyệt.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Miệng là khiếu của tỳ. Đen sạm là sắc vàng hun, tối đen, sắc của thổ bại.
“Mồ hôi mềm” thường gọi là mồ hôi lạnh.
Trương Tích Câu nói: Tỳ chủ vùng trắng quanh miệng. Quanh miệng đen sạm là thổ bại, thủy phản khắc.
Mồ hôi mềm là mềm, nhờn, thuộc chân dịch của tỳ. Vàng là chân sắc của tỳ.
Chân dịch tiết ra, chân sắc hiện, nên là tỳ tuyệt.
ĐIỀU VĂN
Đại tiểu tiện không tự chủ, nói cuồng, mắt trái lại nhìn thẳng, đó là thận tuyệt.
CHÚ GIẢI
Thận chủ hai đường đại tiểu tiện. Không tự chủ là thận tuyệt.
Thận tàng tinh và chí. Nói cuồng, mắt nhìn thẳng là tinh, chí đều bại.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: “Sưu tiện” chỉ tiểu tiện không tự chủ.
Thận chủ đóng mở. Đóng mở mất chức năng nên cả hai đường đại tiểu tiện đều không giữ được.
Kinh nói thận tàng chí. Nói cuồng là mất chí; mất chí thì chết.
Thận chủ xương, tinh của xương hiện ở đồng tử. Mắt trái lại nhìn thẳng là tinh của xương không lên nuôi đồng tử, khiến mắt không chuyển động được.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Thầy giỏi nhìn mà biết; thầy bậc giữa hỏi mà biết; thầy bậc dưới bắt mạch mà biết. Xin nghe giải thích.
Thầy nói: Người nhà đến mời, nói người bệnh phát nhiệt, thân đau. Người bệnh tự nằm. Thầy đến bắt mạch, thấy trầm trì, biết bệnh đã khỏi.
Vì sao biết? Nếu biểu có bệnh, mạch phải phù đại. Nay mạch trái lại trầm trì, nên biết đã khỏi.
CHÚ GIẢI
Từ đây trở xuống nói rõ các trường hợp nhìn, hỏi mà biết.
Nhìn là xem hình thể thịnh suy, sắc đậm nhạt. Hỏi là hỏi cảm giác khó chịu, mong muốn, căn nguyên bệnh. Mạch là xét âm dương của mạch, phối hợp hình sắc.
Người nhà đến mời, nói bệnh nhân phát nhiệt, thân đau. Thầy đến, người bệnh tự nằm, mạch trầm trì, biết đã khỏi.
Vì biểu có bệnh thì mạch phải phù đại. Nay trái lại trầm trì, không có biểu mạch, cũng không có biểu chứng, nên biết đã khỏi.
TẬP CHÚ
Trương Tích Câu nói: Có người hỏi phát nhiệt, thân đau, mạch trái lại trầm trì, là dương bệnh thấy âm mạch, sao nói đã khỏi?
Đáp: Phải nhìn thấy người bệnh yên ổn, muốn nằm, hỏi biết nhiệt đã giảm, thân nhẹ, rồi phối hợp mạch mới đoán đã khỏi.
ĐIỀU VĂN
Giả như người bệnh nói trong bụng đột nhiên đau, nhưng tự ngồi. Thầy đến bắt mạch, thấy phù đại, biết đã khỏi.
Vì sao? Nếu lý có bệnh, mạch phải trầm tế. Nay phù đại, nên biết đã khỏi.
CHÚ GIẢI
Người nhà đến mời, nói bệnh nhân đột nhiên đau bụng. Thầy đến, người bệnh tự ngồi, không có vẻ đau khổ, mạch phù đại, biết đã khỏi.
Lý có bệnh, mạch phải trầm tế. Nay trái lại phù đại, không có lý mạch, cũng không có lý chứng, nên biết đã khỏi.
ĐIỀU VĂN
Thầy nói: Người nhà đến mời, nói người bệnh phát nhiệt, phiền rất nhiều.
Ngày mai thầy đến, người bệnh quay mặt vào tường nằm, là nhiệt đã đi.
Giả như mạch không hòa, có thể nói bệnh đã khỏi.
LỜI ÁN
“Không hòa” nên là “tự hòa”. Nếu không hòa, sao nói đã khỏi?
CHÚ GIẢI
Điều này giải thích thêm hai điều trên.
Người nhà nói bệnh nhân phát nhiệt, phiền nhiều. Thầy chưa đến ngay, ngày mai đến, người bệnh quay mặt vào tường, nằm yên, là nhiệt đã đi, nên biết bệnh đã giảm.
Nếu mạch chưa hòa hoãn thì chưa thể nói khỏi. Phải hòa hoãn mới có thể đoán đã khỏi. Suy đến đau bụng cũng vậy.
Đầu thiên nói: “Nếu có điều không tương ứng, cân nhắc mà chẩn xét.”
Cân nhắc là thấy bằng vọng chẩn hôm nay khác với điều hỏi, nghe hôm qua.
ĐIỀU VĂN
Giả như người bệnh quay mặt vào tường nằm, nghe thầy đến, không giật mình ngồi dậy mà chỉ liếc nhìn; nói vài câu lại ngừng vài lần, khi bắt mạch thì nuốt nước bọt, đó là giả bệnh.
Nếu mạch tự hòa, có thể nói: “Bệnh này rất nặng, phải uống thuốc gây thổ, công hạ, châm cứu vài chục, hàng trăm chỗ mới khỏi.”
CHÚ GIẢI
Đây là đặt ra cách xử trí người giả bệnh.
Trọng Cảnh không muốn người ta thực hiện sự lừa dối, cũng không muốn thầy thuốc bị lừa mà điều trị sai.
Thầy thuốc suy xét ý này thì người kia không dám lừa, còn mình không điều trị bừa.
TẬP CHÚ
Trình Tri nói: Người ấy giả bệnh, ta giả cách trị; không phải thầy giỏi thì không có sự khéo léo ấy.
ĐIỀU VĂN
Thầy bắt mạch, người bệnh ngáp là không bệnh. Khi bắt mạch mà rên là có bệnh.
Nói chậm là phong. Lay đầu khi nói là đau ở lý. Đi chậm là phần biểu co cứng.
Ngồi cúi rạp là hơi thở ngắn. Ngồi hạ một chân xuống là đau thắt lưng.
Lý thực, ôm giữ bụng như ôm vật hình trứng là tâm thống.
CHÚ GIẢI
Âm dương dẫn nhau nên ngáp. Ngáp là trước hít khí vào rồi thở ra, nên gọi là há miệng ngáp.
Âm dương không dẫn nhau thì bệnh, dẫn nhau thì hòa, nên nói ngáp là không bệnh.
Khi bắt mạch có tiếng rên vì đau khổ, nên nói rên là có bệnh.
Nói chậm là lời nói khó, sáp, nên nói thuộc phong.
Lay đầu khi nói là đau nhiều, khó phát tiếng, lay đầu để ra ý chậm lại, nên nói đau ở lý.
Đi chậm là phong bệnh khiến gân lạc không thuận lợi, nên nói biểu co cứng.
Ngồi cúi rạp là khí không tiếp được, nên nói hơi thở ngắn.
Người đau thắt lưng thường không ngồi được. Dù ngồi một chút cũng phải duỗi chân, dựa đỡ, nên nói ngồi hạ một chân là đau thắt lưng.
Người tâm thống thường cúi gập, ôm giữ chỗ đau, nên nói lý thực, ôm bụng như ôm vật hình trứng là tâm thống.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Lưỡi cứng thì nói chậm; kinh lạc kéo co thì lưỡi cứng.
Gân co thì kinh lạc co gấp. Can thuộc mộc, hợp với gân, chủ phong.
Đầu thuộc dương, lý thuộc âm. Lay đầu là âm không hòa với dương.
Hơi thở ngắn là lý bất túc.
Tám biểu hiện trong điều này đều thuộc việc nhìn mà biết.
Trương Chí Thông nói: “Thầy bắt mạch” nghĩa là thầy chỉ bắt mạch mà không hỏi.
Tám điều đều xét thần tình để biết bệnh cơ, tức nhìn mà biết.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Người sợ hãi có mạch thế nào?
Thầy nói: Mạch như lần theo sợi tơ nối tiếp, mặt trắng, mất sắc.
CHÚ GIẢI
Người mắc bệnh sợ hãi là dương thần không đủ.
Dương không đủ thì sợ; thần không đủ thì hãi.
Sợ thì huyết theo khí xuống, nên mặt trắng, mất sắc, không nhuận.
Hãi thì khí theo thần rối loạn, nên mạch như lần theo sợi tơ nối tiếp mà rối.
TẬP CHÚ
Phương Hữu Chấp nói: Sợ hãi là hoảng sợ. “Tuần” là lần theo; “tơ” chỉ nhỏ; “lũy lũy” là nối tiếp; mất sắc là sắc bị mất.
Khí bên trong suy thì sắc bên ngoài mất, nên có biến đổi đột ngột.
Trình Ứng Mao nói: Đây là chỉ phép xét sắc hợp mạch.
Sợ thì khí xuống, thần bị hao đoạt, nên mạch nhỏ, không ổn định, mặt trắng, mất sắc.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Người không uống có mạch thế nào?
Thầy nói: Mạch tự sáp, môi miệng khô.
CHÚ GIẢI
Tân dịch ít thì mạch sáp, môi miệng vì đó mà khô.
Đây là do không uống mà thành, không phải vì những biểu hiện ấy nên không uống.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Không uống như giận dỗi với người khác, đến hai, ba ngày nước không chạm môi.
Phế mất khả năng phân bố tinh khí, nên mạch sáp, môi miệng khô.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Người hổ thẹn có mạch thế nào?
Thầy nói: Mạch phù, mặt lúc trắng, lúc đỏ.
CHÚ GIẢI
Hổ thẹn là xấu hổ. Xấu hổ thì thần sắc dao động, không ổn định, nên mạch phù, mặt lúc trắng, lúc đỏ.
Đều thuộc cách xét sắc hợp mạch, dùng suy xét để nhận biết.
TẬP CHÚ
Trình Ứng Mao nói: Mấy điều trên không phân có bệnh hay không bệnh. Người có điều vướng mắc bên trong thì đều biểu hiện ra sắc và mạch.
Từ đó suy ra, dùng ý để cân nhắc thì tình trạng các bệnh đều có thể lấy bên ngoài làm chứng cho bên trong.
ĐIỀU VĂN
Hỏi: Mạch có “tai quái”, nghĩa là gì?
Thầy nói: Giả như người bệnh có mạch thái dương, tương ứng hình chứng, nên làm thang thuốc.
Khi trở lại đưa thuốc, khoảng thời gian một bữa ăn, người bệnh lại nôn nhiều hoặc tiêu chảy, đau bụng.
Thầy nói: “Lần trước ta đến không thấy chứng này, nay biến đổi khác thường, gọi là tai quái.”
Lại hỏi: “Vì sao phát nôn, tiêu chảy?”
Đáp: Có thể trước đó đã uống thuốc, nay mới phát tác, nên gọi là tai quái.
CHÚ GIẢI
Mạch có tai quái là biến đổi khác thường do thuốc.
Giả như người mắc bệnh thái dương, có mạch thái dương, mạch chứng tương ứng, nên làm thang thuốc trị thái dương.
Khi trở lại, khoảng một bữa ăn, người bệnh nôn nhiều, tiêu chảy, đau bụng.
Thầy hỏi: “Lần trước ta đến không thấy chứng này, nay biến đổi khác thường, vì sao nôn, tiêu chảy?”
Người bệnh đáp: Có thể thuốc uống trước đó nay mới phát tác, nên sinh biến đổi ấy.
Vọng, vấn vốn là việc của thầy thuốc, nhưng người bệnh cũng phải không giấu giếm thì thầy thuốc mới phát huy hết khả năng.
Trọng Cảnh vì người bệnh uống thuốc mà chưa báo, thầy thuốc thiếu hỏi đã uống thuốc gì, nên nêu điều này để cảnh giới.
TẬP CHÚ
Thành Vô Kỷ nói: Thầy thuốc dùng thuốc phù hợp mạch chứng, nhưng lại xuất hiện biến đổi khác thường, tai hại đáng lạ, nên gọi là tai quái.
Trương Chí Thông nói: Mạch thái dương tương ứng hình chứng, như bệnh thái dương có mạch phù, đầu gáy cứng đau, sợ lạnh.
“Có thể thuốc uống trước đó nay mới phát tác” nghĩa là thời gian đưa thang thuốc chỉ khoảng một bữa ăn, thuốc mới dùng chưa đi khắp kinh, nên tất do thuốc đã uống trước đó.
GHI CHÚ BIÊN TẬP
“Bình mạch” vừa chỉ mạch bình hòa của người không bệnh, vừa chỉ việc lấy trạng thái bình hòa làm chuẩn để xét mạch bệnh. “Nhu”, “nhược” trong một số đoạn mô tả bình mạch mang nghĩa mềm hòa, không nhất thiết là mạch bệnh hư yếu.
Các chữ khuyết rõ nghĩa được phục hồi thành “khắc”, “đại tiện cứng”, “co giật”. Những cụm chưa đủ căn cứ như “bạc tiên □”, “hấp yểm trầm” được giữ hoặc dịch phần nghĩa có thể xác định. Các đề nghị sửa chữ của tác giả đều được đặt riêng trong lời án.
Những dự đoán sống chết theo mùa, số ngày hoặc một hình tượng mạch là quan điểm của cổ thư, không phải căn cứ tiên lượng chắc chắn hiện nay. Đoạn nói về “giả bệnh” được giữ để phản ánh nguyên văn; không thể dùng vài biểu hiện hành vi để kết luận người bệnh giả vờ hoặc dùng lời đe dọa điều trị thay cho đánh giá đầy đủ.
Trường Xuân biên soạn
THIÊN BIỆN MẠCH PHÁP — 辨脉法篇
Biện là phân biệt. Biện mạch là phân biệt tên gọi của các loại mạch. Pháp là phương pháp: đối với vị trí, số lần đập, hình trạng, những điểm tương tự và đối lập của các loại mạch, đều có cách phân biệt riêng.
Tên mạch là những tên như Phù, Trầm, Trì, Sác, Hoạt, Sáp. Vị trí là những tầng như phù, trung, trầm, cùng các vị trí trên và dưới. Số lần đập là như mạch Trì mỗi hơi thở đập ba lần, mạch Sác mỗi hơi thở đập sáu lần. Hình trạng là như mạch Hoạt lưu lợi, mạch Sáp trì trệ. Tương tự là như mạch Huyền với mạch Khẩn, mạch Hoạt với mạch Động. Đối lập là như mạch Phù với mạch Trầm, mạch Hư với mạch Thực.
Đặt tay nhẹ ở tầng da mà bắt được mạch, gọi là Phù; ấn xuống tầng gân xương mới bắt được mạch, gọi là Trầm. Đó là cách đặt tên theo vị trí trên dưới của mạch. Vì vậy, những mạch được đặt tên theo vị trí đều có thể quy về hai loại Phù và Trầm.
Như mạch nổi mà vô lực gọi là Nhu; mạch chìm mà vô lực gọi là Nhược. Mạch nổi mà rất hữu lực gọi là Cách; mạch chìm mà rất hữu lực gọi là Lao. Ở cả ba tầng phù, trung, trầm đều hữu lực, ấn xuống thấy mạch lớn, gọi là Thực. Ở cả ba tầng đều vô lực, ấn xuống thấy mạch lớn, gọi là Hư.
Ở cả ba tầng đều hết sức vô lực, ấn xuống thấy mạch nhỏ, dường như có mà lại như không, gọi là Vi. Ở cả ba tầng đều hết sức vô lực, ấn xuống thấy mạch lớn nhưng tản mạn, không thu lại, gọi là Tán. Tầng phù và tầng trầm hữu lực, tầng trung vô lực, gọi là Khâu. Ấn sát đến xương, phải dò tìm mới bắt được mạch, gọi là Phục. Những mạch này đều được đặt tên dựa vào vị trí, kết hợp với hình trạng và những đặc điểm đối lập.
Mỗi hơi thở mạch đập ba lần gọi là Trì; mỗi hơi thở đập sáu lần gọi là Sác. Đó là cách đặt tên theo số lần đập. Vì vậy, những mạch được đặt tên theo số lần đập đều có thể quy về hai loại Trì và Sác.
Như mỗi hơi thở đập bốn lần gọi là Hoãn; mỗi hơi thở đập bảy lần gọi là Tật. Mạch nhanh mà thỉnh thoảng ngừng một lần gọi là Xúc; mạch chậm, hòa hoãn mà thỉnh thoảng ngừng một lần gọi là Kết. Số lần đập vốn không sai lệch, nhưng đang đập thì ngừng, không tự trở lại ngay, một lúc sau mới đập tiếp, gọi là Đại. Những mạch này đều được đặt tên dựa vào số lần đập, kết hợp với những đặc điểm tương tự.
Mạch lưu lợi như hạt châu lăn gọi là Hoạt; mạch tới lui khó khăn, trì trệ gọi là Sáp. Đó là cách đặt tên theo hình trạng. Vì vậy, những mạch được đặt tên theo hình trạng đều có thể quy về hai loại Hoạt và Sáp.
Như hình mạch thô lớn gọi là Đại; hình mạch nhỏ mảnh gọi là Tiểu. Mạch tới lui kéo dài gọi là Trường; mạch tới lui co ngắn gọi là Đoản. Mạch đến mạnh, đi yếu gọi là Hồng. Hình mạch như hạt đậu, rung động tại chỗ, không di chuyển, gọi là Động. Mạch giống dây cung, ấn xuống thấy thẳng và cứng, gọi là Huyền. Mạch thô hơn Huyền, ấn xuống thấy bật sang hai bên ngón tay, gọi là Khẩn. Những mạch này đều được đặt tên dựa vào hình trạng, kết hợp với những đặc điểm tương tự và đối lập.
Trên đây là đại lược về phép phân biệt mạch. Người chẩn mạch nếu có thể xem xét kỹ rồi mở rộng sự hiểu biết từ đó, thì sẽ tiến đến chỗ nắm vững phép chẩn mạch.
Nay lấy sáu mạch Phù, Trầm, Trì, Sác, Hoạt, Sáp làm cương lĩnh; lấy các mạch Đại, Tiểu, Hư, Thực cùng những mạch khác làm những mục cụ thể để phân biệt. Cốt sao đối với âm dương, tiêu bản, hư thực, hàn nhiệt, trong lòng có căn cứ, dưới ngón tay không sai lệch. Như vậy, tâm và tay mới tương ứng, việc biện chứng và lập phương mới tránh được nhầm lẫn.
────────────────────
ÂM DƯƠNG CỦA MẠCH
Điều văn
Hỏi: Mạch có âm dương, nghĩa là thế nào?
Đáp: Những mạch Đại, Phù, Sác, Động, Hoạt được gọi là mạch dương. Những mạch Trầm, Sáp, Nhược, Huyền, Vi được gọi là mạch âm.
Phàm bệnh âm mà thấy mạch dương thì sống; bệnh dương mà thấy mạch âm thì chết.
Chú giải
Đây là phép dựa vào âm dương của mạch để phân biệt âm dương của bệnh và xét sự sống chết.
Năm mạch Phù, Đại, Sác, Động, Hoạt, so với các mạch khác, thuộc về hữu dư. Dương đạo hữu dư nên gọi là dương.
Năm mạch Trầm, Sáp, Nhược, Huyền, Vi, so với các mạch khác, thuộc về bất túc. Âm đạo bất túc nên gọi là âm.
Bệnh âm là bệnh âm hàn. Thấy mạch dương là thấy mạch thuộc dương nhiệt, tức những loại Phù, Đại, Sác, Động, Hoạt.
Bệnh âm có mạch âm thì chứng và mạch tương ứng, chưa thể quả quyết là chết. Nếu bệnh âm lại có mạch dương, thì giống như mùa đông đã hết, mùa xuân bắt đầu: muôn vật tuy chưa lập tức sinh trưởng, nhưng sinh cơ mỗi ngày một tiến, vì vậy nói là sống.
Bệnh dương là bệnh dương nhiệt. Thấy mạch âm là thấy mạch thuộc âm hàn, tức những loại Trầm, Sáp, Nhược, Huyền, Vi.
Bệnh dương có mạch dương thì chứng và mạch tương ứng, có thể dự đoán sự sống. Nếu bệnh dương lại có mạch âm, thì giống như cái nóng đã lui, mùa thu đến: muôn vật tuy chưa lập tức chết, nhưng mỗi ngày một tiến đến trạng thái suy tàn, vì vậy nói là chết.
Bởi lẽ trời và người không có hai đạo lý khác nhau. Xuân hạ thuộc dương, thu đông thuộc âm; dương chủ sinh trưởng, âm chủ thu sát.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Âm dương ở đây là nói chung, bao quát tạng phủ, huyết khí, biểu lý, hư thực, phong hàn và hàn nhiệt.
Trình Tri nói: Bệnh âm thấy mạch dương mà chủ về sống là vì tà khí từ lý ra biểu, có xu hướng giải bằng mồ hôi. Bệnh dương thấy mạch âm mà chủ về chết là vì tà khí từ biểu vào lý, chính khí hư mà tà khí thịnh. Vì vậy, chính khí sung thực thường thấy mạch dương; chính khí suy hư thường thấy mạch âm.
────────────────────
MẠCH KẾT VÀ MẠCH XÚC
Điều văn
Mạch đến hòa hoãn, thỉnh thoảng ngừng một lần rồi lại đến, gọi là Kết.
Mạch đến nhanh, thỉnh thoảng ngừng một lần rồi lại đến, gọi là Xúc.
Dương thịnh thì Xúc, âm thịnh thì Kết. Đây đều là bệnh mạch.
Chú giải
Hoãn là mạch mỗi hơi thở đập bốn lần. Mạch hòa hoãn mà thỉnh thoảng ngừng một lần rồi lại đến, gọi là mạch Kết.
Sác là mạch mỗi hơi thở đập sáu lần. Mạch nhanh mà thỉnh thoảng ngừng một lần rồi lại đến, gọi là mạch Xúc.
Dương thịnh thì Xúc, âm thịnh thì Kết. Âm hoặc dương thiên thắng đều sinh bệnh, nên nói đây đều là bệnh mạch.
────────────────────
MẠCH KẾT VÀ MẠCH ĐẠI
Điều văn
Ấn mạch thấy đến hòa hoãn, thỉnh thoảng ngừng một lần rồi lại đến, gọi là Kết.
Lại có mạch đang đập thì ngừng, sau đó trở lại nhỏ và nhanh; trong khoảng ấy có sự trở lại, rồi lại đập, gọi là Kết âm.
Mạch đang đập thì ngừng, không thể tự trở lại ngay, một lúc sau mới đập tiếp, gọi là Đại âm. Người có mạch này ắt khó chữa.
Lời khảo xét
Những câu nói về “ấn mạch thấy đến hòa hoãn, thỉnh thoảng ngừng một lần” cho đến “gọi là Kết âm” có văn nghĩa không thuận. Hơn nữa, phần trước đã nói rõ mạch Xúc và mạch Kết, nên có lẽ đây là đoạn văn thừa.
Chú giải
Mạch đến, số lần đập vốn không sai lệch, nhưng giữa chừng ngừng lại, không tự trở lại ngay, một lúc sau mới đập tiếp, gọi là Đại. Đó là vì một tạng không còn đủ khí, phải nhờ khí của tạng khác thay thế để nối tiếp.
Phàm người bệnh có mạch Đại này thì ắt khó chữa. Sự ngừng của mạch Xúc và mạch Kết giống như đang đi gấp mà vấp: tuy ngừng giữa chừng nhưng có thể tự trở lại ngay, không thể so với sự ngừng của mạch Đại.
────────────────────
MẠCH ĐỘNG
Điều văn
Âm dương va chạm nhau, gọi là Động.
Dương động thì ra mồ hôi; âm động thì phát nhiệt. Người thân lạnh, sợ lạnh là tam tiêu bị tổn thương.
Nếu mạch Sác xuất hiện ở bộ quan, trên dưới không có đầu đuôi, lớn như hạt đậu, rung động tại chỗ, thì gọi là Động.
Lời khảo xét
Tố Vấn nói: “陽加於陰謂之汗” — Dương gia ư âm vị chi hãn, nghĩa là dương tác động vào âm thì sinh mồ hôi.
Nếu dương tác động vào dương, há có đạo lý sinh mồ hôi? Vì vậy, hai chữ “ra mồ hôi” trong câu “dương động thì ra mồ hôi” có lẽ phải là “phát nhiệt”; hai chữ “phát nhiệt” trong câu “âm động thì phát nhiệt” có lẽ phải là “ra mồ hôi”.
Chú giải
Động là dao động không yên, tức âm dương thúc đẩy, va chạm lẫn nhau mà không ổn định.
Động thuộc mạch dương. Bộ thốn thuộc dương; dương tác động vào dương nên dương động thì phát nhiệt. Bộ xích thuộc âm; âm tác động vào âm nên âm động thì ra mồ hôi.
Bộ quan nằm ở ranh giới âm dương. Khi âm dương tác động và va chạm lẫn nhau tại đây, phát nhiệt và ra mồ hôi cùng xuất hiện.
Đó là mạch Động hữu lực, biểu hiện dương thịnh. Nếu ấn xuống không thấy sức đập mạnh, thì là biểu hiện dương suy. Khi ấy ắt thân lạnh, không phát nhiệt; ra mồ hôi và sợ lạnh. Đây không phải mạch Động do dương thịnh va chạm, mà là mạch Động do dương hư nhiễu loạn.
Vì dương khí của tam tiêu bị tổn thương, không thể làm ấm phần cơ thịt ở ngoài, nên có những chứng ấy.
Hình trạng mạch Động khá giống mạch Sác, nhưng trên dưới không có đầu đuôi, lớn như hạt đậu, rung động tại chỗ, nên gọi là Động.
“Rung động tại chỗ” nghĩa là dao động dường như có gốc, động mà không dời chỗ; khác với mạch Hoạt lưu chuyển, động mà không cố định tại một chỗ.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Âm dương trong câu “âm dương va chạm nhau” là nói về hai khí. Âm dương trong “dương động, âm động” là nói về vị trí. Đoạn sau nói về vị trí và hình trạng của mạch Động. “Quyết quyết” là dáng nổi lên, rung động.
Trình Tri nói: Dương thăng, âm giáng, giao thông trên dưới, qua lại giữa bộ xích và bộ thốn, thì khí xung hòa, yên ổn. Chỉ khi dương muốn thăng mà âm không đủ để điều hòa, khiến dương giáng xuống, thì hai bên va chạm nhau. Mạch ấy ắt nhanh, và có sự rung động tại chỗ ở bộ quan.
────────────────────
PHÂN BIỆT MẠCH HUYỀN VÀ MẠCH KHẨN
Điều văn
Mạch nổi mà căng, gọi là Huyền. Huyền có hình trạng như dây cung, ấn xuống không di chuyển.
Mạch Khẩn giống như sợi dây bị xoắn, chuyển động không cố định.
Chú giải
“Mạch nổi mà căng, gọi là Huyền” không có nghĩa cứ Phù và Khẩn kết hợp thì thành mạch Huyền, mà là nói mạch nổi, cứng và căng có hình trạng của mạch Huyền.
Huyền và Khẩn tương tự nhau. Sợ người ta nhầm Huyền thành Khẩn, nhầm Khẩn thành Huyền, nên nêu cả hai để đối chiếu và phân biệt.
Huyền giống dây cung, ấn xuống không di chuyển, tức thẳng và ngay.
Khẩn giống sợi dây bị xoắn, chuyển động không cố định, tức không giữ một đường thẳng ngay.
Thẳng ngay thì không thể giống dây xoắn; dây xoắn thì không thể giống đường thẳng ngay. Nhưng cả hai đều có tính cứng và căng gấp, nên hình trạng tương tự nhau.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Đoạn này làm rõ sự phân biệt giữa Huyền và Khẩn. “Ấn xuống không di chuyển” là nói giống dây căng trên cung, cố định, không thể xê dịch. “Giống dây xoắn, chuyển động không cố định” là nói xoay chuyển sang hai bên, không giữ ở một chỗ.
Trình Tri nói: Khẩn biểu hiện hàn tà đang thịnh. Trong hình trạng thẳng và nhỏ có ý chuyển động gấp, nên nói giống sợi dây bị xoắn.
Trương Tích Câu nói: Sự khác nhau giữa Huyền và Khẩn nằm ở chỗ di chuyển hay không di chuyển.
────────────────────
MẠCH CÁCH
Điều văn
Mạch Huyền mà Đại: Huyền là giảm, Đại là Khâu. Giảm là hàn, Khâu là hư.
Hàn và hư kết hợp nhau, gọi là Cách.
Ở phụ nữ thì sẩy thai hoặc ra huyết kéo dài; ở nam giới thì mất máu, mất tinh.
Chú giải
Hình mạch thô lớn, hữu lực, gọi là Đại.
Tầng phù và tầng trầm hữu lực, tầng trung vô lực, hình như một ống rỗng [bản nguồn khuyết một chữ], gọi là Khâu.
Mạch chìm và lớn, ấn xuống thấy cứng, căng gấp, hữu lực, gọi là Lao.
Mạch nổi và lớn, đặt tay nhẹ thấy cứng, căng gấp, hữu lực, gọi là Cách.
Mạch Cách được đặt tên theo mặt da của trống, biểu hiện bên ngoài căng mà bên trong rỗng.
Huyền biểu hiện sự cứng chắc; ở tầng trung, sức cứng ấy giảm, tạo nên hình tượng ngoài căng.
Đại biểu hiện sự sung thực; ở tầng trung, sự sung thực ấy nhỏ giảm, tạo nên hình tượng trong rỗng.
Đây là dùng hai đặc điểm Huyền giảm và Khâu hư để mô tả mạch Cách.
Phụ nữ có mạch ấy thì sẩy thai, ra huyết kéo dài; nam giới có mạch ấy thì mất máu, mất tinh. Đó là do hàn và hư kết hợp nhau.
Tập chú
Trình Tri nói: Đây là nói mạch Huyền mà hư đại.
“Huyền là giảm” nghĩa là dương khí giảm sút mà sinh hàn.
“Đại là Khâu” nghĩa là giống mặt da trống, bên trong rỗng mà hư.
Hư hàn kết hợp thì tinh huyết rò thoát, nên xuất hiện hình tượng mạch Cách.
────────────────────
CÁC MẠCH “TÀN TẶC”
Điều văn
Hỏi: Mạch có “tàn tặc”, nghĩa là thế nào?
Thầy đáp: Có các mạch Huyền, Khẩn, Phù, Hoạt, Trầm, Sáp. Sáu mạch này được gọi là “tàn tặc”, có thể gây bệnh ở các bộ mạch.
Chú giải
Từ đây trở xuống đều nói về sự chẩn đoán những bệnh do “tàn tặc” gây nên.
Mạch tương thừa là do chính khí hư: nhân chỗ ta hư mà lấn vào.
Mạch tàn tặc là do tà khí thực: cậy sức mạnh của nó mà gây tổn hại.
Sáu mạch này được gọi là tàn tặc. “Tàn” là làm tổn thương công khai; “tặc” là âm thầm tập kích.
Trong mạch có những hình trạng này thì được quy về thực tà. Không kể ở bộ nào, chỉ cần trong mạch vốn có lại xuất hiện thêm một trong những mạch ấy, thì phải đề phòng tà khí đã đến.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: “Các mạch” là nói mạch ở từng bộ. “Tác” là phát sinh. Nghĩa là sáu mạch này nếu xuất hiện ở mạch của bộ nào, thì đều có thể phát sinh đầu mối bệnh ở bộ ấy.
Trương Tích Câu nói: “Tàn” là làm tổn thương; “tặc” là gây hại. Sáu loại mạch này đủ sức âm thầm làm tổn thương kinh mạch, huyết khí của người, giống như kẻ gian hại người mà người không hay biết, nên nói có thể gây bệnh ở các bộ mạch.
────────────────────
ÂM DƯƠNG ĐỀU KHẨN, THANH TÀ VÀ TRỌC TÀ
Điều văn
Mạch thốn khẩu, âm dương đều Khẩn, theo phép xét thì thanh tà trúng vào thượng tiêu, trọc tà trúng vào hạ tiêu.
Thanh tà trúng ở trên, gọi là “khiết”; trọc tà trúng ở dưới, gọi là “hồn”.
Âm bị tà trúng thì ắt bên trong run rẩy. Biểu khí hơi hư, lý khí không giữ vững, nên tà mới trúng vào âm.
Dương bị tà trúng thì ắt phát nhiệt, đau đầu, gáy cứng, cổ co rút, đau lưng, cẳng chân nhức mỏi. Đó là dương bị khí sương mù, sương móc xâm phạm, nên gọi là thanh tà trúng ở trên.
Trọc tà trúng ở dưới thì âm khí run rẩy, bàn chân và đầu gối lạnh ngược, đại tiểu tiện tự thoát ra.
Biểu khí hơi hư, lý khí hơi gấp, tam tiêu lẫn lộn, trong ngoài không thông. Thượng tiêu bị uất, khí các tạng hun bốc lẫn nhau, khiến miệng lở, lợi bị ăn mòn.
Trung tiêu không điều hòa, vị khí xung lên, tỳ khí không vận chuyển, trong vị trở nên trọc, vinh vệ không thông, huyết ngưng mà không lưu hành.
Nếu vệ khí thông trước, thì nước tiểu đỏ vàng. Vệ khí cùng nhiệt va chạm, theo nhiệt mà vận hành, đi trong kinh lạc, ra vào tạng phủ. Nhiệt khí đi qua đâu thì nơi ấy phát thành ung nhọt có mủ.
Nếu âm khí thông trước, thì dương khí suy vi, âm không được dương sai khiến. Khách khí vào trong, được tống ra bằng hắt hơi; tiếng nghẹn ở họng, cổ họng bế tắc. Hàn và quyết bức bách nhau, bị nhiệt vây giữ, huyết ngưng tự đi xuống, hình như gan lợn.
Âm dương đều quyết nghịch, tỳ khí cô độc, suy yếu, năm thứ dịch dồn xuống, hạ tiêu không đóng giữ. Đại tiện có cảm giác nặng tức ở dưới, đi nhiều lần mà khó; quanh rốn đau thúc, đau sâu, tính mạng khó bảo toàn.
Chú giải
“Mạch thốn khẩu, âm dương đều Khẩn” là nói sáu bộ mạch, ở tầng phù và tầng trầm đều Khẩn.
Mạch ở tầng phù Khẩn thì tà sương mù, sương móc trúng vào thượng tiêu. Mạch ở tầng trầm Khẩn thì hàn tà trúng vào hạ tiêu.
Thượng tiêu ở đây chỉ Thái dương; hạ tiêu chỉ Thiếu âm.
Tà sương mù, sương móc được gọi là “khiết”, là “thanh”. Thanh tà trúng ở trên, gây phát nhiệt, đau đầu, gáy cứng, cổ co rút, đau lưng và cẳng chân nhức mỏi, là tà sương mù, sương móc trúng vào biểu của Thái dương.
Hàn tà được gọi là “hồn”, là “trọc”. Trọc tà trúng ở dưới, gây âm khí run rẩy, chân và cẳng chân lạnh ngược, đại tiểu tiện tự thoát, là hàn tà trúng vào lý của Thiếu âm.
Kinh nói: Hư tà không thể tự mình làm tổn thương người, ắt phải nhân lúc hình thể người ấy hư rồi mới xâm nhập.
Bởi biểu khí của người ấy hư, lý khí không vững, nên thanh tà và trọc tà làm tổn thương cả trên lẫn dưới. Tam tiêu lẫn lộn, biểu lý không thông, khiến thanh khí ở thượng tiêu không được tuyên thông; tà khí uất lại, hun bốc cùng khí các tạng, gây miệng lở, lợi bị ăn mòn.
Trung tiêu không điều hòa: vị khí vốn chủ đi xuống mà trái lại xung lên; tỳ khí vốn chủ vận chuyển mà trái lại không vận chuyển. Trung tiêu đều trở nên trọc, vinh vệ không thông, huyết ngưng mà không lưu hành.
Nếu chính khí thắng được tà, vệ khí thông trước, người ấy ắt trước tiên có nước tiểu đỏ vàng. Kinh mạch bị nhiệt làm tổn thương sẽ có huyết ngưng, thịt hư hoại, rồi phát ra ngoài thành ung nhọt có mủ.
Nếu vinh khí thông trước, người ấy ắt trước tiên hắt hơi, tiếng nghẹn và họng bế tắc. Huyết ngưng do nhiệt bị giữ ở trong sẽ tự đi xuống, hình như gan lợn.
Nếu chính khí không thắng tà, âm dương đều nghịch, vinh vệ không thông, tỳ khí cô độc suy yếu, không thể phân bố tinh vi, năm thứ dịch dồn xuống, hạ tiêu không đóng giữ, bên trong đau gấp và trĩu xuống, đại tiện nhiều lần mà quẫn bách, thì tính mạng khó bảo toàn.
Tập chú
Thẩm Lượng Thần nói: Chứng thương hàn chuyển thành nhiệt thì là dấu hiệu tốt. Vì vậy, bệnh Thiếu âm và Quyết âm đều có trường hợp phát nhiệt rồi khỏi. Các chứng đi ngoài ra mủ máu và ung nhọt có mủ đều không nhất thiết là tử chứng.
Nếu âm dương đều quyết nghịch thì người quyết nghịch ắt có hạ lợi; vì vậy, năm thứ dịch dồn xuống, hạ tiêu không đóng giữ, tính mạng khó bảo toàn.
Phương Hữu Chấp nói: Thanh chỉ phong, trọc chỉ hàn. Gọi là khiết, là hồn, là nói về khí thiên lệch của trời đất.
Từ câu “âm bị tà trúng” đến đoạn “trọc tà trúng ở dưới” là giải thích âm trong đoạn trên chính là hạ tiêu, dương chính là thượng tiêu.
Từ câu “âm khí run rẩy” đến “huyết ngưng mà không lưu hành” là nói về chứng trạng.
Từ câu “nếu vệ khí thông trước” trở xuống là nói nguyên do biến thành ung nhọt có mủ.
Từ câu “nếu âm khí thông trước” trở xuống là nói nguyên do biến thành hạ lợi ra mủ máu.
Vệ khí tức dương khí; vinh khí tức âm khí. Đó là tiếp theo ý vinh vệ không thông ở trên, còn nguyên do thanh tà và trọc tà gây bệnh nằm trong đó.
Từ câu “âm dương đều quyết nghịch” trở xuống là nói bệnh chứng dồn vào lý và tăng nặng, nên nói tính mạng khó bảo toàn.
────────────────────
ÂM DƯƠNG ĐỀU KHẨN, KHÔNG ĐƯỢC CHỮA BỪA
Điều văn
Mạch âm dương đều Khẩn, khí thoát ra từ miệng, môi miệng khô, nằm co, chân lạnh, mũi chảy nước, rêu lưỡi trơn nhuận; không được chữa bừa.
Khoảng đến ngày thứ bảy, người ấy hơi phát nhiệt, tay chân ấm, là có xu hướng giải.
Nếu đến ngày thứ tám trở đi, trái lại phát nhiệt dữ dội, thì khó chữa.
Giả sử sợ lạnh thì ắt muốn nôn; đau trong bụng thì ắt muốn hạ lợi.
Chú giải
Đoạn này tiếp theo đoạn trên, nói rõ thêm các chứng, răn người gặp bệnh âm dương lẫn lộn phải thận trọng, không được chữa bừa.
“Nằm co, chân lạnh” trong đoạn này chính là trọc tà trúng ở dưới của đoạn trên.
“Mũi chảy nước, rêu lưỡi trơn nhuận” trong đoạn này chính là thanh tà trúng ở trên của đoạn trên.
“Môi miệng khô” trong đoạn này tương ứng với miệng lở, lợi bị ăn mòn ở đoạn trên.
“Trái lại phát nhiệt dữ dội” trong đoạn này tương ứng với ung nhọt có mủ, đi ngoài ra máu ở đoạn trên.
“Đau trong bụng” trong đoạn này tương ứng với nặng tức ở dưới và đau sâu ở đoạn trên.
“Sợ lạnh” trong đoạn này chính là bên trong run rẩy ở đoạn trên.
Mạch âm dương đều Khẩn là mạch thương hàn. Khí thoát ra từ miệng, môi miệng khô là nhiệt ở kinh Vị. Nằm co, chân lạnh là hàn ở Thiếu âm. Mũi chảy nước là biểu bị phong làm tổn thương. Rêu lưỡi trơn nhuận là trong lý không có nhiệt.
Đối với loại bệnh biểu lý, âm dương, hàn nhiệt, hư thực xen lẫn, chưa phân định như thế này, phải thận trọng, không được chữa bừa. Cần xét bên nào nhẹ, bên nào nặng, bên nào có thể hoãn, bên nào cần gấp, rồi mới định thứ tự chữa trước sau.
Khoảng đến ngày thứ bảy, người ấy hơi phát nhiệt, tay chân dần ấm, là âm lui, dương phục, có xu hướng giải.
Nếu đến ngày thứ tám trở đi, trái lại phát nhiệt dữ dội, thì tà thịnh, chính suy, nên khó chữa.
Giả sử sợ lạnh, biết tà còn ở biểu. Nếu nôn thì tà có xu hướng vào lý.
Đau trong bụng, biết tà đã vào lý; tà công vào trong thì ắt có xu hướng hạ lợi.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Hơi phát nhiệt là tà lui; phát nhiệt dữ dội là tà thịnh. Sợ lạnh là tà còn ở biểu; đau trong bụng là tà đã vào lý.
────────────────────
ÂM DƯƠNG ĐỀU KHẨN, NÔN VÀ HẠ LỢI
Điều văn
Mạch âm dương đều Khẩn, đến mức nôn và hạ lợi, mà riêng mạch vẫn không giải. Khi mạch Khẩn mất đi, trở vào yên ổn, thì là có xu hướng giải.
Nếu mạch Trì, đến ngày thứ sáu, thứ bảy vẫn không muốn ăn, đó là phát muộn, do nước đình lại, là chưa giải. Nếu ăn uống được như thường thì là có xu hướng giải.
Lời khảo xét
Chữ “nhập” trong câu “Khẩn khứ nhập an” có lẽ phải là chữ “nhân”. “Nhân an” nghĩa là người bệnh yên ổn, không còn nôn và hạ lợi. Đây ắt là lỗi sao chép.
Hai câu “đó là phát muộn, do nước đình lại” không liên quan với văn nghĩa trước sau, có lẽ là văn thừa.
Chú giải
Đoạn này làm rõ ý nghĩa giải hay chưa giải của chứng mạch âm dương đều Khẩn, trong ngoài hàn nặng, đến mức nôn và hạ lợi.
Sau nôn và hạ lợi, mạch vẫn Khẩn, là tà chưa hết, bệnh chưa giải.
Mạch Khẩn mất đi, mạch trở nên hòa hoãn, là tà hết, người bệnh yên ổn, có xu hướng giải.
Nếu mạch Khẩn mất đi mà chuyển thành Trì, đến ngày thứ sáu, thứ bảy vẫn không muốn ăn, thì vị chưa hòa, bệnh chưa giải.
Nếu muốn ăn thì vị đã hòa; tuy mạch còn Trì, cũng là có xu hướng giải.
Tập chú
Thành Vô Kỷ nói: Mạch âm dương đều Khẩn là hàn khí nặng ở cả trên lẫn dưới. Sau nôn và hạ lợi, mạch Khẩn vẫn không thôi, gọi là riêng mạch chưa giải. Mạch Khẩn mất đi thì người bệnh yên ổn, là có xu hướng giải.
────────────────────
QUAN CÁCH XÉT Ở BỘ THỐN VÀ BỘ XÍCH
Điều văn
Mạch thốn khẩu Phù mà Đại. Phù là hư, Đại là thực.
Ở bộ xích thì là Quan; ở bộ thốn thì là Cách.
Quan thì không tiểu tiện được; Cách thì nôn nghịch.
Chú giải
Thiên Bình mạch dựa vào trong ngoài của mạch để xét Quan cách; đoạn này dựa vào bộ xích và bộ thốn để xét Quan cách.
Từ đó suy ra, phàm âm hoặc dương thịnh đến cực điểm đều có thể thành bệnh Quan cách, không nhất thiết chỉ cố định ở trong ngoài hay bộ xích, bộ thốn.
Mạch thốn khẩu Phù mà Đại: Phù là chính khí hư, Đại là tà khí thực.
Ở bộ xích thì âm tà thực, đóng bế khiến chính khí không thể tuyên thông, gọi là Quan. Quan thì không tiểu tiện được.
Ở bộ thốn thì dương tà thực, ngăn trở khiến chính khí không thể vận hóa, gọi là Cách. Cách thì nôn nghịch.
Tập chú
Trương Tích Câu nói: Mạch Phù Đại ở bộ xích thì là Quan âm. Âm khí không thể thi hành sự khí hóa, nên không tiểu tiện được.
Mạch Phù Đại ở bộ thốn thì là Cách dương. Dương khí không thể tuyên thông, nên nôn nghịch.
────────────────────
MẠCH PHÙ HOẠT, SÁC TẬT, PHÁT NHIỆT RA MỒ HÔI
Điều văn
Mạch Phù mà Hoạt. Phù là dương, Hoạt là thực.
Dương và thực kết hợp, mạch trở nên Sác Tật, vệ khí mất điều độ.
Mạch Phù Hoạt mà Sác Tật, lại phát nhiệt, ra mồ hôi, thì không chữa được.
Chú giải
Phù là dương, Hoạt là thực. Dương và thực kết hợp thì phần khí vận hành ngoài mạch trở nên nhanh và gấp.
Vệ khí đi nhanh, vinh khí đi chậm; vinh vệ không hỗ trợ nhau cùng vận hành, nên gọi là mất điều độ.
Phù, Hoạt, Sác, Tật là những mạch hữu dư. Nếu gặp chứng hữu dư là phát nhiệt, không ra mồ hôi, thì mạch và chứng phù hợp, có thể chữa.
Nếu lại gặp chứng bất túc là phát nhiệt, ra mồ hôi, thì mạch và chứng không phù hợp, cho nên rõ là không chữa được.
Tập chú
Thành Vô Kỷ nói: Có mạch Phù, Hoạt, Sác, Tật, phát nhiệt, ra mồ hôi mà bệnh giải, là tà khí lui.
Nếu ra mồ hôi mà bệnh không giải, thì chính khí thoát, ắt không thể chữa.
Kinh nói: Mạch âm dương đều thịnh đại, ra mồ hôi mà bệnh không giải thì chết.
────────────────────
MẠCH PHÙ SÁC VÀ SỢ LẠNH
Điều văn
Mạch Phù mà Sác. Phù là phong, Sác là hư.
Phong là nhiệt, hư là hàn. Phong và hư kết hợp thì sợ lạnh từng cơn, như bị nước lạnh rưới vào.
Lời khảo xét
Chữ “hư” trong câu “Sác là hư” có lẽ phải là chữ “nhiệt”.
Hai câu “phong là nhiệt, hư là hàn” có lẽ là văn thừa.
Chữ “hư” trong câu “phong và hư kết hợp” cũng có lẽ phải là chữ “nhiệt”.
Chú giải
Phong hàn ở biểu thì mạch Phù Khẩn.
Phong nhiệt ở biểu thì mạch Phù Sác.
Biểu chịu phong tà nên sợ lạnh từng cơn, như bị nước lạnh rưới vào.
────────────────────
MẠCH PHÙ SÁC VÀ TÍCH MỦ
Điều văn
Các bộ mạch đều Phù Sác, đáng lẽ phải phát nhiệt và sợ lạnh từng cơn.
Nếu có chỗ đau mà ăn uống vẫn như thường, thì có mủ tích lại.
Chú giải
“Các bộ mạch đều Phù Sác” là nói sáu bộ thốn, quan, xích của hai tay đều Phù Sác.
Phù là phong, Sác là nhiệt. Phong nhiệt bị ngăn uất ở biểu, thì đáng lẽ phải phát nhiệt và sợ lạnh từng cơn.
Nếu có chỗ đau âm ỉ mà ăn uống vẫn như thường, thì không phải dấu hiệu của biểu tà, mà là dấu hiệu nội ung có mủ tích lại.
Từ đây biết rằng mạch Phù Sác không thể nhất loạt quy là phong nhiệt.
Tập chú
Vương Khẳng Đường nói: Trên thân có chỗ nóng, sưng, đau, không ai lại không tự biết. Điều văn này nói đến ắt là nội ung, nên mới nói có mủ tích lại.
Như ung ở vùng vị quản, phế ung, trường ung, đều có cách phân biệt riêng. Mạch của vị ung có Nhân nghinh thịnh lên, rất dễ bị lầm là thương hàn, nên cần xét kỹ.
Trình Ứng Mão nói: Mạch và chứng giống thương hàn. Nếu không đối chiếu thêm những biểu hiện “có chỗ đau, ăn uống như thường”, mà lầm dùng thuốc cay ấm để phát tán, thì sẽ giúp dương nhiệt tăng thêm. Hoặc lầm dùng thuốc hàn lương để thanh nhiệt mạnh, thì sẽ ngăn giữ tà khí lại, gây hại sâu hơn.
Trương Lộ nói: Nếu có chỗ nóng và sưng, thì là nhiệt bế tắc kinh lạc. Nếu không có chỗ sưng, thì ắt tà lưu ở tạng phủ, tùy ở trong hay ngoài mà phát thành ung nhọt có mủ.
────────────────────
MẠCH PHÙ ĐẠI, MẨN NGỨA
Điều văn
Mạch Phù mà Đại. Phù là phong hư, Đại là khí mạnh.
Phong và khí va chạm nhau, ắt thành ẩn chẩn, thân thể ngứa. Chứng ngứa ấy gọi là tiết phong; kéo dài thì thành già lại.
Chú giải
Sáu bộ mạch đều Phù mà Đại. Phù là phong hư; Đại là khí mạnh. Mạnh ở đây là nhiệt.
Phong nhiệt kết hợp thì ắt thành ẩn chẩn.
Thân thể ngứa là do phần cơ biểu hư, nhiệt khí bức ra ngoài, gọi là tiết phong.
Nếu lâu không khỏi thì thành già lại. Già lại là những loại bệnh như ghẻ, nấm da, lệ phong, lại phong.
Tập chú
Thành Vô Kỷ nói: Già lại là lệ phong, lông mày thưa, tóc ít, thân có những vết lở khô và mùi tanh hôi. Kinh nói: “Mạch phong thành lệ” là như vậy.
Chu Chấn Hanh nói: Kinh nói các chứng ngứa thuộc hư. Huyết khô, không nuôi dưỡng cơ biểu và tấu lý, nên ngứa.
Phương Hữu Chấp nói: Kinh nói tà ở ngoài, tại tấu lý, thì thành tiết phong.
────────────────────
MẠCH VI, NHU, NHƯỢC, KHẨN VÀ HÀN THỪA
Điều văn
Ở thốn khẩu, các mạch Vi là vong dương; các mạch Nhu là mất máu; các mạch Nhược là phát nhiệt; các mạch Khẩn là hàn.
Những người bị hàn thừa thì thành quyết nghịch, uất mạo, mất cảm giác. Vì vị không có cốc khí, tỳ trì trệ không thông, nên miệng co cứng, không nói được, run rẩy bên ngoài và rùng mình bên trong.
Lời khảo xét
Nhu là mạch nổi mà vô lực, dùng để xét dương hư; sao lại có thể nói là mất máu?
Nhược là mạch chìm mà vô lực, dùng để xét âm hư; sao lại chỉ nói phát nhiệt?
“Các mạch Nhu là mất máu” có lẽ phải là “các mạch Nhu là vệ hư”.
“Các mạch Nhược là phát nhiệt” có lẽ phải là “các mạch Nhược là vinh hư”.
Chú giải
Thốn khẩu ở đây là nói cả ba bộ thốn, quan, xích.
“Các mạch Vi” nghĩa là phàm bệnh thấy mạch Vi đều là vong dương.
“Các mạch Nhu” nghĩa là phàm bệnh thấy mạch Nhu đều là vệ hư.
“Các mạch Nhược” nghĩa là phàm bệnh thấy mạch Nhược đều là vinh hư.
“Các mạch Khẩn” nghĩa là phàm bệnh thấy mạch Khẩn đều là hàn.
“Những người bị hàn thừa” là nói người có các mạch Vi, Nhu, Nhược, thuộc vong dương hoặc vinh vệ bất túc, khi mắc bệnh liền xuất hiện mạch tàn tặc. Mạch Khẩn là hàn thừa vào mà gây quyết nghịch.
Quyết ở bên trong thì uất mạo, hôn mê, không biết đau ngứa.
Quyết ở kinh thì run rẩy, miệng ngậm chặt, không nói được.
Đó là vì ngày thường vị hư, cốc khí bị tổn, tỳ hư không vận hóa; bên trong hư nên không thắng được ngoại tà.
Tập chú
Trình Tri nói: “Bị hàn thừa” là do dương hết sức hư, âm hàn trực tiếp lấn vào, nên thành quyết nghịch.
Sở dĩ hôn mê không biết người, co cứng mà không có cảm giác, là vì vị không có cốc khí, tỳ không lưu thông, khiến miệng ngậm chặt, không nói được, bên ngoài run, bên trong rùng mình mà quyết.
────────────────────
MẠCH KHẨN TỪ ĐÂU MÀ ĐẾN?
Điều văn
Hỏi: Từng có người nêu câu hỏi khó rằng: Mạch Khẩn từ đâu mà đến?
Thầy đáp: Giả sử mất nhiều mồ hôi hoặc nôn, vì trong phế có hàn nên khiến mạch Khẩn.
Giả sử ho, do uống nước lạnh nên khiến mạch Khẩn.
Giả sử hạ lợi, vì trong vị hư lạnh nên khiến mạch Khẩn.
Chú giải
Đoạn này giải thích thêm ý nghĩa người vong dương, vinh vệ bất túc mà thấy mạch Khẩn ở đoạn trên.
“Từng có người nêu câu hỏi khó” là hỏi: Mạch Khẩn vốn là dấu hiệu hàn thực, nhưng hư lạnh cũng thấy mạch Khẩn, vậy mạch ấy từ đâu mà đến?
Thầy đáp: Giả sử mất nhiều mồ hôi thì biểu hư; nôn thì vùng ngực hư; hạ lợi thì lý hư. Hàn tà nhân chỗ hư mà gây bệnh.
Hoặc ngoại cảm hàn tà, hoặc uống nước lạnh vào trong, hoặc trúng hàn rồi bệnh hóa theo âm, đều có thể khiến mạch Khẩn.
Nếu Khẩn cùng xuất hiện với Phù, không ra mồ hôi, thì là thương hàn thuộc thực tà; có ra mồ hôi thì là vong dương thuộc hư tà.
Nếu Khẩn cùng xuất hiện với Trầm, đau bụng, không đại tiện được, thì là trúng hàn thuộc thực tà; đau bụng, hạ lợi, thì là trúng hàn thuộc hư tà.
Từ đó suy ra, phàm các mạch vốn thuộc thực mà chuyển hóa theo hư, thì không thể cứ gọi là thực.
Tập chú
Trình Ứng Mão nói: Khẩn thuộc hàn, gọi là mạch thừa. Nay lại xếp vào tàn tặc, có nghĩa gì?
Đáp: Hư thì bị người khác thừa; thực thì thừa người khác. Mọi mạch đều như vậy, không riêng mạch Khẩn.
────────────────────
THỐN VI, XÍCH KHẨN
Điều văn
Mạch thốn khẩu Vi, mạch xích Khẩn. Người ấy hư tổn, nhiều mồ hôi, biết rằng âm vẫn còn mà hoàn toàn không thấy dương.
Chú giải
Đoạn trên dựa vào tầng phù, tầng trầm để xét Vi và Khẩn; đoạn này dựa vào bộ thốn, bộ xích để xét Vi và Khẩn.
Cả hai đều là dấu hiệu âm thịnh, dương vong, nên nói biết rằng âm vẫn còn mà hoàn toàn không thấy dương.
Chỉ nói “hư tổn, nhiều mồ hôi” là nói lược.
Tập chú
Trình Tri nói: Đây là nói thốn Vi, xích Khẩn là dấu hiệu hư tổn, nhiều mồ hôi.
Thốn Vi Nhược là vong dương; xích Khẩn nhanh là âm thắng. Âm thắng ở trong, dương tuyệt ở ngoài, nên hư tổn, nhiều mồ hôi.
────────────────────
MẠCH VI SÁP DO PHÁT HÃN VÀ CÔNG HẠ QUÁ MỨC
Điều văn
Thầy nói: Người bệnh có mạch Vi mà Sáp, đó là bệnh do thầy thuốc gây nên.
Đã phát hãn mạnh, lại nhiều lần công hạ mạnh, khiến người ấy mất máu. Bệnh đáng lẽ sợ lạnh, sau đó lại phát nhiệt, không có lúc ngừng.
Giữa mùa hạ nóng dữ, người ấy muốn mặc áo nhiều lớp; giữa mùa đông rét dữ, lại muốn cởi trần.
Sở dĩ như vậy là vì dương Vi thì sợ lạnh, âm Nhược thì phát nhiệt.
Thầy thuốc phát hãn làm dương khí suy Vi; lại công hạ mạnh làm âm khí suy Nhược.
Vào tháng năm, dương khí ở biểu, trong vị hư lạnh. Vì dương khí bên trong suy Vi, không thắng được lạnh, nên muốn mặc áo nhiều lớp.
Vào tháng mười một, dương khí ở lý, trong vị phiền nhiệt. Vì âm khí bên trong suy Nhược, không thắng được nhiệt, nên muốn cởi trần.
Lại thấy âm mạch Trì Sáp, nên biết huyết đã mất.
Lời khảo xét
Hai câu “lại thấy âm mạch Trì Sáp, nên biết huyết đã mất” không liên quan với văn nghĩa phía trên. Nếu không phải có đoạn văn bị khuyết thì là văn thừa.
Chú giải
Người bệnh có mạch Vi mà Sáp; hỏi ra mới biết thầy thuốc đã phát hãn mạnh, lại nhiều lần công hạ mạnh, nên mới gây thành bệnh này.
“Người ấy mất máu” là lời nói lược, nghĩa là mất cả huyết lẫn khí.
Khí mất thì dương Vi; dương Vi thì sợ lạnh.
Huyết mất thì âm Nhược; âm Nhược thì phát nhiệt.
Dương Vi, âm Nhược, nên bệnh đáng lẽ sợ lạnh, sau đó lại phát nhiệt.
Trường hợp nhẹ, tà không lưu luyến kéo dài, gặp thời mà tà không thắng được thì bệnh khỏi.
Trường hợp nặng thì không có lúc ngừng; gặp thời mà chính khí không chống đỡ nổi thì bệnh càng nặng.
Sợ lạnh dù giữa mùa hạ nóng dữ vẫn muốn mặc áo nhiều lớp. Đó là vì tháng năm dương khí ở ngoài, trong vị hư lạnh; phát hãn mạnh làm dương khí suy Vi, nên không thắng được hàn.
Phát nhiệt dù giữa mùa đông rét dữ vẫn muốn cởi trần. Đó là vì tháng mười một dương khí ở trong, trong vị phiền nhiệt; lại nhiều lần công hạ làm âm khí suy Nhược, nên không thắng được nhiệt.
Đây chính là điều trong sách nói: nhiệt ở cốt tủy, hàn ở da; hoặc hàn ở cốt tủy, nhiệt ở da, thuộc loại bệnh hàn nhiệt dai dẳng, cố kết.
Tập chú
Vương Khẳng Đường nói: Không nhất thiết phải gặp mùa hạ mới lạnh, gặp mùa đông mới nóng. Đây chỉ là nêu ví dụ để bàn về đạo lý.
────────────────────
MẠCH VI HOÃN VÀ HUYẾT BĂNG
Điều văn
Mạch thốn khẩu Vi mà Hoãn.
Vi là vệ khí [khuyết chữ]; sơ thì da rỗng hư.
Hoãn là vị khí thực. Thực thì thức ăn được tiêu, nước được hóa.
Thức ăn vào vị thì mạch đạo mới vận hành; nước vào kinh thì huyết mới hình thành.
Vinh thịnh thì da ắt [khuyết chữ]. Tam tiêu mất đường kinh thường, gọi là huyết băng.
Chú giải
Mạch thốn khẩu Vi mà Hoãn.
Vi là vệ khí [khuyết chữ]; [khuyết chữ] thì phần biểu rỗng hư.
Hoãn là vị khí thực; thực thì tiêu hóa được thủy cốc.
Thức ăn vào vị thì khí trong mạch đạo mới vận hành. Nước vào kinh thì huyết trong mạch lạc mới hình thành.
Nay vinh càng thịnh mà vệ càng [khuyết chữ], huyết càng nhiều mà khí càng ít. Khí huyết mất đường vận hành thường lệ, nên gọi là tam tiêu tuyệt kinh.
Khí không thể chế ước huyết, huyết không thể trở về kinh, nên huyết đi sai đường mà băng ra.
Tập chú
Thành Vô Kỷ nói: Vệ khí làm ấm phần cơ thịt, làm đầy tấu lý. Vệ khí đã [khuyết chữ], da không được làm ấm và nuôi đầy, nên trở thành rỗng hư.
Kinh nói: Hoãn là vị khí hữu dư. Hữu dư là thực, nên nói Hoãn là vị khí thực.
Nội Kinh nói: “Thức ăn vào vị, tinh vi thấm vào mạch”, đó là ý thức ăn vào vị thì mạch đạo mới vận hành.
Châm Kinh nói: “Uống vào, dịch thấm vào lạc, hòa hợp với huyết”, đó là ý nước vào kinh thì huyết mới hình thành.
“Kinh” là thường lệ. Tam tiêu là đường đi của khí. Vệ khí [khuyết chữ] thì khí không theo điều độ thường lệ, nên tam tiêu mất điều độ thường lệ.
Phương Hữu Chấp nói: Chữ bị khuyết ở đây nói về việc không thể giữ gìn, bảo vệ. “Thực” gần nghĩa với mạnh.
Từ “thức ăn vào vị” đến “huyết mới hình thành” là tiếp theo ý “thức ăn được tiêu, nước được hóa” ở trên.
Âm huyết chảy xuống nhiều mà gọi là “băng” là nói không thể ngừng yên, thế như núi sụp.
────────────────────
MẠCH VI SÁP, VINH VỆ KHÔNG ĐI CÙNG NHAU
Điều văn
Mạch thốn khẩu Vi mà Sáp.
Vi là vệ khí không vận hành; Sáp là vinh khí không đủ.
Vinh vệ không thể đi cùng nhau, tam tiêu không có chỗ nương, thân thể tê bế, mất cảm giác.
Vinh khí không đủ thì bứt rứt, đau nhức, miệng khó nói.
Vệ khí hư thì sợ lạnh, ngáp nhiều.
Tam tiêu không trở về đúng bộ phận của mình.
Thượng tiêu không trở về thì ợ hơi, nuốt chua.
Trung tiêu không trở về thì không thể tiêu hóa thức ăn, không muốn ăn.
Hạ tiêu không trở về thì tiểu tiện không tự chủ.
Chú giải
Ở kinh mạch, phần trong và ngoài là vinh và vệ. Ở tạng phủ, phần trong và ngoài là tam tiêu.
Vì vậy, kinh nói: Vinh đi trong mạch, vệ đi ngoài mạch.
Thượng tiêu do tâm phế làm chủ; trung tiêu do tỳ vị làm chủ; hạ tiêu do can thận làm chủ.
Phân ra mà nói thì có vinh, có vệ, có tam tiêu. Hợp lại mà nói thì đều bắt nguồn từ sự lưu hành của một khí, tùy nơi khí đến mà có tên gọi khác nhau.
Mạch Vi mà Sáp là vinh vệ bất túc. Vì bất túc nên vinh vệ không thể cùng nhau vận hành, tam tiêu không có chỗ nương, khiến toàn thân tê bế, mất cảm giác.
Vinh khí không đủ nên thân thể bứt rứt, đau nhức, miệng khó nói.
Vệ khí không đủ nên sợ lạnh, ngáp nhiều.
Thượng tiêu chủ giáng, giáng phần trọc trong thanh.
Hạ tiêu chủ thăng, thăng phần thanh trong trọc.
Trung tiêu chủ thăng giáng, khiến thanh đi lên, trọc đi xuống.
Nay vinh vệ không cùng nhau vận hành, tam tiêu không có chỗ nương, nên không thể trở về đúng bộ phận của mình, mà mất chức năng.
Thượng tiêu không trở về thì trọc khí không giáng, gây ợ hơi, nuốt chua.
Trung tiêu không trở về thì thăng giáng trái nhau, nên không tiêu hóa được thức ăn, không muốn ăn.
Hạ tiêu không trở về thì thanh khí không thăng, không thể giữ gìn, nên tiểu tiện không tự chủ.
────────────────────
VINH LÀ GỐC, VỆ LÀ LÁ
Điều văn
Mạch thốn khẩu Vi mà Sáp.
Vi là vệ khí suy; Sáp là vinh khí không đủ.
Vệ khí suy thì sắc mặt vàng; vinh khí không đủ thì sắc mặt xanh.
Vinh là gốc, vệ là lá. Vinh vệ đều suy Vi thì gốc lá khô héo, sợ lạnh run rẩy, ho nghịch, khạc chất có mùi tanh, nôn nước dãi và bọt.
Chú giải
Đoạn này giải thích thêm các chứng vinh vệ ở thượng tiêu.
Sắc mặt vàng hoặc xanh là sắc của vinh vệ bất túc.
Sợ lạnh run rẩy, ho, khạc chất có mùi tanh, nôn đàm dãi và bọt là những chứng phế tổn.
Phế chủ da lông. Da lông là nơi vinh vệ cư trú. Vì vậy, phế tổn thì da nhăn tụ lại, lông rụng, vinh vệ khô héo.
Tập chú
Thành Vô Kỷ nói: Vinh đi trong mạch nên là gốc; vệ đi ngoài mạch nên là lá. Gốc lá đều suy Vi thì khí âm dương đều suy.
────────────────────
MẠCH NHƯỢC TRÌ, ĐÓI MÀ KHÔNG ĂN ĐƯỢC
Điều văn
Mạch thốn khẩu Nhược mà Trì.
Nhược là vệ khí suy Vi; Trì là trong vinh có hàn.
Vinh là huyết; huyết hàn thì phát nhiệt.
Vệ là khí; khí suy Vi thì trong lòng thấy đói, đói mà đầy hư, không thể ăn.
Lời khảo xét
Câu cuối “trong lòng thấy đói, đói mà đầy hư, không thể ăn” là bàn về tỳ vị, không liên quan trực tiếp với vinh vệ.
Vì vậy, “Nhược là vệ khí suy Vi” có lẽ phải là “dương khí suy Vi”; “Trì là trong vinh có hàn” có lẽ phải là “trong tỳ có hàn”, thì văn nghĩa trước sau mới liên hệ với nhau.
“Vinh là huyết, huyết hàn thì phát nhiệt”: há có đạo lý huyết hàn lại phát nhiệt?
“Vệ là khí, khí suy Vi” có lẽ phải là dương khí suy Vi.
Trong tỳ có hàn thì trong lòng thấy đói. Đọc đoạn dưới nói về vị khí hữu dư sẽ tự hiểu.
Chú giải
Đoạn này giải thích thêm các chứng vinh vệ ở trung tiêu.
Hoãn dùng để xét vị; Trì dùng để xét tỳ.
Vị chủ thu nạp thức ăn; tỳ chủ tiêu hóa thức ăn. Vì vậy, ăn được là nhờ vị; hóa được là nhờ tỳ.
Nay dương suy Vi, trung tiêu có hàn, tỳ vị đều bệnh, nên tuy trong lòng thấy đói, nhưng đói mà đầy hư, không thể ăn.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Đói mà đầy hư là vì dương chủ hóa thức ăn; vệ dương suy Vi, không hóa được thức ăn, nên đầy hư mà không thể ăn.
────────────────────
MẠCH NHƯỢC HOÃN, VỊ MẠNH TỲ YẾU
Điều văn
Mạch thốn khẩu Nhược mà Hoãn.
Nhược là dương khí không đủ; Hoãn là vị khí hữu dư.
Ợ hơi, nuốt chua, thức ăn đột nhiên không xuống được, khí đầy ở trên cách.
Chú giải
Đoạn này lại giải thích thêm các chứng ở trung tiêu.
Mạch thốn khẩu Nhược mà Hoãn: Nhược là dương khí không đủ; Hoãn là vị khí hữu dư.
Không đủ thì tỳ mất sự kiện vận. Hữu dư thì vị mạnh, có thể ăn.
Đây là vị mạnh, tỳ yếu, nên tuy ăn được mà không tiêu hóa được.
Vì vậy, nuốt chua, ợ hơi, thức ăn không hóa, khí đầy, trướng và bức bối trong vùng cách.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Dương khí ở đây là dương khí trong vị. Không đủ thì không thể hóa thức ăn.
Vị khí ở đây là cốc khí trong vị. Hữu dư nghĩa là có thức ăn lưu lại.
Có thức ăn lưu lại thì uất mà sinh nhiệt, nên ợ hơi no, nuốt chua. Đây là nói về nội thương do ăn uống.
────────────────────
MẠCH PHU DƯƠNG VÀ TỔN THƯƠNG DO CÔNG HẠ
Điều văn
Mạch Phu dương Trì mà Hoãn thì vị khí vẫn theo thường lệ.
Mạch Phu dương Phù mà Sác: Phù thì vị bị tổn thương; Sác thì tỳ bị động.
Đây không phải bệnh vốn có, mà riêng do thầy thuốc công hạ gây nên.
Vinh vệ hãm vào trong, tính Sác trước tiên trở nên Vi, mạch trái lại chỉ còn Phù. Người ấy ắt đại tiện [khuyết chữ], khí được giảm sau khi ợ.
Vì sao nói như vậy?
Vốn mạch Sác làm động tỳ; tính Sác trước tiên trở nên Vi, nên biết tỳ khí không điều hòa. Đại tiện [khuyết chữ], khí được giảm sau khi ợ.
Nay mạch trái lại Phù, tính Sác đổi thành Vi, tà khí riêng lưu lại, trong lòng thấy đói. Tà nhiệt không tiêu được thức ăn, có triều nhiệt, phát khát.
Mạch Sác đáng lẽ phải trở thành Trì Hoãn. Mạch theo điều độ trước sau đúng phép thì người bệnh thấy đói. Mạch Sác không đúng thời thì sinh ác sang.
Chú giải
Từ đây trở xuống phân biệt mạch Phu dương và mạch Thiếu âm.
Phu dương còn gọi là Xung dương, ở mu bàn chân, tại chỗ mạch đập, cách vùng xương lõm ba thốn, là động mạch của kinh Túc Dương minh Vị.
Thiếu âm còn gọi là Thái khê, ở phía sau mắt cá trong, trên xương gót, tại chỗ mạch đập, là động mạch của kinh Túc Thiếu âm Thận.
Chẩn Phu dương và Thiếu âm là phép chẩn cổ. Việt Nhân cho rằng tuy mười hai kinh đều có động mạch, nhưng chỉ lấy thốn khẩu để quyết đoán sống chết, vì thốn khẩu là nơi hội tụ trọng yếu của mạch.
Tuy nhiên, phép này đã không được dùng từ lâu. Giả sử gặp bệnh nguy cấp, không thấy mạch thốn khẩu, thì có thể chẩn những mạch này để quyết đoán sống chết.
Nếu lúc bình thường, dùng mạch quan để thay việc xét Phu dương, dùng mạch xích để thay việc xét Thiếu âm, nhìn chung còn thuận tiện hơn.
Như mạch vị ở Phu dương Trì mà hòa hoãn, thì vị khí không bệnh, mạch theo thường lệ.
Nay mạch Phu dương Phù mà Sác, ấn xuống vô lực. Phù dùng để xét phủ; Phù mà vô lực là vị bị tổn thương. Trầm dùng để xét tạng; Sác mà vô lực là tỳ bị tổn thương.
Hỏi người bệnh thì biết riêng do thầy thuốc công hạ gây nên, khiến khí vinh vệ hãm vào trong.
Mạch vốn Sác chuyển thành Vi là tỳ yếu. Mạch Phù vẫn Phù, trái lại càng rõ, là vị mạnh.
Vị mạnh thì tà khí riêng lưu lại, nên đại tiện [khuyết chữ], triều nhiệt, phát khát.
Tỳ yếu thì tỳ khí không vận hóa, nên tà nhiệt không thể tiêu thức ăn; tuy đói mà không ăn, ợ hơi thì dễ chịu.
Thầy thuốc trước sau chữa đúng phép thì mạch Phù Sác tự phải trở thành Trì Hoãn, như mạch thường. Khi ấy thấy đói, muốn ăn, người bệnh khỏi.
Nếu chữa không thích hợp, mạch Sác từ đầu đến cuối không lui, thì sinh ác sang.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Ác sang và đại tiện ra mủ tuy khác nhau, nhưng đều do huyết nhiệt.
Trình Tri nói: Đây là nói mạch Phu dương vốn Trì Hoãn, công hạ bừa thì biến thành Phù Sác.
────────────────────
PHU DƯƠNG PHÙ SÁP, THIẾU ÂM NHƯ THƯỜNG
Điều văn
Mạch Phu dương Phù mà Sáp, mạch Thiếu âm như thường, thì bệnh ở tỳ; theo phép xét, đáng lẽ có hạ lợi.
Vì sao biết?
Nếu mạch Phù Đại thì khí thực, huyết hư.
Nay mạch Phu dương Phù mà Sáp, nên biết tỳ khí không đủ, vị khí hư.
Vì mạch Thiếu âm Huyền mà Phù, chỉ mới hiện ra, đó là mạch điều hòa, nên gọi là như thường.
Nếu trái lại Hoạt mà Sác, thì biết sẽ đại tiện ra mủ.
Lời khảo xét
Hai câu “nếu mạch Phù Đại thì khí thực, huyết hư” không liên quan với văn nghĩa phía trên, có lẽ là văn thừa.
Mạch Thiếu âm Huyền mà Phù, há có thể gọi là như thường? Có lẽ phải đổi thành “Trầm mà Hoạt”.
Chú giải
Tỳ và thận đều có thể gây bệnh hạ lợi.
Nay mạch vị ở Phu dương Phù Sáp, mạch thận ở Thiếu âm như thường, thì bệnh ở tỳ, không ở thận.
Vì sao biết?
Phù thuộc dương, dùng để xét vị. Sáp thuộc âm, dùng để xét tỳ.
Phù và Sáp kết hợp, nên biết tỳ khí không đủ, vị khí hư.
Mạch Thiếu âm thấy Trầm mà Hoạt, nên gọi là như thường.
Nếu Trầm Hoạt mà Sác, thì là dương tà làm tổn thương âm, nên biết sẽ đại tiện ra mủ máu.
Tập chú
Trình Tri nói: Hạ lợi ra thủy cốc thuộc tỳ vị; hạ lợi ra mủ máu thuộc thận. Có thể chẩn Phu dương và Thái khê để phân biệt.
────────────────────
PHU DƯƠNG PHỤC SÁP VÀ QUAN CÁCH
Điều văn
Mạch Phu dương Phục mà Sáp.
Phục thì nôn nghịch, thủy cốc không hóa.
Sáp thì thức ăn không vào được.
Gọi là Quan cách.
Lời khảo xét
Chữ “hóa” trong “thủy cốc không hóa” có lẽ phải là chữ “nhập”, nghĩa là không vào được.
Nếu là “không hóa”, thì vẫn ăn được, sao lại gọi là Cách?
“Thức ăn không vào được” có lẽ phải là “không tiểu tiện được”.
Nếu vẫn tiểu tiện được thì đường nước còn thông, sao lại gọi là Quan?
Đây ắt là lỗi sao chép.
Chú giải
Phần trước bàn việc dùng tầng phù, tầng trầm và bộ thốn, bộ xích để xét Quan cách. Đoạn này là phép dùng Phu dương để xét Quan cách.
Phu dương là mạch vị.
Mạch Phục mà Sáp: Phục là âm dương ở thốn xích ngừng thăng giáng; Sáp là nguyên khí của tam tiêu không lưu thông.
Không thăng giáng, không lưu thông, nên ở trên thì nôn nghịch, ở dưới thì không tiểu tiện được. Bệnh gọi là Quan cách.
────────────────────
PHU DƯƠNG HOẠT KHẨN
Điều văn
Mạch Phu dương Hoạt mà Khẩn.
Hoạt là vị khí thực; Khẩn là tỳ khí mạnh.
Lấy thực đánh vào mạnh, đau rồi tự làm tổn thương, giống như dùng tay nắm lưỡi dao mà tự gây vết thương.
Chú giải
Mạch Phu dương dùng để xét tỳ vị, đáng lẽ phải hòa hoãn.
Nay trái lại Hoạt mà Khẩn: Hoạt là vị khí thực, Khẩn là tỳ khí mạnh.
Hoạt và Khẩn cùng xuất hiện, giống như lấy thực đánh vào mạnh, nên chủ về đau gấp. Sự đau ấy lại tự làm tổn thương tỳ vị.
Dùng tay nắm lưỡi dao mà thành vết thương, cũng như tự cầm dao cắt mình rồi chuốc lấy tai hại.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Hoạt thuộc thức ăn, nên ở vị thì chủ cốc khí thực.
Khẩn thuộc hàn, nên ở tỳ thì chủ tà khí mạnh.
“Lấy thực đánh vào mạnh” là nói vị thực, tỳ mạnh, hai bên va chạm nhau mà gây bệnh.
Ví như dùng tay nắm lưỡi dao rồi tự làm mình bị thương. Ý nói đây không phải do bệnh từ tạng phủ khác truyền biến đến.
────────────────────
PHU DƯƠNG TRẦM SÁC VÀ TRẦM KHẨN
Điều văn
Mạch Phu dương Trầm mà Sác.
Trầm là thực; Sác thì tiêu thức ăn.
Nếu Khẩn thì bệnh khó chữa.
Chú giải
Mạch vị Trầm mà Sác: Trầm chủ lý, Sác chủ nhiệt.
Trầm Sác là lý thực nhiệt, nên có thể tiêu thức ăn. Phàm bệnh ở lý có mạch này thì đều dễ chữa.
Nếu không phải Trầm Sác mà là Trầm Khẩn, thì Trầm Khẩn thuộc lý hàn, là dấu hiệu làm tổn thương vị khí, nên nói khó chữa.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Trầm dùng để xét lý, nên ở tỳ vị là thổ thực, cốc khí thực.
Sác là nhiệt, thuộc dương. Khẩn là hàn, thuộc âm.
Phu dương chủ tỳ vị; tỳ vị chủ thủy cốc, nên cốc khí thực.
Nếu mạch Sác, dương nhiệt thắng, dương có thể hóa thức ăn, thì tuy có bệnh cũng chưa đủ gây hại lớn.
Nếu mạch Khẩn, âm hàn thắng, âm không hóa thức ăn, nên khó chữa.
Trình Tri nói: Đây là nói mạch Phu dương Trầm Sác thuộc bệnh tiêu cốc.
Trầm là thực, vì Trầm chủ lý. Sác tiêu cốc, vì Sác thuộc nhiệt.
Khẩn thịnh là tà thắng, nên khó chữa.
────────────────────
PHU DƯƠNG ĐẠI KHẨN VÀ HẠ LỢI
Điều văn
Mạch Phu dương Đại mà Khẩn, đáng lẽ sẽ hạ lợi ngay, là khó chữa.
Chú giải
Hạ lợi, không kể hàn hay nhiệt, đều là bệnh trung tiêu hư.
Vì vậy, mạch nên nhỏ, nên hòa hoãn; bệnh và mạch phù hợp thì dễ chữa.
Nay mạch vị ở Phu dương Đại mà Khẩn, là bệnh hư mà mạch thực, không phù hợp, nên khó chữa.
Tập chú
Thành Vô Kỷ nói: Đại là hư, Khẩn là hàn. Trong vị hư hàn thì đáng lẽ hạ lợi ngay.
Khi hạ lợi, mạch cũng nên Vi Tiểu. Nay trái lại Đại Khẩn, là tà thịnh, nên khó chữa.
Kinh nói: Hạ lợi mà mạch Đại thì bệnh chưa ngừng.
Trương Lộ nói: Mạch Phu dương Khẩn là hàn tà làm tổn thương vị, nên ắt hạ lợi. Hạ lợi mà mạch Đại là tà thịnh, nên khó chữa.
────────────────────
PHU DƯƠNG VI KHẨN VÀ ĐOẢN KHÍ
Điều văn
Mạch Phu dương Vi mà Khẩn.
Khẩn là hàn; Vi là hư.
Vi và Khẩn kết hợp thì thành đoản khí.
Chú giải
Mạch ở tầng phù thấy Vi, ở tầng trầm thấy Khẩn, là dấu hiệu hư hàn.
Mạch vị ở Phu dương dường như có mà như không là dương hư; ấn sâu thấy hơi Khẩn là trung tiêu có hàn.
Vị dương hư hàn thì khí ngắn, hơi thở không đủ.
Mạch Khẩn chủ đau mà ở đây không đau, là vì Khẩn kết hợp với Vi: tuy Khẩn nhưng không cứng mạnh, nên không đau.
Tập chú
Trình Tri nói: Phu dương Vi Khẩn là trung khí hư hàn, thành chứng đoản khí.
────────────────────
MẠCH PHU DƯƠNG KHÔNG HIỆN
Điều văn
Mạch Phu dương không hiện, tỳ không vận chuyển lên xuống, thân lạnh, da [khuyết chữ].
Chú giải
Mạch Phu dương ẩn phục, không hiện, thì dương ở trung tiêu hư, tỳ vị không thể vận chuyển và phân bố lên xuống, vệ khí không vận hành.
Vì vậy, toàn thân và da lạnh mà [khuyết chữ].
Tập chú
Trình Tri nói: Thân lạnh là vệ khí không làm ấm. Da [khuyết chữ] là vinh huyết không làm nhuận.
────────────────────
PHU DƯƠNG PHÙ KHÂU, TÔNG KHÍ SUY VI
Điều văn
Mạch Phu dương Phù mà Khâu.
Phù là vệ khí suy; Khâu là vinh khí bị tổn thương.
Thân thể người ấy gầy, da thịt khô ráp, xếp lớp như vảy.
Phù và Khâu kết hợp, tông khí suy Vi, bốn phần thuộc thân bị đoạn tuyệt.
Chú giải
Mạch vị Phù Khâu: Phù là mạch vị suy; Khâu là vinh khí bị tổn thương.
Vệ khí suy nên thân thể gầy.
Vinh khí bị tổn thương nên da thịt khô ráp, xếp lớp như vảy.
Phù và Khâu kết hợp, kéo dài thì tông khí suy Vi, sinh khí ít đi.
“Bốn phần thuộc thân bị đoạn tuyệt” là nói da, thịt, mỡ, tủy đều suy kiệt, nên toàn thân khô gầy, mất sự nuôi dưỡng.
Tập chú
Trình Ứng Mão nói: Vệ lấy vinh làm gốc; vinh lấy vệ làm sự bảo vệ.
Vinh vệ đều chịu sự thống lĩnh của tông khí; mà tông khí lại lấy vị, biểu hiện qua Phu dương, làm gốc.
────────────────────
PHU DƯƠNG KHẨN PHÙ, BỤNG ĐẦY ĐAU QUẶN
Điều văn
Mạch Phu dương Khẩn mà Phù.
Phù là khí; Khẩn là hàn.
Phù là bụng đầy; Khẩn là đau quặn.
Phù và Khẩn kết hợp, ruột sôi và chuyển động. Chuyển động tức khí động, khí ở vùng cách liền đi xuống.
Mạch Thiếu âm không hiện, bộ phận sinh dục sưng lớn mà hư.
Lời khảo xét
Chữ “hư” trong câu “bộ phận sinh dục sưng lớn mà hư” có lẽ phải là chữ “đau”. Xem xét kỹ sẽ hiểu.
Chú giải
Ngoại cảm mà sáu bộ mạch Phù Khẩn thì hàn khí ở ngoài, nên các khớp xương đau nhức, khó chịu.
Nội thương mà mạch vị Phù Khẩn thì hàn khí ở trong, nên bụng đầy, đau quặn.
Hàn và khí kết hợp, ruột sôi và chuyển động. Khi chuyển động, hàn khí ở vùng cách đi xuống, gây đi ngoài ào ạt.
Nếu mạch Thiếu âm không nổi hiện, thì dương ở hạ tiêu hư, hàn khí tụ ở bộ phận sinh dục, không phát tiết được, nên thành bệnh sán, bộ phận sinh dục sưng lớn và đau.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Thổ của Phu dương suy bại, nên Thiếu âm không còn được chế ước.
────────────────────
THIẾU ÂM CHỊU SỰ CHẾ ƯỚC CỦA PHU DƯƠNG LÀ THUẬN
Điều văn
Thiếu âm chịu thua Phu dương là thuận.
Chú giải
Đây là đại ý của việc Thiếu âm chịu thua Phu dương.
Thiếu âm Thận thuộc thủy; Phu dương Vị thuộc thổ.
Trong tạp bệnh, thổ khắc thủy là điều đáng ngại. Nhưng trong bệnh Thiếu âm do thương hàn, chỉ sợ thổ không thể chế thủy. Một khi thủy tràn lan thì nôn, hạ lợi và nhiều chứng khác đều có thể xuất hiện.
Nếu mạch Phu dương hòa, vị thổ có quyền, thì thủy được chế ước. Thiếu âm chịu thua như vậy là thuận.
Thuận nghĩa là thổ không bị thủy lấn át.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Muôn vật nhờ thổ mà sinh, trăm phần xương cốt nhờ vị mà được nuôi.
Thủy thổ yên hòa, muôn vật thịnh, con người an, há chẳng phải là sự thuận lớn nhất trong thiên hạ?
Xưa nay nói người còn mạch Phu dương thì không chết, là có nguyên do.
Uông Hổ nói: Mạch Phu dương, trong Đồ Kinh vốn gọi là mạch Xung dương, ở mu bàn chân, từ đầu ngón giữa đi lên năm thốn, cách huyệt Hãm cốc ba thốn, là nơi kinh Túc Dương minh đi qua.
Đây là huyệt nguyên, nên còn có tên Hội nguyên. Trong phép chẩn, người bệnh nặng được bắt mạch ở đây để quyết đoán sống chết.
Thương hàn lấy vị khí làm gốc. Mạch Phu dương không suy thì biết vị khí vẫn còn; bệnh tuy nguy vẫn có thể chữa.
────────────────────
THIẾU ÂM NHƯỢC SÁP
Điều văn
Mạch Thiếu âm Nhược mà Sáp.
Nhược thì hơi phiền; Sáp thì quyết nghịch.
Chú giải
Mạch Thiếu âm Nhược mà Sáp.
Nhược là thận âm hư, nên hơi phiền.
Sáp là mạch đạo trì trệ, nên tay chân lạnh.
Tập chú
Phương Hữu Chấp nói: Nhược là mạch hư tổn, không đủ.
Âm hư sinh nội nhiệt nên phiền. Nhưng đây thuộc hư phiền, nên tuy phiền cũng chỉ nhẹ.
Sáp là ít huyết, không lưu lợi; không thể đi lên để tiếp nối thuận với dương, nên quyết nghịch, lạnh ngược.
Trình Tri nói: Đây là nói bệnh của mạch thận Vi Sáp.
Thiếu âm là động mạch của thận, ở chỗ lõm phía sau mắt cá trong, phía trên xương gót.
────────────────────
MẠCH THIẾU ÂM KHÔNG ĐẾN VÀ THI QUYẾT
Điều văn
Mạch Thiếu âm không đến, thận khí suy Vi, tinh huyết ít.
Khí chạy gấp, bức bách, xông lên ngực và vùng cách. Tông khí trái lại tụ lại, huyết kết dưới tâm.
Dương khí lui xuống, nhiệt trở về mặt trong đùi, cùng âm tác động nhau, khiến thân mất cảm giác.
Đó là thi quyết. Nên châm Kỳ môn và Cự khuyết.
Chú giải
Mạch Thiếu âm không đến là thận khí suy Vi, tinh huyết ít.
Thận là tạng chứa dương trong âm. Thận âm hư kiệt, không thể giữ dương; dương khí chạy lên, bức bách ngực và vùng cách.
Tông khí trái lại bị ngăn trở, tụ lại mà không vận hành; huyết kết dưới tâm.
Dương khí đã chạy lên, đến cực điểm ắt lui xuống. Khi lui xuống thì vùng mặt trong đùi nóng, cùng âm tác động nhau, đó là diễn biến tất nhiên.
Tuy khiến tri giác mờ tối, thân mất cảm giác, nhưng chưa chết, nên gọi là thi quyết.
Nên châm Kỳ môn để thông huyết kết, châm Cự khuyết để vận hành tông khí, mong quyết được hồi phục, người bệnh tỉnh lại.
────────────────────
CHÚ ÂM CUỐI BẢN
Phần cuối bản nguồn là những ghi chú âm đọc bằng lối phiên thiết.
“Triếp” được chú bằng “trắc thiệp thiết”; “điệp” đọc theo âm “điệt”; “thục” đọc theo âm “thúc”; “ái” được chú bằng “ư cái thiết”; “miết” bằng “thất diệt thiết”; “oanh” bằng “ư vinh thiết”; “noãn” bằng “lô quản thiết”; “hỗn” bằng “hồ khốn thiết”; “ngân” bằng “ngư cân thiết”; “đế” đọc theo âm “đế”; “thu” bằng “tử do thiết”; “chẩn” bằng “chi nhẫn thiết”; “già” đọc theo âm “gia”; “lại” bằng “lực đại thiết”.
Dòng chú âm trong bản gửi có phần đầu không rõ và không giữ đầy đủ chữ Hán tương ứng, nên các âm trên chỉ được chuyển theo phần còn đọc được.
Các dấu “khuyết chữ” trong bản dịch tương ứng với dấu □ nằm trong câu của bản nguồn. Những nhận định về sống chết, việc sửa chữ và chỉ định châm huyệt được giữ theo nguyên văn cổ thư; đây không phải chỉ dẫn để tự đánh giá tiên lượng hoặc tự điều trị hiện nay.
Trường Xuân biên soạn
TOÀN THIÊN ĐÍNH CHÍNH SAI LẦM VÀ LƯU LẠI NHỮNG ĐIỂM CÒN NGHI TRONG CHÚ GIẢI THƯƠNG HÀN LUẬN
伤寒论注正误存疑全篇
Thương Hàn Luận của Trọng Cảnh, thiên nào cũng có thể lấy làm khuôn phép. Nhưng sách được viết vào cuối đời Hán, trải qua sao chép, lưu truyền nên có nhiều sai chữ; những chỗ thẻ sách bị xếp lẫn thứ tự cũng không ít.
Chẳng hạn, trong sách có đoạn nói hạ lợi, nôn nghịch mà lại dùng phương thuốc công hạ mạnh là Thập táo thang; dương thịnh quá mức, chảy máu mũi mà lại dùng Ma hoàng thang để phát hãn.
Ở câu “phát hãn, bệnh đã giải mà trái lại sợ lạnh”, trong hai chữ “bệnh giải” lại thừa một chữ “bất”, thành “bệnh bất giải”.
Ở câu “dưới tâm có bĩ, ấn vào thấy mềm”, phía trước chữ “nhu” lại thiếu một chữ “bất”.
Những chỗ như vậy khiến các nhà chú giải, vì tuân theo kinh văn, không thể không gượng ép giải thích, liên hệ khiên cưỡng. Do đó, một bộ sách hiếm có qua nghìn đời lại không thể được truyền lại cho hậu thế với sự tin cậy trọn vẹn, thật đáng tiếc.
Nay đính chính những sai lầm ấy, lần lượt liệt kê rõ ràng.
Trong mỗi điều, chữ nhỏ đặt bên phải là nguyên văn; chữ nhỏ đặt bên trái là văn đã sửa đúng. Chữ đặt ở giữa là những chữ vốn có trong nguyên văn nhưng được chuyển lên, chuyển xuống, chuyển từ chỗ khác vào, hoặc là những chữ nguyên văn không có mà nay bổ sung.
Những chữ được đặt trong dấu 〔 〕 là chữ cần bỏ.
Đặc biệt, có ba mươi lăm điều sai lệch trong cả đoạn: chứng không phù hợp với mạch, thuốc không phù hợp với bệnh. Tuy có phương thuốc ấy, nhưng trên đời không có bệnh như đã mô tả; dù có bệnh ấy, cũng khó dùng thuốc ấy để chữa. Cứ tiếp nhận chữ sai, nối theo nghĩa lầm thì không giúp ích cho việc ứng dụng thực tế.
Tuy nhiên, trong những điều ấy vẫn có những câu có thể tiếp thu. Vì vậy, ở từng thiên, chúng tôi không thay đổi kinh văn, mà cố gắng thêm lời chú thích để giải nghĩa; đồng thời chép lại nguyên văn, phụ ở cuối quyển, nhằm ghi nhận những chỗ còn thiếu sót và lưu lại những điểm chưa thể quyết định.
Chú bổ sung
Trong các điều của văn bản này, phần đặt trong dấu ngoặc kép là lời đã được sửa đúng; phần đặt trong dấu ngoặc vuông là nguyên văn bị xem là sai và cần bỏ.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN THÁI DƯƠNG THƯỢNG
太阳上篇正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là chữ được người chú giải đề nghị sửa hoặc bổ sung; phần đặt trong dấu 〔 〕 là chữ được đề nghị bỏ. Những chỗ khuyết chữ trong bản gửi được ghi rõ, không tự ý điền.
────────────────────
PHƯƠNG QUẾ CHI THANG
Quế chi ba lạng 〔bỏ vỏ〕, Thược dược ba lạng, Cam thảo chích hai lạng, Sinh khương thái lát ba lạng, Đại táo tách ra mười hai quả.
Lời khảo xét
Trong nguyên văn phương Quế chi thang có hai chữ “bỏ vỏ”.
Khí vị cay ngọt của Quế chi đều nằm ở phần vỏ. Nếu bỏ vỏ thì chỉ còn gỗ khô, làm sao có công năng giải cơ, phát hãn?
Vì vậy, nên bỏ hai chữ ấy. Những chỗ sau cũng theo lệ này.
────────────────────
SỬA CHỮ “KIỂM” — MÍ MẮT
Điều văn đã đính chính
Nếu mạch hòa, người ấy rất bứt rứt, mắt nặng, “mí mắt” 〔mặt〕 ở góc trong có sắc vàng, thì bệnh có xu hướng giải.
Lời khảo xét
Chữ “脸” — mặt — có lẽ phải là chữ “睑” — mí mắt.
“Kiểm” là bờ mí mắt. Viết thành chữ “mặt” là sai, nên sửa.
────────────────────
ĐÍNH CHÍNH ĐIỀU VĂN THẬP TÁO THANG
Điều văn đã đính chính
Thái dương trúng phong, đại tiện “không” thông 〔hạ lợi〕, nôn nghịch; khi biểu đã giải mới có thể công hạ.
Người ấy [khuyết hai chữ] ra mồ hôi, phát “nhiệt” 〔phát tác〕 từng lúc, đau đầu, dưới tâm bĩ [khuyết một chữ] đầy, đau lan xuống [khuyết một chữ], nôn khan, đoản khí; ra mồ hôi mà không sợ lạnh.
Đó là biểu đã giải nhưng lý chưa hòa. Thập táo thang chủ trị.
Lời khảo xét
Chữ “hạ” trong “hạ lợi” có lẽ phải là chữ “bất”, thành “bất lợi”, nghĩa là không thông.
Nếu giữ chữ “hạ”, thì phía trên nôn, phía dưới hạ lợi, há có đạo lý dùng phương thuốc công hạ mạnh như Thập táo thang để công trị?
Chỉ khi đại tiện không thông, bĩ, [khuyết chữ], đầy và đau, mới thuộc bệnh ở lý. Tiểu tiện không thông, nôn nghịch, đoản khí, mới thuộc bệnh thủy ẩm; khi ấy mới có thể công hạ mạnh.
Chữ “tác” trong “phát tác” có lẽ phải là chữ “nhiệt”, thành “phát nhiệt”, mới phù hợp với ý nghĩa dương tà và nhiệt ẩm trong bệnh Thái dương.
Nếu không có nhiệt mà ra mồ hôi, thì thuộc âm tà, hàn ẩm của Thiếu âm, là chứng Chân vũ thang.
Hơn nữa, chữ “tác” không liên hệ được với văn nghĩa của các câu trên dưới, nên sửa.
────────────────────
ĐÍNH CHÍNH CÁC MẠCH SAU KHI CÔNG HẠ
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thái dương, đã công hạ, mạch “Phù” 〔Xúc〕 mà không kết hung, thì bệnh có xu hướng giải.
Mạch “Xúc” 〔Phù〕 thì ắt kết hung.
Mạch “Tế Sác” 〔Khẩn〕 thì ắt đau họng.
Mạch Huyền thì ắt hai bên [khuyết một chữ] co kéo, căng gấp.
Mạch “Khẩn” 〔Tế Sác〕 thì đau đầu chưa dứt.
Mạch Trầm Khẩn thì ắt muốn nôn.
Mạch Trầm Hoạt thì hạ lợi kèm nhiệt.
Mạch “Sác” 〔Phù〕 Hoạt thì ắt đi ngoài ra máu.
Lời khảo xét
“Mạch Xúc” có lẽ phải là “mạch Phù”, mới liên hệ được với ý “không kết hung, bệnh có xu hướng giải”.
“Mạch Phù” có lẽ phải là “mạch Xúc”, mới cùng nghĩa với những điều nói về kết hung, ngực đầy trong sách.
“Mạch Khẩn” có lẽ phải là “mạch Tế Sác”; “mạch Tế Sác” có lẽ phải là “mạch Khẩn”, mới phù hợp với mạch vốn có của hai kinh được nói trong sách.
“Mạch Phù Hoạt” có lẽ phải là “mạch Sác Hoạt”.
Phù Hoạt là mạch của chứng Bạch hổ thang trong sách; Sác Hoạt là mạch của chứng đi ngoài ra mủ máu.
Những chỗ ấy đều nên sửa.
────────────────────
SỬA “LẠI CÔNG HẠ” THÀNH “LẠI HẠ LỢI”
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thái dương được hai, ba ngày, không thể nằm, chỉ muốn ngồi dậy; dưới tâm ắt có kết tụ.
Mạch Vi Nhược là vốn đã có phần hàn, nhưng lại công hạ.
Nếu hạ lợi ngừng thì ắt thành kết hung. Nếu chưa ngừng, đến ngày thứ tư lại hạ “lợi” 〔lại công hạ〕, thì thành hạ lợi kèm nhiệt.
Lời khảo xét
Chữ “chi” trong câu “ngày thứ tư lại công hạ” có lẽ phải là chữ “lợi”, thành “ngày thứ tư lại hạ lợi”.
Phần trên đã nói hạ lợi chưa ngừng, há có đạo lý lại công hạ?
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
BỔ SUNG “RA MỒ HÔI” TRƯỚC “HƠI SỢ LẠNH”
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thái dương, sau khi công hạ, mạch Xúc, ngực đầy, Quế chi khứ thược dược thang chủ trị.
Nếu “ra mồ hôi”, hơi sợ lạnh, thì dùng phương Quế chi khứ thược dược gia Phụ tử thang.
Lời khảo xét
Trước “hơi sợ lạnh” phải có hai chữ “ra mồ hôi”.
Nếu không có “ra mồ hôi”, thì là biểu chưa giải, không có lý do gia Phụ tử.
Vì vậy, nên bổ sung.
────────────────────
BỎ CÂU “SÁC LÀ HƯ”
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thái dương, mạch Phù mà Động Sác.
Phù là phong, Sác là nhiệt, Động là đau. 〔Sác là hư.〕
Đau đầu, phát nhiệt, hơi ra mồ hôi trộm mà trái lại sợ lạnh, là biểu chưa giải.
Thầy thuốc lại công hạ, khiến mạch Động Sác chuyển thành Trì; bên trong vùng cách đau, cự án, trong vị trống hư, khách khí làm động vùng cách, đoản khí, phiền táo, trong lòng áo [khuyết một chữ].
Dương khí hãm vào trong, dưới tâm vì thế [khuyết một chữ], thành kết hung. Đại hãm hung thang chủ trị.
Nếu không kết hung, chỉ đầu ra mồ hôi, những nơi khác không có mồ hôi, mồ hôi chỉ đến ngang cổ là dừng, tiểu tiện không thông, thì thân ắt phát vàng.
Lời khảo xét
Câu “Sác là hư” là văn thừa, nên bỏ.
────────────────────
ĐÍNH CHÍNH TAM VẬT BẠCH TÁN
Điều văn đã đính chính
Hàn thực kết hung, không có nhiệt chứng, thì cho dùng Tam vật 〔Tiểu hãm hung thang〕 Bạch tán. 〔Cũng có thể uống.〕
Lời khảo xét
Câu “cho dùng Tam vật Tiểu hãm hung thang” có lẽ phải là “cho dùng Tam vật Bạch tán”.
Bốn chữ “Tiểu hãm hung thang” có lẽ do thẻ sách bị xếp lẫn.
Ba vị Cát cánh, Bối mẫu, Ba đậu đều có sắc trắng, phù hợp với ý nghĩa tên gọi Tam vật Bạch tán. Phương này ôn mà có thể công, phù hợp với bệnh lý hàn thực.
Tiểu hãm hung thang dùng Qua lâu và Hoàng liên, đều là những vị có tính hàn, há có thể dùng để chữa chứng hàn thực kết hung?
Ba chữ “cũng có thể uống” cũng là văn thừa. Những chữ ấy đều nên bỏ.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN THÁI DƯƠNG TRUNG
太阳中篇正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là chữ được người chú giải đề nghị sửa, bổ sung hoặc chuyển vị trí; phần đặt trong dấu 〔 〕 là chữ được đề nghị bỏ hoặc thay thế.
────────────────────
BỎ CHỮ “BẤT” TRONG “BỆNH BẤT GIẢI”
Điều văn đã đính chính
Sau khi phát hãn, bệnh 〔không〕 giải mà trái lại sợ lạnh, là do hư. Thược dược cam thảo phụ tử thang chủ trị.
Lời khảo xét
Chữ “bất” trong câu “phát hãn, bệnh bất giải” là văn thừa.
Sau khi phát hãn mà bệnh chưa giải thì đương nhiên phải sợ lạnh, sao lại nói “trái lại sợ lạnh”?
Phải là bệnh đã giải mà vẫn sợ lạnh, mới có thể nói là do hư.
Vì vậy, nên bỏ chữ ấy.
────────────────────
BỔ SUNG “HẠ LỢI RA THỨC ĂN CHƯA TIÊU”
Điều văn đã đính chính
Bệnh phát nhiệt, đau đầu, mạch trái lại Trầm. Nếu chưa khỏi, thân thể đau nhức, “hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu”, thì nên ôn lý, thích hợp dùng Tứ nghịch thang.
Lời khảo xét
Sau câu “thân thể đau nhức” phải có bốn chữ “下利清穀” — hạ lợi thanh cốc, nghĩa là đi ngoài ra thức ăn chưa tiêu.
Nếu không có bốn chữ này, thì lời “nên ôn lý” hoàn toàn không có chỗ [bản nguồn khuyết một chữ] để quy vào. Chưa từng có đạo lý chỉ vì bệnh ở biểu mà lại ôn lý.
Xem phần Thái âm ở sau có nói: Thương hàn, thầy thuốc công hạ, tiếp đó hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu không ngừng, thân thể đau, thì phải gấp cứu lý, dùng Tứ nghịch thang. Ý nghĩa càng rõ.
Vì vậy, dựa theo kinh văn mà bổ sung.
────────────────────
ĐÍNH CHÍNH ĐIỀU VĂN BẠCH HỔ GIA NHÂN SÂM THANG
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, sau khi “phát hãn”, hoặc gây nôn, hoặc công hạ, đến bảy, tám ngày vẫn chưa giải; nhiệt kết ở lý, biểu lý đều nhiệt, có lúc “ra mồ hôi” 〔luôn luôn〕 và sợ gió, rất khát, trên lưỡi khô, phiền, muốn uống vài thăng nước, Bạch hổ gia nhân sâm thang chủ trị.
Lời khảo xét
Sau hai chữ “thương hàn” phải có hai chữ “nhược hãn”, nghĩa là “hoặc sau khi phát hãn”, bởi phát hãn làm tổn thương tân dịch nhiều hơn gây nôn và công hạ.
“Luôn luôn sợ gió” có lẽ phải là “có lúc ra mồ hôi và sợ gió”.
Nếu không phải chữ “hãn” — mồ hôi — thì “luôn luôn sợ gió” là biểu chưa giải, thuộc trường hợp cấm dùng Bạch hổ thang.
Trong sách nói: Phát nhiệt, không ra mồ hôi, biểu chưa giải, thì không được cho dùng Bạch hổ thang. Khát, muốn uống nước, không có biểu chứng, thì Bạch hổ gia nhân sâm thang chủ trị.
Xem xét kỹ kinh văn sẽ tự hiểu. Vì vậy, nên bổ sung và sửa lại.
────────────────────
BỔ SUNG “TIỂU TIỆN KHÔNG THÔNG” TRONG CHỨNG NGŨ LINH TÁN
Điều văn đã đính chính
Sau khi phát hãn, mạch Phù Sác, “tiểu tiện không thông”, phiền khát, Ngũ linh tán chủ trị.
Lời khảo xét
Sau câu “mạch Phù Sác” phải có bốn chữ “tiểu tiện không thông”.
Nếu không có bốn chữ này, thì phiền khát ấy là phiền khát do nội nhiệt của Dương minh làm miệng khô, thuộc chứng Bạch hổ thang.
Chỉ khi tiểu tiện không thông mà phiền khát, thì mới là phiền khát do thủy và nhiệt ứ kết trong bệnh Thái dương, mới thuộc chứng Ngũ linh tán.
Nếu không có tiểu tiện không thông mà dùng Ngũ linh tán, thì phạm điều cấm làm tân dịch suy kiệt thêm lần nữa.
Hơn nữa, trong thiên Thái dương thượng có nhiều điều tương tự. Chỉ riêng điều nói “nước vào liền nôn” là nước không đi xuống, nên không có lời “tiểu tiện không thông”; những điều còn lại đều có bốn chữ ấy.
Nay thiếu bốn chữ này, ắt là do sao chép bỏ sót, nên bổ sung.
────────────────────
SỬA “BỎ QUẾ CHI” THÀNH “BỎ THƯỢC DƯỢC”
Điều văn đã đính chính
Sau khi uống Quế chi thang, hoặc sau khi công hạ, vẫn đau cứng đầu gáy, phát nhiệt hâm hấp, không ra mồ hôi, dưới tâm đầy, hơi đau, tiểu tiện không thông, thì Quế chi thang bỏ “Thược dược” 〔Quế chi〕, gia Phục linh, Bạch truật chủ trị.
Lời khảo xét
“Bỏ Quế chi” có lẽ phải là “bỏ Thược dược”.
Nếu phương này bỏ Quế chi, thì lấy gì để chữa biểu chứng vẫn còn đau đầu gáy, phát nhiệt, không ra mồ hôi?
Xem xét kỹ lời dặn khi uống phương này: “Những việc còn lại theo phép sắc uống Quế chi thang”, thì ý nghĩa tự rõ.
Uống Quế chi thang xong, đắp ấm khoảng một lúc, khiến toàn thân [bản nguồn khuyết hai chữ] hơi như có mồ hôi. Đó là phép uống Quế chi thang.
Nếu bỏ Quế chi, thì chỉ còn Bạch thược, Cam thảo, Phục linh, Bạch truật, không có vị cay ngọt vận hành vào vinh vệ. Khi ấy nói “những việc còn lại theo phép Quế chi thang” thì không có ý nghĩa.
Hơn nữa, trong sách có chứng mạch Xúc, ngực đầy, ra mồ hôi, sợ lạnh, dùng Quế chi khứ thược dược gia phụ tử thang chủ trị. Bỏ Thược dược là vì ngực đầy.
Chứng hiện tại tuy hơi khác, nhưng sự đầy thì giống nhau. Vì vậy, có thể biết phải bỏ Thược dược, nên sửa lại.
────────────────────
ĐỔI VỊ TRÍ HAI PHƯƠNG CHI TỬ THANG
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, thầy thuốc dùng thuốc hoàn công hạ mạnh, thân nhiệt không lui, hơi phiền, Chi tử “đậu xị” 〔can khương〕 thang chủ trị.
Thương hàn năm, sáu ngày, sau khi công hạ mạnh, thân nhiệt không lui, trong lòng kết đau, bệnh chưa có xu hướng giải, Chi tử “can khương” 〔đậu xị〕 thang chủ trị.
Lời khảo xét
Chi tử can khương thang có lẽ phải là Chi tử đậu xị thang; Chi tử đậu xị thang có lẽ phải là Chi tử can khương thang.
Quyết không có đạo lý phiền nhiệt lại dùng Can khương, kết đau lại dùng Hương xị.
Vì vậy, nên đổi vị trí hai tên phương.
────────────────────
CHUYỂN CÂU “MA HOÀNG THANG CHỦ TRỊ” LÊN TRƯỚC
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thái dương, mạch Phù Khẩn, không ra mồ hôi, phát nhiệt, thân thể đau nhức, đến tám, chín ngày vẫn chưa giải, biểu chứng còn tồn tại, thì nên phát hãn, “Ma hoàng thang chủ trị”.
Uống thuốc xong, bệnh hơi giảm. Người ấy phát phiền, mắt nhắm lại; trường hợp nặng ắt chảy máu mũi. Chảy máu mũi rồi bệnh mới giải.
Sở dĩ như vậy là vì dương khí quá thịnh. 〔Ma hoàng thang chủ trị.〕
Lời khảo xét
Trương Kiêm Thiện nói: Năm chữ “Ma hoàng thang chủ trị” không nên đặt dưới câu “dương khí quá thịnh”.
Há có đạo lý sau khi chảy máu mũi rồi bệnh đã giải, lại dùng Ma hoàng thang?
Trước câu “uống thuốc xong” không có lời nào nói đã uống thuốc gì.
Chuyển năm chữ ấy lên trên câu này, văn nghĩa mới phù hợp. Vì vậy, nên chuyển.
────────────────────
SỬA “NẾU ĐAU ĐẦU” THÀNH “KHỔ VÌ ĐAU ĐẦU”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, không đại tiện được sáu, bảy ngày, đau đầu, có nhiệt, thì cho dùng Thừa khí thang.
Nếu nước tiểu trong, thì biết bệnh không ở lý mà vẫn ở biểu, cần phải phát hãn.
“Khổ vì” 〔nếu〕 đau đầu thì ắt chảy máu mũi, thích hợp dùng Quế chi thang.
Lời khảo xét
Chữ “nhược” trong “nếu đau đầu” có lẽ phải là chữ “khổ”.
Phải là “khổ vì đau đầu” mới thuộc chứng ắt chảy máu mũi.
Nếu giữ chữ “nhược” — nếu — thì hóa ra mọi trường hợp đau đầu đều có thể dẫn đến chảy máu mũi.
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
BỔ SUNG CHỮ “BẤT” TRƯỚC “NHU”
Điều văn đã đính chính
Dưới tâm có bĩ, ấn vào “không” mềm, mạch ở bộ quan Phù, Đại hoàng hoàng liên tả tâm thang chủ trị.
Lời khảo xét
“Ấn vào thấy mềm” có lẽ phải là “ấn vào không mềm”.
Nếu ấn vào thấy mềm thì là hư bĩ, bổ còn chưa kịp, há có đạo lý dùng Đại hoàng để tả?
Vì vậy, nên bổ sung chữ ấy.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN THÁI DƯƠNG HẠ
太阳下篇正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là lời được người chú giải đề nghị sửa hoặc chuyển vị trí; phần đặt trong dấu 〔 〕 là lời được đề nghị bỏ hoặc thay thế.
────────────────────
ĐÍNH CHÍNH PHÉP GIA GIẢM TIỂU THANH LONG THANG
Trong phép gia giảm của phương Tiểu thanh long thang: Nếu hơi hạ lợi thì bỏ Ma hoàng, thêm “Phục linh bốn lạng” 〔Nhiêu hoa lượng lớn bằng quả trứng gà, sao cho có màu đỏ〕.
Lời khảo xét
“Thêm Nhiêu hoa lượng lớn bằng quả trứng gà” ắt là lỗi sao chép.
Tra trong bản thảo, Nhiêu hoa thuộc loại tương tự Nguyên hoa. Khi dùng để công trục thủy, sức thuốc rất mạnh; năm phân có thể khiến người đi ngoài vài chục lần.
Há có đạo lý chữa chứng hơi hạ lợi do đình ẩm mà lại dùng Nhiêu hoa với lượng lớn bằng quả trứng gà?
Vì vậy, nên sửa thành thêm Phục linh bốn lạng.
────────────────────
CHUYỂN CÂU “TIỂU THANH LONG THANG CHỦ TRỊ” LÊN TRƯỚC
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, dưới tâm có thủy khí, ho, hơi suyễn, phát nhiệt, không khát, “Tiểu thanh long thang chủ trị”.
Uống thang thuốc xong mà thấy khát, là hàn đã lui, bệnh có xu hướng giải. 〔Tiểu thanh long thang chủ trị.〕
Lời khảo xét
Sáu chữ “Tiểu thanh long thang chủ trị” phải đặt sau câu “phát nhiệt, không khát”, thì mới liên hệ được với văn nghĩa của câu “uống thang thuốc xong mà thấy khát”.
Há có đạo lý hàn đã lui, bệnh có xu hướng giải, mà lại uống thêm Tiểu thanh long thang?
Vì vậy, nên chuyển câu ấy lên trước.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN DƯƠNG MINH
阳明篇正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là lời được người chú giải đề nghị sửa, bổ sung hoặc chuyển vị trí; phần đặt trong dấu 〔 〕 là lời được đề nghị bỏ hoặc thay thế. Những chỗ khuyết chữ trong bản gửi được ghi rõ.
────────────────────
SỬA “ĐẠO HÃN” THÀNH “TỰ HÃN”
Điều văn đã đính chính
Bệnh Dương minh, mạch Phù mà Khẩn, ắt có triều nhiệt, phát từng lúc nhất định. Nếu mạch chỉ Phù thì ắt ra “mồ hôi tự nhiên” 〔mồ hôi trộm〕.
Lời khảo xét
Tự hãn là chứng Dương minh; đạo hãn là chứng Thiếu dương.
“Đạo hãn” có lẽ phải là “tự hãn”, nên sửa.
────────────────────
BỔ SUNG “PHÁT NHIỆT” TRONG CHỨNG QUẾ CHI THANG
Điều văn đã đính chính
Bệnh Dương minh, mạch Trì, ra nhiều mồ hôi, “phát nhiệt”, hơi sợ lạnh, là biểu chưa giải. Có thể phát hãn, thích hợp dùng Quế chi thang.
Lời khảo xét
Sau câu “ra nhiều mồ hôi” phải có hai chữ “phát nhiệt”.
Nếu không có hai chữ ấy, thì mạch Trì, ra nhiều mồ hôi, hơi sợ lạnh là dương ở biểu hư, thuộc chứng Quế chi phụ tử thang. Há có đạo lý dùng Quế chi thang để phát hãn?
Vì vậy, nên bổ sung.
────────────────────
SỬA “LÝ CÓ HÀN” THÀNH “LÝ CÓ NHIỆT”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, mạch Phù Hoạt, là biểu có nhiệt, lý có “nhiệt” 〔hàn〕. Bạch hổ thang chủ trị.
Lời khảo xét
Chữ “hàn” trong câu “lý có hàn” có lẽ phải là chữ “nhiệt”.
Nếu là “hàn” thì không thuộc chứng Bạch hổ thang.
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
SỬA “MẠCH HUYỀN THÌ SỐNG” THÀNH “MẠCH HOẠT THÌ SỐNG”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, sau khi gây nôn hoặc công hạ mà bệnh không giải, không đại tiện được năm, sáu ngày, có khi hơn mười ngày; vào khoảng cuối buổi chiều phát triều nhiệt, không sợ lạnh, nói một mình như thấy ma quỷ.
Trường hợp nặng, khi phát thì không nhận biết người, lần sờ quần áo, mò giường, kinh sợ không yên, hơi suyễn, mắt nhìn thẳng.
Mạch “Hoạt” 〔Huyền〕 thì sống; mạch Sáp thì chết.
Trường hợp nhẹ, chỉ phát nhiệt, nói sảng, Đại thừa khí thang chủ trị. Nếu uống một lần đã đi ngoài được thì ngừng những lần uống sau.
Lời khảo xét
Chữ “Huyền” trong câu “mạch Huyền thì sống” có lẽ phải là chữ “Hoạt”.
Huyền là mạch thuộc âm thắng, há có đạo lý nhất định sống?
Chỉ mạch Hoạt thuộc dương mới có sinh cơ.
Hơn nữa, Hoạt là thông, Sáp là bế tắc. Xét đạo lý của muôn vật, chưa từng có trường hợp không lấy thông làm sống, bế tắc làm chết.
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
BỔ SUNG ĐIỀU KIỆN “NẾU TIỂU TIỆN KHÔNG THÔNG”
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thái dương, bộ thốn Hoãn, bộ quan Phù, bộ xích Nhược. Người ấy phát nhiệt, ra mồ hôi, lại sợ lạnh, không nôn, chỉ dưới tâm có bĩ; đó là do thầy thuốc công hạ.
Nếu chưa bị công hạ, người bệnh không sợ lạnh mà khát, thì bệnh đã chuyển thuộc Dương minh.
Tiểu tiện nhiều lần thì đại tiện ắt [khuyết một chữ]. Mười ngày không đại tiện mà không thấy khổ sở gì.
Khát, muốn uống nước, thì cho uống từng ít một.
“Nếu tiểu tiện không thông” 〔chỉ theo phép mà cứu chữa〕, lại khát, thì thích hợp dùng Ngũ linh tán.
Lời khảo xét
Năm chữ “chỉ theo phép mà cứu chữa” có lẽ phải là năm chữ “nếu tiểu tiện không thông”, mới liên hệ được với ý “tiểu tiện nhiều lần” ở trên và “khát” ở dưới.
Tình thế bệnh trong điều này không cấp bách; lời “cứu chữa” thật không có ý nghĩa thích đáng.
Trước đây, Vương Tam Dương cũng nói: Ngũ linh tán khó dùng ở chỗ này; nếu không phải vậy thì dưới chữ “khát” trong kinh văn ắt có đoạn bị khuyết.
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
ĐÍNH CHÍNH PHƯƠNG CHI TỬ BÁ BÌ THANG
Lời khảo xét
Vị Cam thảo trong phương này có lẽ phải là Nhân trần hao.
Đây ắt là lỗi sao chép.
────────────────────
BỔ SUNG “GÂY NÔN VÀO NGÀY THỨ NĂM, THỨ SÁU”
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thái dương, đáng lẽ sợ lạnh, phát nhiệt. Nay tự ra mồ hôi, trái lại không sợ lạnh mà phát nhiệt, mạch ở bộ quan Tế Sác, là do thầy thuốc gây nôn quá mức.
Gây nôn vào ngày thứ nhất, thứ hai thì trong bụng thấy đói mà miệng không thể ăn.
Gây nôn vào ngày thứ ba, thứ tư thì không thích cháo nhừ, muốn ăn thức ăn lạnh.
“Gây nôn vào ngày thứ năm, thứ sáu” thì sáng ăn, chiều nôn. Đó là do thầy thuốc gây nôn mà thành, thuộc tiểu nghịch.
Lời khảo xét
Sau câu “muốn ăn thức ăn lạnh” phải có sáu chữ “gây nôn vào ngày thứ năm, thứ sáu”.
Nếu không có câu này, thì “không thích cháo nhừ, muốn ăn thức ăn lạnh” không liên hệ được với lời “sáng ăn, chiều nôn”.
Hơn nữa, xem xét kỹ những câu “ngày thứ nhất, thứ hai” và “ngày thứ ba, thứ tư” ở trên, thì biết ắt phải có câu “gây nôn vào ngày thứ năm, thứ sáu”, thể hiện ý từ nhẹ đến nặng.
Vì vậy, nên bổ sung.
────────────────────
BỎ CÂU “KHIẾN MỒ HÔI RA NHIỀU”
Điều văn đã đính chính
Mạch thốn khẩu Phù Đại mà thầy thuốc công hạ, đó là đại nghịch.
Phù thì không có huyết; Đại thì là hàn.
Hàn khí kết hợp nhau thì thành ruột sôi. Thầy thuốc không biết, lại cho uống nước lạnh, 〔khiến mồ hôi ra nhiều〕.
Nước gặp hàn khí, lạnh ắt kết hợp nhau, người ấy ắt [khuyết một chữ].
Lời khảo xét
Bốn chữ “khiến mồ hôi ra nhiều” có lẽ là văn thừa, nên bỏ.
────────────────────
CHUYỂN CÂU “NÊN DÙNG ĐẠI THỪA KHÍ THANG ĐỂ CÔNG HẠ”
Điều văn đã đính chính
Bệnh Dương minh, [khuyết một chữ] ngữ, có triều nhiệt, trái lại không thể ăn, thì trong vị ắt có năm, sáu khối phân khô. “Nên dùng Đại thừa khí thang để công hạ.”
Nếu vẫn ăn được thì chỉ [khuyết một chữ] mà thôi. 〔Nên dùng Đại thừa khí thang để công hạ.〕
Lời khảo xét
Câu “nên dùng Đại thừa khí thang để công hạ” phải đặt sau câu “ắt có năm, sáu khối phân khô” mới phù hợp.
Nếu chỉ vì đại tiện [khuyết một chữ] mà dùng ngay Đại thừa khí thang để công hạ, thì rất trái với ý Trọng Cảnh thận trọng đề phòng công hạ nhầm.
Vì vậy, nên chuyển câu ấy.
────────────────────
SỬA “MẠCH TIẾP TỤC PHÙ” THÀNH “MẠCH TIẾP TỤC HUYỀN”
Điều văn đã đính chính
Dương minh trúng phong, mạch Huyền Phù Đại, đoản khí, toàn bụng đầy, dưới [khuyết một chữ] và vùng tâm đau; ấn lâu, khí vẫn không thông.
Mũi khô, không ra được mồ hôi, thích nằm; toàn thân, mặt và mắt đều vàng, tiểu tiện khó, có triều nhiệt, thường nấc, phía trước và sau tai sưng.
Châm thì bệnh hơi giảm, nhưng phần ngoài vẫn chưa giải.
Bệnh đã quá mười ngày, mạch tiếp tục “Huyền” 〔Phù〕, thì cho dùng Tiểu sài hồ thang.
Nếu mạch chỉ Phù, không có những chứng khác, thì cho dùng Ma hoàng thang.
Nếu không tiểu tiện, bụng đầy, lại thêm nấc, thì không chữa được.
Lời khảo xét
Chữ “Phù” trong câu “mạch tiếp tục Phù” có lẽ phải là chữ “Huyền”, mới phù hợp với mạch trong phép dùng Tiểu sài hồ thang.
Nếu giữ chữ “Phù”, thì mạch Phù ở trên đã thích hợp dùng Tiểu sài hồ thang, còn mạch Phù ở dưới lại dùng Ma hoàng thang, há chẳng tự mâu thuẫn?
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
BỎ CHỮ “HẠ” TRONG “NÔN VÀ HẠ LỢI KHÔNG NGỪNG”
Điều văn đã đính chính
Sau khi phát hãn, nước và thuốc không vào miệng được, là nghịch.
Nếu lại phát hãn thì ắt nôn 〔hạ lợi〕 không ngừng.
Lời khảo xét
Chữ “hạ” trong câu “ắt nôn và hạ lợi không ngừng” là văn thừa, nên bỏ.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN THIẾU DƯƠNG
少阳篇正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là lời được người chú giải đề nghị sửa hoặc bổ sung; phần đặt trong dấu 〔 〕 là lời được đề nghị bỏ hoặc thay thế. Những chỗ khuyết chữ trong bản gửi được ghi rõ.
────────────────────
BỎ CÂU “ĂN THỨC ĂN THÌ NẤC”
Điều văn đã đính chính
Mắc bệnh được sáu, bảy ngày, mạch Trì Phù Nhược, sợ gió lạnh, tay chân ấm.
Thầy thuốc công hạ hai, ba lần, khiến không ăn được, dưới [khuyết một chữ] đầy đau, mặt, mắt và thân đều vàng, cổ gáy cứng, tiểu tiện khó; nếu cho dùng Sài hồ thang thì sau đó ắt có cảm giác nặng tức khi đi ngoài.
Người vốn khát, uống nước vào thì nôn, không thích hợp cho dùng Sài hồ thang. 〔Ăn thức ăn thì nấc.〕
Lời khảo xét
Bốn chữ “ăn thức ăn thì nấc” là văn thừa.
Ăn thức ăn vào rồi nôn thì có, nhưng không có chứng ăn thức ăn vào rồi nấc như lời này.
Vì vậy, nên bỏ.
────────────────────
BỔ SUNG “TRẦM”, SỬA “KHẨN” THÀNH “TẾ”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn năm, sáu ngày, đầu ra mồ hôi, hơi sợ lạnh, tay chân lạnh, dưới tâm đầy, không muốn ăn, đại tiện [khuyết một chữ], mạch “Trầm” Tế.
Đây là dương hơi kết, ắt vừa có biểu, vừa có lý. Mạch Trầm cũng là ở lý.
Ra mồ hôi là dương suy nhẹ. Giả sử thuần là âm kết thì không thể còn có ngoại chứng, mà tất cả đều đã vào lý.
Trường hợp này là một nửa ở lý, một nửa ở ngoài.
Mạch tuy Trầm “Tế” 〔Khẩn〕, nhưng không thể cho là bệnh Thiếu âm.
Sở dĩ như vậy là vì âm chứng không thể có mồ hôi. Nay đầu ra mồ hôi, nên biết không phải Thiếu âm.
Có thể cho dùng Tiểu sài hồ thang. Nếu bệnh vẫn chưa giải rõ rệt, thì đại tiện được sẽ giải.
Lời khảo xét
“Mạch Tế” có lẽ phải là “mạch Trầm Tế”.
Xem chữ “cũng” trong câu phía dưới “mạch Trầm cũng là ở lý” sẽ tự hiểu. Vì vậy, nên bổ sung.
Chữ “Khẩn” trong câu “mạch tuy Trầm Khẩn” có lẽ phải là chữ “Tế”.
Xem phần trên của điều này không hề có chữ “Khẩn”, sao lại nói “mạch tuy Trầm Khẩn”? Khi ấy, chữ “tuy” có ý nghĩa gì?
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
SỬA “HẠ LỢI” THÀNH “KHÔNG THÔNG”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, phát nhiệt, ra mồ hôi mà bệnh không giải, dưới tâm bĩ [khuyết một chữ], nôn mửa mà đại tiện “không” thông 〔hạ lợi〕, Đại sài hồ thang chủ trị.
Lời khảo xét
Chữ “hạ” trong “hạ lợi” có lẽ phải là chữ “bất”, thành “bất lợi”, nghĩa là không thông.
Nếu giữ chữ “hạ”, thì phía trên nôn, phía dưới hạ lợi, há có đạo lý vẫn dùng Đại sài hồ thang để công hạ?
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
BỔ SUNG ĐẠI HOÀNG VÀO PHƯƠNG ĐẠI SÀI HỒ THANG
Điều văn
Bệnh Thái dương, đã qua kỳ truyền kinh, hơn mười ngày, lại bị công hạ hai, ba lần.
Sau đó bốn, năm ngày, nếu chứng Sài hồ vẫn còn, thì trước tiên cho dùng Tiểu sài hồ thang.
Nếu nôn không ngừng, dưới tâm căng gấp, uất uất, hơi phiền, thì bệnh chưa giải. Cho dùng Đại sài hồ thang để công hạ thì khỏi.
Lời khảo xét
Hứa Thúc Vi nói: Đại sài hồ thang có bản không dùng Đại hoàng, có bản dùng Đại hoàng.
Đại hoàng có tác dụng tẩy trừ nhiệt uẩn tích, là vị thuốc trọng yếu trong bệnh thương hàn.
Vương Thúc Hòa nói: Nếu không dùng Đại hoàng, e không thể gọi là Đại sài hồ thang.
Hơn nữa, Trọng Cảnh nói: “Công hạ thì khỏi.” Nếu không có Đại hoàng, lấy gì để công hạ, giải sự căng gấp dưới tâm?
Nên theo ý Thúc Hòa là đúng, cần bổ sung vị ấy.
────────────────────
SỬA “ÔN ÔN” THÀNH “ỐT ỐT”
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thái dương, đã qua kỳ truyền kinh, hơn mười ngày, trong lòng “ốt ốt”, lợm giọng muốn nôn 〔ôn ôn〕, trong ngực đau, đại tiện trái lại phân lỏng, bụng hơi đầy, uất uất, hơi phiền.
Nếu trước đó đã bị gây nôn và công hạ quá mức, thì cho dùng Điều vị thừa khí thang. Nếu không phải như vậy thì không được cho dùng.
Chỉ muốn nôn, trong ngực đau, đại tiện hơi lỏng, thì không phải chứng Sài hồ; vì nôn nên đã bị gây nôn và công hạ quá mức.
Lời khảo xét
Vương Khẳng Đường nói: “Ôn ôn” có lẽ phải là “ốt ốt”, nghĩa là lợm giọng, muốn nôn.
Ông lại nói: Đoạn nói về “vì nôn mà công hạ” đáng nghi là có văn bị khuyết.
Vì vậy, nên sửa.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN THÁI ÂM
太阴篇正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là lời được người chú giải đề nghị sửa hoặc chuyển vị trí; phần đặt trong dấu 〔 〕 là chữ được đề nghị thay thế. Chỗ khuyết chữ trong bản gửi được ghi rõ.
────────────────────
CHUYỂN CÂU “TỰ HẠ LỢI CÀNG NẶNG”
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thái âm có biểu hiện bụng đầy mà nôn, thức ăn không xuống được, thỉnh thoảng tự đau bụng.
Nếu công hạ thì ắt dưới ngực kết [khuyết một chữ], “tự hạ lợi càng nặng”.
Lời khảo xét
Ngô Nhân Câu nói: Bốn chữ “tự hạ lợi càng nặng” phải đặt sau câu “ắt dưới ngực kết [khuyết chữ]”.
Nếu đặt sau câu “nôn, thức ăn không xuống được”, thì nghĩa là đã nôn, thức ăn không xuống được, lại tự hạ lợi càng nặng. Khi ấy, Trọng Cảnh nói tiếp “nếu công hạ” sẽ không có ý nghĩa thích đáng.
Vì vậy, theo ý ấy mà chuyển câu xuống.
────────────────────
SỬA “HÀN HẠ” THÀNH “HÀN CÁCH”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, vốn đã bị hàn “cách” 〔hạ〕, thầy thuốc lại gây nôn và công hạ, khiến hàn cách càng nghịch, nôn và hạ lợi.
Nếu thức ăn vừa vào miệng liền nôn, Can khương hoàng liên hoàng cầm nhân sâm thang chủ trị.
Lời khảo xét
Trong kinh luận không có bệnh mang tên “hàn hạ”, cũng không có lời “hàn hạ”.
Xem xét câu phía dưới của điều này: “hàn cách càng nghịch, nôn và hạ lợi”, thì có thể biết chữ “hạ” trong “hàn hạ” có lẽ phải là chữ “cách”, văn nghĩa mới liên hệ với nhau.
Các nhà chú giải đều giải thích là vị hàn gây hạ lợi. Cách giải thích ấy không những không phù hợp với văn nghĩa, mà còn không phù hợp với các vị Hoàng cầm, Hoàng liên trong phương.
Vì vậy, nên sửa.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN THIẾU ÂM
少阴篇正误
SỬA “ÔN ÔN” THÀNH “ỐT ỐT”
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thiếu âm, thức ăn nước uống vừa vào miệng liền nôn; trong lòng “ốt ốt”, lợm giọng muốn nôn 〔ôn ôn〕, nhưng lại không nôn được.
Khi mới mắc bệnh, tay chân lạnh, mạch Huyền Trì, thì đó là thực ở trong ngực. Không được công hạ, mà nên dùng phép gây nôn.
Nếu trên cách có hàn ẩm, nôn khan, thì không được gây nôn, mà nên ôn, thích hợp dùng Tứ nghịch thang.
Lời khảo xét
“Ôn ôn” có lẽ phải là “ốt ốt”.
“Ốt ốt” là hình trạng nôn thủy ẩm.
Vì vậy, nên sửa.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN QUYẾT ÂM
厥阴篇正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là lời được người chú giải đề nghị sửa hoặc bổ sung; phần đặt trong dấu 〔 〕 là lời được đề nghị thay thế.
────────────────────
BỔ SUNG “DO UỐNG NHIỀU NƯỚC”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, quyết lạnh mà dưới tâm hồi hộp, “do uống nhiều nước”, thì nên chữa thủy trước, cho uống Phục linh cam thảo thang, rồi mới chữa chứng quyết.
Nếu không làm như vậy, thủy thấm vào vị, ắt sinh hạ lợi.
Lời khảo xét
Sau câu “quyết lạnh mà dưới tâm hồi hộp” phải có bốn chữ “do uống nhiều nước”.
Nếu không có bốn chữ này, thì đó là quyết và hồi hộp do âm thịnh, không phải quyết và hồi hộp do thủy đình.
Làm sao biết ngay là thủy mà nói “nên chữa thủy trước”?
Vì vậy, nên bổ sung.
────────────────────
SỬA “ĐÂY LÀ TẠNG HÀN” THÀNH “KHÔNG PHẢI TẠNG HÀN”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, mạch Vi mà quyết, đến ngày thứ bảy, thứ tám, da lạnh, người ấy táo động, không có lúc nào tạm yên, thì đó là tạng quyết, không phải hồi quyết.
Hồi quyết thì người ấy đáng lẽ nôn ra giun đũa.
Nay người bệnh yên tĩnh, nhưng thỉnh thoảng lại phiền, thì “không” 〔đây〕 phải tạng hàn. Giun đũa đi lên vùng cách nên gây phiền, một lát lại ngừng.
Ăn vào thì nôn, lại phiền, là giun đũa ngửi thấy mùi thức ăn mà đi ra. Người ấy sẽ tự nôn ra giun đũa.
Hồi quyết, Ô mai hoàn chủ trị; phương này còn chủ trị hạ lợi kéo dài.
Lời khảo xét
Chữ “thử” — đây — trong câu “đây là tạng hàn” có lẽ phải là chữ “phi” — không phải.
Nếu giữ chữ “thử” thì chính là tạng quyết, không phù hợp với ý phân biệt hồi quyết.
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
SỬA “KHÔNG KẾT HUNG” THÀNH “KHÔNG ĐẠI TIỆN”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn năm, sáu ngày, không “đại tiện” 〔kết hung〕, bụng mềm, mạch Hư, lại quyết lạnh, thì không được công hạ.
Đó là huyết đã hao mất; công hạ thì chết.
Lời khảo xét
Hai chữ “kết hung” có lẽ phải là hai chữ “đại tiện”.
Không kết hung, bụng mềm, mạch Hư, lại quyết lạnh, đều không có lý do để công hạ. Nay lại nói “không được công hạ”, thì lời ấy nhằm vào điều gì?
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
SỬA “KHÔNG PHÁT NHIỆT” THÀNH “NẾU PHÁT NHIỆT”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, lúc đầu phát nhiệt sáu ngày, sau đó quyết lạnh lại kéo dài chín ngày, kèm hạ lợi.
Phàm quyết lạnh, hạ lợi thì đáng lẽ không thể ăn. Nay trái lại ăn được, e là trừ trung.
Cho ăn bánh bột dạng sợi, “nếu” 〔không〕 phát nhiệt thì biết vị khí vẫn còn, ắt sẽ khỏi.
Chỉ sợ nhiệt đột ngột xuất hiện rồi lại mất đi.
Ba ngày sau xem mạch, nếu nhiệt vẫn tiếp tục còn, thì dự đoán đến nửa đêm ngày hôm sau sẽ khỏi.
Sở dĩ như vậy là vì lúc đầu phát nhiệt sáu ngày, sau đó quyết lạnh chín ngày; nay lại phát nhiệt ba ngày, cộng với sáu ngày trước cũng thành chín ngày, tương ứng với số ngày quyết lạnh. Vì vậy, dự đoán đến nửa đêm ngày hôm sau sẽ khỏi.
Ba ngày sau xem mạch, nếu mạch Sác, nhiệt vẫn không lui, thì đó là nhiệt hữu dư, ắt phát ung nhọt có mủ.
Lời khảo xét
Chữ “bất” trong câu “không phát nhiệt” có lẽ phải là chữ “nhược” — nếu.
Nếu giữ chữ “bất” thì chính là trừ trung. Làm sao nối tiếp được với câu “chỉ sợ nhiệt đột ngột xuất hiện rồi lại mất đi” ở dưới?
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
BỔ SUNG “QUYẾT LẠNH MÀ HẠ LỢI”
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, mạch Trì, đến sáu, bảy ngày, “quyết lạnh mà hạ lợi”, nhưng trái lại cho dùng Hoàng cầm thang để thanh trừ nhiệt.
Mạch Trì là hàn. Nay dùng Hoàng cầm thang lại trừ nhiệt, thì trong bụng đáng lẽ lạnh, không thể ăn.
Nay trái lại ăn được, đó gọi là trừ trung, ắt chết.
Lời khảo xét
Sau câu “thương hàn, mạch Trì, đến sáu, bảy ngày” phải có bốn chữ “quyết lạnh mà hạ lợi”.
Nếu không có bốn chữ này thì không phải chứng trừ trung.
Hơn nữa, có bốn chữ ấy thì mới liên hệ được với ý “trái lại cho dùng Hoàng cầm thang” ở dưới.
Vì vậy, nên bổ sung.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN HỢP BỆNH VÀ TỊNH BỆNH
合病并病篇正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là chữ được người chú giải đề nghị sửa; phần đặt trong dấu 〔 〕 là chữ được đề nghị thay thế.
────────────────────
SỬA CHỮ “THƯỢNG” THÀNH “HUYỀN”
Điều văn đã đính chính
Tam dương hợp bệnh, mạch Phù Đại “Huyền” 〔thượng〕 ở bộ quan; người bệnh chỉ muốn ngủ, nhắm mắt thì ra mồ hôi.
Lời khảo xét
Chữ “thượng” trong đoạn “Phù Đại thượng” có lẽ phải là chữ “Huyền”, mới phù hợp với mạch của tam dương hợp bệnh được nói trong sách.
Nếu giữ chữ “thượng”, thì trong kinh luận chưa từng có đạo lý lấy hai bộ thốn để chủ định bệnh tam dương.
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
SỬA “XÔNG” THÀNH “DÙNG PHÉP PHÁT HÃN”
Điều văn đã đính chính
Hai kinh dương tịnh bệnh: lúc đầu mới mắc bệnh Thái dương, đã phát hãn, nhưng mồ hôi ra chưa thấu, nên bệnh chuyển thuộc Dương minh. Sau đó tự ra chút mồ hôi, không sợ lạnh.
Nếu chứng Thái dương chưa hết thì không được công hạ; công hạ là nghịch. Trường hợp này có thể phát hãn nhẹ.
Giả sử sắc mặt đỏ đều, đỏ rõ, thì dương khí uất ở biểu, nên giải “bằng phép phát hãn” 〔xông〕.
Nếu phát hãn chưa thấu thì chưa thể nói là đã giải. Dương khí uất, không thoát ra được; đáng ra mồ hôi mà không ra, khiến người ấy táo phiền, không xác định được chỗ đau: lúc ở trong bụng, lúc ở tứ chi, ấn tìm cũng không thấy chỗ đau rõ rệt.
Người ấy đoản khí, chỉ ngồi, là do mồ hôi ra chưa thấu. Phát hãn thêm thì khỏi.
Làm sao biết mồ hôi ra chưa thấu? Vì mạch Sáp nên biết.
Lời khảo xét
Hai chữ “xông” có lẽ phải là hai chữ “dĩ hãn” — dùng phép phát hãn — thì mới liên hệ được với văn nghĩa trước sau.
Vì vậy, nên sửa.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN HOẠI BỆNH
坏病篇正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là chữ được người chú giải đề nghị sửa; phần đặt trong dấu 〔 〕 là lời được đề nghị bỏ hoặc thay thế. Những chỗ khuyết chữ trong bản gửi được ghi rõ.
────────────────────
SỬA “MẠCH TRẦM KHẨN” THÀNH “MẠCH TRẦM HUYỀN”
Điều văn đã đính chính
Vốn là bệnh Thái dương chưa giải, chuyển vào Thiếu dương, dưới [khuyết một chữ] [khuyết một chữ] đầy, nôn khan, không ăn được, hàn nhiệt qua lại.
Nếu chưa dùng phép gây nôn hoặc công hạ, mạch Trầm “Huyền” 〔Khẩn〕, thì cho dùng Tiểu sài hồ thang.
Nếu đã dùng phép gây nôn, công hạ, phát hãn hoặc ôn châm, khiến nói sảng, chứng Sài hồ không còn, thì đó là hoại bệnh.
Phải biết đã phạm phép chữa nghịch nào, rồi theo phép thích hợp mà chữa.
Lời khảo xét
“Mạch Trầm Khẩn” có lẽ phải là “mạch Trầm Huyền”.
Nếu là Trầm Khẩn thì thuộc hàn thực ở ngực, là dấu hiệu nên dùng phép gây nôn.
Chỉ “mạch Trầm Huyền” mới liên hệ với ý nghĩa phía trên, mới có thể cho dùng Tiểu sài hồ thang.
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
BỎ ĐOẠN NGHI DO THẺ SÁCH XẾP LẪN
Điều văn đã đính chính
Thương hàn, sau khi gây nôn và công hạ, lại phát hãn, khiến hư phiền, mạch rất Vi, 〔đến tám, chín ngày, dưới tâm bĩ [khuyết một chữ], dưới [khuyết một chữ] đau, khí xung lên họng〕, chóng mặt, choáng váng, kinh mạch rung giật; kéo dài thì thành chứng nuy.
Lời khảo xét
Ba câu “đến tám, chín ngày, dưới tâm bĩ [khuyết chữ], dưới [khuyết chữ] đau, khí xung lên họng” không liên hệ với văn nghĩa trước sau.
Các nhà chú giải đều vì có ba câu này mà không thể không giải thích rời rạc, kéo dài, gượng ép.
Thường thấy bệnh này đều do mồ hôi ra quá nhiều, làm tân dịch tổn thương nặng mà thành. Phải dùng thuốc bổ khí, bổ huyết, ích gân, mạnh xương; trải qua năm tháng mới khỏi.
Ba câu này ắt do thẻ sách xếp lẫn, nên bỏ.
────────────────────
BỎ CÂU “CHO DÙNG VŨ DƯ LƯƠNG HOÀN”
Điều văn đã đính chính
Người vốn thường ra nhiều mồ hôi, lại bị phát hãn lần nữa, ắt tinh thần hoảng hốt, trong lòng rối loạn; sau khi tiểu tiện, bộ phận sinh dục đau. 〔Cho dùng Vũ dư lương hoàn.〕
Lời khảo xét
Vũ dư lương hoàn là thuốc thu sáp để chữa lỵ, không phù hợp với chứng này.
Năm chữ “cho dùng Vũ dư lương hoàn” là văn thừa, nên bỏ.
────────────────────
SỬA BA CHỮ “NHƯỢC” THÀNH “SÁC”
Điều văn đã đính chính
Biểu hiện giống thương hàn, nhưng mạch không Huyền Khẩn mà “Sác” 〔Nhược〕.
Mạch “Sác” 〔Nhược〕 thì ắt khát. Nếu bị dùng phép hỏa trị thì ắt [khuyết một chữ] ngữ.
Mạch “Sác” 〔Nhược〕 thì phát nhiệt. Mạch Phù, muốn giải thì phải ra mồ hôi mới khỏi.
Lời khảo xét
Cả ba chữ “Nhược” có lẽ đều phải là chữ “Sác”.
Nếu là “Nhược” thì nhiệt từ đâu mà có?
Không những văn nghĩa không liên hệ, mà trong sách cũng không có cách nói như vậy.
Vì vậy, nên sửa.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN BỆNH KÍNH, THẤP VÀ YẾT
痉湿暍病篇正误
Phần đặt trong dấu 〔 〕 là lời được người chú giải đề nghị bỏ.
────────────────────
BỎ CỤM “DO THƯƠNG HÀN GÂY NÊN”
Điều văn đã đính chính
〔Do thương hàn gây nên〕 Bệnh Thái dương có ba loại: kính, thấp và yết. Ba loại này nên được bàn riêng.
Lời khảo xét
Bốn chữ “do thương hàn gây nên” thật không có ý nghĩa thích đáng, nên bỏ.
────────────────────
BỎ CHỮ “TRÁI LẠI” TRONG CHỨNG CƯƠNG KÍNH
Điều văn đã đính chính
Bệnh Thái dương, phát nhiệt, không ra mồ hôi, 〔trái lại〕 sợ lạnh, gọi là cương kính.
Lời khảo xét
Chữ “phản” — trái lại — trong câu “trái lại sợ lạnh” là văn thừa.
Chứng cương kính vốn phải sợ lạnh, không phải là biểu hiện trái với lẽ thường.
Vì vậy, nên bỏ chữ ấy.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN HOẮC LOẠN
霍乱篇正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là lời được người chú giải đề nghị sửa; phần đặt trong dấu 〔 〕 là lời được đề nghị thay thế.
────────────────────
SỬA “HẠ LỢI ĐÃ NGỪNG, MẤT HUYẾT” THÀNH “HẠ LỢI KHÔNG NGỪNG, VONG DƯƠNG”
Điều văn đã đính chính
Sợ lạnh, mạch Vi, lại hạ lợi; “hạ lợi không ngừng, vong dương” 〔hạ lợi đã ngừng, mất huyết〕. Tứ nghịch gia nhân sâm thang chủ trị.
Lời khảo xét
Hạ lợi đã ngừng, mất huyết, thì tại sao lại dùng thuốc bổ có tính đại nhiệt?
“Hạ lợi đã ngừng” có lẽ phải là “hạ lợi không ngừng”; “mất huyết” có lẽ phải là “vong dương”.
Vì vậy, nên sửa.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN BIỆN KHẢ HẠ
辨可下篇正误
SỬA CHỮ “VI” THÀNH “ĐẠI”
Điều văn đã đính chính
Hỏi: Người bệnh có thức ăn lưu tích từ trước, làm sao phân biệt?
Thầy đáp: Mạch thốn khẩu Phù mà Đại, ấn xuống trái lại Sáp; mạch ở bộ xích cũng “Đại” 〔Vi〕 mà Sáp. Vì vậy, biết có thức ăn lưu tích, nên công hạ, thích hợp dùng Đại thừa khí thang.
Lời khảo xét
Chữ “Vi” trong câu nói về mạch ở bộ xích có lẽ phải là chữ “Đại”.
Nếu là chữ “Vi” thì quyết không có lý do để công hạ.
Vì vậy, nên sửa.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN BÌNH MẠCH PHÁP
平脉法正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là lời được người chú giải đề nghị sửa hoặc bổ sung; phần đặt trong dấu 〔 〕 là lời được đề nghị bỏ hoặc thay thế.
────────────────────
ĐÍNH CHÍNH CÁC ĐOẠN NÓI VỀ PHẢN, PHÚ VÀ ÂM DƯƠNG THỊNH
Điều văn đã đính chính
Giả sử mạch đến nhỏ yếu, đi lớn, thì gọi là Phản, bệnh ở lý.
“Mạch đến lớn, đi nhỏ” 〔mạch đến đầu nhỏ, gốc lớn〕, thì gọi là Phú, bệnh ở biểu.
“Phần trên nhỏ yếu là âm thịnh” 〔phần trên yếu, đầu nhỏ〕, thì ra mồ hôi.
“Phần dưới nhỏ yếu là dương thịnh” 〔phần dưới yếu, gốc lớn〕, thì thành Quan cách, không thông, không tiểu tiện được.
Đầu không có mồ hôi thì có thể chữa; có mồ hôi thì chết.
Lời khảo xét
“Mạch đến đầu nhỏ, gốc lớn” có lẽ phải là “mạch đến lớn, đi nhỏ”.
“Phần trên yếu, đầu nhỏ” có lẽ phải là “phần trên nhỏ yếu là âm thịnh”.
“Phần dưới yếu, gốc lớn” có lẽ phải là “phần dưới nhỏ yếu là dương thịnh”.
Như vậy mới liên hệ được với ý nghĩa trước sau. Vì vậy, nên sửa và bổ sung.
────────────────────
SỬA CHỮ “TRẦM” THÀNH “CƯỜNG”
Điều văn đã đính chính
Ở thốn khẩu, vệ khí thịnh gọi là Cao; vinh khí thịnh gọi là Chương. Cao và Chương kết hợp, gọi là Cương.
Vệ khí yếu gọi là Điệp; vinh khí yếu gọi là Ti. Điệp và Ti kết hợp, gọi là Tổn.
Vệ khí hòa gọi là Hoãn; vinh khí hòa gọi là Trì. Trì và Hoãn kết hợp, gọi là “Cường” 〔Trầm〕.
Lời khảo xét
Chữ “Trầm” trong câu “gọi là Trầm” có lẽ phải là chữ “Cường”.
Xem đoạn dưới sẽ biết. Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
BỎ BA CHỮ KHÔNG THÀNH CÂU
Điều văn đã đính chính
Mạch thốn khẩu Hoãn mà Trì.
Hoãn thì dương khí tăng trưởng, sắc tươi, mặt sáng, tiếng thuộc âm Thương, lông tóc sinh trưởng.
Trì thì âm khí thịnh, cốt tủy sinh, huyết đầy, cơ thịt săn chắc 〔bạc tiên [khuyết một chữ]〕.
Âm dương ôm giữ nhau, vinh vệ cùng vận hành, cương nhu tương đắc, gọi là Cường.
Lời khảo xét
Ba chữ “bạc tiên [khuyết chữ]” không thành câu, có lẽ là văn thừa, nên bỏ.
────────────────────
BỔ SUNG ĐOẠN NÓI VỀ MẠCH THẬN Ở PHƯƠNG BẮC
Điều văn được bổ sung
Mạch thận ứng với phương Bắc, hình trạng như thế nào?
Thầy đáp: Thận thuộc thủy, gọi là Thiếu âm. Mạch Trầm Hoạt là mạch thận.
Người mắc bệnh thận mà có mạch Trầm Hoạt, mềm nhuận, thì sẽ khỏi.
Lời khảo xét
Các phương Đông, Nam, Tây đều có đoạn văn tương ứng, chỉ thiếu phương Bắc.
Vì vậy, dựa theo cách viết của kinh văn mà bổ sung.
────────────────────
BỎ ĐOẠN NGHI DO THẺ SÁCH XẾP LẪN
Điều văn đã đính chính
Hỏi: Mạch “hấp, yểm, trầm” gọi là Hoạt, nghĩa là thế nào?
Thầy đáp: Trầm là thuần âm; hấp là chính dương. Âm dương hòa hợp, nên khiến mạch Hoạt, bộ quan và bộ xích tự điều hòa.
Mạch Dương minh hơi Trầm thì ăn uống vẫn được.
Mạch Thiếu âm hơi Hoạt, 〔Hoạt là tên gọi của Khẩn khi nổi; đây là âm thực〕, thì người ấy ắt ra mồ hôi ở mặt trong đùi, vùng dưới bộ phận sinh dục ẩm ướt.
Lời khảo xét
Hai câu “Hoạt là tên gọi của Khẩn khi nổi; đây là âm thực” không liên hệ với ý nghĩa trước sau, có lẽ do thẻ sách xếp lẫn.
────────────────────
SỬA HAI CHỮ “PHÙ” THÀNH “NHU”, CHỮ “TRẦM” THÀNH “NHƯỢC”
Điều văn đã đính chính
Mạch dương “Nhu” 〔Phù〕, mạch âm Nhược, thì huyết hư. Huyết hư thì gân co căng.
Mạch “Nhược” 〔Trầm〕 là vinh khí suy Vi.
Mạch “Nhu” 〔Phù〕 mà mồ hôi ra như những hạt châu chảy nối nhau, là vệ khí suy.
Lời khảo xét
Hai chữ “Phù” trong “mạch dương Phù” và “mạch Phù” có lẽ phải là chữ “Nhu”.
Nếu giữ chữ “Phù” thì không liên hệ với ý vệ khí suy, mồ hôi ra như những hạt châu chảy nối nhau.
Chữ “Trầm” trong “mạch Trầm” có lẽ phải là chữ “Nhược”.
Nếu giữ chữ “Trầm” thì không liên hệ với ý huyết hư, vinh khí suy Vi.
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
SỬA “KHÔNG HÒA” THÀNH “TỰ HÒA”
Điều văn đã đính chính
Thầy nói: Người nhà đến mời, thưa rằng người bệnh phát nhiệt, phiền rất dữ.
Hôm sau, thầy đến, thấy người bệnh nằm quay mặt vào vách, thì nhiệt đã lui.
Nếu mạch “tự” 〔không〕 hòa, thì có thể nói bệnh đã khỏi.
Lời khảo xét
“Không hòa” có lẽ phải là “tự hòa”.
Nếu mạch không hòa, làm sao có thể nói bệnh đã khỏi?
Vì vậy, nên sửa.
Trường Xuân biên soạn
ĐÍNH CHÍNH THIÊN BIỆN MẠCH PHÁP
辨脉法正误
Phần đặt trong dấu ngoặc kép là lời được người chú giải đề nghị sửa; phần đặt trong dấu 〔 〕 là lời được đề nghị bỏ hoặc thay thế.
────────────────────
BỎ ĐOẠN VĂN LẶP VỀ MẠCH KẾT
Điều văn đã đính chính
Mạch đến hòa hoãn, thỉnh thoảng ngừng một lần rồi lại đến, gọi là Kết. Mạch đến nhanh, thỉnh thoảng ngừng một lần rồi lại đến, gọi là Xúc.
Dương thịnh thì Xúc, âm thịnh thì Kết. Đây đều là bệnh mạch.
〔Ấn mạch thấy đến hòa hoãn, thỉnh thoảng ngừng một lần rồi lại đập, gọi là Kết. Lại có mạch đang đập thì ngừng giữa chừng, sau đó trở lại nhỏ và nhanh; trong khoảng ấy có sự trở lại rồi lại đập, gọi là Kết âm.〕
Lời khảo xét
Những lời từ “ấn mạch thấy đến hòa hoãn, thỉnh thoảng ngừng một lần rồi lại đập” đến “gọi là Kết âm” có văn nghĩa không thuận.
Hơn nữa, phần trước đã bàn rõ về mạch Xúc và mạch Kết. Đây là văn thừa, nên bỏ.
────────────────────
ĐỔI VỊ TRÍ “PHÁT NHIỆT” VÀ “RA MỒ HÔI” TRONG MẠCH ĐỘNG
Điều văn đã đính chính
Âm dương va chạm nhau, gọi là Động.
Dương động thì “phát nhiệt” 〔ra mồ hôi〕; âm động thì “ra mồ hôi” 〔phát nhiệt〕.
Người thân lạnh, sợ lạnh, là tam tiêu bị tổn thương.
Nếu mạch Sác xuất hiện ở bộ quan, trên dưới không có đầu đuôi, lớn như hạt đậu, rung động tại chỗ, thì gọi là Động.
Lời khảo xét
Hai chữ “ra mồ hôi” trong câu “dương động thì ra mồ hôi” có lẽ phải là “phát nhiệt”.
Hai chữ “phát nhiệt” trong câu “âm động thì phát nhiệt” có lẽ phải là “ra mồ hôi”.
Dương tác động vào dương, há có đạo lý sinh mồ hôi?
Tố Vấn nói: “陽加於陰,謂之汗” — Dương gia ư âm, vị chi hãn; nghĩa là dương tác động vào âm thì sinh mồ hôi.
Vì vậy, theo kinh văn mà đổi vị trí hai cụm ấy.
────────────────────
SỬA “NHẬP” THÀNH “NHÂN”, BỎ ĐOẠN NÓI VỀ THỦY ĐÌNH
Điều văn đã đính chính
Mạch âm dương đều Khẩn, đến mức nôn và hạ lợi, mà riêng mạch vẫn chưa giải.
Mạch Khẩn mất đi, “người” 〔nhập〕 yên ổn, thì bệnh có xu hướng giải.
Nếu mạch Trì, đến ngày thứ sáu, thứ bảy vẫn không muốn ăn, 〔đó là phát muộn, do nước đình lại〕, thì bệnh chưa giải.
Ăn uống được như thường thì bệnh có xu hướng giải.
Lời khảo xét
Chữ “nhập” trong câu “Khẩn khứ nhập an” có lẽ phải là chữ “nhân” — người.
“Người yên ổn” nghĩa là không còn nôn và hạ lợi.
Hai câu “đó là phát muộn, do nước đình lại” không liên hệ với văn nghĩa trước sau, có lẽ là văn thừa.
Vì vậy, nên sửa chữ và bỏ hai câu ấy.
────────────────────
SỬA “SÁC LÀ HƯ” THÀNH “SÁC LÀ NHIỆT”
Điều văn đã đính chính
Mạch Phù mà Sác. Phù là phong; Sác là “nhiệt” 〔hư; phong là nhiệt, hư là hàn〕.
Phong “nhiệt” 〔hư〕 kết hợp thì sợ lạnh từng cơn, như bị nước lạnh rưới vào.
Lời khảo xét
Chữ “hư” trong câu “Sác là hư” có lẽ phải là chữ “nhiệt”.
Hai câu “phong là nhiệt, hư là hàn” có lẽ là văn thừa.
Chữ “hư” trong câu “phong và hư kết hợp” cũng có lẽ phải là chữ “nhiệt”.
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
SỬA “MẤT HUYẾT” THÀNH “VỆ HƯ”, “PHÁT NHIỆT” THÀNH “VINH HƯ”
Điều văn đã đính chính
Ở thốn khẩu, các mạch Vi là vong dương; các mạch Nhu là “vệ hư” 〔mất huyết〕; các mạch Nhược là “vinh hư” 〔phát nhiệt〕; các mạch Khẩn là hàn.
Những người bị hàn thừa thì thành quyết nghịch, uất mạo, mất cảm giác.
Vì vị không có cốc khí, tỳ trì trệ không thông, nên miệng co cứng, không nói được, run rẩy bên ngoài và rùng mình bên trong.
Lời khảo xét
“Các mạch Nhu là mất huyết” có lẽ phải là “các mạch Nhu là vệ hư”.
“Các mạch Nhược là phát nhiệt” có lẽ phải là “các mạch Nhược là vinh hư”.
Nhu là mạch nổi mà vô lực, dùng để xét dương hư, há có đạo lý nói là mất huyết?
Nhược là mạch chìm mà vô lực, dùng để xét âm hư, há chỉ có phát nhiệt mà thôi?
Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
BỎ CÂU “ÂM MẠCH TRÌ SÁP, NÊN BIẾT HUYẾT ĐÃ MẤT”
Điều văn đã đính chính
Thầy nói: Người bệnh có mạch Vi mà Sáp, đó là bệnh do thầy thuốc gây nên.
Đã phát hãn mạnh, lại nhiều lần công hạ mạnh, khiến người ấy mất huyết. Bệnh đáng lẽ sợ lạnh, sau đó lại phát nhiệt, không có lúc ngừng.
Giữa mùa hạ nóng dữ, người ấy muốn mặc áo nhiều lớp; giữa mùa đông rét dữ, lại muốn cởi trần.
Sở dĩ như vậy là vì dương Vi thì sợ lạnh, âm Nhược thì phát nhiệt.
Thầy thuốc phát hãn làm dương khí suy Vi; lại công hạ mạnh làm âm khí suy Nhược.
Vào tháng năm, dương khí ở biểu, trong vị hư lạnh. Vì dương khí bên trong suy Vi, không thắng được lạnh, nên muốn mặc áo nhiều lớp.
Vào tháng mười một, dương khí ở lý, trong vị phiền nhiệt. Vì âm khí bên trong suy Nhược, không thắng được nhiệt, nên muốn cởi trần.
〔Lại thấy âm mạch Trì Sáp, nên biết huyết đã mất.〕
Lời khảo xét
Hai câu “lại thấy âm mạch Trì Sáp, nên biết huyết đã mất” không liên hệ với văn nghĩa phía trên, là văn thừa, nên bỏ.
────────────────────
ĐÍNH CHÍNH ĐOẠN MẠCH NHƯỢC TRÌ, ĐÓI MÀ KHÔNG ĂN ĐƯỢC
Điều văn đã đính chính
Mạch thốn khẩu Nhược mà Trì.
Nhược là “dương” 〔vệ〕 khí suy Vi; Trì là trong “tỳ” 〔vinh〕 có hàn.
“Dương khí suy Vi, trong tỳ có hàn” 〔vinh là huyết, huyết hàn thì phát nhiệt; vệ là khí, khí suy Vi〕, khiến trong lòng thấy đói, đói mà đầy hư, không thể ăn.
Lời khảo xét
Câu cuối “trong lòng thấy đói, đói mà đầy hư, không thể ăn” là bàn về tỳ vị, không liên quan với vinh vệ.
Vì vậy, “Nhược là vệ khí suy Vi” có lẽ phải là “dương khí suy Vi”; “Trì là trong vinh có hàn” có lẽ phải là “trong tỳ có hàn”, thì văn nghĩa trước sau mới liên hệ.
Vinh là huyết, há có đạo lý huyết hàn lại phát nhiệt?
Những lời “vệ là khí, khí suy Vi” cũng không thành văn mạch thích đáng, nên nay đều thay đổi.
Có lẽ phải là: “Dương khí suy Vi, trong tỳ có hàn, khiến trong lòng thấy đói.”
Đọc điều phía dưới nói về vị khí hữu dư sẽ tự hiểu. Vì vậy, nên sửa.
────────────────────
ĐÍNH CHÍNH MẠCH THIẾU ÂM “NHƯ THƯỜNG”
Điều văn đã đính chính
Mạch Phu dương Phù mà Sáp, mạch Thiếu âm như thường, thì bệnh ở tỳ; theo phép xét, đáng lẽ có hạ lợi.
Vì sao biết?
〔Nếu mạch Phù Đại thì khí thực, huyết hư.〕
Nay mạch Phu dương Phù mà Sáp, nên biết tỳ khí không đủ, vị khí hư.
Vì mạch Thiếu âm “Trầm mà Hoạt” 〔Huyền mà Phù〕 vừa hiện ra, đó là mạch điều hòa, nên gọi là như thường.
Nếu trái lại Hoạt mà Sác, thì biết sẽ tiểu tiện ra mủ.
Lời khảo xét
Hai câu “nếu mạch Phù Đại thì khí thực, huyết hư” không liên hệ với văn nghĩa trước sau, nên bỏ.
Mạch Thiếu âm Huyền mà Phù, há có thể gọi là như thường?
Vì vậy, nên đổi thành hai chữ “Trầm” và “Hoạt”.
────────────────────
ĐÍNH CHÍNH CHỨNG QUAN CÁCH Ở MẠCH PHU DƯƠNG
Điều văn đã đính chính
Mạch Phu dương Phục mà Sáp.
Phục thì nôn nghịch, thủy cốc không “vào được” 〔hóa〕.
Sáp thì “không tiểu tiện được” 〔thức ăn không vào được〕.
Gọi là Quan cách.
Lời khảo xét
Chữ “hóa” trong “thủy cốc không hóa” có lẽ phải là chữ “nhập” — vào.
Nếu là “không hóa”, thì vẫn ăn được, sao lại gọi là Cách?
“Thức ăn không vào được” có lẽ phải là “không tiểu tiện được”.
Nếu vẫn tiểu tiện được thì đường nước còn thông, sao lại gọi là Quan?
Vì vậy, đều sửa lại.
────────────────────
SỬA “SƯNG LỚN MÀ HƯ” THÀNH “SƯNG LỚN MÀ ĐAU”
Điều văn đã đính chính
Mạch Phu dương Khẩn mà Phù.
Phù là khí; Khẩn là hàn.
Phù là bụng đầy; Khẩn là đau quặn.
Phù và Khẩn kết hợp, ruột sôi và chuyển động. Chuyển động tức khí động, khí ở vùng cách liền đi xuống.
Mạch Thiếu âm không hiện, bộ phận sinh dục sưng lớn mà “đau” 〔hư〕.
Lời khảo xét
Chữ “hư” trong câu “bộ phận sinh dục sưng lớn mà hư” nên sửa thành chữ “đau”.
Xem xét kỹ sẽ tự hiểu.
Trường Xuân biên soạn
NHỮNG ĐIỂM CÒN NGHI TRONG THIÊN THÁI DƯƠNG THƯỢNG
太阳上篇存疑
Bệnh ở phần dương, đáng lẽ phải dùng phép phát hãn để giải, nhưng trái lại dùng nước lạnh phun lên người hoặc dội lên người, khiến nhiệt bị ngăn giữ, không thoát đi được, người bệnh càng thêm phiền, trên da nổi hạt như hạt kê.
Có ý muốn uống nước nhưng lại không khát, thì cho uống Văn cáp tán. Nếu không khỏi thì cho dùng Ngũ linh tán.
Thân nóng, da nổi hạt như hạt kê vẫn chưa hết, muốn kéo áo tự đắp. Nếu dùng nước phun hoặc rửa người, càng khiến nhiệt bị ngăn giữ, không thoát ra được. Đáng ra mồ hôi mà không ra thì sinh phiền.
Giả sử đã ra mồ hôi mà đau trong bụng, thì cho dùng Thược dược ba lạng, theo phép đã nói ở trên.
Trường Xuân biên soạn
NHỮNG ĐIỂM CÒN NGHI TRONG THIÊN THÁI DƯƠNG HẠ
太阳下篇存疑
Bệnh Thái dương, đến ngày thứ hai, trái lại táo động. Lại dùng phép chườm nóng lưng, khiến mồ hôi ra nhiều, đại nhiệt vào vị, nước trong vị cạn kiệt, sinh táo phiền, ắt phát nói sảng.
Đến hơn mười ngày, nếu run rẩy, tự hạ lợi, thì bệnh có xu hướng giải.
Vì vậy, từ thắt lưng trở xuống không ra được mồ hôi; muốn tiểu tiện mà không được, trái lại nôn, muốn són tiểu; lòng bàn chân sợ gió, đại tiện [khuyết một chữ]. Tiểu tiện đáng lẽ nhiều lần, nhưng trái lại không nhiều lần mà lượng nhiều.
Sau khi đại tiện, đầu đột nhiên đau rõ rệt; lòng bàn chân người ấy ắt nóng, vì cốc khí đi xuống.
Đoạn “tiểu tiện đáng lẽ nhiều lần” trong bản gửi có chữ bị lỗi; ở đây dịch theo văn cảnh.
────────────────────
Sau khi công hạ, lại phát hãn, ban ngày phiền táo, không ngủ được, ban đêm thì yên tĩnh; không nôn, không khát, không có biểu chứng, mạch Trầm Vi, thân không nóng nhiều, Can khương phụ tử thang chủ trị.
────────────────────
Sau khi phát hãn hoặc công hạ, bệnh vẫn không giải, người bệnh phiền táo, Phục linh tứ nghịch thang chủ trị.
────────────────────
Thương hàn, bụng đầy, nói sảng, mạch thốn khẩu Phù mà Khẩn. Đó là can thừa tỳ, gọi là Túng, châm Kỳ môn.
────────────────────
Thương hàn, phát nhiệt, sợ lạnh từng cơn, rất khát, muốn uống nước; bụng ắt đầy.
Tự ra mồ hôi, tiểu tiện thông lợi, thì bệnh có xu hướng giải.
Đó là can thừa phế, gọi là Hoành, châm Kỳ môn.
Trường Xuân biên soạn
NHỮNG ĐIỂM CÒN NGHI TRONG THIÊN DƯƠNG MINH
阳明篇存疑
Người bệnh không có biểu chứng hay lý chứng, phát nhiệt bảy, tám ngày, tuy mạch Phù Sác vẫn có thể công hạ.
Giả sử đã công hạ mà mạch Sác không hết, kết hợp với nhiệt thì tiêu thức ăn nhanh, mau đói. Đến sáu, bảy ngày không đại tiện, thì có huyết ứ, thích hợp dùng Để đương thang.
Nếu mạch Sác không hết mà hạ lợi không ngừng, thì ắt có nhiệt kèm theo, đại tiện ra mủ máu.
────────────────────
Mạch Phù mà Khâu. Phù thuộc dương, Khâu thuộc âm.
Phù và Khâu kết hợp, vị khí sinh nhiệt, dương khí ấy liền đoạn tuyệt.
────────────────────
Bệnh Dương minh, trái lại không ra mồ hôi mà tiểu tiện thông lợi. Đến hai, ba ngày, nôn mà ho, tay chân quyết lạnh, thì ắt khổ vì đau đầu.
Nếu không ho, không nôn, tay chân không quyết lạnh, thì đầu không đau.
────────────────────
Bệnh Dương minh, chỉ chóng mặt, không sợ lạnh, vì vậy vẫn ăn được mà ho; người ấy ắt đau họng.
Nếu không ho thì họng không đau.
Trường Xuân biên soạn
NHỮNG ĐIỂM CÒN NGHI TRONG THIÊN THIẾU ÂM
少阴篇存疑
Bệnh Thiếu âm, nôn và hạ lợi, tay chân lạnh ngược, phiền táo đến mức muốn chết, Ngô thù du thang chủ trị.
Trường Xuân biên soạn
NHỮNG ĐIỂM CÒN NGHI TRONG THIÊN HOẠI BỆNH
坏病篇存疑
Thương hàn, mạch Phù, tự ra mồ hôi, tiểu tiện nhiều lần, tâm phiền, hơi sợ lạnh, chân co rút căng gấp; lại cho dùng Quế chi thang, muốn công biểu, đó là sai lầm. Uống vào liền sinh quyết lạnh.
Nếu trong họng khô, phiền táo, nôn nghịch, thì sắc Cam thảo can khương thang cho uống để phục hồi dương khí.
Nếu quyết lạnh đã khỏi, bàn chân ấm, thì lại sắc Thược dược cam thảo thang cho uống, chân sẽ duỗi được.
Nếu vị khí không hòa, nói sảng, thì cho dùng một ít Điều vị thừa khí thang.
Nếu lại phát hãn, còn thêm phép thiêu châm, thì Tứ nghịch thang chủ trị.
────────────────────
Hỏi: Chứng trạng giống chứng Dương đán, theo phép chữa mà bệnh lại tăng nặng: quyết nghịch, trong họng khô, hai cẳng chân co kéo căng gấp, nói sảng.
Thầy nói đến nửa đêm tay chân sẽ ấm, hai chân sẽ duỗi được. Sau đó đúng như lời thầy. Vì sao biết được như vậy?
Đáp: Mạch thốn khẩu Phù mà Đại. Phù là phong, Đại là hư. Phong thì sinh hơi nóng; hư thì hai cẳng chân co rút.
Hình trạng bệnh giống chứng Quế chi, nên thêm Phụ tử vào phương, tăng Quế chi để làm ra mồ hôi. Phụ tử ôn kinh, vì có vong dương.
Quyết nghịch, trong họng khô, phiền táo; Dương minh kết ở trong, nói sảng, phiền loạn, thì lại cho uống Cam thảo can khương thang.
Đến nửa đêm, dương khí trở lại, hai bàn chân sẽ nóng. Cẳng chân vẫn còn hơi co kéo căng gấp, thì cho dùng tiếp Thược dược cam thảo thang; khi ấy cẳng chân mới duỗi được.
Dùng Thừa khí thang khiến đại tiện hơi lỏng thì ngừng nói sảng. Vì vậy, biết bệnh có thể khỏi.
────────────────────
Thương hàn sáu, bảy ngày, sau khi công hạ mạnh, mạch ở bộ thốn Trầm mà Trì, tay chân quyết nghịch, mạch ở phần dưới không đến, họng không thông lợi, khạc mủ máu, hạ lợi không ngừng, thì khó chữa. Ma hoàng thăng ma thang chủ trị.
────────────────────
Thương hàn tám, chín ngày, bị công hạ, ngực đầy, phiền, kinh sợ, tiểu tiện không thông, nói sảng, toàn thân nặng nề, không thể trở mình, Sài hồ gia long cốt mẫu lệ thang chủ trị.
────────────────────
Mạch Vi Sác, phải thận trọng, không được cứu.
Nếu dùng lửa khiến hỏa trở thành tà thì sinh phiền nghịch, làm phần hư càng suy, phần thực bị xua động, huyết tán loạn trong mạch.
Hỏa khí tuy nhỏ, nhưng công vào trong có sức mạnh, làm khô cháy xương, tổn thương gân; huyết khó phục hồi.
────────────────────
Mạch Phù, nên dùng phép phát hãn để giải. Nếu dùng lửa cứu, tà không có đường thoát, lại nhân hỏa mà thịnh lên.
Người bệnh từ thắt lưng trở xuống ắt nặng nề, tê bế. Đó gọi là hỏa nghịch.
────────────────────
Thương hàn, mạch Phù, thầy thuốc dùng lửa cưỡng bức cho ra mồ hôi, khiến vong dương; người bệnh ắt kinh sợ, cuồng loạn, đứng dậy hay nằm xuống đều không yên.
Quế chi khứ thược dược gia Thục tất, Long cốt, Mẫu lệ cứu nghịch thang chủ trị.
Trường Xuân biên soạn
NHỮNG ĐIỂM CÒN NGHI TRONG THIÊN BỆNH KÍNH, THẤP VÀ YẾT
痉湿暍病篇存疑
Người mắc bệnh thấp bị công hạ, trên trán ra mồ hôi, hơi suyễn, tiểu tiện thông lợi, thì chết. Nếu hạ lợi không ngừng thì cũng chết.
────────────────────
Thái dương trúng yết, thân nóng, đau nhức, nặng nề, mà mạch Vi Nhược. Đây cũng là do mùa hạ bị nước lạnh làm tổn thương, nước lưu hành trong da mà gây nên.
Trường Xuân biên soạn
NHỮNG ĐIỂM CÒN NGHI TRONG THIÊN BIỆN BỆNH KHÔNG ĐƯỢC PHÁT HÃN
辨不可汗病篇存疑
Mạch Nhu mà Nhược; Nhược lại ở bộ quan, Nhu lại ở tầng trên, Vi lại ở bộ thốn, Sáp lại ở bộ xích.
Vi là dương khí không đủ; Sáp là huyết thiếu.
Dương khí lại suy Vi, trúng phong, ra mồ hôi mà trái lại táo phiền. Sáp là huyết thiếu, nên quyết lạnh và sợ lạnh.
Dương đã suy Vi mà còn phát hãn thì táo động, không ngủ được.
────────────────────
Mạch Nhu mà Nhược; Nhược lại ở bộ quan, Nhu lại ở tầng trên, Huyền lại ở bộ thốn, Vi lại ở bộ xích.
Huyền là dương vận động; Vi là âm hàn.
Trên thực, dưới hư, người bệnh muốn được ấm. Mạch Vi Huyền thuộc hư, không được phát hãn.
Nếu phát hãn thì sợ lạnh, run rẩy, không thể tự hồi phục.
────────────────────
Quyết lạnh, mạch Khẩn, không được phát hãn.
Nếu phát hãn thì tiếng nói rối loạn, giọng khàn, lưỡi mềm yếu, tiếng không phát ra được.
────────────────────
Nếu có ho thì bệnh càng nặng, thường nôn ra nước dãi và bọt, trong họng ắt khô, tiểu tiện không thông, trong lòng đói và phiền.
Cứ đủ một ngày đêm thì phát một lần, hình trạng giống sốt rét, có hàn mà không có nhiệt; người hư, sợ lạnh, run rẩy.
Đang ho mà còn phát hãn thì người bệnh nằm co, khổ vì đầy, trong bụng lại cứng.
Trường Xuân biên soạn
NHỮNG ĐIỂM CÒN NGHI TRONG THIÊN BIỆN BỆNH KHÔNG ĐƯỢC CÔNG HẠ
辨不可下病篇存疑
Mạch Nhu mà Nhược; Nhược lại ở bộ quan, Nhu lại ở tầng trên, Vi lại ở bộ thốn, Sáp lại ở bộ xích.
Vi là dương khí không đủ; Sáp là huyết thiếu. Dương khí lại suy Vi, trúng phong, ra mồ hôi mà trái lại táo phiền. Sáp là huyết thiếu, nên quyết lạnh và sợ lạnh.
Dương suy Vi thì không được công hạ. Công hạ sẽ khiến dưới tâm bĩ [khuyết một chữ].
────────────────────
Mạch Nhu mà Nhược; Nhược lại ở bộ quan, Nhu lại ở tầng trên, Huyền lại ở bộ thốn, Vi lại ở bộ xích.
Huyền là dương vận động; Vi là âm hàn. Trên thực, dưới hư, người bệnh muốn được ấm.
Mạch Vi Huyền thuộc hư. Hư thì không được công hạ.
────────────────────
Mạch Nhu mà Nhược; Nhược lại ở bộ quan, Nhu lại ở tầng trên, Phù lại ở bộ thốn, Sác lại ở bộ xích.
Phù là dương hư; Sác là huyết thiếu. Phù thuộc hư; Sác sinh nhiệt.
Phù thuộc hư nên tự ra mồ hôi mà sợ lạnh. Sác chủ đau, người bệnh run rẩy, sợ lạnh.
Mạch Vi Nhược ở bộ quan thì dưới ngực căng gấp, suyễn, ra mồ hôi, không thể hô hấp thuận lợi; khi hít thở, đau ở [khuyết một chữ].
Run rẩy và hàn kết hợp, hình trạng giống sốt rét. Thầy thuốc lại công hạ, khiến mạch Sác, phát nhiệt, chạy cuồng, thấy ma quỷ, dưới tâm thành bĩ, tiểu tiện nhỏ giọt, bụng dưới rất [khuyết một chữ], khi tiểu tiện thì ra máu.
────────────────────
Mạch Nhu mà Khẩn. Nhu là vệ khí suy Vi; Khẩn là trong vinh có hàn.
Dương suy Vi, phần vệ trúng phong, thì phát nhiệt mà sợ lạnh. Vinh Khẩn, vị khí lạnh, thì hơi nôn, trong lòng phiền.
Thầy thuốc cho là có đại nhiệt, dùng phép giải cơ và phát hãn, khiến vong dương, hư phiền, táo động, dưới tâm bĩ cứng, khó chịu; biểu lý đều hư kiệt, đột ngột đứng dậy thì chóng mặt.
Khách nhiệt ở da, người bệnh buồn bực, không ngủ được. Thầy thuốc không biết vị khí lạnh, hàn bó chặt ở Quan nguyên, không còn biết dùng phép gì, bèn múc nước dội lên người.
Khách nhiệt tạm thời lui, nhưng người bệnh run rẩy, sợ lạnh. Đắp nhiều lớp chăn thì ra mồ hôi, choáng váng ở đầu, thân thể giật mình, lại run.
Tiểu tiện hơi khó. Hàn khí nhân nước mà phát, hạ lợi ra thức ăn chưa tiêu liên tiếp, không có khoảng ngừng. Nôn biến thành thức ăn trào ngược ra, người bệnh trở qua trở lại không yên.
Tay chân hơi lạnh ngược, thân lạnh mà bên trong phiền. Đến lúc muộn mới muốn cứu chữa, làm sao còn có thể vãn hồi?
────────────────────
Mạch Phù mà Đại. Phù là khí thực; Đại là huyết hư.
Huyết hư là không có âm. Cô dương đơn độc đi xuống phần âm, thì tiểu tiện đáng lẽ đỏ và khó, trong bàng quang đáng lẽ hư.
Nay trái lại tiểu tiện thông lợi mà ra nhiều mồ hôi. Theo lẽ, vệ khí đáng lẽ phải suy Vi, nhưng nay trái lại càng thực.
Tân dịch tản ra bốn phía, vinh kiệt, huyết hết, khô khát, phiền, không ngủ được; huyết ít, thịt tiêu, thành chứng dịch thoát ra đột ngột.
Thầy thuốc lại dùng thuốc công phạt mạnh để công vị, khiến hư càng thêm hư. Khách dương rồi sẽ rời đi; người bệnh ắt đi ngoài như bùn nhơ mà chết.
────────────────────
Thương hàn, mạch âm dương đều Khẩn, sợ lạnh, phát nhiệt, thì mạch có xu hướng quyết.
Mạch quyết có biểu hiện: lúc đầu đến lớn, dần dần nhỏ, rồi lại dần dần lớn. Đó là dấu hiệu của nó.
Người có mạch như vậy thì sợ lạnh. Trường hợp nặng, mồ hôi ra hâm hấp, trong họng đau đớn. Nếu nhiệt nhiều thì mắt đỏ, nhiều mạch máu nổi, mắt nhìn không rõ.
Thầy thuốc lại phát hãn thì trong họng bị tổn thương.
Nếu lại công hạ thì hai mắt nhắm lại; hàn nhiều thì đại tiện ra thức ăn chưa tiêu, nhiệt nhiều thì đại tiện ra mủ máu.
Nếu dùng phép xông thì thân phát vàng. Nếu chườm nóng thì họng khô.
Nếu tiểu tiện thông lợi thì có thể cứu; nếu tiểu tiện khó thì nguy hiểm.
────────────────────
Thương hàn, phát nhiệt, khí từ miệng thoát ra từng đợt mạnh, đau đầu, mắt vàng, chảy máu mũi không cầm được.
Người ham uống nước thì ắt nôn; người sợ nước thì quyết lạnh.
Nếu công hạ thì trong họng sinh lở. Giả sử tay chân ấm thì ắt có cảm giác nặng tức khi đi ngoài, đại tiện ra mủ máu.
Đau đầu, mắt vàng, nếu công hạ thì mắt nhắm lại.
Người ham uống nước, nếu công hạ thì mạch ắt quyết, tiếng nói nhỏ yếu, họng bế tắc. Nếu phát hãn thì run rẩy, âm dương đều hư.
Người sợ nước, nếu công hạ thì trong lý lạnh, không thích ăn, đại tiện ra thức ăn còn nguyên, chưa tiêu. Nếu phát hãn thì trong miệng bị tổn thương, trên lưỡi có rêu trắng, phiền táo.
Mạch Sác Thực, không đại tiện sáu, bảy ngày, về sau ắt đại tiện ra máu. Nếu phát hãn thì tiểu tiện tự thông lợi.
────────────────────
Vi thì sinh ho; ho thì nôn ra nước dãi.
Công hạ thì ho ngừng, nhưng hạ lợi lại không dứt. Hạ lợi không dứt thì trong ngực như có sâu cắn, cháo vào liền ra, tiểu tiện không thông, hai bên [khuyết một chữ] co kéo căng gấp, thở khó, cổ và lưng kéo căng nhau, cánh tay mất cảm giác.
Hàn đến cực độ mà trái lại ra mồ hôi, thân lạnh như băng, mắt nhìn không rõ, nói không ngừng, lại ăn được nhiều. Đó là trừ trung.
Miệng tuy muốn nói, nhưng lưỡi không vận động để phát lời được.
────────────────────
Mạch Sác kéo dài, không ngừng. Khi ngừng thì tà kết, chính khí không thể phục hồi.
Chính khí lui vào, kết ở tạng, nên tà khí nổi ra ngoài, cùng da lông tương hợp.
Mạch Sác thì không được công hạ. Công hạ ắt sinh phiền, hạ lợi không ngừng.
────────────────────
Thương hàn, phát nhiệt, đau đầu, hơi ra mồ hôi; nếu phát hãn thì không nhận biết người.
Dùng phép xông thì suyễn, không tiểu tiện được, vùng tâm và bụng đầy.
Công hạ thì đoản khí, tiểu tiện khó, đau đầu, lưng cứng.
Dùng thêm ôn châm thì chảy máu mũi.
────────────────────
Hạ lợi mà mạch Đại là hư, do cưỡng ép công hạ mà thành.
Nếu mạch Phù Cách, theo đó có ruột sôi, thì thuộc chứng Đương quy tứ nghịch thang.
Trường Xuân biên soạn
PHÉP PHỐI HỢP THUỐC VÀ PHÂN ĐỊNH LIỀU LƯỢNG TRONG DANH Y BIỆT LỤC CỦA ĐÀO ẨN CƯ
陶隐居『名医别录』合药分剂法则
Các đơn vị đo lường dưới đây được giữ theo bản nguồn. Những lời quy đổi có chữ “nay” là nói về thời của người chú giải, không phải đơn vị hiện dùng. Chỗ khuyết chữ được ghi rõ.
────────────────────
Phàm nói thái thuốc lớn bằng hạt mè hoặc hạt đậu, thì cùng ý với phép [khuyết chữ] chủ.
Phép [khuyết chữ] chủ là cách chế thuốc thời cổ. Người xưa không có dao sắt, dùng miệng cắn nhỏ thuốc, khiến lớn bằng hạt mè hoặc hạt đậu, làm thành thuốc thô để sắc. Như vậy, nước thuốc trong, uống vào ruột thì dễ thăng, dễ tán.
Người nay dùng dao thái thuốc lớn bằng hạt mè hoặc hạt đậu, đó là cách làm cho phép [khuyết chữ] chủ dễ thực hiện.
────────────────────
Cân thời cổ chỉ có đơn vị thù và lạng, chưa có tên gọi phân.
Nay lấy mười hạt thử làm một thù. Mỗi thù bằng bốn phân, một ly, bảy hào theo đơn vị đương thời. Sáu thù làm một phân — chữ “phân” này đọc theo thanh khứ; bốn phân thành một lạng; mười sáu lạng thành một cân.
Lý Cảo nói: Sáu thù làm một phân, tức hai tiền rưỡi theo đơn vị đương thời. Hai mươi bốn thù làm một lạng. Thời cổ nói ba lạng thì bằng một lạng đương thời; nói hai lạng thì bằng sáu tiền rưỡi đương thời.
────────────────────
Các nhà lập phương nay nói “đẳng phân” không phải là chữ “phân” trong đơn vị phân, lạng, mà nghĩa là số cân, lạng của các vị thuốc đều bằng nhau.
Cách này phần nhiều dùng trong thuốc hoàn và thuốc tán.
────────────────────
Thuốc hoàn, thuốc tán nói một đao khuê thì bằng một phần mười của một phương thốn chủy, lượng tương đương một hạt ngô đồng.
Phương thốn chủy là làm một chiếc thìa có mặt vuông, mỗi cạnh một thốn, xúc bột thuốc, lấy lượng giữ trên thìa không rơi xuống làm mức.
“Ngũ chủy” lấy mép đồng tiền ngũ thù làm chuẩn. “Ngũ tự” lấy phần có chữ “ngũ” trên đồng tiền để xúc thuốc, lượng không rơi xuống làm mức.
Một dúm bằng bốn đao khuê.
Chủy tức là thìa.
────────────────────
Thuốc được chia lượng bằng thăng, hợp là vì thuốc có độ đặc rỗng, nặng nhẹ khác nhau, không thể dùng cân, lạng để định lượng, nên dùng thăng đong ngang mặt.
Mười dúm làm một thược; mười thược làm một hợp; mười hợp làm một thăng.
Dụng cụ đong thăng được làm với đường kính miệng trên một thốn, đường kính đáy sáu phân, sâu tám phân. Cho thuốc tán vào trong, ấn cho ngay ngắn, lay nhẹ cho mặt thuốc bằng.
Lý Thời Trân nói: Một thăng thời cổ bằng hai hợp rưỡi theo đơn vị đương thời.
────────────────────
Phàm trong phương nói dùng Ba đậu bao nhiêu hạt, vì hạt có lớn nhỏ, nên phải bỏ tâm và vỏ, giã rồi lấy một phân làm chuẩn cho mười sáu hạt.
Phụ tử, Ô đầu bao nhiêu củ, sau khi bỏ vỏ, lấy nửa lạng làm chuẩn cho một củ.
Chỉ thực bao nhiêu quả, sau khi bỏ ruột, lấy một phân làm chuẩn cho hai quả.
Quất bì một phân tương đương vỏ của ba quả.
Đại táo, tính cả quả lớn và nhỏ, lấy ba quả làm chuẩn cho một lạng.
Can khương một khối thì lấy một lạng làm chuẩn.
────────────────────
Phàm trong phương nói Bán hạ một thăng, sau khi rửa xong, cân năm lạng làm chuẩn.
Thục tiêu một thăng lấy ba lạng làm chuẩn.
Ngô thù du một thăng lấy năm lạng làm chuẩn.
Thỏ ty tử một thăng lấy chín lạng làm chuẩn.
Am [khuyết một chữ] tử một thăng lấy bốn lạng làm chuẩn.
Xà sàng tử một thăng lấy ba lạng rưỡi làm chuẩn.
Địa phu tử một thăng lấy bốn lạng làm chuẩn.
Các loại hạt có độ đặc rỗng, nặng nhẹ khác nhau. Nếu không thể dùng cân để định chuẩn, thì lấy một thăng đong ngang mặt làm chuẩn.
────────────────────
Phàm trong phương nói dùng Quế dài một thước, sau khi gọt bỏ vỏ, lấy trọng lượng nửa lạng làm chuẩn.
Cam thảo dài một thước lấy hai lạng làm chuẩn.
Nói một bó loại cỏ nào đó thì lấy ba lạng làm chuẩn.
Nói một nắm thì lấy hai lạng làm chuẩn.
────────────────────
Phàm sắc thuốc thang, lúc đầu nên dùng lửa nhỏ, khiến nước sôi nhẹ. Lượng nước tùy theo nhiều ít được ghi trong phương.
Đại lược, hai mươi lạng thuốc dùng một đấu nước, sắc còn bốn thăng, lấy đó làm chuẩn.
Tuy nhiên, thang thuốc công lợi cần sắc chưa quá kỹ, dùng ít nước mà lấy nhiều nước thuốc. Thang thuốc bổ cần sắc kỹ, dùng nhiều nước mà lấy ít nước thuốc.
Khi uống, nước thuốc nên vừa sôi nhẹ; nóng thì dễ xuống, lạnh thì dễ gây nôn trào.
────────────────────
Phàm nói chia uống hai lần hoặc ba lần, phải khiến tác dụng của lần uống trước và lần uống sau nối tiếp nhau.
Đồng thời, phải xét người khỏe hay yếu, suy nhược hay gầy, bệnh nhẹ hay nặng, để điều chỉnh cách dùng và tăng giảm liều lượng.
Không nhất thiết câu nệ lời ghi trong phương, như vậy mới có thể vận dụng linh hoạt.
────────────────────
Phàm thuốc hoàn nói viên lớn bằng hạt mè nhỏ, thì đó là hạt hồ ma. Không nhất thiết phải làm viên dẹt giống hạt, chỉ cần kích thước tương xứng. Nói lớn bằng hạt thử hoặc hạt kê cũng theo ý ấy.
Nói viên lớn bằng hạt đại ma thì lấy ba hạt mè nhỏ làm chuẩn.
Nói lớn bằng hạt hồ đậu thì đó là loại đậu xanh có đốm đương thời, lấy hai hạt đại ma làm chuẩn.
Nói lớn bằng hạt tiểu đậu thì đó là hạt Xích tiểu đậu đương thời, lấy ba hạt đại ma làm chuẩn.
Nói lớn bằng hạt đại đậu thì lấy hai hạt tiểu đậu làm chuẩn.
Nói lớn bằng hạt ngô đồng thì lấy hai hạt đại đậu làm chuẩn.
Nói lớn bằng viên đạn hoặc lòng đỏ trứng gà thì lấy bốn mươi viên lớn bằng hạt ngô đồng làm chuẩn.
────────────────────
Phàm trong phương nói mật ong một cân thì tương đương bảy hợp.
Mỡ lợn một cân thì tương đương một thăng hai hợp.
Trường Xuân biên soạn
PHỤ LỤC CÁC HÌNH KINH TAM DƯƠNG, TAM ÂM
附三阳三阴经各图
KINH TÚC THÁI DƯƠNG BÀNG QUANG
Mạch của kinh Túc Thái dương Bàng quang khởi từ khóe mắt trong, đi lên trán, giao nhau ở đỉnh đầu.
Nhánh đi thẳng từ đỉnh đầu vào liên lạc với não, trở ra, tách xuống gáy, men theo phía trong vai, đi hai bên cột sống đến vùng thắt lưng; vào sâu theo khối cơ cạnh sống, liên lạc với thận, thuộc về bàng quang.
Nhánh đi thẳng từ thắt lưng xuống hai bên cột sống, xuyên qua mông, vào giữa khoeo chân.
Nhánh khác từ phía trong vai tách ra ở hai bên, đi xuống qua vùng xương bả vai, men hai bên cột sống, qua khớp háng, theo phía ngoài đùi và bờ sau đùi, xuống hợp ở giữa khoeo chân. Từ đó đi xuống xuyên qua mặt trong [khuyết một chữ], ra phía sau mắt cá ngoài, theo vùng Kinh cốt, đến phía ngoài ngón chân út.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
KINH TÚC DƯƠNG MINH VỊ
Mạch của kinh Túc Dương minh Vị khởi ở mũi, tại vùng giao nhau giữa hai bên sống mũi, bên cạnh liên kết với mạch Thái dương.
Mạch đi xuống theo phía ngoài mũi, vào hàm răng trên, trở ra đi hai bên miệng, vòng quanh môi, xuống giao nhau ở Thừa tương; rồi men theo bờ dưới phía sau hàm, ra Đại nghinh, theo Giáp xa, lên trước tai, qua Khách chủ nhân, theo chân tóc đến vùng trán.
Một nhánh từ phía trước Đại nghinh đi xuống Nhân nghinh, theo họng, vào Khuyết bồn, xuống qua cơ hoành, thuộc về vị, liên lạc với tỳ.
Nhánh đi thẳng từ Khuyết bồn xuống theo bờ trong vú, xuống hai bên rốn, vào vùng Khí nhai.
Một nhánh khởi từ cửa dưới của vị, theo bên trong bụng, xuống vùng Khí nhai, hợp với nhánh trên rồi đi xuống Bễ quan, đến Phục thỏ, xuống giữa vùng xương bánh chè; tiếp tục theo bờ ngoài cẳng chân, xuống mu bàn chân, vào phía ngoài ngón chân giữa.
Một nhánh tách ra ở chỗ dưới huyệt Hạ liêm ba thốn, đi xuống vào phía ngoài ngón chân giữa.
Một nhánh tách ra ở mu bàn chân, vào ngón chân cái, đến đầu ngón.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
KINH TÚC THIẾU DƯƠNG ĐỞM
Mạch của kinh Túc Thiếu dương Đởm khởi từ khóe mắt ngoài, đi lên góc đầu, xuống sau tai, theo cổ, đi phía trước kinh Thủ Thiếu dương đến trên vai; rồi giao chéo, đi ra phía sau kinh Thủ Thiếu dương, vào Khuyết bồn.
Một nhánh từ sau tai vào trong tai, trở ra phía trước tai, đến phía sau khóe mắt ngoài.
Một nhánh tách từ khóe mắt ngoài, xuống Đại nghinh, hợp với kinh Thủ Thiếu dương, đến [khuyết một chữ], xuống vùng Giáp xa, xuống cổ, hợp ở Khuyết bồn. Từ đó xuống trong ngực, xuyên qua cơ hoành, liên lạc với can, thuộc về đởm; theo phía trong [khuyết một chữ], ra Khí nhai, vòng quanh bờ lông mu, đi ngang vào vùng Bễ yếm.
Nhánh đi thẳng từ Khuyết bồn xuống nách, theo ngực, qua vùng sườn cụt [bản nguồn khuyết một chữ], xuống hợp ở Bễ yếm. Từ đó theo phía ngoài đùi, ra bờ ngoài gối, xuống phía trước xương phụ ngoài, đi thẳng đến đầu dưới xương mác; tiếp tục xuống phía trước mắt cá ngoài, theo mu bàn chân, vào khoảng giữa ngón chân út và ngón chân áp út.
Một nhánh tách ở mu bàn chân, vào ngón chân cái, theo phía trong chỗ xương phân nhánh của ngón cái đến đầu ngón, rồi xuyên qua móng, ra vùng Tam mao.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
KINH TÚC THÁI ÂM TỲ
Mạch của kinh Túc Thái âm Tỳ khởi từ đầu ngón chân cái, theo phía trong ngón, dọc ranh giới da trắng, qua phía sau chỗ xương lồi ở gốc ngón cái.
Mạch đi lên bờ trước mắt cá trong, lên mặt trong [khuyết một chữ], theo phía sau xương chày, giao chéo ra phía trước kinh Quyết âm; lên bờ trước phía trong gối và đùi, vào bụng, thuộc về tỳ, liên lạc với vị.
Mạch đi lên qua cơ hoành, men hai bên họng, nối với gốc lưỡi, phân tán dưới lưỡi.
Một nhánh lại từ vị tách ra, đi lên qua cơ hoành, đổ vào trong tâm.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
KINH TÚC THIẾU ÂM THẬN
Mạch của kinh Túc Thiếu âm Thận khởi từ phía dưới ngón chân út, đi chéo vào huyệt Dũng tuyền ở lòng bàn chân, ra phía dưới Nhiên cốc, theo phía sau mắt cá trong, tách vào gót chân.
Từ đó đi lên mặt trong [khuyết một chữ], ra bờ trong khoeo chân, lên bờ sau phía trong đùi, xuyên qua cột sống, thuộc về thận, liên lạc với bàng quang.
Nhánh đi thẳng từ thận đi lên, xuyên qua can và cơ hoành, vào trong phế, theo họng, men hai bên gốc lưỡi.
Một nhánh từ phế đi ra, liên lạc với tâm, đổ vào trong ngực.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
KINH TÚC QUYẾT ÂM CAN
Mạch của kinh Túc Quyết âm Can khởi từ phía trên chòm lông ở ngón chân cái, đi lên theo bờ trên mu bàn chân, đến chỗ cách mắt cá trong một thốn.
Mạch đi lên tám thốn phía trên mắt cá, giao chéo ra phía sau kinh Thái âm; lên bờ trong khoeo chân, theo mặt trong đùi, vào vùng lông mu, qua bộ phận sinh dục, đến bụng dưới.
Mạch đi hai bên vị, thuộc về can, liên lạc với đởm; đi lên xuyên qua cơ hoành, phân bố ở [khuyết một chữ], theo phía sau họng, lên vùng nối giữa họng và hốc mũi, liên kết với hệ liên lạc của mắt; tiếp tục lên trán, hội với Đốc mạch ở đỉnh đầu.
Một nhánh từ hệ liên lạc của mắt đi xuống trong má, vòng quanh phía trong môi.
Một nhánh khác lại từ can tách ra, xuyên qua cơ hoành, đi lên đổ vào phế.
Trường Xuân biên soạn
PHỤ LỤC HÌNH CÁC HUYỆT CHÂM CỨU TRONG THƯƠNG HÀN
附伤寒刺灸等穴图
Các vị trí huyệt, độ sâu châm, thời gian lưu kim và số tráng cứu dưới đây được dịch theo nguyên văn cổ thư. Đây là tư liệu lịch sử, không phải hướng dẫn tự thực hành châm cứu. Những chỗ khuyết chữ được ghi rõ; bản gửi chỉ có chữ “hình”, không kèm hình minh họa.
────────────────────
PHONG TRÌ VÀ PHONG PHỦ
Điều văn
Bệnh Thái dương, mới uống Quế chi thang mà trái lại phiền, bệnh không giải, thì trước tiên châm Phong trì, Phong phủ, rồi cho dùng Quế chi thang, bệnh sẽ khỏi.
Lời khảo xét
Huyệt Phong trì ở phía sau Nhiếp [khuyết một chữ]. Nhiếp [khuyết một chữ] là huyệt Não không.
“Phía sau” là nói ở hai bên Ngọc chẩm, dưới xương, trong chân tóc, tại chỗ lõm phía ngoài gân lớn; ấn vào có cảm giác dẫn vào trong tai, đó là vị trí huyệt.
Đây là huyệt hội của kinh Túc Thiếu dương và mạch Dương duy. Nên châm sâu ba phân; người có cơ thịt dày có thể châm năm phân; lưu kim bảy lần thở ra. Cấm cứu.
Phong phủ có một huyệt, ở trên chân tóc gáy một thốn, tại chỗ lõm giữa các gân lớn. Khi nói nhanh, phần thịt ở đó nổi lên; ngừng nói thì liền hạ xuống, đó là vị trí huyệt.
Đây là huyệt hội của Đốc mạch và mạch Dương duy. Nên châm sâu ba phân; người có cơ thịt mỏng chỉ châm hai phân. Chờ người bệnh thở ra thì rút kim. Cấm cứu.
Tà ở Thái dương, vì sao lại châm kinh Túc Thiếu dương và Đốc mạch?
Bởi Phong phủ ở đường giữa đầu, Phong trì ở đường thứ ba, còn kinh Thái dương ở đường thứ hai. Như vậy, Phong trì và Phong phủ thực sự nằm hai bên đường đi của kinh Thái dương.
Hơn nữa, cả hai huyệt đều là nơi hội của mạch Dương duy. Dương duy là mạch liên hệ chung các kinh dương.
Châm hai huyệt ấy, khí của các kinh dương được tiết ra, còn lo gì tà Thái dương không lui?
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
CHÂM KINH TÚC DƯƠNG MINH
Điều văn
Bệnh Thái dương, đau đầu, đến ngày thứ bảy trở đi tự khỏi, là vì tà đã đi hết kinh ấy.
Nếu có xu hướng bắt đầu một vòng truyền kinh nữa, thì châm kinh Túc Dương minh, khiến bệnh không truyền kinh, sẽ khỏi.
Lời khảo xét
Trọng Cảnh nói “châm kinh Túc Dương minh”, nhưng lời chú của Thành Vô Kỷ không chỉ rõ huyệt nào.
Tra Tổng bệnh luận của họ Bàng, có nói: Châm bổ huyệt Thượng tam lý của kinh Túc Dương minh.
Suy ý của ông, được bổ thì kinh khí sung thực, bệnh không truyền. Nhưng ông không biết ý Trọng Cảnh là châm Túc Dương minh theo phép đón mà đoạt, để tiết nhiệt của kinh ấy. Nhiệt tà được tiết ra thì không truyền tiếp sang kinh khác, nên nói sẽ khỏi.
Họ Bàng không hiểu phép dùng kim, lấy tả làm bổ, e là nhầm.
Lại tra Toản luận của họ Trương, có nói châm huyệt Xung dương của kinh Túc Dương minh.
Xung dương chính là nơi bắt mạch Phu dương mà Trọng Cảnh nói đến. Có phép chẩn mạch ở đây, nhưng không nói châm. Lời của họ Trương thực ra dựa vào Chú Thương Hàn Luận của họ Sử, không đủ để lấy làm phép.
Tam lý có hai huyệt, ở dưới mắt gối ba thốn, tại chỗ lõm giữa hai gân, phía bờ ngoài xương cẳng chân.
Cho người bệnh ngồi, dựng gối, hạ mu bàn chân để lấy huyệt. Ấn thật mạnh thì động mạch trên mu bàn chân ngừng đập, đó là vị trí huyệt.
Có thể châm sâu năm phân, lưu kim bảy lần thở ra.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
KỲ MÔN
Điều văn
Thương hàn, bụng đầy, [khuyết một chữ] ngữ, mạch thốn khẩu Phù mà Khẩn, là can thừa tỳ, gọi là Túng, châm Kỳ môn.
Thương hàn, phát nhiệt, sợ lạnh từng cơn, rất khát, muốn uống nước, bụng ắt đầy; tự ra mồ hôi, tiểu tiện thông lợi, bệnh có xu hướng giải. Đó là can thừa phế, gọi là Hoành, châm Kỳ môn.
Phụ nữ trúng phong, phát nhiệt, sợ lạnh, đúng lúc kinh nguyệt đến. Mắc bệnh bảy, tám ngày, nhiệt lui, mạch Trì, thân mát, ngực và dưới [khuyết một chữ] đầy, giống hình trạng kết hung, [khuyết một chữ] ngữ.
Đó là nhiệt nhập huyết thất. Nên châm Kỳ môn, tùy mức thực mà tả.
Bệnh Dương minh, ra huyết, [khuyết một chữ] ngữ, là nhiệt nhập huyết thất. Nếu chỉ đầu ra mồ hôi thì châm Kỳ môn, tùy mức thực mà tả. Mồ hôi ra dấp dính thì khỏi.
Thái dương và Thiếu dương tịnh bệnh, đầu gáy cứng đau hoặc chóng mặt, choáng váng, có lúc giống kết hung, dưới tâm bĩ [khuyết một chữ], thì nên châm Đại chùy, tại khoảng đốt sống thứ nhất, cùng Phế du, Can du.
Phải thận trọng, không được phát hãn. Phát hãn thì [khuyết một chữ] ngữ, mạch Huyền. Đến năm, sáu ngày, [khuyết một chữ] ngữ không ngừng, nên châm Kỳ môn.
Lời khảo xét
Đồ Kinh nói: Kỳ môn có hai huyệt, ở bên cạnh Bất dung một thốn năm phân, thẳng dưới vú, tại đầu xương sườn thứ hai, gần bụng, đó là vị trí huyệt.
“Xương sườn thứ hai” là đếm từ dưới lên đến xương sườn thứ hai.
“Đầu xương sườn” là đầu cuối của phần sụn sườn.
Châm sâu bốn phân; người béo thì tùy tình trạng mà định độ sâu.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
ĐẠI CHÙY, PHẾ DU VÀ CAN DU
Điều văn
Thái dương và Thiếu dương tịnh bệnh, đầu gáy cứng đau hoặc chóng mặt, choáng váng, có lúc giống kết hung, dưới tâm bĩ [khuyết một chữ], thì nên châm Đại chùy, tại khoảng đốt sống thứ nhất, cùng Phế du, Can du.
Phải thận trọng, không được phát hãn. Phát hãn thì [khuyết một chữ] ngữ, mạch Huyền. Đến năm, sáu ngày, [khuyết một chữ] ngữ không ngừng, nên châm Kỳ môn.
Thái dương và Thiếu dương tịnh bệnh, dưới tâm [khuyết một chữ], cổ gáy cứng mà chóng mặt, thì nên châm Đại chùy, Phế du, Can du. Phải thận trọng, không được công hạ.
Lời khảo xét
Đồ Kinh nói: Huyệt Đại chùy của Đốc mạch ở chỗ lõm phía trên đốt sống thứ nhất. Có thể châm sâu năm phân, lưu kim ba lần thở ra, thực hiện phép tả trong năm lần hít vào.
Phế du có hai huyệt, ở dưới đốt sống thứ ba, mỗi bên cách đường giữa một thốn năm phân. Có thể châm sâu ba phân, lưu kim bảy lần thở ra; đắc khí thì tả ngay. Người béo có thể châm năm phân.
Can du có hai huyệt, ở dưới đốt sống thứ chín, mỗi bên cách đường giữa một thốn năm phân. Có thể châm sâu ba phân, lưu kim sáu lần thở ra.
Thái dương và Thiếu dương tịnh bệnh mà Trọng Cảnh nói là tà của hai kinh cùng kết hợp. Vì vậy, châm Đại chùy, Phế du, Can du cũng là phép phối hợp để tiết tà.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
CÁCH QUAN
Điều văn
Bệnh Thiếu âm, mắc được hai, ba ngày, trong miệng bình hòa, lưng sợ lạnh, thì nên cứu. Phụ tử thang chủ trị.
Lời khảo xét
“Nên cứu”, nhưng Trọng Cảnh không nói cứu huyệt nào.
Thường Khí Chi nói: Có lẽ là hai huyệt Cách quan của kinh Túc Thái dương, chuyên dùng phép cứu để chữa lưng sợ lạnh.
Huyệt ở dưới đốt sống thứ bảy, mỗi bên cách đường giữa ba thốn, tại chỗ lõm. Cho người bệnh ngồi ngay để lấy huyệt. Có thể cứu năm tráng.
Bởi Thái dương là biểu của Thiếu âm, nên bên ngoài cứu Cách quan để ôn biểu, bên trong dùng Phụ tử để ôn lý.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
THÁI KHÊ
Điều văn
Bệnh Thiếu âm, nôn và hạ lợi, tay chân không quyết lạnh mà trái lại phát nhiệt, thì không chết.
Nếu mạch không đến, cứu kinh Thiếu âm bảy tráng.
Lời khảo xét
“Cứu Thiếu âm bảy tráng”, nhưng Trọng Cảnh không nói cứu huyệt nào.
Thường Khí Chi nói: Nên cứu hai huyệt Thái khê của kinh Thiếu âm.
Kinh nói: Nguyên khí của thận xuất ra ở Thái khê.
Huyệt ở phía sau mắt cá trong, vùng xương gót, tại chỗ lõm có động mạch.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
U MÔN VÀ GIAO TÍN
Điều văn
Bệnh Thiếu âm, hạ lợi, đại tiện ra mủ máu, có thể châm.
Lời khảo xét
“Có thể châm”, nhưng Trọng Cảnh không nói châm huyệt nào.
Thường Khí Chi nói: Có thể châm U môn, Giao tín của kinh Túc Thiếu âm.
Quách Ung nói: Có thể cứu.
Tra huyệt U môn, có hai huyệt, ở dưới Cưu vĩ một thốn, tại chỗ lõm hai bên Cự khuyết, mỗi bên cách năm phân. Huyệt chữa hạ lợi ra mủ máu; châm sâu năm phân, cứu năm tráng.
Giao tín có hai huyệt, ở trên mắt cá trong hai thốn, phía trước kinh Thiếu âm, phía sau kinh Thái âm, tại khoảng giữa gân và xương. Huyệt chữa hạ lợi ra chất đỏ trắng; châm sâu bốn phân, lưu kim năm lần thở ra, cứu ba tráng.
Cả hai ý kiến đều đúng.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
CỨU ĐỂ ÔN PHẦN TRÊN
Điều văn
Bệnh Thiếu âm, hạ lợi, mạch Vi Sáp, nôn mà ra mồ hôi, đáng lẽ phải đại tiện nhiều lần, nhưng trái lại ít, thì nên ôn phần trên, dùng phép cứu.
Lời khảo xét
“Dùng phép cứu”, nhưng Trọng Cảnh không nói nên cứu huyệt nào.
Thường Khí Chi nói: Cứu Thái xung.
Quách Ung nói: Cứu Thái khê.
Những huyệt này đều không chủ trị nôn mà ra mồ hôi, lý cấp, hạ lợi. Chỉ U môn chủ trị nấc khan, nôn mửa, lý cấp, hạ lợi.
Vì vậy, ở đây cũng nên cứu U môn mới đúng.
────────────────────
CỨU KINH QUYẾT ÂM
Điều văn
Thương hàn sáu, bảy ngày, mạch Vi, tay chân quyết lạnh, phiền táo, thì cứu kinh Quyết âm.
Nếu quyết lạnh không hồi phục thì chết.
Lời khảo xét
“Cứu Quyết âm”, nhưng Trọng Cảnh không nói nên cứu huyệt nào.
Thường Khí Chi nói: Có thể cứu Thái xung.
Hai huyệt Thái xung là nơi khí của kinh Túc Quyết âm đổ vào. Phàm có bệnh, chẩn mạch Thái xung có thể quyết đoán sống chết.
Huyệt ở sau khớp gốc ngón chân cái hai thốn, tại chỗ lõm trên mu bàn chân; động mạch đập ứng dưới tay, đó là vị trí huyệt.
Cứu ba tráng.
Bản nguồn ghi có hình minh họa.
────────────────────
MẠCH XÚC, TAY CHÂN QUYẾT LẠNH
Điều văn
Thương hàn, mạch Xúc, tay chân quyết lạnh, có thể dùng phép cứu.
Lời khảo xét
“Có thể dùng phép cứu”, nhưng Trọng Cảnh không nói nên cứu huyệt nào.
Thường Khí Chi nói: Huyệt Thái xung.
Điều trước nói tay chân quyết nghịch, cứu Thái xung. Điều này cũng là tay chân quyết nghịch, nên cũng cứu Thái xung.
Trường Xuân biên soạn