Bàn về giải thích những điều tinh vi: nước mắt, nước mũi, Tâm, Thận, thần và chí
Đoạn 1
Nguyên văn
黄帝在明堂,雷公请曰:臣授业传之,行教以经论,从容形法,阴阳刺灸,汤药所滋,行治有贤不肖,未必能十全。若先言悲哀喜怒,燥湿寒暑,阴阳妇女,请问其所以然者,卑贱富贵,人之形体所从,群下通使,临事以适道术,谨闻命矣。请问有毚愚仆漏之问,不在经者,欲闻其状。
Hán Việt
Hoàng Đế tại Minh đường, Lôi Công thỉnh viết: Thần thụ nghiệp truyền chi, hành giáo dĩ kinh luận, tòng dung hình pháp, âm dương thích cứu, thang dược sở tư, hành trị hữu hiền bất tiếu, vị tất năng thập toàn. Nhược tiên ngôn bi ai hỷ nộ, táo thấp hàn thử, âm dương phụ nữ, thỉnh vấn kỳ sở dĩ nhiên giả, ti tiện phú quý, nhân chi hình thể sở tòng, quần hạ thông sứ, lâm sự dĩ thích đạo thuật, cẩn văn mệnh hĩ. Thỉnh vấn hữu sàm ngu bộc lậu chi vấn, bất tại kinh giả, dục văn kỳ trạng.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế ở Minh đường. Lôi Công thưa rằng:
Thần được nhận học nghiệp rồi truyền lại, đem kinh luận mà thi hành giáo hóa; học phép hình thể một cách thong thả, học âm dương, châm cứu, học sự nuôi dưỡng của thang dược. Nhưng khi thực hành điều trị, có người hiền giỏi, có người bất tiếu, chưa hẳn ai cũng có thể mười phần trọn vẹn.
Nếu trước hết nói đến buồn thương, vui giận; táo, thấp, hàn, thử; âm dương, nam nữ, thì thần xin hỏi nguyên do vì sao như vậy. Lại như sang hèn, giàu nghèo, hình thể con người do đâu mà theo; khiến mọi người dưới thông hiểu, khi gặp việc thì biết đem đạo thuật mà ứng hợp, thần xin kính cẩn nghe mệnh.
Nay thần xin hỏi một điều có vẻ ngu vụng, thô lậu, không thấy ở trong kinh, nhưng muốn nghe hình trạng của nó.
Giải thích từ ngữ
Tòng dung hình pháp: xét hình thể và phép chẩn một cách thong thả, bình tĩnh, không vội.
Thang dược sở tư: sự nuôi dưỡng, điều hòa của thang thuốc.
Bi ai hỷ nộ: các tình chí làm động thần khí, ảnh hưởng tạng phủ.
Táo thấp hàn thử: các khí hậu, tà khí bên ngoài.
Âm dương phụ nữ: xét âm dương và sự khác nhau giữa nam nữ trong sinh lý, bệnh lý.
Đoạn 2
Nguyên văn
帝曰:大矣。公请问:哭泣而泪不出者,若出而少涕,其故何也。帝曰:在经有也。复问:不知水所从生,涕所从出也。帝曰:若问此者,无益于治也,工之所知,道之所生也。
Hán Việt
Đế viết: Đại hĩ.
Công thỉnh vấn: Khốc khấp nhi lệ bất xuất giả, nhược xuất nhi thiểu thế, kỳ cố hà dã?
Đế viết: Tại kinh hữu dã.
Phục vấn: Bất tri thủy sở tòng sinh, thế sở tòng xuất dã.
Đế viết: Nhược vấn thử giả, vô ích vu trị dã. Công chi sở tri, đạo chi sở sinh dã.
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Câu hỏi ấy lớn thay.
Lôi Công hỏi:
Có người khóc mà nước mắt không ra; hoặc nước mắt có ra mà nước mũi lại ít, nguyên nhân là gì?
Hoàng Đế nói:
Trong kinh đã có nói.
Lôi Công lại hỏi:
Thần chưa biết nước ấy sinh ra từ đâu, nước mũi từ đâu mà ra.
Hoàng Đế nói:
Nếu hỏi điều này, tưởng như không ích gì cho trị bệnh. Nhưng đó là điều người thầy thuốc phải biết, là chỗ do đạo sinh ra.
Giải thích từ ngữ
Khốc khấp: khóc than, khóc do buồn thương.
Lệ: nước mắt.
Thế: nước mũi.
Vô ích vu trị: không phải thật sự vô ích, mà Hoàng Đế nhắc rằng việc nhỏ nếu không hiểu đạo thì tưởng là vụn vặt; người giỏi vẫn cần biết nguồn gốc của nó.
Đoạn 3
Nguyên văn
夫心者,五藏之专精也,目者,其窍也,华色者,其荣也,是以人有德也,则气和于目,有亡,忧知于色。是以悲哀则泣下,泣下水所由生。
Hán Việt
Phù Tâm giả, ngũ tạng chi chuyên tinh dã; mục giả, kỳ khiếu dã; hoa sắc giả, kỳ vinh dã. Thị dĩ nhân hữu đức dã, tắc khí hòa vu mục; hữu vong, ưu tri vu sắc. Thị dĩ bi ai tắc khấp hạ, khấp hạ thủy sở do sinh.
Dịch nghĩa
Tâm là nơi chuyên tinh của năm tạng. Mắt là khiếu của Tâm. Sự tươi sáng của sắc mặt là vẻ vinh hoa của Tâm.
Vì vậy, người có đức thì khí hòa ở mắt; khi có mất mát, lo buồn thì có thể biết qua sắc diện.
Cho nên khi buồn thương thì nước mắt chảy xuống. Đó là chỗ nước mắt do đó mà sinh.
Giải thích từ ngữ
Tâm là chuyên tinh của năm tạng: Tâm chủ thần minh, gom tinh thần của năm tạng.
Mục là khiếu của Tâm: trong đoạn này nhấn mạnh mắt liên hệ với Tâm thần, tuy trong hệ quy tạng thường nói Can khai khiếu ra mắt.
Khí hòa ở mắt: mắt sáng, thần khí an hòa.
Ưu tri vu sắc: có lo buồn thì hiện ra sắc mặt, ánh mắt.
Đoạn 4
Nguyên văn
水宗者,积水也,积水者,至阴也,至阴者,肾之精也。宗精之水,所以不出者,是精持之也。辅之裹之,故水不行也。
Hán Việt
Thủy tông giả, tích thủy dã. Tích thủy giả, chí âm dã. Chí âm giả, Thận chi tinh dã. Tông tinh chi thủy, sở dĩ bất xuất giả, thị tinh trì chi dã. Phụ chi khỏa chi, cố thủy bất hành dã.
Dịch nghĩa
Gốc của nước là nước tích lại. Nước tích lại là chí âm. Chí âm là tinh của Thận.
Nước của tông tinh sở dĩ không tự chảy ra là vì được tinh giữ lại. Nó được phụ trợ, được bao bọc, cho nên nước không vận hành ra ngoài.
Giải thích từ ngữ
Thủy tông: gốc, nơi quy tụ của thủy dịch.
Tích thủy: nước tích tụ làm nguồn, không phải nước đã chảy ra ngoài.
Chí âm: âm đến cực, liên hệ Thận.
Thận tinh: tinh của Thận, là gốc của thủy dịch và tủy.
Tinh trì chi: tinh giữ nước lại, không cho thủy dịch thất thoát vô cớ.
Đoạn 5
Nguyên văn
夫水之精为志,火之精为神,水火相感,神志俱悲,是以目之水生也。故谚言曰:心悲名曰志悲,志与心精,共凑于目也。是以俱悲则神气传于心,精上不传于志,而志独悲,故泣出也。
Hán Việt
Phù thủy chi tinh vi chí, hỏa chi tinh vi thần. Thủy hỏa tương cảm, thần chí câu bi, thị dĩ mục chi thủy sinh dã.
Cố ngạn ngôn viết: Tâm bi danh viết chí bi, chí dữ Tâm tinh, cộng thấu vu mục dã. Thị dĩ câu bi tắc thần khí truyền vu Tâm, tinh thượng bất truyền vu chí, nhi chí độc bi, cố khấp xuất dã.
Dịch nghĩa
Tinh của thủy là chí; tinh của hỏa là thần. Khi thủy và hỏa cảm ứng nhau, thần và chí đều buồn, vì vậy nước ở mắt sinh ra.
Cho nên tục ngữ nói: Tâm buồn thì gọi là chí buồn. Chí cùng với tinh của Tâm cùng tụ về mắt.
Vì vậy, khi cả thần và chí đều buồn, thần khí truyền vào Tâm, nhưng tinh ở trên không truyền được đến chí; chí riêng buồn, cho nên nước mắt chảy ra.
Giải thích từ ngữ
Thủy chi tinh vi chí: Thận thuộc Thủy, tàng chí.
Hỏa chi tinh vi thần: Tâm thuộc Hỏa, tàng thần.
Thủy hỏa tương cảm: Tâm Hỏa và Thận Thủy cảm ứng nhau, thần chí cùng động.
Tâm bi tức chí bi: buồn ở Tâm có thể động đến chí của Thận; nước mắt vì vậy liên hệ cả Tâm và Thận.
Đoạn 6
Nguyên văn
泣涕者,脑也,脑者,阴也,髓者,骨之充也,故脑渗为涕。志者,骨之主也,是以水流而涕从之者,其行类也。夫涕之与泣者,譬如人之兄弟,急则俱死,生则俱生,其志以早悲,是以涕泣俱出而横行也。夫人涕泣俱出而相从者,所属之类也。
Hán Việt
Khấp thế giả, não dã. Não giả, âm dã. Tủy giả, cốt chi sung dã. Cố não thấm vi thế.
Chí giả, cốt chi chủ dã. Thị dĩ thủy lưu nhi thế tòng chi giả, kỳ hành loại dã.
Phù thế chi dữ khấp giả, thí như nhân chi huynh đệ, cấp tắc câu tử, sinh tắc câu sinh. Kỳ chí dĩ tảo bi, thị dĩ thế khấp câu xuất nhi hoành hành dã. Phù nhân thế khấp câu xuất nhi tương tòng giả, sở thuộc chi loại dã.
Dịch nghĩa
Nước mắt và nước mũi đều liên hệ với não. Não thuộc âm. Tủy là chất làm đầy xương. Cho nên não thấm ra thì thành nước mũi.
Chí là chủ của xương. Vì vậy, khi nước chảy mà nước mũi theo ra, là vì đường vận hành của chúng cùng loại.
Nước mũi và nước mắt ví như anh em của con người. Khi cấp bách thì cùng chết, khi còn sinh cơ thì cùng sinh. Vì chí sớm buồn, nên nước mũi và nước mắt cùng ra, chảy ngang dọc.
Người ta khi nước mũi và nước mắt cùng ra, theo nhau mà chảy, là vì chúng thuộc cùng một loại.
Giải thích từ ngữ
Não thuộc âm: não, tủy, xương đều quy vào hệ âm, Thận tinh.
Tủy làm đầy xương: Thận chủ cốt, sinh tủy; tủy đầy thì xương được sung.
Não thấm thành nước mũi: theo sinh lý cổ, nước mũi là dịch từ não thấm xuống mũi.
Chí chủ xương: Thận tàng chí, Thận chủ cốt, nên chí và cốt tủy liên hệ.
Nước mắt và nước mũi như anh em: cùng thuộc thủy dịch, cùng do thần chí cảm động mà phát.
Đoạn 7
Nguyên văn
雷公曰:大矣!请问人哭泣而泪不出者,若出而少涕,不从之何也?
Hán Việt
Lôi Công viết: Đại hĩ! Thỉnh vấn nhân khốc khấp nhi lệ bất xuất giả, nhược xuất nhi thiểu thế, bất tòng chi hà dã?
Dịch nghĩa
Lôi Công nói:
Thật lớn lao thay! Xin hỏi: có người khóc mà nước mắt không ra; hoặc có ra nước mắt mà ít nước mũi, không đi theo nhau, là vì sao?
Giải thích từ ngữ
Bất tòng: không theo nhau, tức nước mắt và nước mũi không cùng ra như thường.
Ý hỏi: nếu chúng cùng loại như anh em, vì sao có lúc chỉ khóc mà không ra lệ, hoặc có lệ mà ít nước mũi.
Đoạn 8
Nguyên văn
帝曰:夫泣不出者,哭不悲也;不泣者,神不慈也。神不慈则志不悲,阴阳相持,泣安能独来?
Hán Việt
Đế viết: Phù khấp bất xuất giả, khốc bất bi dã; bất khấp giả, thần bất từ dã. Thần bất từ tắc chí bất bi, âm dương tương trì, khấp an năng độc lai?
Dịch nghĩa
Hoàng Đế nói:
Nước mắt không chảy ra là vì tiếng khóc ấy chưa thật buồn. Không có nước mắt là vì thần không từ bi, không cảm động.
Thần không cảm động thì chí không buồn. Âm dương còn giữ nhau, giằng co nhau, thì nước mắt làm sao có thể tự riêng mà đến?
Giải thích từ ngữ
Khốc bất bi: có tiếng khóc nhưng buồn thương chưa động đến thần chí.
Thần bất từ: thần chưa có lòng thương xót, chưa thật cảm động.
Chí bất bi: chí của Thận chưa bị cảm động bởi buồn thương.
Âm dương tương trì: âm dương còn giữ nhau, chưa mở đường cho thủy dịch đi ra.
Đoạn 9
Nguyên văn
夫志悲者惋,惋则冲阴,冲阴则志去目,志去则神不守精,精神去目,涕泣出也。
Hán Việt
Phù chí bi giả oản, oản tắc xung âm, xung âm tắc chí khứ mục, chí khứ tắc thần bất thủ tinh, tinh thần khứ mục, thế khấp xuất dã.
Dịch nghĩa
Khi chí buồn thì sinh uất oản. Uất oản thì xung động âm. Xung động âm thì chí rời khỏi mắt. Chí đã rời đi thì thần không giữ được tinh. Tinh và thần rời khỏi mắt, nước mũi và nước mắt bèn chảy ra.
Giải thích từ ngữ
Oản: uất kết, buồn bã, nghẹn ngào trong lòng.
Xung âm: xung động phần âm, làm thủy dịch động.
Chí khứ mục: chí khí không còn giữ ở mắt, thủy dịch mất sự nhiếp giữ.
Thần bất thủ tinh: thần không giữ tinh, tinh dịch theo cảm xúc mà tiết ra ngoài.
Đoạn 10
Nguyên văn
且子独不诵不念夫经言乎?厥则目无所见,夫人厥则阳气并于上,阴气并于下。阳并于上则火烛光也,阴并于下则足寒,足寒则胀也。夫一水不胜五火,故目眦盲。
Hán Việt
Thả tử độc bất tụng bất niệm phù kinh ngôn hồ? Quyết tắc mục vô sở kiến. Phù nhân quyết tắc dương khí tịnh vu thượng, âm khí tịnh vu hạ. Dương tịnh vu thượng tắc hỏa chúc quang dã, âm tịnh vu hạ tắc túc hàn, túc hàn tắc trướng dã. Phù nhất thủy bất thắng ngũ hỏa, cố mục tí manh.
Dịch nghĩa
Vả lại, ông không từng đọc tụng, không từng nhớ lời kinh nói sao? Khi quyết thì mắt không thấy gì.
Người bị quyết thì dương khí dồn lên trên, âm khí dồn xuống dưới. Dương dồn lên trên thì như lửa soi sáng; âm dồn xuống dưới thì chân lạnh. Chân lạnh thì sinh trướng.
Một phần nước không thắng nổi năm phần hỏa, cho nên khóe mắt mờ tối.
Giải thích từ ngữ
Quyết: khí nghịch, âm dương không giao, trên dưới cách tuyệt; có thể gây choáng, ngất, lạnh tay chân, mắt mờ.
Dương khí dồn lên trên: hỏa khí bốc lên, mắt bị nung, thần quang rối.
Âm khí dồn xuống dưới: hàn âm tụ ở dưới, chân lạnh, bụng trướng.
Nhất thủy bất thắng ngũ hỏa: thủy dịch ít không chế được hỏa thịnh, mắt bị hỏa đốt mà mờ.
Mục tí manh: khóe mắt mờ, thị lực suy.
Đoạn 11
Nguyên văn
是以冲风,泣下而不止。夫风之中目也,阳气内守于精,是火气燔目,故见风则泣下也。有以比之,夫火疾风生,乃能雨,此之类也。
Hán Việt
Thị dĩ xung phong, khấp hạ nhi bất chỉ. Phù phong chi trúng mục dã, dương khí nội thủ vu tinh, thị hỏa khí phần mục, cố kiến phong tắc khấp hạ dã. Hữu dĩ tỷ chi, phù hỏa tật phong sinh, nãi năng vũ, thử chi loại dã.
Dịch nghĩa
Vì vậy, khi xung phải phong, nước mắt chảy xuống không dừng.
Phong trúng vào mắt, dương khí ở trong giữ lấy tinh, nhưng hỏa khí lại đốt mắt, cho nên gặp gió thì nước mắt chảy xuống.
Có thể lấy điều này mà so sánh: hỏa bốc mạnh, phong sinh ra, rồi mới có thể thành mưa. Đây là cùng một loại lý.
Giải thích từ ngữ
Xung phong: bị gió xông thẳng vào.
Phong trúng mục: gió phạm vào mắt.
Dương khí nội thủ vu tinh: dương khí giữ tinh ở trong, không cho tán ra.
Hỏa khí phần mục: hỏa khí nung đốt mắt, kích thích thủy dịch chảy ra.
Hỏa tật phong sinh nãi năng vũ: trong tự nhiên, nhiệt và gió giao động thì sinh mưa; trong thân người, hỏa và phong kích động thì thủy dịch ở mắt chảy ra.
Nhận xét chung
Thiên Giải Tinh Vi Luận lấy một việc rất nhỏ là khóc, nước mắt và nước mũi để giải thích đạo lý tinh vi của Tâm, Thận, thần, chí, thủy, hỏa, não, tủy và mắt.
Theo thiên này, Tâm là nơi chuyên tinh của năm tạng, mắt là khiếu biểu hiện thần khí. Khi người có đức, khí hòa ở mắt; khi có buồn lo, sắc và mắt liền biến đổi. Vì vậy nước mắt không chỉ là nước ở mắt, mà là biểu hiện của thần chí bị cảm động.
Nước mắt thuộc thủy, mà gốc thủy quy về Thận tinh. Thủy chi tinh là chí, Hỏa chi tinh là thần. Khi Tâm thần và Thận chí cùng buồn, thủy hỏa cảm nhau, nước ở mắt sinh ra. Vì vậy, Tâm buồn thì chí cũng buồn; thần và chí cùng tụ ở mắt, nước mắt mới chảy.
Nước mũi lại được giải thích từ não và tủy. Não thuộc âm, tủy đầy xương, Thận chủ cốt tủy, nên nước mũi cũng thuộc một loại với thủy dịch của tinh tủy. Nước mắt và nước mũi như anh em: khi buồn thương thật sự, thần chí cùng động, thì cả hai cùng chảy ra.
Thiên này cũng phân biệt khóc thật và khóc không thật. Có tiếng khóc mà không có nước mắt là vì chưa thật buồn; thần chưa cảm, chí chưa bi, âm dương còn giữ nhau, nên nước mắt không tự đến. Khi chí thật buồn, âm bị xung động, thần không giữ tinh, tinh thần rời mắt, nước mắt và nước mũi mới ra.
Phần cuối đem bệnh quyết và phong phạm mắt để giải thích mắt mờ, chảy nước mắt khi gặp gió. Dương khí dồn lên, hỏa nung mắt; âm khí dồn xuống, chân lạnh và trướng. Thủy không thắng được hỏa thì mắt mờ; phong xông vào mắt thì hỏa phong giao động, nước mắt chảy như tự nhiên có hỏa, có gió rồi sinh mưa.
Đọc thiên này nên thấy tinh thần của Nội Kinh: từ một hiện tượng rất thường như nước mắt và nước mũi, sách truy về Tâm, Thận, thần, chí, tinh, tủy, thủy hỏa, âm dương. Đó gọi là “giải tinh vi”, giải thích những điều nhỏ mà rất sâu sắc.