Bài đọc thêm
CHƯƠNG MỘT: MỞ ĐẦU — 緒論
Trung y chẩn đoán học(中医诊断学)là môn học trình bày những lý luận cơ bản, phương pháp và kỹ năng dùng để chẩn đoán bệnh và phân biệt chứng hậu trong Trung y. Chẩn đoán là đưa ra nhận định khái quát về tình trạng sức khỏe và bệnh chứng của con người. Môn học này là cầu nối từ y học cơ sở đến y học lâm sàng, có đặc điểm gắn kết chặt chẽ lý luận cơ bản với thực hành lâm sàng, đồng thời là một bộ phận quan trọng của Trung y học.
Phòng bệnh và chữa bệnh đúng đắn phụ thuộc vào chẩn đoán chính xác. Chẩn đoán chính xác bắt nguồn từ việc thăm khám người bệnh chu đáo bằng tứ chẩn(四诊)— vọng, văn, vấn, thiết — cùng với phân tích biện chứng chính xác. Không có chẩn đoán đúng thì không thể có điều trị đúng. Vì vậy, chẩn đoán là một khâu hết sức quan trọng trong phòng và chữa bệnh.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT MỘT: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TRUNG Y CHẨN ĐOÁN HỌC
中医诊断学发展简史
Trung y chẩn đoán học là thành quả tích lũy kinh nghiệm khám bệnh trên lâm sàng của các thế hệ y gia. Lý luận và phương pháp của môn học này có nguồn gốc từ rất sớm. Vào thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, danh y Biển Thước đã dùng những phương pháp như “thiết mạch, vọng sắc, thính thanh, thẩm hình”(切脉、望色、听声、审形), tức bắt mạch, quan sát sắc mặt, nghe tiếng nói và xem xét hình thể, để khám bệnh.
Trong Hoàng Đế Nội Kinh(黄帝内经)và Nan Kinh(难经), cơ sở lý luận cùng phương pháp của tứ chẩn — vọng, văn, vấn, thiết — đã được xác lập. Hai bộ sách còn nêu rõ rằng khi chẩn đoán bệnh, phải xem xét toàn diện các yếu tố gây bệnh bên trong và bên ngoài. Thiên Sơ ngũ quá luận trong Tố Vấn viết:
“凡欲诊病者,必问饮食居处,暴乐暴苦,……”
“Phàm muốn chẩn đoán bệnh, phải hỏi về ăn uống, nơi ở và sinh hoạt, những lúc đột ngột vui mừng hoặc đau khổ quá mức…”
Danh y Thuần Vu Ý thời Tây Hán đã khởi lập “chẩn tịch”(诊籍), tức hồ sơ bệnh án, ghi lại tên người bệnh, nơi cư trú, biểu hiện bệnh, phương thuốc và ngày tháng, để làm căn cứ tham khảo khi khám lại.
Đầu thế kỷ thứ ba sau Công nguyên, y gia kiệt xuất Trương Trọng Cảnh thời Đông Hán viết Thương hàn tạp bệnh luận(伤寒杂病论), kết hợp bệnh, mạch, chứng và trị, xây dựng khuôn mẫu cho việc chẩn bệnh, biện chứng và luận trị. Cũng trong thời kỳ này, Trung tàng kinh(中藏经), được truyền là tác phẩm của danh y Hoa Đà, ghi lại nhiều kinh nghiệm chẩn bệnh, nổi bật ở việc luận mạch, luận bệnh, phân tích hàn nhiệt, hư thực của tạng phủ và sự thuận nghịch trong quá trình sinh hóa.
Mạch kinh(脉经)của Vương Thúc Hòa thời Tây Tấn là chuyên thư về mạch học sớm nhất của Trung Quốc còn được lưu truyền. Sách vừa trình bày lý luận về mạch, vừa bàn riêng về thốn khẩu, tam bộ cửu hậu và hai mươi bốn loại mạch, có ảnh hưởng sâu rộng đến các thế hệ sau.
Chư bệnh nguyên hậu luận(诸病源候论)của Sào Nguyên Phương thời Tùy là chuyên thư bàn về nguồn gốc bệnh và chẩn đoán chứng hậu, gồm một nghìn bảy trăm ba mươi chín bài luận về chứng hậu của các loại bệnh.
Tôn Tư Mạc thời Đường cho rằng khi khám bệnh, không được để những biểu hiện bên ngoài làm mê hoặc, mà phải thông qua hiện tượng để nhận rõ bản chất. Trong thiên Đại y tinh thành thuộc Bị cấp thiên kim yếu phương(备急千金要方), ông viết:
“五脏六腑之盈虚,血脉营卫之通塞,固非耳目之所察,必先诊候以审之。”
“Sự đầy vơi của ngũ tạng lục phủ, sự thông suốt hay bế tắc của huyết mạch, dinh vệ, vốn không thể chỉ dựa vào tai nghe mắt thấy mà biết được; trước hết phải thăm khám chứng hậu để xét rõ.”
Trong thời Tống, Kim và Nguyên, chẩn đoán học tiếp tục có những bước phát triển mới. Nam Dương hoạt nhân thư(南阳活人书)của Chu Quăng thời Tống nhấn mạnh rằng khi chữa thương hàn, bắt mạch là khâu then chốt để phân biệt biểu lý, hư thực. Tam nhân cực nhất bệnh chứng phương luận(三因极一病证方论)của Trần Ngôn trình bày phép biện chứng theo ba nhóm nguyên nhân: nội nhân, ngoại nhân và bất nội ngoại nhân.
Thời Kim và Nguyên có nhiều y gia chuyên nghiên cứu chẩn đoán. Chẩn gia khu yếu(诊家枢要)của Hoạt Bá Nhân chuyên bàn về chẩn pháp. Mạch quyết san ngộ tập giải(脉诀刊误集解)của Đới Khởi Tông có nhiều đóng góp hữu ích cho mạch học.
Các luận bàn về chẩn đoán của Kim Nguyên tứ đại gia đều có đặc điểm riêng. Lưu Hà Gian chú trọng bệnh cơ trong biện chứng. Trương Tử Hòa chú trọng phân biệt triệu chứng. Lý Đông Viên chú trọng những điểm giống và khác nhau giữa chứng hậu ngoại cảm với nội thương. Chu Đan Khê chú trọng biện chứng về khí, huyết, đàm và uất.
Đến thời Minh và Thanh, việc nghiên cứu tứ chẩn và biện chứng đạt được nhiều thành tựu. Trong tứ chẩn, sự phát triển của mạch chẩn và thiệt chẩn đặc biệt nổi bật.
Y dược gia kiệt xuất Lý Thời Trân thời Minh viết Tần Hồ mạch học(濒湖脉学), chọn lọc tinh hoa mạch học của các nhà, phân biệt rõ hai mươi bảy loại mạch và biên thành ca quyết để thuận tiện cho việc đọc, học và ghi nhớ.
Thời Thanh, những tác phẩm như Mạch quyết hội biện(脉诀汇辨)của Lý Diên Tinh và Mạch yếu đồ chú tường giải(脉要图注详解)của Hạ Thăng Bình đã kết hợp mạch học với sinh lý, bệnh lý và chứng hậu để nghiên cứu.
Về thiệt chẩn, sau khi Đỗ Thanh Bích thời Nguyên bổ sung Thương hàn kim kính lục(伤寒金镜录)của họ Ngao, các tác phẩm như Thương hàn quan thiệt tâm pháp(伤寒观舌心法)của Thân Đẩu Viên thời Minh, Thương hàn thiệt giám(伤寒舌鉴)của Trương Đăng thời Thanh và Thiệt thai thống chí(舌胎统志)của Phó Tùng Nguyên đều có nhiều nghiên cứu về quan sát lưỡi để biện chứng.
Tứ chẩn tâm pháp yếu quyết(四诊心法要诀)trong Y tông kim giám(医宗金鉴)thời Thanh dùng những câu ca quyết bốn chữ để giới thiệu ngắn gọn lý luận và phương pháp tứ chẩn, thuận tiện cho việc ứng dụng.
Việc nghiên cứu biện chứng trong thời Minh và Thanh ngày càng đi sâu, nổi bật nhất là chẩn đoán và biện chứng thương hàn, ôn bệnh.
Truyền trung lục(传忠录)trong Cảnh Nhạc toàn thư(景岳全书)của Trương Cảnh Nhạc thời Minh, cùng tác phẩm của Trình Chung Linh thời Thanh được đoạn nguồn ghi là Tri giác tâm ngộ(知觉心悟), đều xem âm dương, biểu lý, hàn nhiệt, hư thực là những nguyên tắc chủ yếu của biện chứng.
Trong thời Minh và Thanh, Thương hàn luận(伤寒论)được đặc biệt coi trọng. Có hơn một trăm nhà chuyên nghiên cứu biện chứng lục kinh, mỗi nhà đều có những kiến giải sâu sắc riêng. Có thể kể đến Y kinh tố hồi tập(医经溯洄集)của Vương Sơ Đạo đầu thời Minh và Thương hàn lai tô tập(伤寒来苏集)của Kha Vận Bá thời Thanh.
Cũng trong thời Minh và Thanh, các phương pháp biện chứng ôn bệnh được hình thành. Diệp Thiên Sĩ trình bày biện chứng vệ, khí, dinh, huyết trong Ngoại cảm ôn nhiệt thiên(外感温热篇). Ngô Cúc Thông trình bày biện chứng tam tiêu trong Ôn bệnh điều biện(温病条辨). Hai hệ thống này mở ra những hướng nghiên cứu về đặc điểm biến đổi bệnh lý và quy luật chuyển biến của bệnh ôn nhiệt.
Đến thời cận đại, chẩn đoán học phát triển tương đối chậm. Năm một nghìn chín trăm mười bảy, Tào Bỉnh Chương viết Thái đồ biện thiệt chỉ nam(彩图辨舌指南), trình bày việc chẩn đoán qua quan sát lưỡi gắn liền với phương pháp điều trị. Nội dung sách phong phú, cụ thể, phần lớn đúc kết từ kinh nghiệm thực hành.
Từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Trung y chẩn đoán học được những người làm công tác giảng dạy, khám chữa bệnh và nghiên cứu khoa học quan tâm. Việc vận dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại vào nghiên cứu đã đem lại những hướng phát triển và thành quả mới.
Chẳng hạn, các thiết bị điện tử được dùng để ghi đồ thị mạch nhằm nghiên cứu mạch học; hệ thống biện chứng luận trị của những bệnh thường gặp được đưa vào máy vi tính để nghiên cứu biện chứng. Những công việc này mở ra các hướng tiếp cận mới cho chẩn bệnh và biện chứng trong Trung y.
Ghi chú đối chiếu bản nguồn
Đoạn chữ bác gửi có một số chỗ sai hoặc chưa thống nhất về niên đại, tên sách và chữ viết. Chẳng hạn, câu nói về Thuần Vu Ý ghi “thế kỷ thứ hai sau Công nguyên” nhưng lại xác định ông thuộc thời Tây Hán; vì vậy, bản dịch trên tạm giữ tên triều đại và không đưa mốc thế kỷ ấy vào. Tên sách “知觉心悟” cũng được giữ theo đoạn nguồn, chờ đối chiếu trước khi dùng trong bản biên soạn chính thức.
Trường Xuân biên soạn
NGUYÊN LÝ CỦA CHẨN ĐOÁN HỌC
诊断学原理
Quá trình chẩn đoán bệnh của con người là một quá trình nhận thức. Mục đích của nhận thức là tiếp tục chỉ đạo thực hành. Tứ chẩn — vọng, văn, vấn, thiết — là những phương pháp chủ yếu để nhận định chứng hậu và nhận biết bệnh.
Những biến đổi bệnh lý của cơ thể phần lớn ẩn ở bên trong. Chỉ quan sát thần sắc bên ngoài, nghe tiếng nói, ngửi mùi, bắt mạch và hỏi về những khó chịu của người bệnh, mà không trực tiếp quan sát nơi có tổn thương, vì sao vẫn có thể phán đoán bản chất của bệnh? Nguyên lý nằm ở phép “tòng ngoại tri nội”(从外知内)— từ bên ngoài mà biết bên trong — được nêu trong thiên Luận tật chẩn xích của Linh Khu. Đó cũng là phép “tư ngoại sủy nội”(司外揣内)— xem xét bên ngoài để suy biết bên trong — được trình bày trong thiên Ngoại sủy của Linh Khu.
“视其外应,测知其内。”
“Quan sát những biểu hiện tương ứng bên ngoài để suy biết tình trạng bên trong.”
“有诸内者,必形诸外。”
“Những gì có ở bên trong, tất sẽ biểu hiện ra bên ngoài.”
Đây là một phương pháp quan trọng mà người xưa dùng để nhận thức sự vật khách quan. Từ thời Tiên Tần, các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc đã sớm nhận thấy giữa bên ngoài và bên trong của nhiều sự vật có những mối liên hệ tương ứng xác định.
Mối liên hệ tồn tại phổ biến. Mỗi sự vật đều có quan hệ nhất định với những sự vật xung quanh. Khi không thể trực tiếp nhận biết một sự vật, có thể nghiên cứu những sự vật liên quan để gián tiếp nắm bắt hoặc suy biết về nó.
Tương tự, những biểu hiện bên ngoài của cơ thể có quan hệ tương ứng với chức năng sinh lý bên trong. Thông qua các biểu hiện ấy, có thể nhận biết quy luật biến đổi trong cơ thể. Khi tạng phủ bị tà khí xâm phạm và phát sinh biến đổi bệnh lý, những biến đổi đó sẽ biểu hiện ra bên ngoài.
Sự phát sinh và phát triển của bệnh có những biểu hiện bên ngoài tương ứng, bao gồm triệu chứng, dấu hiệu thực thể, hình thái lưỡi và hình thái mạch.
Vì vậy, có thể vận dụng vọng, văn, vấn, thiết để thu thập những thông tin biểu hiện ra bên ngoài này, sau đó phân tích bệnh cơ của tạng phủ và tính chất của tà khí, nhằm phán đoán bản chất của bệnh và loại chứng hậu, từ đó đưa ra chẩn đoán.
Trường Xuân biên soạn
NGUYÊN TẮC CỦA CHẨN ĐOÁN HỌC
诊断学原则
Quá trình chẩn đoán bệnh là một quá trình nhận thức. Có nhận thức về bệnh mới có thể tiến hành phòng và chữa bệnh. Muốn nhận thức bệnh một cách đúng đắn, phải tuân theo ba nguyên tắc lớn.
XÉT CẢ TRONG NGOÀI, KHÁM BỆNH TRÊN TOÀN THỂ
审察内外,整体察病
Quan niệm chỉnh thể là một đặc điểm cơ bản của Trung y học. Con người là một chỉnh thể hữu cơ: tạng phủ bên trong thống nhất với phần ngoài cơ thể, tứ chi và ngũ quan; toàn bộ cơ thể cũng có mối liên hệ thống nhất với môi trường bên ngoài.
Khi cơ thể phát sinh bệnh, tổn thương cục bộ có thể ảnh hưởng đến toàn thân; bệnh biến toàn thân cũng có thể biểu hiện ở một bộ phận nhất định. Bệnh ở ngoài có thể truyền vào trong; bệnh ở nội tạng cũng có thể biểu hiện ra ngoài. Những kích thích tinh thần có thể ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của tạng phủ; bệnh ở tạng phủ cũng có thể gây ra những bất thường trong hoạt động tinh thần. Đồng thời, sự phát triển của bệnh có liên quan chặt chẽ với khí hậu và môi trường bên ngoài.
Vì vậy, khi thăm khám, trước hết phải xem bệnh ở một bộ phận của người bệnh trong mối liên hệ với toàn thể cơ thể. Phải xem xét cả biểu hiện bên ngoài lẫn tình trạng bên trong, đồng thời đặt người bệnh trong mối liên hệ với môi trường tự nhiên, mới có thể đưa ra chẩn đoán đúng đắn.
Do đó, xét cả trong ngoài và khám bệnh trên toàn thể là một nguyên tắc cơ bản của Trung y chẩn đoán học.
BIỆN CHỨNG ĐỂ TÌM NGUYÊN NHÂN, XÉT NGUYÊN NHÂN ĐỂ LUẬN TRỊ
辨证求因,审因论治
Biện chứng cầu nhân là dựa trên việc xem xét trong ngoài và khám bệnh trên toàn thể, phân tích, tổng hợp một loạt biểu hiện cụ thể của người bệnh để tìm ra bản chất của bệnh và điểm then chốt của bệnh biến, từ đó xét nguyên nhân mà luận trị.
“Nhân”(因)trong biện chứng cầu nhân, ngoài những nguyên nhân gây bệnh thường gặp như lục dâm, thất tình, ăn uống và lao lực, còn bao gồm những vấn đề then chốt hình thành trong quá trình bệnh diễn biến. Những yếu tố này là căn cứ chủ yếu của biện chứng luận trị.
Điều đó đòi hỏi phải dựa vào chứng hậu cụ thể biểu hiện trên lâm sàng để xác định nguyên nhân gây bệnh, vị trí bệnh, diễn biến của bệnh và cơ chế biến đổi bệnh lý.
Chẳng hạn, khi người bệnh tự nói mình bị sốt, ta chưa thể đưa ra kết luận biện chứng. Phải hỏi thêm có sợ lạnh, đau đầu hay không, bệnh có mới khởi phát hay không; đồng thời kiểm tra mạch có phù, rêu lưỡi có mỏng trắng hay không. Qua đó mới có thể bước đầu phân biệt sốt do ngoại cảm thuộc biểu chứng với sốt do nội thương thuộc lý chứng.
Nếu là sốt do ngoại cảm thuộc biểu chứng, còn phải tiếp tục phân biệt ngoại cảm phong nhiệt hay ngoại cảm phong hàn. Nếu có lưỡi đỏ, khát nước, mạch phù sác, sốt nhiều và sợ lạnh nhẹ, có thể nhận định đó là chứng ngoại cảm phong nhiệt, từ đó xác định hướng điều trị.
Như vậy, biện chứng cẩn thận giúp nhận thức bệnh rõ ràng, chẩn đoán chính xác hơn và đạt đến mức độ sâu sắc hơn trong việc xét nguyên nhân để luận trị.
TỔNG HỢP TỨ CHẨN, DỰA VÀO BỆNH ĐỂ BIỆN CHỨNG
四诊合参,从病辨证
Muốn chẩn đoán bệnh bằng cách xem xét trong ngoài và nhận định toàn thể, phải thăm khám, tìm hiểu người bệnh một cách đầy đủ, chi tiết. Vì vậy, cần tứ chẩn hợp tham, tức phối hợp cả bốn phương pháp chẩn đoán và coi trọng giá trị của từng phương pháp.
Phối hợp tứ chẩn không có nghĩa là xem xét mọi mặt một cách dàn trải. Do thời gian tiếp xúc với người bệnh có hạn, phải nắm được vấn đề chủ yếu, thu thập thông tin lâm sàng có mục đích, có hệ thống và có trọng tâm, mới tránh lãng phí thời gian.
Coi trọng cả bốn phương pháp là vì mỗi phương pháp khảo sát bệnh tình và thu thập thông tin từ một góc độ khác nhau, có ý nghĩa riêng và không thể thay thế hoàn toàn cho nhau. Chỉ nhấn mạnh một phương pháp mà bỏ qua những phương pháp còn lại thì không thể hiểu đầy đủ bệnh tình. Vì vậy, Y môn pháp luật(医门法律)viết:
“望闻问切,医之不可缺一。”
“Vọng, văn, vấn, thiết, người làm nghề y không thể thiếu một phương pháp nào.”
Ngoài ra, bệnh tình phức tạp và biến đổi nhiều. Biểu hiện chứng hậu có thể là chân tượng hoặc giả tượng; mạch và triệu chứng có khi không phù hợp với nhau. Vì thế, trong lý luận chẩn pháp có phép “xả mạch tòng chứng”(舍脉从症)— bỏ dấu hiệu mạch để theo triệu chứng — và “xả chứng tòng mạch”(舍症从脉)— bỏ biểu hiện triệu chứng để theo mạch.
Nếu tứ chẩn không đầy đủ, sẽ không thu thập được thông tin bệnh tình toàn diện và chi tiết; biện chứng vì vậy thiếu chính xác, thậm chí có thể sai lầm.
Dựa vào bệnh để biện chứng là thông qua việc tổng hợp tứ chẩn, tiến hành biện chứng trên cơ sở đã xác định bệnh. Việc này bao gồm hai mặt: chẩn đoán tên bệnh và phân biệt chứng hậu.
Chẳng hạn, cảm mạo là tên bệnh, nhưng có thể biểu hiện thành các chứng hậu khác nhau như phong hàn, phong nhiệt hoặc thử thấp. Chỉ khi phân biệt rõ tên bệnh và chứng hậu mới có thể điều trị thích hợp.
Ở đây, cần hiểu rõ khái niệm và mối quan hệ giữa bệnh(病), chứng(证)và triệu chứng(症).
Bệnh là sự khái quát những đặc điểm biểu hiện và quy luật biến đổi của bệnh tình.
Chứng, tức chứng hậu(证候), là nhận định tổng hợp về nguyên nhân, tính chất, vị trí bệnh và những phương diện liên quan, được hình thành qua việc phân tích, quy nạp và tổng hợp một loạt triệu chứng mà người bệnh biểu hiện ở một giai đoạn nhất định trong quá trình bệnh phát triển.
Một bệnh có thể có nhiều chứng hậu khác nhau; ngược lại, một chứng hậu cũng có thể gặp trong nhiều bệnh.
Triệu chứng là hiện tượng bất thường xuất hiện trong quá trình mắc bệnh, vượt ra ngoài phạm vi sinh lý bình thường. Chứng hậu được cấu thành từ một loạt triệu chứng có liên hệ mật thiết với nhau, vì vậy có thể phản ánh bản chất bệnh biến rõ hơn.
Trung y nhấn mạnh biện chứng luận trị, nhưng điều đó không có nghĩa là bỏ qua biện bệnh. Cần kết hợp biện bệnh với biện chứng mới có thể đưa ra nhận định chính xác hơn.
Trường Xuân biên soạn
NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA TRUNG Y CHẨN ĐOÁN HỌC
中医诊断学的主要内容
Nội dung chủ yếu của Trung y chẩn đoán học bao gồm tứ chẩn, bát cương, biện chứng, chẩn đoán bệnh, phân biệt triệu chứng và viết bệnh án.
TỨ CHẨN — 四诊
Tứ chẩn còn gọi là chẩn pháp, gồm bốn phương pháp cơ bản để thăm khám bệnh.
Vọng chẩn là quan sát có mục đích toàn thân hoặc từng bộ phận của người bệnh để tìm hiểu bệnh tình và suy biết bệnh biến của tạng phủ.
Văn chẩn là nghe âm thanh và ngửi mùi để nhận biết tình trạng bệnh bên trong cơ thể.
Vấn chẩn là hỏi người bệnh hoặc người đi cùng để tìm hiểu bệnh tình và những thông tin liên quan.
Thiết chẩn là khám mạch và sờ, ấn các bộ phận khác của cơ thể để nhận biết những biến đổi bên trong và bên ngoài.
Theo nguyên tắc tứ chẩn hợp tham, không thể dùng một phương pháp để thay thế cả bốn phương pháp. Khi thu thập triệu chứng, dấu hiệu thực thể và bệnh sử, phải xem xét cẩn thận, chính xác, không được tiến hành qua loa.
BÁT CƯƠNG — 八纲
Bát cương gồm âm dương, biểu lý, hàn nhiệt và hư thực. Trương Cảnh Nhạc gọi đó là “âm dương” và “lục biến”(六变).
Tất cả thông tin thu được qua tứ chẩn đều cần được quy nạp và phân tích theo bát cương.
Hàn nhiệt dùng để phân biệt tính chất của bệnh. Biểu lý dùng để phân biệt vị trí bệnh và mức độ nông sâu của bệnh thế. Hư thực dùng để phân biệt sự thịnh suy của tà khí và chính khí.
Âm dương là tổng cương để phân loại bệnh. Từ phương diện tổng quát, cũng là phương diện căn bản nhất, âm dương giúp phân biệt bệnh thuộc âm hay thuộc dương, qua đó xác định hướng điều trị chung.
BIỆN CHỨNG — 辨证
Biện chứng bao gồm biện chứng bệnh nhân, biện chứng khí huyết tân dịch, biện chứng tạng phủ, biện chứng kinh lạc, biện chứng lục kinh, biện chứng vệ khí dinh huyết và biện chứng tam tiêu.
Mỗi phương pháp biện chứng có đặc điểm và phạm vi ứng dụng riêng, đồng thời có mối liên hệ với các phương pháp khác. Tất cả đều được triển khai sâu hơn trên cơ sở biện chứng bát cương.
CHẨN ĐOÁN VÀ BỆNH ÁN — 诊断与病案
Chẩn đoán gồm hai mặt: chẩn đoán những bệnh thường gặp và chẩn đoán chứng hậu.
Chẩn đoán bệnh, gọi tắt là chẩn bệnh, là khái quát bệnh mà người bệnh mắc phải và xác định tên bệnh thích hợp.
Chẩn đoán chứng hậu, tức biện chứng, là nhận định chứng hậu của bệnh ở một giai đoạn nhất định.
Bệnh án, xưa gọi là “chẩn tịch”(诊籍), còn gọi là “y án”(医案), là bản ghi chép trung thực về thực tế lâm sàng. Bệnh án phải ghi lại đầy đủ, đúng thực tế những thông tin về bệnh tình, bệnh sử, quá trình điều trị và kết quả điều trị của người bệnh.
Đây là một bộ phận quan trọng của nghiên cứu lâm sàng, cung cấp tư liệu cho việc phân tích và thống kê bệnh án, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu quản lý bệnh viện cùng những hoạt động nghiên cứu khoa học liên quan.
Vì vậy, tất cả các chuyên khoa lâm sàng đều cần có hồ sơ bệnh sử và bệnh án được ghi chép đầy đủ.
Trường Xuân biên soạn
VỌNG CHẨN — 望诊
Vọng chẩn là phương pháp người thầy thuốc dùng thị giác để quan sát có mục đích tất cả những biểu hiện có thể nhìn thấy ở toàn thân, từng bộ phận của cơ thể và các chất thải ra ngoài, nhằm tìm hiểu tình trạng sức khỏe hoặc bệnh tật.
Nội dung chủ yếu của vọng chẩn gồm quan sát thần, sắc, hình, thái, hình thái lưỡi, lạc mạch, da, ngũ quan, cửu khiếu; đồng thời xem xét hình dạng, màu sắc, tính chất và lượng của các chất bài tiết, dịch tiết.
Phần vọng chẩn được trình bày theo năm nội dung: vọng chẩn toàn thể, vọng chẩn cục bộ, quan sát lưỡi, quan sát các chất thải ra ngoài và quan sát chỉ văn ở trẻ nhỏ.
Thiệt chẩn và chẩn đoán qua sắc mặt tuy thuộc phạm vi quan sát đầu mặt, ngũ quan, nhưng theo lý luận Trung y, hình thái lưỡi và sắc mặt phản ánh tương đối chính xác bệnh biến của nội tạng, có giá trị ứng dụng cao. Vì vậy, hai nội dung này đã phát triển thành những phương pháp chẩn đoán truyền thống đặc trưng của Trung y và được trình bày thành các mục riêng.
Trường Xuân biên soạn
VỌNG CHẨN TOÀN THỂ — 整体望诊
Vọng chẩn toàn thể là thông qua việc quan sát những biến đổi về thần, sắc, hình và thái của toàn thân để tìm hiểu bệnh tình.
VỌNG THẦN — 望神
Vọng thần là quan sát những biểu hiện bên ngoài của hoạt động sống, tức xem xét trạng thái tinh thần và trạng thái chức năng của cơ thể.
Thần là tên gọi chung của hoạt động sống, có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, thần chỉ toàn bộ biểu hiện bên ngoài của hoạt động sống trong cơ thể; có thể nói thần chính là sự sống. Theo nghĩa hẹp, thần chỉ hoạt động tinh thần của con người; có thể nói thần chính là tinh thần. Vọng thần cần bao gồm cả hai phương diện này.
Thần là hoạt động chức năng lấy tinh khí làm cơ sở vật chất, là biểu hiện ra bên ngoài của hoạt động ngũ tạng. Vọng thần giúp nhận biết sự thịnh suy của tinh khí ngũ tạng, mức độ nặng nhẹ của bệnh và tiên lượng.
Khi vọng thần, cần chú trọng quan sát tinh thần, ý thức, nét mặt, động tác, khả năng phản ứng của người bệnh; đặc biệt phải lưu ý những thay đổi của ánh mắt. Nội dung vọng thần gồm đắc thần, thất thần, giả thần; ngoài ra còn có thần khí bất túc và thần chí bất thường.
ĐẮC THẦN — 得神
Đắc thần còn gọi là hữu thần, biểu hiện tinh đầy, khí đủ, thần vượng. Trong khi mắc bệnh, đắc thần cho thấy tuy có bệnh nhưng chính khí chưa bị tổn thương, thường biểu thị bệnh nhẹ và tiên lượng tốt.
Biểu hiện của đắc thần là thần chí tỉnh táo, lời nói rõ ràng; sắc mặt tươi nhuận, ánh sắc hàm súc; nét mặt tự nhiên, biểu cảm phong phú; ánh mắt sáng, thần thái chứa ở bên trong; phản ứng nhanh nhạy, động tác linh hoạt, tư thế tự nhiên; hô hấp đều đặn, cơ bắp chưa teo gầy.
THẤT THẦN — 失神
Thất thần còn gọi là vô thần, biểu hiện tinh tổn, khí suy, thần giảm. Bệnh đến mức này đã thuộc tình trạng nặng, tiên lượng không tốt.
Biểu hiện của thất thần là tinh thần suy sụp, lời nói không rõ; hoặc thần trí hôn mê, nói sảng, lần sờ áo và giường, đưa tay bắt trong khoảng không như nhặt hoặc gỡ sợi chỉ; hoặc đột nhiên ngã xuống, mắt nhắm, miệng há.
Sắc mặt tối xạm, nét mặt thờ ơ hoặc đờ đẫn; mắt mờ, ánh nhìn không rõ, nhãn thần ngây dại; phản ứng chậm, động tác mất linh hoạt, phải giữ một tư thế bắt buộc do bệnh; hơi thở yếu hoặc thở gấp; cơ bắp toàn thân hao mòn rõ rệt.
GIẢ THẦN — 假神
Giả thần là hiện tượng tinh thần tạm thời có vẻ khá lên ở người bệnh đang nguy kịch. Đây là dấu hiệu báo trước tình trạng cuối đời, không phải dấu hiệu tốt.
Người mắc bệnh lâu ngày hoặc bệnh nặng vốn đã thất thần, nhưng đột nhiên tinh thần khá lên, ánh mắt sáng hơn, nói liên tục, muốn gặp người thân. Hoặc trước đó tiếng nói nhỏ yếu, đứt quãng, nay bỗng trở nên vang rõ. Hoặc sắc mặt vốn tối xạm, đột nhiên hai gò má đỏ như thoa phấn. Hoặc trước đó hoàn toàn không muốn ăn, nay bỗng thèm ăn hơn.
Điểm khác biệt giữa giả thần và bệnh thực sự thuyên giảm là giả thần xuất hiện tương đối đột ngột; sự “khá lên” không phù hợp với toàn bộ bệnh tình, chỉ xảy ra ở một số biểu hiện và trong thời gian ngắn. Trái lại, khi từ vô thần chuyển thành hữu thần do bệnh thuyên giảm, toàn bộ bệnh tình cùng cải thiện và có quá trình chuyển biến dần dần.
Theo lý luận Trung y, giả thần xuất hiện vì tinh khí đã suy kiệt đến cực độ, âm không thu liễm được dương, dương khí suy yếu không còn nơi nương tựa nên thoát ra ngoài, tạo thành vẻ “khá lên” nhất thời.
Đây là dấu hiệu nguy hiểm của tình trạng âm dương sắp lìa nhau. Người xưa ví như “tàn đăng phục minh”(残灯复明)— ngọn đèn sắp tắt bỗng sáng lại — hoặc “hồi quang phản chiếu”(回光反照)— ánh sáng lóe lên lần cuối.
THẦN KHÍ BẤT TÚC — 神气不足
Thần khí bất túc là biểu hiện thất thần ở mức độ nhẹ, khác với trạng thái thất thần chủ yếu về mức độ. Tình trạng này nằm giữa hữu thần và vô thần, thường gặp ở người có hư chứng nên tương đối phổ biến.
Biểu hiện lâm sàng gồm tinh thần kém phấn chấn, hay quên, buồn ngủ, mệt mỏi; tiếng nói nhỏ, ngại nói; uể oải, thiếu sức, động tác chậm chạp. Theo biện chứng Trung y, phần nhiều thuộc tâm tỳ lưỡng hư hoặc thận dương bất túc.
THẦN CHÍ BẤT THƯỜNG — 神志异常
Thần chí bất thường cũng là một dạng biểu hiện thất thần, nhưng về bản chất khác với thất thần do tinh khí suy kiệt. Nội dung này thường gồm phiền táo bất an, điên bệnh, cuồng bệnh và giản bệnh.
Những trạng thái ấy có bệnh cơ và quy luật phát bệnh riêng; biểu hiện thất thần trong các trường hợp này không nhất thiết đồng nghĩa với tình trạng tinh khí suy kiệt hoặc bệnh đã đến giai đoạn nguy kịch.
Phiền táo bất an là cảm giác trong lòng bứt rứt, nóng nảy, không yên, kèm tay chân cựa quậy, khó giữ yên.
Phiền và táo khác nhau. Phiền là triệu chứng do người bệnh tự cảm nhận, như khó chịu, bứt rứt trong lòng. Táo là biểu hiện người khác có thể quan sát, như kích động, cử động không yên.
Theo Trung y, tình trạng này thường liên quan đến hỏa ở tâm kinh, có thể gặp trong các chứng tà nhiệt uất ở bên trong, đàm hỏa nhiễu tâm hoặc âm hư hỏa vượng.
Điên bệnh(癫病)biểu hiện bằng thái độ thờ ơ, ít nói, buồn bã, tinh thần trì độn, lẩm bẩm một mình hoặc khóc cười thất thường. Phần nhiều do đàm khí uất kết, che lấp thần minh; cũng có trường hợp do thần không giữ được nơi cư trú, tâm tỳ lưỡng hư.
Cuồng bệnh(狂病)thường biểu hiện bằng kích động dữ dội, giận dữ chửi mắng, đánh người, phá đồ vật, hành động bừa bãi không ngừng, ngủ ít mà không thấy đói; nặng hơn có thể trèo lên cao ca hát hoặc cởi bỏ quần áo rồi chạy đi. Phần nhiều do can uất hóa hỏa, đàm hỏa bốc lên quấy nhiễu thần minh.
Giản bệnh(痫病)biểu hiện bằng đột nhiên ngã xuống bất tỉnh, miệng sùi bọt, tứ chi co giật, sau khi tỉnh lại trở về trạng thái như thường. Theo Trung y, phần nhiều do can phong mang theo đàm bốc lên, che lấp thanh khiếu; hoặc do đàm hỏa nhiễu tâm, làm phát động can phong.
VỌNG SẮC — 望色
Vọng sắc là phương pháp người thầy thuốc quan sát màu sắc và độ sáng nhuận trên mặt người bệnh. Màu sắc chỉ sự thay đổi sắc độ; độ sáng nhuận chỉ sự thay đổi về độ sáng và vẻ nhuận của da.
Người xưa chia màu sắc thành năm loại: xanh, đỏ, vàng, trắng và đen, gọi là ngũ sắc chẩn. Phạm vi quan sát ngũ sắc gồm cả mặt và toàn thân, vì vậy có ngũ sắc chẩn ở mặt và ngũ sắc chẩn toàn thân.
Tuy nhiên, sự thay đổi của ngũ sắc thường biểu hiện rõ nhất trên mặt, nên nội dung ngũ sắc chẩn thường được trình bày thông qua việc quan sát sắc mặt.
Khi quan sát sắc mặt, cần phân biệt thường sắc và bệnh sắc.
THƯỜNG SẮC — 常色
Thường sắc là màu sắc và độ sáng nhuận của mặt trong trạng thái sinh lý bình thường. Thường sắc gồm chủ sắc và khách sắc.
Chủ sắc(主色)là màu da và sắc mặt cơ bản tương đối ổn định trong suốt đời người. Do khác biệt về dân tộc, bẩm chất và thể chất, màu da của mỗi người không hoàn toàn giống nhau.
Theo cách mô tả của bản gốc về người Trung Quốc, màu da nhìn chung hơi vàng, nên người xưa xem sắc hơi vàng là chính sắc. Trên nền ấy, từng người có thể có sắc da hơi trắng, sẫm hơn hoặc hơi đỏ.
Khách sắc(客色)là sự thay đổi màu da và sắc mặt tương ứng với biến đổi của môi trường tự nhiên và điều kiện sinh hoạt.
Chẳng hạn, sắc mặt có thể thay đổi theo bốn mùa, ngày đêm, trời nắng hoặc âm u. Những thay đổi về tuổi tác, ăn uống, sinh hoạt, nóng lạnh và cảm xúc cũng có thể làm sắc mặt thay đổi, đều thuộc phạm vi khách sắc.
Nhìn chung, tuy thường sắc có chủ sắc và khách sắc, đặc điểm chung vẫn là sáng nhuận, ánh sắc hàm súc, không lộ rõ một cách bất thường.
BỆNH SẮC — 病色
Bệnh sắc là màu sắc và độ sáng nhuận của mặt khi cơ thể mắc bệnh. Ngoài những biến đổi thuộc thường sắc đã nói trên, các màu sắc khác thường được xếp vào bệnh sắc.
Bệnh sắc gồm năm loại: xanh, vàng, đỏ, trắng và đen. Ý nghĩa chủ bệnh của từng sắc được trình bày dưới đây.
SẮC XANH — 青色
Theo Trung y, sắc xanh chủ hàn chứng, đau, huyết ứ, kinh phong và bệnh ở can.
Sắc xanh biểu thị kinh mạch bị trở ngại, khí huyết không thông. Hàn có tính co rút và ngưng trệ. Khi hàn thịnh lưu lại trong huyết mạch, khí trệ, huyết ứ làm sắc mặt chuyển xanh.
Khí huyết trong kinh mạch không thông thì gây đau, vì vậy đau cũng có thể đi kèm sắc xanh. Khi can mất chức năng sơ tiết, khí trệ, huyết ứ, sắc mặt cũng thường xanh. Nếu bệnh ở can khiến huyết không nuôi dưỡng được cân, can phong có thể nội động; vì vậy, trong kinh phong hoặc khi sắp phát kinh phong, sắc mặt cũng có thể xanh.
Mặt xanh đen hoặc trắng nhợt pha xanh nhạt, phần nhiều thuộc âm hàn thịnh ở bên trong.
Mặt xanh xám, môi xanh tím, phần nhiều thuộc tâm huyết ứ trở, huyết vận hành không thông.
Trẻ nhỏ sốt cao, sắc mặt xanh tím, rõ ở sống mũi, khoảng giữa hai đầu lông mày và quanh môi, được bản gốc xem là dấu hiệu báo trước kinh phong.
SẮC VÀNG — 黄色
Sắc vàng chủ thấp chứng và hư chứng.
Sắc vàng là biểu hiện của tỳ hư, thấp tích tụ. Tỳ chủ vận hóa; khi tỳ mất kiện vận, thủy thấp không được chuyển hóa. Hoặc khi tỳ hư, vận hóa suy giảm, tinh vi của thức ăn không được chuyển thành khí huyết, khiến da thịt không được nuôi dưỡng đầy đủ, từ đó xuất hiện sắc vàng.
Sắc mặt vàng nhạt, tiều tụy gọi là nuy hoàng(萎黄), phần nhiều do khí của tỳ vị hư, dinh huyết không thể đưa lên nuôi dưỡng vùng mặt.
Sắc mặt vàng kèm vẻ phù gọi là hoàng bàng(黄胖), phần nhiều do tỳ hư mất vận hóa, thấp tà đình lưu bên trong.
Sắc vàng tươi như màu vỏ quýt thuộc dương hoàng(阳黄), do thấp nhiệt hun bốc.
Sắc vàng tối xạm như bị khói ám thuộc âm hoàng(阴黄), do hàn thấp uất trở.
SẮC ĐỎ — 赤色
Sắc đỏ chủ nhiệt chứng.
Khí huyết gặp nhiệt thì vận hành mạnh hơn; nhiệt thịnh làm huyết mạch đầy, huyết sắc hiện lên trên mặt, vì vậy mặt đỏ.
Nhiệt chứng có hư nhiệt và thực nhiệt. Trong thực nhiệt, toàn mặt thường đỏ. Trong hư nhiệt, thường chỉ hai gò má ửng đỏ.
Ngoài ra, khi bệnh tình nguy kịch mà mặt đỏ như thoa phấn, phần nhiều thuộc đới dương chứng(戴阳证). Theo lý luận Trung y, tình trạng này do tinh khí suy kiệt, âm không thu liễm được dương, hư dương vượt lên trên.
SẮC TRẮNG — 白色
Sắc trắng chủ hư hàn và huyết hư.
Sắc trắng biểu thị khí huyết suy yếu, không đủ sức nuôi dưỡng cơ thể. Dương khí bất túc khiến khí huyết vận hành yếu; hoặc khí hao, mất huyết làm khí huyết không đầy đủ, huyết mạch trống thiếu, đều có thể khiến sắc mặt trắng.
Mặt trắng sáng nhợt, kèm vẻ phù, phần nhiều do dương khí bất túc.
Mặt trắng nhạt, hình thể gầy, phần nhiều thuộc dinh huyết hao tổn.
Mặt trắng bệch, phần nhiều gặp trong dương khí hư thoát hoặc mất máu quá nhiều.
SẮC ĐEN — 黑色
Sắc đen chủ thận hư, thủy ẩm, hàn chứng, đau và huyết ứ.
Theo Trung y, sắc đen biểu thị âm hàn và thủy thịnh. Thận dương hư suy khiến thủy ẩm không được chuyển hóa, khí hóa không vận hành, âm hàn thịnh bên trong. Huyết không được ôn dưỡng, kinh mạch co rút, khí huyết không thông, làm sắc mặt đen sẫm.
Mặt đen, khô xạm, phần nhiều do thận tinh hao tổn lâu ngày, hư hỏa thiêu đốt âm.
Vùng quanh hốc mắt có sắc đen thường gặp trong thủy ẩm do thận hư, thủy tràn.
Mặt xanh đen kèm đau dữ dội, phần nhiều do hàn ngưng, huyết ứ gây trở tắc.
VỌNG HÌNH THỂ — 望形体
Vọng hình thể là quan sát diện mạo tổng thể của cơ thể, gồm khỏe hay yếu, béo hay gầy, đặc điểm vóc dáng, thân mình, tứ chi, da, thịt, cân và xương.
Theo Trung y, các tổ chức hình thể có mối liên hệ bên trong với ngũ tạng, nên quan sát hình thể có thể giúp suy biết sự thịnh suy của tinh khí nội tạng. Bên trong sung thịnh thì bên ngoài khỏe mạnh; bên trong suy yếu thì bên ngoài yếu nhược.
Hình thể có thể phân thành khỏe, yếu, béo và gầy.
Người có hình thể khỏe mạnh thường có xương lớn, lồng ngực rộng và dày, cơ bắp chắc khỏe, da nhuận. Những biểu hiện này cho thấy tinh khí tạng phủ đầy đủ. Tuy mắc bệnh, chính khí vẫn còn sung túc, nên tiên lượng thường tốt.
Người có hình thể yếu thường có xương nhỏ, lồng ngực hẹp, cơ bắp gầy, da khô. Những biểu hiện này cho thấy tinh khí tạng phủ bất túc, cơ thể yếu, dễ mắc bệnh; khi mắc bệnh, tiên lượng thường kém hơn.
Người béo nhưng ăn ít thuộc tình trạng hình thịnh khí hư, thường có da trắng thiếu vẻ tươi, hơi thở yếu, ít sức, tinh thần kém phấn chấn. Những người này còn thường do dương hư, thủy thấp không được chuyển hóa mà thấp tích tụ sinh đàm, nên có câu:
“肥人多湿。”
“Người béo thường nhiều thấp.”
Người gầy mà ăn ít thường thuộc tỳ vị hư nhược.
Hình thể gầy, da khô, thiếu vẻ nhuận, thường kèm hai gò má đỏ, sốt theo cơn, mồ hôi trộm, nóng bứt rứt ở lòng bàn tay, lòng bàn chân và vùng ngực, phần nhiều thuộc âm huyết bất túc, bên trong có hư hỏa. Vì vậy có câu:
“瘦人多火。”
“Người gầy thường nhiều hỏa.”
Nếu nặng đến mức cơ bắp hao mòn rõ rệt, nằm liệt giường không dậy được, đó là biểu hiện nguy hiểm của tinh khí tạng phủ suy kiệt.
VỌNG TƯ THÁI — 望姿态
Tư thế bình thường là thoải mái, tự nhiên, vận động linh hoạt, phản ứng nhanh nhạy; đi, đứng, ngồi, nằm đều thuận theo ý muốn và thích hợp.
Khi mắc bệnh, do sự thịnh suy của âm dương, khí huyết, tư thế cũng xuất hiện những thay đổi bất thường. Các bệnh khác nhau có thể tạo ra những tư thế bệnh lý khác nhau.
Vọng tư thái chủ yếu là quan sát trạng thái động và tĩnh, những động tác bất thường và những thay đổi tư thế liên quan đến bệnh.
Nếu mí mắt, mặt, môi, ngón tay hoặc ngón chân thỉnh thoảng rung giật, trong bệnh ngoại cảm thường được xem là dấu hiệu báo trước co giật; trong nội thương tạp bệnh, phần nhiều thuộc huyết hư, âm khuy, kinh mạch mất nuôi dưỡng.
Tứ chi co giật hoặc co rút, cổ lưng cứng, người ưỡn cong như cung thuộc kính bệnh(痉病). Tình trạng này thường gặp trong can phong nội động do nhiệt cực sinh phong, co giật do sốt cao ở trẻ nhỏ, ôn bệnh có nhiệt nhập dinh huyết; cũng có thể gặp khi khí huyết bất túc, cân mạch mất nuôi dưỡng.
Ngoài ra, giản chứng, uốn ván và bệnh dại cũng có thể gây co giật, co cứng.
Run rét thường gặp khi sốt rét phát cơn, hoặc trong ngoại cảm khi tà khí và chính khí giao tranh, báo trước hiện tượng chiến hãn, tức run rét rồi ra mồ hôi.
Tay chân mềm yếu, thiếu sức, vận động kém linh hoạt nhưng không đau gọi là nuy chứng(痿证).
Khớp sưng hoặc đau, khiến vận động chi thể khó khăn gọi là tý chứng(痹证).
Tứ chi không vận động được, tê mất cảm giác, hoặc co rút, hoặc mềm yếu, đều thuộc biểu hiện liệt.
Đột nhiên ngã xuống bất tỉnh nhưng vẫn còn tự thở, phần nhiều được xếp vào quyết chứng(厥证)。
TƯ THẾ LIÊN QUAN ĐẾN ĐAU
Đau cũng có những tư thế đặc trưng.
Lấy tay giữ bụng, khi đi người nghiêng về trước, cúi gập thắt lưng và lưng, phần nhiều do đau bụng.
Lấy tay giữ thắt lưng, lưng và eo cứng, xoay trở khó khăn, không thể cúi hoặc ngửa, phần nhiều do đau thắt lưng và chân.
Đang đi bỗng dừng lại, lấy tay giữ vùng trước tim, không dám tiếp tục vận động, phần nhiều được bản gốc xếp vào chân tâm thống(真心痛).
Nhíu trán, ôm đầu, phần nhiều do đau đầu.
TƯ THẾ LIÊN QUAN ĐẾN HÀN NHIỆT
Người bệnh co ro, mặc nhiều áo thường sợ lạnh, thích ấm; nếu không thuộc biểu hàn thì thuộc lý hàn.
Người bệnh thường muốn bỏ áo hoặc tung chăn cho thấy sợ nóng, thích mát; nếu không thuộc biểu nhiệt thì thuộc lý nhiệt.
Cúi đầu, sợ ánh sáng, phần nhiều do bệnh ở mắt. Ngẩng đầu, thích ánh sáng, phần nhiều gặp trong nhiệt bệnh.
Theo mô tả của bản gốc, người có dương chứng thường thích mát, muốn gặp người; người có âm chứng thường thích ấm, muốn đóng cửa ở một mình, không thích nghe tiếng người.
QUAN SÁT TƯ THẾ NGỒI
Ngồi mà thích cúi người về trước, phần nhiều thuộc phế hư, khí ít.
Ngồi mà thích ngửa người ra sau, phần nhiều thuộc phế thực, khí nghịch.
Chỉ ngồi được mà không nằm được, nằm xuống thì khí nghịch, phần nhiều gặp trong ho suyễn, phế trướng hoặc thủy ẩm đình lưu ở ngực, bụng.
Chỉ chịu được tư thế nằm, không chịu được tư thế ngồi; khi ngồi thì mệt lả hoặc choáng váng, phần nhiều thuộc khí huyết lưỡng hư hoặc mất huyết, hao khí nghiêm trọng.
Ngồi mà không muốn đứng dậy, phần nhiều do dương khí hư.
Ngồi nằm không yên là biểu hiện phiền táo, hoặc do bụng đầy trướng và đau.
QUAN SÁT TƯ THẾ NẰM
Khi nằm thường quay mặt ra ngoài, thân nhẹ, có thể tự xoay trở, theo bản gốc thuộc dương chứng, nhiệt chứng hoặc thực chứng.
Ngược lại, khi nằm thích quay mặt vào trong, thân nặng, khó tự xoay trở, phần nhiều thuộc âm chứng, hàn chứng hoặc hư chứng.
Nếu bệnh nặng đến mức không thể tự trở mình, phần nhiều cho thấy khí huyết đã suy bại nghiêm trọng, tiên lượng không tốt.
Nằm cuộn người thành một khối, phần nhiều do dương hư, sợ lạnh hoặc đau dữ dội.
Ngược lại, nằm ngửa, duỗi chân, theo bản gốc thuộc dương chứng, nhiệt thịnh, sợ nóng.
Trường Xuân biên soạn
VỌNG CHẨN CỤC BỘ — 局部望诊
Vọng chẩn cục bộ, còn gọi là vọng chẩn từng bộ phận, là trên cơ sở vọng chẩn toàn thể, căn cứ vào bệnh tình hoặc yêu cầu chẩn đoán để quan sát có trọng tâm và kỹ lưỡng một số bộ phận của cơ thể.
Vì bệnh biến của toàn thể có thể phản ánh tại một bộ phận, nên quan sát cục bộ giúp tìm hiểu tình trạng bệnh biến của toàn thân.
VỌNG ĐẦU VÀ MẶT — 望头面部
Quan sát đầu
Quan sát đầu chủ yếu là xem hình dạng, trạng thái vận động của đầu, màu sắc và tính chất của tóc, cùng tình trạng rụng tóc, nhằm tìm hiểu bệnh biến liên quan đến não, thận và sự thịnh suy của khí huyết.
Hình dạng đầu
Trẻ có đầu quá lớn hoặc quá nhỏ, kèm trí tuệ phát triển kém, theo Trung y phần nhiều do tiên thiên bất túc, thận tinh hư tổn. Đầu quá lớn có thể do não úng thủy.
Khi quan sát đầu trẻ nhỏ, đặc biệt cần xem xét thóp.
Thóp lõm gọi là tín hãm(囟陷), thuộc hư chứng do tân dịch tổn thương, não tủy bất túc.
Thóp phồng cao gọi là tín điền(囟填), phần nhiều do nhiệt tà quá thịnh, gặp khi có bệnh ở não tủy.
Thóp chậm khép gọi là giải lô(解颅), biểu hiện thận khí bất túc, phát triển kém.
Dù ở người lớn hay trẻ nhỏ, đầu lắc mà không tự chủ được, theo Trung y đều là dấu hiệu can phong nội động.
Quan sát tóc
Tóc bình thường thường dày, có màu phù hợp với đặc điểm tự nhiên của người đó và có độ bóng nhuận. Theo mô tả của bản gốc, tóc đen, dày và nhuận biểu thị thận khí sung thịnh; tóc thưa, chậm mọc biểu thị thận khí hư.
Tóc vàng, khô xơ hoặc rụng tóc trong bệnh kéo dài, phần nhiều thuộc tinh huyết bất túc.
Tóc đột ngột rụng thành từng mảng, theo Trung y được quy về huyết hư, phong xâm phạm.
Thanh thiếu niên rụng tóc, phần nhiều được quy về thận hư hoặc huyết nhiệt.
Người trẻ tóc bạc, kèm hay quên, lưng gối mỏi yếu, thuộc thận hư. Nếu không có biểu hiện bệnh khác thì không nhất thiết là bệnh trạng.
Tóc trẻ nhỏ kết thành từng túm như bông lúa thường gặp trong cam tích.
Quan sát mặt
Thần sắc của mặt đã được trình bày ở phần trước. Phần này chủ yếu nói về những thay đổi hình dạng của mặt.
Mặt sưng thường gặp trong bệnh phù.
Một hoặc hai bên vùng mang tai đột nhiên sưng, dần to lên, đau và không chịu được khi ấn, thường kèm họng sưng đau hoặc nghe kém, phần nhiều thuộc ôn độc, gặp trong trá tai(痄腮), tức quai bị.
Miệng và mắt lệch trên mặt, theo Trung y được xếp vào biểu hiện trúng phong.
Nét mặt kinh hãi thường gặp ở trẻ bị kinh phong hoặc người mắc bệnh dại.
Nét mặt như cười gượng gặp ở người mắc uốn ván.
VỌNG NGŨ QUAN — 望五官
Vọng ngũ quan là quan sát mắt, mũi, tai, môi, miệng, răng, lợi, họng và những cơ quan liên quan ở đầu mặt. Những thay đổi bất thường của các bộ phận này giúp tìm hiểu bệnh biến tạng phủ theo lý luận Trung y.
QUAN SÁT MẮT — 望目
Quan sát mắt chủ yếu là xem thần, sắc, hình và thái của mắt.
Thần của mắt
Hai mắt có thần hay không là trọng điểm của vọng thần.
Nhìn rõ sự vật, ánh mắt sáng, thần thái hàm súc, biểu thị mắt có thần.
Lòng trắng đục, phần lòng đen tối, ánh mắt mất vẻ linh hoạt, ánh nhìn nổi lộ mà không hàm súc, biểu thị mắt vô thần.
Màu sắc của mắt
Khóe mắt đỏ, theo Trung y thuộc tâm hỏa.
Lòng trắng đỏ thuộc phế hỏa.
Lòng trắng xuất hiện những mạch đỏ thuộc âm hư hỏa vượng.
Da mi mắt đỏ, sưng, ẩm và loét thuộc tỳ hỏa.
Toàn mắt đỏ, sưng, có ghèn, gặp gió thì chảy nước mắt, thuộc phong nhiệt ở can kinh.
Khóe mắt nhợt trắng biểu thị huyết hư.
Lòng trắng chuyển vàng là dấu hiệu vàng da.
Quanh hốc mắt có sắc đen, theo Trung y có thể gặp trong thủy ẩm do thận hư, thủy tràn, hoặc trong bệnh đới hạ do hàn thấp hạ chú.
Hình dạng mắt
Mi mắt hơi sưng, có hình như con tằm nằm, được xem là biểu hiện phù mới phát.
Người cao tuổi có mi dưới phù, phần nhiều thuộc thận khí hư suy.
Hốc mắt trũng biểu thị âm dịch hao tổn hoặc tinh khí suy kiệt.
Nhãn cầu lồi kèm thở gấp, theo bản gốc thuộc phế trướng. Mắt lồi kèm cổ sưng thuộc anh thũng(瘿肿).
Trạng thái mắt
Mắt nhìn ngược lên trên, không chuyển động được, gọi là đới nhãn phản chiết(戴眼反折), thường gặp trong kinh phong, co giật kèm bất tỉnh hoặc những chứng nặng do tinh thoát, thần suy.
Mắt nhìn lệch ngang biểu thị can phong nội động.
Mi mắt sụp gọi là kiểm phế(睑废). Hai mi cùng sụp, phần nhiều thuộc kiểm phế bẩm sinh, theo Trung y do tiên thiên bất túc, tỳ thận lưỡng hư.
Một mi sụp hoặc hai mi sụp không đều, phần nhiều thuộc kiểm phế mắc phải, được giải thích là do tỳ khí hư hoặc khí huyết không điều hòa sau chấn thương, mạch lạc không được thông suốt.
Bản gốc xem đồng tử giãn trong bối cảnh bệnh nguy kịch là biểu hiện thận tinh hao kiệt, có thể báo hiệu tình trạng cận tử.
QUAN SÁT MŨI — 望鼻
Quan sát mũi chủ yếu là xem màu sắc, hình dạng và những thay đổi của dịch tiết.
Màu sắc và độ nhuận của mũi
Mũi sáng nhuận biểu thị vị khí chưa tổn thương hoặc đang hồi phục sau bệnh.
Đầu mũi đỏ là dấu hiệu phế nhiệt.
Đầu mũi trắng biểu thị khí hư, huyết ít.
Đầu mũi vàng biểu thị bên trong có thấp nhiệt.
Đầu mũi xanh thường liên quan đến đau bụng.
Đầu mũi hơi đen biểu thị thủy khí đình lưu bên trong.
Đầu mũi khô héo biểu thị tỳ vị hư suy, vị khí không thể đưa lên nuôi dưỡng.
Lỗ mũi khô thuộc âm hư nội nhiệt hoặc táo tà phạm phế.
Mũi khô kèm chảy máu, theo Trung y phần nhiều do dương quá thịnh ở phần trên.
Hình dạng mũi
Đầu mũi hoặc vùng mũi đỏ, có sẩn, thường thuộc tửu tra tỵ(酒糟鼻). Theo Trung y, bệnh này do vị hỏa hun phế, huyết ứ đọng ở phế lạc.
Trong lỗ mũi mọc khối thịt nhỏ, làm bít tắc và khó thở qua mũi, gọi là tỵ trĩ(鼻痔), phần nhiều được quy về phong nhiệt ở phế kinh ngưng trệ.
Cánh mũi phập phồng liên tục, kèm thở gấp, gọi là tỵ phiến(鼻煽).
Trong bệnh kéo dài, cánh mũi phập phồng được xem là biểu hiện nguy hiểm do tinh khí phế thận hư suy. Trong bệnh mới phát, phần nhiều được quy về phế nhiệt.
Dịch tiết của mũi
Chảy nước mũi trong thuộc ngoại cảm phong hàn.
Chảy nước mũi đục thuộc ngoại cảm phong nhiệt.
Nước mũi đục, có mùi tanh hôi, thuộc tỵ uyên(鼻渊), phần nhiều do ngoại cảm phong nhiệt hoặc nhiệt tích ở đởm kinh.
QUAN SÁT TAI — 望耳
Khi quan sát tai, cần chú ý màu sắc, độ nhuận, hình dạng và tình trạng bên trong tai.
Các vùng ở vành tai và mối liên hệ với tạng phủ
Theo hệ thống chẩn đoán được trình bày trong bản gốc, một số vùng nhất định trên vành tai có liên hệ với các bộ phận toàn thân. Sự phân bố được mô tả gần giống một thai nhi nằm ngược trong tử cung, đầu ở dưới, tay chân ở trên.
Khi một bộ phận cơ thể có bệnh, vùng tương ứng ở vành tai có thể xuất hiện sung huyết, đổi màu, sẩn, mụn nước, bong vảy, trợt loét hoặc đau rõ khi ấn. Những biểu hiện này được dùng làm thông tin tham khảo trong chẩn đoán.
Màu sắc và độ nhuận của tai
Tai bình thường có sắc hơi vàng, hồng nhuận.
Toàn tai trắng, theo Trung y phần nhiều thuộc hàn chứng.
Tai xanh đen phần nhiều chủ đau.
Vành tai đen xạm, khô héo, được giải thích là do thận tinh hư tổn nghiêm trọng, tinh không thể đưa lên nuôi dưỡng.
Sau tai có những mạch đỏ, chân tai lạnh, được bản gốc xem là dấu hiệu báo trước bệnh sởi.
Nhìn chung, tai hồng nhuận được xem là tốt. Những màu vàng, trắng, xanh hoặc đen khác thường được xem là bệnh sắc.
Hình dạng tai
Tai có phần thịt đầy, nhuận, theo Trung y biểu thị thận khí tiên thiên đầy đủ.
Vành tai dày, lớn thuộc hình thịnh; vành tai mỏng, nhỏ thuộc hình khuy.
Tai sưng lớn biểu thị tà khí thực; tai gầy mỏng biểu thị chính khí hư.
Tai mỏng, đỏ hoặc đen được quy về thận tinh hao tổn.
Vành tai khô xạm thường gặp trong hạ tiêu chứng(下消证).
Vành tai thô ráp, bong vảy như lớp giáp thường gặp trong bệnh lâu ngày có huyết ứ.
Vành tai teo lại được bản gốc xem là dấu hiệu nguy hiểm của thận khí suy kiệt.
Bệnh biến bên trong tai
Tai chảy mủ gọi là nùng nhĩ(脓耳), theo Trung y do thấp nhiệt ở can đởm tích tụ lâu ngày.
Trong tai mọc khối thịt nhỏ có hình như núm vú dê gọi là nhĩ trĩ(耳痔).
Khối có hình như hạt táo, nhô ra ngoài tai, chạm vào đau gọi là nhĩ đĩnh(耳挺).
Theo Trung y, những tình trạng này được quy về uất hỏa ở can kinh, tướng hỏa ở thận kinh hoặc vị hỏa uất kết.
QUAN SÁT MIỆNG VÀ MÔI — 望口与唇
Khi quan sát miệng và môi, cần chú ý màu sắc, độ nhuận và những thay đổi trong vận động.
Quan sát môi
Ý nghĩa lâm sàng của sắc môi tương tự sắc mặt. Tuy nhiên, vì niêm mạc môi mỏng và tương đối trong, màu sắc thường biểu hiện rõ hơn sắc mặt.
Môi đỏ tươi, nhuận là bình thường.
Môi đỏ sẫm thuộc thực và nhiệt.
Môi đỏ nhạt thường thuộc hư và hàn.
Môi đỏ sẫm, khô xạm biểu thị nhiệt cực, tân dịch bị tổn thương.
Môi đỏ non thuộc âm hư hỏa vượng.
Môi trắng nhạt phần nhiều thuộc khí huyết lưỡng hư.
Môi xanh tím thường biểu thị dương khí hư suy, huyết vận hành uất trệ.
Môi khô, nhăn nứt biểu thị tân dịch đã tổn thương, môi mất sự tư nhuận.
Miệng và môi trợt loét, phần nhiều do tỳ vị tích nhiệt, nhiệt tà gây tổn thương.
Mặt trong môi loét, sắc đỏ nhạt, theo Trung y thuộc hư hỏa bốc lên.
Quanh môi có vết loét hoặc mụn, đỏ, sưng và đau, thuộc tâm tỳ tích nhiệt.
Quan sát hình dạng miệng
Khẩu cấm(口噤)là miệng ngậm chặt, khó há.
Miệng ngậm, không nói, kèm tứ chi co giật, phần nhiều thuộc kính bệnh hoặc kinh phong. Nếu kèm liệt nửa người, theo Trung y thuộc chứng nặng của trúng phong nhập tạng.
Khẩu toát(口撮)là hai môi trên dưới túm chặt lại, thường gặp trong tề phong ở trẻ sơ sinh hoặc uốn ván ở người lớn.
Khẩu tích(口僻)là khóe miệng lệch sang trái hoặc phải, được xếp vào biểu hiện trúng phong.
Khẩu trương(口张)là miệng há mà không khép. Nếu miệng há, chỉ thấy thở ra mà không hít vào, bản gốc xem là dấu hiệu phế khí sắp tuyệt.
QUAN SÁT RĂNG VÀ LỢI — 望齿与龈
Cần chú ý những thay đổi về màu sắc, hình dạng, độ nhuận và độ khô của răng, lợi.
Quan sát răng
Răng nhuận biểu thị tân dịch chưa bị tổn thương.
Răng khô biểu thị vị tân bị tổn thương.
Răng khô như đá biểu thị nhiệt ở vị trường quá thịnh, tân dịch tổn thương nghiêm trọng.
Răng khô như xương khô, theo Trung y biểu thị thận tinh suy kiệt, không thể đưa lên nuôi dưỡng răng.
Răng lung lay, thưa, chân răng lộ, phần nhiều thuộc thận hư hoặc hư hỏa bốc lên.
Trong khi mắc bệnh mà cắn chặt hoặc nghiến răng, được xem là dấu hiệu can phong nội động.
Nghiến răng khi ngủ, theo bản gốc phần nhiều thuộc vị nhiệt hoặc trùng tích.
Răng có lỗ sâu, mục và hôi là sâu răng, thường gọi là “trùng nha”(虫牙).
Quan sát lợi
Lợi hồng, nhuận là bình thường.
Lợi trắng nhạt biểu thị huyết hư, không đủ nuôi dưỡng.
Lợi đỏ, sưng, có thể kèm chảy máu, phần nhiều thuộc vị hỏa bốc lên.
Lợi hơi đỏ, hơi sưng nhưng không đau, hoặc kèm chảy máu ở kẽ răng, phần nhiều thuộc thận âm bất túc, hư hỏa bốc lên.
Lợi trắng nhạt, không sưng đau nhưng kẽ răng chảy máu, theo Trung y thuộc tỳ hư, không nhiếp huyết.
Lợi hoại loét, chảy dịch máu hôi thối, thuộc nha cam(牙疳).
QUAN SÁT HỌNG — 望咽喉
Bệnh ở họng có nhiều biểu hiện. Phần này chỉ giới thiệu những dấu hiệu thông thường có thể quan sát được.
Họng đỏ, sưng và đau, phần nhiều thuộc phế vị tích nhiệt.
Họng đỏ, sưng, loét, có những điểm hoại loét màu vàng trắng, biểu thị nhiệt độc sâu và mạnh.
Họng đỏ tươi, mềm non, sưng đau không nhiều, thuộc âm hư hỏa vượng.
Hai bên họng đỏ, sưng, nhô lên như núm thịt, gọi là nhũ nga(乳蛾), theo Trung y do phế vị nhiệt thịnh, ngoại cảm phong tà kết tụ.
Trong họng có giả mạc màu xám trắng, lau không hết, chà mạnh thì chảy máu và sau đó lại hình thành, là biểu hiện được bản gốc mô tả trong bệnh bạch hầu(白喉). Vì có tính lây truyền, bệnh còn được gọi là dịch hầu(疫喉).
VỌNG THÂN MÌNH — 望躯体
Vọng thân mình gồm quan sát cổ gáy, ngực, bụng, thắt lưng, lưng và tiền âm, hậu âm.
QUAN SÁT CỔ GÁY — 望颈项部
Cổ gáy là phần nối đầu với thân mình. Phần phía trước gọi là cảnh, phần phía sau gọi là hạng. Khi quan sát cần chú ý hình dạng và trạng thái vận động.
Thay đổi hình dạng
Ở phía trước cổ, vùng quanh yết hầu, có khối sưng di chuyển theo động tác nuốt, da không đổi màu, không đau, kéo dài khó tiêu và không vỡ loét, gọi là cảnh anh(颈瘿), thường gọi là bướu cổ.
Ở bên cổ hoặc dưới hàm có những khối nổi thành chuỗi như hạt, da không đổi màu, lúc đầu có thể đau, gọi là loa lịch(瘰疬).
Thay đổi vận động
Cổ gáy mềm yếu, thiếu sức gọi là hạng nhuyễn(项软).
Gáy cứng, khó cúi về trước hoặc xoay sang hai bên gọi là hạng cường(项强).
Sau khi ngủ dậy, cổ gáy cứng, vận động khó gọi là lạc chẩm(落枕).
Cổ gáy cứng, người ưỡn cong như cung, theo Trung y phần nhiều thuộc can phong nội động.
QUAN SÁT NGỰC — 望胸部
Ngực là phần thân mình dưới xương đòn và trên cơ hoành. Quan sát ngực chủ yếu là xem những thay đổi hình dạng.
Bình thường, hai bên ngực cân đối, cử động thuận lợi khi thở.
Ở trẻ nhỏ, lồng ngực nhô ra trước và ra ngoài thành dị dạng gọi là kê hung(鸡胸), tức ngực gà. Theo Trung y, phần nhiều do tiên thiên bất túc, hậu thiên mất điều hòa, xương không được nuôi dưỡng đầy đủ.
Ngực có hình như thùng, kèm ho, thở gấp và gầy, được bản gốc giải thích là do phong tà, đàm nhiệt làm phế khí bế tắc.
Vùng liên sườn căng đầy, ho thì đau lan hoặc đau tăng, thường gặp trong huyền ẩm(悬饮), do thủy ẩm đình lưu ở ngực sườn.
Ở vùng sườn có những chỗ cứng nhô lên, nối nhau như chuỗi hạt, gặp trong bệnh còi xương. Theo Trung y, do thận tinh bất túc, xương không chắc, mềm và biến dạng.
Vú đỏ, sưng tại chỗ, thậm chí vỡ loét, chảy mủ, gọi là nhũ ung(乳痈), phần nhiều được quy về can mất sơ tiết, sữa không thông, nhũ lạc bế tắc.
QUAN SÁT BỤNG — 望腹部
Bụng là phần thân mình dưới cơ hoành và trên khung chậu. Vọng bụng chủ yếu là xem những thay đổi hình dạng.
Da bụng căng, bụng phình lớn như trống thuộc chứng cổ trướng(臌胀).
Bụng đều nhô cao khi đứng và nằm, ấn không cứng, theo cách phân loại của bản gốc thuộc khí cổ(气臌).
Khi đứng bụng phình lớn, khi nằm bụng dàn phẳng hơn và bè sang hai bên, thuộc thủy cổ(水臌).
Bụng lõm như chiếc thuyền gọi là phúc ao(腹凹), thường gặp ở người bệnh lâu ngày, nguyên khí tỳ vị hao tổn nặng; hoặc trong bệnh mới phát có âm dịch hao tổn, không đủ nuôi dưỡng hình thể.
Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, rốn có khối lồi, da căng bóng, gọi là tề đột(脐突), còn gọi là tề sán(脐疝), tức thoát vị rốn.
QUAN SÁT LƯNG — 望背部
Lưng là phần phía sau thân mình, từ gáy đến thắt lưng. Quan sát lưng chủ yếu là xem những thay đổi hình dạng.
Cột sống cong lồi ra sau, lưng nhô lên gọi là gù lưng. Theo Trung y, thường do lúc nhỏ tiên thiên bất túc, hậu thiên thiếu nuôi dưỡng, xương không được sung dưỡng, khiến cột sống biến dạng.
Trong khi mắc bệnh, đầu gáy cứng, lưng và thắt lưng ưỡn ngược, thân cong như cung, gọi là giác cung phản trương(角弓反张), thường gặp trong uốn ván hoặc kính bệnh.
Ung, thư, sang và các tổn thương độc phát ở lưng được gọi chung là phát bối(发背), theo Trung y phần nhiều do hỏa độc ngưng tụ ở da thịt.
QUAN SÁT THẮT LƯNG — 望腰部
Thắt lưng là phần phía sau thân mình, dưới các xương sườn cuối và trên mào chậu. Quan sát chủ yếu là xem hình dạng và những biểu hiện bất thường.
Thắt lưng đau, xoay trở khó gọi là yêu bộ câu cấp(腰部拘急). Theo Trung y, có thể do hàn thấp xâm phạm từ ngoài, kinh khí không thông; hoặc do chấn thương, vặn trẹo, làm huyết mạch ngưng trệ.
Da vùng thắt lưng nổi mụn nước thành từng cụm, xếp thành dải như chuỗi hạt, gọi là triền yêu hỏa đan(缠腰火丹).
QUAN SÁT TIỀN ÂM — 望前阴
Tiền âm, còn gọi là hạ âm, là tên gọi chung của cơ quan sinh dục ngoài và niệu đạo ở nam và nữ, có chức năng sinh sản và bài tiết nước tiểu.
Bìu
Bìu sưng lớn, không ngứa, không đau, da bóng trong, theo phân loại cổ truyền gọi là thủy sán(水疝).
Bìu sưng lớn, đau nhưng không cứng, gọi là đồi sán(颓疝).
Trong bìu có khối, khi nằm thì trở vào bụng, khi đứng thì sa xuống, gọi là hồ sán(狐疝).
Dương vật
Dương vật mềm yếu, co rút vào vùng bụng dưới gọi là âm súc(阴缩). Theo Trung y, bên trong do dương khí hư, bên ngoài do hàn làm ngưng trệ kinh mạch.
Dương vật có chỗ cứng, vỡ loét, chảy mủ, được bản gốc mô tả trong hạ cam(下疳)liên quan đến giang mai, giải thích là độc tà từ trong phát ra ngoài.
Âm hộ
Ở phụ nữ có khối sa ra khỏi âm hộ, hình như quả lê, gọi là âm đĩnh(阴挺). Theo Trung y, do trung khí bất túc, sau sinh lao lực, sức nâng giữ suy yếu, khiến bào cung sa ra ngoài âm hộ.
QUAN SÁT HẬU ÂM — 望后阴
Hậu âm là hậu môn, còn gọi là phách môn(魄门), có chức năng bài tiết phân. Khi quan sát cần chú ý sa trực tràng, trĩ, rò hậu môn và nứt hậu môn.
Đoạn trực tràng phía trên hậu môn sa ra ngoài gọi là thoát giang(脱肛).
Trong hoặc ngoài hậu môn có khối lồi, quanh hậu môn đau, có thể chảy máu khi đại tiện, gọi là trĩ.
Trĩ ở ngoài hậu môn gọi là ngoại trĩ; trĩ ở trong gọi là nội trĩ; có cả trong và ngoài gọi là trĩ hỗn hợp.
Bản gốc mô tả trường hợp tổn thương vùng hậu môn loét lâu không lành, hình thành đường rò quanh hậu môn. Đường rò có thể dài hoặc ngắn, có nhánh hoặc thông vào trực tràng, gọi là giang lậu(肛瘘), tức rò hậu môn.
Hậu môn có vết nứt, đau, chảy máu khi đại tiện gọi là giang liệt(肛裂), tức nứt hậu môn.
VỌNG TỨ CHI — 望四肢
Tứ chi là tên gọi chung của hai tay và hai chân. Quan sát tứ chi chủ yếu là xem những thay đổi hình dạng, màu sắc ở tay chân, lòng bàn tay, cổ tay, ngón tay và ngón chân.
QUAN SÁT TAY CHÂN
Tay chân co rút, khó co duỗi, theo Trung y phần nhiều do hàn ngưng ở kinh mạch.
Co lại mà không duỗi được thuộc cân mạch co rút; duỗi ra mà không co được thuộc khớp cứng.
Tay chân co giật thường gặp trong kính bệnh do tà nhiệt quá thịnh, can phong nội động.
Vung tay, đạp chân biểu thị nội nhiệt quá thịnh, nhiệt quấy nhiễu tâm thần.
Tay chân run không yên, theo Trung y biểu thị khí huyết đều hư, cân của can mất nuôi dưỡng, hư phong nội động.
Cơ bắp tứ chi teo, phần nhiều do tỳ khí hư, dinh huyết bất túc, tứ chi không được nuôi dưỡng.
Liệt nửa người thuộc bệnh liệt.
Chân mềm yếu, không đi được gọi là hạ nuy chứng(下痿证).
Cẳng chân hoặc mu bàn chân sưng, dùng ngón tay ấn để lại vết lõm, đều là biểu hiện phù.
Gối sưng lớn nhưng đùi và cẳng chân gầy, gọi là hạc tất phong(鹤膝风).
QUAN SÁT LÒNG BÀN TAY VÀ CỔ TAY
Da lòng bàn tay khô, nứt, đau, bong vảy từng đợt, gọi là nga chưởng phong(鹅掌风).
QUAN SÁT NGÓN TAY VÀ NGÓN CHÂN
Ngón tay co quắp, không duỗi thẳng được gọi là kê trảo phong(鸡爪风).
Các khớp ngón tay, ngón chân sưng lớn, biến dạng, khó co duỗi, theo Trung y phần nhiều do phong thấp ngưng tụ lâu ngày, can thận hư.
Da ngón chân tím đen, loét, chảy dịch hư hoại, thịt mất sắc tươi, có mùi hôi và đau dữ dội, gọi là thoát thư(脱疽).
VỌNG DA — 望皮肤
Quan sát da cần chú ý những thay đổi màu sắc, độ nhuận và hình dạng tổn thương.
MÀU SẮC CỦA DA
Da cũng có thể biểu hiện ngũ sắc, nên phép ngũ sắc chẩn được áp dụng trong vọng da. Hai biểu hiện thường gặp và có ý nghĩa riêng là da đỏ và da vàng.
Da đỏ
Da đột nhiên đỏ như thoa son gọi là đan độc(丹毒).
Tổn thương có thể xuất hiện ở bất kỳ vùng nào trên cơ thể. Lúc đầu đỏ tươi thành từng mảng như đám mây, có thể lan chuyển; nặng hơn có thể lan rộng toàn thân.
Phát ở đầu mặt gọi là bão đầu hỏa đan(抱头火丹).
Phát ở thân mình gọi là đan độc.
Phát ở cẳng chân, cổ chân gọi là lưu hỏa(流火).
Do khác nhau về vị trí, màu sắc và nguyên nhân, bệnh có nhiều tên gọi. Theo Trung y, các chứng đan này nhìn chung được quy về tâm hỏa thiên vượng, lại gặp phong nhiệt độc tà.
Da vàng
Da, mặt, mắt và móng đều vàng thuộc bệnh hoàng đản(黄疸), tức vàng da, chia thành dương hoàng và âm hoàng.
Dương hoàng có sắc vàng tươi như màu quả quýt, phần nhiều do thấp nhiệt ở tỳ vị hoặc can đởm.
Âm hoàng có sắc vàng tối xạm như khói ám, phần nhiều do hàn thấp làm tỳ vị bị trở ngại.
HÌNH DẠNG VÀ TỔN THƯƠNG CỦA DA
Phù, khô và da thô ráp
Da phù, sưng, ấn để lại vết lõm, phần nhiều thuộc thủy thấp tràn lan.
Da khô, teo, thiếu nhuận, phần nhiều do tân dịch hao tổn hoặc tinh huyết hư tổn.
Da khô, thô ráp như vảy gọi là cơ phu giáp thác(肌肤甲错), theo Trung y phần nhiều do huyết ứ trở trệ, da không được nuôi dưỡng.
Đậu sang — 痘疮
Da nổi những nốt phỏng hình như hạt đậu nên gọi là đậu sang. Thường kèm chứng hậu ngoại cảm, bao gồm những bệnh như đậu mùa và thủy đậu.
Ban chẩn — 斑疹
Ban và chẩn đều là tổn thương trên da, đồng thời là những triệu chứng có thể xuất hiện trong quá trình bệnh diễn biến.
Ban(斑)có sắc đỏ, nốt lớn hoặc hợp thành mảng, nằm phẳng dưới da, sờ không thấy nổi. Do bệnh cơ khác nhau, có phân biệt dương ban và âm ban.
Chẩn(疹)có hình như hạt kê, đỏ và nổi cao, sờ thấy gồ. Do nguyên nhân khác nhau, có thể phân thành ma chẩn, phong chẩn, ẩn chẩn và những loại khác.
Bạch bồi và mụn nước — 白㾦与水疱
Bạch bồi và mụn nước đều là những tổn thương nổi cao trên da, bên trong chứa dịch.
Bạch bồi là những tổn thương sẩn phỏng nhỏ. Mụn nước là tên gọi chung của những tổn thương dạng phỏng có kích thước khác nhau.
Ung, thư, đinh, tiết — 痈、疽、疔、疖
Đây đều là những bệnh sang dương thuộc ngoại khoa, phát ở da và phần ngoài cơ thể, có tổn thương hữu hình có thể thăm khám.
Ung(痈)có phạm vi tổn thương tương đối lớn, đỏ, sưng, nóng, đau, phần chân tổn thương khu trú rõ.
Thư(疽)sưng lan tỏa, không có đầu, chân tổn thương bằng và chìm, da không đổi màu, không nóng, ít đau.
Đinh(疔)có phạm vi nhỏ, lúc đầu như hạt kê, chân cứng và ăn sâu, có thể tê hoặc ngứa; sau đó đầu trắng và đau.
Tiết(疖)phát ở nông, nhỏ, tròn, mức độ đỏ, sưng, nóng, đau không nhiều, dễ hóa mủ; sau khi mủ thoát ra thì lành.
Các liên hệ với tạng phủ và cách phân chứng trong bài là nội dung của lý luận Trung y được bản gốc trình bày; không nên dùng một dấu hiệu riêng lẻ để kết luận bệnh.
Trường Xuân biên soạn
VỌNG LƯỠI — 望舌
Quan sát lưỡi thuộc nội dung vọng ngũ quan. Tuy nhiên, nội dung này rất phong phú và đã phát triển thành một phương pháp chuyên biệt gọi là thiệt chẩn(舌诊), nên được trình bày riêng.
Thiệt chẩn lấy quan sát lưỡi làm chủ yếu, đồng thời bao gồm vấn chẩn về cảm giác của lưỡi, vị giác và thiết chẩn bằng cách sờ, lau hoặc cạo để khảo sát.
Vọng lưỡi là phương pháp chẩn đoán thông qua việc quan sát thiệt tượng(舌象). Thiệt tượng được tạo thành bởi màu sắc, độ nhuận và hình thái của hai phần: chất lưỡi và rêu lưỡi.
Vì vậy, vọng lưỡi chủ yếu gồm quan sát chất lưỡi và quan sát rêu lưỡi.
MỐI LIÊN HỆ GIỮA LƯỠI VỚI TẠNG PHỦ, KINH LẠC
舌与脏腑经络的关系
Theo lý luận Trung y, mối liên hệ giữa lưỡi và nội tạng chủ yếu được thực hiện thông qua đường tuần hành của kinh mạch.
Nội Kinh ghi nhận rằng các tạng tâm, can, tỳ, thận và các phủ bàng quang, tam tiêu, vị đều có liên hệ trực tiếp với lưỡi thông qua kinh mạch, kinh biệt hoặc kinh cân.
Phế, tiểu trường, đại trường và đởm tuy không có liên hệ trực tiếp với lưỡi theo cách mô tả ấy, nhưng do các kinh thủ túc thái âm, thủ túc thái dương, thủ túc thiếu dương và thủ túc dương minh có quan hệ phối hợp, kinh khí của những tạng phủ này cũng có thể gián tiếp thông đến lưỡi.
Vì vậy, lưỡi không chỉ là nơi biểu hiện của tâm, là ngoại hậu của tỳ, mà còn là ngoại hậu của ngũ tạng lục phủ.
Về sinh lý, tinh khí tạng phủ thông qua kinh mạch đưa lên lưỡi, nuôi dưỡng thân lưỡi và duy trì hoạt động chức năng bình thường của lưỡi.
Về bệnh lý, bệnh biến tạng phủ ảnh hưởng đến tinh khí và có thể phản ánh trên lưỡi.
Theo quan điểm toàn tức sinh học được bản gốc viện dẫn, mỗi bộ phận có thể được xem như hình ảnh thu nhỏ của toàn thể, lưỡi cũng vậy. Từ đó hình thành cách phân chia các vùng lưỡi để khảo sát nội tạng.
Nguyên tắc phân vùng cơ bản là: phần trên ứng với phần trên, phần giữa ứng với phần giữa, phần dưới ứng với phần dưới. Có ba cách phân chia như sau.
Phân vùng lưỡi theo tạng phủ
Tâm và phế ở phía trên, nên đầu lưỡi chủ tâm phế.
Tỳ vị ở giữa, nên giữa lưỡi chủ tỳ vị.
Thận ở phía dưới, nên gốc lưỡi chủ thận.
Can đởm ở hai bên thân mình, nên hai bên lưỡi chủ can đởm; theo cách phân chia của bản gốc, bên trái thuộc can, bên phải thuộc đởm.
Cách phân vùng này thường được dùng trong nội thương tạp bệnh.
Phân vùng lưỡi theo tam tiêu
Dựa theo thứ tự trên, giữa và dưới của tam tiêu: đầu lưỡi chủ thượng tiêu, giữa lưỡi chủ trung tiêu, gốc lưỡi chủ hạ tiêu.
Cách phân chia này thường được dùng trong bệnh ngoại cảm.
Phân vùng lưỡi theo vị quản
Đầu lưỡi chủ thượng quản, giữa lưỡi chủ trung quản, gốc lưỡi chủ hạ quản.
Cách phân chia này thường được dùng trong bệnh ở vị trường.
Việc dùng các phần của lưỡi để khảo sát tạng phủ được bản gốc xem là một nội dung nghiên cứu của toàn tức sinh học. Tuy có những cách giải thích khác nhau, chúng đều được dùng làm tư liệu tham khảo.
Trong chẩn đoán lâm sàng, có thể phối hợp phân vùng với quan sát chất lưỡi và rêu lưỡi, nhưng phải tổng hợp tứ chẩn để nhận định, không được vận dụng máy móc hoặc câu nệ.
NỘI DUNG VỌNG LƯỠI — 望舌的内容
Nội dung vọng lưỡi chia thành hai phần: quan sát chất lưỡi và quan sát rêu lưỡi.
Chất lưỡi, còn gọi là thân lưỡi, gồm cơ, mạch lạc và các tổ chức của lưỡi. Quan sát chất lưỡi gồm bốn phương diện: thần, sắc, hình và thái.
Rêu lưỡi là lớp vật chất dạng rêu bám trên thân lưỡi. Quan sát rêu lưỡi gồm xem màu rêu và tính chất rêu.
Thiệt tượng bình thường được mô tả ngắn gọn là:
“淡红舌,薄白苔。”
“Lưỡi hồng nhạt, rêu trắng mỏng.”
Cụ thể, thân lưỡi mềm mại, vận động linh hoạt, co duỗi tự nhiên; màu hồng nhạt, tươi nhuận; độ béo gầy, già non và kích thước vừa phải, không có hình thái bất thường.
Rêu lưỡi trắng mỏng, nhuận, hạt rêu phân bố đều thành một lớp mỏng trên mặt lưỡi, lau không mất; rêu có gốc, gắn với chất lưỡi như một thể; độ khô ướt vừa phải, không dính, không nhớt.
Tổng hợp những biểu hiện bình thường của chất lưỡi và rêu lưỡi tạo thành thiệt tượng bình thường.
QUAN SÁT CHẤT LƯỠI — 望舌质
THẦN CỦA LƯỠI — 舌神
Thần của lưỡi chủ yếu biểu hiện ở độ tươi nhuận và sự linh hoạt. Điểm then chốt khi xem thần của lưỡi là phân biệt vinh và khô.
Vinh là tươi nhuận, có ánh sắc: lưỡi vận động linh hoạt, màu hồng nhuận, tươi sáng, có sinh khí. Đó là lưỡi có thần; dù đang mắc bệnh vẫn được xem là dấu hiệu tốt.
Khô là khô héo, tối xạm, không có ánh sắc: lưỡi vận động kém linh hoạt, chất lưỡi khô, tối, thiếu nhuận. Đó là lưỡi vô thần, được bản gốc xem là dấu hiệu xấu, nguy hiểm.
Như vậy, lưỡi có thần hay vô thần phản ánh sự thịnh suy của tạng phủ, khí huyết và tân dịch, có liên quan đến tiên lượng bệnh.
MÀU CHẤT LƯỠI — 舌色
Màu chất lưỡi thường được chia thành hồng nhạt, trắng nhạt, đỏ, giáng, tím và xanh. Hồng nhạt là màu bình thường; những màu còn lại được xem là bệnh sắc khi xuất hiện bất thường.
Lưỡi hồng nhạt — 淡红舌
Màu lưỡi trắng pha hồng, không quá đậm hoặc quá nhạt, sắc hồng vừa phải.
Theo Trung y, đây là biểu hiện khí huyết đưa lên nuôi dưỡng đầy đủ, tâm khí sung túc, dương khí phân bố và phát huy chức năng bình thường.
Lưỡi trắng nhạt — 淡白舌
Màu lưỡi nhạt hơn lưỡi hồng nhạt, thậm chí gần như không có huyết sắc.
Theo Trung y, dương hư làm giảm khả năng sinh hóa âm huyết và giảm sức thúc đẩy huyết vận hành, khiến huyết không đưa đến nuôi dưỡng lưỡi đầy đủ, nên lưỡi nhạt trắng.
Loại lưỡi này chủ hư hàn hoặc khí huyết lưỡng hư.
Lưỡi đỏ — 红舌
Lưỡi đỏ tươi, đậm hơn màu hồng nhạt.
Nhiệt thịnh làm khí huyết vận hành mạnh, mạch lạc ở lưỡi sung đầy, nên chất lưỡi đỏ tươi.
Lưỡi đỏ chủ nhiệt chứng, có thể gặp trong thực nhiệt hoặc hư nhiệt.
Lưỡi giáng — 绛舌
Giáng là màu đỏ sẫm, đậm hơn lưỡi đỏ.
Ý nghĩa chủ bệnh khác nhau giữa ngoại cảm và nội thương. Trong bệnh ngoại cảm, lưỡi giáng biểu thị nhiệt nhập dinh huyết. Trong nội thương tạp bệnh, lưỡi giáng thường thuộc âm hư hỏa vượng.
Lưỡi tím — 紫舌
Theo Trung y, lưỡi tím nhìn chung do huyết vận hành không thông, gây ứ trệ. Khi biện chứng cần phân biệt hàn và nhiệt.
Nhiệt thịnh làm tổn thương tân dịch, khí huyết uất trệ, thường biểu hiện lưỡi đỏ sẫm tím, khô, ít tân dịch.
Hàn ngưng huyết ứ hoặc dương hư sinh hàn thường biểu hiện lưỡi tím nhạt hoặc xanh tím, còn ẩm nhuận.
Lưỡi xanh — 青舌
Lưỡi có màu như những tĩnh mạch xanh nhìn thấy dưới da, không có sắc đỏ, gọi là lưỡi xanh. Cổ thư mô tả màu này giống lưỡi trâu.
Theo Trung y, âm hàn quá thịnh khiến dương khí bị uất, không phát huy được chức năng, huyết ngưng trệ, nên lưỡi chuyển xanh.
Lưỡi xanh chủ hàn ngưng dương uất, dương hư hàn ngưng hoặc bên trong có huyết ứ.
HÌNH DẠNG LƯỠI — 舌形
Hình lưỡi gồm những đặc điểm và biến đổi như già non, béo gầy, sưng lớn, teo nhỏ, nứt, gai và dấu răng.
Lưỡi già — 苍老舌
Chất lưỡi có đường nét thô, hình thể chắc, săn, gọi là lưỡi già.
Theo cách phân loại của bản gốc, dù màu lưỡi và màu rêu như thế nào, chất lưỡi già đều thiên về thực chứng.
Lưỡi non — 娇嫩舌
Chất lưỡi có đường nét mịn, màu mềm non, thân lưỡi thường hơi phồng, gọi là lưỡi non, phần nhiều chủ hư chứng.
Lưỡi béo lớn và lưỡi sưng — 胖大舌、肿胀舌
Thân lưỡi lớn hơn bình thường, khi thè ra có thể gần đầy miệng, hoặc có dấu răng, gọi là lưỡi béo lớn.
Thân lưỡi sưng, choán đầy miệng, không thể thu vào để khép miệng, gọi là lưỡi sưng.
Lưỡi béo lớn phần nhiều do thủy ẩm, đàm thấp trở trệ.
Lưỡi sưng phần nhiều do nhiệt độc hoặc tửu độc khiến khí huyết dồn lên, thường chủ nhiệt chứng hoặc bệnh chứng do ngộ độc.
Lưỡi gầy mỏng — 瘦薄舌
Thân lưỡi nhỏ, gầy, mỏng, có thể khô héo.
Theo Trung y, nguyên nhân chung là khí huyết hoặc âm dịch bất túc, không đủ làm đầy và nuôi dưỡng thân lưỡi.
Lưỡi gầy mỏng chủ khí huyết lưỡng hư hoặc âm hư hỏa vượng.
Lưỡi có gai — 芒刺舌
Mặt lưỡi bình thường có những nhú mềm. Khi các nhú này lớn lên, nhô cao như gai, sờ thấy ráp, gọi là lưỡi có gai.
Theo Trung y, phần nhiều do tà nhiệt quá thịnh; gai càng nhiều thì tà nhiệt càng mạnh.
Có thể tham khảo vị trí xuất hiện gai để phân biệt nơi có nhiệt: gai ở đầu lưỡi thường thuộc tâm hỏa quá thịnh; gai ở hai bên lưỡi thường thuộc can đởm hỏa thịnh; gai ở giữa lưỡi chủ nhiệt thịnh ở vị trường.
Lưỡi nứt — 裂纹舌
Mặt lưỡi có những rãnh nứt, trong rãnh không có rêu phủ, gọi là lưỡi nứt.
Theo Trung y, phần nhiều do tinh huyết hao tổn, tân dịch bị tổn thương, thân lưỡi mất nuôi dưỡng; vì vậy thường chủ tinh huyết hư tổn.
Bản gốc còn nêu rằng khoảng nửa phần trăm người khỏe mạnh có những rãnh sâu ngang dọc trên lưỡi, gọi là lưỡi nứt bẩm sinh. Trong các rãnh thường có rêu phủ, cơ thể không có khó chịu khác, cần phân biệt với lưỡi nứt do bệnh.
Lưỡi có dấu răng — 齿痕舌
Bờ lưỡi có những vết lõm do răng ép vào, gọi là lưỡi có dấu răng.
Theo Trung y, phần nhiều do tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, thấp trở ở lưỡi làm thân lưỡi béo lớn, bị hàm răng ép nên tạo thành dấu răng.
Vì vậy, dấu răng thường đi cùng lưỡi béo non, chủ tỳ hư hoặc thấp thịnh.
TRẠNG THÁI VẬN ĐỘNG CỦA LƯỠI — 舌态
Lưỡi bình thường vận động linh hoạt, co duỗi tự nhiên.
Những trạng thái bất thường gồm cứng, mềm yếu, thè dài không thu được, co ngắn, tê, run, lệch và thè hoặc đưa lưỡi liên tục.
Lưỡi cứng — 强硬舌
Thân lưỡi cứng, vận động không linh hoạt, khiến nói khó, lời nói không rõ.
Theo Trung y, có thể do nhiệt quấy nhiễu tâm thần làm lưỡi mất điều khiển; sốt cao tổn thương âm, cân mạch mất nuôi dưỡng; hoặc đàm trở ở lạc mạch của lưỡi.
Thường gặp trong nhiệt nhập tâm bào, sốt cao tổn thương tân dịch, đàm trọc trở bên trong, trúng phong hoặc biểu hiện báo trước trúng phong.
Lưỡi mềm yếu — 痿软舌
Thân lưỡi mềm yếu, không đủ sức co duỗi, vận động kém linh hoạt.
Theo Trung y, phần nhiều do khí huyết hư nặng hoặc âm dịch bất túc, không nuôi dưỡng được cân mạch.
Có thể gặp trong khí huyết đều hư, nhiệt thiêu đốt làm tổn thương tân dịch hoặc âm suy kiệt.
Lưỡi thè dài không thu được — 舌纵
Lưỡi thè ra ngoài miệng, khó thu vào hoặc không thể thu vào.
Theo Trung y, nguyên nhân chung là cơ và kinh cân của lưỡi giãn yếu.
Có thể gặp trong thực nhiệt thịnh bên trong, đàm hỏa nhiễu tâm hoặc khí hư.
Lưỡi co ngắn — 短缩舌
Thân lưỡi co rút, không thể thè dài.
Có thể do hàn ngưng ở cân mạch khiến lưỡi co rút; đàm thấp trở bên trong làm phát động can phong, phong mang theo đàm gây trở tắc ở gốc lưỡi; nhiệt thịnh tổn thương tân dịch khiến cân mạch co rút; hoặc khí huyết đều hư, thân lưỡi thiếu sự nhu dưỡng và ôn ấm.
Theo bản gốc, lưỡi co ngắn do hư hay thực đều được xem là chứng hậu nặng.
Lưỡi tê — 舌麻痹
Lưỡi có cảm giác tê và vận động kém linh hoạt.
Theo Trung y, phần nhiều do dinh huyết không đưa lên nuôi dưỡng lưỡi.
Lưỡi tự nhiên tê, lúc có lúc không, được quy về tâm huyết hư.
Lưỡi tê kèm thỉnh thoảng run, hoặc có triệu chứng trúng phong, được xem là biểu hiện can phong nội động.
Lưỡi run — 颤动舌
Thân lưỡi rung, run, không tự chủ.
Theo Trung y, phần nhiều do khí huyết lưỡng hư, cân mạch mất nuôi dưỡng; hoặc nhiệt cực làm tổn thương tân dịch mà sinh phong.
Có thể gặp trong huyết hư sinh phong hoặc nhiệt cực sinh phong.
Lưỡi lệch — 歪斜舌
Khi thè lưỡi, lưỡi lệch sang một bên.
Theo Trung y, phần nhiều do phong tà trúng lạc hoặc phong đàm trở lạc; cũng có trường hợp phong trúng tạng phủ.
Bản gốc giải thích rằng kinh lạc và kinh cân một bên bị trở ngại, cơ lưỡi phía bệnh giãn yếu, làm lưỡi lệch. Tình trạng này thường được mô tả trong trúng phong hoặc biểu hiện báo trước trúng phong.
Lưỡi thè và đưa liên tục — 吐弄舌
Lưỡi thường xuyên thè ra ngoài gọi là thổ thiệt(吐舌).
Lưỡi liên tục liếm môi trên, môi dưới hoặc hai bên; hoặc vừa hơi thè ra đã lập tức thu vào, gọi là lộng thiệt(弄舌).
Hai biểu hiện được gọi chung là thổ lộng thiệt(吐弄舌).
Theo Trung y, do hai kinh tâm và tỳ có nhiệt, nhiệt làm tổn thương tân dịch, khiến cân mạch co rút và cử động liên tục.
Lộng thiệt thường được bản gốc ghi nhận ở trẻ có trí tuệ phát triển không đầy đủ.
QUAN SÁT RÊU LƯỠI — 望舌苔
Theo Trung y, rêu lưỡi bình thường được hình thành do vị khí đưa lên, nên sự thịnh suy của vị khí có thể phản ánh qua những thay đổi của rêu lưỡi.
Rêu lưỡi bệnh lý có thể hình thành do vị khí mang theo trọc khí của thức ăn tích trệ đưa lên, hoặc do tà khí đưa lên.
Khi quan sát rêu lưỡi, cần chú ý hai phương diện: tính chất rêu và màu rêu.
TÍNH CHẤT RÊU LƯỠI — 苔质
Tính chất rêu gồm độ dày mỏng, nhuận khô, thô ráp, dính, bở, nhớt, bong tróc và có gốc hay không có gốc.
Rêu dày và rêu mỏng
Phân biệt dày mỏng dựa vào việc có nhìn thấy chất lưỡi phía dưới hay không.
Qua lớp rêu còn nhìn thấy lờ mờ chất lưỡi gọi là rêu mỏng. Rêu mỏng do vị khí sinh ra có thể là rêu bình thường. Trong khi mắc bệnh, rêu mỏng thường gặp lúc bệnh mới phát hoặc tà ở biểu, bệnh tình tương đối nhẹ.
Không thể nhìn thấy chất lưỡi qua lớp rêu gọi là rêu dày. Phần nhiều biểu thị tà đã vào lý hoặc vị trường có tích trệ, bệnh tình tương đối nặng.
Rêu từ mỏng chuyển dày thường biểu thị chính khí không thắng tà, tà từ biểu truyền vào lý, bệnh từ nhẹ chuyển nặng.
Rêu từ dày chuyển mỏng thường biểu thị chính khí hồi phục, tà uất bên trong dần tiêu tán hoặc thoát ra ngoài, bệnh từ nặng chuyển nhẹ.
Rêu nhuận, rêu trơn ướt và rêu khô
Mặt lưỡi nhuận, độ khô ướt vừa phải gọi là rêu nhuận, biểu thị tân dịch chưa tổn thương.
Dịch trên lưỡi quá nhiều, sờ thấy ướt và trơn, thậm chí khi thè lưỡi nước bọt gần nhỏ xuống, gọi là rêu hoạt(滑苔). Theo Trung y, đây là biểu hiện có thấp, có hàn, thường gặp trong dương hư kèm đàm ẩm, thủy thấp đình lưu bên trong.
Rêu nhìn khô héo, sờ không thấy tân dịch gọi là rêu táo(燥苔). Nguyên nhân là tân dịch không đưa lên được.
Có thể gặp trong nhiệt thịnh tổn thương tân dịch, âm dịch bất túc, dương hư khiến nước không chuyển hóa thành tân dịch hoặc táo tà tổn thương phế.
Rêu từ nhuận chuyển khô thường biểu thị táo tà làm tổn thương tân dịch hoặc nhiệt quá mạnh làm hao tân dịch, bệnh tình nặng thêm.
Rêu từ khô chuyển nhuận thường biểu thị táo nhiệt dần lui, tân dịch dần hồi phục, bệnh tình thuyên giảm.
Rêu bở và rêu nhớt
Rêu dày, hạt rêu lớn, thưa và bở, giống bã đậu tích trên mặt lưỡi, có thể lau đi, gọi là hủ đài(腐苔), tức rêu bở.
Theo Trung y, do dương nhiệt trong cơ thể dư thừa, hun đẩy khí hủ trọc trong vị lên trên. Thường gặp trong đàm trọc, thực tích, kèm nhiệt uất ở vị trường.
Rêu có hạt nhỏ, mịn, dày sít, lau không mất, cạo khó bong, trên mặt có lớp dịch nhầy dính, gọi là nị đài(腻苔), tức rêu nhớt.
Theo Trung y, phần nhiều do tỳ mất kiện vận, thấp trọc thịnh bên trong, dương khí bị âm tà kìm hãm. Thường gặp trong đàm ẩm hoặc thấp trọc đình lưu.
Rêu bong tróc
Lưỡi vốn có rêu, sau đó toàn bộ hoặc một phần rêu bong mất, để lộ chất lưỡi bên dưới, gọi là rêu bong tróc.
Nếu rêu bong hết, không sinh rêu mới, mặt lưỡi nhẵn bóng như gương, gọi là kính diện thiệt(镜面舌), còn gọi là lưỡi trơn bóng.
Bản gốc giải thích hiện tượng này là do vị âm suy kiệt, vị khí tổn thương nặng, không còn sức sinh rêu; trong bối cảnh bệnh nặng, được xem là dấu hiệu vị khí sắp tuyệt.
Nếu rêu chỉ bong từng phần, vùng bong nhẵn, những vùng khác còn rêu loang lổ, gọi là hoa bác đài(花剥苔), được quy về khí và âm của vị đều tổn thương.
Rêu từ có chuyển thành không có, theo Trung y biểu thị khí âm của vị bất túc, chính khí dần suy.
Sau khi rêu bong mà sinh lại lớp rêu trắng mỏng là dấu hiệu tốt, biểu thị tà lui, chính khí thắng, vị khí dần hồi phục.
Cần chú ý rằng rêu tăng hoặc giảm dần thường được xem là thuận lợi hơn. Nếu rêu đột ngột dày lên hoặc đột ngột mất đi, bản gốc xem đó là dấu hiệu bệnh tình biến đổi nhanh.
Rêu có gốc và rêu không gốc
Bất kể rêu dày hay mỏng, nếu rêu bám sát mặt lưỡi, giống như sinh ra từ trong lưỡi, gọi là rêu có gốc(有根苔), còn gọi là chân đài(真苔).
Nếu rêu không bám chắc, giống như phủ lên mặt lưỡi, cạo là mất, không giống rêu sinh từ lưỡi, gọi là rêu không gốc(无根苔), còn gọi là giả đài(假苔).
Theo Trung y, rêu có gốc biểu thị tuy tà khí thịnh nhưng vị khí chưa suy; rêu không gốc biểu thị vị khí đã suy.
Nhìn chung, quan sát độ dày mỏng giúp nhận định mức độ nông sâu của bệnh; nhuận khô giúp xem xét tình trạng đầy đủ hay hao tổn của tân dịch; bở nhớt giúp tìm hiểu thấp trọc; bong tróc và có gốc hay không có gốc giúp xem xét sự thịnh suy của khí âm và xu hướng diễn biến bệnh.
MÀU RÊU LƯỠI — 苔色
Màu rêu thường được chia thành trắng, vàng, xám và đen, cùng những màu phối hợp.
Theo Trung y, màu rêu có liên quan đến tính chất tà khí, nên quan sát màu rêu giúp nhận định tính chất của bệnh.
Rêu trắng — 白苔
Rêu trắng thường gặp trong biểu chứng và hàn chứng.
Khi tà ngoại cảm chưa truyền vào lý, rêu thường chưa thay đổi rõ, vẫn là rêu trắng mỏng.
Lưỡi nhạt, rêu trắng và ướt nhuận thường thuộc lý hàn hoặc hàn thấp.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, rêu trắng cũng có thể chủ nhiệt.
Rêu trắng phủ đầy lưỡi như bột tích tụ, sờ không khô, gọi là tích phấn đài(积粉苔). Theo Trung y, do ngoại cảm khí uế trọc, độc nhiệt thịnh bên trong; thường được mô tả trong ôn dịch hoặc nội ung.
Rêu trắng, khô, nứt, ráp như cát đá, gọi là tháo liệt đài(糙裂苔). Theo bản gốc, do bệnh thấp hóa nhiệt nhanh, nội nhiệt đột ngột tăng, tân dịch tổn thương nhanh; rêu chưa kịp chuyển vàng nhưng lý nhiệt đã mạnh. Có thể gặp trong ôn bệnh hoặc sau khi dùng không đúng thuốc ôn bổ.
Rêu vàng — 黄苔
Rêu vàng thường chủ lý chứng và nhiệt chứng.
Theo Trung y, nhiệt tà hun đốt làm rêu chuyển vàng. Vàng nhạt biểu thị nhiệt nhẹ; vàng đậm biểu thị nhiệt nặng; vàng cháy biểu thị nhiệt kết.
Trong ngoại cảm, rêu từ trắng chuyển vàng là dấu hiệu tà ở biểu vào lý hóa nhiệt.
Rêu mỏng, vàng nhạt có thể gặp trong biểu chứng phong nhiệt hoặc phong hàn hóa nhiệt.
Nếu chất lưỡi nhạt, béo, non, rêu vàng nhưng trơn nhuận, theo bản gốc phần nhiều thuộc dương hư, thủy thấp không được chuyển hóa.
Rêu xám — 灰苔
Rêu xám là màu đen nhạt, thường phát triển từ rêu trắng trở nên tối, cũng có thể cùng xuất hiện với rêu vàng.
Rêu xám chủ lý chứng, thường gặp trong lý nhiệt, cũng có thể gặp trong hàn thấp.
Rêu xám và khô phần nhiều thuộc nhiệt mạnh làm tổn thương tân dịch, có thể gặp trong bệnh ngoại cảm có nhiệt; hoặc thuộc âm hư hỏa vượng trong nội thương tạp bệnh.
Rêu xám và nhuận có thể gặp trong đàm ẩm đình lưu hoặc hàn thấp trở bên trong.
Rêu đen — 黑苔
Rêu đen thường phát triển từ rêu vàng cháy hoặc rêu xám.
Theo cách nhận định của bản gốc, rêu đen trong bệnh chứng hàn hoặc nhiệt đều thường được xem là biểu hiện nặng; sắc càng đen thì bệnh càng nặng.
Rêu đen, khô, nứt, có thể kèm gai, biểu thị nhiệt cực, tân dịch suy kiệt.
Rêu đen và khô ở giữa lưỡi, theo Trung y có thể biểu thị ruột khô, phân kết hoặc vị khí suy bại.
Rêu đen và khô ở gốc lưỡi biểu thị nhiệt mạnh ở hạ tiêu.
Rêu đen và khô ở đầu lưỡi được bản gốc mô tả là tâm hỏa quá thịnh.
Rêu đen, trơn nhuận, chất lưỡi trắng nhạt thuộc âm hàn thịnh bên trong, thủy thấp không được chuyển hóa.
Rêu đen và nhớt thuộc đàm thấp trở bên trong.
TỔNG HỢP CHẤT LƯỠI VÀ RÊU LƯỠI
舌质与舌苔的综合诊察
Quá trình bệnh phát triển là một quá trình biến đổi phức tạp của toàn thể. Vì vậy, bên cạnh việc nắm riêng những thay đổi cơ bản và ý nghĩa chủ bệnh của chất lưỡi, rêu lưỡi, còn phải phân tích mối quan hệ giữa hai phần.
Nhìn chung, quan sát chất lưỡi chú trọng nhận định tình trạng hư thực của chính khí, đồng thời cũng xem xét tính chất tà khí.
Quan sát rêu lưỡi chú trọng nhận định mức độ nông sâu và tính chất của tà khí, đồng thời cũng xem xét tình trạng còn hay suy của vị khí.
Muốn nhận thức đầy đủ phải kết hợp cả hai. Dù chỉ một phần thay đổi hay cả hai cùng thay đổi, đều cần xem xét tổng hợp.
Thông thường, những thay đổi của chất lưỡi và rêu lưỡi phù hợp với nhau; ý nghĩa chủ bệnh là sự tổng hợp của hai phần.
Chẳng hạn, lý thực nhiệt thường có lưỡi đỏ, rêu vàng khô; lý hư hàn thường có lưỡi nhạt, rêu trắng nhuận.
Đó là điểm then chốt để nắm những nguyên tắc giản yếu mà xử lý các biểu hiện phức tạp trong thiệt chẩn.
Tuy nhiên, có khi chất lưỡi và rêu lưỡi không biến đổi tương ứng, càng cần tổng hợp tứ chẩn để nhận định.
Rêu trắng tuy thường chủ hàn và thấp, nhưng lưỡi đỏ giáng kèm rêu trắng khô lại có thể thuộc táo nhiệt tổn thương tân dịch. Theo bản gốc, do táo khí hóa hỏa nhanh, rêu chưa chuyển vàng mà nhiệt đã vào dinh.
Rêu trắng dày như bột tích tụ cũng có thể chủ tà nhiệt mạnh, không nhất thiết chủ hàn.
Rêu xám đen có thể thuộc nhiệt hoặc hàn, cần kết hợp độ nhuận khô của chất lưỡi để phân biệt.
Có khi ý nghĩa chủ bệnh của chất lưỡi và rêu lưỡi dường như trái nhau, nhưng vẫn phải xem chung.
Chẳng hạn, lưỡi đỏ giáng kèm rêu trắng trơn nhớt: trong ngoại cảm có thể biểu thị dinh phận có nhiệt, khí phận có thấp; trong nội thương có thể biểu thị âm hư hỏa vượng, đồng thời có đàm trọc hoặc thực tích.
Vì vậy, khi học có thể nắm từng phần riêng, nhưng khi vận dụng phải thăm khám và nhận định tổng hợp.
PHƯƠNG PHÁP VỌNG LƯỠI VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý
望舌方法与注意事项
Muốn quan sát lưỡi chính xác, cần thực hiện đúng phương pháp và chú ý những yếu tố ảnh hưởng đến thiệt tượng.
Tư thế thè lưỡi
Yêu cầu người bệnh thè lưỡi ra ngoài để bộc lộ đầy đủ thân lưỡi.
Miệng mở đủ rộng, lưỡi thè tự nhiên, thả lỏng, không dùng sức. Mặt lưỡi trải phẳng, đầu lưỡi tự nhiên hướng xuống môi dưới.
Trình tự quan sát
Cần quan sát theo trình tự nhất định. Thông thường, xem rêu trước, chất lưỡi sau; lần lượt quan sát đầu lưỡi, hai bên lưỡi, giữa lưỡi và gốc lưỡi.
Ánh sáng
Nên dùng ánh sáng tự nhiên đầy đủ nhưng dịu.
Người bệnh hướng về phía sáng để ánh sáng chiếu vào miệng. Tránh cửa kính màu hoặc những vật có màu phản chiếu mạnh ở xung quanh, vì có thể tạo màu giả trên rêu lưỡi.
Ăn uống và thuốc
Ăn uống ảnh hưởng đáng kể đến thiệt tượng, thường làm thay đổi hình dạng và màu rêu.
Việc nhai thức ăn gây cọ xát nhiều lần, có thể làm rêu dày trở nên mỏng.
Vừa uống nước có thể làm mặt lưỡi ướt nhuận hơn.
Thức ăn quá lạnh, quá nóng hoặc cay và có tính kích thích có thể làm thay đổi màu chất lưỡi.
Một số thức ăn hoặc thuốc có thể nhuộm màu rêu, tạo ra biểu hiện giả, gọi là nhiễm đài(染苔).
Những thay đổi này do tác động bên ngoài, có tính tạm thời, không trực tiếp phản ánh bệnh biến của người bệnh lúc khám.
Vì vậy, khi tính chất rêu không phù hợp với bệnh tình hoặc rêu đột ngột thay đổi, cần hỏi về ăn uống và dùng thuốc gần đây, đặc biệt trong khoảng thời gian ngay trước khi khám.
Đoạn giải thích hướng lệch lưỡi và những nhận định tuyệt đối về lưỡi trơn bóng, rêu đen cần được kiểm chứng trước khi dùng trong bản biên soạn hiện đại. Không thể chỉ dựa vào các dấu hiệu ấy để kết luận bên tổn thương, mức độ nguy kịch hoặc tiên lượng.
Trường Xuân biên soạn
QUAN SÁT CÁC CHẤT THẢI RA NGOÀI — 望排出物
Quan sát các chất thải ra ngoài là xem xét dịch tiết và chất bài tiết của người bệnh, như đàm, nước bọt, chất nôn, phân, nước tiểu, nước mũi, mồ hôi, nước mắt và khí hư.
Phần này chủ yếu trình bày việc quan sát đàm và nước bọt, chất nôn, đại tiện và tiểu tiện. Cần xem xét những thay đổi về màu sắc, tính chất, hình dạng và lượng để tìm hiểu bệnh biến của các tạng phủ liên quan cùng tính chất của tà khí.
Theo nguyên tắc khái quát của Trung y, chất thải có màu trong hoặc trắng, loãng, phần nhiều thuộc hàn chứng hoặc hư chứng. Chất thải có màu vàng, đỏ, đặc dính, đục bẩn, phần nhiều thuộc nhiệt chứng hoặc thực chứng. Chất thải có màu đen, kèm cục, được bản gốc quy về ứ chứng.
QUAN SÁT ĐÀM VÀ NƯỚC BỌT — 望痰涎
Đàm là sản phẩm bệnh lý của sự rối loạn chuyển hóa thủy dịch. Theo Trung y, sự hình thành đàm có liên hệ mật thiết với rối loạn chức năng của tỳ và phế, nên người xưa nói:
“脾为生痰之源,肺为贮痰之器。”
“Tỳ là nguồn sinh đàm, phế là nơi chứa đàm.”
Tuy nhiên, sự hình thành đàm cũng liên quan đến những tạng khác.
Trong lâm sàng Trung y, đàm được chia thành đàm hữu hình và đàm vô hình. Nội dung ở đây chỉ đàm hữu hình được ho hoặc khạc ra ngoài.
Đàm vàng, đặc dính, chắc và kết thành cục thuộc nhiệt đàm, do nhiệt tà nung nấu tân dịch.
Đàm trắng, trong loãng, hoặc có những điểm xám đen, theo bản gốc thuộc hàn đàm. Hàn làm tổn thương dương khí, khí không chuyển hóa được tân dịch, thấp tích tụ thành đàm.
Đàm trắng, trơn, lượng nhiều, dễ khạc ra thuộc thấp đàm. Do tỳ hư không vận hóa, thủy thấp không được chuyển hóa, tích tụ thành đàm; đàm trơn nên dễ khạc.
Đàm ít, dính, khó khạc thuộc táo đàm, do táo tà tổn thương phế.
Đàm lẫn máu hoặc ho khạc máu tươi, theo Trung y được quy về nhiệt làm tổn thương phế lạc.
Miệng thường chảy nước bọt loãng, phần nhiều thuộc tỳ vị dương hư.
Miệng thường chảy nước bọt đặc dính, phần nhiều thuộc thấp nhiệt tích ở tỳ.
QUAN SÁT CHẤT NÔN — 望呕吐物
Chất trong dạ dày đi ngược lên và thoát ra qua miệng gọi là chất nôn.
Vị khí lấy giáng làm thuận. Khi vị khí nghịch lên, chất chứa trong dạ dày theo đó trào ra ngoài, hình thành nôn.
Do nguyên nhân gây nôn khác nhau, tính chất chất nôn và các triệu chứng đi kèm cũng khác nhau.
Chất nôn trong loãng, không hôi, phần nhiều thuộc hàn ẩu, tức nôn do hàn. Thường do tỳ vị hư hàn hoặc hàn tà phạm vị.
Chất nôn chua hôi, đục bẩn, phần nhiều thuộc nhiệt ẩu, tức nôn do nhiệt. Do nhiệt tà phạm vị hoặc vị có thực nhiệt.
Nôn ra nhiều đàm, nước bọt và nước trong, phần nhiều do đàm ẩm trở ở vị.
Nôn ra thức ăn chưa tiêu, có mùi chua thối, phần nhiều thuộc thực tích.
Nôn từng đợt, lúc phát lúc ngừng, chất nôn là thức ăn chưa tiêu nhưng ít có mùi chua thối, theo Trung y do can khí phạm vị.
Nôn ra nước đắng màu vàng xanh, được quy về can đởm uất nhiệt hoặc can đởm thấp nhiệt.
Nôn ra máu tươi hoặc máu tím sẫm có cục, lẫn thức ăn, theo Trung y có thể do vị tích nhiệt, can hỏa phạm vị hoặc vốn có huyết ứ.
QUAN SÁT ĐẠI TIỆN — 望大便
Quan sát đại tiện chủ yếu là xem màu sắc, tính chất và lượng phân.
Phân vàng, thành khuôn, độ khô ướt vừa phải, sau đại tiện cảm thấy dễ chịu là biểu hiện bình thường.
Phân loãng, có thức ăn chưa tiêu, hoặc lỏng như phân vịt, phần nhiều thuộc hàn tả.
Phân vàng, lỏng như cháo nhuyễn, có mùi hôi, thuộc nhiệt tả.
Phân trắng, theo bản gốc có thể gặp trong tỳ hư hoặc hoàng đản.
Phân khô, táo kết, phần nhiều thuộc thực nhiệt.
Phân khô thành viên như phân dê, khó đi; hoặc nhiều ngày không đại tiện nhưng không khó chịu nhiều, theo Trung y thuộc âm huyết hư.
Phân có chất nhầy như thạch, lẫn mủ và máu, kèm đau bụng, mót rặn, đi rồi vẫn có cảm giác muốn đi tiếp, là biểu hiện được mô tả trong bệnh lỵ.
Phân đen như nhựa đường được bản gốc xem là biểu hiện xuất huyết ở vị lạc.
Trẻ nhỏ đi phân xanh được bản gốc xem là dấu hiệu tiêu hóa không tốt.
Đại tiện ra máu được chia thành hai trường hợp theo cách mô tả cổ truyền.
Máu ra trước, phân ra sau, máu đỏ tươi, gọi là cận huyết(近血), thường được mô tả trong chảy máu do trĩ.
Phân ra trước, máu ra sau, máu nâu sẫm, gọi là viễn huyết(远血), được mô tả trong các bệnh ở vị trường.
QUAN SÁT TIỂU TIỆN — 望小便
Khi quan sát tiểu tiện, cần chú ý những thay đổi về màu sắc, tính chất và lượng nước tiểu.
Nước tiểu bình thường có màu vàng nhạt, trong, không đục; sau khi tiểu cảm thấy dễ chịu.
Nước tiểu trong, lượng nhiều, kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, phần nhiều thuộc hàn chứng.
Nước tiểu ít, vàng đỏ hoặc sẫm, khi tiểu nóng rát và đau, phần nhiều thuộc nhiệt chứng.
Nước tiểu đục như mỡ hoặc có chất trơn nhớt, theo phân loại Trung y thuộc cao lâm(膏淋).
Nước tiểu có cát sỏi, tiểu khó và đau thuộc thạch lâm(石淋).
Nước tiểu lẫn máu gọi là niệu huyết(尿血), theo Trung y phần nhiều do nhiệt thịnh ở hạ tiêu làm tổn thương huyết lạc.
Tiểu ra máu, kèm tiểu khó, nóng rát và đau nhói, thuộc huyết lâm(血淋).
Nước tiểu đục như nước vo gạo, cơ thể ngày càng gầy, theo Trung y phần nhiều thuộc tỳ thận hư tổn.
Trường Xuân biên soạn
QUAN SÁT CHỈ VĂN Ở TRẺ NHỎ — 望小儿指纹
Chỉ văn(指纹)ở đây là những mạch lạc hiện nông ở vùng bờ phía trước mặt lòng của ngón trỏ hai tay trẻ nhỏ, không phải các đường vân trên da.
Phương pháp quan sát những thay đổi về hình dạng và màu sắc của các mạch này để thăm khám bệnh gọi là chỉ văn chẩn pháp(指纹诊法), chỉ áp dụng cho trẻ dưới ba tuổi.
Theo lý luận Trung y, chỉ văn là một nhánh của kinh thủ thái âm phế, nên việc quan sát có ý nghĩa tương tự khám mạch thốn khẩu.
Chỉ văn được chia thành ba cửa: phong quan, khí quan và mệnh quan.
Đốt ngón trỏ thứ nhất, gần lòng bàn tay, là phong quan(风关).
Đốt thứ hai là khí quan(气关).
Đốt thứ ba, gần đầu ngón tay, là mệnh quan(命关).
PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT CHỈ VĂN
Bế trẻ đến nơi có ánh sáng. Người thầy thuốc dùng ngón trỏ và ngón cái bàn tay trái giữ đầu ngón trỏ của trẻ.
Dùng ngón cái bàn tay phải vuốt dọc mặt lòng ngón trỏ của trẻ vài lần, từ mệnh quan về khí quan rồi phong quan. Lực vuốt phải vừa phải, giúp mạch lạc hiện rõ hơn để thuận tiện quan sát.
Ý NGHĨA LÂM SÀNG CỦA CHỈ VĂN
Chỉ văn bình thường có sắc đỏ nhạt pha tím, hiện mờ trong phạm vi phong quan, phần lớn không nổi rõ, thậm chí khó nhìn thấy. Mạch thường đi chếch, có một nhánh, độ to nhỏ vừa phải.
VỊ TRÍ CHỈ VĂN — BA CỬA ĐỂ XEM XÉT MỨC ĐỘ NẶNG NHẸ
Vị trí chỉ văn là phạm vi mạch lạc hiện ra trên ngón tay.
Theo cách nhận định cổ truyền, căn cứ vào vị trí chỉ văn trong ba cửa có thể tham khảo mức độ nông sâu của tà khí và mức độ nặng nhẹ của bệnh.
Chỉ văn hiện gần phong quan biểu thị tà còn nông, bệnh nhẹ.
Chỉ văn vượt phong quan đến khí quan biểu thị tà đã vào sâu hơn, bệnh tương đối nặng.
Chỉ văn vượt khí quan đến mệnh quan được xem là dấu hiệu tà hãm sâu, bệnh tiến triển nặng.
Chỉ văn đi xuyên qua cả phong quan, khí quan và mệnh quan, kéo dài đến đầu móng tay, gọi là “thấu quan xạ giáp”(透关射甲). Theo bản gốc, đây là biểu hiện bệnh tình nguy kịch.
MÀU CHỈ VĂN — ĐỎ TÍM ĐỂ PHÂN BIỆT HÀN NHIỆT
Những biến đổi màu sắc chủ yếu gồm đỏ, tím, xanh, đen và trắng nhạt.
Chỉ văn đỏ tươi, phần nhiều thuộc ngoại cảm phong hàn.
Chỉ văn đỏ tím, phần nhiều chủ nhiệt chứng.
Chỉ văn xanh chủ phong chứng hoặc đau.
Chỉ văn xanh tím hoặc tím đen biểu thị huyết lạc bế tắc, uất trệ.
Chỉ văn trắng nhạt, phần nhiều thuộc tỳ hư.
HÌNH DẠNG CHỈ VĂN — PHÙ TRẦM PHÂN BIỆT BIỂU LÝ, NHẠT TRỆ NHẬN ĐỊNH HƯ THỰC
Hình dạng chỉ văn gồm những thay đổi về độ nông sâu, nhỏ lớn của mạch lạc.
Chỉ văn nổi nông, hiện rõ, chủ bệnh ở biểu.
Chỉ văn chìm sâu, ẩn, khó thấy, chủ bệnh ở lý.
Chỉ văn nhỏ, màu nhạt, phần nhiều thuộc hư chứng.
Chỉ văn to, màu đậm và có vẻ ứ trệ, phần nhiều thuộc thực chứng.
Điểm cốt yếu khi quan sát chỉ văn ở trẻ nhỏ được khái quát như sau:
“浮沉分表里,红紫辨寒热,淡滞定虚实,三关测轻重,纹形色相参,留神仔细看。”
“Phù trầm phân biểu lý, hồng tử biện hàn nhiệt, đạm trệ định hư thực, tam quan trắc khinh trọng, văn hình sắc tương tham, lưu thần tử tế khán.”
Nổi hay chìm để phân biệt biểu lý; đỏ hay tím để phân biệt hàn nhiệt; nhạt hay đậm trệ để nhận định hư thực; phạm vi ở ba cửa để tham khảo mức độ nặng nhẹ. Phải phối hợp hình dạng với màu sắc, chú tâm quan sát kỹ lưỡng.
Trường Xuân biên soạn
VĂN CHẨN — 闻诊
Văn chẩn gồm hai nội dung: nghe âm thanh và ngửi mùi. Người thầy thuốc dùng thính giác và khứu giác để nhận biết những âm thanh, mùi bất thường phát ra từ cơ thể người bệnh, qua đó tìm hiểu bệnh tình.
Văn chẩn là một phương pháp thăm khám không thể thiếu, đồng thời là một cách quan trọng giúp người thầy thuốc thu thập các dấu hiệu khách quan.
Trường Xuân biên soạn
NGHE ÂM THANH — 听声音
Nghe âm thanh chủ yếu là nghe những thay đổi về độ cao thấp, mạnh yếu, trong đục, chậm nhanh của lời nói và hơi thở; đồng thời nghe những âm thanh bất thường khi ho, nôn, nấc và ợ hơi để phân biệt hàn nhiệt, hư thực của bệnh.
ÂM THANH BÌNH THƯỜNG — 正常声音
Tiếng nói của người khỏe mạnh tuy khác nhau giữa từng người, nhưng có những đặc điểm chung là phát âm tự nhiên, âm điệu điều hòa, mạnh nhẹ thích hợp.
Do khác biệt về giới tính, tuổi tác, thể chất và bẩm chất, tiếng nói bình thường cũng khác nhau. Nam giới thường có giọng thấp và trầm; nữ giới thường có giọng cao và trong; trẻ em thường có giọng cao, thanh; người cao tuổi thường có giọng trầm, thấp.
Âm thanh cũng liên quan đến những thay đổi tình chí. Khi giận dữ, tiếng nói thường gắt và gấp; khi buồn đau, tiếng nói có thể bi thương, đứt quãng. Những thay đổi nhất thời do cảm xúc này vẫn thuộc phạm vi bình thường, không nhất thiết liên quan đến bệnh.
ÂM THANH BỆNH LÝ — 病变声音
Âm thanh bệnh lý là những biến đổi của âm thanh do bệnh gây ra. Nhìn chung, những thay đổi vượt ngoài phạm vi sinh lý bình thường và đặc điểm riêng của từng người được xem là âm thanh bệnh lý.
PHÁT ÂM BẤT THƯỜNG
Khi mắc bệnh, tiếng nói cao, vang, nói nhiều và kích động, phần nhiều thuộc thực chứng hoặc nhiệt chứng.
Nếu cảm thụ phong, hàn, thấp, tiếng nói thường kèm vẻ nặng và đục.
Tiếng nói nhỏ, yếu, ít nói, yên lặng, phần nhiều thuộc hư chứng, hàn chứng hoặc tình trạng tà đã lui nhưng chính khí bị tổn thương.
Khàn tiếng và mất tiếng — 音哑与失音
Tiếng nói khàn gọi là âm á; không phát ra được tiếng gọi là thất âm.
Trên lâm sàng, thường xuất hiện khàn tiếng trước; khi bệnh tiếp tục phát triển có thể mất tiếng. Vì vậy, nguyên nhân và bệnh cơ của hai biểu hiện cơ bản giống nhau, trước hết cần phân biệt hư thực.
Bệnh mới phát phần nhiều thuộc thực chứng, do ngoại cảm phong hàn hoặc phong nhiệt phạm phế; hoặc do đàm trọc bế tắc ở phế, làm phế mất chức năng thanh túc.
Bệnh kéo dài phần nhiều thuộc hư chứng, do tinh khí bị tổn thương, phế thận âm hư, hư hỏa thiêu đốt phế.
Ngáy — 鼻鼾
Ngáy là âm thanh hô hấp bất thường xuất hiện khi đường thở không thông thuận. Người bình thường khi ngủ say cũng có thể ngáy.
Nếu ngáy liên tục, người bệnh hôn mê hoặc ngủ sâu không đánh thức được, bản gốc xem đây là biểu hiện nguy hiểm, có thể gặp trong sốt cao kèm thần hôn hoặc trúng phong nhập tạng.
Rên và kêu thét — 呻吟、惊呼
Rên là âm thanh phát ra do đau đớn hoặc khó chịu. Rên liên tục biểu thị cơ thể đau hoặc không thoải mái.
Kêu thét là tiếng kêu đột ngột trước một kích thích bất ngờ. Đau dữ dội xuất hiện đột ngột hoặc kinh sợ thường khiến người bệnh kêu thét.
Trẻ nhỏ kêu thét từng cơn, tiếng cao, vẻ kinh hãi, theo Trung y phần nhiều thuộc kinh phong do can phong nội động, quấy nhiễu tâm thần.
LỜI NÓI BẤT THƯỜNG
“言为心声。”
“Lời nói là tiếng của tâm.”
Theo Trung y, lời nói bất thường thường liên quan đến bệnh biến của tâm.
Nhìn chung, im lặng, ít nói thường thuộc hư chứng hoặc hàn chứng; bứt rứt, nói nhiều thường thuộc thực chứng hoặc nhiệt chứng.
Tiếng nói nhỏ, lúc có lúc ngừng thường thuộc hư chứng; tiếng nói cao, mạnh thường thuộc thực chứng.
Cuồng ngôn và điên ngữ — 狂言癫语
Cuồng ngôn và điên ngữ đều là lời nói không có trật tự do thần chí rối loạn, ý thức và tư duy bị trở ngại.
Cuồng ngôn biểu hiện bằng chửi mắng, hát hoặc cười thất thường, nói năng hỗn loạn, la hét, hành động bừa bãi, phiền táo bất an. Chủ yếu gặp trong cuồng chứng; những tên gọi dân gian được bản gốc ghi lại là “võ si” hoặc “phát điên”.
Người bệnh ở trạng thái hưng phấn mạnh, theo Trung y thuộc dương chứng, nhiệt chứng, phần nhiều do đàm hỏa nhiễu tâm hoặc can đởm uất hỏa.
Điên ngữ biểu hiện bằng lời nói không có trật tự, tự nói một mình hoặc im lặng, khóc cười thất thường, tinh thần hoảng hốt, không muốn gặp người. Chủ yếu gặp trong điên chứng, bản gốc còn ghi tên dân gian là “văn si”.
Người bệnh thường có tinh thần u uất, kém phấn chấn, theo Trung y thuộc âm chứng, phần nhiều do đàm trọc uất bế hoặc tâm tỳ lưỡng hư.
Độc ngữ và thác ngữ — 独语与错语
Độc ngữ và thác ngữ là những bất thường về lời nói khi người bệnh còn tỉnh nhưng tư duy chậm. Thường gặp ở người cao tuổi hoặc người bệnh lâu ngày.
Theo Trung y, có thể do khí huyết của tâm hư, tâm thần mất nuôi dưỡng, làm tư duy chậm; thường gặp trong hư chứng.
Độc ngữ là tự nói một mình, lẩm bẩm không ngừng, lời nói trước sau không nối tiếp, gặp người thì ngừng. Phần nhiều do khí huyết của tâm bất túc, tâm thần mất nuôi dưỡng; hoặc do đàm trọc thịnh bên trong, che lấp tâm khiếu, quấy nhiễu thần minh.
Thác ngữ là nói đảo lộn, nhầm lẫn; có khi nói xong tự biết mình nói sai nhưng không tự chủ được. Còn gọi là lời nói đảo lộn hoặc lời nói rối loạn.
Theo Trung y, phần nhiều do can uất khí trệ, đàm trọc trở bên trong hoặc tâm tỳ lưỡng hư.
Nói sảng và trịnh thanh — 谵语与郑声
Nói sảng và trịnh thanh đều là những bất thường về lời nói khi thần chí hôn mê hoặc mơ màng. Bản gốc xem đây là biểu hiện thất thần trong bệnh tình nguy kịch.
Nói sảng phần nhiều do tà khí quá thịnh, quấy nhiễu tâm thần. Trịnh thanh phần nhiều do chính khí tổn thương nặng, tâm thần mất nuôi dưỡng.
Nói sảng biểu hiện bằng thần chí không rõ, nói năng hỗn loạn, tiếng cao, mạnh, thường kèm thân nóng, phiền táo; phần nhiều thuộc thực chứng, nhiệt chứng, đặc biệt thường gặp trong bệnh ngoại cảm cấp tính có nhiệt.
Trịnh thanh biểu hiện bằng thần chí hôn trầm, lặp đi lặp lại lời nói, tiếng nhỏ, yếu, đứt quãng. Theo Trung y, do tâm khí tổn thương nặng, thần không còn chỗ nương tựa, thuộc hư chứng.
HÔ HẤP BẤT THƯỜNG VÀ HO
Hô hấp bất thường và ho là những triệu chứng thường gặp trong bệnh ở phế.
Phế chủ hô hấp. Khi chức năng phế bình thường, hơi thở đều, không xuất hiện ho hoặc khạc đàm.
Khi ngoại tà xâm phạm hoặc bệnh biến của tạng phủ khác ảnh hưởng đến phế, phế khí không thông thuận, có thể xuất hiện hô hấp bất thường và ho.
HÔ HẤP BẤT THƯỜNG
Những biểu hiện chủ yếu gồm suyễn, háo, thượng khí, đoản khí, thiểu khí, hơi thở thô và hơi thở yếu.
Suyễn — 喘
Suyễn, còn gọi là khí suyễn, là thở gấp, khó thở, nặng hơn có thể há miệng, nhấc vai khi thở, cánh mũi phập phồng, phải ngồi để thở, không thể nằm ngang.
Có thể gặp trong nhiều bệnh phổi cấp tính và mạn tính.
Khi biện chứng suyễn, trước hết phải phân biệt hư thực.
Thực suyễn khởi phát nhanh, khó thở, tiếng thở cao, hơi thở mạnh và thô, cảm thấy dễ chịu hơn khi thở ra; nặng hơn có thể ngẩng đầu, mắt lồi, mạch sác hữu lực. Theo Trung y, phần nhiều do ngoại tà phạm phế hoặc đàm trọc trở phế.
Hư suyễn khởi phát chậm, hơi thở ngắn, gấp, như không nối tiếp; cảm thấy dễ chịu hơn khi hít được một hơi dài; sau vận động khó thở tăng, hơi yếu, tiếng nhỏ, hình thể suy nhược, mệt mỏi, ít sức, mạch yếu. Phần nhiều do khí âm của phế đều hư hoặc thận không nạp khí.
Háo — 哮
Háo có đặc điểm thở gấp, trong họng có tiếng đàm rít như tiếng còi.
Bệnh thường tái phát, khó khỏi hoàn toàn; có thể phát lại khi chuyển mùa hoặc thời tiết thay đổi đột ngột. Khi biện chứng cần phân biệt hàn nhiệt.
Hàn háo, còn gọi là lãnh háo, theo bản gốc thường phát vào mùa đông xuân hoặc khi gặp lạnh. Do dương hư, đàm ẩm đình lưu bên trong hoặc hàn ẩm trở phế.
Nhiệt háo thường được mô tả là phát vào mùa hè thu, khi thời tiết nóng khô. Do âm hư hỏa vượng hoặc nhiệt đàm trở phế.
Thượng khí — 上气
Thượng khí có đặc điểm thở gấp, thở ra nhiều, hít vào ít; có thể kèm hơi thở ngắn và mặt phù.
Theo Trung y, do phế khí không thông thuận, khí nghịch lên họng. Có hư chứng và thực chứng.
Thực chứng thường do đàm ẩm trở phế hoặc ngoại tà phạm phế.
Hư chứng được bản gốc quy về âm hư hỏa vượng.
Đoản khí — 短气
Đoản khí có đặc điểm hơi thở ngắn, không nối tiếp. Biểu hiện gần giống hư suyễn nhưng không nhấc vai; tiếng thở có thể giống tiếng rên nhưng không do đau.
Theo Trung y, phần nhiều do phế khí bất túc.
Thủy ẩm đình lưu ở ngực cũng có thể gây đoản khí, do thủy ẩm trở ngại khí cơ trong ngực, làm phế khí không thông thuận.
Thiểu khí — 少气
Thiểu khí có đặc điểm hơi thở yếu, tiếng nói nhỏ, không có sức.
Người bệnh thường mệt mỏi, ngại nói, sắc mặt thiếu vẻ tươi. Khi nói chuyện tự cảm thấy không đủ hơi để nói, thường phải hít sâu rồi mới tiếp tục.
Theo Trung y, đây là biểu hiện dương khí toàn thân bất túc.
Hơi thở thô và hơi thở yếu — 气粗、气微
Đây là tình trạng luồng hơi qua mũi khi thở có âm thô mạnh hoặc rất yếu.
Hơi thở thô phần nhiều thuộc thực chứng, do ngoại cảm lục dâm hoặc đàm trọc thịnh bên trong làm khí cơ không thông thuận.
Hơi thở yếu phần nhiều thuộc hư chứng, do khí của phế và thận hư.
HO — 咳嗽
Ho là một trong những triệu chứng thường gặp nhất của bệnh ở phế, biểu thị phế mất túc giáng, phế khí nghịch lên.
Theo cách phân biệt cổ truyền, khái(咳)là có tiếng mà không có đàm; thấu(嗽)là có đàm mà không có tiếng; khái thấu(咳嗽)là vừa có tiếng vừa có đàm.
Hiện nay, trong thực hành lâm sàng thường không phân biệt như vậy mà gọi chung là ho.
Khi biện chứng ho, trước hết cần phân biệt ngoại cảm và nội thương.
Ho ngoại cảm thường khởi phát nhanh, thời gian bệnh ngắn, kèm biểu chứng, phần nhiều thuộc thực chứng.
Ho nội thương thường khởi phát chậm, kéo dài hoặc tái phát, thường gặp hư chứng.
Cần chú ý đặc điểm tiếng ho. Tiếng ho nặng, bí, phần nhiều thuộc hàn thấp; tiếng ho thanh, rõ, phần nhiều thuộc táo nhiệt.
Ho ban ngày nhiều hơn, ban đêm nhẹ hơn, thường được quy về nhiệt hoặc táo.
Ho ban đêm nhiều hơn, ban ngày nhẹ hơn, phần nhiều được quy về phế thận âm hư.
Ho yếu, tiếng ho nhỏ, phần nhiều thuộc phế khí hư.
Ngoài tiếng ho, còn phải tham khảo màu sắc, lượng đàm và các triệu chứng đi kèm để phân biệt hàn nhiệt, hư thực.
Trên lâm sàng còn gặp đốn khái và ho có tiếng như chó sủa.
Đốn khái — 顿咳
Đốn khái còn gọi là bách nhật khái(百日咳), tức ho gà.
Đặc điểm là ho thành cơn, tiếng ho liên tiếp, mang tính co thắt. Khi ho dữ dội, khí nghịch, người bệnh có thể chảy nước mũi, nước mắt, thậm chí nôn. Sau cơn ho có tiếng hít vào khác thường, được cổ thư ví như “tiếng cò kêu”.
Theo bản gốc, bệnh thường gặp ở trẻ dưới năm tuổi, hay phát vào mùa đông xuân, diễn biến kéo dài, khó khỏi nhanh.
Theo Trung y, do phong tà kết hợp với đàm tiềm phục, uất lại hóa nhiệt, làm trở tắc đường thở.
Nhìn chung, bệnh mới phát thường thuộc thực, bệnh kéo dài thường thuộc hư; đàm nhiều thiên về thực, đàm ít thiên về hư; ho mạnh, có sức thiên về thực, ho nhẹ, tiếng yếu thiên về hư.
Đốn khái thuộc thực chứng phần nhiều do phong hàn phạm phế hoặc đàm nhiệt trở phế.
Đốn khái thuộc hư chứng thường gặp phế tỳ khí hư.
Ho như tiếng chó sủa
Bản gốc mô tả trong bệnh bạch hầu có tiếng ho như chó sủa, ho khan từng cơn, được giải thích là do dịch độc truyền vào trong, lý nhiệt quá thịnh.
NÔN, Ợ HƠI VÀ NẤC
Theo Trung y, nôn, ợ hơi và nấc đều liên quan đến vị khí nghịch lên. Do vị trí và cách tác động của tà khí khác nhau nên xuất hiện những biểu hiện khác nhau.
Nôn — 呕吐
Theo cách phân biệt cổ truyền, có tiếng và có chất nôn gọi là ẩu(呕); có chất nôn nhưng không có tiếng gọi là thổ(吐), như nôn nước chua hoặc nước đắng.
Can ẩu(干呕), tức nôn khan, là muốn nôn, có tiếng nhưng không có chất nôn, hoặc chỉ nôn ra một ít nước bọt.
Trong lâm sàng, những biểu hiện này thường được gọi chung là nôn.
Do nguyên nhân làm vị khí nghịch lên khác nhau, âm thanh và cách nôn cũng khác nhau, giúp tham khảo hàn nhiệt, hư thực.
Nôn chậm, tiếng yếu, phần nhiều thuộc hư hàn.
Nôn mạnh, gấp, tiếng lớn, phần nhiều thuộc thực nhiệt.
Nôn thuộc hư chứng thường do tỳ vị dương hư hoặc vị âm bất túc.
Nôn thuộc thực chứng thường do tà khí phạm vị, trọc khí nghịch lên, có thể gặp trong thức ăn tích trệ ở vị quản, ngoại tà phạm vị, đàm ẩm trở bên trong hoặc can khí phạm vị.
Ợ hơi — 嗳气
Ợ hơi là âm thanh phát ra khi khí từ vị nghịch lên và thoát qua họng.
Sau khi ăn no, thỉnh thoảng ợ hơi không nhất thiết là bệnh.
Khi biện chứng cần phân biệt hư thực.
Ợ hơi thuộc hư chứng thường có tiếng thấp, yếu, phần nhiều do tỳ vị hư nhược.
Ợ hơi thuộc thực chứng thường có tiếng cao, mạnh; sau khi ợ, cảm giác bụng đầy giảm bớt. Phần nhiều do thức ăn tích trệ ở vị quản, can khí phạm vị hoặc hàn tà lưu ở vị.
Nấc — 呃逆
Nấc là tiếng bật ra không tự chủ. Theo Trung y, do vị khí nghịch lên; biểu hiện liên quan đến sự co thắt của cơ hoành.
Khi biện chứng nấc, cần phân biệt hư thực, hàn nhiệt.
Tiếng nấc cao, mạnh thường thuộc thực hoặc nhiệt.
Tiếng nấc thấp, yếu thường thuộc hư hoặc hàn.
Thực chứng thường khởi phát nhanh, theo Trung y có thể do hàn tà trực tiếp xâm phạm tỳ vị hoặc can hỏa phạm vị.
Hư chứng phần nhiều do tỳ thận dương suy hoặc vị âm bất túc.
Người bình thường cũng có thể nấc ngay sau ăn, khi gặp lạnh hoặc ăn quá nhanh. Những trường hợp này thường chỉ tạm thời và phần lớn tự hết.
THỞ DÀI — 叹息
Thở dài, còn gọi là thái tức(太息), là người bệnh tự cảm thấy ngực bí bách nên thở ra một hơi dài; sau đó cảm giác trong ngực dễ chịu hơn đôi chút.
Theo Trung y, do khí cơ không thông thuận, thường gặp trong can uất hoặc khí hư.
Trường Xuân biên soạn
NGỬI MÙI — 嗅气味
Ngửi mùi chủ yếu là nhận biết những mùi bất thường phát ra từ cơ thể người bệnh, các chất thải và phòng bệnh, nhằm tìm hiểu bệnh tình, nhận định hàn nhiệt, hư thực.
MÙI CỦA CƠ THỂ NGƯỜI BỆNH — 病体气味
Hôi miệng — 口臭
Hôi miệng là khi người bệnh mở miệng, trong miệng phát ra mùi hôi khó chịu. Thường gặp trong bệnh tại khoang miệng hoặc, theo Trung y, khi vị trường có nhiệt.
Hôi miệng do bệnh trong khoang miệng có thể gặp trong nha cam, sâu răng hoặc vệ sinh miệng không sạch.
Hôi miệng do vị trường có nhiệt thường được quy về vị hỏa bốc lên, thức ăn cũ đình lưu hoặc tỳ vị thấp nhiệt.
Mùi mồ hôi — 汗气
Do nguyên nhân gây ra mồ hôi khác nhau, mùi mồ hôi cũng khác nhau.
Trong ngoại cảm lục dâm, chẳng hạn phong tà phạm biểu; hoặc khi vệ dương bất túc, phần ngoài cơ thể không được giữ vững, mồ hôi thường không có mùi rõ.
Người có thực nhiệt thịnh ở khí phận hoặc bệnh lâu ngày, âm hư hỏa vượng, có thể ra nhiều mồ hôi với mùi chua ôi.
Trong tý chứng, nếu phong thấp lưu lâu ở phần ngoài cơ thể rồi hóa nhiệt, mồ hôi có thể vàng và có mùi hôi đặc biệt.
Ở người mắc âm thủy(阴水), nếu mồ hôi có mùi khai như nước tiểu, bản gốc xem là dấu hiệu bệnh chuyển nguy kịch.
Mùi hôi từ mũi — 鼻臭
Đây là tình trạng hơi thở qua mũi có mùi hôi khó chịu. Bản gốc chia nguyên nhân thành ba nhóm.
Do dịch mũi: nước mũi vàng, đục, đặc dính, tanh hôi, kéo dài khó khỏi và tái phát, thuộc tỵ uyên.
Do tổn thương loét ở mũi: những bệnh như giang mai, bệnh phong hoặc khối ung thư có thể gây loét, tạo mùi hôi.
Do bệnh ở nội tạng: hơi thở có mùi như “táo thối” được bản gốc mô tả trong chứng tiêu khát nặng. Hơi thở có mùi khai như nước tiểu được mô tả ở người mắc âm thủy trong tình trạng nguy kịch.
Mùi hôi của thân thể — 身臭
Các vết loét, sang dương chảy mủ hoặc dịch, hôi nách và những tình trạng rỉ dịch khác đều có thể khiến cơ thể phát ra mùi hôi.
MÙI CỦA CÁC CHẤT THẢI — 排出物气味
Người bệnh cũng có thể tự nhận biết mùi của các chất thải. Vì vậy, những mùi bất thường của đàm, nước bọt, phân, nước tiểu, kinh nguyệt và khí hư có thể được tìm hiểu qua vấn chẩn.
Nhìn chung, theo Trung y, bệnh do thấp nhiệt hoặc nhiệt tà thường có chất thải đục, hôi, khó ngửi. Bệnh do hàn hoặc hàn thấp thường có chất thải trong loãng, không có mùi đặc biệt.
Chất nôn
Chất nôn hôi khó chịu, phần nhiều thuộc vị nhiệt quá thịnh.
Chất nôn có mùi chua thối, kèm thức ăn chưa tiêu, thuộc thức ăn cũ đình lưu.
Chất nôn tanh hôi, lẫn mủ và máu, được bản gốc mô tả trong vị ung(胃痈).
Chất nôn là đàm và nước bọt trong loãng, không có mùi hôi hoặc mùi tanh, theo Trung y thuộc tỳ vị có hàn.
Ợ hơi
Ợ hơi có mùi chua thối, phần nhiều do nhiệt thịnh ở vị quản hoặc thức ăn đình trệ trong vị rồi hóa nhiệt.
Ợ hơi không có mùi, phần nhiều do can khí phạm vị hoặc hàn tà lưu ở vị.
Nước tiểu
Nước tiểu có mùi khai nồng, màu vàng, đục, theo Trung y thuộc thực nhiệt.
Nước tiểu trong, lượng nhiều, chỉ hơi tanh khai hoặc không có mùi đặc biệt, thuộc hư chứng hoặc hàn chứng.
Đại tiện
Phân hôi nặng, vàng và lỏng, hoặc có mủ máu đỏ trắng, theo Trung y thuộc thấp nhiệt thịnh ở đại trường.
Trẻ nhỏ đi phân chua hôi, có thức ăn chưa tiêu, thuộc thực tích đình lưu.
Phân lỏng, có mùi tanh, được quy về tỳ vị hư hàn.
Trung tiện
Trung tiện có mùi như trứng thối, phần nhiều do ăn uống quá mức, thức ăn đình trệ ở trung tiêu hoặc phân cũ lưu trong ruột.
Trung tiện liên tục, tiếng lớn nhưng không hôi, phần nhiều thuộc can uất khí trệ, phủ khí không thông thuận.
Kinh nguyệt, sản dịch và khí hư
Kinh nguyệt hoặc sản dịch sau sinh có mùi hôi, theo Trung y do nhiệt tà xâm phạm bào cung.
Khí hư vàng, hôi, thuộc thấp nhiệt hạ chú.
Khí hư trắng, có mùi tanh, thuộc hàn thấp hạ chú.
MÙI TRONG PHÒNG BỆNH — 病室气味
Mùi trong phòng bệnh phát sinh từ cơ thể người bệnh và các chất thải.
Bản gốc mô tả rằng trong ôn dịch, ngay từ đầu có thể có mùi hôi rõ; nhẹ thì quanh giường, màn, nặng thì lan khắp phòng.
Phòng có mùi tanh máu thường liên quan đến mất máu.
Phòng có mùi thối rữa thường liên quan đến những vết loét hoặc sang dương có chất hoại mục.
Mùi giống xác phân hủy được bản gốc quy về tình trạng tạng phủ suy hoại.
Mùi khai như nước tiểu được mô tả trong bệnh phù giai đoạn muộn.
Mùi như táo thối được mô tả trong bệnh tiêu khát.
Trường Xuân biên soạn
VẤN CHẨN — 问诊
Vấn chẩn là phương pháp người thầy thuốc hỏi người bệnh hoặc người đi cùng để tìm hiểu sự phát sinh, diễn biến của bệnh, quá trình điều trị, triệu chứng hiện tại và những tình tiết khác liên quan, nhằm thăm khám và nhận định bệnh.
Mục đích của vấn chẩn là thu thập đầy đủ những thông tin có liên quan mật thiết đến biện chứng mà ba phương pháp chẩn đoán còn lại không thể cung cấp. Chẳng hạn, thời gian và nơi phát bệnh, nguyên nhân hoặc yếu tố khởi phát, quá trình điều trị, những triệu chứng người bệnh tự cảm nhận và tình trạng sức khỏe trước đây.
Đây thường là những căn cứ quan trọng không thể thiếu trong biện chứng. Nắm được những thông tin ấy giúp nhận định đúng nguyên nhân, vị trí và tính chất của bệnh.
Vì vậy, vấn chẩn có ý nghĩa quan trọng trong thăm khám. Đây là một phương pháp chẩn đoán chủ yếu, thường là bước đầu của khám bệnh trên lâm sàng, giúp bổ sung những điều còn thiếu của vọng, văn và thiết chẩn.
Ở giai đoạn đầu của bệnh hoặc trong một số bệnh do tình chí, người bệnh có thể chỉ có những triệu chứng tự cảm nhận như đau đầu, mất ngủ, mà chưa có dấu hiệu khách quan rõ ràng. Khi ấy, vấn chẩn đặc biệt quan trọng, giúp xác định trọng điểm của bệnh và hỗ trợ chẩn đoán sớm.
Vấn chẩn đúng đắn thường giúp định hướng suy nghĩ và nhận định của người thầy thuốc, tạo điều kiện chẩn đoán nhanh và chính xác. Với những bệnh phức tạp, vấn chẩn cũng có thể cung cấp đầu mối cho các bước thăm khám tiếp theo.
Nhìn chung, người bệnh là người trực tiếp cảm nhận những khó chịu của mình. Một số thông tin về bệnh chưa thể đo lường bằng thiết bị, nên cần thông qua vấn chẩn để tìm hiểu. Trong biện chứng, thông tin thu được từ vấn chẩn chiếm tỷ trọng lớn, có phạm vi rộng và phong phú.
NGUYÊN TẮC VẤN CHẨN
Vấn chẩn cần thích hợp, chính xác, ngắn gọn nhưng không bỏ sót. Cần tuân theo những nguyên tắc sau.
Xác định chủ chứng, hỏi xoay quanh lời than phiền chính
Trước hết, phải xác định điều gì khiến người bệnh đến khám, tức lời than phiền chính, còn gọi là chủ tố(主诉).
Chủ tố thường phản ánh vấn đề chủ yếu của bệnh. Nắm được chủ tố là nắm được trọng điểm, từ đó phân tích, quy nạp và bước đầu xác định những bệnh có thể liên quan.
Sau đó, tiếp tục hỏi theo các khả năng chẩn đoán ấy để đi đến chẩn đoán lâm sàng xác định hoặc nhận định chẩn đoán sơ bộ.
Kết hợp hỏi với biện chứng — 问辨结合
Không phải hỏi xong toàn bộ rồi mới phân tích, mà cần vừa hỏi vừa xem xét câu trả lời của người bệnh hoặc người đi cùng.
Dùng phương pháp đối chiếu, so sánh những thông tin thu được với các bệnh chứng tương tự. Phương diện nào còn thiếu căn cứ thì tiếp tục hỏi sâu về phương diện ấy.
Như vậy, vấn chẩn có mục đích rõ ràng, chi tiết mà không rườm rà, ngắn gọn mà không bỏ sót; thông tin thu thập được đầy đủ và chính xác.
Khi kết thúc vấn chẩn, người thầy thuốc có thể hình thành một nhận định chẩn đoán sơ bộ hoặc kết luận rõ ràng.
NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý KHI VẤN CHẨN
Người thầy thuốc phải tập trung chú ý, gạt bỏ những suy nghĩ không liên quan, hỏi nghiêm túc, không làm qua loa.
Thái độ cần hòa nhã, gần gũi; lời hỏi phải dễ hiểu, tránh dùng thuật ngữ y học để hỏi người bệnh, nhằm tạo sự tin cậy và hợp tác. Khi cần, có thể gợi mở để người bệnh trình bày, nhưng phải tránh câu hỏi dẫn dắt khiến câu trả lời không phản ánh đúng thực tế.
Cần chú ý trạng thái tâm lý của người bệnh, giúp giảm gánh nặng tinh thần và củng cố niềm tin vào việc chữa bệnh; tránh gây ảnh hưởng bất lợi đến tâm lý.
Đối với người bệnh nguy kịch, phải ưu tiên cấp cứu, theo nguyên tắc “cấp tắc trị tiêu”(急则治标)— khi cấp bách thì xử trí những biểu hiện nguy hiểm trước. Không được chờ chẩn đoán xác định rồi mới điều trị, vì có thể bỏ lỡ thời điểm cứu chữa và gây hậu quả nghiêm trọng.
Nội dung vấn chẩn chủ yếu gồm thông tin chung, lời than phiền chính, bệnh sử và các triệu chứng hiện tại.
Trường Xuân biên soạn
HỎI THÔNG TIN CHUNG — 问一般项目
Thông tin chung gồm họ tên, giới tính, tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, quê quán, đơn vị công tác hiện tại và địa chỉ đang cư trú.
Việc hỏi và ghi lại những thông tin này giúp duy trì liên hệ giữa người thầy thuốc với người bệnh, thuận tiện theo dõi về sau và thể hiện trách nhiệm trong chẩn đoán, điều trị. Đồng thời, đây cũng là những tư liệu tham khảo cho việc nhận định bệnh.
Giới tính khác nhau thì những bệnh có thể mắc cũng khác nhau. Nam giới có thể gặp di tinh, xuất tinh sớm, liệt dương; phụ nữ có thể gặp những bệnh liên quan đến kinh nguyệt, khí hư, thai nghén và sinh đẻ.
Tuổi tác khác nhau thì đặc điểm mắc bệnh cũng thường khác nhau. Chẳng hạn, sởi, thủy đậu và ho gà thường gặp ở trẻ nhỏ.
Cùng một bệnh, do tuổi khác nhau mà biểu hiện hư thực có thể khác nhau. Theo nhận định khái quát của Trung y, người trẻ và trung niên có khí huyết sung túc, khi mắc bệnh thường thiên về thực chứng; người cao tuổi có khí huyết suy giảm, khi mắc bệnh thường thiên về hư chứng.
Hỏi nghề nghiệp giúp tìm hiểu nguyên nhân của một số bệnh. Chẳng hạn, người làm việc trong nước dễ bị thấp tà xâm phạm theo lý luận Trung y. Nghề nghiệp cũng cung cấp đầu mối nhận biết các bệnh nghề nghiệp, như nhiễm độc chì hoặc bệnh do tiếp xúc với bụi silic.
Hỏi tình trạng hôn nhân giúp tìm hiểu thêm những vấn đề liên quan đến sinh sản và chức năng sinh dục. Với phụ nữ đã kết hôn, bản gốc đề cập việc hỏi có thai hay không, bệnh trong thai kỳ và tiền sử sinh đẻ. Với nam giới đã kết hôn, có thể tìm hiểu những bất thường như chức năng sinh dục suy giảm hoặc quá mạnh.
Hỏi quê quán và địa chỉ cư trú giúp tìm hiểu những bệnh có tính địa phương.
Những thông tin trên đều là tư liệu tham khảo quan trọng trong chẩn đoán và điều trị.
Trường Xuân biên soạn
HỎI LỜI THAN PHIỀN CHÍNH VÀ BỆNH SỬ
问主诉和病史
LỜI THAN PHIỀN CHÍNH — 主诉
Lời than phiền chính, còn gọi là chủ tố, là triệu chứng chủ yếu mà người bệnh cảm nhận rõ nhất hoặc gây khó chịu nhiều nhất khi đến khám, cùng thời gian kéo dài của triệu chứng ấy.
Chủ tố thường là lý do chính khiến người bệnh đến khám, đồng thời phản ánh vấn đề chủ yếu của bệnh. Chủ tố chính xác giúp người thầy thuốc bước đầu nhận định loại bệnh, mức độ nặng nhẹ và tính chất cấp bách; cung cấp đầu mối quan trọng cho việc tìm hiểu, phân tích và xử trí bệnh, nên có giá trị chẩn đoán đáng kể.
Nếu chủ tố gồm một số triệu chứng xuất hiện ở những thời điểm khác nhau, cần sắp xếp theo thứ tự phát sinh.
Thông thường, chủ tố chỉ nên gồm một đến hai hoặc ba triệu chứng, không nên quá nhiều.
Khi ghi chủ tố, lời văn phải chính xác, ngắn gọn, rõ ràng; không rườm rà, chung chung hoặc mơ hồ. Không dùng tên bệnh đã được chẩn đoán thay cho chủ tố, cũng không đưa toàn bộ quá trình diễn biến bệnh vào phần này.
BỆNH SỬ HIỆN TẠI — 现病史
Bệnh sử hiện tại bao gồm toàn bộ quá trình từ khi bệnh được nêu trong chủ tố bắt đầu xuất hiện đến lúc khám: diễn biến bệnh tình, quá trình thăm khám và điều trị, cùng tất cả triệu chứng người bệnh đang tự cảm nhận.
Tình hình khởi bệnh
Cần hỏi hoàn cảnh và thời gian khởi bệnh; người bệnh có nhận thấy nguyên nhân hoặc yếu tố khởi phát rõ ràng hay không; có tiền sử tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm hay không.
Đồng thời, cần hỏi bệnh khởi phát đột ngột hay từ từ, nhẹ hay nặng; những triệu chứng đầu tiên xuất hiện ở đâu, có tính chất gì, kéo dài bao lâu và mức độ như thế nào.
Quá trình diễn biến bệnh
Cần hỏi theo trình tự thời gian về những thay đổi chủ yếu từ khi khởi bệnh đến lúc khám.
Tính chất, vị trí và mức độ của triệu chứng có thay đổi rõ hay không? Những thay đổi ấy có quy luật không? Có nguyên nhân hoặc yếu tố nào làm triệu chứng thay đổi không? Diễn biến chung của bệnh như thế nào?
Quá trình thăm khám và điều trị
Cần hỏi toàn bộ tình hình chẩn đoán và điều trị từ khi bệnh khởi phát đến trước lần khám hiện tại.
Người bệnh đã khám ở đâu? Đã làm những xét nghiệm hoặc thăm dò nào? Kết quả ra sao? Được chẩn đoán bệnh gì? Đã điều trị bằng phương pháp nào?
Cần hỏi những thuốc đã dùng, liều lượng, cách dùng, thời gian sử dụng, hiệu quả và những phản ứng bất lợi nếu có.
Các thông tin này cần được ghi lại ngắn gọn, có trọng tâm.
Triệu chứng hiện tại
Cần hỏi đầy đủ những triệu chứng người bệnh đang tự cảm nhận trong lần khám này. Đây là nội dung chủ yếu của vấn chẩn, sẽ được trình bày riêng ở phần sau.
Bệnh sử hiện tại là bộ phận chủ yếu của toàn bộ bệnh sử. Tìm hiểu phần này có ý nghĩa quan trọng trong phân tích bệnh tình, nhận biết quy luật diễn biến và cung cấp căn cứ xác định chẩn đoán.
Hỏi thời gian phát bệnh giúp tham khảo việc nhận định bệnh hiện tại thuộc biểu hay lý, thực hay hư.
Hỏi nguyên nhân hoặc yếu tố khởi phát thường giúp suy xét nguyên nhân gây bệnh và tính chất bệnh, như hàn, nhiệt, thấp hoặc táo.
Tiền sử tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm có thể cung cấp căn cứ chẩn đoán những bệnh như bạch hầu, sởi hoặc lỵ.
Hỏi rõ diễn biến bệnh giúp tìm hiểu tình hình đấu tranh giữa tà khí và chính khí, bước đầu nhận định sự thịnh suy của chính khí và tiên lượng.
Hỏi rõ quá trình thăm khám, điều trị trước đây giúp cung cấp căn cứ cho chẩn đoán hiện tại, gợi hướng khảo sát tiếp theo và là thông tin tham khảo quan trọng khi quyết định điều trị.
TIỀN SỬ BỆNH, TIỀN SỬ SINH HOẠT VÀ TIỀN SỬ GIA ĐÌNH
既往、生活、家族史
TIỀN SỬ BỆNH — 既往史
Tiền sử bệnh gồm tình trạng sức khỏe trước đây và những bệnh quan trọng đã mắc, ngoài bệnh đang được trình bày trong chủ tố.
Cần hỏi tình hình chẩn đoán, điều trị những bệnh ấy; hiện đã khỏi hay chưa, còn di chứng gì không; đã từng mắc bệnh truyền nhiễm hay chưa; có tiền sử dị ứng thuốc hoặc dị ứng với những yếu tố khác hay không.
Đối với trẻ nhỏ, cần hỏi thêm tình hình tiêm chủng trước đây.
Tình trạng sức khỏe và những bệnh đã mắc thường có mối liên hệ nhất định với bệnh hiện tại, nên có thể dùng làm thông tin tham khảo trong chẩn đoán.
TIỀN SỬ SINH HOẠT — 生活史
Tiền sử sinh hoạt gồm thói quen sống, những hoàn cảnh từng trải qua, sở thích ăn uống, lao động, nghỉ ngơi, sinh hoạt hằng ngày và tình hình công việc.
Về quá trình sinh sống, cần hỏi nơi sinh, nơi cư trú và những vùng đã sống trong thời gian dài, đặc biệt lưu ý vùng có bệnh địa phương hoặc bệnh truyền nhiễm lưu hành.
Cần hỏi trạng thái tinh thần, có từng chịu kích thích hoặc sang chấn tinh thần lớn hay không; thói quen sinh hoạt, sở thích ăn uống, việc hút thuốc, uống rượu và những thói quen khác.
Đối với phụ nữ, cần hỏi tiền sử kinh nguyệt và sinh sản.
Về lao động và nghỉ ngơi, cần hỏi tính chất công việc, mức độ lao động, thời gian làm việc và nghỉ ngơi có điều độ hay không.
Những yếu tố xã hội như hoàn cảnh sống, thói quen và công việc đều có thể ảnh hưởng đến bệnh. Phân tích các thông tin ấy giúp cung cấp căn cứ cho biện chứng luận trị.
Theo Trung y, thiên lệch trong ăn uống có thể khiến khí của các tạng thiên thịnh hoặc thiên suy. Những biến đổi tinh thần thường là nguyên nhân của một số bệnh do tình chí.
Lao lực quá mức dễ tổn thương thận; an nhàn, ít vận động lâu ngày dễ tổn thương tỳ; sinh hoạt thất thường thường quấy nhiễu tâm, từ đó tạo ra những biểu hiện bệnh tương ứng.
TIỀN SỬ GIA ĐÌNH — 家族病史
Tiền sử gia đình là tình hình mắc bệnh của những người thân trực hệ hoặc họ hàng bên có quan hệ huyết thống gần, đặc biệt xem xét có bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh di truyền hay không.
Nhiều bệnh truyền nhiễm có liên quan đến việc sống chung và tiếp xúc gần, chẳng hạn lao phổi.
Những bệnh di truyền có liên hệ với huyết thống. Bản gốc còn đề cập tình trạng thể chất yếu hoặc trí tuệ phát triển kém có thể xuất hiện trong gia đình có hôn nhân cận huyết.
Ghi chú đối chiếu bản nguồn
Bản nguồn đưa “dương mai tính bệnh”, tức giang mai, vào ví dụ về bệnh di truyền. Cách xếp này không chính xác: giang mai bẩm sinh là bệnh nhiễm trùng truyền từ mẹ sang con, không phải bệnh di truyền theo huyết thống. Vì vậy, ví dụ ấy không được giữ trong phần dịch chính.
Trường Xuân biên soạn
HỎI CÁC TRIỆU CHỨNG HIỆN TẠI — 问现在症状
Hỏi các triệu chứng hiện tại là tìm hiểu toàn bộ triệu chứng của người bệnh tại thời điểm đến khám.
Triệu chứng phản ánh bệnh và là căn cứ chủ yếu của biện chứng lâm sàng. Thông qua vấn chẩn, nắm được các triệu chứng hiện tại sẽ giúp xác định vấn đề chủ yếu của bệnh, từ đó tiến hành biện chứng, tìm hiểu bản chất bệnh và đưa ra nhận định chính xác.
Vì vậy, hỏi triệu chứng hiện tại là một khâu quan trọng của vấn chẩn. Để hỏi đầy đủ, chính xác, không bỏ sót, thường dùng Thập vấn ca(十问歌)của Trương Cảnh Nhạc làm trình tự tham khảo:
“一问寒热二问汗,三问头身四问便,
五问饮食六问胸,七聋八渴俱当辨,
九问旧病十问因,再兼服药参机变;
妇女尤必问经期,迟速闭崩皆可见;
再添片语告儿科,天花麻疹全占验。”
Trước hỏi hàn nhiệt, rồi hỏi mồ hôi; tiếp hỏi đầu mình và đại tiểu tiện. Hỏi ăn uống, hỏi ngực; tai điếc và khát nước đều phải phân biệt. Hỏi bệnh cũ, hỏi nguyên nhân, đồng thời tìm hiểu thuốc đã dùng để nhận định diễn biến bệnh. Với phụ nữ, đặc biệt phải hỏi kinh nguyệt, xem có đến muộn, đến sớm, bế kinh hoặc băng huyết hay không. Với trẻ nhỏ, cần hỏi thêm về những bệnh như đậu mùa, sởi để hỗ trợ nhận định.
HỎI HÀN NHIỆT — 问寒热
Hỏi hàn nhiệt là hỏi người bệnh có cảm giác lạnh hoặc nóng hay không.
Hàn là cảm giác sợ lạnh. Nhiệt là phát nhiệt: nhiệt độ cơ thể cao hơn bình thường, hoặc nhiệt độ vẫn bình thường nhưng người bệnh cảm thấy toàn thân hay một bộ phận nóng.
Theo Trung y, sự xuất hiện hàn nhiệt chủ yếu phụ thuộc vào tính chất tà khí và sự thịnh suy của âm dương trong cơ thể. Vì vậy, hỏi cảm giác hàn nhiệt giúp phân biệt tính chất hàn nhiệt của bệnh và tình trạng âm dương.
Cần hỏi có lạnh hoặc nóng hay không; hai biểu hiện xuất hiện riêng hay cùng lúc; mức độ nặng nhẹ, thời điểm xuất hiện, thời gian kéo dài, đặc điểm biểu hiện và các triệu chứng đi kèm.
Những biểu hiện thường gặp gồm chỉ lạnh không nóng, chỉ nóng không lạnh, vừa sợ lạnh vừa phát nhiệt và hàn nhiệt vãng lai.
CHỈ LẠNH KHÔNG NÓNG — 但寒不热
Người bệnh chỉ cảm thấy sợ lạnh mà không phát nhiệt gọi là chỉ lạnh không nóng.
Có thể gặp lúc bệnh ngoại cảm mới bắt đầu, chưa phát nhiệt; khi hàn tà trực tiếp xâm phạm tạng phủ, kinh lạc; hoặc trong hư chứng do nội thương.
Tùy đặc điểm sợ lạnh, có thể phân thành ố phong, ố hàn, hàn chiến và úy hàn.
Ố phong — 恶风
Ố phong là gặp gió thì sợ lạnh, có thể run, tránh gió thì giảm.
Phần nhiều do ngoại cảm phong tà. Phong tà ở biểu làm tổn thương vệ phận, mất chức năng ôn dưỡng da thịt và điều tiết đóng mở tấu lý, nên gặp gió thì lạnh, tránh gió thì đỡ.
Ố phong cũng có thể gặp ở người vốn có khí của phế vệ hư, phần ngoài cơ thể không được giữ vững.
Ố hàn — 恶寒
Ố hàn là thường xuyên cảm thấy lạnh, dù mặc thêm áo, đắp chăn hoặc đến gần nguồn nhiệt vẫn không hết.
Phần nhiều gặp lúc bệnh ngoại cảm mới phát. Vệ khí không đưa ra ngoài được, da thịt mất ôn dưỡng nên sợ lạnh.
Khi ấy, dù được sưởi ấm, dương khí vẫn chưa thông đạt ra biểu, nên cảm giác lạnh không giảm rõ. Biểu hiện này có thể gặp ở giai đoạn đầu của nhiều bệnh ngoại cảm, thường thiên về thực chứng.
Hàn chiến — 寒战
Ố hàn kèm run rét gọi là hàn chiến, tức mức độ nặng hơn của ố hàn. Bệnh cơ và tính chất bệnh cơ bản giống ố hàn.
Trong ngoại cảm, thời gian chỉ có ố phong, ố hàn hoặc hàn chiến thường ngắn; sau đó có thể xuất hiện phát nhiệt, tạo thành ố hàn phát nhiệt hoặc hàn nhiệt vãng lai.
Bản gốc nhận định rằng một số trường hợp có thể kéo dài hơn nhưng thường vẫn xuất hiện phát nhiệt. Theo dõi những thay đổi này giúp tìm hiểu tiến trình bệnh.
Úy hàn — 畏寒
Úy hàn là tự cảm thấy sợ lạnh nhưng mặc thêm áo, đắp chăn hoặc sưởi ấm thì giảm. Phần nhiều thuộc lý hàn.
Theo Trung y, có thể do nội thương hoặc bệnh lâu ngày làm dương khí hư bên trong; hoặc hàn tà quá mạnh trực tiếp vào lý, tổn thương dương khí, khiến cơ thể không được ôn dưỡng đầy đủ.
Khi giữ ấm, dương khí bớt hao tán hoặc được nhiệt hỗ trợ, da thịt được ôn ấm nên cảm giác sợ lạnh giảm.
CHỈ NÓNG KHÔNG LẠNH — 但热不寒
Người bệnh chỉ phát nhiệt mà không sợ lạnh gọi là chỉ nóng không lạnh, có thể gặp trong lý nhiệt.
Tùy mức độ, thời gian và quy luật thay đổi, có thể phân thành tráng nhiệt, triều nhiệt và vi nhiệt.
Tráng nhiệt — 壮热
Tráng nhiệt là sốt cao, theo bản gốc nhiệt độ trên ba mươi chín độ, kéo dài không lui, thuộc lý thực nhiệt.
Theo Trung y, do phong hàn vào lý hóa nhiệt hoặc ôn nhiệt tà truyền vào lý. Tà thịnh, chính khí còn mạnh, hai bên giao tranh dữ dội, lý nhiệt hun bốc ra ngoài.
Triều nhiệt — 潮热
Triều nhiệt là phát nhiệt hoặc nhiệt tăng vào một thời điểm nhất định, có quy luật như thủy triều.
Có thể gặp trong ngoại cảm và nội thương. Tùy mức độ và thời gian, bản gốc chia thành ba loại.
Dương minh triều nhiệt
Thường gặp trong dương minh phủ thực chứng của Thương hàn luận.
Đặc điểm là nhiệt tương đối cao, khi lui vẫn chưa hết hẳn, thường tăng vào cuối buổi chiều, nên còn gọi là nhật bô triều nhiệt(日晡潮热).
Theo Trung y, do tà nhiệt uất kết ở vị trường, phân khô kết bên trong; bệnh ở vị và đại trường thuộc dương minh.
Thấp ôn triều nhiệt
Thường gặp trong bệnh thấp ôn thuộc phạm vi ôn bệnh.
Người bệnh tự cảm thấy nóng nhiều, nhưng lúc đầu sờ da chưa thấy nóng rõ; sờ lâu mới cảm thấy nóng rát. Biểu hiện này gọi là thân nhiệt bất dương(身热不扬).
Nhiệt thường tăng sau buổi trưa, khi lui vẫn chưa hết hẳn. Đây là một dạng phát nhiệt được mô tả trong bệnh thấp nhiệt.
Âm hư triều nhiệt
Thường gặp trong âm hư.
Nhiệt tăng sau buổi trưa hoặc ban đêm, mức độ thường thấp; có khi người bệnh chỉ tự cảm thấy nóng mà nhiệt độ không tăng rõ.
Thường có nóng bứt rứt ở ngực, lòng bàn tay và lòng bàn chân, gọi là ngũ tâm phiền nhiệt(五心烦热).
Nặng hơn, người bệnh cảm thấy nóng từ trong xương tủy lan ra ngoài, gọi là cốt chưng triều nhiệt(骨蒸潮热).
Theo Trung y, do âm dịch hao tổn, hư dương thiên thịnh mà sinh nội nhiệt.
Vi nhiệt — 微热
Vi nhiệt là phát nhiệt kéo dài nhưng mức độ nhẹ, theo bản gốc thường không quá ba mươi tám độ, còn gọi là sốt nhẹ kéo dài.
Có thể gặp ở cuối giai đoạn ôn bệnh, trong nội thương khí hư, âm hư hoặc chứng sốt mùa hè ở trẻ nhỏ.
Cuối giai đoạn ôn bệnh, tà chưa hết, dư nhiệt còn lưu lại, khiến sốt nhẹ kéo dài.
Sốt nhẹ kéo dài do khí hư còn gọi là khí hư phát nhiệt. Đặc điểm là nhiệt thấp, kéo dài, sau lao lực thì tăng rõ.
Theo Trung y, tỳ khí hư, trung khí bất túc, không đủ sức đưa dương khí lên và phân bố ra ngoài; dương khí bị uất ở phần ngoài cơ thể nên phát nhiệt. Lao lực làm khí hao thêm, khiến nhiệt tăng.
Sốt mùa hè ở trẻ nhỏ là tình trạng phát nhiệt trong thời tiết nóng, đến mùa thu mát thì tự lui. Bản gốc giải thích là do khí âm của trẻ bất túc, khả năng điều hòa thân nhiệt chưa hoàn thiện, không thích nghi được với khí hậu nóng.
Ố HÀN PHÁT NHIỆT — 恶寒发热
Cảm giác sợ lạnh và phát nhiệt cùng xuất hiện gọi là ố hàn phát nhiệt. Đây là một trong những triệu chứng chủ yếu của biểu chứng ngoại cảm.
Theo Trung y, khi ngoại cảm mới phát, ngoại tà giao tranh với vệ dương. Ngoại tà bó buộc phần biểu, làm vệ dương bị uất, da thịt mất ôn dưỡng nên sợ lạnh; vệ dương không được tuyên đạt, uất lại nên phát nhiệt.
Nếu cảm thụ hàn tà, sự bó buộc phần biểu mạnh hơn, biểu hiện sợ lạnh rõ. Nếu cảm thụ nhiệt tà, nhiệt tăng, biểu hiện phát nhiệt rõ hơn.
Hỏi mức độ lạnh và nóng giúp tham khảo tính chất ngoại tà.
Sợ lạnh nhiều, phát nhiệt nhẹ, phần nhiều thuộc biểu hàn do ngoại cảm phong hàn.
Phát nhiệt nhiều, sợ lạnh nhẹ, phần nhiều thuộc biểu nhiệt do ngoại cảm phong nhiệt.
Sợ lạnh, phát nhiệt, kèm sợ gió, tự ra mồ hôi, mạch phù hoãn, phần nhiều thuộc biểu hư.
Sợ lạnh, phát nhiệt, kèm đau đầu, đau mình, không có mồ hôi, mạch phù khẩn, thuộc biểu thực.
Mức độ hàn nhiệt cũng có thể giúp tham khảo sự thịnh suy của tà chính. Theo bản gốc, tà nhẹ, chính khí mạnh thì lạnh và nóng đều nhẹ; tà thịnh, chính khí còn mạnh thì cả hai đều nặng; tà thịnh, chính khí hư thì sợ lạnh nhiều nhưng phát nhiệt nhẹ.
HÀN NHIỆT VÃNG LAI — 寒热往来
Hàn nhiệt vãng lai là sợ lạnh và phát nhiệt luân phiên. Khi lạnh thì không thấy nóng; khi nóng thì không thấy lạnh, ranh giới giữa hai giai đoạn tương đối rõ.
Có thể phát một hoặc nhiều lần trong ngày, được mô tả trong bệnh thiếu dương, ôn bệnh và sốt rét.
Theo Trung y, trong quá trình tà từ biểu vào lý, tà lưu ở khoảng bán biểu bán lý. Tà chưa hoàn toàn vào lý, chính khí cũng chưa đủ sức đẩy tà ra ngoài, khiến tà chính giằng co.
Chính thắng, tà yếu thì phát nhiệt; tà thắng, chính suy thì sợ lạnh. Hai bên luân phiên thắng thua, tiến lui, tạo thành hàn nhiệt vãng lai.
HỎI MỒ HÔI — 问汗
Theo Trung y, mồ hôi được hóa sinh từ tân dịch. Tân dịch trong cơ thể nhờ dương khí chưng hóa, thoát qua tấu lý ra ngoài da thành mồ hôi.
Người bình thường có thể ra mồ hôi khi lao lực, vận động mạnh, môi trường nóng, ăn uống nóng hoặc căng thẳng tinh thần. Đó là hiện tượng sinh lý.
Khi mắc bệnh, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và điều tiết mồ hôi có thể gây ra những biểu hiện bất thường.
Trong bệnh, ra mồ hôi có hai mặt. Theo Trung y, mồ hôi có thể giúp tà thoát ra và hỗ trợ hồi phục; nhưng ra quá nhiều có thể làm hao tổn tân dịch, gây mất cân bằng âm dương.
Cần hỏi có mồ hôi hay không, thời điểm, vị trí, lượng, đặc điểm, triệu chứng đi kèm và những thay đổi sau khi ra mồ hôi.
KHÔNG CÓ MỒ HÔI — 无汗
Không có mồ hôi toàn thân có thể gặp trong ngoại cảm hoặc nội thương, bệnh mới hoặc bệnh lâu ngày.
Trong ngoại cảm, tà uất ở phần biểu, khí không tuyên đạt, mồ hôi không thoát ra, thuộc rối loạn chức năng điều tiết của vệ khí.
Khi tà vào lý, làm hao tổn dinh âm, tân dịch suy kiệt, cũng có thể không có mồ hôi do thiếu nguồn tạo thành.
Trong nội thương lâu ngày, bệnh cơ phức tạp: có thể do phế khí không tuyên đạt, điều tiết mồ hôi bất thường; cũng có thể do huyết ít, tân dịch thiếu, không đủ nguồn sinh mồ hôi.
CÓ MỒ HÔI — 有汗
Theo Trung y, dinh vệ không giữ vững, nội nhiệt quá thịnh hoặc âm dương mất điều hòa đều có thể gây ra mồ hôi bất thường.
Hỏi thời điểm, lượng mồ hôi và thời gian mắc bệnh giúp tham khảo bệnh ở biểu hay lý, sự thịnh suy của âm dương và tiên lượng.
Bệnh mới phát, có mồ hôi, kèm phát nhiệt, sợ gió, thuộc thái dương trúng phong biểu hư chứng, do ngoại cảm phong tà.
Mồ hôi nhiều không ngừng, kèm nóng hầm hập, mặt đỏ, khát và thích uống lạnh, thuộc thực nhiệt. Lý nhiệt quá thịnh chưng đẩy tân dịch ra ngoài. Ra mồ hôi càng nhiều, chính khí càng dễ bị tổn thương.
Mồ hôi lạnh đầm đìa hoặc dính như dầu, kèm thở gấp, mặt trắng bệch, tứ chi lạnh, mạch vi muốn tuyệt, gọi là thoát hãn(脱汗)hoặc tuyệt hãn(绝汗).
Theo Trung y, đây là tình trạng bệnh lâu ngày hoặc bệnh nặng làm chính khí tổn thương nghiêm trọng, dương khí thoát ra ngoài, tân dịch mất nhiều; thuộc dấu hiệu nguy hiểm, tiên lượng không tốt.
Tự hãn — 自汗
Ban ngày thường ra mồ hôi, sau vận động càng nhiều, gọi là tự hãn.
Thường kèm mệt mỏi, thiếu sức, hơi thở ngắn, ngại nói hoặc sợ lạnh, tay chân lạnh.
Theo Trung y, khí hư hoặc dương hư không giữ được phần ngoài cơ thể, tấu lý lỏng, lỗ chân lông không kín, tân dịch thoát ra.
Sau vận động, dương khí phát tán ra ngoài, khí càng hư nên mồ hôi tăng. Vì vậy, tự hãn thường gặp trong khí hư hoặc dương hư.
Đạo hãn — 盗汗
Ngủ thì ra mồ hôi, tỉnh thì ngừng, gọi là đạo hãn, tức mồ hôi trộm.
Thường kèm triều nhiệt, gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ, mạch tế sác, thuộc âm hư.
Theo Trung y, âm hư sinh hư nhiệt. Khi ngủ, vệ dương vào trong, phần biểu không được giữ kín, hư nhiệt chưng đẩy tân dịch ra ngoài. Khi tỉnh, vệ dương trở ra biểu, lỗ chân lông được giữ kín nên mồ hôi ngừng.
Chiến hãn — 战汗
Người bệnh trước hết sợ lạnh, run rét, vẻ đau đớn, trằn trọc, sau đó ra mồ hôi, gọi là chiến hãn.
Thường được mô tả trong bệnh ngoại cảm có nhiệt, lúc tà chính giao tranh mạnh, có thể là bước chuyển của bệnh.
Theo Trung y, phần nhiều tà thịnh, chính hư; khi dương khí hồi phục, tà chính giao tranh mạnh thì xuất hiện chiến hãn.
Sau chiến hãn, nếu nhiệt lui, mạch điều hòa, thân mát, phiền khát giảm rõ, biểu thị chính thắng tà, bệnh dần khỏi, là dấu hiệu tốt.
Nếu sau chiến hãn nhiệt không lui, còn phiền táo, mạch nhanh gấp, biểu thị chính khí yếu, không thắng tà, nhiệt lại hãm vào trong, bệnh nặng thêm.
MỒ HÔI CỤC BỘ
Mồ hôi đầu
Chỉ đầu hoặc đầu cổ ra nhiều mồ hôi, còn gọi là đản đầu hãn xuất(但头汗出).
Theo Trung y, có thể do tà nhiệt ở thượng tiêu hoặc thấp nhiệt ở trung tiêu hun lên, đẩy tân dịch ra ngoài; cũng có thể do bệnh nguy kịch, hư dương nổi vượt lên trên.
Mồ hôi nửa người
Một nửa cơ thể ra mồ hôi, hoặc một nửa thường không có mồ hôi; có thể phân theo trên dưới hoặc trái phải.
Bản gốc mô tả biểu hiện này trong trúng phong, dấu hiệu báo trước trúng phong, nuy chứng hoặc liệt hai chi dưới.
Theo Trung y, phần nhiều do kinh lạc phía bệnh bị bế tắc, khí huyết vận hành không điều hòa.
Mồ hôi tay chân
Lòng bàn tay, lòng bàn chân ra nhiều mồ hôi.
Theo Trung y, phần nhiều do nhiệt tà uất bên trong hoặc âm hư dương thịnh, đẩy tân dịch ra ngoài ở tứ chi.
HỎI TOÀN THÂN — 问周身
Hỏi toàn thân là tìm hiểu người bệnh có đau hoặc khó chịu ở các bộ phận hay không. Có thể hỏi lần lượt từ đầu đến chân.
HỎI ĐAU
Đau là triệu chứng tự cảm nhận thường gặp trong mọi chuyên khoa. Cần hỏi rõ nguyên nhân xuất hiện, tính chất, vị trí, thời gian và những yếu tố làm đau tăng hoặc giảm.
Nguyên nhân đau
Nguyên nhân gây đau rất nhiều, có ngoại cảm và nội thương; bệnh cơ có hư và thực.
“Không thông thì đau”(不通则痛)thuộc thực chứng.
“Không được nuôi dưỡng thì đau”(不荣则痛)thuộc hư chứng.
TÍNH CHẤT ĐAU
Đau trướng
Đau kèm cảm giác căng trướng, có thể xuất hiện ở nhiều nơi nhưng thường gặp ở ngực sườn, vị quản và bụng.
Theo Trung y, phần nhiều do khí cơ uất trệ.
Đau châm chích
Đau như kim đâm, thường khu trú trong phạm vi nhỏ, vị trí cố định.
Phần nhiều do huyết ứ, thường gặp ở ngực sườn, vị quản và bụng dưới.
Đau quặn
Đau dữ dội như xoắn, cắt hoặc khoét, khó chịu đựng.
Theo Trung y, phần nhiều do thực tà hữu hình đột ngột làm bế tắc kinh lạc, khí cơ; hoặc hàn tà vào trong, khí cơ uất bế, huyết vận hành không thông.
Có thể gặp trong tâm thống do tâm huyết ứ trở, đau vị quản hoặc bụng do giun đũa di chuyển hay hàn tà xâm phạm vị trường.
Đau di chuyển
Vị trí đau thay đổi, chạy từ nơi này sang nơi khác hoặc khó xác định chính xác.
Theo Trung y, có thể do phong tà lưu ở kinh lạc, khớp, làm trở khí cơ. Khí trệ cũng thường gây đau di chuyển.
Có thể gặp trong tý chứng do phong thấp hoặc khí trệ.
Đau kéo giật
Chỗ đau có cảm giác kéo giật hoặc kéo sang vùng khác. Đau thường theo dải, lan tỏa hoặc có điểm bắt đầu và điểm kết thúc.
Theo Trung y, phần nhiều do cân mạch mất nuôi dưỡng hoặc kinh mạch bế tắc. Có thể gặp trong hung tý, can âm hư hoặc thực nhiệt ở can kinh.
Đau nóng rát
Chỗ đau có cảm giác bỏng nóng. Nếu tổn thương ở nông, đôi khi sờ cũng thấy nóng; thường thích mát.
Theo Trung y, có thể do hỏa nhiệt vào kinh lạc hoặc âm hư dương thịnh, hư nhiệt thiêu đốt kinh lạc.
Có thể gặp trong đau rát hai bên sườn do can hỏa phạm lạc, đau rát vị quản do vị âm bất túc hoặc sang dương ngoại khoa.
Đau lạnh
Chỗ đau có cảm giác lạnh; nếu ở nông, đôi khi sờ cũng thấy lạnh; thường thích ấm.
Theo Trung y, phần nhiều do hàn ngưng ở cân mạch hoặc dương khí bất túc.
Đau nặng
Đau kèm cảm giác nặng trĩu, thường gặp ở đầu, tứ chi và thắt lưng.
Phần nhiều do thấp tà làm trở khí cơ, thường gặp trong thấp chứng.
Đau có cảm giác trống rỗng
Đau kèm cảm giác rỗng, thiếu đầy, thường thích ấm và thích được ấn.
Theo Trung y, phần nhiều do tinh huyết bất túc, có thể gặp trong dương hư, âm hư, huyết hư hoặc âm dương lưỡng hư.
Đau âm ỉ
Đau nhẹ, kéo dài, có thể chịu đựng được.
Theo Trung y, phần nhiều do khí huyết bất túc hoặc dương khí hư, khiến khí huyết trong kinh mạch vận hành không thuận.
VỊ TRÍ ĐAU
Hỏi vị trí đau giúp xác định nơi có bệnh và tham khảo những biến đổi của tạng phủ, kinh lạc liên quan.
Đau đầu
Đau toàn đầu, phía trước, phía sau hoặc hai bên đều gọi là đau đầu. Ngoại cảm và nội thương đều có thể gây đau đầu.
Ngoại cảm thường do tà phạm não phủ, kinh lạc uất trệ, thuộc thực.
Nội thương thường do tạng phủ hư, thanh dương không lên, não phủ mất nuôi dưỡng; hoặc thận tinh bất túc, tủy hải không đầy, thuộc hư.
Đau do đàm ẩm, huyết ứ trở kinh lạc có thể thuộc thực hoặc hư thực xen kẽ.
Đau đầu nhiều, liên tục, kèm biểu hiện ngoại cảm, thuộc đau đầu ngoại cảm.
Đầu nặng như bị bó, chi thể nặng, thuộc đau đầu phong thấp.
Đau nhẹ, bệnh kéo dài, lúc đau lúc ngừng, phần nhiều thuộc nội thương.
Đau âm ỉ, lao lực thì tăng, thuộc khí hư.
Đau âm ỉ, kèm chóng mặt, mặt trắng, thuộc huyết hư.
Đầu đau có cảm giác trống rỗng, lưng gối mỏi yếu, thuộc thận hư.
Đầu đau, choáng nặng, tự ra mồ hôi, phân lỏng, thuộc tỳ hư.
Đau như kim đâm, vị trí cố định, thuộc huyết ứ.
Đầu đau như bị bó, kèm buồn nôn, chóng mặt, thuộc đàm trọc.
Đầu đau trướng, miệng đắng, họng khô, thuộc can hỏa bốc lên.
Đau đầu kèm buồn nôn, nôn, vùng thượng vị đầy tức, không ăn được, thuộc thực tích.
Theo phân bố kinh lạc, đau đầu gáy liên quan đến kinh thái dương; đau trán liên quan đến kinh dương minh; đau hai bên đầu liên quan đến kinh thiếu dương; đau đỉnh đầu liên quan đến kinh quyết âm; đau đầu lan đến răng liên quan đến kinh thiếu âm.
Đau ngực
Đau ngực là cảm giác đau ở giữa hoặc một bên ngực.
Ngực thuộc thượng tiêu, bên trong có tâm và phế, nên bệnh ở ngực thường liên quan đến hai tạng này. Theo Trung y, đau ngực nhìn chung do khí cơ ở ngực không thông thuận.
Ngực đau, bí tức, đau lan vai và cánh tay, thuộc hung tý. Phần nhiều do khí huyết trong tâm mạch vận hành không thông, có thể gặp trong hung dương bất túc, đàm trọc trở bên trong hoặc khí hư huyết ứ.
Ngực và lưng đau xuyên thông, dữ dội, mặt xanh xám, tay chân xanh đến các khớp, được bản gốc mô tả là chân tâm thống, do tâm mạch đột ngột bế tắc.
Ngực đau, sốt cao, mặt đỏ, thở gấp, cánh mũi phập phồng, thuộc nhiệt tà bế phế, phế mất tuyên giáng.
Ngực đau, triều nhiệt, mồ hôi trộm, ho đàm lẫn máu, thuộc phế âm hư, hư hỏa làm tổn thương phế lạc.
Ngực tức, ho suyễn, đàm trắng nhiều, thuộc đàm thấp phạm phế, do tỳ hư sinh thấp đàm, đàm trọc đưa lên.
Ngực đau trướng, di chuyển, hay thở dài, dễ giận, thuộc can khí uất trệ, tình chí không thư thái, khí cơ trong ngực không thuận.
Ngực đau châm chích, cố định, thuộc huyết ứ.
Đau sườn
Đau một hoặc hai bên sườn gọi là hiếp thống.
Theo Trung y, vùng sườn liên quan đến can đởm và đường tuần hành của kinh can đởm, nên đau sườn thường thuộc bệnh của can đởm hoặc kinh mạch liên quan.
Sườn đau trướng, hay thở dài, dễ giận, phần nhiều do can khí uất kết.
Sườn đau nóng rát, phần nhiều do can hỏa uất trệ.
Sườn đau trướng, da và mắt vàng, phần nhiều do can đởm thấp nhiệt, có thể gặp trong hoàng đản.
Sườn đau châm chích, cố định, do huyết ứ trở, kinh lạc không thông.
Sườn đau, vùng liên sườn phía bệnh đầy, ho hoặc khạc thì đau tăng, được mô tả trong huyền ẩm, do thủy ẩm đình lưu ở ngực sườn.
Đau vị quản
Vị quản bao gồm toàn bộ vùng vị. Phần trên gần tâm vị gọi là thượng quản; phần dưới gần môn vị gọi là hạ quản; phần giữa gọi là trung quản.
Đau vị quản là đau vùng dạ dày.
Hàn, nhiệt, thực tích, khí trệ hoặc rối loạn chức năng tạng phủ ảnh hưởng đến vị đều có thể làm khí cơ của vị không thông, gây đau.
Vị quản đau lạnh, khá dữ dội, được làm ấm thì giảm, thuộc hàn tà phạm vị.
Vị quản đau nóng rát, ăn nhiều, dễ đói, hôi miệng, táo bón, thuộc vị hỏa quá thịnh.
Vị quản đau trướng, ợ hơi nhưng không dễ chịu, thuộc khí trệ ở vị, thường do can khí phạm vị.
Vị quản đau châm chích, cố định, thuộc huyết ứ.
Vị quản đau trướng, ợ chua thối, trào nước chua, chán ăn, thuộc thức ăn tích trệ.
Vị quản đau âm ỉ, nôn nước trong, thuộc vị dương hư.
Vị quản đau rát, cồn cào, đói nhưng không muốn ăn, thuộc vị âm hư.
Đau bụng
Bụng được chia thành đại phúc, tiểu phúc và thiếu phúc.
Vùng quanh rốn gọi là tề phúc, theo Trung y liên quan đến tỳ và tiểu trường.
Phía trên rốn gọi chung là đại phúc, gồm vị quản, bụng trên trái và phải, liên quan đến tỳ vị, can đởm.
Phía dưới rốn gọi là tiểu phúc, liên quan đến bàng quang, bào cung, đại trường và tiểu trường.
Hai bên bụng dưới gọi là thiếu phúc, là nơi kinh can đi qua.
Vị trí và tính chất đau giúp tham khảo tạng phủ có bệnh, nguyên nhân và tính chất bệnh.
Đại phúc đau âm ỉ, phân lỏng, thích ấm, thích ấn, thuộc tỳ vị hư hàn.
Tiểu phúc đau trướng, tiểu khó, có thể gặp trong long bế, bệnh liên quan đến bàng quang.
Tiểu phúc đau châm chích, tiểu khó, được bản gốc quy về bàng quang súc huyết.
Thiếu phúc đau lạnh, kéo xuống bộ phận sinh dục, thuộc hàn ngưng ở kinh can.
Đau quanh rốn, có khối nổi, ấn thấy di chuyển, được bản gốc mô tả trong đau bụng do trùng tích.
Đau đột ngột, dữ dội, trướng, không chịu được khi ấn, ăn vào đau tăng, phần nhiều thuộc thực chứng.
Đau xuất hiện từ từ, âm ỉ, thích ấn, ăn vào giảm, phần nhiều thuộc hư chứng.
Được làm ấm thì giảm, phần nhiều thuộc hàn chứng.
Đau và thích mát, phần nhiều thuộc nhiệt chứng.
Đau thắt lưng
Tính chất đau giúp tham khảo nguyên nhân.
Thắt lưng đau lạnh, chủ yếu đau cột sống, vận động hạn chế, phần nhiều thuộc tý chứng do hàn thấp.
Thắt lưng đau lạnh, nước tiểu trong, lượng nhiều, thuộc thận hư.
Thắt lưng đau châm chích, cố định, thuộc huyết ứ do vặn trẹo, té ngã hoặc chấn thương.
Theo vị trí, đau cột sống thắt lưng được quy về bệnh ở xương; đau chủ yếu hai bên thắt lưng được quy về thận; đau lan xuống chân liên quan đến kinh mạch chi dưới.
Đau thắt lưng lan quanh bụng như thắt đai, được quy về đới mạch.
Đau lưng
Đau lưng lan lên đầu gáy, kèm biểu chứng ngoại cảm, thuộc phong hàn lưu ở kinh thái dương.
Lưng đau lạnh, kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, thuộc dương hư.
Cột sống đau có cảm giác trống rỗng, khó cúi ngửa, phần nhiều thuộc tinh khí hư, đốc mạch bị tổn thương.
Đau tứ chi
Theo Trung y, đau tứ chi thường do phong hàn thấp xâm phạm kinh lạc, cơ và khớp, làm trở khí huyết; cũng có thể liên quan đến tỳ hư hoặc thận hư.
Khớp tứ chi đau di chuyển, phần nhiều thuộc phong tý.
Khớp đau, toàn thân nặng, phần nhiều thuộc thấp tý.
Khớp đau dữ dội, làm ấm thì giảm, thuộc hàn tý.
Khớp đau nóng rát, thích mát, có thể đỏ sưng, phần nhiều thuộc nhiệt tý.
Gót chân, cẳng chân hoặc gối đau âm ỉ, phần nhiều thuộc thận khí bất túc.
Đau toàn thân
Tứ chi, thắt lưng, lưng và nhiều vùng đều đau gọi là đau toàn thân.
Bệnh mới phát, toàn thân đau mỏi, nặng, kèm biểu chứng, thuộc ngoại tà bó buộc phần biểu.
Bệnh kéo dài, nằm giường lâu, toàn thân đau, theo Trung y thuộc khí huyết hư, kinh mạch không thông thuận.
HỎI NHỮNG KHÓ CHỊU KHÁC CỦA TOÀN THÂN
Ngoài đau, cần hỏi những triệu chứng khác ở đầu, ngực, sườn, bụng và các bộ phận.
Những biểu hiện thường gặp gồm chóng mặt, hoa mắt, mắt khô rát, thị lực giảm, ù tai, điếc, nghe kém, tức ngực, hồi hộp, bụng trướng và tê.
Cần hỏi yếu tố khởi phát, thời gian kéo dài, đặc điểm và các triệu chứng đi kèm.
Chóng mặt
Người bệnh cảm thấy nhìn mờ hoặc sự vật xoay chuyển. Nhẹ thì nhắm mắt có thể giảm; nặng thì cảm thấy trời đất quay cuồng, không đứng được, nhắm mắt vẫn không giảm.
Theo Trung y, có thể do ngoại tà hoặc rối loạn tạng phủ làm trở kinh lạc, thanh dương không lên; hoặc phong hỏa quấy nhiễu phía trên, khiến não phủ bị tà xâm phạm hay mất nuôi dưỡng.
Những chứng thường được phân biệt gồm phong hỏa thượng nhiễu, âm hư dương thịnh, tâm tỳ huyết hư, trung khí bất túc, thận tinh bất túc và đàm trọc trở trung tiêu.
Đau mắt, hoa mắt, mắt khô rát và quáng gà
Mắt đau và đỏ, theo Trung y thuộc can hỏa bốc lên.
Mắt đỏ, sưng, đau, sợ ánh sáng, nhiều ghèn, phần nhiều thuộc phong nhiệt.
Mắt đau nhiều, kèm đau đầu, buồn nôn, nôn, đồng tử giãn, được bản gốc mô tả trong bệnh tăng nhãn áp.
Mắt đau âm ỉ, lúc đau lúc ngừng, phần nhiều thuộc âm hư hỏa vượng.
Hoa mắt là nhìn mờ, rối, thấy chấm đen hoặc những đốm sáng lập lòe trước mắt. Theo Trung y, có thể do can thận âm hư, can dương thượng kháng, can huyết bất túc hoặc khí huyết bất túc khiến mắt mất nuôi dưỡng.
Mắt khô rát là cảm giác khô, cộm, như có dị vật. Kèm đỏ mắt, chảy nước mắt, được quy về can hỏa bốc lên. Nếu nhìn lâu thì tăng, nhắm mắt nghỉ thì giảm, phần nhiều thuộc huyết hư, âm khuy.
Quáng gà, còn gọi là tước mục(雀目), là đến chiều tối nhìn không rõ, sáng hôm sau thị lực lại trở về như thường. Theo Trung y, do can huyết bất túc hoặc thận âm hao tổn, mắt mất nuôi dưỡng.
Ù tai, điếc và nghe kém
Ù tai là tự cảm thấy trong tai có tiếng như ve kêu hoặc sóng nước; có thể ở một hoặc hai bên, lúc có lúc không hoặc liên tục.
Theo biện chứng cổ truyền, ù tai đột ngột, tiếng lớn, dùng tay áp vào tai không giảm, thiên về thực chứng, thường được quy về can đởm hỏa thịnh.
Ù tai xuất hiện từ từ, tiếng nhỏ, dùng tay áp vào tai thì giảm, thiên về hư chứng, được quy về thận hư, tinh thiếu, tủy hải không đầy, tai mất nuôi dưỡng.
Điếc là mất khả năng nghe, có thể xuất hiện sau ù tai.
Điếc đột ngột trong bệnh mới, theo Trung y thường thiên về thực; điếc tăng dần thường thiên về hư, do tạng phủ hư tổn.
Bản gốc nhận định điếc thuộc hư thường gặp hơn, điều trị khó hơn; điếc thuộc thực ít gặp hơn, dễ điều trị hơn.
Nghe kém là nghe không rõ, dễ nghe nhầm. Theo Trung y, có thể liên quan đến thận hư hoặc phong tà xâm nhập.
Tức ngực
Tức ngực là cảm giác ngực bị bít, đầy, không thư thái, còn gọi là hung bĩ hoặc hung mãn.
Theo Trung y, nguyên nhân chung là khí cơ ở ngực không thông thuận. Vì nhiều yếu tố có thể gây tình trạng này, tức ngực có thể xuất hiện trong nhiều bệnh chứng.
Tâm quý và chính xung — 心悸怔忡
Trong điều kiện bình thường, người bệnh tự cảm thấy tim đập khác thường, hồi hộp, bất an, không tự chủ, gọi là tâm quý.
Hồi hộp do kinh sợ gọi là kinh quý(惊悸).
Tâm quý thường tự phát; kinh quý thường xuất hiện sau kinh sợ.
Chính xung là mức độ phát triển nặng hơn của tâm quý hoặc kinh quý: tim đập hồi hộp mạnh hơn, kéo dài hơn, bệnh tình nặng hơn.
Theo Trung y, nhiều nguyên nhân có thể làm tâm thần không yên: tâm dương hư, sức thúc đẩy yếu; khí huyết bất túc, tâm mất nuôi dưỡng; âm hư hỏa vượng quấy nhiễu tâm thần; thủy ẩm đình lưu, đưa lên phạm tâm; đàm trọc trở trệ làm tâm khí không điều hòa; khí trệ huyết ứ quấy nhiễu tâm thần.
Bụng trướng
Bụng trướng là cảm giác đầy, căng, bí, như có vật chống bên trong; hoặc bụng thực sự lớn lên.
Có hư, thực, hàn, nhiệt, nhưng bệnh cơ chủ yếu là khí cơ không thông: hư thì khí không vận hành, thực thì khí uất trệ.
Thực chứng có thể gặp trong hàn thấp phạm vị, dương minh phủ thực, thực tích vị trường, can khí uất trệ hoặc đàm ẩm đình lưu.
Hư chứng thường gặp trong tỳ hư.
Theo phân vùng của bản gốc, trướng bụng trên thường liên quan đến tỳ vị; trướng bụng dưới liên quan đến bàng quang; trướng dưới sườn liên quan đến can đởm.
Tê
Tê là cảm giác giảm hoặc mất cảm giác, thường gặp ở đầu mặt và tứ chi.
Theo Trung y, có thể do khí huyết bất túc, phong đàm thấp trở lạc hoặc khí trệ huyết ứ. Bệnh cơ chủ yếu là kinh mạch không được khí huyết nuôi dưỡng đầy đủ.
HỎI ĂN UỐNG VÀ VỊ GIÁC — 问饮食与口味
Nội dung gồm khát nước, uống nước, ăn uống và những vị khác thường trong miệng.
Cần hỏi có khát hay không, uống bao nhiêu, thích nóng hay lạnh, cảm giác thèm ăn, lượng ăn, thích hoặc ghét thức ăn gì, trong miệng có vị hay mùi bất thường không.
KHÁT VÀ UỐNG NƯỚC
Thông tin về khát và uống nước giúp tìm hiểu tình trạng tân dịch, sự phân bố tân dịch và tính chất hàn nhiệt, hư thực.
Không khát
Theo Trung y, không khát có thể biểu thị tân dịch chưa tổn thương, thường gặp trong hàn chứng hoặc bệnh không có nhiệt tà rõ.
Khát
Khát có thể do tân dịch bất túc hoặc phân bố tân dịch bị trở ngại.
Khát nhiều, uống nhiều biểu thị tân dịch hao tổn rõ, có thể gặp trong thực nhiệt, tiêu khát hoặc sau ra mồ hôi, nôn, tiêu chảy.
Khát nhưng không uống nhiều là cảm thấy khô miệng hoặc khát, nhưng không muốn uống hoặc chỉ uống ít. Theo Trung y, có thể do tân dịch tổn thương nhẹ hoặc phân bố không thuận, gặp trong âm hư, thấp nhiệt, đàm ẩm hoặc huyết ứ.
Khi biện chứng phải phối hợp đặc điểm khát, lượng uống và các triệu chứng đi kèm.
CẢM GIÁC THÈM ĂN VÀ LƯỢNG ĂN
Hỏi cảm giác thèm ăn và lượng ăn giúp tham khảo chức năng tỳ vị, mức độ bệnh và tiên lượng.
Giảm thèm ăn và chán ăn
Giảm thèm ăn còn gọi là nạp ngốc hoặc nạp thiểu, tức không muốn ăn.
Chán ăn, còn gọi là ố thực, là cảm giác ghét hoặc ngại thức ăn.
Có thể không thấy đói, không muốn ăn; hoặc có đói nhưng vẫn không muốn ăn. Theo Trung y, bệnh cơ liên quan đến tỳ vị không điều hòa, khả năng tiêu hóa và hấp thu giảm.
Không muốn ăn, lượng ăn giảm thường gặp trong tỳ vị khí hư hoặc thấp tà khốn tỳ.
Chán ăn thường được quy về thương thực. Phụ nữ đầu thai kỳ chán ăn, nôn, thuộc nhâm thần ố trở(妊娠恶阻).
Đói nhưng không muốn ăn, hoặc ăn rất ít, có thể gặp trong vị âm bất túc.
Ăn nhiều, dễ đói
Thèm ăn tăng, ăn nhiều, không lâu sau lại đói, còn gọi là tiêu cốc thiện cơ(消谷善饥).
Có thể kèm gầy dần, được mô tả trong vị hỏa quá thịnh, vị mạnh tỳ yếu hoặc bệnh tiêu khát.
Theo Trung y, do chức năng làm nhừ thức ăn của vị quá mạnh.
Sở thích ăn uống thiên lệch
Thích đặc biệt một loại thức ăn hoặc một loại vật khác gọi là thiên thị.
Thích ăn những thứ không phải thức ăn gọi là dị thị. Trẻ thích ăn đất, gạo sống hoặc những vật khác được bản gốc quy về trùng tích.
Phụ nữ đã có quan hệ có thể dẫn đến mang thai, ngừng kinh và thích ăn chua, cần xem xét khả năng có thai.
Khi hỏi ăn uống, cũng cần chú ý phản ứng sau ăn.
Thích thức ăn nóng, theo Trung y thường thuộc hàn; thích thức ăn lạnh thường thuộc nhiệt.
Ăn vào thấy dễ chịu hơn thường thiên về hư; ăn vào khó chịu tăng thường thiên về thực hoặc hư trung hiệp thực.
Trong quá trình bệnh, cảm giác thèm ăn dần hồi phục biểu thị vị khí hồi phục, thường là dấu hiệu tốt. Ngược lại, thèm ăn và lượng ăn giảm dần biểu thị vị khí suy.
Người bệnh rất nặng, vốn không ăn được, đột nhiên ăn nhiều, được bản gốc gọi là trừ trung(除中)và xếp vào giả thần, tức một dạng hồi quang phản chiếu.
VỊ KHÁC THƯỜNG TRONG MIỆNG
Miệng nhạt, không cảm nhận rõ vị, theo Trung y phần nhiều do tỳ vị khí hư.
Miệng ngọt thường gặp trong tỳ vị thấp nhiệt.
Miệng dính nhớt thường thuộc thấp khốn tỳ vị.
Miệng có vị chua có thể gặp trong can đởm tích nhiệt.
Miệng chua thối thường gặp trong thương thực.
Miệng đắng thiên về nhiệt, có thể gặp trong hỏa tà hoặc can đởm uất nhiệt.
Miệng mặn, theo bản gốc thường liên quan đến bệnh ở thận hoặc hàn chứng.
HỎI ĐẠI TIỂU TIỆN — 问二便
Cần hỏi tính chất, màu sắc, mùi, lượng, thời điểm, khoảng cách giữa các lần, cảm giác khi đi và triệu chứng đi kèm.
Những thông tin này giúp tìm hiểu chức năng tiêu hóa, chuyển hóa tân dịch và phân biệt hàn nhiệt, hư thực.
Tính chất, màu sắc và mùi đã được trình bày trong vọng chẩn, văn chẩn. Phần này chủ yếu nói về số lần, lượng, cảm giác bất thường và thời gian đại tiểu tiện.
HỎI ĐẠI TIỆN
Theo bản gốc, người khỏe mạnh thường đại tiện mỗi ngày hoặc hai ngày một lần; phân vàng, mềm, thành khuôn, đi thuận lợi.
Khi chức năng tiêu hóa bị ảnh hưởng, phân có thể có chất nhầy hoặc thức ăn chưa tiêu. Khí huyết, tân dịch mất điều hòa và chức năng tạng phủ rối loạn có thể làm thay đổi số lần và cảm giác đại tiện.
Số lần đại tiện bất thường
Táo bón là phân lưu trong ruột quá lâu, khoảng cách giữa các lần tăng, số lần giảm.
Bản gốc mô tả trường hợp bốn đến bảy ngày hoặc lâu hơn mới đại tiện một lần là táo bón.
Theo Trung y, bệnh cơ chủ yếu là chức năng truyền đạo của đại trường bất thường, có thể gặp trong vị trường tích nhiệt, khí cơ uất trệ, khí huyết tân dịch hư hoặc âm hàn ngưng kết.
Phân lỏng, còn gọi là đường tiện hoặc tiết tả, là phân mềm, không thành khuôn, nặng hơn như nước; khoảng cách giữa các lần giảm, số lần tăng.
Theo Trung y, do tỳ vị mất điều hòa, nước lưu trong ruột, chức năng truyền đạo của đại trường thay đổi. Có thể gặp trong tỳ hư, thận dương hư, can uất thừa tỳ, thương thực, thấp nhiệt ở đại trường hoặc ngoại cảm.
Cảm giác đại tiện bất thường
Hậu môn nóng rát khi đại tiện, theo Trung y do thấp nhiệt tích ở đại trường, có thể gặp trong tiêu chảy do thấp nhiệt hoặc thử thấp.
Đại tiện không thoải mái là đau bụng, đi không thuận, cảm giác còn phân, khó đi hết. Theo Trung y, do khí cơ đường ruột không thuận, có thể gặp trong can uất phạm tỳ, tiêu chảy do thương thực hoặc thấp nhiệt.
Lý cấp hậu trọng(里急后重)là đau bụng quặn, liên tục muốn đi, hậu môn nặng trĩu, đại tiện không thoải mái.
Cảm giác muốn đi gấp, khó chịu đựng gọi là lý cấp. Khi đi chỉ ra ít, hậu môn nặng, đi không hết hoặc muốn đi mà không ra gọi là hậu trọng.
Đây là triệu chứng chủ yếu được mô tả trong bệnh lỵ, theo Trung y do thấp nhiệt trở bên trong, khí ở ruột đình trệ.
Hoạt tả thất cấm là tiêu chảy kéo dài, không kiểm soát được phân, phân tự thoát ra. Theo Trung y, do bệnh lâu ngày làm cơ thể hư, tỳ thận dương suy, hậu môn mất giữ vững.
Hậu môn nặng sa là cảm giác kéo xuống, nặng trĩu, có thể như sắp sa ra ngoài. Phần nhiều do tỳ khí hư, trung khí hạ hãm.
HỎI TIỂU TIỆN
Bản gốc nêu lượng nước tiểu thường khoảng một nghìn đến một nghìn tám trăm mililít trong một ngày đêm; ban ngày tiểu khoảng ba đến năm lần, ban đêm không tiểu hoặc một lần.
Số lần và lượng nước tiểu thay đổi theo lượng uống, nhiệt độ, mồ hôi, tuổi tác và những yếu tố khác.
Khi tân dịch, dinh huyết bất túc, chức năng khí hóa rối loạn hoặc thủy ẩm đình lưu, số lần, lượng và cảm giác tiểu có thể bất thường.
Lượng nước tiểu bất thường
Tiểu nhiều, theo Trung y có thể do hàn làm trở khí cơ, thủy khí không được chuyển hóa; hoặc thận dương hư, khí hóa suy, thủy dịch thoát ra nhiều.
Có thể được mô tả trong hư hàn, thận dương hư và bệnh tiêu khát.
Tiểu ít có thể do tân dịch thiếu, nguồn tạo nước tiểu không đủ; đường tiểu bị tắc; hoặc dương khí hư, khí hóa yếu, thủy thấp không xuống bàng quang mà tràn ra da thịt.
Có thể gặp trong thực nhiệt, sau mất nhiều dịch do mồ hôi, nôn, tiêu chảy, trong bệnh phù, long bế hoặc lâm chứng.
Số lần tiểu bất thường
Tiểu nhiều lần còn gọi là tiểu tiện tần sác.
Theo Trung y, có thể gặp trong thấp nhiệt hạ tiêu, hư hàn hạ tiêu hoặc thận khí bất cố.
Tiểu ít lần có thể gặp trong long bế.
Những bất thường khi tiểu
Tiểu khó, rát, đau, kèm cảm giác muốn tiểu gấp, theo Trung y phần nhiều do thấp nhiệt vào bàng quang, làm tổn thương kinh mạch, khí cơ không thuận, có thể gặp trong lâm chứng.
Long bế(癃闭)gồm long và bế. Tiểu khó, chỉ ra từng giọt gọi là long; không tiểu được, không ra giọt nào gọi là bế.
Có hư và thực. Thực có thể do thấp nhiệt, can khí uất, huyết ứ hoặc sỏi làm tắc đường tiểu. Hư có thể do tuổi cao, khí hư, thận dương suy, khí hóa bàng quang không thuận.
Tiểu xong vẫn rỉ từng giọt gọi là dư lịch bất tận(余沥不尽), theo Trung y phần nhiều do thận khí bất cố.
Tiểu không tự chủ là nước tiểu tự thoát ra, không kiểm soát bằng ý thức. Theo Trung y, thường liên quan đến thận khí bất túc, hạ nguyên không vững hoặc hạ tiêu hư hàn, bàng quang thiếu ôn dưỡng.
Nếu người bệnh hôn mê và tiểu không tự chủ, bản gốc xem là biểu hiện bệnh nặng.
Di niệu(遗尿)là tiểu trong lúc ngủ, thường gọi là đái dầm, hay gặp ở trẻ em. Theo Trung y, bệnh cơ chủ yếu là bàng quang mất khả năng giữ nước tiểu, có thể gặp trong thận âm hoặc thận dương bất túc, tỳ hư khí hãm.
HỎI GIẤC NGỦ — 问睡眠
Theo Trung y, giấc ngủ liên quan đến tuần hành của vệ khí và sự thịnh suy âm dương.
Bình thường, ban ngày vệ khí đi ở phần dương, dương khí thịnh nên thức; ban đêm vệ khí đi ở phần âm, âm khí thịnh nên ngủ.
Cần hỏi có mất ngủ hoặc ngủ nhiều hay không, ngủ bao lâu, dễ hay khó ngủ, có mộng hay không.
Mất ngủ — 失眠
Mất ngủ còn gọi là bất mị hoặc bất đắc miên.
Biểu hiện gồm thường khó vào giấc, dễ tỉnh và khó ngủ lại, ngủ không sâu, dễ giật mình hoặc suốt đêm không ngủ.
Theo Trung y, bệnh cơ là dương không vào âm, thần không giữ được nơi cư trú.
Khí huyết bất túc khiến thần mất nuôi dưỡng; âm hư dương thịnh sinh hư nhiệt; thận thủy bất túc, tâm hỏa quá thịnh đều có thể quấy nhiễu tâm thần, gây mất ngủ thuộc hư chứng.
Đàm hỏa, thực tích, huyết ứ hoặc tà nhiệt quấy nhiễu phía trên cũng có thể gây mất ngủ thuộc thực chứng.
Có thể gặp trong tâm tỳ lưỡng hư, tâm thận bất giao, can dương thượng kháng, đàm hỏa nhiễu tâm hoặc thực trệ ở vị.
Ngủ nhiều — 嗜睡
Ngủ nhiều, còn gọi là đa miên, là tinh thần mệt mỏi, buồn ngủ rõ, thường không tự chủ mà ngủ.
Nhẹ thì còn tỉnh, gọi có thể thức và đáp lời.
Tinh thần rất mệt, dễ ngủ hoặc ở trạng thái như ngủ mà chưa ngủ, gọi là đản dục mị(但欲寐), tức chỉ muốn ngủ.
Ngủ sâu cả ngày đêm, gọi có thể tỉnh nhưng ý thức mơ màng, chỉ thỉnh thoảng đáp được, gọi là hôn thụy(昏睡).
Theo Trung y, ngủ nhiều có thể do thần khí bất túc. Thấp tà làm trở, thanh dương không lên; hoặc tỳ khí hư, trung khí bất túc, không đưa được thanh dương lên nuôi dưỡng đầu não.
Có thể gặp trong thấp khốn tỳ hoặc tỳ khí hư.
Tâm thận dương suy, âm hàn thịnh bên trong, thần khí kém, có thể tạo trạng thái chỉ muốn ngủ, như ngủ mà chưa ngủ.
Tà quấy nhiễu thanh khiếu, nhiệt che lấp tâm thần, có thể gây ý thức mơ màng, hôn thụy, khó tỉnh; được mô tả trong ôn nhiệt bệnh có nhiệt nhập dinh huyết, tà hãm tâm bào, hoặc trúng phong.
Sau bệnh nặng, tinh thần mệt, ngủ nhiều, có thể biểu thị chính khí chưa hồi phục.
HỎI KINH NGUYỆT VÀ KHÍ HƯ — 问经带
Phụ nữ có những đặc điểm sinh lý về kinh nguyệt, khí hư, thai nghén và sinh đẻ. Khi mắc bệnh, những phương diện này có thể xuất hiện thay đổi bệnh lý.
Vì vậy, từ tuổi dậy thì, ngoài nội dung vấn chẩn chung, cần hỏi kinh nguyệt và khí hư để hỗ trợ chẩn đoán, biện chứng phụ khoa và các bệnh khác.
HỎI KINH NGUYỆT
Cần hỏi chu kỳ, số ngày hành kinh, lượng, màu, tính chất máu kinh, có bế kinh hoặc đau bụng khi hành kinh hay không.
Chu kỳ kinh
Chu kỳ là khoảng cách giữa các kỳ kinh. Bản gốc nêu bình thường khoảng hai mươi tám đến ba mươi hai ngày.
Những bất thường gồm kinh đến sớm, đến muộn và không đều.
Kinh đến sớm hơn khoảng tám, chín ngày trở lên gọi là nguyệt kinh tiên kỳ. Theo Trung y, có thể do huyết nhiệt làm huyết đi sai đường hoặc khí hư không nhiếp huyết.
Kinh đến muộn hơn khoảng tám, chín ngày trở lên gọi là nguyệt kinh hậu kỳ. Có thể do huyết hàn, huyết hư hoặc huyết ứ.
Kinh lúc sớm, lúc muộn, chênh lệch khoảng tám, chín ngày trở lên gọi là nguyệt kinh tiên hậu bất định kỳ.
Theo Trung y, có thể do tình chí không thư thái, can khí uất, khí cơ rối loạn; tỳ thận hư, khí huyết bất túc, xung nhâm mất điều hòa; hoặc huyết ứ trở bên trong.
Lượng kinh
Lượng máu trong mỗi kỳ gọi là kinh lượng. Bản gốc nêu trung bình khoảng năm mươi mililít, có thể khác nhau giữa từng người.
Lượng trên một trăm mililít được bản gốc gọi là kinh nhiều, có thể do huyết nhiệt, huyết ứ hoặc khí hư không nhiếp huyết.
Lượng dưới ba mươi mililít được bản gốc gọi là kinh ít, có thể do hàn ngưng, huyết hư thiếu nguồn sinh kinh huyết hoặc huyết ứ làm kinh không thông.
Băng lậu — 崩漏
Băng lậu là chảy máu âm đạo không theo quy luật kinh nguyệt.
Theo Trung y, thường gặp huyết nhiệt hoặc khí hư.
Huyết gặp nhiệt đi sai đường, làm tổn thương xung nhâm, chảy máu không ngừng, thường khởi phát gấp.
Tỳ hư, trung khí hạ hãm hoặc khí hư làm xung nhâm không vững, huyết mất giữ, chảy kéo dài, thường diễn biến chậm hơn.
Huyết ứ cũng có thể gây băng lậu.
Bế kinh — 经闭
Nữ giới đã đến tuổi trưởng thành nhưng chưa có kinh; hoặc đã có kinh rồi ngừng từ ba tháng trở lên mà không có thai, được bản gốc gọi là bế kinh.
Theo Trung y, có thể do kinh mạch không thông, kinh huyết bị bế; hoặc huyết hư, huyết thiếu, không đủ nguồn tạo kinh.
Có thể gặp trong can khí uất, huyết ứ, thấp thịnh đàm trở, âm hư hoặc tỳ hư.
Cần phân biệt với không có kinh trong thai kỳ, thời gian cho con bú, sau mãn kinh; những thay đổi nhất thời ở tuổi dậy thì hoặc quanh mãn kinh do cảm xúc, môi trường; và trường hợp cổ thư gọi là ám kinh(暗经).
Đau bụng khi hành kinh
Đau bụng dưới trong kỳ kinh hoặc trước, sau kỳ kinh gọi là thống kinh.
Theo Trung y, có thể do bào mạch không thuận, khí huyết vận hành không thông hoặc bào mạch mất nuôi dưỡng.
Có thể gặp trong hàn ngưng, khí trệ huyết ứ hoặc khí huyết hư.
Theo cách phân biệt của bản gốc, đau trước kỳ kinh thiên về thực, đau sau kỳ kinh thiên về hư.
Ấn đau tăng thiên về thực; ấn đau giảm thiên về hư.
Làm ấm đau giảm thiên về hàn; làm ấm không giảm hoặc tăng thiên về nhiệt.
Đau quặn được quy về hàn; đau châm chích, đau tù hoặc bí tức được quy về huyết ứ.
Đau âm ỉ thiên về huyết hư; đau liên tục thiên về huyết trệ; lúc đau lúc ngừng thiên về khí trệ.
Đau trướng có thể thuộc khí trệ huyết ứ. Khí trệ là chính thì trướng nhiều hơn đau; huyết ứ là chính thì đau nhiều hơn trướng.
HỎI KHÍ HƯ — 问带下
Cần hỏi lượng, màu, tính chất và mùi.
Khí hư trắng, trong loãng, không hôi, theo Trung y phần nhiều thuộc hư hoặc hàn.
Khí hư vàng hoặc đỏ, đặc dính, hôi, phần nhiều thuộc thực hoặc nhiệt.
Khí hư trắng nhiều, kéo dài, trong loãng như nước mũi, phần nhiều thuộc hàn thấp hạ chú.
Khí hư vàng, đặc dính, hôi, phần nhiều thuộc thấp nhiệt hạ chú.
Khí hư trắng lẫn máu gọi là xích bạch đới, được bản gốc quy về uất nhiệt ở can kinh.
HỎI BỆNH Ở TRẺ NHỎ — 问小儿
Nhi khoa xưa gọi là á khoa(哑科), vì trẻ khó trình bày bệnh tình, khiến vấn chẩn khó thực hiện và thông tin chưa chắc chính xác.
Nếu trẻ chưa thể nói rõ, có thể hỏi người thân.
Ngoài những nội dung vấn chẩn chung, cần chú ý tình trạng trước và sau sinh, cách nuôi dưỡng, quá trình tăng trưởng và phát triển, tiêm chủng, tiền sử bệnh truyền nhiễm và tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm.
Ghi chú đối chiếu bản nguồn
Bản dịch đã chỉnh những lỗi chữ rõ nghĩa như “chiến hãn” và “thấp tý”; câu về đoản khí được hiểu là tiếng thở giống rên nhưng không do đau.
Những mốc số liệu và cách phân chứng trong bài được giữ theo tài liệu nguồn. Các mốc về táo bón, chu kỳ kinh, lượng kinh và những kết luận tiên lượng cần được rà soát khi biên tập thành tài liệu hiện đại, không nên dùng riêng lẻ như tiêu chuẩn chẩn đoán.
Trường Xuân biên soạn
THIẾT CHẨN — 切诊
Thiết chẩn gồm hai nội dung: mạch chẩn và án chẩn.
Mạch chẩn(脉诊)là khám mạch bằng cách đặt ngón tay lên vị trí mạch đập để cảm nhận và nhận định.
Án chẩn(按诊)là dùng tay chạm, sờ và ấn tại những vị trí nhất định trên cơ thể người bệnh, nhằm tìm hiểu các biến đổi bệnh lý bên trong hoặc những biểu hiện ở ngoài cơ thể, từ đó thu thập thông tin phục vụ biện chứng.
Trường Xuân biên soạn
MẠCH CHẨN — 脉诊
Mạch chẩn là phương pháp người thầy thuốc dùng phần mềm ở đầu ngón tay đặt lên mạch tại những vị trí nhất định để khảo sát mạch tượng.
Thông qua việc khám mạch và cảm nhận những mạch tượng khác nhau của người bệnh, người thầy thuốc tìm hiểu bệnh tình và chẩn đoán bệnh.
Đây là một phương pháp chẩn đoán đặc trưng của Trung y học.
Trường Xuân biên soạn
NGUYÊN LÝ HÌNH THÀNH MẠCH TƯỢNG
脉象形成的原理
Mạch tượng là hình thái mạch đập được cảm nhận dưới đầu ngón tay khi khám mạch.
Theo Trung y, tâm chủ huyết mạch, bao gồm cả huyết và mạch. Mạch là nơi chứa và dẫn huyết, có liên hệ với tâm. Tim đập có quy luật, thúc đẩy huyết vận hành trong mạch; mạch theo đó đập nhịp nhàng, tạo thành mạch đập mà ngón tay có thể cảm nhận.
Theo lý luận này, hoạt động nhịp nhàng của tim và sự vận hành của huyết trong mạch đều được tông khí(宗气)thúc đẩy.
Huyết lưu thông trong mạch, phân bố khắp cơ thể, tuần hoàn không ngừng. Ngoài vai trò chủ đạo của tâm, quá trình ấy còn cần sự phối hợp của các tạng phủ.
Phế triều bách mạch(肺朝百脉)nghĩa là huyết mạch tuần hành toàn thân đều hội tụ về phế. Phế chủ khí; nhờ phế khí tuyên phát, huyết mới có thể phân bố khắp cơ thể.
Tỳ vị là nguồn sinh hóa khí huyết. Tỳ chủ thống huyết, giữ huyết vận hành trong mạch.
Can tàng huyết, chủ sơ tiết, điều tiết lượng huyết lưu thông.
Thận tàng tinh, tinh hóa khí. Theo Trung y, thận là gốc của dương khí, cung cấp động lực căn bản cho hoạt động chức năng của các tạng phủ và tổ chức. Tinh còn có thể hóa sinh huyết, là một trong những cơ sở vật chất để tạo thành huyết.
Vì vậy, sự hình thành mạch tượng có quan hệ mật thiết với tạng phủ, khí và huyết.
Trường Xuân biên soạn
Ý NGHĨA LÂM SÀNG CỦA MẠCH CHẨN
脉诊的临床意义
Sự hình thành mạch tượng có quan hệ mật thiết với tạng phủ và khí huyết. Khi tạng phủ, khí huyết phát sinh bệnh biến, sự vận hành của huyết mạch bị ảnh hưởng, mạch tượng cũng thay đổi.
Vì vậy, theo Trung y, khảo sát những thay đổi của mạch tượng giúp nhận định vị trí, tính chất của bệnh, sự thịnh suy của tà khí và chính khí, đồng thời hỗ trợ đánh giá diễn biến và tiên lượng.
NHẬN ĐỊNH VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT BỆNH VÀ SỰ THỊNH SUY CỦA TÀ CHÍNH
Biểu hiện của bệnh tuy phức tạp, nhưng xét mức độ nông sâu của bệnh vị có thể phân thành biểu và lý. Đặc điểm phù trầm của mạch thường phản ánh mức độ nông sâu ấy.
Mạch phù, bệnh vị phần nhiều ở biểu. Mạch trầm, bệnh vị phần nhiều ở lý.
Tính chất bệnh có thể phân thành hàn và nhiệt. Đặc điểm trì sác của mạch giúp nhận định tính chất này: mạch trì thường chủ hàn, mạch sác thường chủ nhiệt.
Sự tăng giảm trong quá trình đấu tranh giữa tà khí và chính khí tạo thành những biến đổi hư thực. Mạch có lực hay không có lực giúp phản ánh các chứng hậu ấy.
Mạch yếu, không có lực thường biểu thị hư chứng do chính khí bất túc.
Mạch mạnh, có lực thường biểu thị thực chứng do tà khí quá thịnh.
ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN VÀ TIÊN LƯỢNG
Mạch chẩn có ý nghĩa nhất định trong việc đánh giá bệnh tiến triển hay thuyên giảm và nhận định tiên lượng.
Trong bệnh kéo dài, mạch trở nên điều hòa, hòa hoãn, theo Trung y biểu thị vị khí dần hồi phục, bệnh lui và có xu hướng khỏi.
Người bệnh lâu ngày có khí hư, hư lao, mất máu, tiêu chảy hoặc lỵ kéo dài mà xuất hiện mạch hồng, bản gốc xem là dấu hiệu nguy hiểm của tà thịnh, chính suy.
Trong bệnh ngoại cảm có nhiệt, nhiệt dần lui, mạch trở nên hòa hoãn là dấu hiệu bệnh sắp khỏi. Nếu mạch nhanh gấp, kèm phiền táo, được xem là biểu hiện bệnh tiến triển nặng.
Chẳng hạn, sau chiến hãn, nếu mồ hôi ra, mạch yên hòa, nhiệt lui, thân mát thì bệnh đang thuyên giảm. Nếu mạch vẫn nhanh gấp, người bệnh phiền táo, đó là dấu hiệu bệnh tiến triển theo chiều hướng nguy hiểm.
Trường Xuân biên soạn
VỊ TRÍ KHÁM MẠCH — 诊脉的部位
Các phương pháp lựa chọn vị trí khám mạch gồm biến chẩn pháp, tam bộ chẩn pháp và thốn khẩu chẩn pháp.
Biến chẩn pháp(遍诊法)được trình bày trong thiên Tam bộ cửu hậu luận của Tố Vấn, khám mạch tại ba vùng: đầu, tay và chân.
Tam bộ chẩn pháp(三部诊法)được ghi trong Thương hàn tạp bệnh luận của Trương Trọng Cảnh thời Hán. Ba vị trí gồm nhân nghinh(人迎)ở động mạch bên cổ, thốn khẩu(寸口)ở cổ tay và phu dương(趺阳)ở động mạch mu bàn chân.
Hai phương pháp trên về sau ít được sử dụng. Từ thời Tấn, vị trí khám mạch được dùng phổ biến là thốn khẩu.
Thốn khẩu chẩn pháp được ghi nhận từ Nội Kinh. Nan Kinh chủ trương chỉ lấy thốn khẩu để khám mạch, nhưng lúc ấy phương pháp này chưa được áp dụng rộng rãi. Đến khi Vương Thúc Hòa thời Tấn viết Mạch kinh, phương pháp độc thủ thốn khẩu(独取寸口)mới được phổ biến.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KHÁM MẠCH THỐN KHẨU
Thốn khẩu còn gọi là mạch khẩu(脉口)hoặc khí khẩu(气口), nằm ở nơi động mạch quay đập tại cổ tay.
Theo lý luận Trung y, thốn khẩu là vị trí động mạch thuộc kinh thủ thái âm phế, nơi khí huyết hội tụ. Sự vận hành khí huyết của ngũ tạng lục phủ và mười hai kinh mạch đều bắt đầu và kết thúc ở phế, nên bệnh biến của tạng phủ, khí huyết có thể phản ánh tại thốn khẩu.
Ngoài ra, kinh thủ thái âm phế khởi ở trung tiêu, cùng kinh tỳ thuộc thái âm, thông với khí của tỳ vị. Tỳ vị là gốc hậu thiên, nguồn sinh hóa khí huyết, nên sự thịnh suy của tạng phủ và khí huyết cũng có thể phản ánh tại thốn khẩu.
Đó là cơ sở lý luận của việc dùng riêng thốn khẩu để khảo sát bệnh biến toàn thân.
PHÂN CHIA THỐN, QUAN, XÍCH
Thốn khẩu chia thành ba bộ: thốn(寸), quan(关)và xích(尺).
Lấy cao cốt, tức mỏm trâm xương quay, làm mốc. Vị trí mạch ở phía trong, sát mốc này, là bộ quan.
Phía trước bộ quan, về phía bàn tay, là bộ thốn.
Phía sau bộ quan, về phía khuỷu tay, là bộ xích.
Mỗi tay có ba bộ thốn, quan, xích; hai tay có tổng cộng sáu bộ mạch.
Ở mỗi bộ, khám theo ba mức độ ấn: phù, trung và trầm. Đây là tam bộ cửu hậu trong phương pháp khám mạch thốn khẩu.
THỐN, QUAN, XÍCH VÀ TẠNG PHỦ TƯƠNG ỨNG
Các y gia qua nhiều thời đại có những cách phân chia khác nhau về tạng phủ được khảo sát ở từng bộ mạch. Bản gốc trình bày cách phân chia thường dùng như sau.
Thốn trái: khảo sát tâm và đản trung(膻中). Thốn phải: khảo sát phế và vùng trong ngực.
Quan trái: khảo sát can, đởm và vùng cơ hoành. Quan phải: khảo sát tỳ và vị.
Xích trái: khảo sát thận và bụng dưới. Xích phải: khảo sát thận và bụng dưới.
Trường Xuân biên soạn
VỊ TRÍ KHÁM MẠCH — 诊脉的部位
Các phương pháp lựa chọn vị trí khám mạch gồm biến chẩn pháp, tam bộ chẩn pháp và thốn khẩu chẩn pháp.
Biến chẩn pháp(遍诊法)được trình bày trong thiên Tam bộ cửu hậu luận của Tố Vấn, khám mạch tại ba vùng: đầu, tay và chân.
Tam bộ chẩn pháp(三部诊法)được ghi trong Thương hàn tạp bệnh luận của Trương Trọng Cảnh thời Hán. Ba vị trí gồm nhân nghinh(人迎)ở động mạch bên cổ, thốn khẩu(寸口)ở cổ tay và phu dương(趺阳)ở động mạch mu bàn chân.
Hai phương pháp trên về sau ít được sử dụng. Từ thời Tấn, vị trí khám mạch được dùng phổ biến là thốn khẩu.
Thốn khẩu chẩn pháp được ghi nhận từ Nội Kinh. Nan Kinh chủ trương chỉ lấy thốn khẩu để khám mạch, nhưng lúc ấy phương pháp này chưa được áp dụng rộng rãi. Đến khi Vương Thúc Hòa thời Tấn viết Mạch kinh, phương pháp độc thủ thốn khẩu(独取寸口)mới được phổ biến.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KHÁM MẠCH THỐN KHẨU
Thốn khẩu còn gọi là mạch khẩu(脉口)hoặc khí khẩu(气口), nằm ở nơi động mạch quay đập tại cổ tay.
Theo lý luận Trung y, thốn khẩu là vị trí động mạch thuộc kinh thủ thái âm phế, nơi khí huyết hội tụ. Sự vận hành khí huyết của ngũ tạng lục phủ và mười hai kinh mạch đều bắt đầu và kết thúc ở phế, nên bệnh biến của tạng phủ, khí huyết có thể phản ánh tại thốn khẩu.
Ngoài ra, kinh thủ thái âm phế khởi ở trung tiêu, cùng kinh tỳ thuộc thái âm, thông với khí của tỳ vị. Tỳ vị là gốc hậu thiên, nguồn sinh hóa khí huyết, nên sự thịnh suy của tạng phủ và khí huyết cũng có thể phản ánh tại thốn khẩu.
Đó là cơ sở lý luận của việc dùng riêng thốn khẩu để khảo sát bệnh biến toàn thân.
PHÂN CHIA THỐN, QUAN, XÍCH
Thốn khẩu chia thành ba bộ: thốn(寸), quan(关)và xích(尺).
Lấy cao cốt, tức mỏm trâm xương quay, làm mốc. Vị trí mạch ở phía trong, sát mốc này, là bộ quan.
Phía trước bộ quan, về phía bàn tay, là bộ thốn.
Phía sau bộ quan, về phía khuỷu tay, là bộ xích.
Mỗi tay có ba bộ thốn, quan, xích; hai tay có tổng cộng sáu bộ mạch.
Ở mỗi bộ, khám theo ba mức độ ấn: phù, trung và trầm. Đây là tam bộ cửu hậu trong phương pháp khám mạch thốn khẩu.
THỐN, QUAN, XÍCH VÀ TẠNG PHỦ TƯƠNG ỨNG
Các y gia qua nhiều thời đại có những cách phân chia khác nhau về tạng phủ được khảo sát ở từng bộ mạch. Bản gốc trình bày cách phân chia thường dùng như sau.
Thốn trái: khảo sát tâm và đản trung(膻中). Thốn phải: khảo sát phế và vùng trong ngực.
Quan trái: khảo sát can, đởm và vùng cơ hoành. Quan phải: khảo sát tỳ và vị.
Xích trái: khảo sát thận và bụng dưới. Xích phải: khảo sát thận và bụng dưới.
Trường Xuân biên soạn
MẠCH TƯỢNG BÌNH THƯỜNG — 正常脉象
Mạch tượng bình thường, xưa gọi là bình mạch 平脉, là mạch tượng của người khỏe mạnh, không có bệnh.
Đặc điểm của bình mạch là cả ba bộ thốn, quan, xích đều bắt được mạch; trong một nhịp thở, mạch đập khoảng bốn lần, khi tính thêm hơi thở dài có thể thành năm lần. Tài liệu quy đổi khoảng 72–80 lần mỗi phút. Mạch không phù, không trầm; không quá lớn, không quá nhỏ; đến thong thả, hòa hoãn, mềm mại mà có lực, nhịp điệu đều đặn. Khi ấn sâu ở bộ xích, mạch vẫn có một mức lực nhất định. Mạch còn thay đổi sinh lý tương ứng với hoạt động của cơ thể và điều kiện khí hậu, môi trường.
Mạch tượng bình thường có ba đặc điểm: có vị, có thần và có căn.
CÓ VỊ — 有胃
Có vị nghĩa là mạch có vị khí. Cổ nhân có nhiều cách diễn tả, nhưng nhìn chung, mạch không phù, không trầm; không nhanh, không chậm; đến thong thả, hòa hoãn và đều đặn thì được xem là có vị khí.
Ngay cả khi có bệnh, dù mạch phù, trầm, trì hay sác, nếu trong mạch vẫn còn nét hòa hoãn thì vẫn được xem là có vị khí.
Theo quan niệm mạch học cổ truyền, mạch có vị khí là biểu hiện của bình mạch; vị khí suy giảm gợi ý tình trạng bệnh lý; mất vị khí có thể xuất hiện trong chân tạng mạch 真脏脉, vốn được cổ nhân xem là dấu hiệu bệnh nặng, khó chữa. Vì vậy, sự còn hay mất của vị khí được dùng để góp phần nhận định diễn biến và tiên lượng bệnh.
CÓ THẦN — 有神
Mạch có thần biểu hiện ở sự mềm mại, điều hòa của mạch.
Nếu mạch huyền, thực mà trong tính căng, chắc vẫn còn nét mềm mại; hoặc mạch vi, nhược nhưng chưa hoàn toàn mất lực, thì đều được xem là mạch còn thần.
Thần của mạch thịnh hay suy có ý nghĩa nhất định trong nhận định tiên lượng. Tuy nhiên, phải phối hợp với tiếng nói, sắc mặt và hình thể mới có thể đưa ra kết luận phù hợp.
Mạch có vị và có thần đều mang tính xung hòa, nghĩa là điều hòa, không thiên lệch quá mức. Theo cách diễn giải của đoạn này, có vị thì có thần; vì vậy, trên lâm sàng, cách nhận biết vị và thần trong mạch có nhiều điểm tương đồng.
CÓ CĂN — 有根
Mạch có căn là khi ấn sâu ở cả ba bộ vẫn thấy có lực, hoặc riêng bộ xích khi ấn sâu vẫn có lực.
Theo lý luận cổ truyền, trong lúc mắc bệnh, nếu thận khí còn, gốc tiên thiên chưa suy kiệt, bộ xích khi ấn sâu vẫn bắt được mạch, thì được xem là còn sinh cơ.
Nếu mạch phù đại, tán loạn, ấn xuống lại mất thì gọi là mạch vô căn. Cổ nhân giải thích đây là biểu hiện nguyên khí ly tán và xem là dấu hiệu bệnh tình nguy kịch. Những nhận định này thuộc hệ thống mạch học cổ truyền; khi đánh giá người bệnh thực tế phải phối hợp toàn bộ biểu hiện lâm sàng.
NHỮNG BIẾN ĐỔI SINH LÝ CỦA MẠCH TƯỢNG
Mạch bình thường có thể thay đổi dưới ảnh hưởng của các yếu tố bên trong và bên ngoài cơ thể.
Khí hậu bốn mùa
Theo mạch học cổ truyền, bình mạch có sự biến đổi: xuân hơi huyền, hạ hơi hồng, thu hơi phù, đông hơi trầm.
Cách giải thích này dựa trên quan niệm con người tương ứng với trời đất. Khi khí hậu bốn mùa thay đổi, hoạt động sinh lý của cơ thể cũng thay đổi, do đó bình mạch không hoàn toàn giống nhau trong mọi mùa.
Môi trường địa lý
Địa lý và khí hậu cũng có thể ảnh hưởng đến mạch tượng.
Tài liệu mô tả rằng ở vùng phía nam, địa thế thấp, khí hậu tương đối ấm và ẩm, cơ biểu thường thư giãn nên mạch có thể thiên về tế, nhuyễn hoặc hơi sác. Ở vùng phía bắc, địa thế cao, khí hậu khô và lạnh, cơ biểu thường co chặt nên mạch có thể thiên về trầm, thực.
Đây là cách khái quát của tài liệu, không phải quy luật cố định đối với mọi người ở từng vùng.
Giới tính
Theo mô tả của tài liệu, mạch ở phụ nữ thường mềm, yếu và hơi nhanh hơn ở nam giới. Khi mang thai, mạch có thể hoạt, sác nhưng vẫn điều hòa.
Tuổi tác
Tuổi càng nhỏ, nhịp mạch thường càng nhanh. Tài liệu nêu nhịp mạch ở trẻ sơ sinh khoảng 120–140 lần mỗi phút; ở trẻ năm, sáu tuổi khoảng 90–110 lần mỗi phút. Khi tuổi tăng lên, mạch dần hòa hoãn hơn. Các con số này là mức tham khảo được nêu trong bản gốc, không bao quát mọi trạng thái sinh lý của trẻ.
Người trẻ khỏe thường có mạch hữu lực. Ở người cao tuổi, khí huyết và tinh lực có thể suy giảm nên mạch thường yếu hơn.
Thể trạng
Người cao lớn thường có đoạn mạch biểu hiện dài hơn; người thấp nhỏ thường có đoạn mạch biểu hiện ngắn hơn.
Người gầy, lớp cơ và mô phủ trên mạch mỏng, nên mạch thường dễ bắt ở mức nông. Người béo, lớp mỡ dưới da dày, nên thường phải ấn sâu hơn mới bắt rõ mạch.
Nếu mạch ở cả sáu bộ thường xuyên trầm, tế, tương đồng nhau mà không có biểu hiện bệnh thì gọi là lục âm mạch 六阴脉. Nếu mạch ở cả sáu bộ thường xuyên hồng, đại, tương đồng nhau mà không có biểu hiện bệnh thì gọi là lục dương mạch 六阳脉. Đây là những dạng mạch có thể thuộc đặc điểm riêng của cơ thể.
Tình chí
Kích thích tinh thần nhất thời cũng có thể làm mạch thay đổi. Theo cách diễn giải cổ truyền, vui quá có thể làm mạch hoãn; giận làm mạch cấp; kinh sợ khiến khí rối loạn, mạch có thể động.
Những biểu hiện này cho thấy tình chí có thể ảnh hưởng đến mạch tượng. Khi tinh thần trở lại bình tĩnh, mạch cũng có thể trở về trạng thái thường ngày.
Lao động và nghỉ ngơi
Sau vận động mạnh hoặc đi đường xa, mạch thường nhanh hơn. Khi ngủ, mạch thường chậm hơn.
Tài liệu còn mô tả rằng người lao động trí óc thường có mạch yếu hơn người lao động thể lực. Nhận xét này cần được hiểu trong hoàn cảnh cụ thể, không dùng như một tiêu chuẩn cố định.
Ăn uống
Sau ăn hoặc uống rượu, mạch có thể nhanh và có lực hơn. Khi đói, mạch có thể hơi chậm và kém lực.
VỊ TRÍ MẠCH KHÁC THƯỜNG DO CẤU TẠO CƠ THỂ
Một số người không bắt được mạch ở vị trí thốn khẩu thông thường. Nếu đường mạch từ bộ xích đi chếch về phía mu bàn tay thì gọi là tà phi mạch 斜飞脉.
Nếu mạch xuất hiện ở phía mu cổ tay, tương ứng với mặt sau của vùng thốn khẩu, thì gọi là phản quan mạch 反关脉.
Ngoài ra, mạch có thể xuất hiện ở những vị trí khác quanh cổ tay. Những trường hợp này có thể là biến thể giải phẫu của động mạch quay, thuộc đặc điểm sinh lý riêng, không tự nó được xem là bệnh mạch.
Trường Xuân biên soạn
MẠCH TƯỢNG BỆNH LÝ — 病理性脉象
Những biến đổi của mạch tượng phản ánh tình trạng bệnh được gọi là bệnh mạch. Nhìn chung, mạch tượng vượt ra ngoài phạm vi biến đổi sinh lý bình thường và không thuộc đặc điểm sinh lý riêng của từng người được xem là bệnh mạch. Các mạch tượng bệnh lý khác nhau phản ánh những tình trạng bệnh khác nhau.
《脉经》 Mạch kinh, bộ sách chuyên về mạch học sớm nhất của Trung Quốc, trình bày hai mươi bốn loại mạch. 《景岳全书》 Cảnh Nhạc toàn thư trình bày mười sáu loại; 《濒湖脉学》 Tần Hồ mạch học trình bày hai mươi bảy loại. Trong 《诊家正眼》 Chẩn gia chính nhãn, Lý Sĩ Tài bổ sung mạch Tật. Vì vậy, các tài liệu cận đại thường luận bàn theo hệ thống hai mươi tám mạch.
CÁC PHƯƠNG DIỆN KHẢO SÁT MẠCH TƯỢNG
Mạch tượng được khảo sát qua bốn phương diện: vị, số, hình và thế.
Vị 位 là vị trí của mạch, ở đây chủ yếu chỉ độ nông sâu dưới da. Mạch hiện nông, dễ bắt khi đặt nhẹ ngón tay là phù; mạch ở sâu, phải ấn xuống gần gân xương mới bắt rõ là trầm.
Số 数 là số lần mạch đập, tức tốc độ của mạch. Trong một nhịp thở, mạch đập chưa đến bốn lần là trì; khoảng năm, sáu lần là sác.
Hình 形 là hình thái của mạch, bao gồm độ lớn nhỏ của đường mạch và những đặc điểm riêng cảm nhận được dưới ngón tay. Chẳng hạn, mạch Khâu giống ống hành rỗng, mạch Động có hình như hạt đậu.
Thế 势 là sức và khí thế của mạch, dùng để phân biệt hư thực. Mạch đến mạnh, có lực thường thuộc thực; mạch đến yếu, không có lực thường thuộc hư.
MẠCH ĐƠN NHẤT, MẠCH PHỨC HỢP VÀ MẠCH TƯƠNG KIÊM
Trong hai mươi tám bệnh mạch có mạch đơn nhất và mạch phức hợp.
Mạch đơn nhất chủ yếu biểu hiện sự thay đổi ở một phương diện. Mạch Phù và mạch Trầm biểu hiện sự khác nhau về vị trí; mạch Trì và mạch Sác biểu hiện sự khác nhau về tốc độ.
Mạch phức hợp phải được nhận biết bằng cách phối hợp nhiều phương diện. Mạch Nhược kết hợp các đặc điểm trầm, nhỏ và vô lực. Mạch Lao kết hợp trầm, thực, đại, huyền và trường. Mạch Hồng có hình thái lớn, thiên về phù, có lực và khí thế mạnh.
Mạch đơn nhất thường chưa phản ánh đầy đủ tình trạng bệnh. Mạch phức hợp có thể cung cấp thông tin từ nhiều phương diện hơn.
Ngoài những mạch đã có tên riêng, trên lâm sàng còn thường gặp nhiều mạch tượng cùng xuất hiện, gọi là mạch tương kiêm 相兼脉, chẳng hạn phù khẩn, phù hoãn, trầm tế, hoạt sác.
PHÂN LOẠI MẠCH TƯỢNG VÀ CHỦ BỆNH
Các mục chủ bệnh và mạch lý dưới đây được trình bày theo lý luận mạch học cổ truyền. Việc nhận định bệnh phải phối hợp mạch với các dấu hiệu thu được từ vọng, văn, vấn và những thăm khám cần thiết.
NHÓM MẠCH PHÙ — 浮脉类
Nhóm này gồm Phù, Hồng, Nhu, Tán, Khâu và Cách. Các mạch đều có vị trí tương đối nông, đặt nhẹ ngón tay đã có thể cảm nhận được.
MẠCH PHÙ — 浮脉
Mạch tượng: Đặt nhẹ ngón tay đã bắt được; ấn mạnh thì giảm nhưng chưa hoàn toàn mất. Khi nâng nhẹ ngón tay, mạch hiện nổi rõ, giống khúc gỗ nổi trên mặt nước.
Chủ bệnh: Biểu chứng, hư chứng.
Mạch lý: Khi tà ở kinh lạc và cơ biểu, vệ dương nổi lên chống tà, mạch khí được thúc đẩy ra ngoài nên mạch phù mà có lực.
Trong nội thương lâu ngày, cơ thể suy yếu, dương khí không tiềm tàng mà phù việt ra ngoài cũng có thể xuất hiện mạch Phù. Trường hợp này thường phù đại mà vô lực.
MẠCH HỒNG — 洪脉
Mạch tượng: Mạch rất lớn, giống sóng nước cuồn cuộn; đến mạnh, lui yếu.
Chủ bệnh: Lý nhiệt chứng.
Mạch lý: Dương khí quá thịnh, khí uất và hỏa vượng, nội nhiệt sung mãn làm đường mạch giãn rộng, khí thịnh huyết dâng nên xuất hiện mạch Hồng.
Nếu người bệnh lâu ngày khí hư, hư lao, mất máu hoặc tiêu chảy kéo dài mà xuất hiện mạch Hồng, theo lý luận cổ truyền có thể là biểu hiện chính hư tà thịnh, âm dịch suy kiệt, cô dương độc kháng hoặc hư dương muốn thoát. Khi ấy, bắt nông thấy mạch hồng thịnh nhưng ấn sâu lại vô lực, thiếu thần.
MẠCH NHU — 濡脉
Mạch tượng: Phù, nhỏ và mềm, giống tấm lụa trong nước.
Chủ bệnh: Hư chứng, thấp chứng.
Mạch lý: Khi tinh huyết hao tổn, âm không giữ được dương thì mạch phù mềm; tinh huyết không đầy đủ thì mạch nhỏ. Khi khí hư, dương suy, hư dương không được thu giữ, mạch cũng có thể phù mềm. Phù mà nhỏ, mềm tạo thành mạch Nhu.
Thấp tà cản trở đường mạch cũng có thể làm xuất hiện mạch Nhu.
MẠCH TÁN — 散脉
Mạch tượng: Phù tán, không có căn, nhịp đập không đều; giống hoa dương bay tản mạn.
Chủ bệnh: Nguyên khí ly tán.
Mạch lý: Theo mạch học cổ truyền, mạch Tán có thể biểu hiện nguyên khí ly tán, khí của tạng phủ suy kiệt, thuộc tình trạng nguy trọng.
Sức thúc đẩy huyết mạch suy giảm, âm dương không thu giữ nhau, dương khí tán ra ngoài nên mạch phù tán, không tụ; hơi ấn mạnh đã không bắt được, không có gốc. Khi tâm khí không duy trì được sự vận hành của huyết, mạch có thể lúc nhanh, lúc chậm, nhịp không đều.
MẠCH KHÂU — 芤脉
Mạch tượng: Phù đại, ở giữa rỗng, giống khi ấn vào ống hành.
Chủ bệnh: Mất máu, tổn thương âm.
Mạch lý: Mất máu hoặc tổn thương âm làm đường mạch thiếu sự sung mãn. Khi mất máu nhiều và đột ngột, lượng huyết giảm, doanh huyết không đủ để làm đầy mạch; hoặc tân dịch hao tổn nặng khiến huyết không được bổ sung.
Theo lý luận cổ truyền, huyết mất, âm tổn làm dương khí thiếu chỗ nương tựa mà phù việt ra ngoài, tạo thành mạch phù đại, giữa rỗng.
MẠCH CÁCH — 革脉
Mạch tượng: Phù, đập mạnh vào ngón tay, bên ngoài căng chắc nhưng ở giữa rỗng, giống ấn vào mặt trống.
Chủ bệnh: Mất máu, mất tinh, sảy thai, rong huyết.
Mạch lý: Mạch Cách kết hợp đặc điểm của mạch Huyền và mạch Khâu. Tinh huyết bên trong hư thiếu, khí không có chỗ nương tựa nên phù việt ra ngoài; thêm sự co rút của âm hàn, tạo thành hình thái ngoài căng chắc, trong rỗng.
NHÓM MẠCH TRẦM — 沉脉类
Nhóm này gồm Trầm, Phục, Nhược và Lao. Vị trí mạch tương đối sâu, phải ấn xuống mới bắt rõ.
MẠCH TRẦM — 沉脉
Mạch tượng: Đặt nhẹ ngón tay không thấy rõ; ấn sâu mới bắt được, giống đá chìm dưới nước.
Chủ bệnh: Lý chứng. Mạch Trầm cũng có thể gặp ở người khỏe mạnh.
Mạch lý: Tà ở bên trong, chính khí chống tà ở bên trong, khí huyết bị cản trở nên mạch trầm mà có lực, thuộc lý thực chứng.
Nếu tạng phủ suy yếu, dương khí suy, khí huyết không đủ sức đưa doanh khí ra ngoài thì mạch trầm mà vô lực, thuộc lý hư chứng.
MẠCH PHỤC — 伏脉
Mạch tượng: Phải ấn mạnh, đẩy gân và tìm sát xương mới bắt được; nặng hơn thì mạch ẩn sâu, khó tìm thấy.
Chủ bệnh: Tà bế, quyết chứng, đau dữ dội.
Mạch lý: Tà khí ẩn ở bên trong, mạch khí không được thông đạt nên đường mạch chìm sâu, khó nhận biết.
Dương khí suy yếu đến mức không đủ sức thúc đẩy huyết mạch cũng có thể gây mạch Phục. Trường hợp do thực tà thường gặp trong bệnh phát đột ngột; trường hợp do chính khí suy thường gặp ở bệnh lâu ngày.
MẠCH NHƯỢC — 弱脉
Mạch tượng: Rất mềm, trầm và nhỏ.
Chủ bệnh: Các chứng hư của khí, huyết, âm, dương.
Mạch lý: Âm huyết không đủ để làm đầy đường mạch; dương suy, khí ít, không đủ sức thúc đẩy huyết vận hành nên mạch trầm, nhỏ và mềm yếu.
MẠCH LAO — 牢脉
Mạch tượng: Ấn sâu thấy mạch thực, đại, huyền, trường; chắc bền, ít thay đổi dưới ngón tay.
Chủ bệnh: Âm hàn ngưng kết, tích tụ kiên cố bên trong.
Mạch lý: Bệnh tà kết tụ bền chắc, âm hàn tích ở trong, dương khí chìm xuống nên mạch trầm, thực, đại, huyền, trường, chắc bền không di chuyển.
Mạch Lao chủ thực, nhưng cần phân biệt khí phận và huyết phận. Trưng hà có khối hữu hình thuộc thực ở huyết phận; bĩ kết không có khối hữu hình thuộc thực ở khí phận.
Theo tài liệu, nếu mạch Lao xuất hiện trong tình trạng mất máu, âm hư thì có thể là dấu hiệu nguy trọng của âm huyết hao tổn đột ngột.
NHÓM MẠCH TRÌ — 迟脉类
Nhóm này gồm Trì, Hoãn, Sáp và Kết. Tài liệu xếp chung các mạch có tính chậm hoặc hòa hoãn; riêng mạch Sáp còn nổi bật bởi sự vận hành khó khăn, không trơn thuận.
MẠCH TRÌ — 迟脉
Mạch tượng: Mạch đến chậm, trong một nhịp thở chưa đến bốn lần; tài liệu quy đổi tương đương dưới 60 lần mỗi phút.
Chủ bệnh: Hàn chứng. Trì mà có lực thường gặp trong hàn thống, lãnh tích; trì mà vô lực thường thuộc hư hàn.
Người luyện tập thể lực lâu năm có thể có mạch chậm mà có lực, không nhất thiết là bệnh mạch.
Mạch lý: Dương khí không đủ sức thúc đẩy huyết vận hành làm mạch chậm. Nếu âm hàn, lãnh tích ngăn trở, huyết vận hành không thông thì mạch trì mà có lực. Nếu do dương hư sinh hàn thì mạch thường trì mà vô lực.
Tà nhiệt kết tụ, cản trở khí huyết cũng có thể gây mạch Trì, nhưng thường trì mà có lực, ấn thấy thực. Vì vậy, không thể xem mọi mạch Trì đều thuộc hàn; phải phối hợp mạch và chứng.
MẠCH HOÃN — 缓脉
Mạch tượng: Trong một nhịp thở khoảng bốn lần, mạch đến và đi có vẻ chậm chạp, thiếu sức.
Chủ bệnh: Thấp chứng, tỳ vị hư nhược.
Mạch lý: Thấp tà có tính dính trệ, làm khí cơ bị cản trở. Tỳ vị hư yếu khiến nguồn sinh khí huyết thiếu hụt, mạch không được làm đầy và thúc đẩy đầy đủ nên biểu hiện hoãn trệ.
Cần phân biệt mạch Hoãn bệnh lý với mạch bình hòa. Mạch hòa hoãn tự nhiên có thể biểu hiện khí huyết đầy đủ, các mạch thông thuận. Trong quá trình bệnh, mạch chuyển sang điều hòa có thể là dấu hiệu chính khí phục hồi.
MẠCH SÁP — 涩脉
Mạch tượng: Chậm, nhỏ, ngắn; đến và đi khó khăn, không trơn thuận, giống lưỡi dao nhẹ cạo trên tre.
Chủ bệnh: Tinh huyết thiếu hụt, khí trệ huyết ứ, kiêm đàm, kiêm thực tích.
Mạch lý: Tinh hao, huyết ít, tân dịch thiếu khiến kinh mạch không được nuôi dưỡng đầy đủ, huyết vận hành khó khăn nên mạch sáp mà vô lực.
Nếu khí trệ, huyết ứ, đàm hoặc thức ăn tích tụ làm khí cơ không thông, huyết vận hành bị cản trở thì mạch sáp mà có lực.
MẠCH KẾT — 结脉
Mạch tượng: Mạch đến chậm, thỉnh thoảng ngừng một nhịp; sự ngừng không theo quy luật cố định.
Chủ bệnh: Âm thịnh khí kết, hàn đàm, huyết ứ, trưng hà tích tụ.
Mạch lý: Âm thịnh, khí cơ uất kết, dương khí bị cản trở, huyết vận hành ứ trệ nên mạch chậm, đôi khi không tiếp nối được. Mạch ngừng rồi lại đập, khoảng ngừng không cố định; có thể gặp trong chứng tâm mạch bị cản trở do hàn đàm, huyết ứ.
Mạch Kết cũng có thể xuất hiện trong hư chứng. Bệnh lâu ngày, hư lao làm khí huyết suy, mạch khí không liên tục; khi khí huyết tiếp nối được thì mạch lại đập.
NHÓM MẠCH SÁC — 数脉类
Nhóm này gồm Sác, Tật, Xúc và Động, đều có đặc điểm mạch đập nhanh.
MẠCH SÁC — 数脉
Mạch tượng: Trong một nhịp thở, mạch đập từ khoảng năm lần trở lên.
Chủ bệnh: Nhiệt chứng. Có lực thường thuộc thực nhiệt; vô lực thường thuộc hư nhiệt.
Mạch lý: Tà nhiệt thịnh ở bên trong làm khí huyết vận hành nhanh. Nếu chính khí chưa suy, chính tà giao tranh mạnh thì mạch sác mà có lực, chủ thực nhiệt.
Nếu bệnh lâu ngày làm hao tổn âm dịch, âm hư sinh nội nhiệt thì mạch có thể sác mà vô lực. Theo lý luận cổ truyền, mạch phù sác, ấn sâu không có căn có thể là dấu hiệu hư dương ngoại việt.
MẠCH TẬT — 疾脉
Mạch tượng: Mạch đến rất nhanh, trong một nhịp thở khoảng bảy, tám lần.
Chủ bệnh: Dương cực, âm kiệt, nguyên dương muốn thoát.
Mạch lý: Trong thực nhiệt nặng, dương quá thịnh không được chế ước, chân âm bị tổn thương nghiêm trọng nên mạch rất nhanh, càng ấn càng thấy chắc.
Nếu âm dịch suy kiệt, dương khí phù việt và muốn thoát thì mạch rất nhanh nhưng vô lực.
MẠCH XÚC — 促脉
Mạch tượng: Mạch đến nhanh, thỉnh thoảng ngừng một nhịp; sự ngừng không theo quy luật cố định.
Chủ bệnh: Dương nhiệt quá thịnh; khí, huyết, đàm hoặc thức ăn uất trệ.
Mạch lý: Dương nhiệt thịnh, hoặc khí huyết, đàm ẩm, thức ăn lưu tích uất trệ hóa nhiệt làm huyết vận hành nhanh nên mạch cấp sác. Tà khí cản trở, âm dương không điều hòa, mạch khí không tiếp nối được nên thỉnh thoảng ngừng rồi lại đập. Trong thực chứng, mạch thường có lực.
Mạch Xúc cũng có thể gặp trong hư chứng. Theo tài liệu, khi nguyên âm hao tổn, mạch nhanh có lúc ngừng, không theo quy luật và vô lực có thể biểu hiện tình trạng hư suy nghiêm trọng.
MẠCH ĐỘNG — 动脉
Mạch tượng: Hình mạch như hạt đậu, rung động rõ dưới ngón tay, hoạt sác và có lực.
Chủ bệnh: Đau, kinh sợ.
Tài liệu còn ghi nhận mạch Động có thể xuất hiện trong thời kỳ đầu mang thai và xem đây là một dấu hiệu tham khảo.
Mạch lý: Âm dương giao tranh, thăng giáng mất điều hòa làm khí huyết xung động, đường mạch biểu hiện sự rung động tập trung.
Đau làm khí huyết không thông, âm dương không hòa; kinh sợ làm khí huyết rối loạn, tim đập đột ngột, mạch cũng có thể biểu hiện xung động.
NHÓM MẠCH HƯ — 虚脉类
Nhóm này gồm Hư, Tế, Vi, Đại và Đoản. Tài liệu xếp chung theo đặc điểm chủ yếu là mạch ứng dưới ngón tay yếu, nhưng từng mạch vẫn cần xét riêng về lực và hình thái.
MẠCH HƯ — 虚脉
Mạch tượng: Cả ba bộ đều vô lực; khi ấn thấy trống, thiếu sức.
Chủ bệnh: Hư chứng.
Mạch lý: Khí hư không đủ sức vận huyết nên mạch vô lực; huyết hư không đủ làm đầy đường mạch nên ấn thấy trống.
Khí hư không thu giữ được, huyết hư khiến khí thiếu chỗ nương tựa, đường mạch giãn lỏng nên hình mạch có thể lớn nhưng mềm yếu.
MẠCH TẾ — 细脉
Mạch tượng: Mạch nhỏ như sợi chỉ, nhưng vẫn cảm nhận rõ dưới ngón tay.
Chủ bệnh: Khí huyết lưỡng hư, các chứng hư lao tổn thương, thấp chứng.
Mạch lý: Doanh huyết thiếu không làm đầy đường mạch; khí thiếu không đủ sức thúc đẩy huyết nên mạch nhỏ và yếu.
Thấp tà cản trở đường mạch, làm tổn thương dương khí cũng có thể gây mạch Tế.
MẠCH VI — 微脉
Mạch tượng: Rất nhỏ, rất mềm; ấn xuống gần như mất, có vẻ như có như không.
Chủ bệnh: Các chứng hư của âm, dương, khí, huyết; dương khí suy vi.
Mạch lý: Dương khí suy không đủ sức thúc đẩy; huyết ít không đủ làm đầy đường mạch nên xuất hiện mạch Vi.
Theo cách phân định cổ truyền, bắt nông để xét dương, nếu gần như không thấy mạch thì có thể gợi dương khí suy; bắt sâu để xét âm, nếu gần như không thấy mạch thì có thể gợi âm suy kiệt.
Trong bệnh lâu ngày, mạch Vi có thể phản ánh chính khí hao tổn nặng. Trong bệnh mới phát, có thể gặp khi dương khí suy thoát đột ngột, nhưng cũng có thể gặp ở người vốn dương hư mà tà khí nhẹ. Cần xét toàn bộ bệnh cảnh.
MẠCH ĐẠI — 代脉
Mạch tượng: Mạch đập có lúc ngừng, khoảng ngừng có quy luật; ngừng tương đối lâu rồi mới đập lại.
Chủ bệnh: Tạng khí suy vi, phong chứng, đau.
Mạch lý: Tạng khí suy, khí huyết thiếu khiến mạch khí không tiếp nối được, phải ngừng một khoảng rồi mới đập lại.
Trong phong chứng hoặc đau, tà khí cản trở kinh mạch cũng có thể làm mạch khí gián đoạn; trường hợp này được giải thích theo thực chứng.
Tài liệu còn mô tả mạch Đại có thể xuất hiện ở một số phụ nữ mang thai thời kỳ đầu, nhất là người vốn thể yếu, tạng khí không đầy đủ, lại bị nghén. Theo giải thích cổ truyền, khí huyết tập trung nuôi thai khiến mạch khí tạm thời không tiếp nối. Đây không phải mạch tất yếu của thai kỳ.
MẠCH ĐOẢN — 短脉
Mạch tượng: Đầu và cuối của đoạn mạch đều ngắn, không trải đầy vị trí bộ mạch.
Chủ bệnh: Bệnh thuộc khí. Có lực thường thuộc khí trệ; vô lực thường thuộc khí hư.
Mạch lý: Khí hư không đủ sức dẫn huyết khiến mạch không trải tới đầy đủ vị trí vốn có, nên mạch ngắn mà vô lực.
Khí uất, huyết ứ, đàm trệ hoặc thực tích cản trở đường mạch cũng có thể khiến mạch khí không vươn dài, tạo thành mạch Đoản, nhưng thường có lực. Vì vậy, không thể xem mọi mạch Đoản đều thuộc hư.
NHÓM MẠCH THỰC — 实脉类
Nhóm này gồm Thực, Hoạt, Huyền, Khẩn và Trường, có đặc điểm chủ yếu là mạch ứng dưới ngón tay có lực.
MẠCH THỰC — 实脉
Mạch tượng: Cả ba bộ đều có lực khi bắt nông cũng như khi ấn sâu.
Chủ bệnh: Thực chứng.
Mạch lý: Tà khí thịnh, chính khí chưa suy, chính tà giao tranh làm khí huyết sung thịnh, đường mạch căng đầy nên mạch chắc, có lực.
Người khỏe mạnh cũng có thể có mạch hữu lực, biểu hiện chính khí đầy đủ, chức năng tạng phủ tốt. Mạch hữu lực sinh lý vẫn yên hòa, khác với mạch Thực bệnh lý có tính cứng và căng mạnh.
MẠCH HOẠT — 滑脉
Mạch tượng: Đến và đi trơn thuận, giống hạt châu lăn trên mâm; dưới ngón tay có cảm giác tròn, trôi chảy.
Chủ bệnh: Đàm ẩm, thực tích, thực nhiệt.
Mạch lý: Tà khí thịnh ở bên trong, chính khí chưa suy, khí thực huyết dâng nên mạch vận hành trơn thuận, tròn dưới ngón tay.
Ở người khỏe mạnh, mạch hoạt mà hòa hoãn có thể biểu hiện khí huyết sung mãn. Khí đầy đủ giúp mạch vận hành thông thuận; huyết đầy đủ giúp đường mạch sung mãn.
Phụ nữ mang thai cũng có thể có mạch Hoạt do khí huyết tương đối sung thịnh, điều hòa.
MẠCH HUYỀN — 弦脉
Mạch tượng: Thẳng, dài, căng như dây đàn.
Chủ bệnh: Bệnh can đởm, đàm ẩm, đau, sốt rét.
Mạch lý: Huyền biểu hiện trạng thái căng của mạch khí. Can chủ sơ tiết, điều hòa khí cơ. Khi tà khí làm can khí uất trệ, sơ tiết thất thường thì có thể xuất hiện mạch Huyền.
Đau và đàm ẩm làm khí cơ bị cản trở, âm dương không hòa, mạch khí căng nên mạch huyền. Trong sốt rét, tà ở bán biểu bán lý, thiếu dương xu cơ không thuận cũng có thể gây mạch Huyền.
Hư lao, nội thương, trung khí thiếu, can bệnh ảnh hưởng đến tỳ cũng có thể gặp mạch Huyền.
Theo tài liệu, nếu mạch huyền, nhỏ mà căng cứng, giống chạm vào lưỡi dao thì được xem là mất vị khí, gợi tình trạng khó chữa.
MẠCH KHẨN — 紧脉
Mạch tượng: Mạch căng gấp, giống sợi dây thừng bị kéo căng hoặc xoắn chặt.
Chủ bệnh: Hàn chứng, đau.
Mạch lý: Hàn tà xâm nhập, giao tranh với chính khí làm đường mạch co căng, câu cấp nên xuất hiện mạch Khẩn.
Đau kèm mạch Khẩn thường được giải thích do hàn tà tích trệ, chính tà giao tranh mạnh.
MẠCH TRƯỜNG — 长脉
Mạch tượng: Đoạn mạch kéo dài, vượt quá vị trí thông thường.
Chủ bệnh: Can dương hữu dư, hỏa nhiệt, tà độc và các chứng thuộc hữu dư.
Mạch lý: Ở người khỏe mạnh, chính khí đầy đủ, các mạch thông thuận, khí cơ thăng giáng điều hòa thì mạch có thể dài mà hòa hoãn.
Nếu can dương quá thịnh, nội nhiệt hoặc tà khí thịnh làm đường mạch sung căng, thêm sự giao tranh giữa chính và tà, mạch có thể dài, cứng, thẳng hoặc kiêm các mạch khác, thuộc bệnh mạch.
MẠCH TƯƠNG KIÊM VÀ CHỦ BỆNH — 相兼脉与主病
Mạch tương kiêm là nhiều đặc điểm mạch cùng xuất hiện. Từ Linh Thai gọi là hợp mạch 合脉, gồm mạch kết hợp hai, ba hoặc bốn đặc điểm.
Chủ bệnh của mạch tương kiêm thường được suy xét từ ý nghĩa của các mạch thành phần. Chẳng hạn, phù gợi biểu, sác gợi nhiệt; phù sác thường gợi biểu nhiệt. Tuy nhiên, sự kết hợp này vẫn phải được đối chiếu với chứng trạng, không chỉ cộng các ý nghĩa một cách máy móc.
Phù khẩn 浮紧: Thường gặp trong biểu hàn, phong tý.
Phù hoãn 浮缓: Thường gặp trong biểu hư của thương hàn.
Phù sác 浮数: Thường gặp trong biểu nhiệt.
Phù hoạt 浮滑: Thường gặp trong phong đàm hoặc biểu chứng kiêm đàm.
Trầm trì 沉迟: Thường gặp trong lý hàn.
Huyền sác 弦数: Thường gặp trong can nhiệt, can hỏa.
Hoạt sác 滑数: Thường gặp trong đàm nhiệt hoặc thực tích có nội nhiệt.
Hồng sác 洪数: Thường gặp khi nhiệt ở khí phận thịnh.
Trầm huyền 沉弦: Thường gặp trong can uất khí trệ, thủy ẩm đình lưu bên trong.
Trầm sáp 沉涩: Thường gặp trong huyết ứ.
Huyền tế 弦细: Thường gặp trong can thận âm hư hoặc can uất tỳ hư.
Trầm hoãn 沉缓: Thường gặp trong tỳ hư, thủy thấp đình lưu.
Trầm tế 沉细: Thường gặp trong âm hư, huyết hư.
Huyền hoạt sác 弦滑数: Thường gặp trong can hỏa kiêm đàm, đàm hỏa uẩn kết bên trong.
Trầm tế sác 沉细数: Thường gặp trong âm hư hoặc huyết hư có nhiệt.
Huyền khẩn 弦紧: Thường gặp trong đau do hàn, hàn tà ngưng trệ ở can mạch.
Trường Xuân biên soạn
CHẨN MẠCH Ở TRẺ EM — 诊小儿脉
Chẩn mạch ở trẻ em khác với người trưởng thành. Vùng thốn khẩu của trẻ nhỏ hẹp, khó phân biệt rõ ba bộ thốn, quan, xích. Ngoài ra, khi thăm khám, trẻ dễ sợ hãi và khóc. Kinh sợ làm khí rối loạn, mạch khí cũng biến đổi nên khó nhận định chính xác. Vì vậy, các thầy thuốc đời sau thường dùng một ngón tay để khảo sát chung cả ba bộ.
CÁCH KHẢO SÁT MẠCH
Thầy thuốc dùng tay trái giữ bàn tay của trẻ, dùng ngón cái tay phải đặt lên đường mạch ở vùng cổ tay, gần mốc xương nhô cao phía sau lòng bàn tay. Từ đó khảo sát các bộ mạch và đếm số lần mạch đập theo nhịp thở của người khám.
Với trẻ trên bốn tuổi, lấy đường giữa của mốc xương nhô cao làm vị trí bộ quan, rồi nhẹ nhàng lăn ngón tay sang hai phía để tìm ba bộ.
Với trẻ bảy, tám tuổi, có thể dịch chuyển ngón cái để lần lượt khảo sát từng bộ.
Từ khoảng chín đến mười tuổi trở lên, có thể lần lượt đặt các ngón tay theo vị trí thốn, quan, xích để chẩn mạch.
Đến mười sáu tuổi, thực hiện cách chẩn ba bộ như ở người trưởng thành. Đây là cách phân chia theo tuổi được trình bày trong tài liệu.
NHẬN ĐỊNH CHỦ BỆNH
Khi chẩn mạch trẻ em, chủ yếu dựa vào phù, trầm, trì, sác để nhận định biểu, lý, hàn, nhiệt; dựa vào có lực hay vô lực để phân biệt thực và hư. Không nhất thiết tìm đủ những đặc điểm chi tiết của cả hai mươi tám loại mạch.
Mạch phù thường gợi bệnh ở biểu; mạch trầm thường gợi bệnh ở lý. Mạch trì thường gợi hàn; mạch sác thường gợi nhiệt. Mạch có lực thường thiên về thực; mạch vô lực thường thiên về hư. Những nhận định này cần phối hợp với tuổi, trạng thái của trẻ lúc khám và các chứng trạng khác.
ĐẶC ĐIỂM KHI ẤN SÂU
Theo lý luận cổ truyền, thận khí của trẻ chưa đầy đủ, mạch khí thường biểu hiện rõ ở mức trung án, tức mức ấn vừa.
Dù mạch vốn thiên về phù hay trầm, khi ấn quá sâu thường khó bắt được. Nếu phải ấn sâu mới thấy rõ mạch, tài liệu cho rằng cần xem xét theo đặc điểm của mạch Lao hoặc mạch Thực ở người trưởng thành.
Trường Xuân biên soạn
MẠCH VÀ CHỨNG: THUẬN NGHỊCH, TÒNG XẢ — 脉症顺逆与从舍
THUẬN NGHỊCH GIỮA MẠCH VÀ CHỨNG
Thuận nghịch giữa mạch và chứng là dựa vào sự tương ứng hoặc không tương ứng của hai mặt này để nhận định diễn biến bệnh thuận lợi hay bất lợi.
Thông thường, mạch và chứng phù hợp với nhau, gọi là mạch chứng tương ứng. Tuy nhiên, cũng có lúc mạch và chứng không phù hợp, thậm chí biểu hiện trái ngược nhau.
Theo lý luận cổ truyền, mạch chứng tương ứng thường được xem là thuận; không tương ứng có thể được xem là nghịch, gợi diễn biến bất lợi.
Trong các bệnh chứng thuộc hữu dư, nếu thấy mạch Hồng, Sác, Hoạt hoặc Thực thì mạch và chứng tương ứng, được xem là thuận. Điều này biểu thị tà khí thực nhưng chính khí còn mạnh, đủ sức chống tà.
Nếu bệnh chứng thuộc hữu dư mà lại thấy mạch Tế, Vi hoặc Nhược thì mạch và chứng trái ngược, được xem là nghịch. Tình trạng này gợi tà thịnh, chính hư, tà khí dễ hãm sâu vào trong.
Với bệnh phát đột ngột, mạch phù, hồng, sác, thực được tài liệu xem là thuận, vì phản ánh chính khí còn sung mãn, có khả năng chống tà. Nếu bệnh mới phát mà mạch đã trầm, tế, vi, nhược thì có thể cho thấy chính khí suy yếu.
Với bệnh lâu ngày, tài liệu xem mạch trầm, vi, tế, nhược là có thể thuận với bệnh cảnh và có cơ hội tà suy, chính phục. Ngược lại, nếu bệnh kéo dài mà mạch vẫn phù, hồng, sác, thực thì có thể biểu thị chính khí đã suy nhưng tà khí chưa lui, thuộc tình trạng nghịch.
Những nhận định này phải được đặt trong toàn bộ diễn biến bệnh. Riêng mạch nhỏ, yếu trong bệnh lâu ngày chưa đủ để kết luận chính khí đang phục hồi.
TÒNG XẢ GIỮA MẠCH VÀ CHỨNG — 从舍
Tòng nghĩa là theo; xả nghĩa là bỏ. Khi mạch và chứng không tương ứng, cần phân biệt biểu hiện nào phản ánh bản chất bệnh, biểu hiện nào chỉ là hiện tượng bên ngoài, từ đó quyết định lấy mạch hay chứng làm căn cứ chính.
Theo cách giải thích của tài liệu, có thể gặp chứng thật mà mạch giả, hoặc chứng giả mà mạch thật. Vì vậy, trên lâm sàng có hai cách xử lý: xả mạch tòng chứng và xả chứng tòng mạch.
XẢ MẠCH TÒNG CHỨNG — 舍脉从症
Nghĩa là không lấy biểu hiện của mạch làm căn cứ chính, mà theo chứng trạng để nhận định bản chất bệnh. Cách này áp dụng khi chứng phản ánh đúng bản chất, còn mạch biểu hiện một hiện tượng dễ gây nhầm.
Ví dụ, người bệnh bụng trướng đầy, đau và không cho ấn, đại tiện khô kết, lưỡi đỏ, rêu vàng dày, khô cháy, nhưng mạch lại trì tế.
Các chứng trạng phản ánh thực nhiệt kết tụ ở trường vị, thuộc biểu hiện thật. Mạch trì tế được giải thích là do nhiệt kết ở bên trong cản trở huyết vận hành, tạo ra hình thái dễ bị hiểu nhầm là hàn hoặc hư.
Trong trường hợp này, cần theo chứng để nhận định thực nhiệt nội kết, không chỉ dựa vào mạch trì tế mà quy bệnh về hàn hư.
XẢ CHỨNG TÒNG MẠCH — 舍症从脉
Nghĩa là không lấy một số chứng trạng bên ngoài làm căn cứ chính, mà theo mạch để nhận định bản chất bệnh. Cách này áp dụng khi chứng trạng biểu hiện giả tượng, còn mạch phù hợp với bản chất bệnh.
Ví dụ, trong bệnh thương hàn, nhiệt bị bế ở bên trong, người bệnh có tay chân quyết lạnh nhưng mạch lại hoạt sác.
Mạch hoạt sác phản ánh chân nhiệt. Tay chân lạnh được giải thích là do nhiệt tà ẩn ở bên trong, làm âm dương không thông đạt, xuất hiện giả hàn bên ngoài.
Trong trường hợp này, cần theo mạch để nhận định bản chất nhiệt, không chỉ dựa vào tay chân lạnh mà kết luận là hàn chứng.
Tòng xả không có nghĩa là bỏ qua hoàn toàn mạch hoặc chứng. Đó là xác định biểu hiện nào có giá trị chủ đạo sau khi đã phối hợp đầy đủ các dấu hiệu và phân biệt chân giả.
Trường Xuân biên soạn
ÁN CHẨN — 按诊
Án chẩn là phương pháp thầy thuốc dùng tay trực tiếp sờ, nắn và ấn một số vị trí trên bề mặt cơ thể người bệnh để tìm hiểu những biến đổi bất thường tại chỗ, từ đó góp phần xác định vị trí, tính chất và mức độ nặng nhẹ của bệnh.
PHƯƠNG PHÁP VÀ Ý NGHĨA CỦA ÁN CHẨN
Tư thế người bệnh
Khi án chẩn, người bệnh có thể ngồi hoặc nằm ngửa.
Thông thường, khi khám ngực bụng, người bệnh nằm ngửa, toàn thân thả lỏng, hai chân duỗi, hai tay đặt bên thân. Thầy thuốc đứng bên phải người bệnh, dùng tay phải hoặc cả hai tay để sờ nắn.
Khi khảo sát khối trong bụng hoặc độ căng của cơ bụng, có thể yêu cầu người bệnh co hai gối để cơ bụng thư giãn, thuận tiện cho việc khám.
Các thủ pháp
Thủ pháp án chẩn được chia thành bốn loại chính: xúc, mô, thôi và án.
Xúc 触 là dùng ngón tay hoặc lòng bàn tay tiếp xúc nhẹ với vùng cần khám, như trán, da tay chân, để nhận biết nóng lạnh, ẩm khô.
Mô 摸 là dùng tay sờ nắn tại chỗ, như vùng sưng, để khảo sát cảm giác tại chỗ cùng hình dạng và kích thước của khối bất thường.
Thôi 推 là dùng tay tác động một lực vừa phải, đẩy vùng cần khám về phía trước, phía sau hoặc sang hai bên, nhằm khảo sát độ di động của khối và mối liên hệ với các mô xung quanh.
Án 按 là dùng tay ấn vùng ngực bụng hoặc khối bất thường để tìm hiểu đau khi ấn ở phần sâu, hình dạng và độ chắc của khối, mức độ và tính chất sưng.
Trên lâm sàng, các thủ pháp được phối hợp. Thường bắt đầu bằng tiếp xúc và sờ nhẹ, sau đó mới đẩy và ấn; lực tăng dần từ nhẹ đến mạnh, từ nông vào sâu, lần lượt khảo sát từng lớp.
Những điều cần chú ý
Thầy thuốc cần quan tâm đến cảm giác của người bệnh, thao tác nhẹ nhàng, tránh dùng lực mạnh đột ngột. Khi trời lạnh, phải làm ấm tay trước khi khám.
Cần hướng dẫn người bệnh phối hợp, báo ngay những cảm giác xuất hiện trong lúc khám. Đồng thời, thầy thuốc quan sát nét mặt để nhận biết vị trí và mức độ đau.
Việc khám phải cẩn thận, không bỏ sót những vùng có liên quan đến bệnh.
Ý nghĩa của án chẩn
Án chẩn là một phần của thiết chẩn, là khâu không thể bỏ qua trong tứ chẩn.
Trên cơ sở vọng, văn, vấn, án chẩn giúp tìm hiểu sâu hơn vị trí và tính chất của bệnh. Đối với đau, sưng, đàm ẩm và các khối bất thường ở ngực bụng, sờ nắn có thể bổ sung những thông tin cần thiết cho chẩn đoán và biện chứng.
NỘI DUNG CỦA ÁN CHẨN
Phạm vi áp dụng của án chẩn khá rộng. Những nội dung thường dùng gồm khám da và cơ biểu, khám tay chân, khám ngực bụng và khám các du huyệt.
KHÁM DA VÀ CƠ BIỂU — 按肌肤
Khám da và cơ biểu nhằm tìm hiểu tình trạng nóng lạnh, ẩm khô và sưng của bề mặt cơ thể.
Theo lý luận cổ truyền, dương khí thịnh thì thân thường nóng; dương khí suy thì thân thường lạnh.
Phân biệt nóng lạnh, biểu lý
Không chỉ dựa vào cảm giác nóng lạnh, thầy thuốc còn xem mức độ và sự thay đổi của cảm giác nóng khi tiếp xúc để tham khảo biểu lý, hư thực.
Nếu lúc đầu chạm vào thấy rất nóng nhưng giữ tay lâu thì cảm giác nóng giảm, tài liệu giải thích là nhiệt ở biểu.
Nếu giữ tay lâu càng thấy nóng, như nhiệt từ trong bốc ra ngoài, tài liệu giải thích là nhiệt ở lý.
Phân biệt hư thực và độ sâu của bệnh
Da thịt mềm, người bệnh dễ chịu khi được ấn thường thiên về hư.
Vùng bệnh cứng, đau, không chịu cho ấn thường thiên về thực.
Chạm nhẹ đã đau thường gợi bệnh ở phần nông; phải ấn sâu mới đau thường gợi bệnh ở phần sâu.
Khảo sát độ ẩm và tình trạng tân dịch
Da khô có thể do chưa ra mồ hôi hoặc tân dịch không đủ.
Da khô, mất vẻ đầy đặn có thể phản ánh tân dịch thiếu hụt.
Da ẩm có thể do đã ra mồ hôi hoặc tân dịch chưa bị tổn thương.
Da thô ráp, bong vảy như những mảnh giáp, gọi là cơ phu giáp thác 肌肤甲错, được tài liệu liên hệ với tổn thương âm hoặc có huyết khô, huyết ứ bên trong.
Khảo sát vùng sưng
Tài liệu dùng phản ứng khi ấn để phân biệt thủy thũng và khí thũng.
Ấn xuống có lõm, nhấc tay lên vẫn còn dấu, chỗ lõm không trở lại ngay thì được gọi là thủy thũng.
Ấn xuống có lõm nhưng nhấc tay lên trở lại ngay thì tài liệu gọi là khí thũng 气肿.
Khảo sát âm dương và tình trạng thành mủ
Vùng sưng cứng, tê hoặc cảm giác kém, không nóng được xếp thiên về hàn.
Vùng sưng nóng rõ, đau khi ấn được xếp thiên về nhiệt.
Chân vùng sưng lan rộng, phẳng hoặc thấp thường được xếp thiên về hư; chân vùng sưng thu gọn, khối nổi cao thường được xếp thiên về thực.
Vùng bệnh còn cứng thường được cho là chưa thành mủ. Nếu xung quanh cứng nhưng phần đỉnh mềm, tài liệu cho rằng có thể đã thành mủ bên trong.
Với ổ mủ nằm sâu trong cơ, tài liệu khảo sát cảm giác ba động. Hai tay đặt ở hai bên khối; một tay thay đổi lực ấn nhẹ và mạnh, tay kia cảm nhận xem ở phần sâu có dao động truyền tới hay không. Nếu cảm nhận được ba động, tài liệu xem là dấu hiệu có dịch mủ; phạm vi ba động được dùng để ước lượng phạm vi dịch bên trong.
KHÁM TAY CHÂN — 按手足
Khám tay chân chủ yếu nhằm nhận biết nóng lạnh, góp phần phân biệt hư thực, nội ngoại và nhận định tiên lượng.
Khi bệnh mới phát, tay chân đều lạnh được tài liệu quy về dương hư, hàn thịnh, thuộc hàn chứng.
Tay chân đều nóng thường được quy về dương thịnh, nhiệt mạnh, thuộc nhiệt chứng.
So sánh nhiệt độ các vùng
Tài liệu dùng sự khác biệt về nhiệt độ ở tay chân để tham khảo ngoại cảm và nội thương.
Mu bàn tay, mu bàn chân nóng hơn được liên hệ với phát nhiệt do ngoại cảm.
Lòng bàn tay, lòng bàn chân nóng hơn được liên hệ với phát nhiệt do nội thương.
Ngoài ra, có thể so sánh trán với lòng bàn tay. Trán nóng hơn lòng bàn tay được xem là thiên về biểu nhiệt; lòng bàn tay nóng hơn trán được xem là thiên về lý nhiệt. Bản gốc xác định cách khám này chỉ có ý nghĩa tham khảo.
Những nhận xét trong nhi khoa
Theo kinh nghiệm được ghi trong tài liệu, đầu ngón tay trẻ lạnh được liên hệ với kinh quyết; riêng ngón giữa nóng được liên hệ với ngoại cảm phong hàn; riêng đầu ngón giữa lạnh được xem là dấu hiệu bệnh sởi hoặc đậu sắp phát.
Nóng lạnh của tay chân và tiên lượng
Theo lý luận cổ truyền, độ ấm lạnh của tay chân có thể góp phần nhận định dương khí còn hay suy.
Trong chứng dương hư, nếu tứ chi vẫn ấm thì được xem là dương khí còn, còn khả năng điều trị.
Nếu tứ chi quyết lạnh, tài liệu xem là dấu hiệu bệnh nặng và tiên lượng bất lợi.
KHÁM NGỰC BỤNG — 按胸腹
Phân chia các vùng
Phía trên cơ hoành là ngực; phía dưới cơ hoành là bụng.
Hiếp 胁 là vùng bên ngực, từ dưới nách đến vùng xương sườn thứ mười một, mười hai.
Tâm hạ 心下 là vùng ngay dưới mũi ức.
Vị quản 胃脘 tương ứng với vùng bụng trên.
Đại phúc 大腹 là vùng bụng trên rốn.
Tiểu phúc 小腹 là vùng bụng dưới rốn.
Thiếu phúc 少腹 là hai bên của vùng bụng dưới.
Khám ngực bụng là tùy theo bệnh cảnh mà sờ, nắn, ấn vùng trước ngực, vùng hiếp sườn và bụng; khi cần có thể phối hợp gõ để tìm hiểu những biến đổi tại chỗ.
Nội dung được chia thành khám hư lý, khám ngực hiếp và khám bụng.
KHÁM HƯ LÝ — 按虚里
Hư lý 虚里 nằm ở vùng dưới vú trái, nơi cảm nhận được nhịp đập của mỏm tim. Cổ nhân xem đây là nơi quy tụ của các mạch.
Khảo sát nhịp đập ở hư lý được dùng để tìm hiểu sự mạnh yếu của tông khí, hư thực của bệnh và tiên lượng.
Nếu nhịp đập ứng dưới tay vừa phải, không căng gấp, hòa hoãn, không quá nhanh thì được xem là biểu hiện khỏe mạnh.
Nếu nhịp đập yếu, vô lực thì thuộc bất cập, được giải thích là tông khí hư ở bên trong.
Nếu nhịp đập mạnh đến mức làm rung áo thì thuộc thái quá, được giải thích là tông khí ngoại tiết.
Nếu nhịp đập mạnh, bật vào tay, hồng đại và dồn dập thì tài liệu xem là biểu hiện nguy trọng. Đặc biệt cần chú ý khi gặp ở phụ nữ trước hoặc sau sinh, hoặc người mắc lao trái 痨瘵.
Sau kinh sợ, giận dữ hoặc vận động mạnh, nhịp đập ở hư lý có thể tăng rõ. Nếu nghỉ yên một lúc rồi trở lại bình thường thì thuộc biến đổi sinh lý.
Nếu không còn nhịp đập ở hư lý và mạch ở các vị trí khác cũng ngừng, tài liệu gọi là tử hậu. Cổ nhân đặc biệt coi trọng việc khám hư lý trong những trường hợp không bắt được mạch ở cổ tay, cần nhận định tình trạng sống còn.
KHÁM NGỰC VÀ HIẾP — 按胸胁
Ngực trước nhô cao, khi ấn người bệnh khó thở được tài liệu liên hệ với bệnh ở phế.
Ngực hiếp trướng đau khi ấn có thể được giải thích do đàm nhiệt, khí kết hoặc thủy ẩm đình lưu bên trong.
Khảo sát vùng gan
Gan nằm trong vùng hiếp phải. Tài liệu mô tả giới hạn trên ở đường giữa xương đòn ngang xương sườn thứ năm, giới hạn dưới tương ứng với bờ cung sườn phải; vì vậy, thông thường không sờ thấy gan dưới bờ sườn.
Nếu sờ thấy gan to, mềm hoặc cứng, tài liệu thường biện giải theo khí trệ, huyết ứ. Nếu bề mặt gồ ghề, không đều, bản gốc nhấn mạnh cần cảnh giác với ung thư gan.
Vùng hiếp phải trướng đau, sờ thấy nóng, đau đến mức không cho ấn được tài liệu liên hệ với can ung 肝痈.
Sốt rét kéo dài, xuất hiện khối dưới vùng hiếp được gọi là ngược mẫu 疟母.
KHÁM BỤNG — 按腹部
Khám bụng chủ yếu khảo sát nóng lạnh, mềm cứng, trướng đầy, khối bất thường và đau khi ấn, nhằm hỗ trợ chẩn đoán và biện chứng.
Phân biệt nóng lạnh
Thành bụng lạnh, người bệnh thích được bàn tay ấm áp lên hoặc xoa ấn thì được xếp thiên về hư hàn.
Thành bụng nóng rát, thích đặt vật mát lên thì được xếp thiên về thực nhiệt.
Phân biệt đau bụng
Đau bụng mà thích được ấn thường thiên về hư; đau tăng khi ấn, không chịu cho ấn thường thiên về thực.
Vùng đau nóng rõ, đau dữ dội khi ấn được tài liệu liên hệ với nội ung 内痈.
Phân biệt bụng trướng
Bụng trướng đầy, ấn có cảm giác chắc đầy, có đau khi ấn, gõ nghe âm đục được gọi là thực mãn.
Bụng phồng nhưng ấn không chắc, không đau, gõ nghe âm vang rỗng được gọi là khí trướng, thường được tài liệu xếp thiên về hư mãn.
Bụng phình lớn như trống được gọi là cổ trướng 鼓胀, thuộc bệnh cảnh nghiêm trọng, chia thành thủy cổ và khí cổ.
Khi khảo sát thủy cổ 水臌, hai tay đặt ở hai bên bụng; một tay vỗ nhẹ, tay kia có thể cảm nhận sóng dịch truyền tới. Bụng có cảm giác như túi chứa nước, thành bụng có thể lõm khi ấn.
Khí cổ 气臌 được mô tả là gõ vang như trống, không có cảm giác sóng dịch và không để lại lõm khi ấn.
Người béo nhiều cũng có thể bụng lớn như cổ trướng, nhưng khi sờ thấy mềm, không có rốn lồi và không có những biểu hiện bệnh nặng khác. Cần phân biệt hai tình trạng.
Phân biệt bĩ mãn
Bĩ mãn 痞满 là cảm giác bế tắc, khó chịu và đầy ở vùng tâm hạ hoặc vị quản.
Ấn thấy mềm, không đau thì được xếp thiên về hư.
Ấn thấy tương đối cứng, có sức chống lại tay khám và có đau thì được xếp thiên về thực.
Nếu vùng vị quản có cảm giác như có vật hữu hình, trướng đau, khi đẩy nghe tiếng óc ách thì tài liệu cho rằng có thủy ẩm trong vị.
Khảo sát khối bất thường
Khi khám khối trong bụng, cần chú ý kích thước, hình dạng, độ cứng và đau khi ấn.
Tích tụ 积聚 là bệnh cảnh có kết khối trong bụng, có thể kèm trướng hoặc đau. Tuy nhiên, tích và tụ có sự khác biệt.
Tích 积 có vị trí đau cố định, sờ thấy khối hữu hình, không di chuyển; được quy về bệnh ở huyết phận.
Tụ 聚 có vị trí đau không cố định, không thấy khối hữu hình rõ ràng, lúc tụ lúc tan; được quy về bệnh ở khí phận.
Đau vùng bụng dưới bên trái, sờ thấy những khối cứng nối tiếp nhau được tài liệu liên hệ với phân lưu tích trong ruột.
Đau vùng bụng dưới bên phải, đau khi ấn và sờ thấy khối được tài liệu liên hệ với trường ung 肠痈.
Những đặc điểm được mô tả về khối do giun
Tài liệu nêu ba đặc điểm khi sờ nắn khối trong bụng được cho là do giun.
Khối có hình như gân thắt lại, ấn lâu có thể thay đổi vị trí.
Khi khám kỹ, có cảm giác dưới ngón tay như giun đất đang cử động.
Thành bụng có vẻ lồi lõm không đều; khi ấn, khối lúc nổi lúc chìm, lúc tụ lúc tan, vị trí thay đổi.
KHÁM CÁC DU HUYỆT — 按腧穴
Khám du huyệt là ấn một số huyệt nhất định trên cơ thể, dựa vào những biến đổi và phản ứng tại huyệt để tham khảo tình trạng của nội tạng.
Những biến đổi thường được mô tả gồm nốt nhỏ, dải cứng như dây, đau khi ấn hoặc phản ứng nhạy cảm.
Theo các ghi nhận lâm sàng được bản gốc dẫn lại, một số người mắc bệnh phế có thể sờ thấy nốt ở huyệt Phế du hoặc đau khi ấn huyệt Trung phủ.
Người mắc bệnh can có thể đau khi ấn huyệt Can du hoặc Kỳ môn.
Người mắc bệnh vị có thể đau khi ấn huyệt Vị du và Túc tam lý.
Trong trường ung, huyệt Lan vĩ có thể đau khi ấn.
Tài liệu còn đề cập việc dùng ngón tay ấn huyệt như một biện pháp điều trị thử để hỗ trợ phân biệt bệnh. Chẳng hạn, đau bụng do giun chui đường mật được mô tả là có thể giảm khi ấn hai huyệt Đởm du, trong khi đau do nguyên nhân khác không giảm.
GHI CHÚ VỀ CÁCH SỬ DỤNG BẢN DỊCH
Những liên hệ giữa dấu hiệu sờ nắn và bệnh danh trên đây là nội dung của tài liệu gốc. Các dấu hiệu riêng lẻ, kể cả cảm giác nóng lạnh, khối sờ được, ba động hoặc đau tại huyệt, không đủ để tự xác định bệnh hay tiên lượng.
Trường Xuân biên soạn
CHƯƠNG BA: BÁT CƯƠNG — 八纲
Bát cương gồm âm, dương, biểu, lý, hàn, nhiệt, hư, thực; là một trong những cơ sở lý luận của biện chứng luận trị.
Sau khi thu thập các dữ liệu qua tứ chẩn, thầy thuốc phân tích và tổng hợp dựa trên độ nông sâu của vị trí bệnh, tính chất của tà khí, mức độ mạnh yếu của chính khí cùng những mặt liên quan khác, rồi quy nạp thành tám loại chứng hậu. Phương pháp này gọi là biện chứng bát cương.
VAI TRÒ CỦA BÁT CƯƠNG
Biểu hiện của bệnh tuy rất phức tạp nhưng về cơ bản có thể dùng bát cương để khái quát.
Xét loại hình chung của bệnh, có âm chứng và dương chứng.
Xét vị trí bệnh nông hay sâu, có biểu chứng và lý chứng.
Xét tính chất của bệnh, có hàn chứng và nhiệt chứng.
Xét sự thịnh suy của tà khí và chính khí, có thực chứng và hư chứng.
Như vậy, biện chứng bát cương quy nạp những biểu hiện lâm sàng đan xen, phức tạp thành bốn cặp chứng hậu mang tính cương lĩnh: biểu lý, hàn nhiệt, hư thực, âm dương. Qua đó, có thể tìm ra điểm then chốt, nắm được đặc điểm chủ yếu, xác định loại chứng, dự đoán xu hướng diễn biến và định hướng điều trị.
Trong bát cương, âm dương còn khái quát sáu cương còn lại: biểu, nhiệt, thực thuộc dương; lý, hàn, hư thuộc âm. Vì vậy, âm dương được gọi là tổng cương của bát cương.
BÁT CƯƠNG LÀ NỀN TẢNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG
Bát cương là phương pháp phân tích những đặc điểm chung của bệnh, đồng thời là cương lĩnh chung của các phương pháp biện chứng.
Trong chẩn đoán, bát cương giúp lấy những nguyên tắc giản yếu để xử lý các biểu hiện phức tạp, nắm được đầu mối chính của bệnh.
Phương pháp này được vận dụng trong nhiều chuyên khoa, như nội khoa, ngoại khoa, phụ khoa, nhi khoa, mắt, tai, mũi, họng.
Trên nền tảng bát cương, nếu kết hợp với đặc điểm bệnh biến của tạng phủ thì hình thành biện chứng tạng phủ.
Nếu kết hợp với đặc điểm bệnh biến của khí, huyết, tân dịch thì hình thành biện chứng khí huyết tân dịch.
Nếu kết hợp với đặc điểm diễn biến của ôn bệnh thì hình thành biện chứng vệ, khí, doanh, huyết.
Các phương pháp biện chứng đều có sự vận dụng bát cương. Vì vậy, biện chứng bát cương được xem là nền tảng của các phương pháp biện chứng.
MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC CƯƠNG
Biện chứng bát cương không có nghĩa là chia mọi chứng hậu thành tám phạm vi tách biệt. Các cương liên hệ với nhau, không thể xem xét hoàn toàn riêng rẽ.
Biểu lý liên hệ với hàn nhiệt và hư thực. Hàn nhiệt liên hệ với biểu lý và hư thực. Hư thực cũng liên hệ với biểu lý và hàn nhiệt.
Bệnh thường không biểu hiện đơn thuần ở một mặt. Biểu lý, hàn nhiệt và hư thực có thể đan xen, tạo thành những tình trạng như biểu lý đồng bệnh, hư thực kiêm tạp, hàn nhiệt thác tạp.
SỰ CHUYỂN HÓA CỦA CHỨNG HẬU
Trong những điều kiện nhất định, bệnh có thể chuyển hóa ở các mức độ khác nhau.
Tà ở biểu có thể nhập lý; tà ở lý có thể xuất biểu.
Hàn chứng có thể hóa nhiệt; nhiệt chứng có thể chuyển hàn.
Thực chứng có thể chuyển thành hư; tình trạng hư cũng có thể dẫn đến thực.
Vì vậy, biện chứng phải theo dõi sự thay đổi của bệnh, không cố định nhận định ban đầu khi chứng hậu đã chuyển biến.
CHÂN GIẢ TRONG BÁT CƯƠNG
Khi bệnh phát triển đến một giai đoạn nhất định, có thể xuất hiện những biểu hiện bên ngoài trái với bản chất của bệnh.
Chân hàn giả nhiệt 真寒假热 là bản chất thuộc hàn nhưng bên ngoài có biểu hiện giống nhiệt.
Chân nhiệt giả hàn 真热假寒 là bản chất thuộc nhiệt nhưng bên ngoài có biểu hiện giống hàn.
Chân hư giả thực 真虚假实 là bản chất thuộc hư nhưng có biểu hiện giống thực.
Chân thực giả hư 真实假虚 là bản chất thuộc thực nhưng có biểu hiện giống hư.
Âm chứng và dương chứng cũng có quan hệ tương tự. Trong âm có dương, trong dương có âm. Bệnh có thể từ dương nhập âm, từ âm xuất dương; cũng có thể từ âm chuyển dương hoặc từ dương chuyển âm.
Do đó, muốn vận dụng bát cương chính xác, không chỉ cần nắm vững đặc điểm của từng loại chứng hậu mà còn phải chú ý sự tương kiêm, chuyển hóa, kiêm tạp và chân giả giữa chúng. Có như vậy mới nhận thức và chẩn đoán bệnh một cách đúng đắn, toàn diện.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT MỘT: BIỂU LÝ — 表里
Biểu lý là một cặp cương lĩnh dùng để phân biệt vị trí bệnh ở ngoài hay trong, đồng thời nhận định mức độ nông sâu của bệnh.
KHÁI NIỆM TƯƠNG ĐỐI CỦA BIỂU LÝ
Biểu lý là khái niệm tương đối, tùy theo các bộ phận được đặt trong quan hệ so sánh.
Xét phần hình thể bên ngoài với nội tạng, hình thể bên ngoài là biểu, nội tạng là lý.
Xét tạng với phủ, phủ là biểu, tạng là lý.
Xét kinh lạc với tạng phủ, kinh lạc là biểu, tạng phủ là lý.
Về mức độ nông sâu của ngoại cảm, theo lý luận cổ truyền, tà khí vào trong thêm một tầng thì bệnh sâu thêm một tầng; tà khí ra ngoài thêm một tầng thì bệnh nhẹ thêm một tầng.
Nhận thức tính tương đối này đặc biệt quan trọng trong biện chứng lục kinh và biện chứng vệ, khí, doanh, huyết. Đó là khái niệm biểu lý theo nghĩa rộng.
BIỂU LÝ THEO NGHĨA HẸP
Theo nghĩa hẹp, da lông, cơ biểu và kinh lạc thuộc phần ngoài. Tà khí xâm phạm những vị trí này được quy vào biểu chứng 表证.
Tạng phủ, khí huyết và cốt tủy thuộc phần trong. Bệnh phát sinh ở những vị trí này được quy vào lý chứng 里证.
Ý NGHĨA CỦA BIỆN CHỨNG BIỂU LÝ
Biện chứng biểu lý có ý nghĩa quan trọng trong nhận định bệnh ngoại cảm. Phương pháp này giúp xác định vị trí bệnh nông hay sâu, góp phần đánh giá mức độ nặng nhẹ và dự đoán xu hướng chuyển biến.
Theo cách khái quát của tài liệu, biểu chứng có vị trí bệnh nông, thường nhẹ hơn; lý chứng có vị trí bệnh sâu, thường nặng hơn. Tà từ biểu nhập lý được xem là bệnh tiến; tà từ lý xuất biểu được xem là bệnh lui.
Nắm được sự nặng nhẹ, tiến lui giúp thầy thuốc hiểu diễn biến bệnh và lựa chọn biện pháp điều trị phù hợp. Tuy nhiên, biểu hay lý là cách xác định vị trí bệnh trong biện chứng; mức độ nguy trọng vẫn phải được đánh giá từ toàn bộ bệnh cảnh.
Trường Xuân biên soạn
BIỂU CHỨNG — 表证
Biểu chứng là những chứng hậu xuất hiện khi tà khí lục dâm hoặc dịch lệ xâm nhập cơ thể qua da lông, miệng, mũi. Thường gặp ở giai đoạn đầu của bệnh ngoại cảm, khởi phát tương đối nhanh, thời gian mắc bệnh ngắn.
Biểu chứng có hai đặc điểm nổi bật: do ngoại tà xâm nhập gây bệnh; vị trí bệnh còn ở phần ngoài, chủ yếu tại da lông và cơ biểu, nên theo cách khái quát của tài liệu, bệnh thường còn nhẹ, tương đối dễ điều trị.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Sợ lạnh, phát nhiệt, đau đầu và đau mình, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù.
Có thể kèm nghẹt mũi, chảy nước mũi, ho, hắt hơi, ngứa hoặc đau họng.
PHÂN TÍCH CHỨNG HẬU
Tà khí lục dâm lưu ở cơ biểu, cản trở sự tuyên phát bình thường của vệ khí. Vệ khí bị uất lại nên phát nhiệt.
Vệ khí bị ngăn trở cũng làm giảm khả năng ôn dưỡng cơ biểu. Bề mặt cơ thể không được sưởi ấm bình thường nên xuất hiện sợ lạnh.
Tà khí làm kinh lạc uất trệ, khí huyết vận hành không thông thuận, gây đau đầu và đau mình.
Phế chủ bì mao, khai khiếu ở mũi. Tà khí từ da lông, miệng, mũi xâm nhập, ảnh hưởng đến phế và hệ thống liên quan. Phế khí mất tuyên phát nên xuất hiện nghẹt mũi, chảy nước mũi và ho; hắt hơi, ngứa hoặc đau họng cũng thường đi kèm.
Tà còn ở biểu, chưa ảnh hưởng rõ đến phần lý nên rêu lưỡi có thể chưa thay đổi, thường vẫn trắng mỏng.
Chính khí nổi lên chống tà, mạch khí được thúc đẩy ra ngoài nên mạch phù.
Trường Xuân biên soạn
LÝ CHỨNG — 里证
Lý chứng là nhóm chứng hậu có vị trí bệnh ở sâu bên trong, liên quan đến tạng phủ, khí huyết và cốt tủy. Khái niệm này được đặt trong tương quan với biểu chứng.
Lý chứng thường gặp ở giai đoạn giữa, giai đoạn sau của bệnh ngoại cảm hoặc trong các bệnh nội thương.
NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH
Lý chứng có thể hình thành qua ba tình huống chính.
Tà ở biểu truyền vào lý, xâm phạm tạng phủ và gây bệnh.
Ngoại tà trực tiếp xâm phạm tạng phủ, không nhất thiết trải qua giai đoạn biểu chứng rõ rệt.
Thất tình kích thích, ăn uống không điều độ, lao động hoặc nghỉ ngơi quá mức làm tổn thương tạng phủ, gây rối loạn chức năng và khí huyết nghịch loạn.
Phạm vi lý chứng rất rộng. Theo cách khái quát của tài liệu, ngoài biểu chứng, những bệnh chứng còn lại phần lớn có thể quy vào lý chứng.
Hai đặc điểm chính là vị trí bệnh ở sâu và bệnh tình thường tương đối nặng.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Lý chứng có nguyên nhân phức tạp, liên quan nhiều vị trí và có biểu hiện đa dạng. Chứng hậu có thể thuộc hàn hoặc nhiệt, hư hoặc thực; nội dung cụ thể cần được phân tích trong từng loại biện chứng.
Những biểu hiện thường gặp có thể gồm sốt cao, sợ nóng; hoặc sốt nhẹ, triều nhiệt. Có thể xuất hiện phiền táo, thần chí mê mờ, khát và muốn uống nhiều.
Ở bệnh cảnh thiên về hàn, có thể sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt mỏi, thích nằm hoặc nằm co người, tinh thần uể oải, miệng nhạt và nhiều nước bọt.
Đại tiện có thể táo kết hoặc phân lỏng, tiêu chảy. Tiểu tiện có thể ít, vàng sẫm; hoặc trong, lượng nhiều. Ngoài ra, có thể đau bụng, buồn nôn, nôn, rêu lưỡi dày và mạch trầm.
Những biểu hiện trên thuộc các loại lý chứng khác nhau, không nhất thiết cùng xuất hiện ở một người bệnh.
PHÂN TÍCH CHỨNG HẬU
Biểu hiện hàn nhiệt
Xét những bệnh cảnh điển hình, lý chứng có thể chỉ biểu hiện nhiệt mà không sợ lạnh, hoặc chỉ biểu hiện hàn mà không phát nhiệt.
Nhiệt có thể biểu hiện bằng sốt cao, sợ nóng; hoặc sốt nhẹ, triều nhiệt, tức phát nóng theo thời điểm tương đối nhất định.
Sốt cao, sợ nóng được giải thích là do nhiệt tà vào lý, làm lý nhiệt thịnh.
Sốt nhẹ, triều nhiệt thường gặp trong nội thương âm hư, hư hỏa bốc lên.
Biểu hiện hàn thường là sợ lạnh nhưng giảm khi mặc thêm áo hoặc đắp chăn. Theo lý luận cổ truyền, tình trạng này có thể do dương khí vốn thiếu, hoặc hàn tà xâm nhập làm tổn thương dương khí, khiến cơ thể không được ôn dưỡng đầy đủ.
Biểu hiện của lý nhiệt
Phiền táo, thần chí mê mờ được giải thích là do thực nhiệt nhiễu loạn tâm thần.
Khát, muốn uống nhiều, tiểu tiện ít và vàng sẫm có thể phản ánh thực nhiệt làm hao tổn tân dịch.
Đại tiện táo kết có thể do nhiệt kết ở trường đạo, tân dịch hao kiệt, chức năng truyền tống bị rối loạn.
Biểu hiện của lý hư hàn
Dương khí không đủ thường gây mệt mỏi, tinh thần uể oải, nằm co người.
Hư hàn có thể biểu hiện miệng nhạt, nhiều nước bọt.
Tỳ hư, vận hóa kém có thể gây đại tiện phân lỏng hoặc tiêu chảy.
Dấu hiệu liên quan đến vị trí bệnh
Bụng thuộc âm, là nơi có nhiều tạng phủ. Các biểu hiện như đau bụng, nôn, táo bón, tiêu chảy, tiểu ít vàng sẫm hoặc tiểu trong nhiều thường được dùng để nhận định bệnh ở lý.
Rêu lưỡi dày và mạch trầm cũng là những dấu hiệu gợi bệnh ở bên trong. Cần phối hợp các biểu hiện để xác định lý hàn, lý nhiệt, lý hư hay lý thực.
Trường Xuân biên soạn
PHỤ: CHỨNG BÁN BIỂU BÁN LÝ — 半表半里证
Khi ngoại tà từ biểu truyền vào trong nhưng chưa vào hẳn lý; hoặc tà ở lý hướng ra ngoài nhưng chưa đến hẳn biểu, chính khí và tà khí giao tranh ở khoảng giữa biểu và lý, thì gọi là chứng bán biểu bán lý.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Hàn nhiệt vãng lai, tức lúc lạnh lúc nóng xen kẽ; ngực và vùng hiếp sườn đầy tức, khó chịu; tâm phiền, dễ buồn nôn hoặc nôn; trầm lặng, không muốn ăn uống; miệng đắng, họng khô, hoa mắt, mạch huyền.
Nhận thức về chứng bán biểu bán lý này về cơ bản tương đồng với chứng bệnh thiếu dương 少阳 trong biện chứng lục kinh.
Trường Xuân biên soạn
PHÂN BIỆT BIỂU CHỨNG VÀ LÝ CHỨNG
Phân biệt biểu chứng 表证 và lý chứng 里证 chủ yếu dựa vào biểu hiện hàn nhiệt, sự thay đổi của lưỡi và mạch tượng.
Trong bệnh ngoại cảm, phát nhiệt và sợ lạnh đồng thời xuất hiện thường thuộc biểu chứng. Chỉ phát nhiệt mà không sợ lạnh, hoặc chỉ có biểu hiện hàn mà không phát nhiệt, thường thuộc lý chứng.
Ở biểu chứng, rêu lưỡi thường chưa thay đổi rõ. Ở lý chứng, rêu lưỡi thường có biến đổi.
Mạch phù thường gợi bệnh ở biểu; mạch trầm thường gợi bệnh ở lý.
Đây là những điểm phân biệt khái quát, cần phối hợp với toàn bộ chứng trạng để nhận định.
Trường Xuân biên soạn
QUAN HỆ GIỮA BIỂU CHỨNG VÀ LÝ CHỨNG
Da thịt và tạng phủ liên hệ, thông đạt với nhau qua kinh lạc, tạo nên sự tương thông giữa biểu và lý.
Trong quá trình bệnh phát triển, dưới những điều kiện nhất định, biểu chứng và lý chứng có thể cùng xuất hiện hoặc chuyển hóa lẫn nhau, như biểu lý đồng bệnh, biểu tà nhập lý, lý tà xuất biểu.
BIỂU LÝ ĐỒNG BỆNH — 表里同病
Biểu chứng và lý chứng xuất hiện trong cùng một thời kỳ được gọi là biểu lý đồng bệnh.
Có trường hợp ngay khi bệnh mới phát đã đồng thời có cả biểu chứng và lý chứng. Tuy nhiên, tình trạng này thường hình thành do biểu chứng chưa hết mà bệnh đã ảnh hưởng đến lý; hoặc bệnh vốn có chưa khỏi, lại phát sinh thêm bệnh mới.
Chẳng hạn, người vốn mắc bệnh nội thương lại bị ngoại cảm; hoặc người đang mắc ngoại cảm lại bị tổn thương do ăn uống.
Biểu lý đồng bệnh thường đi kèm sự đan xen của hàn nhiệt và hư thực. Những dạng thường gặp gồm biểu hàn lý nhiệt, biểu nhiệt lý hàn, biểu hư lý thực, biểu thực lý hư. Nội dung cụ thể sẽ được trình bày trong phần biện chứng hàn nhiệt và hư thực.
SỰ XUẤT NHẬP GIỮA BIỂU VÀ LÝ
BIỂU TÀ NHẬP LÝ — 表邪入里
Khi mắc biểu chứng, tà ở biểu không được giải mà truyền vào trong, gọi là biểu tà nhập lý.
Tình trạng này có thể liên quan đến khả năng chống tà của cơ thể suy giảm, tà khí quá mạnh, chăm sóc không phù hợp, điều trị sai hoặc không được điều trị thích đáng.
Ví dụ, lúc đầu người bệnh sợ lạnh và phát nhiệt. Sau đó, sợ lạnh hết, chuyển sang sợ nóng, đồng thời khát muốn uống, lưỡi đỏ, rêu vàng, nước tiểu vàng sẫm. Theo biện chứng cổ truyền, đây là những dấu hiệu gợi tà từ biểu truyền vào lý.
LÝ TÀ XUẤT BIỂU — 里邪出表
Trong một số lý chứng, tà khí từ bên trong thấu đạt ra ngoài, gọi là lý tà xuất biểu.
Tài liệu giải thích rằng điều trị và chăm sóc thích hợp, cùng với sức chống đỡ của cơ thể được tăng cường, có thể giúp tà khí có đường thoát ra ngoài.
Ví dụ, người bệnh có nội nhiệt, phiền táo, ho nghịch, ngực tức; sau đó phát nhiệt, ra mồ hôi hoặc ban, chẩn, bạch bồi 白㾦 phát lộ ra da. Trong bệnh cảnh được mô tả, đây được xem là biểu hiện tà từ lý thấu ra biểu. Bạch bồi là những nốt phỏng nhỏ, trong hoặc trắng, nổi trên da.
Ý NGHĨA ĐỐI VỚI DIỄN BIẾN BỆNH
Theo lý luận cổ truyền, biểu tà nhập lý thường biểu thị bệnh tiến triển sâu hơn, nặng hơn. Lý tà xuất biểu được xem là tà có đường thoát, bệnh có chiều hướng giảm nhẹ.
Nắm được sự xuất nhập giữa biểu và lý có ý nghĩa trong nhận định diễn biến và kết cục của bệnh. Tuy nhiên, phải phối hợp toàn bộ bệnh cảnh; không thể chỉ dựa vào ra mồ hôi hoặc phát ban để kết luận bệnh đang lui.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT HAI: HÀN NHIỆT — 寒热
Hàn và nhiệt là hai cương lĩnh dùng để phân biệt tính chất của bệnh.
Hàn chứng và nhiệt chứng phản ánh sự thiên thịnh hoặc thiên suy của âm dương trong cơ thể. Âm thịnh hoặc dương hư biểu hiện thành hàn chứng; dương thịnh hoặc âm hư biểu hiện thành nhiệt chứng.
Biện chứng hàn nhiệt có ý nghĩa quan trọng trong điều trị. 《素问·至真要大论》 Tố Vấn, thiên Chí chân yếu đại luận viết: “寒者热之,热者寒之” — Hàn giả nhiệt chi, nhiệt giả hàn chi; nghĩa là chứng hàn thì dùng phép ôn nhiệt, chứng nhiệt thì dùng phép thanh hàn.
Hai hướng trị pháp trái ngược nhau, vì vậy việc phân biệt hàn nhiệt phải chính xác.
Trường Xuân biên soạn
HÀN CHỨNG — 寒证
Hàn chứng là chứng hậu có bản chất thuộc hàn. Chứng này có thể do cảm thụ hàn tà, hoặc do dương khí của cơ thể hư suy, âm hàn thiên thịnh.
Tùy nguyên nhân và vị trí bệnh, hàn chứng được chia thành những thể khác nhau.
Hàn tà xâm phạm cơ biểu gây biểu hàn; hàn tà trực tiếp xâm phạm nội tạng gây lý hàn.
Hàn ở bên trong có thể do hàn tà xâm nhập hoặc do dương khí vốn suy yếu, vì vậy còn phân biệt thực hàn và hư hàn.
Phần dưới đây trình bày những đặc điểm chung của hàn chứng.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Các loại hàn chứng không hoàn toàn giống nhau, nhưng thường gặp sợ lạnh, thích ấm; sắc mặt trắng nhợt; tay chân lạnh, nằm co người; miệng nhạt, không khát.
Đàm, nước bọt và nước mũi thường trong, loãng. Tiểu tiện trong, lượng nhiều; đại tiện phân lỏng.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, ẩm trơn; mạch trì hoặc khẩn.
PHÂN TÍCH CHỨNG HẬU
Dương khí không đủ hoặc bị ngoại hàn làm tổn thương, không phát huy được tác dụng ôn dưỡng hình thể, nên người bệnh cảm thấy lạnh, tay chân lạnh, nằm co người và sắc mặt trắng nhợt.
Âm hàn thịnh bên trong, tân dịch chưa bị hao tổn nên miệng nhạt, không khát.
Dương hư không đủ sức ôn hóa thủy dịch, khiến đàm, nước bọt, nước mũi và nước tiểu thường trong, loãng.
Hàn tà làm tổn thương tỳ, hoặc tỳ dương hư lâu ngày, khiến chức năng vận hóa suy giảm, gây đại tiện phân lỏng.
Dương hư không vận hóa được thủy dịch, hàn thấp sinh ở bên trong nên lưỡi nhạt, rêu trắng và ẩm trơn.
Dương khí suy yếu, sức thúc đẩy huyết mạch không đủ nên mạch trì.
Hàn có tính co rút. Khi bị hàn tà tác động, đường mạch co lại, căng gấp nên có thể xuất hiện mạch khẩn.
Trường Xuân biên soạn
NHIỆT CHỨNG — 热证
Nhiệt chứng là chứng hậu có bản chất thuộc nhiệt. Chứng này có thể do cảm thụ nhiệt tà, hoặc do âm hư, dương kháng trong cơ thể.
Tùy nguyên nhân và vị trí bệnh, nhiệt chứng được chia thành những thể khác nhau.
Ngoại cảm nhiệt tà gây bệnh ở biểu, hoặc nhiệt tà truyền vào lý, tạo nên sự phân biệt giữa biểu nhiệt và lý nhiệt.
Trong lý nhiệt, tà nhiệt thực thịnh có thể gây thực nhiệt; âm dịch của cơ thể hư hao có thể gây hư nhiệt.
Phần dưới đây trình bày những đặc điểm chung của nhiệt chứng.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Các loại nhiệt chứng không hoàn toàn giống nhau, nhưng thường gặp sợ nóng, thích mát; khát, thích uống lạnh; mặt đỏ, mắt đỏ; phiền táo, bứt rứt không yên.
Đàm và nước mũi có thể vàng, đặc. Có thể xuất hiện nôn ra máu, chảy máu mũi; tiểu tiện ít, vàng sẫm; đại tiện khô kết.
Lưỡi đỏ, rêu vàng và khô; mạch sác.
PHÂN TÍCH CHỨNG HẬU
Dương nhiệt thiên thịnh khiến người bệnh sợ nóng, thích mát.
Hỏa nhiệt làm tổn thương âm, hao tân dịch nên tiểu tiện ít, vàng sẫm. Tân dịch bị hao tổn khiến người bệnh khát, muốn uống nước và thường thích uống lạnh.
Hỏa có tính bốc lên nên có thể xuất hiện mặt đỏ, mắt đỏ.
Nhiệt nhiễu loạn tâm thần gây phiền táo, bứt rứt không yên.
Tân dịch bị dương nhiệt nung đốt khiến các chất tiết như đàm và nước mũi trở nên vàng, đặc.
Theo lý luận cổ truyền, hỏa nhiệt làm tổn thương huyết lạc, bức huyết vọng hành, tức đẩy huyết đi sai đường, nên có thể gây nôn ra máu hoặc chảy máu mũi.
Nhiệt ở ruột làm hao tân dịch, chức năng truyền tống bị rối loạn, dẫn đến đại tiện táo kết.
Lưỡi đỏ, rêu vàng gợi nhiệt chứng; lưỡi khô, ít tân dịch gợi tổn thương âm.
Dương nhiệt quá thịnh làm huyết vận hành nhanh nên xuất hiện mạch sác.
Trường Xuân biên soạn
PHÂN BIỆT HÀN CHỨNG VÀ NHIỆT CHỨNG
Phân biệt hàn chứng 寒证 và nhiệt chứng 热证 không thể chỉ dựa riêng vào một triệu chứng. Cần quan sát, phân tích và tổng hợp toàn bộ biểu hiện của bệnh.
Đặc biệt, phải xem xét kỹ người bệnh sợ lạnh hay sợ nóng, thích ấm hay thích mát; khát hay không khát; sắc mặt đỏ hay trắng; tay chân lạnh hay ấm.
Đồng thời, cần khảo sát tình trạng đại tiện, tiểu tiện, lưỡi và mạch, rồi đối chiếu các dấu hiệu với nhau để nhận định chính xác.
Trường Xuân biên soạn
QUAN HỆ GIỮA HÀN CHỨNG VÀ NHIỆT CHỨNG
Hàn chứng và nhiệt chứng khác nhau về bản chất nhưng có quan hệ với nhau. Hai loại chứng có thể đồng thời xuất hiện ở một người bệnh, tạo thành hàn nhiệt thác tạp; cũng có thể chuyển hóa trong những điều kiện nhất định, khiến hàn chứng hóa nhiệt hoặc nhiệt chứng chuyển hàn.
Trong quá trình bệnh phát triển, đặc biệt ở giai đoạn nguy trọng, đôi khi còn xuất hiện giả hàn hoặc giả nhiệt.
HÀN NHIỆT THÁC TẠP — 寒热错杂
Hàn chứng và nhiệt chứng đồng thời xuất hiện ở cùng một người bệnh, đan xen với nhau, được gọi là hàn nhiệt thác tạp.
Có hai dạng chính: hàn nhiệt thác tạp giữa trên và dưới; hàn nhiệt thác tạp giữa biểu và lý.
HÀN NHIỆT THÁC TẠP GIỮA TRÊN VÀ DƯỚI
Khi phần trên và phần dưới cơ thể có tính chất hàn nhiệt khác nhau, gọi là thượng hạ hàn nhiệt thác tạp. Gồm thượng hàn hạ nhiệt và thượng nhiệt hạ hàn.
Trên và dưới là những khái niệm tương đối. Nếu lấy cơ hoành làm ranh giới thì ngực ở trên, bụng ở dưới. Trong bụng, vùng vị quản thuộc phần trên; vùng bàng quang, đại trường và tiểu trường thuộc phần dưới.
Thượng hàn hạ nhiệt — 上寒下热
Trong cùng một thời điểm, phần trên biểu hiện hàn, phần dưới biểu hiện nhiệt.
Ví dụ, vùng vị quản lạnh đau, nôn ra nước trong, đồng thời tiểu nhiều lần, tiểu đau, nước tiểu ít và vàng sẫm. Theo biện chứng cổ truyền, đây là hàn ở vị và nhiệt ở bàng quang.
Trung tiêu có hàn, hạ tiêu có nhiệt. Vì trung tiêu nằm trên hạ tiêu nên thuộc dạng thượng hàn hạ nhiệt.
Thượng nhiệt hạ hàn — 上热下寒
Trong cùng một thời điểm, phần trên biểu hiện nhiệt, phần dưới biểu hiện hàn.
Ví dụ, ngực phiền nóng, họng đau, miệng khô, đồng thời đau bụng thích ấm, đại tiện phân lỏng. Những biểu hiện nhiệt ở trên và hàn ở dưới cùng xuất hiện, tạo thành thượng nhiệt hạ hàn.
HÀN NHIỆT THÁC TẠP GIỮA BIỂU VÀ LÝ
Khi biểu và lý cùng mắc bệnh nhưng tính chất hàn nhiệt khác nhau, gọi là biểu lý hàn nhiệt thác tạp. Gồm biểu hàn lý nhiệt và biểu nhiệt lý hàn.
Biểu hàn lý nhiệt — 表寒里热
Đây là tình trạng hàn ở biểu, nhiệt ở lý.
Thường gặp ở người vốn có nội nhiệt lại cảm phong hàn; hoặc ngoại tà đã truyền vào lý hóa nhiệt nhưng hàn ở biểu chưa được giải.
Ví dụ, sợ lạnh, phát nhiệt, không có mồ hôi, đau đầu, đau mình, đồng thời thở suyễn, phiền táo, khát, mạch phù khẩn. Theo tài liệu, đây là biểu hiện hàn ở biểu và nhiệt ở lý.
Biểu nhiệt lý hàn — 表热里寒
Đây là tình trạng nhiệt ở biểu, hàn ở lý.
Thường gặp ở người vốn có lý hàn lại cảm phong nhiệt; hoặc biểu nhiệt chưa giải mà dùng nhầm phép hạ, làm tổn thương dương khí của tỳ vị.
Ví dụ, người vốn tỳ vị hư hàn lại cảm phong nhiệt. Trên lâm sàng, vừa có phát nhiệt, đau đầu, ho, họng sưng đau thuộc biểu nhiệt; vừa có đại tiện phân lỏng, tiểu trong nhiều, tay chân không ấm thuộc lý hàn.
Yếu điểm biện chứng
Ngoài xác định vị trí trên dưới, biểu lý, cần phân biệt mức độ chủ yếu của hàn và nhiệt.
Hàn nhiều, nhiệt ít thì lấy trị hàn làm chính, đồng thời chú ý phần nhiệt.
Nhiệt nhiều, hàn ít thì lấy trị nhiệt làm chính, đồng thời chú ý phần hàn.
HÀN NHIỆT CHUYỂN HÓA — 寒热转化
Hàn chứng chuyển thành nhiệt chứng
Người bệnh ban đầu có hàn chứng, sau đó xuất hiện nhiệt chứng. Khi nhiệt chứng hình thành, các biểu hiện hàn dần mất đi. Đó là hàn chứng chuyển thành nhiệt chứng.
Theo lý luận cổ truyền, tình trạng này thường do dương khí của cơ thể tương đối thịnh, hàn tà theo dương hóa nhiệt. Cũng có thể gặp khi điều trị không phù hợp, dùng quá nhiều thuốc ôn táo.
Ví dụ, cảm thụ hàn tà, lúc đầu có biểu hàn với sợ lạnh, phát nhiệt, đau mình, không có mồ hôi, rêu trắng, mạch phù khẩn.
Khi bệnh tiếp tục phát triển, hàn tà vào lý hóa nhiệt, sợ lạnh giảm rồi hết; sốt cao, tâm phiền, khát, rêu vàng, mạch sác lần lượt xuất hiện. Đây là sự chuyển từ biểu hàn sang lý nhiệt.
Nhiệt chứng chuyển thành hàn chứng
Người bệnh ban đầu có nhiệt chứng, sau đó xuất hiện hàn chứng. Khi hàn chứng hình thành, các biểu hiện nhiệt dần mất đi. Đó là nhiệt chứng chuyển thành hàn chứng.
Tình trạng này thường được giải thích do tà thịnh hoặc chính hư, chính khí không thắng được tà, chức năng cơ thể suy giảm. Cũng có thể xảy ra khi điều trị sai hoặc không thích đáng, làm tổn thương dương khí.
Quá trình chuyển hóa có thể chậm hoặc đột ngột.
Ví dụ, nhiệt lỵ kéo dài, dương khí hao tổn từng ngày, dần chuyển thành hư hàn lỵ. Đây là quá trình chuyển hóa chậm.
Nếu người bệnh sốt cao, ra mồ hôi liên tục khiến dương theo mồ hôi mà tiết; hoặc nôn, tiêu chảy quá mức khiến dương theo tân dịch mà thoát, có thể xuất hiện thân nhiệt giảm đột ngột, tứ chi quyết lạnh, mặt trắng bệch, mạch vi gần như mất. Tài liệu xếp bệnh cảnh này vào vong dương 亡阳, thuộc sự chuyển hóa đột ngột.
Ý nghĩa của sự chuyển hóa
Sự chuyển hóa hàn nhiệt phản ánh tình trạng thịnh suy của chính khí và tà khí.
Theo cách khái quát của tài liệu, hàn chuyển nhiệt thường cho thấy chính khí còn tương đối mạnh, hàn tà uất lại hóa nhiệt.
Nhiệt chuyển hàn thường liên quan đến tà thịnh, chính hư, chính khí không thắng được tà.
CHÂN GIẢ CỦA HÀN NHIỆT — 寒热真假
Khi hàn chứng hoặc nhiệt chứng phát triển đến cực điểm, đôi khi xuất hiện những biểu hiện trái với bản chất bệnh, như “寒极似热,热极似寒” — Hàn cực tự nhiệt, nhiệt cực tự hàn; nghĩa là hàn đến cực điểm có thể giống nhiệt, nhiệt đến cực điểm có thể giống hàn.
Đó là chân hàn giả nhiệt và chân nhiệt giả hàn. Theo tài liệu, những tình trạng này thường gặp ở thời điểm bệnh nguy trọng, cần phân biệt cẩn thận.
CHÂN HÀN GIẢ NHIỆT — 真寒假热
Chân hàn giả nhiệt là bên trong có hàn thật nhưng bên ngoài biểu hiện nhiệt giả.
Cơ chế được giải thích là âm hàn quá thịnh ở bên trong, đẩy dương ra ngoài, khiến âm dương cách trở. Vì vậy, còn gọi là âm thịnh cách dương 阴盛格阳.
Âm thịnh bên trong, dương bị đẩy ra ngoài tạo nên hiện tượng hư dương phù việt, âm cực mà biểu hiện giống dương.
Người bệnh có thể thân nóng, mặt ửng đỏ, khát, mạch đại, thoạt nhìn giống nhiệt chứng. Tuy nhiên, thân tuy nóng nhưng vẫn muốn đắp áo chăn; khát nhưng muốn uống ấm, uống không nhiều.
Sắc đỏ ở mặt lúc hiện lúc mất, đỏ nhạt, non như phơn phớt trang điểm, khác với toàn mặt đỏ rõ của thực nhiệt. Mạch tuy lớn nhưng ấn xuống lại vô lực.
Đồng thời có thể thấy tứ chi quyết lạnh, tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, tiểu trong nhiều, lưỡi nhạt, rêu trắng.
Trong bệnh cảnh này, nhiệt là giả tượng; dương hư, hàn thịnh mới là bản chất bệnh.
CHÂN NHIỆT GIẢ HÀN — 真热假寒
Chân nhiệt giả hàn là bên trong có nhiệt thật nhưng bên ngoài biểu hiện hàn giả.
Cơ chế được giải thích là dương nhiệt quá thịnh, dương khí bị bế uất bên trong, không phân bố được đến đầu tay chân; hoặc dương thịnh bên trong, đẩy âm ra ngoài. Vì vậy, còn gọi là dương thịnh cách âm 阳盛格阴.
Do dương nhiệt bế uất gây tay chân quyết lạnh, tình trạng này còn được gọi là dương quyết 阳厥 hoặc nhiệt quyết 热厥.
Theo cách diễn đạt cổ truyền, nội nhiệt càng sâu, quyết lạnh càng nặng: “热深厥亦深” — Nhiệt thâm, quyết diệc thâm.
Người bệnh có thể tay chân lạnh, mạch trầm, thoạt nhìn giống hàn chứng. Tuy nhiên, tứ chi lạnh mà thân nóng; không sợ lạnh, trái lại sợ nóng; mạch trầm sác và có lực.
Có thể kèm phiền táo, khát thích uống lạnh, họng khô, hơi thở hôi, nói sảng, tiểu ít vàng sẫm, đại tiện khô kết; hoặc nhiệt lỵ kèm mót rặn, lưỡi đỏ, rêu vàng khô.
Trong bệnh cảnh này, tay chân quyết lạnh và mạch trầm là những biểu hiện dễ gây nhầm với hàn; nội nhiệt mới là bản chất bệnh.
YẾU ĐIỂM PHÂN BIỆT HÀN NHIỆT CHÂN GIẢ
Ngoài tìm hiểu toàn bộ quá trình bệnh, cần chú ý vị trí và tính chất của các biểu hiện.
Giả tượng thường xuất hiện ở tứ chi, da và sắc mặt. Những biểu hiện bên trong liên quan đến tạng phủ, khí huyết và tân dịch thường phản ánh bản chất bệnh rõ hơn. Vì vậy, cần lấy lý chứng, lưỡi và mạch làm những căn cứ quan trọng để đối chiếu.
Giả tượng cũng có đặc điểm khác với biểu hiện thật.
Mặt đỏ do giả nhiệt thường trên nền sắc mặt trắng nhợt, chỉ hơi đỏ ở gò má và má, lúc hiện lúc mất. Mặt đỏ do chân nhiệt thường đỏ rõ, có thể đỏ toàn mặt.
Giả hàn thường biểu hiện tay chân quyết lạnh nhưng ngực bụng lại nóng rõ, sờ thấy nóng rát; hoặc bề ngoài lạnh nhưng người bệnh không muốn đắp thêm áo chăn.
Chân hàn thường khiến người bệnh nằm co, muốn được giữ ấm và đắp áo chăn.
Trường Xuân biên soạn
QUAN HỆ GIỮA HÀN NHIỆT VÀ BIỂU LÝ
Hàn chứng, nhiệt chứng liên hệ với biểu lý, tạo thành nhiều loại chứng hậu. Ngoài biểu hàn lý nhiệt và biểu nhiệt lý hàn đã trình bày, còn có biểu hàn, biểu nhiệt, lý hàn và lý nhiệt.
BIỂU HÀN CHỨNG — 表寒证
Biểu hàn chứng là chứng hậu do hàn tà xâm phạm cơ biểu.
Biểu hiện lâm sàng
Sợ lạnh nhiều, phát nhiệt nhẹ, đau đầu và đau mình, không có mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng và ẩm, mạch phù khẩn.
Phân tích chứng hậu
Hàn tà xâm phạm biểu, làm tổn thương vệ dương, khiến cơ biểu không được ôn dưỡng đầy đủ nên xuất hiện sợ lạnh.
Chính khí chống tà, dương khí bị ngăn trở nên phát nhiệt. Hàn thuộc âm tà, vì vậy sợ lạnh thường nổi bật hơn phát nhiệt.
Hàn tà làm kinh mạch ngưng trệ, kinh khí vận hành không thuận nên đau đầu và đau mình.
Hàn có tính co rút, làm tấu lý đóng kín nên không có mồ hôi. Mạch phù khẩn biểu thị hàn tà bó buộc ở biểu.
Đặc điểm chính của biểu hàn là sợ lạnh nhiều, phát nhiệt nhẹ, không có mồ hôi, mạch phù khẩn.
BIỂU NHIỆT CHỨNG — 表热证
Biểu nhiệt chứng là chứng hậu do nhiệt tà xâm phạm cơ biểu.
Biểu hiện lâm sàng
Phát nhiệt, hơi sợ gió hoặc sợ lạnh, đau đầu, miệng khô, hơi khát, có thể có mồ hôi; đầu và rìa lưỡi đỏ, mạch phù sác.
Phân tích chứng hậu
Nhiệt tà phạm biểu, vệ khí bị uất nên phát nhiệt và sợ lạnh.
Nhiệt thuộc dương tà, vì vậy phát nhiệt thường nổi bật hơn sợ lạnh, đồng thời có thể kèm miệng khô, hơi khát.
Nhiệt có tính thăng tán, làm tấu lý giãn mở nên có thể ra mồ hôi. Nhiệt tà quấy nhiễu phía trên gây đau đầu.
Đầu và rìa lưỡi đỏ, mạch phù sác là những dấu hiệu gợi ôn nhiệt ở biểu.
Đặc điểm chính của biểu nhiệt là phát nhiệt nhiều, sợ lạnh nhẹ, thường có mồ hôi, mạch phù sác.
LÝ HÀN CHỨNG — 里寒证
Lý hàn chứng là chứng hậu do hàn tà xâm phạm tạng phủ hoặc do dương khí hư suy.
Biểu hiện lâm sàng
Thân lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng nhợt, miệng nhạt, không khát; hoặc có khát nhưng thích uống ấm.
Người bệnh thường yên lặng, ít nói; tiểu tiện trong, lượng nhiều; đại tiện phân lỏng; chất lưỡi nhạt, rêu trắng ẩm, mạch trầm trì.
Phân tích chứng hậu
Hàn tà xâm phạm tạng phủ làm tổn thương dương khí, hoặc chức năng tạng phủ suy giảm khiến dương khí hư suy. Cả hai đều làm giảm khả năng ôn dưỡng hình thể, gây thân lạnh, tay chân lạnh và sắc mặt trắng nhợt.
Âm hàn thịnh bên trong, tân dịch chưa bị hao tổn nên miệng nhạt, không khát; nếu khát thường thích uống ấm.
Hàn thuộc âm, có tính tĩnh nên người bệnh thường yên lặng, ít nói.
Tiểu trong, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, rêu trắng ẩm và mạch trầm trì đều là những dấu hiệu gợi lý hàn.
LÝ NHIỆT CHỨNG — 里热证
Lý nhiệt chứng là chứng hậu do nhiệt tà xâm phạm tạng phủ, hoặc do âm dịch hao tổn làm hư nhiệt sinh bên trong.
Biểu hiện lâm sàng
Mặt đỏ, thân nóng, khát, thích uống nước lạnh, phiền táo, nói nhiều; tiểu tiện ít, vàng sẫm; đại tiện khô kết; chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.
Phân tích chứng hậu
Lý nhiệt thịnh, bốc ra ngoài nên mặt đỏ, thân nóng.
Nhiệt làm hao tổn tân dịch nên khát, thích uống lạnh.
Nhiệt thuộc dương, dương chủ động nên có thể biểu hiện bứt rứt, không yên và nói nhiều.
Tân dịch bị nhiệt làm hao tổn khiến nước tiểu ít, vàng sẫm. Nhiệt ở ruột làm dịch thiếu, chức năng truyền tống rối loạn nên đại tiện khô kết.
Lưỡi đỏ, rêu vàng và mạch sác đều là những dấu hiệu gợi lý nhiệt. Các biểu hiện cụ thể vẫn cần được đối chiếu để phân biệt thực nhiệt và hư nhiệt.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT BA: HƯ THỰC — 虚实
Hư và thực là hai cương lĩnh dùng để phân biệt sự thịnh suy của chính khí và tà khí.
Hư chỉ chính khí không đầy đủ; thực chỉ tà khí thịnh.
Hư chứng phản ánh chính khí của cơ thể suy yếu, trong khi tà khí không quá thịnh.
Thực chứng phản ánh tà khí quá thịnh, nhưng chính khí chưa hư suy, khiến sự giao tranh giữa chính khí và tà khí diễn ra mạnh mẽ.
Biện chứng hư thực giúp nắm được tình trạng thịnh suy của chính khí và tà khí, làm căn cứ lựa chọn trị pháp. Theo nguyên tắc cổ truyền, thực chứng nên dùng phép công để trừ tà; hư chứng nên dùng phép bổ để nâng đỡ chính khí.
Chỉ khi biện chứng chính xác mới có thể vận dụng công bổ thích hợp, tránh sai lầm “虚虚实实” — Hư hư, thực thực; nghĩa là làm chứng hư càng hư do công phạt không đúng, hoặc làm chứng thực càng thực do bổ không đúng.
Trường Xuân biên soạn
HƯ CHỨNG — 虚证
Hư chứng là sự khái quát về mặt bệnh lý của những biểu hiện lâm sàng do chính khí của cơ thể suy yếu.
Hư chứng có thể hình thành do tiên thiên bất túc, hậu thiên thiếu nuôi dưỡng hoặc bệnh tật làm hao tổn.
Biểu hiện của hư chứng khá phức tạp. Phần dưới đây chỉ trình bày những đặc điểm chung thường gặp.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Các loại hư chứng có biểu hiện khác nhau, khó khái quát đầy đủ trong một nhóm triệu chứng.
Có thể gặp sắc mặt trắng nhợt hoặc vàng úa, tinh thần uể oải, cơ thể mệt mỏi, thiếu sức, hồi hộp, hụt hơi, thân lạnh, tay chân lạnh, tự ra mồ hôi, đại tiện không tự chủ, tiểu tiện không tự chủ; lưỡi nhạt, bệu, mềm non; mạch hư, trầm, trì.
Ở bệnh cảnh khác, có thể gặp ngũ tâm phiền nhiệt, tức nóng khó chịu ở hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân và vùng ngực; cơ thể gầy, gò má đỏ, miệng họng khô, ra mồ hôi khi ngủ, triều nhiệt; lưỡi đỏ, ít rêu; mạch nhỏ, nhanh và yếu.
Những biểu hiện này thuộc các dạng hư chứng khác nhau, không nhất thiết cùng xuất hiện.
PHÂN TÍCH CHỨNG HẬU
Tài liệu phân tích bệnh cơ của hư chứng chủ yếu theo hai phương diện: tổn thương dương và tổn thương âm.
Tổn thương dương
Khi dương bị tổn thương, biểu hiện chủ yếu là dương khí hư.
Dương khí không đủ sức ôn dưỡng, thúc đẩy hoạt động và cố nhiếp nên xuất hiện sắc mặt trắng nhợt, thân lạnh, tay chân lạnh, tinh thần mệt mỏi, thiếu sức, hồi hộp và hụt hơi.
Khả năng cố nhiếp suy giảm có thể gây tự ra mồ hôi, đại tiện hoặc tiểu tiện không tự chủ.
Dương hư khiến âm hàn tương đối thịnh nên lưỡi thường nhạt, bệu, mềm non; mạch hư, trầm, trì.
Tổn thương âm
Khi âm bị tổn thương, biểu hiện chủ yếu là âm tinh hao hụt.
Âm không đủ sức chế ước dương, đồng thời giảm khả năng nuôi dưỡng và làm nhuận cơ thể, nên có thể xuất hiện nóng lòng bàn tay, lòng bàn chân, tâm phiền, hồi hộp, cơ thể gầy, miệng họng khô, gò má đỏ, triều nhiệt và ra mồ hôi khi ngủ. Tài liệu còn nêu sắc mặt vàng úa trong nhóm biểu hiện này.
Âm hư khiến dương tương đối thiên kháng nên lưỡi đỏ, khô, ít rêu; mạch tế sác.
Trường Xuân biên soạn
THỰC CHỨNG — 实证
Thực chứng là sự khái quát về mặt bệnh lý của những biểu hiện lâm sàng do ngoại tà xâm nhập hoặc các sản phẩm bệnh lý tích tụ trong cơ thể.
Thực chứng hình thành từ hai phương diện chính: ngoại tà xâm nhập cơ thể; hoặc chức năng tạng phủ rối loạn, khiến đàm ẩm, thủy thấp, huyết ứ và những sản phẩm bệnh lý khác đình tích bên trong.
Tính chất ngoại tà và loại sản phẩm bệnh lý khác nhau sẽ tạo nên những chứng hậu khác nhau. Vì biểu hiện của thực chứng rất đa dạng, phần dưới đây chỉ trình bày những đặc điểm chung thường gặp.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Có thể gặp phát nhiệt, bụng trướng đau và không chịu cho ấn, ngực tức, phiền táo; nặng hơn có thể thần chí mê mờ, nói sảng.
Hơi thở mạnh, thô; đàm dãi nhiều, ứ đọng; đại tiện táo kết hoặc đi lỵ, mót rặn, cảm giác đi chưa hết.
Tiểu tiện khó, không thông thuận; hoặc tiểu nhỏ giọt, rát đau.
Mạch thực, có lực; chất lưỡi có vẻ chắc, thô, kém mềm nhuận, gọi là thương lão 苍老; rêu lưỡi dày, nhớt.
Những biểu hiện này thuộc các dạng thực chứng khác nhau, không nhất thiết cùng xuất hiện.
PHÂN TÍCH CHỨNG HẬU
Tà khí quá thịnh, chính khí chống tà, dương nhiệt tăng mạnh nên có thể phát nhiệt.
Thực tà nhiễu loạn hoặc che lấp tâm thần gây phiền táo; nặng hơn có thể thần chí mê mờ, nói sảng.
Tà cản trở phế làm chức năng tuyên phát và túc giáng thất thường, gây ngực tức, thở suyễn, hơi thở thô mạnh. Nếu đàm thịnh, còn có thể nghe tiếng đàm khò khè, óc ách.
Thực tà tích ở trường vị khiến phủ khí không thông, gây đại tiện táo kết, bụng trướng đầy, đau và không chịu cho ấn.
Thấp nhiệt tác động xuống dưới có thể gây đi lỵ, mót rặn, cảm giác đi chưa hết.
Thủy thấp đình lưu bên trong, khí hóa không thuận nên tiểu tiện khó, không thông.
Thấp nhiệt dồn xuống bàng quang có thể gây tiểu nhỏ giọt, rát đau.
Chính khí và tà khí giao tranh, tác động đến huyết mạch nên mạch mạnh, có lực.
Thấp nhiệt bốc lên khiến rêu lưỡi thường dày, nhớt.
Trường Xuân biên soạn
PHÂN BIỆT HƯ CHỨNG VÀ THỰC CHỨNG
Biểu hiện của hư chứng 虚证 và thực chứng 实证 đã được trình bày ở trên. Tuy nhiên, trên lâm sàng, một số triệu chứng có thể xuất hiện trong cả hai loại chứng. Chẳng hạn, đau bụng có thể do hư hoặc do thực.
Vì vậy, muốn phân biệt hư thực phải tứ chẩn hợp tham: quan sát hình thể và lưỡi; nghe tiếng nói, hơi thở; hỏi cách khởi phát và diễn biến bệnh; sờ nắn ngực bụng, khảo sát mạch rồi tổng hợp các dấu hiệu.
Nhìn chung, hư chứng thường gặp ở người có biểu hiện suy yếu; thực chứng thường gặp ở người có thể trạng tương đối khỏe.
Ở hư chứng, tiếng nói nhỏ yếu, hơi thở yếu. Ở thực chứng, tiếng nói thường lớn, hơi thở thô mạnh.
Bệnh lâu ngày thường thiên về hư; bệnh phát đột ngột thường thiên về thực.
Chất lưỡi nhạt, mềm non, mạch vô lực thường gợi hư. Chất lưỡi chắc, thô, kém mềm nhuận, mạch có lực thường gợi thực.
Đây là những đặc điểm khái quát, cần đối chiếu với toàn bộ bệnh cảnh, không dùng riêng một dấu hiệu để kết luận hư hay thực.
Trường Xuân biên soạn
QUAN HỆ GIỮA HƯ CHỨNG VÀ THỰC CHỨNG
Bệnh là một quá trình diễn biến phức tạp. Dưới ảnh hưởng của thể chất, điều trị, chăm sóc và những yếu tố khác, hư chứng và thực chứng có thể đan xen, chuyển hóa hoặc xuất hiện những biểu hiện chân giả dễ nhầm lẫn. Nếu không khảo sát cẩn thận, có thể dẫn đến nhận định sai.
HƯ THỰC THÁC TẠP — 虚实错杂
Hư chứng có xen thực chứng, thực chứng có xen hư chứng, hoặc hư và thực cùng biểu hiện rõ đều thuộc hư thực thác tạp.
Những dạng thường gặp gồm biểu hư lý thực, biểu thực lý hư, thượng hư hạ thực, thượng thực hạ hư.
Vì chính hư và tà thực cùng tồn tại, trị pháp có thể phối hợp công và bổ. Tuy nhiên, cần xác định hư hay thực chiếm ưu thế để phân rõ phần chính, phần phụ và mức độ sử dụng từng phép.
Theo tương quan giữa hư và thực, có ba tình trạng: thực chứng kiêm hư, hư chứng kiêm thực và hư thực đều nặng.
THỰC CHỨNG KIÊM HƯ
Tình trạng này thường xuất hiện khi thực chứng làm tổn thương chính khí; cũng có thể gặp ở người vốn thể hư, sau đó mới cảm ngoại tà.
Đặc điểm là tà thực chiếm phần chính, chính hư chiếm phần phụ.
Ví dụ, chứng Bạch hổ gia nhân sâm thang trong 《伤寒论》 Thương hàn luận vốn có nhiệt thịnh ở kinh dương minh, biểu hiện sốt cao, khát, ra mồ hôi, mạch hồng đại.
Nhiệt mạnh làm tổn thương khí và âm, xuất hiện thêm miệng khô khát, tâm phiền, lưng hơi sợ lạnh. Đây là tà thực kiêm hư.
Theo cách giải thích của tài liệu, dùng Bạch hổ thang thanh nhiệt làm chính, thêm Nhân sâm để đồng thời nâng đỡ chính khí.
HƯ CHỨNG KIÊM THỰC
Tình trạng này thường gặp khi thực chứng nặng kéo dài, chính khí bị tổn thương nhiều nhưng tà chưa hết. Cũng có thể gặp ở người vốn hư yếu rõ, lại cảm tà khí.
Đặc điểm là chính hư chiếm phần chính, tà thực chiếm phần phụ.
Ví dụ, chứng thận âm hao tổn ở giai đoạn cuối của xuân ôn. Tà nhiệt làm hao tổn âm của can thận, tạo nên tình trạng tà ít, hư nhiều.
Người bệnh có thể sốt nhẹ kéo dài, miệng khô, chất lưỡi đỏ sẫm và khô. Trị pháp lấy tư âm, dưỡng dịch, phù chính làm chính, đồng thời thanh phần nhiệt còn lưu lại.
HƯ THỰC ĐỀU NẶNG
Tình trạng này có thể hình thành khi thực chứng vốn nghiêm trọng, kéo dài làm chính khí tổn thương nhiều nhưng tà thực chưa giảm; hoặc người vốn chính khí rất yếu lại cảm tà khí tương đối mạnh.
Đặc điểm là chính hư và tà thực đều rõ, bệnh tình tương đối nặng.
Ví dụ, trẻ mắc cam tích 疳积 có thể đại tiện lỏng, ăn nhiều vẫn muốn ăn, rêu lưỡi dày đục, mạch tế hơi huyền.
Bệnh bắt đầu từ ăn uống tích trệ, làm tổn thương tỳ vị, khiến hư thực cùng tồn tại. Theo tài liệu, cần phối hợp tiêu thực hóa tích với kiện tỳ.
HƯ THỰC CHUYỂN HÓA — 虚实转化
Quá trình phát triển của bệnh thường phản ánh sự đấu tranh giữa chính khí và tà khí. Sự thay đổi của tương quan này biểu hiện rõ qua hư và thực.
Có bệnh ban đầu thuộc thực, nhưng tà lưu lại lâu ngày, làm tổn thương chính khí rồi chuyển thành hư.
Cũng có trường hợp chính khí hư làm chức năng tạng phủ rối loạn, khiến đàm, thức ăn, huyết hoặc thủy dịch ngưng kết, đình trệ, tạo thành thực do hư.
Từ thực chuyển hư
Ví dụ, thực nhiệt có sốt cao, khát, ra mồ hôi, mạch hồng đại. Nếu điều trị không thích hợp, bệnh kéo dài, khí và tân dịch có thể bị hao tổn.
Sau đó xuất hiện cơ thể gầy sút, sắc mặt trắng nhợt thiếu nhuận, không muốn ăn uống, suy yếu, hơi thở yếu, rêu lưỡi bong tróc, mạch tế vô lực. Khi ấy, chứng hậu đã từ thực chuyển sang hư.
Do hư dẫn đến thực
Ví dụ, bệnh vốn thuộc tâm tỳ khí hư, thường có hồi hộp, hụt hơi. Bệnh kéo dài chưa khỏi, sau đó xuất hiện đau vùng tim dai dẳng.
Theo lý luận cổ truyền, khí hư không đủ sức vận huyết, khiến huyết đình trệ, gây tâm mạch ứ trở. Đây là hư dẫn đến thực, hình thành thêm huyết ứ trên nền khí hư. Tài liệu nêu trị pháp hoạt huyết, khứ ứ, chỉ thống đối với phần ứ trở.
HƯ THỰC CHÂN GIẢ — 虚实真假
Hư chứng và thực chứng có thể xuất hiện những biểu hiện bên ngoài dễ gây nhầm lẫn. Khi biện chứng, cần nhận rõ đâu là bản chất, đâu là giả tượng, tránh sai lầm “虚虚实实” — Hư hư, thực thực; nghĩa là làm hư càng hư hoặc làm thực càng thực.
Hư thực chân giả khác với hư thực thác tạp. Trong thác tạp, cả hư và thực đều thực sự tồn tại; trong chân giả, một số biểu hiện chỉ có vẻ giống hư hoặc thực nhưng không phản ánh đúng bản chất bệnh.
CHÂN THỰC GIẢ HƯ — 真实假虚
Chân thực giả hư là bản chất bệnh thuộc thực nhưng xuất hiện một số biểu hiện giống hư.
Ví dụ, nhiệt kết ở trường vị, đàm thực ủng trệ hoặc tích tụ lớn thuộc thực chứng, nhưng người bệnh lại có vẻ trầm lặng, thân lạnh, tay chân lạnh, mạch trầm phục hoặc trì sáp.
Khảo sát kỹ có thể thấy: tuy trầm lặng nhưng khi nói, tiếng vẫn lớn, hơi thở thô mạnh; mạch tuy trầm phục hoặc trì sáp nhưng ấn vẫn có lực; thân và tay chân tuy lạnh nhưng giữ tay khám lâu ở ngực bụng lại thấy nóng rõ.
Những biểu hiện giống hư không phải do cơ thể thực sự suy yếu, mà do thực tà cản trở kinh lạc, khiến khí huyết không phân bố được ra ngoài.
Cổ nhân gọi là “大实有羸状” — Đại thực hữu luy trạng; nghĩa là thực tà rất mạnh nhưng lại có dáng vẻ suy yếu.
Theo tài liệu, trị pháp vẫn lấy công tà làm chính.
CHÂN HƯ GIẢ THỰC — 真虚假实
Chân hư giả thực là bản chất bệnh thuộc hư nhưng xuất hiện một số biểu hiện giống thực.
Ví dụ, người vốn tỳ hư, vận hóa yếu, xuất hiện bụng trướng đầy, đau bụng và mạch huyền.
Khảo sát kỹ có thể thấy: bụng trướng có lúc giảm, khác với thực chứng thường đầy liên tục; tuy đau bụng nhưng thích được ấn; mạch tuy huyền nhưng ấn sâu lại vô lực.
Những biểu hiện giống thực này được giải thích là hậu quả của cơ thể hư yếu, không phải do thực tà chiếm ưu thế.
Cổ nhân gọi là “至虚有盛候” — Chí hư hữu thịnh hậu; nghĩa là hư đến mức nặng có thể xuất hiện biểu hiện giống thịnh thực.
Theo tài liệu, trị pháp cần dùng phép bổ.
YẾU ĐIỂM PHÂN BIỆT HƯ THỰC CHÂN GIẢ
Cần khảo sát mạch có lực hay vô lực, có thần hay không có thần; biểu hiện khi bắt nông và khi ấn sâu có khác nhau hay không.
Quan sát chất lưỡi bệu, mềm non hay chắc, thô, kém mềm nhuận.
Nghe tiếng nói lớn, rõ, mạnh hay nhỏ, yếu, thiếu sức.
Đồng thời tìm hiểu thể chất mạnh yếu, nguyên nhân phát bệnh, bệnh mới hay lâu ngày và toàn bộ quá trình điều trị.
Các mặt này phải được phối hợp để nhận định bản chất hư thực.
Trường Xuân biên soạn
QUAN HỆ GIỮA HƯ THỰC VÀ BIỂU LÝ, HÀN NHIỆT
Hư thực thường biểu hiện thông qua các phương diện biểu lý và hàn nhiệt, tạo thành nhiều loại chứng hậu. Những dạng thường gặp gồm biểu hư, biểu thực, lý hư, lý thực, hư nhiệt, thực nhiệt, hư hàn và thực hàn.
BIỂU HƯ CHỨNG — 表虚证
Biểu hư có hai dạng.
Dạng thứ nhất là biểu chứng do cảm thụ phong tà, đặc trưng bởi sợ gió và tự ra mồ hôi, gọi là ngoại cảm biểu hư.
Dạng thứ hai là phế tỳ khí hư, vệ khí không đủ sức giữ vững cơ biểu, khiến cơ biểu thưa lỏng, thường tự ra mồ hôi và dễ bị ngoại tà xâm nhập, gọi là nội thương biểu hư.
Biểu hiện lâm sàng
Ngoại cảm biểu hư: Đau đầu, gáy cứng, phát nhiệt, ra mồ hôi, sợ gió, mạch phù hoãn.
Nội thương biểu hư: Thường tự ra mồ hôi, dễ mắc ngoại cảm; kèm sắc mặt trắng nhợt, hụt hơi, vận động thì thở suyễn, mệt mỏi, thiếu sức, ăn ít, đại tiện phân lỏng, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược.
Phân tích chứng hậu
Ngoại cảm biểu hư là một loại biểu chứng do phong tà. Phong tà xâm phạm kinh thái dương nên đau đầu, gáy cứng.
Chính khí chống tà ở ngoài, dương khí nổi lên nên phát nhiệt. Cơ biểu thưa lỏng, lỗ chân lông không được giữ kín nên ra mồ hôi và sợ gió. Phong tà ở biểu nên mạch phù hoãn.
Nội thương biểu hư chủ yếu do phế tỳ khí hư. Phế chủ bì mao, tỳ chủ cơ nhục. Khí của phế tỳ hư khiến cơ biểu thưa lỏng, vệ khí không vững nên tự ra mồ hôi.
Khả năng bảo vệ bên ngoài suy giảm nên dễ mắc ngoại cảm. Đồng thời xuất hiện các dấu hiệu khí hư như sắc mặt trắng nhợt, hụt hơi, vận động thì thở suyễn, mệt mỏi, ăn ít, đại tiện phân lỏng, lưỡi nhạt và mạch tế nhược.
BIỂU THỰC CHỨNG — 表实证
Biểu thực chứng là chứng hậu do hàn tà xâm phạm cơ biểu.
Biểu hiện lâm sàng
Phát nhiệt, sợ lạnh, đau đầu và đau mình, không có mồ hôi, mạch phù khẩn.
Phân tích chứng hậu
Khi cảm thụ ngoại tà, dương khí hướng lên trên và ra ngoài để chống tà nên xuất hiện phát nhiệt.
Tà lưu ở cơ biểu, cản trở sự tuyên phát bình thường của vệ khí, khiến cơ biểu không được ôn dưỡng đầy đủ nên sợ lạnh.
Tà cản trở kinh lạc, khí huyết vận hành không thông thuận nên đau đầu và đau mình.
Hàn có tính co rút, khiến doanh khí không thông đạt ra biểu, lỗ chân lông đóng kín nên không có mồ hôi.
Mạch phù khẩn là dấu hiệu hàn tà bó buộc ở biểu.
LÝ HƯ CHỨNG — 里虚证
Phạm vi lý hư khá rộng. Những tình trạng hao tổn âm, dương, khí, huyết liên quan đến tạng phủ và kinh lạc đều thuộc phạm vi này.
Các chứng cụ thể sẽ được trình bày trong những phần biện chứng liên quan.
Nếu phân loại theo hàn nhiệt, lý hư gồm hai dạng chính: hư hàn và hư nhiệt.
LÝ THỰC CHỨNG — 里实证
Phạm vi lý thực cũng rộng, vừa có sự khác biệt về tạng phủ, kinh lạc, vừa có sự khác biệt về loại tà khí gây bệnh.
Các chứng cụ thể sẽ được trình bày trong những phần biện chứng tiếp theo.
Nếu phân loại theo hàn nhiệt, lý thực gồm hai dạng chính: thực hàn và thực nhiệt.
HƯ HÀN CHỨNG — 虚寒证
Hư hàn chứng là chứng hậu do dương khí trong cơ thể hư suy.
Biểu hiện lâm sàng
Tinh thần uể oải, sắc mặt trắng nhợt, sợ lạnh, tay chân lạnh; đau bụng thích ấm và thích được ấn; đại tiện phân lỏng, tiểu tiện trong và nhiều; hơi thở yếu, thiếu sức.
Chất lưỡi nhạt, mềm non; mạch vi hoặc trầm trì, vô lực.
Phân tích chứng hậu
Bệnh cơ chủ yếu là dương khí hư suy.
Khả năng thúc đẩy và khí hóa của dương khí không đủ nên tinh thần uể oải, sắc mặt trắng nhợt, hơi thở yếu, thiếu sức; chất lưỡi nhạt, mềm non; mạch vi hoặc trầm trì, vô lực.
Khả năng ôn dưỡng suy giảm nên sợ lạnh, tay chân lạnh, đau bụng thích ấm, đại tiện phân lỏng và tiểu tiện trong nhiều.
HƯ NHIỆT CHỨNG — 虚热证
Hư nhiệt chứng là chứng hậu do âm dịch trong cơ thể hao hụt.
Biểu hiện lâm sàng
Hai gò má đỏ, cơ thể gầy, triều nhiệt, ra mồ hôi khi ngủ, ngũ tâm phiền nhiệt, họng khô, miệng khô; lưỡi đỏ, ít rêu; mạch tế sác.
Ngũ tâm phiền nhiệt là cảm giác nóng khó chịu ở hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân và vùng ngực.
Phân tích chứng hậu
Âm dịch hao tổn khiến cơ thể dần gầy sút.
Âm hư không đủ sức chế ước dương, hư hỏa quấy nhiễu bên trong nên tâm phiền, nóng lòng bàn tay và lòng bàn chân, triều nhiệt, ra mồ hôi khi ngủ.
Hư hỏa bốc lên gây hai gò má đỏ, họng khô, miệng khô, lưỡi đỏ và ít rêu.
Âm huyết không đủ nên mạch tế; có hư nhiệt bên trong nên mạch tế kiêm sác.
THỰC HÀN CHỨNG — 实寒证
Thực hàn chứng là chứng hậu do hàn tà, thuộc âm tà, xâm phạm cơ thể.
Biểu hiện lâm sàng
Sợ lạnh, thích ấm, sắc mặt trắng bệch, tay chân không ấm; đau bụng không chịu cho ấn, sôi bụng, tiêu chảy; hoặc có tiếng đàm, thở suyễn và ho.
Miệng nhạt, nhiều nước bọt; tiểu tiện trong và nhiều; rêu lưỡi trắng ẩm; mạch trì hoặc khẩn.
Phân tích chứng hậu
Hàn tà lưu trong cơ thể, ngăn trở dương khí nên sợ lạnh, thích ấm, tay chân không ấm.
Âm hàn ngưng tụ, kinh mạch không thông; không thông thì đau, vì vậy xuất hiện đau bụng và không chịu cho ấn.
Dương khí không đưa được sự ôn dưỡng lên mặt nên sắc mặt trắng bệch.
Hàn tà cản trở dương khí ở trung tiêu, làm vận hóa thất thường nên sôi bụng, tiêu chảy.
Nếu hàn tà lưu ở phế, có thể xuất hiện tiếng đàm, thở suyễn và ho.
Miệng nhạt, nhiều nước bọt, tiểu trong nhiều, rêu lưỡi trắng ẩm đều là những dấu hiệu của âm hàn.
Mạch trì hoặc khẩn phản ánh hàn ngưng, làm huyết vận hành chậm và đường mạch co căng.
THỰC NHIỆT CHỨNG — 实热证
Thực nhiệt chứng là chứng hậu thuộc thực và nhiệt, do tà dương nhiệt xâm nhập cơ thể, từ biểu truyền vào lý.
Biểu hiện lâm sàng
Sốt cao, thích mát, khát và thích uống lạnh, mặt đỏ, mắt đỏ, phiền táo; có thể thần chí rối loạn, nói sảng.
Bụng trướng đầy, đau và không chịu cho ấn; đại tiện táo kết, tiểu tiện ít, vàng sẫm; lưỡi đỏ, rêu vàng khô; mạch có thể hồng, hoạt, sác, thực.
Phân tích chứng hậu
Nhiệt tà thịnh bên trong nên sốt cao, thích mát.
Hỏa nhiệt bốc lên gây mặt đỏ, mắt đỏ.
Nhiệt nhiễu loạn tâm thần, nhẹ thì phiền táo, nặng thì thần chí mê mờ, nói sảng.
Nhiệt kết ở trường vị gây bụng trướng đầy, đau không chịu cho ấn và đại tiện táo kết.
Nhiệt làm tổn thương âm dịch nên tiểu ít, vàng sẫm, khát và muốn uống lạnh để bổ sung phần dịch bị hao tổn.
Lưỡi đỏ, rêu vàng là dấu hiệu nhiệt; lưỡi khô cho thấy tân dịch bị tổn thương.
Nhiệt thuộc dương tà, thúc đẩy huyết mạch nên mạch có thể biểu hiện hồng, hoạt, sác và thực.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT BỐN: ÂM DƯƠNG — 阴阳
Âm dương là tổng cương của biện chứng bát cương. Trong chẩn đoán, có thể căn cứ vào tính chất bệnh lý thể hiện qua chứng hậu lâm sàng để quy nạp bệnh về hai phương diện chính là âm và dương.
Âm dương khái quát sáu cương còn lại: biểu, nhiệt, thực thuộc dương; lý, hàn, hư thuộc âm. Vì vậy, có người gọi bát cương là “二纲六要” — Nhị cương lục yếu; nghĩa là hai cương lĩnh tổng quát và sáu phương diện chủ yếu.
Trên lâm sàng, biểu lý, hàn nhiệt và hư thực có thể liên hệ, đan xen, không thể phân chia hoàn toàn tách biệt. Do đó, âm chứng và dương chứng cũng không phải lúc nào có ranh giới rõ ràng. Có thể xuất hiện những chứng hậu phức tạp: trong âm có dương, trong dương có âm.
Các dạng biểu lý đồng bệnh, hàn nhiệt thác tạp và hư thực kiêm tạp đã trình bày ở những tiết trước đều thuộc những tình trạng này.
Ngoài âm chứng và dương chứng, các chứng hậu được gọi tên theo âm dương còn có chân âm bất túc 真阴不足, chân dương bất túc 真阳不足, vong âm 亡阴 và vong dương 亡阳. Những nội dung này sẽ được trình bày lần lượt dưới đây.
Trường Xuân biên soạn
ÂM CHỨNG VÀ DƯƠNG CHỨNG
ÂM CHỨNG — 阴证
Những chứng hậu phù hợp với thuộc tính chung của âm được gọi là âm chứng. Lý chứng, hàn chứng và hư chứng nhìn chung thuộc phạm vi âm chứng.
Biểu hiện lâm sàng
Trong những bệnh khác nhau, biểu hiện thuộc âm không hoàn toàn giống nhau, mỗi bệnh có những đặc điểm nổi bật riêng.
Thường gặp sắc mặt tối, thiếu nhuận; tinh thần uể oải; thân nặng, nằm co người; thân lạnh, tay chân lạnh; mệt mỏi, thiếu sức; tiếng nói nhỏ yếu; ăn kém; miệng nhạt, không khát; đại tiện phân lỏng, tiểu tiện trong và nhiều.
Lưỡi nhạt, bệu, mềm non; mạch trầm trì, hoặc nhược, hoặc tế sáp.
Phân tích chứng hậu
Tinh thần uể oải, thiếu sức, tiếng nói nhỏ là những biểu hiện của hư chứng.
Thân lạnh, tay chân lạnh, miệng nhạt không khát, đại tiện phân lỏng và tiểu tiện trong nhiều là những biểu hiện của lý hàn.
Lưỡi nhạt, bệu, mềm non; mạch trầm trì, nhược hoặc tế sáp được tài liệu quy vào những biểu hiện lưỡi và mạch thiên về hư hàn.
DƯƠNG CHỨNG — 阳证
Những chứng hậu phù hợp với thuộc tính chung của dương được gọi là dương chứng. Biểu chứng, nhiệt chứng và thực chứng nhìn chung thuộc phạm vi dương chứng.
Biểu hiện lâm sàng
Trong những bệnh khác nhau, biểu hiện thuộc dương cũng không hoàn toàn giống nhau.
Thường gặp sắc mặt đỏ; sợ lạnh và phát nhiệt; da nóng rát; tâm thần phiền táo, kích động không yên; tiếng nói thô mạnh hoặc la mắng bất thường.
Hơi thở mạnh, thô; thở gấp, có tiếng đàm; miệng khô, khát muốn uống; đại tiện táo kết, có thể rất hôi; tiểu tiện khó, rát đau, lượng ít và vàng sẫm.
Chất lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm; rêu vàng, có thể đen và nổi gai. Mạch có thể phù sác, hồng đại, hoạt thực.
Phân tích chứng hậu
Dương chứng là sự khái quát các biểu hiện thuộc biểu, nhiệt và thực.
Sợ lạnh và phát nhiệt cùng xuất hiện là đặc điểm của biểu chứng.
Mặt đỏ, tâm thần phiền táo, kích động, da nóng rát, miệng khô và khát muốn uống là những biểu hiện của nhiệt chứng.
Tiếng nói thô mạnh, hơi thở mạnh, thở gấp, có tiếng đàm và đại tiện táo kết là những biểu hiện có thể gặp trong thực chứng.
Lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng hoặc đen nổi gai; mạch hồng đại, sác, hoạt, thực là những dấu hiệu được tài liệu liên hệ với thực nhiệt.
PHÂN BIỆT ÂM CHỨNG VÀ DƯƠNG CHỨNG QUA TỨ CHẨN
VỌNG CHẨN
Âm chứng: Sắc mặt trắng bệch hoặc tối, thiếu nhuận; thân nặng, nằm co; mệt mỏi, thiếu sức; tinh thần uể oải; lưỡi nhạt, bệu, mềm non; rêu ẩm trơn.
Dương chứng: Sắc mặt ửng đỏ hoặc đỏ toàn mặt; thích mát; kích động, không yên; môi khô nứt; lưỡi đỏ sẫm; rêu vàng hoặc vàng đậm, có thể khô nứt, hoặc đen và nổi gai.
VĂN CHẨN
Âm chứng: Tiếng nói nhỏ yếu, yên lặng, ít nói; hơi thở yếu, hụt hơi.
Dương chứng: Tiếng nói lớn, mạnh; phiền táo, nói nhiều; hơi thở thô mạnh, thở gấp, có tiếng đàm; có thể nói năng rối loạn, la hét hoặc chửi mắng.
VẤN CHẨN
Âm chứng: Phân có thể có mùi tanh; ăn uống giảm; miệng nhạt, không thấy vị; không phiền, không khát, hoặc thích uống ấm. Tiểu tiện thường trong; lượng nước tiểu có thể nhiều hoặc ít tùy bệnh cảnh.
Dương chứng: Phân khô cứng, táo kết hoặc rất hôi; không muốn ăn; miệng khô, phiền khát, muốn uống nhiều; tiểu tiện ít, vàng sẫm.
THIẾT CHẨN
Âm chứng: Đau bụng thích được ấn; thân lạnh, chân lạnh; mạch có thể trầm, vi, tế, sáp, nhược, trì và vô lực.
Dương chứng: Đau bụng không chịu cho ấn; thân nóng, chân ấm; mạch có thể phù, hồng, sác, đại, hoạt, thực và có lực.
ÂM DƯƠNG TIÊU TRƯỞNG
Sự tiêu trưởng của âm dương mang tính tương đối. Theo lý luận cổ truyền, dương thịnh có thể làm âm suy; âm thịnh có thể làm dương suy.
Nếu thấy mạch hồng đại, lưỡi đỏ, rêu khô, kèm khát và sốt cao, có thể nhận định dương thịnh, âm bị hao tổn.
Nếu thấy mạch trầm trì, rêu lưỡi trắng ẩm, kèm đau bụng, tiêu chảy, có thể nhận định âm hàn thịnh, dương khí suy giảm hoặc bị cản trở.
Những biến đổi phức tạp của âm dương được biểu hiện cụ thể qua sáu cương biểu, lý, hàn, nhiệt, hư, thực đã trình bày ở các tiết trước, nên không nhắc lại ở đây.
Trường Xuân biên soạn
CHÂN ÂM BẤT TÚC VÀ CHÂN DƯƠNG BẤT TÚC
真阴不足与真阳不足
Chứng âm hư còn được gọi là chứng hư nhiệt; chứng dương hư còn được gọi là chứng hư hàn, đã được trình bày ở phần trước. Theo lý luận Trung y, thận là gốc âm dương của cơ thể. Âm hư hoặc dương hư kéo dài, hay bệnh lâu ngày, có thể làm hao tổn thận âm hoặc thận dương, hình thành chứng chân âm bất túc hoặc chân dương bất túc.
CHÂN ÂM BẤT TÚC
真阴不足
Biểu hiện lâm sàng
Hư hỏa từng lúc bốc lên; sắc mặt trắng nhưng hai gò má đỏ, môi đỏ như thoa son; miệng khô, họng khô, trong lòng bứt rứt; lòng bàn tay và lòng bàn chân nóng. Có thể thấy chóng mặt, hoa mắt, ù tai, lưng và chân ê mỏi, yếu sức; cảm giác nóng âm ỉ từ trong xương, ra mồ hôi khi ngủ, nằm mộng di tinh; đại tiện táo kết, tiểu tiện ít. Mạch tế sác vô lực; lưỡi đỏ, khô, ít rêu.
Phân tích chứng hậu
Bệnh kéo dài làm tổn thương âm tinh, ảnh hưởng đến chân âm. Âm không đủ sức chế ước dương khiến hư hỏa bốc lên, biểu hiện bằng hai gò má đỏ trên nền sắc mặt trắng, môi đỏ, miệng khô, ngũ tâm phiền nhiệt, ra mồ hôi khi ngủ, táo bón, tiểu ít, lưỡi đỏ khô ít rêu và mạch tế sác vô lực.
Ngũ tâm phiền nhiệt là cảm giác nóng ở lòng hai bàn tay, lòng hai bàn chân và vùng ngực, kèm bứt rứt. Cốt chưng là cảm giác nóng âm ỉ như từ trong xương phát ra.
Khi thận âm bị hao tổn, các chức năng của thận theo lý luận Trung y cũng bị ảnh hưởng. Thận sinh tủy, chủ cốt; âm tinh không đủ nuôi dưỡng nên xuất hiện chóng mặt, hoa mắt, lưng và chân ê mỏi, yếu sức. Âm hư sinh nội nhiệt gây cảm giác cốt chưng.
Tai không được thận âm nuôi dưỡng nên có thể ù tai như tiếng ve. Thận chủ sinh sản; hư nhiệt quấy nhiễu tinh thất nên có thể nằm mộng di tinh.
CHÂN DƯƠNG BẤT TÚC — THẬN DƯƠNG BẤT TÚC
真阳不足(肾阳不足)
Biểu hiện lâm sàng
Sắc mặt trắng bệch, sợ lạnh, tay chân lạnh; môi và lưỡi nhạt màu; miệng nhạt, nhiều nước bọt. Có thể ho, thở suyễn, phù người, tự ra mồ hôi, chóng mặt, không muốn ăn; bụng to, cẳng chân phù; đại tiện lỏng hoặc tiêu chảy vào lúc gần sáng. Nam giới có thể liệt dương, xuất tinh sớm, thuộc chứng tinh lạnh không có con; nữ giới có thể thuộc chứng cung hàn không thụ thai. Lưỡi nhạt, bệu, non; rêu trắng trơn ướt; mạch trầm trì vô lực.
Phân tích chứng hậu
Bệnh kéo dài làm tổn thương dương khí, ảnh hưởng đến chân dương. Dương không đủ sức chế ước âm khiến âm hàn thịnh ở bên trong, biểu hiện bằng sắc mặt trắng bệch, sợ lạnh, tay chân lạnh, môi và lưỡi nhạt màu, miệng nhạt nhiều nước bọt, tự ra mồ hôi, không muốn ăn; lưỡi nhạt bệu non, rêu trắng trơn ướt và mạch trầm trì vô lực.
Khi thận dương bị hao tổn, các chức năng của thận theo lý luận Trung y cũng bị ảnh hưởng. Thận chủ nạp khí, chủ thủy; chức năng nạp khí và điều hòa thủy dịch suy giảm có thể biểu hiện bằng ho, thở suyễn, phù người, bụng to và cẳng chân phù.
Thận chủ sinh sản; thận dương không đủ ôn dưỡng có thể biểu hiện bằng liệt dương, xuất tinh sớm, tinh lạnh không có con ở nam giới hoặc cung hàn không thụ thai ở nữ giới. “Tinh lạnh” và “cung hàn” là tên chứng trong Trung y, cần được hiểu trong hệ thống lý luận này.
Thận hư, mệnh môn hỏa suy, chức năng chủ nhị tiện bị ảnh hưởng, có thể xuất hiện tiêu chảy vào lúc gần sáng, còn gọi là ngũ canh tiết tả.
Trường Xuân biên soạn
VONG ÂM VÀ VONG DƯƠNG
亡阴与亡阳
Vong âm và vong dương là những chứng hậu nguy kịch. Biện chứng sai hoặc cứu chữa chậm có thể đe dọa tính mạng. Đây là hai chứng có tính chất khác nhau.
Vong âm chủ yếu do âm dịch bị hao thoát nghiêm trọng, khiến cơ thể mất khả năng nhu dưỡng. Vong dương chủ yếu do dương khí suy kiệt đến mức thoát mất. Theo lý luận Trung y, khí có thể theo tân dịch hoặc huyết mà thoát ra, nên vong dương thường gặp sau khi ra mồ hôi quá nhiều, nôn ói hoặc tiêu chảy dữ dội, hay mất máu nhiều. Vong dương cũng có thể xuất hiện trong giai đoạn nguy kịch của nhiều bệnh.
Âm và dương nương tựa, làm gốc cho nhau, vì vậy vong âm có thể dẫn đến vong dương; vong dương cũng có thể làm âm dịch tiếp tục hao tổn. Trong lâm sàng cần nhận định chứng nào là chủ yếu, chứng nào là thứ yếu để cứu chữa kịp thời.
Các biểu hiện dưới đây được trình bày theo lý luận Trung y. Khi người bệnh vã mồ hôi, tay chân lạnh, lơ mơ, tiểu rất ít hoặc mạch yếu khó bắt, cần được cấp cứu ngay, không chờ phân biệt đầy đủ vong âm hay vong dương.
VONG ÂM
亡阴
Biểu hiện lâm sàng
Người nóng, tay chân còn ấm; bứt rứt, không yên; khát nước, họng khô, môi và lưỡi khô; da nhăn, thiếu căng; tiểu tiện rất ít. Lưỡi đỏ khô, mạch tế sác vô lực.
Thường có mồ hôi ra đầm đìa; theo mô tả của nguyên văn, mồ hôi ấm, vị mặn, loãng, không dính. Tuy nhiên, vong âm do nôn ói hoặc tiêu chảy có thể không kèm ra nhiều mồ hôi. Đặc điểm vị mồ hôi chỉ là mô tả trong tài liệu, không phải cách kiểm tra cần thực hiện.
Phân tích chứng hậu
Âm dịch hao kiệt, mất khả năng nhu dưỡng nên xuất hiện khát nước, họng khô, môi và lưỡi khô, da nhăn và thiếu căng. Nguồn tân dịch cạn kiệt nên tiểu tiện rất ít.
Âm hư sinh nội nhiệt nên người nóng, tay chân còn ấm. Hư nhiệt quấy nhiễu lên trên gây bứt rứt, không yên. Lưỡi đỏ khô và mạch tế sác vô lực biểu thị tân dịch khô kiệt, kèm hư nhiệt.
Mồ hôi ra đầm đìa thường gặp ở người vốn mắc nhiệt bệnh, do nhiệt tà bức tân dịch thoát ra ngoài. Tình trạng này cũng có thể xuất hiện khi điều trị không thích hợp, làm phát hãn quá mức. Khi ấy, ra nhiều mồ hôi vừa là nguyên nhân làm hao thoát âm dịch, vừa là biểu hiện của vong âm.
VONG DƯƠNG
亡阳
Biểu hiện lâm sàng
Mồ hôi ra nhiều, lạnh, theo nguyên văn có vị nhạt và hơi dính; thân mình lạnh, sợ lạnh, tay chân lạnh ngắt; nằm co, tinh thần mệt mỏi, suy yếu. Miệng nhạt, không khát hoặc thích uống nước nóng. Lưỡi nhạt trắng, ướt; mạch vi, yếu đến mức gần như không bắt được.
Phân tích chứng hậu
Vong dương xuất hiện khi dương khí, do nhiều nguyên nhân khác nhau, suy yếu đến mức thoát mất.
Dương khí không còn đủ sức cố nhiếp khiến tấu lý mở, mồ hôi thoát ra nhiều. Mồ hôi lạnh, nhạt và hơi dính được nguyên văn xem là dấu hiệu điển hình của vong dương; tuy nhiên, không nên dùng riêng dấu hiệu này để xác định hoặc loại trừ tình trạng nguy kịch.
Dương hư sinh hàn nên thân mình lạnh, sợ lạnh, tay chân lạnh ngắt. Hoạt động của cơ thể suy giảm nên người bệnh nằm co, tinh thần mệt mỏi. Miệng nhạt, lưỡi nhạt trắng và mạch vi muốn tuyệt đều biểu thị dương khí suy vi, hư hàn nghiêm trọng.
PHÂN BIỆT VONG ÂM VÀ VONG DƯƠNG
Vong âm: Mồ hôi thường ấm hoặc nóng, loãng, không dính; tay chân còn ấm; lưỡi đỏ khô; mạch tế sác vô lực. Thường kèm người nóng, bứt rứt, khát nước, thích uống nước mát.
Vong dương: Mồ hôi thường lạnh, hơi dính; tay chân lạnh ngắt; lưỡi nhạt trắng, ướt; mạch vi tế, yếu đến mức gần như không bắt được. Thường kèm thân mình lạnh, nằm co, tinh thần suy yếu, miệng nhạt, không khát hoặc thích uống nước nóng.
Điểm phân biệt chính là vong âm thiên về âm dịch hao kiệt, khô và nóng; vong dương thiên về dương khí suy thoát, lạnh và suy yếu. Hai chứng có thể chuyển hóa hoặc cùng xuất hiện, vì vậy phải tổng hợp toàn bộ biểu hiện và diễn biến bệnh.
Trường Xuân biên soạn
CHƯƠNG BỐN: BIỆN CHỨNG
辨证
Biện chứng là quá trình phân tích và nhận định chứng hậu của bệnh. Trong Trung y, các khái niệm “triệu chứng” — 症, “chứng” — 证 và “bệnh” — 病 có ý nghĩa khác nhau nhưng liên hệ chặt chẽ với nhau.
TRIỆU CHỨNG, CHỨNG VÀ BỆNH
“Triệu chứng” là từng biểu hiện riêng lẻ của bệnh, bao gồm cả những dấu hiệu thăm khám như hình thái lưỡi và mạch tượng. Chẳng hạn: phát sốt, sợ lạnh, miệng đắng, ngực bức bối, đại tiện lỏng, rêu lưỡi vàng, mạch huyền.
“Chứng” là chứng hậu, tức sự khái quát một nhóm biểu hiện xuất hiện ở một giai đoạn trong quá trình phát triển của bệnh. Chứng không chỉ mô tả các biểu hiện mà còn phản ánh nguyên nhân, vị trí, tính chất bệnh và tương quan giữa tà khí với chính khí ở giai đoạn ấy.
Chẳng hạn, người mắc cảm mạo có thể biểu hiện chứng phong hàn hoặc chứng phong nhiệt. Chứng phong hàn được nhận định từ những biểu hiện như sợ lạnh, phát sốt, không có mồ hôi, đau đầu và đau mình, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch phù khẩn; có thể kèm nghẹt mũi, chảy nước mũi trong và ho.
Theo lý luận Trung y, nhóm biểu hiện này cho thấy nguyên nhân là cảm nhiễm phong hàn, bệnh ở biểu, tính chất thuộc hàn; tà khí đang thịnh nhưng chính khí chưa suy.
Như vậy, triệu chứng là những biểu hiện cụ thể của bệnh; chứng là sự khái quát tình trạng bệnh lý ở một giai đoạn; còn bệnh là sự khái quát các đặc điểm và quy luật của toàn bộ quá trình bệnh.
BIỆN CHỨNG VÀ BIỆN BỆNH
Biện chứng dựa trên những lý luận cơ bản về tạng phủ, kinh lạc, bệnh nhân và bệnh cơ. Từ các biểu hiện thu thập qua vọng, văn, vấn, thiết, người thầy thuốc phân tích tổng hợp để xác định vị trí bệnh biến, tính chất bệnh và mức độ thịnh suy của tà khí, chính khí, từ đó đưa ra chẩn đoán chứng hậu.
Biện bệnh là quá trình căn cứ vào những biểu hiện và đặc điểm chủ yếu để xác định tên bệnh.
Việc xác định bệnh và chứng đều dựa trên các biểu hiện lâm sàng. Một bệnh có thể xuất hiện nhiều chứng khác nhau; một chứng cũng có thể gặp trong nhiều bệnh. Vì vậy, trong lâm sàng cần kết hợp biện bệnh với biện chứng để chẩn đoán được đầy đủ và chính xác hơn.
CÁC PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG
Qua thực hành lâm sàng lâu dài, các thế hệ y gia đã từng bước hình thành nhiều phương pháp: biện chứng bệnh nhân, biện chứng khí huyết tân dịch, biện chứng kinh lạc, biện chứng tạng phủ, biện chứng lục kinh, biện chứng vệ khí dinh huyết và biện chứng tam tiêu.
Mỗi phương pháp có đặc điểm và trọng tâm riêng, nhưng khi vận dụng trong lâm sàng có thể liên hệ và bổ sung cho nhau.
Biện chứng bệnh nhân, tức biện chứng theo nguyên nhân gây bệnh, chú trọng nhận định chứng hậu từ góc độ bệnh nhân; đây là cơ sở quan trọng trong biện chứng bệnh ngoại cảm.
Biện chứng tạng phủ chủ yếu được vận dụng trong tạp bệnh, đồng thời là nền tảng của nhiều phương pháp biện chứng khác.
Biện chứng lục kinh, biện chứng vệ khí dinh huyết và biện chứng tam tiêu chủ yếu được vận dụng trong các bệnh ngoại cảm, đặc biệt là bệnh ngoại cảm có sốt. Mỗi phương pháp có hệ thống nhận định riêng về vị trí, diễn biến và sự truyền biến của bệnh.
Biện chứng kinh lạc và biện chứng khí huyết tân dịch liên hệ mật thiết với biện chứng tạng phủ, giúp bổ sung và làm rõ tình trạng bệnh lý.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT MỘT: BIỆN CHỨNG THEO NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH
病因辨证
Biện chứng theo nguyên nhân gây bệnh là phương pháp dựa trên lý luận bệnh nguyên của Trung y, thông qua phân tích các dữ liệu lâm sàng để nhận định những yếu tố gây nên bệnh.
Nội dung chủ yếu gồm bốn nhóm: lục dâm và dịch lệ; thất tình; ăn uống, lao động và nghỉ ngơi; ngoại thương.
Lục dâm và dịch lệ thuộc nhóm nguyên nhân ngoại cảm. Bệnh phát sinh khi cơ thể cảm nhiễm những yếu tố gây bệnh từ môi trường bên ngoài.
Thất tình thuộc nhóm nguyên nhân nội thương. Những biến động tình chí quá mức thường làm khí cơ mất điều hòa, từ đó gây bệnh.
Ăn uống, lao động và nghỉ ngơi không thích hợp có thể ảnh hưởng đến chức năng tạng phủ, làm phát sinh bệnh.
Ngoại thương là những tổn thương và biến đổi bệnh lý do ngoại lực tác động lên cơ thể.
Trường Xuân biên soạn
CHỨNG HẬU LỤC DÂM VÀ DỊCH LỆ
六淫、疫疠证候
Lục dâm gồm sáu loại tà khí gây bệnh từ bên ngoài: phong, hàn, thử, thấp, táo và hỏa.
Đặc điểm gây bệnh của lục dâm trước hết có liên quan đến mùa và môi trường sinh sống. Chẳng hạn, mùa hè nóng bức thường có nhiều người mắc bệnh do thử tà; sống lâu ở nơi ẩm thấp dễ cảm nhiễm thấp tà.
Lục dâm thuộc ngoại tà, thường xâm nhập cơ thể qua miệng, mũi hoặc da lông, nên giai đoạn đầu thường xuất hiện biểu chứng.
Các tà khí có thể kết hợp gây bệnh; trong quá trình bệnh phát triển, chúng cũng có thể ảnh hưởng hoặc chuyển hóa lẫn nhau.
Dịch lệ là một loại tà khí đặc biệt trong tự nhiên, có đặc điểm lây nhiễm mạnh và có thể nhanh chóng lan rộng thành dịch.
CHỨNG HẬU PHONG TÀ
风淫证候
Chứng phong là nhóm bệnh chứng do cảm nhiễm phong tà. Phong được xem là đứng đầu các ngoại tà gây bệnh, có tính nhẹ bốc, khai tiết, di chuyển và biến đổi nhanh. Vì vậy, bệnh do phong thường khởi phát nhanh, lui nhanh, vị trí biểu hiện có thể thay đổi.
Biểu hiện lâm sàng
Phát sốt, sợ gió, đau đầu, ra mồ hôi, ho, nghẹt mũi, chảy nước mũi; rêu lưỡi mỏng trắng, mạch phù hoãn.
Có thể xuất hiện tê bì, giảm cảm giác ở tay chân hoặc mặt, miệng mắt méo lệch; hoặc cổ gáy cứng, tứ chi co giật; hoặc ngứa da.
Phân tích chứng hậu
Phong tà xâm nhập phần biểu, làm tổn thương vệ khí, khiến sự đóng mở của tấu lý mất điều hòa, nên xuất hiện phát sốt, sợ gió, đau đầu và ra mồ hôi.
Phong tà phạm phế, khiến phế khí mất tuyên phát, nên ho, nghẹt mũi và chảy nước mũi. Mạch phù hoãn, rêu lưỡi mỏng trắng là những biểu hiện của phong tà phạm vệ.
Phong tà xâm nhập kinh lạc, làm kinh khí trở trệ, không thông, có thể gây tê bì, miệng mắt méo lệch, co cứng hoặc co giật. Phong tà tác động ở da có thể gây ngứa.
CHỨNG HẬU HÀN TÀ
寒淫证候
Chứng hàn ở đây là nhóm bệnh chứng do cảm nhiễm hàn tà. Hàn thuộc âm tà, có tính lạnh, ngưng trệ và co rút, dễ làm tổn thương dương khí, cản trở sự vận hành của khí huyết.
Biểu hiện lâm sàng
Sợ lạnh, phát sốt, không có mồ hôi, đau đầu, đau mình, ho suyễn, nghẹt mũi; rêu lưỡi mỏng trắng, mạch phù khẩn.
Có thể thấy tay chân co rút, tứ chi lạnh ngắt, mạch vi muốn tuyệt; hoặc đau bụng, sôi bụng, tiêu chảy, nôn ói.
Phân tích chứng hậu
Hàn tà bó ở biểu, tính lạnh và co rút khiến tấu lý đóng kín, vệ dương bị ngăn trở, không thể tuyên phát, nên phát sốt, sợ lạnh và không có mồ hôi.
Hàn tà uất ở kinh mạch gây đau đầu, đau mình. Phế liên hệ với da lông; tà khí xâm nhập da lông rồi ảnh hưởng đến phế, khiến phế khí mất tuyên phát và túc giáng, nên ho suyễn, nghẹt mũi. Mạch phù khẩn, rêu lưỡi mỏng trắng là dấu hiệu hàn tà xâm nhập phần biểu.
Nếu hàn tà ngưng kết trong kinh mạch, làm tổn thương dương khí và cản trở khí cơ, tay chân có thể co rút. Dương khí không đến được tứ chi khiến tay chân lạnh ngắt. Hàn ngưng, dương khí không đủ ôn dưỡng, mạch có thể trở nên rất yếu, gần như không bắt được.
Nếu hàn tà trực tiếp xâm nhập phần lý, làm tổn thương dương khí của tỳ vị, khiến thăng giáng mất điều hòa và vận hóa bất lợi, có thể xuất hiện đau bụng, sôi bụng, nôn ói và tiêu chảy.
CHỨNG HẬU THỬ TÀ
暑淫证候
Chứng thử là nhóm bệnh chứng do cảm nhiễm thử tà trong mùa hè. Thử có tính nóng, thăng tán, nên thường biểu hiện nhiệt; dễ làm hao khí, tổn thương tân dịch. Thử cũng thường kèm thấp, tạo thành bệnh chứng thử thấp.
Biểu hiện lâm sàng
Thương thử: Sợ nóng, ra mồ hôi, khát nước, mệt mỏi, nước tiểu vàng; lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc vàng, mạch hư sác.
Trúng thử: Phát sốt, đột ngột ngã bất tỉnh, mồ hôi ra không ngừng, khát nước, thở gấp; nặng có thể hôn mê, co giật. Lưỡi đỏ sẫm, khô; mạch nhu sác.
Phân tích chứng hậu
Thương thử là tình trạng cảm nhiễm thử tà, có thể kèm thấp, khiến mồ hôi ra quá nhiều, làm hao tổn khí và tân dịch.
Thử có tính nóng, làm tân dịch bốc thoát, nên sợ nóng, ra nhiều mồ hôi, khát nước và nước tiểu vàng. Mồ hôi ra nhiều, khí theo đó hao tán, nên mệt mỏi, mạch hư sác. Khi thử kèm thấp, thấp tà ảnh hưởng đến thượng tiêu, có thể thấy rêu lưỡi trắng hoặc vàng.
Trúng thử có thể xuất hiện khi lao động quá lâu dưới nắng nóng mùa hè. Theo lý luận Trung y, thử nhiệt bốc mạnh, quấy nhiễu thanh khiếu và thần minh, khiến người bệnh đột ngột ngã bất tỉnh.
Thử nhiệt làm hao khí, tổn thương tân dịch, nên phát sốt, khát nước, ra mồ hôi và thở gấp. Thử nhiệt kèm thấp có thể che lấp thanh khiếu, ảnh hưởng đến tâm thần, gây hôn mê. Thử nhiệt hao khí thương tân, dẫn đến can phong nội động, có thể gây co giật. Thử nhiệt quá thịnh, làm tổn thương dinh âm, nên lưỡi đỏ sẫm, khô; mạch nhu sác.
CHỨNG HẬU THẤP TÀ
湿淫证候
Chứng thấp là nhóm bệnh chứng do cảm nhiễm thấp tà. Thấp có tính nặng, bám giữ và dính trệ, dễ cản trở khí cơ, làm tổn thương dương khí. Vì vậy, bệnh thường kéo dài, dai dẳng, khó lui nhanh.
Biểu hiện lâm sàng
Thương thấp: Đầu căng đau, ngực bức bối, không khát, người nặng và đau, phát sốt, mệt mỏi; tiểu tiện trong, lượng nhiều; rêu lưỡi trắng trơn ướt, mạch nhu hoặc hoãn.
Mạo thấp: Đầu nặng như bị quấn chặt, toàn thân khó chịu, tay chân uể oải, mạch nhu nhược.
Thấp tà làm tổn thương khớp: Khớp ê đau, nặng, co duỗi khó khăn.
Phân tích chứng hậu
Thương thấp là thấp tà phạm biểu, thường gặp trong giai đoạn đầu của bệnh ngoại cảm vào mùa mưa, còn gọi là biểu thấp chứng.
Thấp có tính nặng và dính trệ, cản trở khí cơ, khiến thanh dương không thể tuyên thông, nên đầu căng đau, ngực bức bối, mệt mỏi, người nặng và đau.
Thấp tà giao tranh với vệ khí gây phát sốt; có thể ra mồ hôi nhưng sốt không lui. Thấp thuộc âm tà, trong chứng thấp đơn thuần thường chưa làm hao tân dịch rõ rệt, nên có thể không khát. Tiểu tiện trong và nhiều, rêu lưỡi trắng trơn ướt, mạch nhu hoặc hoãn là những biểu hiện được nguyên văn nêu trong chứng này.
Mạo thấp là tình trạng tiếp xúc với sương móc hoặc cảm nhiễm thấp tà, khiến dương khí bị ngăn trở. Thấp ở đầu làm thanh dương bị khốn, nên đầu nặng như bị quấn chặt.
Thấp tà lan khắp cơ thể, dương khí không thể phân bố, nên toàn thân khó chịu. Tay chân uể oải, mạch nhu nhược cũng biểu thị thấp tà khốn trở dương khí.
Thấp tà xâm nhập khớp, làm khí huyết vận hành không thông, gây ê đau. Do thấp có tính nặng và lưu trệ, người bệnh cảm thấy khớp nặng, đau tương đối cố định; trong lâm sàng gọi là trước tý.
CHỨNG HẬU TÁO TÀ
燥淫证候
Chứng táo là nhóm bệnh chứng do cảm nhiễm táo tà. Táo có tính khô, dễ làm tổn thương tân dịch. Trong lâm sàng phân biệt lương táo và ôn táo.
Biểu hiện lâm sàng
Lương táo: Sợ lạnh nhiều, sốt nhẹ, đau đầu, không có mồ hôi, ho, ngứa họng, nghẹt mũi; rêu lưỡi trắng khô, mạch phù.
Ôn táo: Người nóng, hơi sợ gió lạnh, đau đầu, ít mồ hôi, khát nước, trong lòng bứt rứt; ho khan, ít đờm, có thể có máu trong đờm; da, mũi và họng khô. Lưỡi khô, rêu vàng, mạch phù sác.
Phân tích chứng hậu
Lương táo thường xuất hiện vào cuối thu, khi thời tiết chuyển lạnh, táo tà kết hợp với hàn tà gây bệnh.
Táo hàn xâm nhập phế vệ, nên sợ lạnh nhiều, sốt nhẹ, đau đầu, không có mồ hôi, tương tự biểu chứng phong hàn. Đồng thời có ho, nghẹt mũi, ngứa họng, lưỡi khô và mạch phù, biểu thị táo tà ảnh hưởng đến phế.
Ôn táo thường xuất hiện vào đầu thu, khi khí hậu còn nóng nhưng đã khô. Táo nhiệt ảnh hưởng đến phế, làm tổn thương tân dịch, nên phát sốt, hơi sợ gió lạnh, đau đầu, ít mồ hôi, tương tự biểu chứng phong nhiệt.
Ho khan, đờm ít và dính, da và họng khô, khát nước, bứt rứt là những biểu hiện táo nhiệt thương tân. Lưỡi khô, rêu vàng, mạch phù sác cũng thuộc chứng táo nhiệt.
CHỨNG HẬU HỎA TÀ
火淫证候
Chứng hỏa là nhóm bệnh chứng do tà khí hỏa nhiệt theo nghĩa rộng gây nên. Hỏa nhiệt có tính thiêu đốt, diễn biến mạnh và nhanh; thường gây biểu hiện nóng rõ rệt ở toàn thân hoặc tại một vị trí.
Hỏa nhiệt dễ làm hao tổn âm dịch, khiến cân mạch không được nuôi dưỡng mà sinh động phong; cũng có thể bức huyết đi sai đường, gây xuất huyết.
Biểu hiện lâm sàng
Sốt cao, khát nước, mặt đỏ, mắt đỏ, trong lòng bứt rứt, ra mồ hôi; có thể vật vã, nói sảng, chảy máu mũi, nôn ra máu, xuất hiện ban chẩn; hoặc kích động, cuồng loạn; hoặc có ung nhọt, mủ. Chất lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm, mạch hồng sác hoặc tế sác.
Phân tích chứng hậu
Hỏa nhiệt xâm nhập khí phận gây sốt cao, khát nước, mặt đỏ, mắt đỏ và mạch hồng sác.
Nếu tà khí ở khí phận không được giải, tiếp tục vào dinh huyết, có thể làm hao tổn huyết, bức huyết đi sai đường, gây nôn ra máu, chảy máu mũi, phát ban hoặc phát chẩn.
Hỏa nhiệt quá thịnh, ảnh hưởng đến tâm và can, có thể gây kích động, cuồng loạn.
Hỏa độc uất tụ trong huyết nhục, không được giải tán, có thể làm tổn thương, hư hoại mô, tạo thành ung nhọt có mủ.
Lưỡi đỏ sẫm và mạch sác là những biểu hiện hỏa nhiệt đi sâu vào dinh huyết.
CHỨNG HẬU DỊCH LỆ
疫疠证候
Dịch lệ là nhóm bệnh chứng có tính truyền nhiễm do cảm nhiễm dịch tà. Nguyên văn dùng tên gọi “ôn bệnh” và cách diễn đạt “độc gây ôn dịch” để nói về nhóm bệnh này.
Theo mô tả của tài liệu, dịch lệ có nguồn lây và đường lây nhất định, có thể lây qua không khí hoặc tiếp xúc giữa người với người; đường xâm nhập được đề cập gồm đường hô hấp và đường tiêu hóa. Bệnh có thể lây mạnh, diễn biến nặng.
Biểu hiện lâm sàng
Lúc đầu sợ lạnh và phát sốt đều rõ, sau đó sốt cao; đau đầu, đau mình; mặt đỏ hoặc sắc mặt như phủ lớp cáu bẩn; khát nhiều, muốn uống nước; ra mồ hôi, bứt rứt. Nặng có thể rối loạn ý thức, nói sảng, tứ chi co giật. Lưỡi đỏ sẫm; rêu vàng dày, khô hoặc trắng như phủ lớp bột; mạch sác hữu lực.
Nếu kèm đầu, mặt và cổ sưng đỏ đau, họng đau dữ dội, được gọi là đại đầu ôn.
Nếu kèm phát sốt, họng sưng đỏ, loét đau và ban đỏ tươi lan khắp người, được gọi là lạn hầu sa.
Nếu kèm họng sưng đau, phủ màng trắng, tiếng ho khàn như chó sủa, khó nuốt và khó thở, được gọi là dịch hầu.
Nếu lúc đầu sợ lạnh, phát sốt, sau đó ho co thắt từng cơn không dứt; khi ho dữ dội, mặt tím tái, nước mũi và nước mắt chảy, có thể nôn; cuối cơn có tiếng rít khi hít vào, thường gặp ở trẻ em, được gọi là dịch khái, còn có tên đốn khái, đốn sang hoặc bách nhật khái.
Nếu kèm đau bụng, đi ngoài phân có mủ máu đỏ trắng, mót rặn, liên tục muốn đi ngoài, được gọi là dịch độc lỵ.
Phân tích chứng hậu
Theo lý luận Trung y, dịch tà xâm nhập qua miệng mũi, có thể ẩn ở mạc nguyên rồi truyền ra biểu hoặc vào lý, nên ngay lúc đầu có thể thấy sợ lạnh và phát sốt đều rõ.
Dịch độc nhanh chóng lan khắp tam tiêu gây sốt cao, đau đầu và đau mình. Dịch tà công lên trên gây mặt đỏ, lưỡi đỏ sẫm. Nếu uế trọc dịch tà bốc lên mặt lưỡi, có thể xuất hiện rêu trắng như phủ bột, sắc mặt cáu bẩn.
Nhiệt thịnh bức tân dịch thoát ra ngoài nên ra nhiều mồ hôi. Nhiệt quấy nhiễu thần minh gây bứt rứt; nặng thì rối loạn ý thức, nói sảng. Nhiệt cực sinh phong, làm cân mạch co rút, có thể gây tứ chi co giật.
Trong đại đầu ôn, phong ôn độc tà uất trở ở kinh thiếu dương đởm, khiến khí huyết tại chỗ bị ngăn trở, nên đầu, mặt và cổ sưng đỏ đau, họng đau dữ dội.
Trong lạn hầu sa, dịch độc uất ở phế vị, công lên họng, gây họng sưng đỏ, loét đau, lưỡi đỏ tươi. Độc tà phát ra da gây ban đỏ tươi lan khắp người.
Trong dịch hầu, táo hỏa dịch độc xâm nhập qua miệng mũi, tụ ở họng không tan, gây sưng đau và hình thành màng trắng khó lau sạch. Màng trắng che lấp, cản trở đường thở, có thể gây tiếng ho khàn như chó sủa, khó nuốt và khó thở.
Trong dịch khái, bên trong vốn có đờm ẩn, lại cảm nhiễm dịch tà; dịch độc và đờm kết hợp, lưu sâu ở phế, khiến phế mất thanh túc, phế khí nghịch lên, gây ho co thắt từng cơn không dứt. Ho dữ dội làm khí cơ nghịch loạn, có thể khiến mặt tím tái, nước mũi và nước mắt chảy, kèm nôn ói.
Trong dịch độc lỵ, ăn uống không sạch khiến thấp nhiệt dịch độc xâm nhập vị trường, cản trở khí cơ, làm tổn thương khí huyết, gây đau bụng, liên tục muốn đi ngoài, mót rặn và đi ngoài có mủ máu đỏ trắng.
LƯU Ý KHI ĐỌC NGUYÊN VĂN
Đoạn nguồn có một số lỗi chữ rõ nghĩa; bản dịch đã chỉnh theo ngữ cảnh, chẳng hạn “can khí mất tuyên phát” thành “phế khí mất tuyên phát”. Những mô tả về dịch lệ thuộc hệ thống lý luận và cách gọi bệnh của tài liệu; không nên hiểu rằng mọi dịch lệ đều do vi rút, đều có tỷ lệ tử vong cao, hoặc đồng nghĩa hoàn toàn với ôn bệnh.
Trường Xuân biên soạn
CHỨNG HẬU THẤT TÌNH
七情证候
Thất tình gồm bảy hoạt động tình chí: hỷ, nộ, ưu, tư, bi, khủng và kinh, tức vui mừng, giận dữ, lo buồn, suy nghĩ, đau buồn, sợ hãi và kinh sợ.
Khi kích thích tinh thần vượt quá khả năng tự điều chỉnh của người bệnh, có thể làm phát sinh bệnh. Chứng hậu do thất tình thường gặp trong nội thương tạp bệnh.
ĐẶC ĐIỂM GÂY BỆNH CỦA TÌNH CHÍ
Theo lý luận Trung y, tình chí gây bệnh có ba đặc điểm chủ yếu.
Trước hết, những điều nghe thấy, nhìn thấy có thể trực tiếp ảnh hưởng đến khí cơ tạng phủ, khiến chức năng tạng phủ rối loạn, khí huyết bất hòa, âm dương mất điều hòa. Chẳng hạn: giận làm khí nghịch lên; sợ làm khí hạ xuống; kinh sợ làm khí rối loạn; đau buồn làm khí hao tán; suy nghĩ quá mức làm khí uất kết; vui mừng quá mức làm khí chùng giãn.
Tác động của tình chí còn liên quan đến tính cách và môi trường sống. Người nóng nảy dễ bị giận dữ làm tổn thương; người có tính cách khép kín có thể dễ bị lo buồn, suy nghĩ kéo dài ảnh hưởng.
Các biến động tình chí cũng có mối liên hệ khác nhau với tạng phủ. Theo cách quy nạp của Trung y: vui mừng quá mức có thể thương tâm; giận dữ thương can; suy nghĩ quá mức thương tỳ; đau buồn thương phế; sợ hãi thương thận.
Tuy nhiên, không nên vận dụng những mối liên hệ này một cách máy móc. Tình chí có thể ảnh hưởng đến chức năng tạng phủ, nhưng tạng nào bị tác động và khí cơ biến đổi ra sao phải được nhận định qua việc xem xét kỹ tình trạng cụ thể của người bệnh.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Tổn thương do vui mừng quá mức
Tinh thần hoảng hốt, khó tập trung suy nghĩ; nặng có thể rối loạn ý thức, lời nói thiếu mạch lạc, khóc cười thất thường, hành vi khác thường. Mạch hoãn.
Tổn thương do giận dữ
Chóng mặt hoặc đầu căng đau, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng đắng, ngực bức bối, hay thở dài, nóng nảy, dễ giận; hai bên sườn căng đầy hoặc đau di chuyển. Có thể nấc, nôn ói, bụng trướng, tiêu chảy; nặng có thể nôn ra máu hoặc ngất. Mạch huyền.
Tổn thương do suy nghĩ quá mức
Chóng mặt, hoa mắt, hay quên, hồi hộp, mệt mỏi, mất ngủ, nhiều mộng; ăn ít, gầy sút, bụng trướng, đại tiện lỏng. Lưỡi nhạt, mạch hoãn.
Tổn thương do lo buồn
Tình chí u uất, buồn bực không vui, tinh thần mệt mỏi, yếu sức, ăn uống kém. Mạch sáp.
Tổn thương do đau buồn
Sắc mặt ảm đạm, thường thở dài, khóc thầm hoặc nức nở, tinh thần suy sụp. Mạch nhược.
Tổn thương do sợ hãi
Vùng bụng dưới căng đầy, di tinh, hoạt tinh; có thể không tự chủ đại tiện và tiểu tiện.
Tổn thương do kinh sợ
Tâm trạng bất an, vẻ mặt hoảng sợ, hồi hộp, mất ngủ; nặng có thể rối loạn ý thức, lời nói và hành vi khác thường.
PHÂN TÍCH CHỨNG HẬU
Vui mừng quá mức
Hỷ là tình chí của tâm. Vui mừng quá mức có thể khiến tâm khí tán loạn, thần không được giữ yên, nên tinh thần hoảng hốt, khó tập trung suy nghĩ. Nặng thì thần minh mất sự chủ trì, gây rối loạn ý thức, lời nói thiếu mạch lạc và hành vi khác thường.
Giận dữ
Nộ là tình chí của can. Giận làm khí nghịch lên. Giận dữ quá mức có thể khiến can mất sơ tiết, khí cơ không thông, gây hai bên sườn căng đau, ngực bức bối, hay thở dài, nóng nảy và dễ giận.
Can khí hoành nghịch, phạm tỳ vị, khiến vị mất hòa giáng, gây nấc và nôn ói. Tỳ khí không thăng có thể gây bụng trướng, tiêu chảy.
Can khí nghịch lên, huyết theo khí cùng dồn lên trên, gây chóng mặt, đau đầu, mặt đỏ và mắt đỏ. Nặng có thể che lấp thanh khiếu, gây ngất đột ngột. Huyết theo khí đi sai đường có thể gây nôn ra máu.
Suy nghĩ quá mức
Theo lý luận Trung y, tư phát ở tỳ và thành ở tâm. Suy nghĩ quá mức có thể làm hao tổn tỳ khí, khiến tâm huyết thiếu hụt.
Tỳ khí hư, vận hóa suy giảm nên ăn ít, bụng trướng, đại tiện lỏng. Tâm huyết không đủ nuôi dưỡng tâm thần nên hồi hộp, mất ngủ và nhiều mộng.
Cơ thể không được khí huyết nuôi dưỡng đầy đủ nên gầy sút, mệt mỏi, chóng mặt, hoa mắt và hay quên. Lưỡi nhạt, mạch hoãn cũng thuộc những biểu hiện được nêu trong chứng này.
Lo buồn
Lo buồn kéo dài, không được giải tỏa, có thể làm hao tổn khí của tạng phủ, nên tinh thần mệt mỏi, yếu sức và ăn uống kém.
Đau buồn
Đau buồn quá mức làm khí hao tán, nên sắc mặt ảm đạm, thường thở dài, khóc thầm hoặc nức nở, tinh thần suy sụp.
Sợ hãi
Sợ làm khí hạ xuống. Sợ hãi cực độ có thể khiến tinh khí của thận bị hao thoát xuống dưới, thận khí không còn đủ sức cố nhiếp, gây di tinh, hoạt tinh, đại tiện và tiểu tiện không tự chủ.
Khí cơ ở hạ tiêu không thông có thể gây vùng bụng dưới căng đầy.
Kinh sợ
Kinh sợ làm khí cơ nghịch loạn, tâm thần không được an định, nên tâm trạng bất an, vẻ mặt hoảng sợ, hồi hộp và mất ngủ. Nặng có thể xuất hiện rối loạn ý thức, lời nói và hành vi khác thường.
Trường Xuân biên soạn
CHỨNG HẬU DO ĂN UỐNG, LAO ĐỘNG VÀ NGHỈ NGƠI
饮食、劳逸证候
Ăn uống, lao động và nghỉ ngơi là những nhu cầu thiết yếu của con người. Tuy nhiên, nếu không được điều hòa thích hợp, chúng cũng có thể trở thành yếu tố gây bệnh.
CHỨNG TỔN THƯƠNG DO ĂN UỐNG
饮食所伤证
Chứng tổn thương do ăn uống là nhóm bệnh chứng do ăn uống không điều độ, khiến chức năng của tỳ, vị và đường ruột bị rối loạn.
Biểu hiện lâm sàng
Ăn uống làm tổn thương vị: Đau vùng vị, khó chịu khi ngửi mùi thức ăn, ăn uống kém, vùng ngực và thượng vị bĩ đầy; ợ chua, dịch chua trào lên miệng, ợ hơi có mùi thức ăn ôi chua. Rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt hữu lực.
Ăn uống làm tổn thương đường ruột: Đau bụng, tiêu chảy.
Nếu ăn nhầm thức ăn hoặc chất có độc, có thể buồn nôn, nôn ói; hoặc vừa nôn vừa tiêu chảy, đau bụng quặn dữ dội. Nặng có thể xuất hiện đau đầu, co giật, hôn mê.
Phân tích chứng hậu
Ăn quá nhiều, vượt quá khả năng vận hóa của tỳ vị, khiến thức ăn không được tiêu hóa và chuyển hóa kịp thời. Vị khí không giáng, trọc khí không thể đi xuống, nên khó chịu khi ngửi mùi thức ăn, ăn uống kém, ngực và thượng vị bĩ đầy, ợ chua, trào dịch chua và ợ hơi có mùi ôi chua.
Thức ăn đình trệ ở vị, làm khí trệ không thông, gây đau vùng vị.
Tổn thương ở đường ruột ảnh hưởng đến chức năng tiếp nhận của tiểu trường và truyền tống của đại trường, khiến khí cơ không thuận, gây đau bụng và tiêu chảy.
Ăn nhầm chất có độc có thể đột ngột làm tổn thương vị trường, khiến khí cơ rối loạn, gây nôn và tiêu chảy đồng thời; nặng có thể xuất hiện đau đầu, co giật, hôn mê và những biểu hiện ngộ độc nghiêm trọng.
CHỨNG TỔN THƯƠNG DO LAO ĐỘNG VÀ NGHỈ NGƠI KHÔNG ĐIỀU ĐỘ
劳逸所伤证
Đây là nhóm bệnh chứng do lao động thể lực hoặc trí óc quá mức, hoặc do nhàn rỗi, ít vận động quá mức.
Biểu hiện lâm sàng
Lao lực quá mức: Mệt mỏi, yếu sức, thích nằm, ngại nói, giảm cảm giác thèm ăn.
An nhàn quá mức: Thân thể béo, vận động khó khăn; khi hoạt động thì thở gấp, hồi hộp, hụt hơi; tay chân mềm yếu, không có sức.
Phân tích chứng hậu
Lao lực quá mức làm hao tổn nguyên khí, nên mệt mỏi, yếu sức, thích nằm, ngại nói và ăn uống giảm.
Theo lý luận của đoạn nguồn, an nhàn, ít vận động quá mức khiến khí huyết vận hành không thông, mỡ tích tụ, cơ thể béo lên. Khi kèm đàm thấp trở trệ bên trong, có thể xuất hiện hồi hộp, hụt hơi và thở gấp khi vận động.
CHỨNG TỔN THƯƠNG DO PHÒNG SỰ
房室所伤证
Theo quan niệm của tài liệu, chứng tổn thương do phòng sự là nhóm bệnh chứng liên quan đến sinh hoạt tình dục quá mức, kết hôn và sinh hoạt tình dục quá sớm, hoặc mang thai, sinh đẻ nhiều lần, làm hao tổn thận và biểu hiện thành những rối loạn sinh sản.
Biểu hiện lâm sàng
Chóng mặt, ù tai, lưng gối ê mỏi, yếu sức, cơ thể gầy sút.
Nam giới có thể di tinh, xuất tinh sớm, liệt dương.
Nữ giới có thể nằm mộng thấy giao hợp; biểu hiện chứng cung hàn không thụ thai, kinh ít hoặc bế kinh; khí hư trong loãng, lượng nhiều.
Phân tích chứng hậu
Thận tinh thiếu hụt, không đủ nuôi dưỡng cơ thể, nên gầy sút, lưng gối ê mỏi và yếu sức.
Thận tinh bị tổn thương, không đủ sinh tủy, khiến não tủy không đầy đủ, nguyên thần không được nuôi dưỡng, nên chóng mặt và ù tai.
Thận chủ sinh sản. Thận dương hư, mệnh môn hỏa suy có thể biểu hiện bằng liệt dương, xuất tinh sớm ở nam giới; cung hàn không thụ thai, kinh ít hoặc bế kinh ở nữ giới.
Thận hư khiến đới mạch không đủ sức ước thúc, nên khí hư trong loãng, lượng nhiều.
Âm hư không đủ chế ước dương, hư hỏa sinh bên trong, quấy nhiễu tinh thất, nên nam giới có thể di tinh, nữ giới có thể nằm mộng thấy giao hợp.
Trường Xuân biên soạn
CHỨNG HẬU NGOẠI THƯƠNG
外伤证候
Chứng hậu ngoại thương là những biểu hiện tại chỗ và toàn thân do tổn thương từ bên ngoài, như bị vật sắc gây thương tích, té ngã, va đập, thú cắn hoặc côn trùng có độc đốt, chích.
Ngoại thương chủ yếu làm tổn thương da, thịt, gân và xương, khiến khí huyết ứ trệ. Ngoài ra, có thể kèm nhiễm độc; theo lý luận Trung y, độc tà đi sâu vào tạng phủ, làm thần minh mất sự chủ trì, thậm chí đe dọa tính mạng.
CHỨNG TỔN THƯƠNG DO VẬT SẮC, TÉ NGÃ VÀ VA ĐẬP
金刃、跌仆所伤证
Đây là nhóm bệnh chứng do những tai nạn như bị vật sắc gây thương tích, té ngã hoặc va đập, làm tổn thương da, thịt, gân, xương hoặc nội tạng.
Biểu hiện lâm sàng
Nhẹ thì vùng bị thương bầm tím, sưng, đau, vận động khó khăn; có thể rách da, chảy máu.
Nặng thì tổn thương gân, gãy xương, đau dữ dội. Nếu tổn thương nội tạng, có thể nôn ra máu hoặc đi ngoài ra máu.
Nếu chấn thương đầu gây lún xương sọ, tổn thương não, có thể thấy mắt trợn hoặc nhìn đờ đẫn cố định, ý thức suy giảm, không nói.
Phân tích chứng hậu
Tổn thương tại chỗ làm mạch lạc bị rách, máu thoát ra và đọng trong mô, nên vùng bị thương bầm tím, sưng, đau và vận động khó khăn.
Nếu da thịt bị rách, máu thoát khỏi mạch và chảy ra ngoài. Tổn thương nặng có thể làm đứt, rách gân hoặc gãy xương, gây đau dữ dội.
Nếu nội tạng bị tổn thương, mạch lạc vỡ, máu thoát ra, có thể gây nôn ra máu hoặc đi ngoài ra máu.
Nếu đầu bị thương, xương sọ lún và não bị tổn thương, theo lý luận Trung y là nguyên thần bị tổn hại, nên có thể xuất hiện mắt trợn, nhìn cố định, ý thức suy giảm và không nói.
CHỨNG TỔN THƯƠNG DO CÔN TRÙNG VÀ ĐỘNG VẬT
虫兽所伤证
Đây là nhóm bệnh chứng do côn trùng có độc, rắn độc, chó mắc bệnh dại hoặc những động vật khác gây thương tích.
Biểu hiện lâm sàng
Côn trùng có độc đốt, chích: Nhẹ thì vùng bị thương sưng đỏ, đau, nổi ban; có thể tê và đau tay chân. Nặng có thể đau đầu, hôn mê.
Rắn độc cắn: Vết thương đau, tê hoặc sưng, nổi bóng nước; nặng có thể hoại tử, hình thành vết loét. Nếu nhiễm độc toàn thân, có thể chóng mặt, nhìn mờ, ngực bức bối, tứ chi yếu, hàm cắn chặt, khó thở, đồng tử giãn; mạch trì nhược hoặc có biểu hiện mạch kết, mạch đại.
Chó mắc bệnh dại cắn: Khi bệnh phát, có thể sợ ánh sáng, sợ nước, sợ tiếng động, sợ gió, khó nuốt, khó thở và co giật tứ chi.
Phân tích chứng hậu
Khi bị ong độc, bọ cạp, rết, sâu có lông độc hoặc những loài tương tự gây thương tích, tổn thương tại chỗ biểu hiện bằng sưng đỏ và đau.
Theo lý luận Trung y, độc tà xâm nhập kinh mạch có thể gây tê và đau tay chân. Độc tà lan khắp cơ thể, ảnh hưởng đến thanh khiếu, có thể gây chóng mặt, hôn mê.
Khi rắn độc cắn, độc tụ tại vùng bị thương gây tê, đau, sưng hoặc nổi bóng nước; nặng có thể hoại tử và loét. Nếu độc lan toàn thân, có thể xuất hiện chóng mặt, ngực bức bối, nhìn mờ, hàm cắn chặt, tứ chi yếu, khó thở và đồng tử giãn. Nguyên văn nêu các biểu hiện toàn thân thường xuất hiện trong khoảng một đến sáu giờ sau khi bị cắn; đây là mô tả của tài liệu, không phải khoảng thời gian để chờ theo dõi.
Đối với chó mắc bệnh dại cắn, nguyên văn nêu thời gian ủ bệnh thường từ mười lăm đến sáu mươi ngày, có trường hợp kéo dài hơn một năm. Theo cách giải thích của tài liệu, độc tà dần lan khắp cơ thể, gây tê cơ, liệt cơ và khó nuốt; kích thích từ gió, ánh sáng, nước hoặc tiếng động có thể làm xuất hiện co thắt, co giật.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT HAI: BIỆN CHỨNG KHÍ HUYẾT TÂN DỊCH
气血津液辨证
Biện chứng khí huyết tân dịch là phương pháp vận dụng lý luận về khí, huyết và tân dịch trong học thuyết tạng phủ để phân tích, nhận định những bệnh chứng thuộc các chuyên khoa có biểu hiện rối loạn khí, huyết hoặc tân dịch.
Khí, huyết và tân dịch là cơ sở vật chất cho hoạt động chức năng của tạng phủ. Ngược lại, sự sinh thành và vận hành của chúng cũng dựa vào hoạt động chức năng của tạng phủ.
Vì vậy, về mặt bệnh lý, bệnh biến ở tạng phủ có thể làm thay đổi khí, huyết và tân dịch; những rối loạn của khí, huyết và tân dịch cũng ảnh hưởng đến chức năng tạng phủ.
Bệnh biến khí huyết tân dịch có mối liên hệ mật thiết với tạng phủ. Khi vận dụng trong lâm sàng, cần đối chiếu và kết hợp biện chứng khí huyết tân dịch với biện chứng tạng phủ.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN CHỨNG BỆNH VỀ KHÍ
气病辨证
Bệnh chứng về khí có nhiều loại. Thiên Cử thống luận trong Tố Vấn viết: “百病生于气也” — “Bách bệnh sinh ư khí dã”, nghĩa là trăm bệnh sinh từ khí. Câu này nhấn mạnh phạm vi ảnh hưởng rộng của những rối loạn về khí.
Trong lâm sàng, các chứng hậu thường gặp có thể khái quát thành bốn loại: khí hư, khí hãm, khí trệ và khí nghịch.
CHỨNG KHÍ HƯ
气虚证
Chứng khí hư là chứng hậu biểu hiện sự suy giảm hoạt động chức năng của tạng phủ và các tổ chức trong cơ thể. Thường do bệnh lâu ngày làm cơ thể suy yếu, lao lực quá mức hoặc tuổi cao, thể lực suy giảm.
Biểu hiện lâm sàng
Hơi thở yếu, ngại nói, tinh thần mệt mỏi, không có sức; chóng mặt, hoa mắt, tự ra mồ hôi. Các biểu hiện nặng hơn khi hoạt động. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hư vô lực.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là những biểu hiện suy giảm hoạt động chức năng của toàn thân.
Theo lý luận Trung y, mức độ hoạt động của tạng phủ và các tổ chức liên hệ mật thiết với sự thịnh suy của khí. Khí đầy đủ thì chức năng hoạt động mạnh; khí suy thì chức năng hoạt động giảm.
Nguyên khí thiếu hụt, chức năng tạng phủ suy giảm nên hơi thở yếu, ngại nói, tinh thần mệt mỏi và không có sức.
Khí hư, thanh dương không thăng, không đủ ôn dưỡng đầu mắt, nên chóng mặt, hoa mắt.
Khí hư khiến sự bảo vệ bên ngoài và khả năng cố nhiếp không vững, lỗ chân lông sơ hở, nên tự ra mồ hôi.
Hoạt động làm hao khí, vì vậy các biểu hiện nặng hơn khi vận động.
Khí hư không đủ sức thúc đẩy huyết vận hành, huyết không lên nuôi dưỡng lưỡi đầy đủ, nên lưỡi nhạt; rêu lưỡi trắng. Khí không đủ sức vận huyết nên khi ấn, mạch yếu, không có lực.
CHỨNG KHÍ HÃM
气陷证
Chứng khí hãm là chứng hậu do khí hư, không đủ sức nâng giữ, khiến khí và các tạng khí có xu hướng sa xuống.
Chứng này thường là bước phát triển tiếp theo của khí hư, hoặc xuất hiện sau lao lực, gắng sức quá mức, làm tổn thương chức năng của một tạng phủ.
Biểu hiện lâm sàng
Chóng mặt, hoa mắt, hơi thở yếu, mệt mỏi; lỵ hoặc tiêu chảy kéo dài; bụng có cảm giác trĩu xuống, căng tức; sa trực tràng, sa tử cung hoặc những biểu hiện sa tạng khác. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để nhận định chứng này là biểu hiện sa tạng trên nền khí hư.
Khí hư, chức năng suy giảm nên hơi thở yếu và mệt mỏi. Thanh dương không đủ sức thăng lên nên chóng mặt, hoa mắt.
Tỳ khí suy yếu, thanh dương hạ hãm, có thể gây lỵ hoặc tiêu chảy kéo dài.
Khí hãm xuống dưới, không đủ sức nâng giữ các tạng khí, nên bụng trĩu xuống, căng tức; có thể sa trực tràng, sa tử cung, sa dạ dày hoặc những tạng khác.
Khí hư, huyết không đầy đủ nên lưỡi nhạt, rêu trắng và mạch nhược.
CHỨNG KHÍ TRỆ
气滞证
Chứng khí trệ là chứng hậu do khí cơ ở một tạng phủ hoặc một vùng của cơ thể bị ngăn trở, vận hành không thông.
Nguyên nhân thường là tình chí không thư thái, tà khí trở trệ bên trong, hoặc dương khí suy yếu, không đủ sức ôn vận, khiến khí cơ bị đình trệ.
Biểu hiện lâm sàng
Căng trướng, bức bối và đau. Đau thường xuất hiện từng cơn, có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là căng trướng, bức bối và đau.
Khí cơ cần được vận hành thông thuận. Khi khí uất trệ, nhẹ thì gây căng trướng, bức bối; nặng thì gây đau. Đau thường từng cơn và có tính di chuyển.
Dù khí trệ ở tạng phủ, kinh lạc, cơ hay khớp, đều có thể biểu hiện những đặc điểm này. Tuy nhiên, nguyên nhân khác nhau sẽ khiến vị trí và tính chất căng đau khác nhau.
Chẳng hạn, thực tích trở trệ gây căng trướng, bức bối và đau vùng thượng vị, bụng; can khí uất trệ gây đau di chuyển ở vùng sườn. Khí trệ trong kinh lạc hoặc cơ thì biểu hiện ở vùng kinh lạc hoặc cơ tương ứng.
Vì vậy, nhận định chứng khí trệ cần kết hợp xác định nguyên nhân và vị trí bệnh.
CHỨNG KHÍ NGHỊCH
气逆证
Chứng khí nghịch là chứng hậu do khí cơ thăng giáng mất điều hòa, khí đi ngược lên trên.
Trong lâm sàng, thường gặp phế khí thượng nghịch, vị khí thượng nghịch và can khí thăng phát quá mức.
Biểu hiện lâm sàng
Phế khí thượng nghịch: Ho, thở suyễn.
Vị khí thượng nghịch: Nấc, ợ hơi, buồn nôn, nôn ói.
Can khí thượng nghịch: Đau đầu, chóng mặt, ngất; có thể nôn ra máu.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là những biểu hiện cho thấy khí cơ nghịch lên trên.
Phế khí thượng nghịch thường do cảm nhiễm ngoại tà hoặc đàm trọc uất trở, khiến phế không thể tuyên phát và túc giáng bình thường. Phế khí nghịch lên gây ho, thở suyễn.
Vị khí thượng nghịch có thể do hàn ẩm, đàm trọc hoặc thức ăn tích trệ trong vị, cản trở khí cơ; cũng có thể do ngoại tà phạm vị. Vị mất hòa giáng, khí nghịch lên gây nấc, ợ hơi, buồn nôn và nôn ói.
Can khí thượng nghịch thường do uất giận làm tổn thương can, khiến can khí thăng phát quá mức. Khí và hỏa nghịch lên gây đau đầu, chóng mặt hoặc ngất. Huyết theo khí nghịch, dồn lên trên, có thể gây nôn ra máu.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN CHỨNG BỆNH VỀ HUYẾT
血病辨证
Bệnh chứng về huyết có nhiều biểu hiện. Do nguyên nhân khác nhau, các chứng có thể thuộc hàn, nhiệt, hư hoặc thực. Trong lâm sàng, thường khái quát thành bốn chứng hậu: huyết hư, huyết ứ, huyết nhiệt và huyết hàn.
CHỨNG HUYẾT HƯ
血虚证
Chứng huyết hư là chứng hậu do huyết thiếu hụt, khiến tạng phủ và các mạch không được nuôi dưỡng đầy đủ, biểu hiện bằng tình trạng suy yếu toàn thân.
Nguyên nhân có thể do bẩm sinh bất túc; tỳ vị suy yếu, nguồn sinh hóa huyết không đầy đủ; mất máu cấp tính hoặc kéo dài; bệnh lâu ngày không khỏi; suy nghĩ quá mức làm âm huyết âm thầm hao tổn; huyết ứ trở lạc khiến huyết mới khó sinh; hoặc mắc bệnh ký sinh trùng đường ruột.
Biểu hiện lâm sàng
Sắc mặt trắng, kém tươi nhuận hoặc vàng úa; môi nhạt, móng tay chân trắng nhợt; chóng mặt, hoa mắt, hồi hộp, mất ngủ, tay chân tê.
Ở nữ giới, lượng kinh ít, màu nhạt, kinh đến muộn hoặc bế kinh. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế vô lực.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là sắc mặt, môi và móng mất vẻ hồng nhuận, kèm những biểu hiện suy yếu toàn thân.
Tạng phủ và các tổ chức trong cơ thể đều cần huyết nuôi dưỡng. Huyết đầy đủ thì da thịt hồng nhuận, cơ thể khỏe mạnh. Huyết hư khiến da thịt không được nuôi dưỡng, nên mặt, môi, móng và lưỡi đều nhạt màu.
Huyết hư, não tủy và mắt không được nuôi dưỡng đầy đủ, nên chóng mặt, hoa mắt.
Tâm chủ huyết mạch, tàng thần. Huyết hư khiến tâm không được nuôi dưỡng nên hồi hộp; thần không được dưỡng nên mất ngủ.
Kinh lạc thiếu nhu dưỡng gây tê tay chân. Mạch không được huyết làm đầy đủ nên mạch tế vô lực.
Ở nữ giới, huyết đầy đủ thì kinh nguyệt đến đúng kỳ. Huyết thiếu hụt, nguồn kinh huyết không đủ, nên lượng kinh giảm, màu nhạt, kinh đến muộn; nặng có thể bế kinh.
CHỨNG HUYẾT Ứ
血瘀证
Chứng huyết ứ là chứng hậu do huyết ứ trở trệ bên trong.
Nguyên nhân có thể do hàn tà ngưng trệ, khiến huyết vận hành bị cản trở; khí trệ dẫn đến huyết ứ; khí hư không đủ sức thúc đẩy huyết; hoặc ngoại thương và những nguyên nhân khác làm huyết thoát khỏi mạch, không được tiêu tán hay đào thải kịp thời.
Biểu hiện lâm sàng
Đau như kim châm hoặc dao cắt, vị trí cố định, không thích ấn, thường nặng hơn về đêm.
Khối sưng ở ngoài cơ thể có thể có màu xanh tím. Khối ở trong bụng thường chắc cứng, ấn không di chuyển, được gọi là trưng tích.
Có thể xuất huyết tái diễn, kéo dài; huyết tím sẫm, lẫn cục máu; hoặc đại tiện phân đen như hắc ín.
Sắc mặt sạm đen; da khô, thô, bong vảy như xếp lớp; môi và móng tím sẫm. Có thể thấy ban tím dưới da, những mạch nhỏ nổi thành sợi trên bề mặt da, tĩnh mạch nổi rõ ở bụng hoặc tĩnh mạch chân nổi xanh, căng đau.
Nữ giới thường có thể gặp bế kinh. Chất lưỡi tím sẫm hoặc có điểm, mảng ứ huyết; mạch tế sáp.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là đau như kim châm, vị trí cố định, không thích ấn; có khối tích; môi, lưỡi và móng tím sẫm; mạch sáp.
Huyết ứ làm kinh mạch bị ngăn trở, không thông thì đau. Vì vậy, đau là một trong những biểu hiện nổi bật của chứng huyết ứ.
Huyết ứ là tà có hình chất, cản trở khí cơ, nên đau có thể dữ dội như kim châm và cố định tại một vị trí. Theo cách giải thích của tài liệu, ban đêm huyết vận hành chậm hơn, sự ứ trở tăng lên, nên đau thường nặng về đêm.
Huyết ứ tích tụ lâu ngày không tan có thể kết thành khối. Khối ở ngoài thường có màu xanh tím; khối bên trong có thể chắc cứng, tồn tại dai dẳng.
Huyết ứ làm tắc trở mạch lạc, cản trở khí huyết vận hành, khiến huyết dồn, mạch lạc tổn thương, huyết không theo đường mạch mà thoát ra ngoài. Huyết đình đọng có thể tím sẫm hoặc đông thành cục.
Khí huyết vận hành không thuận, da thịt thiếu nuôi dưỡng, nên sắc mặt sạm đen, da khô thô, bong vảy; môi, lưỡi và móng tím sẫm.
Huyết ứ trở bên trong, làm xung nhâm không thông, có thể gây bế kinh.
Những mạch nhỏ nổi thành sợi, tĩnh mạch nổi rõ, lưỡi tím sẫm và mạch tế sáp đều biểu thị mạch lạc bị ứ trở, huyết vận hành không thông.
CHỨNG HUYẾT NHIỆT
血热证
Chứng huyết nhiệt là chứng hậu do hỏa nhiệt trong tạng phủ quá thịnh, tác động đến huyết phận.
Theo tài liệu, chứng này có thể liên quan đến lao tâm, lao lực quá mức, uống nhiều rượu, uất giận làm tổn thương can hoặc phòng sự quá mức.
Biểu hiện lâm sàng
Ho ra máu, nôn ra máu, tiểu ra máu, chảy máu mũi, đi ngoài ra máu.
Ở nữ giới, kinh đến sớm, lượng nhiều. Kèm biểu hiện nóng, trong lòng bứt rứt, khát nước; lưỡi đỏ sẫm, mạch hoạt sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là xuất huyết kèm những biểu hiện nhiệt toàn thân.
Huyết nhiệt bức huyết đi sai đường, làm tổn thương huyết lạc, nên xuất hiện các dạng xuất huyết hoặc kinh nguyệt quá nhiều.
Hỏa nhiệt quá thịnh, làm hao tổn tân dịch, nên người nóng và khát nước. Hỏa nhiệt quấy nhiễu tâm thần gây bứt rứt.
Nhiệt thúc đẩy huyết vận hành quá mức, gây uất ở mạch lạc, nên lưỡi đỏ sẫm, mạch hoạt sác.
Hỏa nhiệt ở huyết phận có thể gặp trong cả nội thương và ngoại cảm. Chứng huyết nhiệt được trình bày ở đây chủ yếu thuộc nội thương tạp bệnh.
Trong biện chứng bệnh ngoại cảm có sốt, nhiệt nhập huyết phận tạo thành huyết phận chứng. Tuy cùng liên quan đến nhiệt ở huyết, hai khái niệm thuộc những hệ thống biện chứng và bối cảnh bệnh khác nhau, cần phân biệt khi vận dụng. Huyết phận chứng trong ngoại cảm sẽ được trình bày ở phần biện chứng vệ khí dinh huyết.
CHỨNG HUYẾT HÀN
血寒证
Chứng huyết hàn là chứng hậu do hàn tà ngưng ở mạch lạc, làm khí trệ, huyết vận hành không thông. Thường do cảm nhiễm hàn tà.
Biểu hiện lâm sàng
Tay chân hoặc vùng bụng dưới lạnh đau; da vùng bị bệnh tím sẫm, lạnh khi sờ. Thích ấm, sợ lạnh, được làm ấm thì đau giảm.
Ở nữ giới, kinh đến muộn, đau bụng kinh, kinh huyết tím sẫm, có cục máu. Lưỡi tím sẫm, rêu trắng, mạch trầm trì sáp.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là lạnh đau tại chỗ, nhất là ở tay chân hoặc bụng dưới, kèm sắc da tím sẫm.
Hàn thuộc âm tà, có tính ngưng trệ và co rút. Hàn tà lưu ở huyết mạch khiến khí cơ đình trệ, huyết vận hành không thông, nên tay chân hoặc bụng dưới lạnh đau.
Huyết gặp ấm thì vận hành thuận hơn, gặp lạnh thì ngưng trệ, nên người bệnh thích ấm, sợ lạnh; được làm ấm thì đau giảm.
Hàn ngưng ở bào cung, cản trở kinh huyết, khiến kinh đến muộn, đau bụng kinh, huyết tím sẫm và có cục.
Lưỡi tím sẫm, mạch trầm trì sáp đều biểu thị hàn tà làm trở trệ huyết mạch, khí huyết vận hành không thuận.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN CHỨNG KHÍ HUYẾT ĐỒNG BỆNH
气血同病辨证
Biện chứng khí huyết đồng bệnh là phương pháp được vận dụng khi người bệnh đồng thời có bệnh chứng về khí và bệnh chứng về huyết.
Khí và huyết có quan hệ mật thiết: nương tựa, nuôi dưỡng và hỗ trợ chức năng của nhau. Vì vậy, khi phát sinh bệnh biến, khí và huyết thường ảnh hưởng lẫn nhau, khiến bệnh chứng về khí và huyết cùng xuất hiện, gọi là khí huyết đồng bệnh.
Các chứng hậu thường gặp gồm khí trệ huyết ứ, khí hư huyết ứ, khí huyết lưỡng hư, khí bất nhiếp huyết và khí tùy huyết thoát.
CHỨNG KHÍ TRỆ HUYẾT Ứ
气滞血瘀证
Chứng khí trệ huyết ứ là chứng hậu do khí đình trệ, không vận hành thông thuận, khiến sự vận hành của huyết bị cản trở, đồng thời xuất hiện biểu hiện khí trệ và huyết ứ.
Thường do tình chí không thư thái hoặc ngoại tà xâm nhập, khiến can khí uất trệ kéo dài, không được giải tỏa.
Biểu hiện lâm sàng
Ngực sườn căng đầy, đau di chuyển, tính tình nóng nảy; đồng thời có khối tích, đau như kim châm, không thích ấn.
Nữ giới có thể bế kinh, đau bụng kinh, kinh huyết tím sẫm, lẫn cục máu; vú căng đau.
Chất lưỡi tím sẫm hoặc có mảng tím, mạch huyền sáp.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là bệnh kéo dài, có căng đau hoặc khối tích ở những vùng liên quan đến can và kinh can, kèm biểu hiện khí trệ, huyết ứ.
Can chủ sơ tiết và tàng huyết, có chức năng điều đạt khí cơ, điều hòa tình chí. Tình chí không thư thái khiến can khí uất trệ, chức năng sơ tiết rối loạn, nên tính tình nóng nảy, ngực sườn căng đầy và đau di chuyển.
Khí là soái của huyết, có vai trò thúc đẩy huyết vận hành. Khí trệ khiến huyết đình đọng, nên xuất hiện khối tích, đau không thích ấn; nữ giới có thể bế kinh, đau bụng kinh, kinh huyết tím sẫm có cục và vú căng đau.
Mạch huyền sáp biểu thị khí trệ huyết ứ.
CHỨNG KHÍ HƯ HUYẾT Ứ
气虚血瘀证
Chứng khí hư huyết ứ là chứng hậu vừa có biểu hiện khí hư, vừa có biểu hiện huyết ứ.
Thường do bệnh lâu ngày làm khí hư, không đủ sức vận huyết, khiến huyết ứ dần hình thành và lưu lại bên trong.
Biểu hiện lâm sàng
Sắc mặt nhạt trắng hoặc tối, kém tươi; người mệt mỏi, yếu sức, hơi thở yếu, ngại nói.
Đau như kim châm, thường ở ngực sườn; vị trí cố định, không thích ấn. Lưỡi nhạt tối hoặc có mảng tím, mạch trầm sáp.
Phân tích chứng hậu
Chứng này thuộc hư trung hiệp thực, tức trong hư có kèm thực. Điểm chính để biện chứng là những biểu hiện khí hư và huyết ứ cùng xuất hiện.
Sắc mặt nhạt trắng, mệt mỏi, yếu sức, hơi thở yếu và ngại nói là những biểu hiện khí hư.
Khí hư không đủ sức vận huyết, khiến huyết lưu hành chậm, lâu ngày làm mạch lạc bị ứ trở, nên sắc mặt tối, kém tươi.
Huyết ứ gây trở trệ, không thông thì đau, nên đau như kim châm, vị trí cố định và không thích ấn. Theo tài liệu, chứng này thường gặp trong bệnh biến của tâm và can, vì vậy đau hay xuất hiện ở ngực sườn.
Khí hư khiến lưỡi nhạt; huyết ứ khiến lưỡi tím sẫm. Mạch trầm biểu thị bệnh ở lý, mạch sáp biểu thị huyết vận hành không thuận. Đây là những đặc điểm lưỡi và mạch thường gặp của chứng khí hư huyết ứ.
CHỨNG KHÍ HUYẾT LƯỠNG HƯ
气血两虚证
Chứng khí huyết lưỡng hư là chứng hậu khí hư và huyết hư cùng tồn tại.
Thường do bệnh kéo dài không khỏi, khiến khí hư không đủ sức sinh huyết, hoặc huyết hư không đủ làm cơ sở cho sự hóa sinh và hoạt động của khí.
Biểu hiện lâm sàng
Chóng mặt, hoa mắt, hơi thở yếu, ngại nói, mệt mỏi, tự ra mồ hôi; sắc mặt nhạt trắng hoặc vàng úa; hồi hộp, mất ngủ. Lưỡi nhạt, non; mạch tế nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là những biểu hiện khí hư và huyết hư cùng xuất hiện.
Hơi thở yếu, ngại nói, mệt mỏi và tự ra mồ hôi là biểu hiện khí hư của tỳ, phế.
Huyết không đủ nuôi dưỡng tâm gây hồi hộp, mất ngủ. Huyết hư không làm đầy mạch lạc, nên môi và móng nhạt trắng, mạch tế nhược.
Khí huyết đều thiếu, không đủ nuôi dưỡng mặt và lưỡi, nên sắc mặt nhạt trắng hoặc vàng úa, lưỡi nhạt non.
CHỨNG KHÍ BẤT NHIẾP HUYẾT
气不摄血证
Chứng khí bất nhiếp huyết, còn gọi là chứng khí hư thất huyết, là chứng hậu do khí hư không đủ sức thống nhiếp huyết, khiến khí hư và xuất huyết cùng xuất hiện.
Thường do bệnh lâu ngày làm khí hư, mất khả năng giữ huyết trong mạch.
Biểu hiện lâm sàng
Nôn ra máu, đi ngoài ra máu, có mảng bầm tím dưới da; nữ giới có thể băng lậu. Kèm hụt hơi, mệt mỏi, yếu sức, sắc mặt trắng, kém tươi nhuận; lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là xuất huyết đi kèm những biểu hiện khí hư.
Khí hư không đủ sức thống nhiếp, khiến huyết rời đường mạch, thoát ra ngoài. Huyết thoát vào vị trường có thể gây nôn ra máu hoặc đi ngoài ra máu; huyết thoát vào da thịt gây những mảng bầm tím dưới da.
Tỳ hư không đủ sức thống huyết, xung nhâm không vững, có thể dần dẫn đến kinh nguyệt quá nhiều hoặc băng lậu.
Khí hư gây hụt hơi, mệt mỏi và yếu sức; huyết hư khiến sắc mặt trắng, kém tươi nhuận. Lưỡi nhạt, mạch tế nhược đều biểu thị khí huyết bất túc.
CHỨNG KHÍ TÙY HUYẾT THOÁT
气随血脱证
Chứng khí tùy huyết thoát là chứng hậu dương khí hư thoát do mất máu nhiều.
Theo tài liệu, tình trạng này có thể xuất hiện khi người vốn có bệnh ở can, vị, phế hoặc những tạng phủ khác bị vỡ mạch đột ngột; cũng có thể do ngoại thương, băng huyết ở nữ giới hoặc mất máu trong sinh nở.
Biểu hiện lâm sàng
Trong khi xuất huyết nhiều, sắc mặt đột ngột trắng bệch, tứ chi lạnh ngắt, mồ hôi ra đầm đìa; nặng có thể ngất.
Lưỡi nhạt, mạch vi tế muốn tuyệt hoặc phù đại mà tán.
Phân tích chứng hậu
Điểm chính để biện chứng là mất máu nhiều, ngay sau đó xuất hiện những biểu hiện khí thoát.
Khí thoát, dương suy, không đủ nuôi dưỡng mặt nên sắc mặt trắng bệch; không đủ ôn dưỡng tứ chi nên tay chân lạnh ngắt; không đủ giữ vững phần biểu nên mồ hôi ra đầm đìa.
Theo lý luận Trung y, thần theo khí mà tán, mất sự chủ trì, nên người bệnh có thể ngất.
Mất huyết, thoát khí khiến chính khí tổn thương nghiêm trọng. Lưỡi không được nuôi dưỡng nên nhạt màu; mạch không được huyết làm đầy nên vi tế, gần như không bắt được.
Nếu dương khí phù việt, thoát ra ngoài, mạch có thể phù đại mà tán, biểu thị tình trạng càng nguy kịch.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN CHỨNG BỆNH TÂN DỊCH 津液病辨证
Biện chứng bệnh tân dịch là phương pháp phân tích, nhận định các chứng bệnh liên quan đến tân dịch. Các chứng này nhìn chung được khái quát thành hai nhóm: tân dịch bất túc và thủy dịch đình tụ.
CHỨNG TÂN DỊCH BẤT TÚC 津液不足证
Chứng tân dịch bất túc là chứng trạng do tân dịch hao thiếu, không còn thực hiện đầy đủ chức năng làm nhuận và nuôi dưỡng, biểu hiện chủ yếu bằng tình trạng khô táo.
Nguyên nhân thường do táo nhiệt làm tổn thương tân dịch, hoặc do ra nhiều mồ hôi, nôn ói, tiêu chảy, dùng phép hạ hay mất máu.
Biểu hiện lâm sàng
Khát nước, họng khô, môi khô nứt, da khô thiếu vẻ nhuận sáng, tiểu ít, đại tiện khô kết, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là da, môi, miệng, lưỡi và họng khô, kèm tiểu ít và đại tiện khô.
Tân dịch hao thiếu khiến da, môi, miệng và họng không được làm nhuận, nuôi dưỡng, vì vậy xuất hiện tình trạng khô và thiếu vẻ tươi nhuận. Tân dịch bị tổn thương làm nguồn tạo nước tiểu không đủ, nên tiểu ít. Đại trường không được nhuận dưỡng nên đại tiện khô kết. Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác là biểu hiện tân dịch hao thiếu, nội nhiệt phát sinh.
CHỨNG THỦY DỊCH ĐÌNH TỤ 水液停聚证
Chứng thủy dịch đình tụ là các chứng bệnh như đàm, ẩm và phù thũng, phát sinh do sự phân bố và bài tiết thủy dịch bị rối loạn. Ngoại cảm lục dâm hoặc nội thương tạng phủ đều có thể dẫn đến chứng này.
PHÙ THŨNG 水肿
Phù thũng là chứng bệnh do thủy dịch đình tụ trong cơ thể, tràn ra phần da thịt, gây phù ở mặt, mắt, tứ chi, ngực, bụng, thậm chí toàn thân.
Trong lâm sàng, phù thũng được chia thành hai loại lớn: dương thủy và âm thủy.
DƯƠNG THỦY 阳水
Dương thủy là phù thũng khởi phát tương đối cấp, tính chất chứng thuộc thực. Nguyên nhân thường do ngoại cảm phong tà hoặc thủy thấp xâm nhập, lưu trú.
Biểu hiện lâm sàng
Mi mắt phù trước, sau đó lan đến đầu mặt, thậm chí khắp toàn thân; tiểu ít, diễn biến nhanh, da căng mỏng và bóng. Có thể kèm sợ lạnh, phát sốt, không có mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn.
Có trường hợp kèm họng sưng đau, lưỡi đỏ, mạch phù sác.
Có trường hợp phù toàn thân nhưng tiến triển chậm hơn, ấn vào để lại vết lõm, tay chân nặng nề, người mệt mỏi, tiểu ít, vùng thượng vị đầy tức, ăn kém, buồn nôn muốn ói, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch trầm.
Phân tích chứng hậu
Đối với dương thủy do phong tà, điểm chủ yếu để biện chứng là khởi phát cấp, diễn biến nhanh, phù xuất hiện trước ở mi mắt và đầu mặt, nửa trên cơ thể phù rõ hơn.
Phong tà xâm nhập làm phế và vệ khí bị bệnh. Chức năng tuyên phát, túc giáng và thông điều thủy đạo của phế bị rối loạn, khiến phong tà ngăn trở, thủy dịch ứ đọng. Phong và thủy cùng tác động, làm nước tràn ra phần da thịt mà thành phù thũng.
Phong là dương tà, thường tác động trước vào phần trên cơ thể. Vì vậy, phù bắt đầu ở mi mắt, đầu mặt, rồi lan đến tứ chi. Nếu kèm sợ lạnh, phát sốt, không có mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn thì thuộc phong thủy thiên về hàn. Nếu kèm họng sưng đau, lưỡi đỏ, mạch phù sác thì thuộc phong thủy thiên về nhiệt.
Nếu thủy thấp lưu trú làm tỳ dương bị khốn, chức năng vận hóa rối loạn, thủy dịch tràn ra da thịt và bị ngăn trở không lưu thông, thì phù toàn thân có thể xuất hiện dần.
Thủy thấp đình lưu bên trong làm chức năng thông hành thủy đạo của tam tiêu và khí hóa của bàng quang bị rối loạn, nên tiểu ít. Thủy thấp ngày càng nhiều mà không được bài xuất, tiếp tục tràn ra da thịt, khiến phù tăng dần, ấn vào để lại vết lõm.
Thân thể nặng nề, mệt mỏi, vùng thượng vị đầy tức, ăn kém, buồn nôn muốn ói, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch trầm hoãn đều là biểu hiện thấp thịnh làm tỳ bị khốn.
ÂM THỦY 阴水
Âm thủy là phù thũng khởi phát tương đối chậm, tính chất chứng thuộc hư. Nguyên nhân thường do lao lực làm tổn thương bên trong, tỳ thận dương suy hoặc chính khí suy yếu.
Biểu hiện lâm sàng
Thân thể phù, rõ hơn ở phần dưới thắt lưng; ấn vào để lại vết lõm lâu hồi phục. Vùng thượng vị đầy tức, bụng trướng, ăn kém, ăn ít, đại tiện lỏng, sắc mặt trắng nhợt, tinh thần mệt mỏi, tay chân uể oải, tiểu ít, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm hoãn.
Có trường hợp phù ngày càng nặng, tiểu tiện khó, thắt lưng và đầu gối lạnh đau, tứ chi không ấm, sợ lạnh, tinh thần mệt mỏi, sắc mặt trắng nhợt, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm trì vô lực.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là khởi phát chậm, bàn chân phù trước, phần dưới thắt lưng phù rõ hơn, ấn vào để lại vết lõm lâu hồi phục.
Tỳ chủ vận hóa thủy thấp, thận chủ thủy. Vì vậy, tỳ hư hoặc thận hư đều có thể làm sự chuyển hóa thủy dịch bị rối loạn, khiến thủy thấp ở hạ tiêu tràn lan mà thành âm thủy.
Âm tà thịnh ở phần dưới nên phù bắt đầu ở bàn chân và rõ hơn ở phần dưới thắt lưng. Khi ấn, vết lõm lâu hồi phục.
Tỳ hư ảnh hưởng đến vị, chức năng vận hóa của trung tiêu suy yếu, nên vùng thượng vị đầy tức, ăn kém, bụng trướng, đại tiện lỏng. Tỳ chủ tứ chi; tỳ hư, thủy thấp lưu trú bên trong khiến tinh thần mệt mỏi, tay chân nặng nề, uể oải.
Thắt lưng là phủ của thận. Thận hư, thủy khí thịnh bên trong nên thắt lưng và đầu gối lạnh đau. Thận dương bất túc, mệnh môn hỏa suy, không thể sưởi ấm và nuôi dưỡng tứ chi, nên tay chân lạnh, sợ lạnh, tinh thần mệt mỏi. Dương hư không thể ôn ấm phần trên, nên sắc mặt trắng nhợt.
Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm trì vô lực là biểu hiện tỳ thận dương hư, hàn thủy thịnh bên trong.
ĐÀM VÀ ẨM 痰饮
Đàm và ẩm là những sản phẩm bệnh lý hình thành do chức năng tạng phủ rối loạn, khiến thủy dịch đình trệ; đồng thời cũng có thể gây ra nhiều chứng bệnh.
CHỨNG ĐÀM 痰证
Chứng đàm là chứng bệnh do thủy dịch ngưng kết thành chất đặc, sánh, đình tụ ở tạng phủ, kinh lạc hoặc các tổ chức trong cơ thể.
Nguyên nhân thường do ngoại cảm lục dâm hoặc nội thương thất tình, làm chức năng tạng phủ rối loạn mà sinh đàm.
Biểu hiện lâm sàng
Ho, khạc đàm đặc dính, ngực và vùng thượng vị đầy tức, ăn kém, buồn nôn, chóng mặt, hoa mắt.
Có thể xuất hiện thần trí mê mờ, điên cuồng, tiếng đàm khò khè trong họng; hoặc tứ chi tê bì; hoặc xuất hiện loa lịch, anh lựu, nhũ tích, đàm hạch. Rêu lưỡi trắng nhớt, mạch hoạt.
Loa lịch là những khối hạch kết tụ, thường ở vùng cổ; anh lựu là khối sưng vùng trước cổ; nhũ tích là tình trạng kết khối ở vú theo cách gọi của Trung y; đàm hạch là khối kết tụ được quy thuộc đàm trong biện chứng.
Phân tích chứng hậu
Biểu hiện của chứng đàm rất đa dạng, vì vậy người xưa có câu: “诸般怪证皆属于痰” — các chứng kỳ lạ thường được quy về đàm.
Khi biện chứng, ngoài việc nắm các triệu chứng đặc trưng của từng vị trí bệnh, có thể phối hợp những biểu hiện như khạc đàm, nôn ra đàm dãi, thần trí mê mờ kèm tiếng đàm trong họng, tứ chi tê bì, xuất hiện đàm hạch, rêu lưỡi nhớt và mạch hoạt để nhận định.
Đàm ngăn trở ở phế làm chức năng tuyên phát, túc giáng rối loạn; phế khí nghịch lên gây ho, khạc đàm.
Đàm thấp ngăn trở trung tiêu làm khí cơ không thông, nên vùng thượng vị đầy tức, ăn kém, buồn nôn.
Đàm trọc che lấp thanh khiếu, thanh dương không thăng, gây chóng mặt, hoa mắt.
Đàm che lấp tâm thần khiến thần trí mê mờ, nặng hơn có thể xuất hiện điên cuồng.
Đàm đình lưu ở kinh lạc làm khí huyết vận hành không thuận, gây tứ chi tê bì. Đàm kết tụ tại một vùng có thể biểu hiện thành loa lịch, anh lựu, nhũ tích hoặc đàm hạch.
Rêu lưỡi trắng nhớt, mạch hoạt là dấu hiệu của đàm thấp.
CHỨNG ẨM 饮证
Chứng ẩm là chứng bệnh do thủy dịch có tính chất loãng, trong, đình trệ ở tạng phủ hoặc các tổ chức trong cơ thể. Nguyên nhân thường liên quan đến chức năng tạng phủ suy giảm, làm quá trình vận hóa và phân bố thủy dịch bị trở ngại.
Biểu hiện lâm sàng
Ho, khó thở, đàm nhiều và loãng, ngực tức, hồi hộp; nặng có thể phải ngồi tựa để thở, không thể nằm ngả.
Có thể thấy vùng thượng vị và bụng đầy trướng, trong bụng có tiếng nước óc ách, nôn ra nước trong.
Có thể kèm chóng mặt, hoa mắt, tiểu tiện khó, tứ chi phù, nặng nề, ê mỏi, rêu lưỡi trắng trơn ướt, mạch huyền.
Phân tích chứng hậu
Chứng này chủ yếu liên quan đến thủy ẩm đình lưu ở tâm phế, vị trường, ngực sườn và tứ chi.
Ẩm đình lưu ở phế làm phế khí nghịch lên, gây ho, khó thở, ngực tức; nặng thì phải ngồi tựa để thở, không thể nằm ngả.
Thủy ẩm lấn át tâm, ngăn trở tâm dương, gây hồi hộp.
Ẩm đình lưu ở vị trường làm khí cơ không thông, nên vùng thượng vị và bụng đầy trướng, có tiếng nước óc ách. Vị khí nghịch lên khiến nôn ra nước trong.
Thủy ẩm lưu trú ở tứ chi và phần da thịt gây phù, nặng nề, ê mỏi, kèm tiểu tiện khó.
Ẩm ngăn trở thanh dương gây chóng mặt, hoa mắt. Ẩm là âm tà nên rêu lưỡi trắng trơn ướt. Ẩm ngăn trở khí cơ nên mạch huyền.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT BA: BIỆN CHỨNG TẠNG PHỦ 脏腑辨证
Biện chứng tạng phủ là phương pháp căn cứ vào chức năng sinh lý và biểu hiện bệnh lý của tạng phủ để quy nạp các chứng hậu, từ đó suy xét bệnh cơ, xác định vị trí và tính chất của bệnh, đồng thời nhận định tình trạng thịnh suy của chính khí và tà khí. Đây là cơ sở chẩn đoán của các chuyên khoa lâm sàng, đồng thời là một bộ phận quan trọng trong hệ thống biện chứng.
Biện chứng tạng phủ bao gồm biện chứng bệnh ở tạng, biện chứng bệnh ở phủ và biện chứng các bệnh phối hợp giữa tạng với phủ. Trong đó, biện chứng bệnh ở tạng là nội dung chủ yếu. Trên lâm sàng, bệnh đơn thuần ở phủ tương đối ít gặp, phần nhiều có liên quan đến bệnh ở một tạng nhất định, vì vậy bệnh ở phủ được trình bày cùng với bệnh ở tạng có liên quan.
Bệnh biến của tạng phủ phức tạp, chứng hậu rất đa dạng. Tiết này chỉ giới thiệu một số chứng hậu thường gặp trên lâm sàng.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN CHỨNG BỆNH CAN VÀ ĐỞM 肝与胆病辨证
Can nằm ở vùng hạ sườn phải, đởm gắn với can. Kinh mạch can và đởm liên hệ với nhau, can và đởm có quan hệ biểu lý.
Can chủ sơ tiết, chủ tàng huyết; về hình thể ứng với cân, vẻ tươi nhuận biểu hiện ở móng, khai khiếu ra mắt. Can khí có xu hướng thăng phát, tính ưa điều đạt, không thích bị uất ức.
Đởm chứa và bài tiết dịch mật để hỗ trợ tiêu hóa, đồng thời có liên quan đến hoạt động tình chí, vì vậy có câu “胆主决断” — đởm chủ quyết đoán.
Bệnh chứng của can có hư và thực. Hư chứng thường gặp là can huyết bất túc, can âm bất túc. Thực chứng thường gặp là phong dương vọng động, can hỏa thịnh, hoặc thấp, nhiệt, hàn tà xâm phạm.
Bệnh biến của can chủ yếu biểu hiện ở sự rối loạn chức năng sơ tiết, huyết không được tàng giữ và cân mạch vận hành không thuận. Can khai khiếu ra mắt nên nhiều bệnh ở mắt có liên quan đến can.
Bệnh biến của can khá rộng và phức tạp. Những biểu hiện như ngực sườn hoặc bụng dưới trướng đau, đau di chuyển, tình chí bất thường, chóng mặt, đầu căng đau, tay chân co giật, tứ chi run, bệnh ở mắt, kinh nguyệt không đều và tinh hoàn trướng đau thường có liên quan đến can.
Bệnh ở đởm thường biểu hiện bằng miệng đắng, vàng da, mất ngủ, nhút nhát và dễ kinh sợ.
CHỨNG CAN KHÍ UẤT KẾT 肝气郁结证
Can khí uất kết là chứng hậu do can mất chức năng sơ tiết, khiến khí cơ uất trệ. Nguyên nhân thường do tình chí uất ức, kích thích tinh thần đột ngột hoặc các tà khí khác xâm nhiễu.
Biểu hiện lâm sàng
Ngực sườn hoặc bụng dưới trướng tức, đau di chuyển; ngực tức, hay thở dài; tinh thần uất ức, dễ cáu giận.
Có thể xuất hiện mai hạch khí ở họng, anh lựu ở cổ hoặc khối tích trong bụng. Phụ nữ có thể thấy vú căng đau, kinh nguyệt không đều, nặng hơn thì bế kinh.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là tình chí uất ức, trướng tức hoặc đau ở những vùng kinh can đi qua, kèm kinh nguyệt không đều ở phụ nữ.
Can khí uất kết làm kinh khí không thông, nên ngực sườn, vú và bụng dưới trướng tức, đau hoặc đau di chuyển.
Can chủ sơ tiết, có chức năng điều hòa tình chí. Khí cơ uất kết, không được sơ thông điều đạt, khiến tinh thần uất ức. Uất kéo dài không giải, can mất tính nhu hòa, thư thái, nên người bệnh nóng nảy, dễ cáu giận.
Khí uất sinh đàm, đàm theo khí nghịch đi lên dọc kinh mạch. Đàm khí kết ở họng gây mai hạch khí, tức cảm giác như có vật mắc trong họng, nuốt không xuống, khạc không ra. Đàm khí tích tụ ở cổ có thể hình thành anh lựu, tức khối sưng vùng trước cổ.
Bệnh ở khí ảnh hưởng đến huyết, khí trệ huyết ứ làm xung nhâm mất điều hòa, gây kinh nguyệt không đều hoặc đau bụng khi hành kinh. Khí tụ, huyết kết lâu ngày có thể hình thành trưng hà, tức các khối tích trong bụng.
CHỨNG CAN HỎA THƯỢNG VIÊM 肝火上炎证
Can hỏa thượng viêm là chứng hậu do hỏa ở can nghịch lên trên. Nguyên nhân thường do tình chí không được thỏa nguyện, can uất hóa hỏa, hoặc nhiệt tà xâm nhập bên trong.
Biểu hiện lâm sàng
Chóng mặt, đầu căng đau, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng đắng, miệng khô, nóng nảy, dễ cáu giận, mất ngủ hoặc nhiều ác mộng.
Vùng sườn nóng rát và đau, đại tiện táo bón, nước tiểu vàng, ù tai vang mạnh như tiếng sóng. Có thể nôn ra máu hoặc chảy máu mũi. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là những biểu hiện thực hỏa thịnh ở đầu, mắt, tai và vùng sườn, những nơi có liên hệ với kinh can.
Can hỏa theo kinh đi lên đầu và mắt, làm khí huyết dồn mạnh vào lạc mạch, nên chóng mặt, đầu căng đau, mặt đỏ, mắt đỏ. Nếu kèm đởm khí nghịch lên thì miệng đắng, miệng khô.
Can mất tính điều đạt, nhu hòa nên nóng nảy, dễ cáu giận. Hỏa nhiệt quấy nhiễu bên trong, thần và hồn không yên, gây mất ngủ, nhiều ác mộng.
Can hỏa thịnh bên trong làm khí huyết ứ trệ, gây vùng sườn nóng rát và đau. Nhiệt thịnh hao tổn tân dịch nên đại tiện táo bón, nước tiểu vàng.
Kinh túc thiếu dương đởm đi vào tai. Can nhiệt truyền sang đởm, theo kinh xung lên, khiến ù tai vang mạnh như tiếng sóng.
Hỏa làm tổn thương lạc mạch, huyết nhiệt khiến huyết đi sai đường, có thể gây nôn ra máu, chảy máu mũi.
Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác là biểu hiện thực hỏa thịnh ở kinh can.
CHỨNG CAN HUYẾT HƯ 肝血虚证
Can huyết hư là chứng hậu do huyết của can hao thiếu. Nguyên nhân thường do tỳ thận hư, nguồn sinh hóa huyết không đủ; bệnh mạn tính làm hao tổn can huyết; hoặc mất máu quá nhiều.
Biểu hiện lâm sàng
Chóng mặt, ù tai, sắc mặt trắng nhợt thiếu vẻ tươi nhuận, móng khô kém nhuận, ngủ nhiều mộng, thị lực giảm hoặc quáng gà.
Có thể thấy tứ chi tê bì, khớp và cân co rút khiến vận động khó khăn, tay chân run, cơ bắp máy giật. Phụ nữ thường có kinh ít, màu nhạt, nặng hơn thì bế kinh. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch huyền tế.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là cân mạch, móng, mắt và da không được huyết nuôi dưỡng, kết hợp với những biểu hiện huyết hư toàn thân.
Can huyết bất túc, không thể nuôi dưỡng đầu mặt, nên chóng mặt, ù tai, sắc mặt trắng nhợt thiếu vẻ tươi nhuận. Móng không được nuôi dưỡng nên khô, kém nhuận.
Huyết không đủ để dưỡng hồn, giúp tinh thần yên định, nên ngủ nhiều mộng. Mắt không được nuôi dưỡng khiến thị lực giảm, nặng hơn có thể quáng gà.
Can chủ cân. Huyết hư làm cân mạch mất nuôi dưỡng, gây tứ chi tê bì, khớp co rút, vận động khó khăn, tay chân run và cơ bắp máy giật. Đây là những biểu hiện hư phong nội động.
Ở phụ nữ, can huyết không đủ để làm đầy các mạch xung nhâm, nên kinh ít, màu nhạt, thậm chí bế kinh.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch huyền tế là những dấu hiệu thường gặp của huyết hư.
CHỨNG CAN ÂM HƯ 肝阴虚证
Can âm hư là chứng hậu do âm dịch của can hao thiếu. Nguyên nhân thường do tình chí không được thỏa nguyện, khí uất hóa hỏa; hoặc bệnh mạn tính, bệnh ôn nhiệt làm hao tổn can âm.
Biểu hiện lâm sàng
Chóng mặt, ù tai, hai mắt khô rít, mặt nóng bừng, vùng sườn nóng rát và đau, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, đạo hãn, miệng họng khô.
Có thể thấy tay chân cử động nhẹ ngoài ý muốn. Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch huyền tế sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là các triệu chứng bệnh ở can cùng xuất hiện với biểu hiện âm hư.
Can âm bất túc, không thể nuôi dưỡng đầu và mắt, nên chóng mặt, ù tai, hai mắt khô rít. Hư hỏa bốc lên khiến mặt nóng bừng.
Hư hỏa nung đốt bên trong gây vùng sườn nóng rát và đau, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, đạo hãn. Ngũ tâm phiền nhiệt là cảm giác nóng bứt rứt ở hai lòng bàn tay, hai lòng bàn chân và vùng ngực; triều nhiệt là nóng sốt theo từng thời điểm; đạo hãn là ra mồ hôi khi ngủ.
Âm dịch hao thiếu, không thể làm nhuận phần trên, nên miệng họng khô. Cân mạch không được nuôi dưỡng khiến tay chân cử động nhẹ ngoài ý muốn.
Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch huyền tế sác đều là biểu hiện âm hư nội nhiệt.
CHỨNG CAN DƯƠNG THƯỢNG CANG 肝阳上亢证
Can dương thượng cang là chứng hậu do can thận âm hư, không thể chế ước dương, khiến can dương thiên cang.
Nguyên nhân thường do tình chí kích động quá mức hoặc can thận âm hư, dẫn đến âm không chế được dương, thủy không hàm dưỡng được mộc.
Biểu hiện lâm sàng
Chóng mặt, ù tai, đầu và mắt căng đau, mặt đỏ, mắt đỏ, nóng nảy, dễ cáu giận, hồi hộp, hay quên, mất ngủ, nhiều mộng.
Thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu; cảm giác đầu nặng, chân nhẹ. Lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền hữu lực.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là biểu hiện can dương cang ở trên cùng với thận âm hao thiếu ở dưới.
Can thận âm bất túc khiến can dương cang nghịch, không được chế ước. Khí huyết xung lên gây chóng mặt, ù tai, đầu và mắt căng đau, mặt đỏ, mắt đỏ.
Can mất tính nhu hòa nên nóng nảy, dễ cáu giận. Âm hư khiến tâm không được nuôi dưỡng, thần không yên, gây hồi hộp, hay quên, mất ngủ, nhiều mộng.
Can thận âm hư làm kinh mạch thiếu nuôi dưỡng, nên thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu.
Dương cang ở trên, âm hao thiếu ở dưới, trên thịnh dưới hư, nên có cảm giác đầu nặng, chân nhẹ.
Lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền hữu lực là biểu hiện can thận âm hư, can dương cang thịnh.
MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC CHỨNG
Can khí uất kết, can hỏa thượng viêm, can âm bất túc và can dương thượng cang thường có thể chuyển hóa lẫn nhau.
Can khí uất lâu ngày có thể hóa hỏa. Can hỏa thịnh có thể nung đốt, làm hao tổn can âm. Can âm bất túc có thể dẫn đến can dương thượng cang. Can dương cang thịnh lại có thể hóa hỏa, tiếp tục làm tổn thương âm.
Vì vậy, khi biện chứng cần nắm đặc điểm riêng của từng chứng, đồng thời phân tích mối liên hệ bên trong giữa chúng để nhận định chính xác.
PHÂN BIỆT CÁC CHỨNG CAN THƯỜNG GẶP
Can khí uất kết: thuộc thực chứng. Chủ yếu là ngực sườn hoặc bụng dưới trướng tức, đau di chuyển, ngực tức, hay thở dài, dễ cáu giận; phụ nữ có kinh nguyệt không đều. Rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền.
Can hỏa thượng viêm: thuộc thực nhiệt chứng. Chủ yếu là chóng mặt, đầu căng đau, ù tai vang mạnh như tiếng sóng, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng đắng và khô, nóng nảy, dễ cáu giận, mất ngủ, nhiều mộng, vùng sườn nóng rát và đau, táo bón, nước tiểu vàng; có thể nôn ra máu hoặc chảy máu mũi. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.
Can âm bất túc: thuộc hư chứng, thường kèm hư nhiệt. Chủ yếu là chóng mặt, ù tai, đau sườn, mắt khô rít, mặt nóng bừng, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, đạo hãn, miệng họng khô, tay chân cử động nhẹ ngoài ý muốn. Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch huyền tế sác.
Can dương thượng cang: thuộc chứng bản hư tiêu thực, tức gốc hư mà biểu hiện ở ngọn là thực. Chủ yếu là chóng mặt, ù tai, đầu và mắt căng đau, mặt đỏ, mắt đỏ, nóng nảy, dễ cáu giận, hồi hộp, hay quên, mất ngủ, nhiều mộng, thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu, đầu nặng chân nhẹ. Lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền hữu lực.
CHỨNG CAN PHONG NỘI ĐỘNG 肝风内动证
Can phong nội động là chứng hậu có biểu hiện chủ yếu bằng những triệu chứng dao động, vận động ngoài ý muốn như chóng mặt muốn ngã, run và co giật.
Trên lâm sàng thường gặp bốn loại: can dương hóa phong, nhiệt cực sinh phong, âm hư động phong và huyết hư sinh phong.
CAN DƯƠNG HÓA PHONG 肝阳化风证
Can dương hóa phong là chứng hậu do can dương cang nghịch, không được chế ước, làm xuất hiện biểu hiện động phong. Thường do can thận âm hao thiếu lâu ngày, can dương không được tiềm giữ, khiến bệnh đột ngột phát tác.
Biểu hiện lâm sàng
Chóng mặt muốn ngã, đầu lắc và đau, cổ gáy cứng, tứ chi run, nói khó, tay chân tê bì, đi đứng không vững.
Có thể đột ngột ngã xuống, bất tỉnh, miệng mắt lệch, liệt nửa người, lưỡi cứng không nói được, trong họng có tiếng đàm khò khè. Lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc nhớt, mạch huyền hữu lực.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là người bệnh vốn có biểu hiện can dương thượng cang, sau đó đột ngột xuất hiện các triệu chứng can phong nội động.
Can dương hóa phong, can phong vận động bên trong rồi quấy nhiễu đầu và mắt, gây chóng mặt muốn ngã hoặc đầu lắc không tự chủ.
Khí huyết theo phong dương nghịch lên, làm lạc mạch bị ứ tắc, nên đầu đau không dứt. Phong động khiến cân co rút, gây cổ gáy cứng, tứ chi run.
Kinh can liên hệ với gốc lưỡi. Phong dương quấy nhiễu lạc mạch khiến nói khó. Can thận âm hư, cân mạch thiếu nuôi dưỡng, nên tay chân tê bì.
Phong động ở trên, âm hao thiếu ở dưới, trên thịnh dưới hư, khiến đi đứng không vững.
Dương cang nung đốt tân dịch thành đàm. Phong dương kèm đàm đi lên, che lấp thanh khiếu, có thể gây đột ngột ngã xuống, bất tỉnh.
Phong đàm lưu chuyển trong mạch lạc, làm kinh khí không thông, gây miệng mắt lệch và liệt nửa người. Đàm ngăn trở gốc lưỡi khiến lưỡi cứng, không nói được. Đàm theo phong đi lên nên trong họng có tiếng đàm khò khè.
Lưỡi đỏ biểu hiện âm hư; rêu trắng cho thấy tà chưa hóa hỏa; rêu nhớt biểu hiện có đàm đi kèm. Mạch huyền hữu lực phản ánh phong dương quấy động.
NHIỆT CỰC SINH PHONG 热极生风证
Nhiệt cực sinh phong là chứng hậu do nhiệt tà quá thịnh, dẫn động can phong. Thường do tà nhiệt cang thịnh, nung đốt kinh can và bế tắc tâm thần.
Biểu hiện lâm sàng
Sốt cao, thần trí mê mờ, kích động dữ dội như cuồng, tay chân co giật, cổ gáy cứng đờ.
Nặng hơn có thể co cứng, thân ưỡn cong ra sau như cánh cung, mắt trợn lên, hàm răng nghiến chặt. Lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm, mạch huyền sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là sốt cao cùng xuất hiện với các biểu hiện can phong.
Nhiệt tà bốc mạnh, tràn khắp tam tiêu, gây sốt cao. Nhiệt nhập tâm bào làm tâm thần mê loạn, khiến thần trí mê mờ, kích động như cuồng.
Nhiệt nung đốt kinh can, làm hao tổn tân dịch và dẫn động can phong, gây tay chân co giật, cổ gáy cứng đờ, thân ưỡn cong ra sau, mắt trợn lên và hàm nghiến chặt. Những biểu hiện này đều thuộc tình trạng cân mạch co rút dữ dội.
Nhiệt tà xâm nhập dinh huyết khiến lưỡi đỏ hoặc đỏ sẫm. Mạch huyền sác là dấu hiệu hỏa nhiệt ở kinh can.
ÂM HƯ ĐỘNG PHONG 阴虚动风证
Âm hư động phong là chứng hậu do âm dịch hao thiếu, dẫn động can phong.
Nguyên nhân thường do giai đoạn cuối của bệnh nhiệt ngoại cảm làm hao tổn âm dịch, hoặc bệnh nội thương kéo dài khiến âm dịch suy kiệt.
Đối với chứng do bệnh nhiệt ngoại cảm, biểu hiện lâm sàng và phân tích chứng hậu được trình bày ở phần “Biện chứng vệ khí dinh huyết”. Đối với chứng do bệnh nội thương, xem phần “Chứng can âm hư”.
HUYẾT HƯ SINH PHONG 血虚生风证
Huyết hư sinh phong là chứng động phong do huyết hư, khiến cân mạch không được nuôi dưỡng. Nguyên nhân thường do mất máu quá nhiều trong bệnh cấp tính hoặc mạn tính, hoặc do bệnh kéo dài gây huyết hư.
Biểu hiện lâm sàng và phân tích chứng hậu được trình bày ở phần “Chứng can huyết hư”.
PHÂN BIỆT CÁC CHỨNG CAN PHONG
Can dương hóa phong: thuộc chứng trên thực dưới hư. Triệu chứng chủ yếu là chóng mặt muốn ngã, đầu lắc, tứ chi run, nói khó; có thể lưỡi cứng không nói được, đột ngột ngã xuống, bất tỉnh, liệt nửa người. Triệu chứng kèm theo gồm đau đầu, cổ gáy cứng, tay chân tê bì, đi đứng không vững. Lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc nhớt, mạch huyền hữu lực.
Nhiệt cực sinh phong: thuộc nhiệt chứng. Triệu chứng chủ yếu là tay chân co giật, cổ gáy cứng đờ, thân ưỡn cong ra sau, mắt trợn lên, hàm nghiến chặt. Kèm sốt cao, thần trí mê mờ, kích động như cuồng. Lưỡi đỏ sẫm, mạch huyền sác hữu lực.
Âm hư động phong: thuộc hư chứng. Triệu chứng chủ yếu là tay chân cử động nhẹ ngoài ý muốn. Kèm triều nhiệt vào buổi chiều, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng họng khô, thân thể gầy sút. Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch huyền tế sác.
Huyết hư sinh phong: thuộc hư chứng. Triệu chứng chủ yếu là tay chân run, cơ bắp máy giật, khớp co rút khiến vận động khó khăn, tứ chi tê bì. Kèm chóng mặt, ù tai, sắc mặt trắng nhợt thiếu vẻ tươi nhuận, móng kém nhuận. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế.
CHỨNG HÀN NGƯNG CAN MẠCH 寒凝肝脉证
Hàn ngưng can mạch là chứng hậu do hàn tà ngưng trệ ở kinh mạch can. Nguyên nhân thường do cảm nhiễm hàn tà.
Biểu hiện lâm sàng
Bụng dưới đau lan kéo đến tinh hoàn, kèm cảm giác sa nặng, trướng và lạnh đau; hoặc bìu co rút gây đau kéo.
Gặp lạnh thì đau tăng, được ấm thì đau giảm. Rêu lưỡi trắng trơn ướt, mạch trầm huyền hoặc trì.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là bụng dưới đau lan kéo đến bộ phận sinh dục, kèm cảm giác sa nặng, trướng và lạnh đau.
Kinh can vòng quanh bộ phận sinh dục và đi đến bụng dưới. Hàn ngưng ở kinh mạch làm khí huyết đình trệ, nên bụng dưới đau lan kéo đến tinh hoàn, có tính chất lạnh đau.
Hàn là âm tà, có tính co rút. Hàn khiến cân mạch co thắt, có thể làm bìu co rút và đau kéo.
Gặp lạnh, khí huyết càng ngưng trệ; được ấm, khí huyết lưu thông thuận hơn. Vì vậy, đau tăng khi gặp lạnh và giảm khi được ấm.
Âm hàn thịnh bên trong nên rêu lưỡi trắng trơn ướt. Mạch trầm biểu hiện bệnh ở lý, mạch huyền liên quan đến bệnh ở can, mạch trì biểu hiện âm hàn. Đây là chứng hàn đình trệ ở can mạch.
CHỨNG CAN ĐỞM THẤP NHIỆT 肝胆湿热证
Can đởm thấp nhiệt là chứng hậu do thấp nhiệt uẩn kết ở can và đởm.
Nguyên nhân thường do cảm nhiễm thấp nhiệt; hoặc ăn nhiều thức ăn béo, ngọt, đậm vị làm sinh thấp, sinh nhiệt; hoặc tỳ vị mất kiện vận, thấp sinh bên trong rồi uất lại hóa nhiệt.
Biểu hiện lâm sàng
Vùng sườn trướng đau, có thể có khối kết, miệng đắng, bụng trướng, ăn ít, buồn nôn, đại tiện bất thường, tiểu ít và sẫm màu. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác.
Có thể kèm lúc lạnh lúc nóng, da và mắt vàng; hoặc chàm ở bìu, tinh hoàn sưng nóng đau; ở phụ nữ có thể có khí hư đục và ngứa âm hộ.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là vùng hạ sườn phải trướng đau, ăn kém, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt.
Thấp nhiệt uẩn kết ở can đởm làm can mất chức năng sơ tiết, khí trệ huyết ứ, nên vùng sườn đau hoặc xuất hiện khối kết.
Can mộc hoành nghịch phạm tỳ vị, làm tỳ mất kiện vận, vị mất hòa giáng, gây ăn ít, buồn nôn, bụng trướng.
Đởm khí nghịch lên gây miệng đắng. Thấp nhiệt uẩn bên trong: nếu thấp nặng hơn nhiệt thì đại tiện thiên về lỏng; nếu nhiệt nặng hơn thấp thì đại tiện khó chịu, không thông khoái.
Chức năng khí hóa của bàng quang rối loạn khiến tiểu ít, nước tiểu sẫm màu.
Tà ở thiếu dương, chức năng chuyển vận giữa biểu và lý không thuận, gây lúc lạnh lúc nóng. Dịch mật không đi theo đường bình thường mà tràn ra da thịt, khiến da và mắt vàng.
Kinh can vòng quanh bộ phận sinh dục. Thấp nhiệt theo kinh đi xuống có thể gây chàm vùng sinh dục, tinh hoàn sưng nóng đau; ở phụ nữ gây khí hư đục và ngứa âm hộ.
Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác đều là dấu hiệu thấp nhiệt uẩn kết ở can đởm.
CHỨNG ĐỞM UẤT ĐÀM NHIỄU 胆郁痰扰证
Đởm uất đàm nhiễu là chứng hậu do đởm mất chức năng sơ tiết, đàm nhiệt quấy nhiễu bên trong.
Nguyên nhân thường do tình chí không được thỏa nguyện, chức năng sơ tiết rối loạn, dẫn đến sinh đàm, hóa hỏa.
Biểu hiện lâm sàng
Chóng mặt, hoa mắt, ù tai, dễ kinh sợ, hồi hộp không yên, bứt rứt, mất ngủ, miệng đắng, buồn nôn, ngực tức, hay thở dài. Rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền hoạt.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là chóng mặt, ù tai hoặc kinh sợ, hồi hộp, mất ngủ, kết hợp với rêu lưỡi vàng nhớt.
Kinh đởm liên hệ với đầu, mắt và đi vào tai. Đàm trọc quấy nhiễu phía trên gây chóng mặt, hoa mắt, ù tai.
Đởm là phủ thanh tĩnh. Đàm nhiệt quấy nhiễu bên trong khiến đởm khí không yên, nên dễ kinh sợ, hồi hộp, bứt rứt, mất ngủ.
Đởm khí uất trệ gây ngực tức, hay thở dài. Nhiệt hun đốt khiến đởm khí nghịch lên, gây miệng đắng. Đởm nhiệt phạm vị, vị mất chức năng hòa giáng, gây buồn nôn, nôn ói.
Rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền hoạt là dấu hiệu đàm nhiệt uẩn bên trong.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN CHỨNG BỆNH TÂM VÀ TIỂU TRƯỜNG 心与小肠病辨证
Tâm nằm trong lồng ngực, bên ngoài có tâm bào lạc bao bọc, bảo vệ, được ví như thành quách của tâm. Kinh mạch của tâm đi xuống liên hệ với tiểu trường; hai tạng phủ này có quan hệ biểu lý.
Tâm chủ huyết mạch, chủ thần minh, khai khiếu ra lưỡi. Tiểu trường có chức năng hóa vật, tức tiếp tục tiêu hóa thức ăn, đồng thời phân thanh biệt trọc, phân định phần trong và phần đục.
Bệnh chứng của tâm có hư và thực. Hư chứng thường do bệnh lâu ngày làm tổn thương chính khí, bẩm phú bất túc hoặc suy nghĩ quá độ làm tổn thương tâm, dẫn đến tâm khí, tâm dương suy giảm, tâm âm và tâm huyết hao thiếu. Thực chứng thường do đàm trở, hỏa nhiễu, hàn ngưng, huyết ứ hoặc khí uất.
Bệnh biến của tâm chủ yếu biểu hiện bằng sự rối loạn vận hành huyết mạch và những thay đổi về tinh thần, ý thức, tư duy. Những triệu chứng như hồi hộp, đau vùng tim, mất ngủ, thần trí mê mờ, tinh thần rối loạn, mạch kết, đại hoặc xúc thường có liên quan đến bệnh ở tâm.
Bệnh biến của tiểu trường chủ yếu biểu hiện ở sự rối loạn phân thanh biệt trọc và chuyển vận, như tiểu tiện bất thường, đại tiện lỏng.
CHỨNG TÂM KHÍ HƯ, TÂM DƯƠNG HƯ VÀ TÂM DƯƠNG BẠO THOÁT 心气虚、心阳虚与心阳暴脱证
Tâm khí hư là chứng hậu biểu hiện sự suy giảm chức năng của tâm. Bẩm phú bất túc, tuổi cao thể lực suy yếu, bệnh kéo dài hoặc lao tâm quá độ đều có thể gây ra chứng này.
Tâm dương hư là chứng hậu do dương khí của tâm suy yếu. Tâm khí hư nặng, hàn tà làm tổn thương dương, hoặc phát hãn, công hạ quá mức đều có thể dẫn đến chứng này.
Tâm dương bạo thoát là chứng hậu do âm dương phân ly, tâm dương đột ngột thoát ra ngoài. Chứng này có thể xuất hiện trong những tình trạng bệnh nguy kịch.
Biểu hiện lâm sàng
Tâm khí hư biểu hiện bằng hồi hộp, đánh trống ngực, ngực tức, hơi thở ngắn, triệu chứng tăng sau vận động, sắc mặt trắng nhợt hoặc trắng bệch. Có thể tự ra mồ hôi. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hư.
Nếu kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, đau vùng tim, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn ướt, mạch vi tế thì thuộc tâm dương hư.
Nếu đột ngột vã mồ hôi lạnh, tứ chi lạnh ngắt, hơi thở yếu, sắc mặt trắng bệch, môi tím xanh, ý thức mơ hồ hoặc hôn mê thì đó là biểu hiện nguy cấp của tâm dương bạo thoát.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng tâm khí hư là chức năng của tâm và hoạt động toàn thân suy yếu.
Điểm chủ yếu để biện chứng tâm dương hư là trên nền tâm khí hư xuất hiện thêm các triệu chứng hư hàn.
Điểm chủ yếu để biện chứng tâm dương bạo thoát là trên nền tâm dương hư xuất hiện tình trạng hư thoát, vong dương.
Tâm khí suy yếu khiến tâm đập không yên, gây hồi hộp, đánh trống ngực. Tâm khí bất túc, tông khí trong ngực vận hành không đủ sức, nên ngực tức, hơi thở ngắn. Lao lực làm hao khí, vì vậy chỉ vận động nhẹ cũng khiến triệu chứng tăng.
Khí hư, chức năng bảo vệ bên ngoài không vững, nên tự ra mồ hôi. Khí hư không đủ sức vận hành huyết, huyết không thể nuôi dưỡng phần trên, nên sắc mặt trắng nhợt hoặc trắng bệch, lưỡi nhạt. Khí không đủ sức thúc đẩy huyết hành nên mạch hư vô lực.
Nếu bệnh tiếp tục phát triển, khí hư ảnh hưởng đến dương, dương hư không thể sưởi ấm tứ chi, nên xuất hiện sợ lạnh, tay chân lạnh. Tâm dương không chấn hưng, dương khí trong ngực bị bế trở, gây đau vùng tim.
Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn ướt là dấu hiệu dương hư, hàn thịnh. Dương hư không đủ sức thúc đẩy huyết hành, mạch không được sung đầy, nên mạch vi tế.
Nếu tâm dương suy kiệt rồi đột ngột thoát, dương khí không thể bảo vệ bên ngoài, gây vã mồ hôi lạnh; không thể sưởi ấm tứ chi, khiến tay chân lạnh ngắt.
Tâm dương suy, tông khí đột ngột hao thoát, nên hơi thở yếu. Dương khí thoát ra ngoài, không đủ sức thúc đẩy huyết hành, khiến lạc mạch ứ trệ; huyết không thể nuôi dưỡng da thịt, nên sắc mặt trắng bệch, môi tím xanh.
Tâm thần mất nuôi dưỡng, không còn được giữ vững, khiến ý thức mơ hồ, nặng hơn thì hôn mê.
Phân biệt các chứng
Những biểu hiện chung là hồi hộp, đánh trống ngực, ngực tức, hơi thở ngắn, tăng sau vận động và tự ra mồ hôi.
Tâm khí hư: sắc mặt trắng nhợt hoặc trắng bệch, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hư.
Tâm dương hư: sợ lạnh, tay chân lạnh, đau vùng tim, sắc mặt trắng bệch hoặc tối sạm, lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn ướt, mạch vi tế.
Tâm dương bạo thoát: đột ngột vã mồ hôi lạnh, tứ chi lạnh ngắt, hơi thở yếu, sắc mặt trắng bệch, môi tím xanh, ý thức mơ hồ hoặc hôn mê.
CHỨNG TÂM HUYẾT HƯ VÀ TÂM ÂM HƯ 心血虚与心阴虚证
Tâm huyết hư là chứng hậu do tâm huyết bất túc, không thể nuôi dưỡng tâm. Tâm âm hư là chứng hậu do tâm âm bất túc, không thể nhu dưỡng tâm.
Hai chứng này thường do bệnh kéo dài làm hao tổn âm huyết, mất máu quá nhiều, nguồn sinh âm huyết không đủ, hoặc tình chí không được thỏa nguyện, khí và hỏa uất bên trong, âm thầm làm hao tổn âm huyết.
Biểu hiện lâm sàng
Hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ, nhiều mộng là những triệu chứng chung của tâm huyết hư và tâm âm hư.
Nếu kèm chóng mặt, hay quên, sắc mặt trắng nhợt thiếu vẻ tươi nhuận hoặc vàng úa, môi nhạt, lưỡi nhạt, mạch tế nhược thì thuộc tâm huyết hư.
Nếu kèm ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, đạo hãn, hai gò má đỏ, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác thì thuộc tâm âm hư.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng tâm huyết hư là những triệu chứng thường gặp ở tâm cùng xuất hiện với biểu hiện huyết hư.
Điểm chủ yếu để biện chứng tâm âm hư là những triệu chứng thường gặp ở tâm cùng xuất hiện với biểu hiện âm hư.
Huyết thuộc âm. Tâm âm và tâm huyết bất túc đều khiến tâm mất nuôi dưỡng, đập không yên, gây hồi hộp, đánh trống ngực. Thần không được nhu dưỡng khiến tâm thần bất an, gây mất ngủ, nhiều mộng.
Tuy có liên hệ mật thiết, huyết hư và âm hư vẫn có những đặc điểm khác nhau.
Huyết hư không thể nuôi dưỡng não tủy, gây chóng mặt, hay quên. Huyết không thể nuôi dưỡng phần trên, nên sắc mặt trắng nhợt thiếu vẻ tươi nhuận, môi và lưỡi nhạt. Huyết không đủ làm đầy mạch, nên mạch tế nhược.
Âm hư khiến dương tương đối cang thịnh, hư nhiệt sinh bên trong, gây ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt vào buổi chiều.
Khi ngủ, dương khí nhập vào âm; âm hư, nhiệt hun đốt dinh dịch, khiến mồ hôi thoát ra ngoài mà thành đạo hãn.
Hư nhiệt bốc lên khiến hai gò má đỏ, lưỡi đỏ ít tân dịch. Mạch tế biểu hiện âm hư, mạch sác biểu hiện có nhiệt; tế sác là mạch tượng của âm hư nội nhiệt.
CHỨNG TÂM HỎA CANG THỊNH 心火亢盛证
Tâm hỏa cang thịnh là chứng hậu do tâm hỏa quá thịnh. Ngũ chí hoặc lục dâm hóa hỏa, lao lực, ăn nhiều thức ăn cay nóng, đậm vị đều có thể gây ra chứng này.
Biểu hiện lâm sàng
Trong lòng bứt rứt, dễ giận, ngủ không yên, mặt đỏ, khát nước, nước tiểu vàng, đại tiện khô, đầu lưỡi đỏ sẫm hoặc lưỡi lở loét, mạch sác hữu lực.
Nặng hơn có thể kích động cuồng loạn, nói sảng; hoặc nôn ra máu, chảy máu mũi; hoặc da xuất hiện sang nhọt, sưng đỏ, nóng đau.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là các biểu hiện thực hỏa thịnh bên trong, liên quan đến tâm, lưỡi và huyết mạch.
Tâm hỏa thịnh quấy nhiễu tâm thần, gây trong lòng nóng bứt rứt, ngủ không yên, nặng hơn thì kích động cuồng loạn, nói sảng.
Mặt đỏ, khát nước, nước tiểu vàng, đại tiện khô, mạch sác hữu lực đều là dấu hiệu lý nhiệt.
Tâm khai khiếu ra lưỡi. Tâm hỏa cang thịnh, theo kinh bốc lên, khiến đầu lưỡi đỏ sẫm hoặc lưỡi lở loét.
Tâm hỏa thịnh làm huyết nhiệt, huyết đi sai đường, gây nôn ra máu, chảy máu mũi.
Hỏa độc ứ tắc trong mạch lạc, làm khí huyết tại chỗ không thông, gây sang nhọt ở da, sưng đỏ, nóng đau.
CHỨNG TÂM MẠCH TÝ TRỞ 心脉痹阻证
Tâm mạch tý trở là chứng hậu do các yếu tố gây bệnh làm mạch lạc của tâm bị bế tắc, không thông.
Chứng thường xuất hiện ở người cao tuổi, thể lực suy yếu hoặc bệnh kéo dài làm chính khí hư, từ đó phát sinh huyết ứ, đàm ngưng, hàn trệ hoặc khí uất.
Biểu hiện lâm sàng
Hồi hộp, đánh trống ngực, vùng tim ngực bức bối, đau; đau lan đến vai, lưng và mặt trong cánh tay, lúc phát lúc ngừng.
Nếu đau như kim châm, lưỡi tím sẫm, có ban tím hoặc điểm tím, mạch tế sáp hoặc kết đại thì thuộc huyết ứ trở tâm mạch.
Nếu đau tức rõ, kèm thân thể béo, nhiều đàm, người nặng nề, mệt mỏi, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch trầm hoạt thì thuộc đàm trở tâm mạch.
Nếu đột ngột đau dữ dội, kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, được ấm thì đau giảm, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm khẩn thì thuộc hàn ngưng.
Nếu đau kèm trướng, cơn đau liên quan đến tình chí, lưỡi hồng nhạt, rêu trắng mỏng, mạch huyền thì thuộc khí trệ.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là ngực bức bối, đau, đau lan đến vai, lưng và mặt trong cánh tay, lúc phát lúc ngừng.
Chứng này thường có chính khí hư trước, dương khí bất túc khiến tâm không được ôn dưỡng, nên hồi hộp, đánh trống ngực.
Dương khí bất túc làm huyết vận hành không đủ sức, dễ phát sinh huyết ứ bên trong, đàm trọc đình tụ, âm hàn ngưng trệ hoặc khí cơ bị ngăn trở. Những biến đổi này khiến tâm mạch bế tắc, khí huyết không thông, gây vùng tim ngực bức bối, đau.
Kinh thủ thiếu âm tâm đi từ nách dọc mặt trong cánh tay, vì vậy đau có thể lan đến vai, lưng và mặt trong cánh tay, lúc phát lúc ngừng.
Phân biệt các nguyên nhân gây tâm mạch tý trở
Biểu hiện chung là hồi hộp, đánh trống ngực, vùng tim ngực bức bối, đau, đau lan đến vai, lưng và mặt trong cánh tay, lúc phát lúc ngừng.
Huyết ứ nội trở: đau như kim châm; lưỡi tím sẫm, có ban tím hoặc điểm tím, mạch tế sáp.
Đàm trọc đình tụ: đau tức nổi bật; thân thể béo, nhiều đàm, người nặng nề, mệt mỏi, rêu lưỡi nhớt, mạch trầm hoạt.
Âm hàn ngưng trệ: đột ngột đau dữ dội, được ấm thì giảm; kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm khẩn.
Khí cơ uất trệ: đau trướng, cơn đau liên quan đến yếu tố tinh thần; lưỡi hồng nhạt, rêu trắng mỏng, mạch huyền.
CHỨNG ĐÀM MÊ TÂM KHIẾU 痰迷心窍证
Đàm mê tâm khiếu là chứng hậu do đàm trọc che lấp, bế tắc tâm khiếu. Nguyên nhân thường do thấp trọc kết thành đàm, hoặc tình chí không được thỏa nguyện, khí uất sinh đàm.
Biểu hiện lâm sàng
Sắc mặt tối sạm, vùng thượng vị đầy tức, buồn nôn, ý thức mơ hồ, nói không rõ, trong họng có tiếng đàm; nặng hơn thì hôn mê, không nhận biết người xung quanh. Rêu lưỡi trắng nhớt, mạch hoạt.
Có thể biểu hiện bằng tinh thần uất ức, nét mặt thờ ơ, thần trí trì độn, lẩm bẩm một mình, hành vi bất thường.
Có thể đột ngột ngã xuống, bất tỉnh, miệng sùi đàm dãi, trong họng có tiếng đàm, mắt trợn lên, tay chân co giật, miệng phát ra tiếng kêu bất thường.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là thần trí không tỉnh táo, trong họng có tiếng đàm, rêu lưỡi trắng nhớt.
Ngoại cảm thấp trọc làm trung tiêu bị uất trở, thanh dương không thăng, trọc khí tràn lên, nên sắc mặt tối sạm. Vị mất hòa giáng, vị khí nghịch lên gây vùng thượng vị đầy tức, buồn nôn.
Thấp tà lưu trú không được hóa giải, dần kết thành đàm. Đàm theo khí đi lên gây tiếng đàm trong họng. Đàm che lấp tâm khiếu, làm thần thức bị ngăn trở, nên ý thức mơ hồ, nói không rõ, nặng hơn thì bất tỉnh.
Rêu lưỡi trắng nhớt, mạch hoạt là biểu hiện đàm trọc thịnh bên trong.
Tinh thần uất ức, nét mặt thờ ơ, thần trí trì độn, lẩm bẩm một mình, hành vi bất thường thường do can khí uất kết, khí uất sinh đàm, đàm trọc đi lên che lấp tâm khiếu. Theo phân loại cổ truyền, những biểu hiện này thuộc điên chứng.
Đột ngột ngã xuống, bất tỉnh, miệng sùi đàm dãi, trong họng có tiếng đàm, mắt trợn lên, tay chân co giật, miệng phát ra tiếng kêu bất thường là do chức năng tạng phủ rối loạn, đàm trọc tiềm phục bên trong, từng lúc đàm dãi trào lên. Theo phân loại cổ truyền, những biểu hiện này thuộc giản chứng.
CHỨNG ĐÀM HỎA NHIỄU TÂM 痰火扰心证
Đàm hỏa nhiễu tâm là chứng hậu do đàm hỏa quấy nhiễu tâm thần.
Nguyên nhân thường do ngũ chí hóa hỏa, nung đốt tân dịch thành đàm, khiến đàm hỏa thịnh bên trong; hoặc ngoại cảm tà nhiệt kèm đàm, đi sâu vào tâm bào.
Biểu hiện lâm sàng
Phát sốt, thở mạnh, mặt đỏ, mắt đỏ, đàm vàng đặc, trong họng có tiếng đàm, kích động cuồng loạn, nói sảng. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Có thể thấy mất ngủ, trong lòng bứt rứt, nhiều đàm, ngực tức, chóng mặt, hoa mắt.
Có thể nói năng rối loạn, khóc cười thất thường, hành vi không còn phân biệt người thân hay người lạ, kích động, hành động thiếu kiểm soát, đánh người, phá đồ vật, sức lực biểu hiện mạnh hơn bình thường.
Phân tích chứng hậu
Chứng này có thể gặp trong cả bệnh ngoại cảm và nội thương.
Trong bệnh nhiệt ngoại cảm, điểm chủ yếu để biện chứng là sốt cao, đàm nhiều và thần trí không tỉnh táo.
Trong nội thương tạp bệnh, trường hợp nhẹ lấy mất ngủ, tâm phiền làm điểm chủ yếu; trường hợp nặng lấy thần trí cuồng loạn làm điểm chủ yếu.
Ở bệnh nhiệt ngoại cảm, tà nhiệt bốc mạnh, lan ra da thịt, gây sốt cao. Hỏa bốc lên khiến mặt đỏ, mắt đỏ, thở mạnh. Tà nhiệt nung đốt tân dịch thành đàm, nên đàm vàng đặc, trong họng có tiếng đàm.
Đàm hỏa quấy nhiễu tâm, làm tâm thần mê loạn, gây kích động cuồng loạn, nói sảng. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác đều là dấu hiệu đàm hỏa thịnh bên trong.
Trong bệnh nội thương, đàm hỏa quấy nhiễu tâm gây mất ngủ, tâm phiền. Đàm ngăn trở đường vận hành của khí gây ngực tức, nhiều đàm. Thanh dương bị ngăn trở gây chóng mặt, hoa mắt.
Nếu thần trí cuồng loạn, khí cơ nghịch loạn thì phát thành cuồng chứng, biểu hiện bằng nói năng rối loạn, khóc cười thất thường, hành vi không còn phân biệt người thân hay người lạ, kích động, hành động thiếu kiểm soát, đánh người, phá đồ vật và sức lực biểu hiện mạnh hơn bình thường.
CHỨNG TIỂU TRƯỜNG THỰC NHIỆT 小肠实热证
Tiểu trường thực nhiệt là chứng hậu do lý nhiệt thịnh ở tiểu trường. Nguyên nhân thường do nhiệt ở tâm truyền xuống tiểu trường.
Biểu hiện lâm sàng
Trong lòng bứt rứt, khát nước, miệng lưỡi lở loét, tiểu sẫm màu, tiểu khó hoặc buốt, niệu đạo nóng rát, có thể tiểu ra máu. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là biểu hiện tâm hỏa thịnh cùng với tiểu sẫm màu, tiểu buốt và nóng rát.
Tâm và tiểu trường có quan hệ biểu lý. Tiểu trường có chức năng phân thanh biệt trọc, đưa phần thủy dịch xuống bàng quang.
Tâm nhiệt truyền xuống tiểu trường gây tiểu sẫm màu, tiểu buốt, niệu đạo nóng rát. Nhiệt quá thịnh làm tổn thương các lạc mạch ở bên trong, có thể gây tiểu ra máu.
Tâm hỏa thịnh, nhiệt quấy nhiễu tâm thần, gây tâm phiền. Tân dịch bị nhiệt nung đốt nên khát nước. Tâm hỏa bốc lên gây miệng lưỡi lở loét.
Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác là dấu hiệu lý nhiệt.
Ngoài tiểu trường thực nhiệt, các chứng thường gặp ở tiểu trường còn có tiểu trường hư hàn và tiểu trường khí thống. Hai chứng này được trình bày lần lượt trong phần “Tỳ dương hư” và “Hàn ngưng can mạch”.
Lưu ý lâm sàng: Những biểu hiện đau ngực lan vai hoặc cánh tay, vã mồ hôi lạnh, khó thở, tím môi, bất tỉnh hay co giật cần được cấp cứu ngay; không nên chỉ dựa vào biện chứng cổ truyền để tự xử trí.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN CHỨNG BỆNH TỲ VÀ VỊ 脾与胃病辨证
Tỳ và vị cùng nằm ở trung tiêu, kinh mạch liên hệ với nhau, có quan hệ biểu lý. Tỳ chủ vận hóa thủy cốc, vị chủ thu nạp và làm nhừ thức ăn. Tỳ khí thăng, vị khí giáng, cùng thực hiện việc tiêu hóa, hấp thu và phân bố chất dinh dưỡng, là nguồn sinh hóa khí huyết, là gốc của hậu thiên. Tỳ còn có chức năng thống huyết, chủ tứ chi và cơ nhục.
Bệnh chứng của tỳ vị đều có sự khác nhau về hàn, nhiệt, hư và thực. Bệnh biến của tỳ chủ yếu biểu hiện ở sự rối loạn chức năng vận hóa và thống nhiếp huyết, đồng thời có thể gây thủy thấp đình lưu, thanh dương không thăng. Bệnh biến của vị chủ yếu biểu hiện bằng thức ăn không được tiêu hóa, vị mất hòa giáng, vị khí nghịch lên.
Bệnh ở tỳ thường có bụng trướng, đau bụng, tiêu chảy, đại tiện lỏng, phù và xuất huyết. Bệnh ở vị thường có đau vùng thượng vị, nôn ói, ợ hơi và nấc.
CHỨNG TỲ KHÍ HƯ 脾气虚证
Tỳ khí hư là chứng hậu do tỳ khí bất túc, chức năng vận hóa suy yếu. Nguyên nhân thường do ăn uống thất điều, lao lực quá độ, hoặc các bệnh cấp tính và mạn tính khác làm hao tổn tỳ khí.
Biểu hiện lâm sàng
Ăn ít, bụng trướng, nhất là sau ăn; đại tiện lỏng, tay chân mệt mỏi, hơi thở yếu, ngại nói, sắc mặt vàng úa hoặc trắng nhợt, thân thể gầy sút hoặc phù. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hoãn nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là chức năng vận hóa suy giảm cùng xuất hiện với biểu hiện khí hư.
Tỳ khí suy yếu, vận hóa không đủ sức nên ăn ít. Thủy cốc đình lưu bên trong gây bụng trướng. Sau khi ăn, tỳ phải vận hóa thêm mà sức không đủ, nên bụng trướng rõ hơn. Thủy thấp không được chuyển hóa, đi xuống ruột, khiến đại tiện lỏng.
Tỳ khí bất túc kéo dài có thể làm dinh huyết hao thiếu, hình thành chứng khí huyết lưỡng hư, khiến thân thể dần gầy sút, sắc mặt vàng úa.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hoãn nhược là dấu hiệu tỳ khí suy yếu.
CHỨNG TỲ DƯƠNG HƯ 脾阳虚证
Tỳ dương hư là chứng hậu do tỳ dương suy yếu, âm hàn thịnh bên trong. Chứng thường phát triển từ tỳ khí hư, hoặc do ăn quá nhiều thức ăn sống lạnh, hoặc do thận dương hư, hỏa không sinh thổ.
Biểu hiện lâm sàng
Bụng trướng, ăn ít, đau bụng thích được làm ấm và xoa ấn, sợ lạnh, tay chân lạnh, đại tiện lỏng loãng.
Có thể thấy tứ chi nặng nề, mệt mỏi, hoặc phù toàn thân, tiểu tiện khó; ở phụ nữ có thể có khí hư trắng, loãng, lượng nhiều. Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm trì vô lực.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là chức năng vận hóa của tỳ suy yếu cùng xuất hiện với biểu hiện hàn.
Tỳ dương suy yếu, vận hóa không kiện toàn, nên bụng trướng, ăn ít. Dương khí ở trung tiêu bất túc, hàn ngưng khí trệ, gây đau bụng, thích được làm ấm và xoa ấn.
Dương hư không thể sưởi ấm, nên sợ lạnh, tứ chi không ấm. Thủy thấp không được chuyển hóa, đi xuống ruột, khiến đại tiện lỏng loãng hơn so với tỳ khí hư; nặng hơn có thể đi ngoài ra thức ăn chưa tiêu.
Trung dương không chấn hưng, thủy thấp đình lưu, chức năng khí hóa của bàng quang rối loạn, gây tiểu tiện khó. Thủy thấp tràn ra da thịt khiến tứ chi nặng nề, mệt mỏi, nặng hơn thì phù toàn thân.
Ở phụ nữ, đới mạch không vững, thủy thấp thấm xuống, có thể gây khí hư trắng, loãng, lượng nhiều.
Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm trì vô lực đều là dấu hiệu dương hư, thấp thịnh.
CHỨNG TRUNG KHÍ HẠ HÃM 中气下陷证
Trung khí hạ hãm là chứng hậu do tỳ khí hao thiếu, không đủ sức thăng đề, khiến khí ngược lại sa xuống.
Chứng thường do tỳ khí hư phát triển thêm, hoặc do tiêu chảy, kiết lỵ kéo dài, hoặc lao lực quá độ.
Biểu hiện lâm sàng
Vùng thượng vị và bụng có cảm giác nặng, sa xuống, trướng tức, rõ hơn sau ăn.
Có thể thường xuyên mót đại tiện, hậu môn có cảm giác sa nặng; hoặc kiết lỵ kéo dài không dứt, nặng hơn thì sa trực tràng; hoặc sa tử cung; hoặc nước tiểu đục như nước vo gạo.
Kèm hơi thở yếu, thiếu sức, tứ chi mệt mỏi, tiếng nói nhỏ, ngại nói, chóng mặt, hoa mắt. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là biểu hiện tỳ khí hư cùng với tình trạng nội tạng sa xuống.
Tỳ khí có xu hướng đi lên, giúp thăng phát thanh dương và nâng giữ nội tạng. Khí hư không đủ sức thăng đề, nội tạng thiếu sự nâng giữ, nên vùng thượng vị và bụng có cảm giác nặng, sa xuống, trướng tức. Sau ăn, cảm giác khó chịu càng rõ.
Trung khí hạ hãm gây thường xuyên mót đại tiện, hậu môn sa nặng, hoặc tiêu chảy kéo dài không dứt, sa trực tràng.
Tỳ khí không đủ sức thăng đề có thể gây sa tử cung.
Tỳ chủ phân bố tinh vi. Tỳ hư, khí hãm khiến chất tinh vi không được phân bố bình thường mà theo chiều đi xuống bàng quang, nên nước tiểu đục như nước vo gạo.
Trung khí bất túc làm hoạt động toàn thân suy giảm, gây hơi thở yếu, thiếu sức, tứ chi mệt mỏi, tiếng nói nhỏ, ngại nói. Thanh dương không thăng gây chóng mặt, hoa mắt.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch nhược đều là biểu hiện tỳ khí suy yếu.
CHỨNG TỲ BẤT THỐNG HUYẾT 脾不统血证
Tỳ bất thống huyết là chứng hậu do tỳ khí hao thiếu, không thể thống nhiếp huyết. Nguyên nhân thường do bệnh kéo dài làm tỳ hư, hoặc lao lực làm tổn thương tỳ.
Biểu hiện lâm sàng
Đại tiện ra máu, tiểu ra máu, xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng; ở phụ nữ có thể kinh nguyệt quá nhiều hoặc băng lậu.
Thường kèm ăn ít, đại tiện lỏng, tinh thần mệt mỏi, thiếu sức, hơi thở yếu, ngại nói, sắc mặt thiếu vẻ tươi nhuận, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là biểu hiện tỳ khí hư cùng xuất hiện với xuất huyết.
Tỳ có chức năng thống nhiếp huyết. Tỳ khí hao thiếu, không đủ sức giữ huyết trong mạch, khiến huyết thoát ra ngoài mạch.
Huyết thoát vào vị trường gây đại tiện ra máu; vào bàng quang gây tiểu ra máu; ra phần da thịt gây xuất huyết dưới da; ra lợi gây chảy máu chân răng.
Tỳ hư không thể thống huyết, xung nhâm không vững, khiến phụ nữ có kinh nguyệt quá nhiều, nặng hơn thì băng lậu, tức ra máu âm đạo ồ ạt hoặc kéo dài rỉ rả.
Ăn ít, đại tiện lỏng, tinh thần mệt mỏi, thiếu sức, hơi thở yếu, ngại nói, sắc mặt thiếu vẻ tươi nhuận, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược đều là biểu hiện tỳ khí suy yếu.
PHÂN BIỆT CÁC HƯ CHỨNG Ở TỲ
Những biểu hiện chung thường gặp là bụng trướng, ăn ít, rõ hơn sau ăn, đại tiện lỏng, tứ chi mệt mỏi, hơi thở yếu, ngại nói và sắc mặt vàng úa.
Tỳ khí hư: thân thể có thể phù hoặc gầy sút. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hoãn nhược.
Tỳ dương hư: đau bụng thích được làm ấm và xoa ấn, tay chân lạnh, tiểu ít; có thể tứ chi nặng nề, phù hoặc khí hư loãng. Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm trì vô lực.
Trung khí hạ hãm: vùng thượng vị và bụng sa nặng, trướng tức; thường xuyên mót đại tiện, hậu môn sa nặng; có thể kiết lỵ kéo dài, sa trực tràng, sa tử cung hoặc nước tiểu đục như nước vo gạo. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch nhược.
Tỳ bất thống huyết: đại tiện ra máu, tiểu ra máu, xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng; ở phụ nữ có kinh nguyệt quá nhiều hoặc băng lậu. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược.
CHỨNG HÀN THẤP KHỐN TỲ 寒湿困脾证
Hàn thấp khốn tỳ là chứng hậu do hàn thấp thịnh bên trong, làm dương khí ở trung tiêu bị khốn trở.
Nguyên nhân thường do ăn uống không điều độ, ăn quá nhiều thức ăn sống lạnh, dầm mưa, lội nước, sống ở nơi ẩm thấp hoặc vốn có nội thấp thịnh.
Biểu hiện lâm sàng
Vùng thượng vị và bụng đầy tức, trướng đau, ăn ít, đại tiện lỏng, buồn nôn muốn ói, miệng nhạt, không khát, đầu và thân thể nặng nề, mệt mỏi, sắc mặt vàng tối.
Có thể da, mặt và mắt vàng, màu vàng tối như bị khói hun; hoặc tứ chi phù, tiểu ít. Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng nhớt, mạch nhu hoãn.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là chức năng vận hóa của tỳ bị rối loạn cùng với biểu hiện hàn thấp ngăn trở trung tiêu.
Hàn thấp xâm nhập bên trong, trung dương bị khốn, tỳ khí bị ngăn trở, vận hóa rối loạn, gây vùng thượng vị và bụng đầy tức, trướng đau, ăn kém.
Thấp đi xuống ruột gây đại tiện lỏng. Vị mất hòa giáng khiến buồn nôn muốn ói.
Hàn thấp thuộc âm tà, không làm hao tân dịch như nhiệt tà, nên miệng nhạt, không khát. Hàn thấp đình trệ ở kinh mạch khiến đầu và thân thể nặng nề, mệt mỏi.
Thấp trở khí trệ, khí huyết không thể nuôi dưỡng bên ngoài, nên sắc mặt vàng tối.
Tỳ bị hàn thấp khốn trở, dương khí không thể tuyên thông, dịch mật theo đó tràn ra ngoài, khiến da, mặt và mắt vàng, màu vàng tối như bị khói hun.
Thấp tràn ra da thịt có thể gây tứ chi phù. Chức năng khí hóa của bàng quang rối loạn gây tiểu ít.
Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng nhớt, mạch nhu hoãn đều là biểu hiện hàn thấp thịnh bên trong.
CHỨNG THẤP NHIỆT UẨN TỲ 湿热蕴脾证
Thấp nhiệt uẩn tỳ là chứng hậu do thấp nhiệt uẩn kết ở trung tiêu.
Nguyên nhân thường do cảm nhiễm thấp nhiệt bên ngoài, hoặc ăn quá nhiều thức ăn béo ngọt, uống nhiều rượu, dùng nhiều thức ăn từ sữa, làm sinh thấp rồi hóa nhiệt.
Biểu hiện lâm sàng
Vùng thượng vị và bụng đầy tức, ăn kém, buồn nôn, đại tiện lỏng, nước tiểu vàng, tứ chi nặng nề, mệt mỏi.
Có thể mặt, mắt và da vàng, màu vàng tươi như quả quýt, da ngứa; hoặc thân nhiệt tăng giảm từng lúc, ra mồ hôi nhưng nóng sốt không giảm. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch nhu sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là chức năng vận hóa của tỳ bị rối loạn cùng với các triệu chứng thấp nhiệt ngăn trở bên trong.
Thấp nhiệt uẩn kết ở tỳ vị khiến chức năng thu nạp, vận hóa và thăng giáng rối loạn, gây vùng thượng vị và bụng đầy tức, ăn kém, buồn nôn.
Tỳ bị thấp khốn trở nên tứ chi nặng nề, mệt mỏi. Thấp nhiệt kết lại, dồn xuống dưới, gây đại tiện lỏng, tiểu ít và sẫm màu.
Thấp nhiệt uẩn bên trong, hun đốt can đởm, khiến dịch mật không đi theo đường bình thường mà tràn ra da thịt, gây da ngứa, mặt, mắt và da vàng, màu vàng tươi như quả quýt.
Thấp ngăn trở, nhiệt tiềm phục trong thấp; thấp nhiệt uất lại, hun đốt bên trong, khiến nóng sốt tăng giảm từng lúc, ra mồ hôi nhưng sốt không giảm.
Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch nhu sác đều là dấu hiệu thấp nhiệt thịnh bên trong.
CHỨNG VỊ ÂM HƯ 胃阴虚证
Vị âm hư là chứng hậu do vị âm bất túc.
Nguyên nhân thường do bệnh ở vị kéo dài không khỏi; hoặc vào giai đoạn cuối của bệnh nhiệt, âm dịch chưa phục hồi; hoặc thường ăn thức ăn cay nóng; hoặc tình chí không được thỏa nguyện, khí uất hóa hỏa, làm hao tổn vị âm.
Biểu hiện lâm sàng
Vùng thượng vị đau âm ỉ, có cảm giác đói nhưng không muốn ăn, miệng họng khô, đại tiện khô kết.
Có thể vùng thượng vị đầy tức, khó chịu, hoặc nôn khan, nấc. Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là những triệu chứng thường gặp của bệnh ở vị cùng xuất hiện với biểu hiện âm hư.
Vị âm bất túc khiến vị dương tương đối cang thịnh, hư nhiệt sinh bên trong. Nhiệt uất ở vị, vị khí không hòa, gây vùng thượng vị đau âm ỉ, cảm giác đói nhưng không muốn ăn.
Vị âm hao thiếu, phía trên không thể làm nhuận miệng họng, nên miệng họng khô; phía dưới không thể làm nhuận đại trường, nên đại tiện khô kết.
Vị thiếu âm dịch nhu dưỡng, vị khí không hòa, gây vùng thượng vị đầy tức, khó chịu. Âm hư, nhiệt quấy nhiễu làm vị khí nghịch lên, gây nôn khan, nấc.
Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác là biểu hiện âm hư nội nhiệt.
CHỨNG THỰC TRỆ VỊ QUẢN 食滞胃脘证
Thực trệ vị quản là chứng hậu do thức ăn đình trệ ở vị, không được tiêu hóa.
Nguyên nhân thường do ăn uống không điều độ, ăn uống quá mức, hoặc tỳ vị vốn suy yếu, chức năng vận hóa không kiện toàn.
Biểu hiện lâm sàng
Vùng thượng vị trướng tức, đau, ợ hơi, ợ chua hoặc nôn ra thức ăn có mùi chua ôi. Sau nôn, trướng đau giảm.
Có thể trung tiện nhiều, đại tiện lỏng, phân có mùi chua, ôi, hôi khó chịu. Rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là vùng thượng vị trướng tức, đau, ợ mùi thức ăn ôi và ợ chua.
Vị khí lấy giáng làm thuận. Thức ăn đình trệ ở vị khiến vị khí uất trệ, gây vùng thượng vị trướng tức, đau.
Vị mất hòa giáng, khí nghịch lên, gây ợ hơi, ợ chua hoặc nôn ra thức ăn chua ôi. Sau nôn, phần thực tích được tống ra, vị khí thông thuận hơn, nên trướng đau giảm.
Thức ăn tích trệ chuyển xuống ruột có thể gây trung tiện nhiều, mùi như trứng thối; đại tiện lỏng, phân chua ôi, hôi khó chịu.
Rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt là dấu hiệu thực trọc tích tụ bên trong.
CHỨNG VỊ HÀN 胃寒证
Vị hàn là chứng hậu do âm hàn ngưng trệ ở vị.
Nguyên nhân thường do vùng bụng bị lạnh, ăn quá nhiều thức ăn sống lạnh, hoặc lao lực làm tổn thương trung tiêu rồi lại cảm nhiễm hàn tà.
Biểu hiện lâm sàng
Vùng thượng vị lạnh đau; nhẹ thì đau dai dẳng, nặng thì co thắt, đau dữ dội. Gặp lạnh đau tăng, được ấm đau giảm.
Miệng nhạt, không khát, ứa nước trong lên miệng; có thể buồn nôn, nôn ói hoặc kèm tiếng nước óc ách trong vị. Rêu lưỡi trắng trơn ướt, mạch huyền hoặc trì.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là đau vùng thượng vị cùng xuất hiện với các biểu hiện hàn.
Hàn tà ở vị làm vị dương bị khốn trở, gây vùng thượng vị lạnh đau. Gặp lạnh, hàn tà càng thịnh; được ấm, hàn khí được giải tán, nên đau tăng khi gặp lạnh và giảm khi được ấm.
Vị khí hư hàn không đủ sức ôn hóa, khiến thủy dịch đình lưu thành thủy ẩm. Ẩm đình lưu ở vị có thể gây tiếng nước óc ách khi lay động vùng bụng.
Thủy ẩm không được chuyển hóa, theo vị khí nghịch lên, gây ứa nước trong lên miệng, buồn nôn hoặc nôn ói; đồng thời có miệng nhạt, không khát.
Rêu lưỡi trắng trơn ướt, mạch huyền hoặc trì là biểu hiện hàn ẩm bên trong.
CHỨNG VỊ NHIỆT 胃热证
Vị nhiệt là chứng hậu do vị hỏa thịnh bên trong.
Nguyên nhân thường do thường xuyên ăn thức ăn cay nóng, béo ngậy, làm sinh nhiệt hóa hỏa; hoặc tình chí không được thỏa nguyện, khí uất hóa hỏa; hoặc nhiệt tà xâm nhập bên trong.
Biểu hiện lâm sàng
Vùng thượng vị nóng rát, đau, ợ chua, cảm giác cồn cào khó chịu; có thể vừa ăn vào đã nôn.
Khát, thích uống lạnh, mau tiêu, chóng đói; có thể lợi sưng đau, chảy máu chân răng, hơi thở hôi. Đại tiện táo bón, tiểu ít và sẫm màu. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là những triệu chứng thường gặp của bệnh ở vị cùng xuất hiện với biểu hiện nhiệt.
Nhiệt thịnh ở vị làm vị khí không thông, gây vùng thượng vị nóng rát, đau.
Uất hỏa ở can hoành nghịch phạm vị gây ợ chua, cồn cào, nôn ói hoặc vừa ăn vào đã nôn.
Vị nhiệt thịnh làm hao tổn tân dịch, nên khát, thích uống lạnh. Chức năng tiêu hóa biểu hiện cang tiến, nên mau tiêu, chóng đói.
Kinh vị liên hệ với lợi. Vị hỏa theo kinh bốc lên, làm khí huyết ứ trệ, gây lợi sưng đau và hơi thở hôi. Huyết lạc bị tổn thương, huyết nhiệt khiến huyết đi sai đường, gây chảy máu chân răng.
Nhiệt thịnh làm hao tổn tân dịch, nên đại tiện táo bón, tiểu ít và sẫm màu.
Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác là dấu hiệu vị nhiệt thịnh bên trong.
PHÂN BIỆT HÀN, NHIỆT, HƯ VÀ THỰC TRONG BỆNH Ở VỊ
Vị hàn: đau có tính chất lạnh, có thể nôn ra nước trong; miệng nhạt, không khát, đại tiện lỏng. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm trì.
Vị nhiệt: đau nóng rát, có thể nôn ói; khát, thích uống lạnh, đại tiện táo bón. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Vị âm hư: đau âm ỉ, có thể nôn khan; miệng họng khô, đại tiện khô kết. Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Thực trệ vị quản: đau trướng, nôn ra thức ăn chua ôi; trong miệng có vị chua và mùi thức ăn ôi, phân có mùi chua hôi. Rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN CHỨNG BỆNH PHẾ VÀ ĐẠI TRƯỜNG 肺与大肠病辨证
Phế nằm trong lồng ngực, kinh mạch đi xuống liên hệ với đại trường, có quan hệ biểu lý với đại trường. Phế chủ khí, đảm nhiệm hô hấp, chủ tuyên phát và túc giáng, thông điều thủy đạo, bên ngoài hợp với da lông, khai khiếu ra mũi. Đại trường chủ truyền đạo, bài tiết chất cặn bã.
Bệnh chứng của phế có hư và thực. Hư chứng thường gặp là khí hư và âm hư. Thực chứng thường do phong, hàn, táo, nhiệt xâm nhập hoặc đàm thấp ngăn trở phế. Bệnh chứng của đại trường có thể do thấp nhiệt xâm nhập, tân dịch bất túc hoặc dương khí suy yếu.
Bệnh biến của phế chủ yếu biểu hiện ở sự rối loạn tuyên phát, túc giáng, khiến phế khí nghịch lên; hoặc tấu lý không vững và sự chuyển hóa thủy dịch bị trở ngại. Trên lâm sàng thường xuất hiện ho, khó thở, đau ngực, ho ra máu.
Bệnh biến của đại trường chủ yếu là chức năng truyền đạo rối loạn, biểu hiện bằng táo bón hoặc tiêu chảy.
CHỨNG PHẾ KHÍ HƯ 肺气虚证
Phế khí hư là chứng hậu do phế khí bất túc, vệ biểu không vững. Nguyên nhân thường do ho, khó thở kéo dài hoặc nguồn sinh hóa khí không đủ.
Biểu hiện lâm sàng
Ho yếu, thở yếu, hơi thở ngắn, cảm giác không đủ hơi, tăng khi vận động; thân thể mệt mỏi, ngại nói, tiếng nói nhỏ yếu, đàm nhiều và loãng, sắc mặt trắng nhợt.
Có thể tự ra mồ hôi, sợ gió, dễ bị cảm. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hư nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là ho và thở yếu, hơi thở ngắn, cảm giác không đủ hơi, cùng với sự suy giảm hoạt động toàn thân.
Phế chủ khí, đảm nhiệm hô hấp. Phế khí bất túc khiến ho yếu, khó thở, hơi thở ngắn. Vận động làm hao khí, nên khó thở tăng sau vận động.
Phế khí hư khiến thân thể mệt mỏi, ngại nói, tiếng nói nhỏ yếu. Phế không đủ sức phân bố tân dịch, thủy dịch tụ lại thành đàm, nên đàm nhiều và loãng.
Sắc mặt trắng nhợt là biểu hiện thường gặp của khí hư.
Phế khí hư, không thể tuyên phát vệ khí ra phần cơ biểu, tấu lý không vững, nên tự ra mồ hôi, sợ gió và dễ bị cảm.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hư nhược là dấu hiệu khí hư.
CHỨNG PHẾ ÂM HƯ 肺阴虚证
Phế âm hư là chứng hậu do phế âm bất túc, hư nhiệt sinh bên trong.
Nguyên nhân thường do ho kéo dài làm tổn thương âm, bệnh lao làm tổn thương phế — cổ thư gọi là “lao trùng phạm phế” — hoặc vào giai đoạn cuối của bệnh nhiệt, âm dịch và tân dịch bị hao tổn.
Biểu hiện lâm sàng
Ho khan không đàm hoặc đàm ít, dính, miệng họng khô, thân thể gầy sút, triều nhiệt vào buổi chiều, ngũ tâm phiền nhiệt, đạo hãn, gò má đỏ.
Nặng hơn có thể đàm lẫn máu, tiếng nói khàn. Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là các triệu chứng thường gặp của bệnh ở phế cùng xuất hiện với biểu hiện âm hư nội nhiệt.
Phế âm bất túc, hư hỏa sinh bên trong, nung đốt tân dịch thành đàm đặc dính, khó khạc ra, nên ho khan không đàm hoặc đàm ít mà dính.
Âm dịch bất túc, phía trên không thể làm nhuận miệng họng, nên miệng họng khô; bên ngoài không thể nuôi dưỡng cơ nhục, nên thân thể gầy sút.
Hư nhiệt thịnh bên trong gây triều nhiệt vào buổi chiều, ngũ tâm phiền nhiệt. Nhiệt quấy nhiễu dinh âm gây đạo hãn. Hư nhiệt bốc lên khiến gò má đỏ.
Phế lạc bị nhiệt nung đốt, tổn thương khiến huyết thoát ra, nên đàm lẫn máu. Họng thiếu tân dịch làm nhuận khiến tiếng nói khàn.
Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác đều là biểu hiện âm hư nội nhiệt.
CHỨNG PHONG HÀN PHẠM PHẾ 风寒犯肺证
Phong hàn phạm phế là chứng hậu do phong hàn xâm nhập từ bên ngoài, khiến chức năng tuyên phát của phế và vệ khí bị rối loạn.
Biểu hiện lâm sàng
Ho, đàm loãng màu trắng, nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, hơi sợ lạnh, sốt nhẹ, không có mồ hôi. Rêu lưỡi trắng, mạch phù khẩn.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là ho cùng xuất hiện với biểu chứng phong hàn.
Phong hàn xâm nhập, phế khí bị bó buộc, không thể tuyên phát, nghịch lên gây ho. Hàn thuộc âm tà, nên đàm loãng và trắng.
Phế khí mất tuyên phát, mũi không được thông thoáng, gây nghẹt mũi, chảy nước mũi trong.
Tà xâm nhập phế vệ, vệ khí bị uất trở gây sợ lạnh; chính khí chống tà gây phát sốt; lỗ chân lông bị bế kín nên không có mồ hôi.
Rêu lưỡi trắng, mạch phù khẩn là dấu hiệu cảm nhiễm phong hàn.
CHỨNG PHONG NHIỆT PHẠM PHẾ 风热犯肺证
Phong nhiệt phạm phế là chứng hậu do phong nhiệt xâm phạm hệ phế, khiến phế và vệ khí bị bệnh.
Biểu hiện lâm sàng
Ho, đàm đặc màu vàng, nghẹt mũi, chảy nước mũi vàng đục, phát sốt, hơi sợ gió lạnh, miệng khô, họng đau. Đầu lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch phù sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là ho cùng xuất hiện với biểu chứng phong nhiệt.
Phong nhiệt xâm phạm phế, làm phế mất thanh túc, gây ho. Nhiệt tà nung đốt tân dịch khiến đàm đặc, màu vàng.
Phế khí mất tuyên phát, tân dịch ở mũi bị phong nhiệt hun đốt, gây nghẹt mũi, chảy nước mũi vàng đục.
Phế vệ bị tà xâm phạm, vệ khí chống tà gây phát sốt; vệ khí bị uất trở nên sợ gió lạnh. Phong nhiệt quấy nhiễu phía trên, tân dịch bị hao tổn, gây miệng khô, họng đau.
Đầu lưỡi phản ánh bệnh biến ở thượng tiêu. Phế bị phong nhiệt xâm phạm nên đầu lưỡi đỏ. Rêu vàng mỏng, mạch phù sác đều là dấu hiệu phong nhiệt.
CHỨNG TÁO TÀ PHẠM PHẾ 燥邪犯肺证
Táo tà phạm phế là chứng hậu do táo tà, thường gặp vào mùa thu, xâm phạm phế vệ và làm hao tổn tân dịch.
Biểu hiện lâm sàng
Ho khan không đàm hoặc đàm ít, dính, khó khạc ra. Môi, lưỡi, họng và mũi khô, thiếu nhuận.
Có thể phát sốt, sợ lạnh hoặc đau ngực, ho ra máu. Lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc vàng, mạch sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là các triệu chứng ở hệ phế có tính chất khô táo, ít tân dịch.
Táo tà phạm phế làm tổn thương tân dịch, phế không được nhuận dưỡng, mất thanh túc, nên ho khan không đàm hoặc đàm ít, dính, khó khạc ra.
Tân dịch hao tổn khiến đường hô hấp thiếu nhuận, nên môi, lưỡi, họng và mũi đều khô.
Táo tà xâm phạm, phế vệ mất tuyên phát, có thể gây phát sốt, sợ lạnh.
Nếu táo tà hóa hỏa, nung đốt và làm tổn thương phế lạc, có thể gây đau ngực, ho ra máu.
Táo tà làm hao tân dịch nên lưỡi đỏ. Rêu lưỡi có thể trắng hoặc vàng tùy tính chất hàn nhiệt đi kèm. Mạch sác biểu hiện táo nhiệt.
PHÂN BIỆT PHONG NHIỆT PHẠM PHẾ VÀ TÁO TÀ PHẠM PHẾ
Phong nhiệt phạm phế: theo đoạn tham khảo, thường gặp vào mùa đông và mùa xuân. Triệu chứng chủ yếu là ho, đàm đặc màu vàng. Kèm nghẹt mũi, chảy nước mũi vàng đục, phát sốt, sợ gió, miệng khô, họng đau. Đầu lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch phù sác.
Táo tà phạm phế: thường gặp vào mùa thu. Triệu chứng chủ yếu là ho khan, đàm ít và dính, môi, lưỡi, họng và mũi khô. Có thể kèm sợ lạnh, phát sốt. Lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc vàng, mạch sác.
CHỨNG ĐÀM THẤP TRỞ PHẾ 痰湿阻肺证
Đàm thấp trở phế là chứng hậu do đàm thấp ngăn trở hệ phế.
Nguyên nhân thường do tỳ khí hao thiếu, ho kéo dài làm tổn thương phế hoặc cảm nhiễm hàn thấp và các tà khí khác.
Biểu hiện lâm sàng
Ho, đàm nhiều, dính, màu trắng, dễ khạc; ngực tức, nặng hơn thì khó thở, có tiếng đàm khò khè. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch hoạt.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là ho, đàm nhiều, dính, màu trắng và dễ khạc.
Tỳ khí hao thiếu, chức năng phân bố thủy dịch rối loạn, thủy thấp ngưng tụ thành đàm rồi lưu đọng ở phế.
Hoặc hàn thấp từ bên ngoài xâm phạm phế, làm chức năng tuyên phát, túc giáng rối loạn, phế không thể phân bố tân dịch. Thủy dịch đình tụ thành đàm thấp, ngăn trở phế, khiến phế khí nghịch lên, gây ho nhiều đàm. Đàm dính, màu trắng, dễ khạc.
Đàm thấp ngăn trở đường khí, phế khí không thông, gây ngực tức; nặng hơn thì khó thở, có tiếng đàm khò khè.
Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch hoạt là dấu hiệu đàm thấp ngăn trở bên trong.
PHÂN BIỆT PHONG HÀN PHẠM PHẾ VÀ ĐÀM THẤP TRỞ PHẾ
Phong hàn phạm phế: thuộc thực chứng. Triệu chứng chủ yếu là ho, đàm loãng màu trắng. Kèm nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, sợ lạnh, phát sốt, không có mồ hôi. Rêu lưỡi trắng, mạch phù khẩn.
Đàm thấp trở phế: đợt cấp do ngoại cảm có thể thuộc thực chứng; trường hợp mạn tính thường thuộc bản hư tiêu thực, tức gốc hư, ngọn thực. Triệu chứng chủ yếu là ho, đàm nhiều, dính, trắng, dễ khạc. Kèm ngực tức, nặng hơn thì khó thở, có tiếng đàm khò khè. Lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch hoạt.
CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG THẤP NHIỆT 大肠湿热证
Đại trường thấp nhiệt là chứng hậu do thấp nhiệt xâm phạm đại trường. Nguyên nhân thường do cảm nhiễm thấp nhiệt bên ngoài hoặc ăn uống không điều độ.
Biểu hiện lâm sàng
Đau bụng, đi lỵ có mủ máu, lý cấp hậu trọng; hoặc tiêu chảy đột ngột, dữ dội, phân nước màu vàng, hôi.
Kèm hậu môn nóng rát, tiểu ít và sẫm màu, phát sốt, khát nước. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác hoặc nhu sác.
Lý cấp hậu trọng là bụng đau quặn, mót đi ngoài gấp, nhưng đi xong vẫn còn cảm giác mót và nặng tức ở hậu môn.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là đau bụng, số lần đại tiện tăng, đi lỵ có mủ máu hoặc tiêu chảy phân nước màu vàng.
Thấp nhiệt ở ruột ngăn trở khí cơ, gây đau bụng, lý cấp hậu trọng. Thấp nhiệt uẩn kết ở đại trường làm tổn thương khí huyết, gây tình trạng mủ máu trong phân.
Thấp nhiệt dồn xuống dưới gây tiêu chảy đột ngột, dữ dội và hậu môn nóng rát.
Nhiệt tà tích bên trong, tiêu chảy do thấp làm hao tân dịch, nên phát sốt, khát nước, tiểu ít và sẫm màu.
Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt là dấu hiệu thấp nhiệt. Trong chứng thấp nhiệt có sự khác nhau về mức độ thấp và nhiệt: thấp nặng hơn nhiệt thường thấy mạch nhu sác; nhiệt nặng hơn thấp thường thấy mạch hoạt sác.
CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG DỊCH KHUY 大肠液亏证
Đại trường dịch khuy là chứng hậu do tân dịch bất túc, không thể làm nhuận đại trường.
Nguyên nhân thường do thể chất vốn âm hư, bệnh kéo dài làm tổn thương âm, tân dịch hao tổn sau bệnh nhiệt chưa phục hồi, hoặc phụ nữ mất máu nhiều sau sinh.
Biểu hiện lâm sàng
Đại tiện táo bón, phân khô, khó tống ra, thường vài ngày mới đi một lần; miệng họng khô. Có thể kèm hơi thở hôi, chóng mặt. Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sáp.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là phân khô, khó tống ra.
Tân dịch ở đại trường hao thiếu, đường ruột không được làm nhuận, chức năng truyền đạo không thuận, nên đại tiện táo bón, phân khô, khó tống ra, có thể vài ngày mới đi một lần.
Âm dịch hao tổn bên trong, miệng họng thiếu nhuận, gây miệng khô, họng khô.
Đại tiện lâu ngày không thông, trọc khí không được bài xuất xuống dưới mà nghịch lên, gây hơi thở hôi, chóng mặt.
Âm hao tổn khiến dương tương đối cang thịnh, nên lưỡi đỏ ít tân dịch. Tân dịch hao thiếu, mạch không được sung đầy, nên mạch tế sáp.
CHỨNG TRƯỜNG HƯ HOẠT TIẾT 肠虚滑泄证
Trường hư hoạt tiết là chứng hậu do dương khí của đại trường suy yếu, không thể cố nhiếp, khiến đại tiện lỏng kéo dài hoặc không tự chủ.
Nguyên nhân thường do tiêu chảy, kiết lỵ kéo dài không khỏi.
Biểu hiện lâm sàng
Tiêu chảy liên tục, không kiểm soát, hoặc đại tiện không tự chủ, nặng hơn thì sa trực tràng.
Đau bụng âm ỉ, thích được xoa ấn và làm ấm. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn ướt, mạch nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là đại tiện không tự chủ.
Tiêu chảy làm tổn thương dương. Tiêu chảy hoặc kiết lỵ kéo dài khiến dương khí suy yếu, đại trường mất chức năng cố nhiếp, nên đại tiện lỏng không dứt, nặng hơn thì đại tiện không tự chủ hoặc sa trực tràng.
Dương khí của đại trường suy yếu khiến âm hàn tương đối thịnh, hàn sinh bên trong, hàn ngưng khí trệ, gây đau bụng âm ỉ, thích được xoa ấn và làm ấm.
Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn ướt, mạch nhược đều là biểu hiện dương hư, âm hàn thịnh.
PHÂN BIỆT CÁC CHỨNG BỆNH Ở ĐẠI TRƯỜNG
Đại trường thấp nhiệt: triệu chứng chủ yếu là đi lỵ có mủ máu hoặc tiêu chảy phân nước màu vàng. Kèm đau bụng, lý cấp hậu trọng, hậu môn nóng rát, phát sốt, khát nước, tiểu ít và sẫm màu. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác hoặc nhu sác.
Đại trường dịch khuy: triệu chứng chủ yếu là đại tiện táo bón, khó đi, vài ngày mới đi một lần. Kèm miệng họng khô, có thể hơi thở hôi, chóng mặt. Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sáp.
Trường hư hoạt tiết: triệu chứng chủ yếu là tiêu chảy không dứt, đại tiện không tự chủ hoặc sa trực tràng. Kèm đau bụng âm ỉ, thích được xoa ấn và làm ấm. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn ướt, mạch nhược.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN CHỨNG BỆNH THẬN VÀ BÀNG QUANG 肾与膀胱病辨证
Thận có hai bên trái và phải, nằm ở vùng thắt lưng. Kinh mạch của thận và bàng quang liên hệ với nhau, vì vậy hai tạng phủ này có quan hệ biểu lý.
Thận tàng tinh, chủ sinh dục, là gốc của tiên thiên; chủ cốt, sinh tủy, làm đầy não; về hình thể ứng với xương, khai khiếu ra tai, vẻ tươi nhuận biểu hiện ở tóc. Thận còn chủ thủy và có chức năng nạp khí. Bàng quang có chức năng chứa và bài tiết nước tiểu.
Thận chứa nguyên âm và nguyên dương, là gốc của sự sinh trưởng, phát triển và là nền tảng hoạt động của tạng phủ. Khi thận bị hao tổn, các tạng khác đều có thể bị ảnh hưởng, vì vậy bệnh ở thận phần nhiều thuộc hư chứng. Bệnh ở bàng quang thường gặp thấp nhiệt.
Bệnh biến của thận chủ yếu biểu hiện ở sự bất thường về sinh trưởng, phát triển, chức năng sinh dục và chuyển hóa thủy dịch. Những triệu chứng thường gặp gồm thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu, đau; ù tai, điếc tai; tóc bạc sớm, rụng sớm; răng lung lay; liệt dương, di tinh; tinh ít, khó có con; phụ nữ kinh ít, bế kinh; cùng với phù và rối loạn đại tiểu tiện.
Bệnh biến của bàng quang chủ yếu biểu hiện bằng tiểu tiện bất thường và thay đổi tính chất nước tiểu. Thường gặp tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu đau, bí tiểu, đái dầm và tiểu không tự chủ.
CHỨNG THẬN DƯƠNG HƯ 肾阳虚证
Thận dương hư là chứng hậu do dương khí của thận suy yếu.
Nguyên nhân thường do thể chất vốn dương hư, tuổi cao làm thận suy, bệnh kéo dài làm tổn thương thận hoặc phòng lao quá độ.
Biểu hiện lâm sàng
Thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu, đau; sợ lạnh, tay chân lạnh, nhất là hai chân; tinh thần uể oải, sắc mặt trắng bệch hoặc đen sạm. Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng, mạch trầm nhược.
Nam giới có thể liệt dương; phụ nữ có thể cung hàn, khó có thai.
Có thể tiêu chảy kéo dài không dứt, đi ngoài ra thức ăn chưa tiêu hoặc tiêu chảy lúc gần sáng.
Có thể phù, rõ hơn ở phần dưới thắt lưng, ấn vào để lại vết lõm. Nặng hơn thì bụng trướng đầy, phù toàn thân, hồi hộp, ho, khó thở.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là hoạt động toàn thân suy giảm cùng xuất hiện với các biểu hiện hàn.
Thắt lưng là phủ của thận, thận chủ cốt. Thận dương suy yếu, không thể ôn dưỡng vùng thắt lưng và xương, gây thắt lưng, đầu gối ê mỏi, yếu, đau. Không thể sưởi ấm da thịt nên sợ lạnh, tay chân lạnh.
Dương khí bất túc, âm hàn thịnh ở phần dưới, nên hai chân lạnh rõ hơn.
Dương hư không thể ôn dưỡng cơ thể và làm tinh thần phấn chấn, nên tinh thần uể oải, sắc mặt trắng bệch. Thận dương hư nặng, trọc âm lan ra da thịt, có thể khiến sắc mặt đen sạm.
Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng, mạch trầm nhược đều là biểu hiện thận dương suy yếu.
Thận chủ sinh dục. Thận dương bất túc, mệnh môn hỏa suy, chức năng sinh dục suy giảm, khiến nam giới liệt dương, phụ nữ cung hàn, khó có thai.
Mệnh môn hỏa suy, hỏa không sinh thổ, tỳ mất kiện vận, gây tiêu chảy kéo dài, đi ngoài ra thức ăn chưa tiêu hoặc ngũ canh tiết tả, tức tiêu chảy lúc gần sáng.
Thận dương bất túc làm chức năng khí hóa của bàng quang rối loạn, thủy dịch đình lưu bên trong rồi tràn ra da thịt, gây phù.
Thủy thấp có xu hướng đi xuống, thận nằm ở hạ tiêu, nên phần dưới thắt lưng phù rõ hơn, ấn vào để lại vết lõm.
Thủy dịch tràn lan, ngăn trở khí cơ, gây bụng trướng đầy. Thủy khí nghịch lên, lấn át tâm và ảnh hưởng đến phế, gây hồi hộp, ho, khó thở.
CHỨNG THẬN ÂM HƯ 肾阴虚证
Thận âm hư là chứng hậu do âm dịch của thận bất túc.
Nguyên nhân thường do bệnh kéo dài làm tổn thương thận, bẩm phú bất túc, sinh hoạt tình dục quá độ hoặc dùng quá nhiều thuốc có tính ôn táo, làm hao tổn âm dịch.
Biểu hiện lâm sàng
Thắt lưng và đầu gối ê mỏi, đau; chóng mặt, ù tai, mất ngủ, nhiều mộng.
Nam giới có thể di tinh, xuất tinh sớm; phụ nữ kinh ít, bế kinh hoặc băng lậu.
Thân thể gầy sút, triều nhiệt, đạo hãn, ngũ tâm phiền nhiệt, họng khô, gò má đỏ, nước tiểu vàng, đại tiện khô. Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là những triệu chứng chính của bệnh ở thận cùng xuất hiện với biểu hiện âm hư nội nhiệt.
Thận âm bất túc, tủy hải hao thiếu, xương không được nuôi dưỡng, gây thắt lưng và đầu gối ê mỏi, đau, chóng mặt, ù tai.
Thận thủy hao thiếu, thủy hỏa không tương tế, khiến tâm hỏa tương đối cang thịnh, tâm thần không yên, gây mất ngủ, nhiều mộng.
Âm hư, tướng hỏa vọng động, quấy nhiễu tinh thất, gây di tinh, xuất tinh sớm.
Ở phụ nữ, huyết là cơ sở quan trọng của kinh nguyệt. Âm hao thiếu làm nguồn sinh kinh huyết không đủ, nên kinh ít, thậm chí bế kinh. Âm hư khiến dương tương đối cang thịnh, hư nhiệt bức huyết, có thể gây băng lậu.
Thận âm hao thiếu, hư nhiệt sinh bên trong, gây thân thể gầy sút, triều nhiệt, đạo hãn, ngũ tâm phiền nhiệt, họng khô, gò má đỏ, nước tiểu vàng, đại tiện khô, lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
CHỨNG THẬN TINH BẤT TÚC 肾精不足证
Thận tinh bất túc là chứng hậu do thận tinh hao tổn.
Nguyên nhân thường do bẩm phú bất túc, sự phát triển tiên thiên không đầy đủ, điều dưỡng hậu thiên không thích hợp, phòng lao quá độ hoặc bệnh kéo dài làm tổn thương thận.
Biểu hiện lâm sàng
Nam giới tinh ít, khó có con; phụ nữ bế kinh, khó có thai; chức năng sinh dục suy giảm.
Trẻ em phát triển chậm, vóc người thấp nhỏ, trí tuệ và vận động chậm, thóp chậm kín, xương yếu mềm.
Người trưởng thành có thể lão hóa sớm, tóc rụng, răng lung lay, ù tai, điếc tai, hay quên, tinh thần lơ đãng, động tác chậm, chân yếu, thiếu sức, thần trí trì độn.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là sinh trưởng, phát triển chậm, chức năng sinh dục suy giảm hoặc người trưởng thành có biểu hiện lão hóa sớm.
Thận tinh chủ sinh dục. Thận tinh hao thiếu làm chức năng sinh dục suy giảm, khiến nam giới tinh ít, khó có con; phụ nữ bế kinh, khó có thai.
Thận là gốc của tiên thiên. Tinh bất túc không đủ để hóa khí, sinh huyết, nuôi cơ và phát triển xương, nên trẻ em phát triển chậm, vóc người thấp nhỏ.
Tinh không đủ để làm đầy tủy và nuôi não, gây trí tuệ chậm, động tác chậm. Tinh hao, tủy ít, xương thiếu nuôi dưỡng, khiến thóp chậm kín, xương yếu mềm và người trưởng thành lão hóa sớm.
Vẻ tươi nhuận của thận biểu hiện ở tóc. Tinh bất túc khiến tóc mọc kém, dễ rụng.
Răng là phần dư của xương. Răng thiếu tinh khí nuôi dưỡng nên lung lay.
Tai là khiếu của thận, não là tủy hải. Tinh ít, tủy hao, não không được làm đầy, gây ù tai, điếc tai, hay quên, tinh thần lơ đãng.
Tinh hao tổn khiến cân cốt suy yếu, nên động tác chậm, chân yếu, thiếu sức. Thận tinh suy, não thiếu nuôi dưỡng, hoạt động tinh thần kém linh hoạt, có thể biểu hiện thần trí trì độn.
CHỨNG THẬN KHÍ BẤT CỐ 肾气不固证
Thận khí bất cố là chứng hậu do thận khí hao thiếu, không đủ sức cố nhiếp.
Nguyên nhân thường do tuổi cao, thận khí suy; trẻ nhỏ, thận khí chưa đầy đủ; sinh hoạt tình dục quá độ; hoặc bệnh kéo dài làm tổn thương thận.
Biểu hiện lâm sàng
Tinh thần mệt mỏi, ù tai, thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu; tiểu nhiều lần, nước tiểu trong; hoặc sau tiểu còn nhỏ giọt, đái dầm, tiểu không tự chủ, tiểu đêm nhiều.
Nam giới có thể hoạt tinh, xuất tinh sớm; phụ nữ có khí hư loãng, thai không vững, dễ sẩy thai. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là các biểu hiện thận khí không đủ sức cố nhiếp, đặc biệt ở tiểu tiện và sinh dục.
Thận khí hao thiếu làm hoạt động chức năng suy giảm, khí huyết không đủ nuôi dưỡng tai, nên tinh thần mệt mỏi, ù tai. Xương thiếu ôn dưỡng, gây thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu.
Thận khí hư, bàng quang mất khả năng chế ước, nên tiểu nhiều lần, nước tiểu trong, lượng có thể nhiều; hoặc tiểu đêm nhiều, nặng hơn thì đái dầm, tiểu không tự chủ.
Chức năng bài niệu suy yếu, nước tiểu không được tống hết, có thể gây nhỏ giọt sau tiểu.
Thận khí bất túc, tinh quan không vững, tinh dễ thoát ra, gây hoạt tinh và xuất tinh sớm. Hoạt tinh là tinh dịch tự thoát ra mà không có mộng.
Thận hư, xung nhâm hao tổn, hạ nguyên không vững, gây khí hư loãng. Thai nguyên không vững có thể dẫn đến sẩy thai tái diễn, cổ gọi là hoạt thai.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược là biểu hiện thận khí suy yếu.
CHỨNG THẬN BẤT NẠP KHÍ 肾不纳气证
Thận bất nạp khí là chứng hậu do thận khí suy yếu, không thể thu nạp khí, khiến khí không quy về gốc.
Nguyên nhân thường do ho, khó thở kéo dài, phế hư ảnh hưởng đến thận, hoặc lao lực làm tổn thương thận khí.
Biểu hiện lâm sàng
Ho, khó thở kéo dài, thở ra nhiều hơn hít vào, hơi thở không tiếp nối, khó thở tăng khi vận động, tự ra mồ hôi, tinh thần mệt mỏi.
Tiếng nói nhỏ yếu, thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược.
Có thể khó thở tăng nặng, vã mồ hôi lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh, mạch phù đại vô căn.
Có thể hơi thở ngắn, gấp, mặt đỏ, tâm phiền, miệng họng khô, lưỡi đỏ, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là ho, khó thở kéo dài, thở ra nhiều hơn hít vào, hơi thở không tiếp nối, tăng khi vận động, cùng với biểu hiện phế thận khí hư.
Thận hư không đủ sức thu nạp khí, khí không quy về gốc, nên thở ra nhiều hơn hít vào, hơi thở không tiếp nối, khó thở tăng khi vận động.
Xương thiếu nuôi dưỡng gây thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu.
Phế khí hư, vệ biểu không vững, nên tự ra mồ hôi. Hoạt động chức năng suy giảm gây tinh thần mệt mỏi, tiếng nói nhỏ yếu.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược là dấu hiệu khí hư.
Nếu dương khí suy yếu, sắp thoát, khó thở tăng nặng, vã mồ hôi lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt xanh. Hư dương phù ra ngoài khiến mạch phù đại vô căn, tức mạch nổi, lớn nhưng không có gốc, ấn sâu không còn sức.
Thận hư không thể nạp khí gây hơi thở ngắn, gấp. Thận khí bất túc kéo dài làm tổn thương âm; âm hư sinh nội nhiệt, hư hỏa bốc lên, khiến mặt đỏ, tâm phiền, miệng họng khô.
Lưỡi đỏ, mạch tế sác là biểu hiện âm hư nội nhiệt.
PHÂN BIỆT CÁC HƯ CHỨNG Ở THẬN
Các chứng này đều thuộc hư chứng, thường có thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu, tinh thần mệt mỏi, thiếu sức.
Thận dương hư: nam giới liệt dương, phụ nữ cung hàn, khó có thai; có thể tiêu chảy lúc gần sáng. Đặc trưng là sợ lạnh, tay chân lạnh và phù. Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng, mạch trầm nhược hoặc trầm tế.
Thận âm hư: di tinh, xuất tinh sớm; phụ nữ kinh ít hoặc bế kinh. Nước tiểu vàng, đại tiện khô. Kèm mất ngủ, nhiều mộng, triều nhiệt, đạo hãn, họng khô, gò má đỏ. Lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
Thận tinh bất túc: nam giới tinh ít, khó có con; phụ nữ bế kinh, khó có thai. Đặc trưng là phát triển chậm hoặc lão hóa sớm, xương yếu mềm, tóc rụng, răng lung lay, hay quên, điếc tai, động tác chậm, chân yếu và thần trí trì độn. Theo phần tổng kết của bản tham khảo, lưỡi hồng nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế.
Thận khí bất cố: hoạt tinh, xuất tinh sớm; phụ nữ khí hư nhiều, dễ sẩy thai tái diễn. Tiểu nhiều lần, nước tiểu trong, nhỏ giọt sau tiểu, đái dầm, tiểu không tự chủ hoặc tiểu đêm nhiều. Kèm tinh thần mệt mỏi, ù tai. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược.
Thận bất nạp khí: ho, khó thở kéo dài, thở ra nhiều hơn hít vào, hơi thở không tiếp nối, tăng khi vận động; tự ra mồ hôi, tinh thần mệt mỏi, tiếng nói nhỏ yếu. Thể khí hư thường có lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược; nếu kèm âm hư nội nhiệt thì lưỡi đỏ, mạch tế sác.
CHỨNG BÀNG QUANG THẤP NHIỆT 膀胱湿热证
Bàng quang thấp nhiệt là chứng hậu do thấp nhiệt uẩn kết ở bàng quang.
Nguyên nhân thường do cảm nhiễm thấp nhiệt, hoặc ăn uống không điều độ, thấp nhiệt sinh bên trong rồi đi xuống bàng quang.
Biểu hiện lâm sàng
Tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu khó, niệu đạo nóng rát, nước tiểu vàng sẫm, đục; có thể tiểu ra máu hoặc có cát sỏi.
Bụng dưới trướng đau, căng tức, mót tiểu gấp. Có thể kèm phát sốt, thắt lưng ê mỏi, trướng đau. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu đau và nước tiểu vàng.
Thấp nhiệt uẩn kết ở bàng quang, nhiệt bức niệu đạo, gây tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu khó và niệu đạo nóng rát.
Thấp nhiệt bên trong làm chức năng khí hóa của bàng quang rối loạn, nên nước tiểu vàng sẫm, đục, bụng dưới trướng đau, căng tức, mót tiểu gấp.
Thấp nhiệt làm tổn thương các lạc mạch bên trong có thể gây tiểu ra máu.
Theo cách giải thích bệnh cơ cổ truyền, thấp nhiệt uất lâu không giải, nung kết các chất trong nước tiểu thành cát sỏi, nên khi tiểu có thể thấy cát sỏi.
Thấp uất, nhiệt hun đốt rồi ảnh hưởng ra phần cơ biểu, có thể gây phát sốt; khi bệnh ảnh hưởng đến thận, có thể xuất hiện đau thắt lưng.
Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác là dấu hiệu thấp nhiệt uẩn bên trong.
Trường Xuân biên soạn
BIỆN CHỨNG TẠNG PHỦ KIÊM BỆNH 脏腑兼病辨证
Mỗi tạng phủ trong cơ thể tuy có chức năng riêng, nhưng đều liên hệ mật thiết với nhau. Vì vậy, khi phát bệnh, bệnh biến thường không tồn tại riêng lẻ mà có thể ảnh hưởng qua lại. Thường gặp bệnh ở tạng ảnh hưởng đến tạng khác, bệnh ở tạng ảnh hưởng đến phủ, bệnh ở phủ ảnh hưởng đến tạng hoặc bệnh ở phủ ảnh hưởng đến phủ khác.
Khi hai hoặc nhiều tạng phủ phát bệnh đồng thời hoặc kế tiếp nhau, gọi là tạng phủ kiêm bệnh.
Nhìn chung, tạng phủ kiêm bệnh có những quy luật bệnh lý nhất định. Các tạng phủ có quan hệ biểu lý, sinh khắc, thừa vũ thường dễ xuất hiện bệnh phối hợp hơn. Vì vậy, khi biện chứng cần phân tích quan hệ nhân quả giữa các tạng phủ bị bệnh, từ đó phân định chủ thứ và vận dụng điều trị linh hoạt.
Chứng hậu của tạng phủ kiêm bệnh rất phức tạp, nhưng thường gặp nhất là bệnh phối hợp giữa tạng với tạng hoặc giữa tạng với phủ. Những bệnh biến có quan hệ biểu lý đã được trình bày trong phần biện chứng ngũ tạng. Phần này giới thiệu các kiêm chứng thường gặp trên lâm sàng.
CHỨNG TÂM THẬN BẤT GIAO 心肾不交证
Tâm thận bất giao là chứng hậu do sự phối hợp thủy hỏa giữa tâm và thận bị rối loạn.
Nguyên nhân thường do ngũ chí hóa hỏa, suy nghĩ quá độ, bệnh kéo dài làm tổn thương âm hoặc sinh hoạt tình dục không điều độ.
Biểu hiện lâm sàng
Tâm phiền, mất ngủ, hồi hộp, hay quên, chóng mặt, ù tai, thắt lưng ê mỏi, di tinh, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng họng khô. Lưỡi đỏ, mạch tế sác.
Có thể kèm thắt lưng và hai chân ê mỏi, nặng nề, lạnh.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là mất ngủ cùng với biểu hiện tâm hỏa cang thịnh và thận thủy hao thiếu.
Tâm hỏa giáng xuống thận để ôn ấm thận thủy; thận thủy đi lên tâm để chế ước tâm hỏa. Tâm thận tương giao thì thủy hỏa tương tế.
Nếu thận thủy bất túc, không thể giúp chế ước tâm hỏa, tâm dương sẽ tương đối cang thịnh. Hoặc tâm hỏa quá thịnh, ảnh hưởng xuống dưới, làm hao tổn thận thủy. Kết quả là thận âm hao thiếu ở dưới, hỏa thịnh ở trên, thủy hỏa không tương tế.
Tâm dương thiên cang, tâm thần không yên, gây tâm phiền, mất ngủ, hồi hộp.
Thủy hao, âm hư, cốt tủy không đầy đủ, não tủy thiếu nuôi dưỡng, gây chóng mặt, ù tai, hay quên.
Thắt lưng là phủ của thận. Âm dịch không đủ nhu dưỡng nên thắt lưng ê mỏi. Hư hỏa quấy nhiễu tinh thất gây di tinh.
Ngũ tâm phiền nhiệt, miệng họng khô, lưỡi đỏ, mạch tế sác là biểu hiện thủy hao, hỏa cang.
Tâm hỏa cang ở trên, hỏa không quy nguyên; thận thủy thiếu ôn ấm, âm hàn ngưng ở dưới, có thể gây thắt lưng và hai chân ê mỏi, nặng nề, lạnh.
CHỨNG TÂM THẬN DƯƠNG HƯ 心肾阳虚证
Tâm thận dương hư là chứng hậu do dương khí của cả tâm và thận suy yếu, âm hàn thịnh bên trong.
Nguyên nhân thường do bệnh kéo dài không khỏi hoặc lao lực làm tổn thương bên trong.
Biểu hiện lâm sàng
Sợ lạnh, tay chân lạnh, hồi hộp, đánh trống ngực, tiểu tiện khó, tứ chi phù.
Có thể môi và móng tím xanh. Lưỡi nhạt tối hoặc tím xanh, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm vi tế.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là tâm thận dương khí suy yếu, hoạt động toàn thân suy giảm.
Thận dương là gốc của dương khí toàn thân. Tâm dương là động lực thúc đẩy khí huyết vận hành và tân dịch lưu chuyển. Vì vậy, tâm thận dương hư thường biểu hiện bằng âm hàn thịnh bên trong, hoạt động toàn thân suy giảm rõ, huyết hành ứ trệ và thủy khí đình lưu.
Dương khí suy yếu, tâm thiếu nuôi dưỡng, gây hồi hộp, đánh trống ngực. Dương không thể sưởi ấm da thịt, gây sợ lạnh, tay chân lạnh.
Tam tiêu không thông điều thủy đạo, bàng quang mất chức năng khí hóa, gây tiểu tiện khó. Thủy dịch đình tụ rồi tràn ra da thịt, gây tứ chi phù.
Dương hư không đủ sức vận hành huyết, huyết hành ứ trệ, khiến môi và móng tím xanh.
Lưỡi nhạt tối hoặc tím xanh, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm vi tế đều là dấu hiệu tâm thận dương khí suy yếu, âm hàn thịnh, huyết ứ và thủy khí đình lưu.
CHỨNG TÂM PHẾ KHÍ HƯ 心肺气虚证
Tâm phế khí hư là chứng hậu do khí của cả tâm và phế suy yếu.
Nguyên nhân thường do ho, khó thở kéo dài làm hao tổn tâm phế khí, hoặc do bẩm phú bất túc, tuổi cao, thể lực suy yếu.
Biểu hiện lâm sàng
Hồi hộp, ho, khó thở, hơi thở ngắn, thiếu sức, tăng rõ khi vận động; ngực tức, đàm loãng trong, sắc mặt trắng nhợt, chóng mặt, tinh thần mệt mỏi, tự ra mồ hôi, tiếng nói nhỏ yếu.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm nhược hoặc kết đại.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là hồi hộp, ho, khó thở cùng xuất hiện với biểu hiện khí hư.
Phế chủ hô hấp, tâm chủ huyết mạch. Hai tạng nhờ tác dụng thúc đẩy của tông khí để phối hợp chức năng.
Phế khí hư khiến tông khí được sinh ra không đủ, có thể làm tâm khí hư theo. Ngược lại, tâm khí hư trước, tông khí hao tán, cũng có thể dẫn đến phế khí bất túc.
Tâm khí bất túc, tâm thiếu nuôi dưỡng, gây hồi hộp. Phế khí suy yếu, không đủ sức túc giáng, khí nghịch lên gây ho, khó thở.
Khí hư gây hơi thở ngắn, thiếu sức. Vận động làm hao khí, nên khó thở tăng.
Phế khí hư, chức năng hô hấp suy giảm, gây ngực tức, khó chịu. Phế không thể phân bố tân dịch, thủy dịch đình tụ thành đàm, nên đàm loãng trong.
Khí hư làm hoạt động toàn thân suy giảm, da thịt và não tủy thiếu nuôi dưỡng, gây sắc mặt trắng nhợt, chóng mặt, tinh thần mệt mỏi.
Vệ biểu không vững nên tự ra mồ hôi. Tông khí bất túc khiến tiếng nói nhỏ yếu.
Khí hư, huyết không được vận hành và nuôi dưỡng đầy đủ, nên lưỡi nhạt. Khí huyết trong mạch vận hành không đủ sức hoặc khí của tâm mạch không tiếp nối, khiến mạch trầm nhược hoặc kết đại.
CHỨNG TÂM TỲ LƯỠNG HƯ 心脾两虚证
Tâm tỳ lưỡng hư là chứng hậu do tâm huyết bất túc và tỳ khí suy yếu.
Nguyên nhân thường do bệnh kéo dài, điều dưỡng không thích hợp, lao lực, suy nghĩ quá độ hoặc xuất huyết mạn tính.
Biểu hiện lâm sàng
Hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ, nhiều mộng, chóng mặt, hay quên, sắc mặt vàng úa, ăn kém, bụng trướng, đại tiện lỏng, tinh thần mệt mỏi, thiếu sức.
Có thể xuất huyết dưới da. Phụ nữ có thể kinh ít, màu nhạt hoặc ra máu kéo dài rỉ rả. Chất lưỡi nhạt, mềm non, mạch tế nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là hồi hộp, mất ngủ, sắc mặt vàng úa, tinh thần mệt mỏi, ăn ít, bụng trướng, đại tiện lỏng; có thể kèm xuất huyết mạn tính.
Tỳ là nguồn sinh hóa khí huyết, đồng thời có chức năng thống huyết. Tỳ khí suy yếu, sinh huyết không đủ hoặc không thể thống nhiếp huyết, khiến huyết thoát ra ngoài mạch, đều có thể dẫn đến tâm huyết hao thiếu.
Tâm chủ huyết. Huyết đầy đủ giúp khí được nuôi dưỡng; huyết hư có thể khiến khí suy yếu. Tâm huyết bất túc, không đủ để hỗ trợ sự sinh hóa khí, có thể làm tỳ khí hư theo.
Vì vậy, hai tạng thường ảnh hưởng lẫn nhau trong bệnh lý, hình thành tâm tỳ lưỡng hư.
Tâm huyết bất túc, tâm thiếu nuôi dưỡng, gây hồi hộp, đánh trống ngực. Tâm thần không yên gây mất ngủ, nhiều mộng. Đầu và mắt thiếu nuôi dưỡng gây chóng mặt, hay quên. Da thịt không được huyết nuôi dưỡng khiến sắc mặt vàng úa, thiếu vẻ tươi nhuận.
Tỳ khí bất túc, vận hóa suy yếu, gây ăn kém, bụng trướng, đại tiện lỏng. Khí hư làm hoạt động chức năng suy giảm, gây tinh thần mệt mỏi, thiếu sức.
Tỳ hư không thể nhiếp huyết, có thể gây xuất huyết dưới da hoặc kinh nguyệt kéo dài rỉ rả. Huyết hao thiếu khiến kinh ít, màu nhạt, chất loãng.
Chất lưỡi nhạt, mềm non, mạch tế nhược đều là dấu hiệu khí huyết bất túc.
CHỨNG TÂM CAN HUYẾT HƯ 心肝血虚证
Tâm can huyết hư là chứng hậu do huyết của cả tâm và can hao thiếu.
Nguyên nhân thường do bệnh kéo dài, cơ thể suy yếu hoặc suy nghĩ quá độ, âm thầm làm hao tổn âm huyết.
Biểu hiện lâm sàng
Hồi hộp, hay quên, mất ngủ, nhiều mộng, chóng mặt, ù tai, sắc mặt trắng nhợt thiếu vẻ tươi nhuận, hai mắt khô rít, nhìn mờ, móng kém nhuận.
Tứ chi tê bì, run, co rút. Phụ nữ kinh ít, màu nhạt, nặng hơn thì bế kinh. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là những triệu chứng thường gặp của bệnh ở tâm và can cùng xuất hiện với biểu hiện huyết hư.
Tâm chủ huyết, can tàng huyết. Tâm huyết bất túc khiến can không đủ huyết để tàng giữ; can huyết bất túc khiến tâm huyết không được sung đầy. Hai tạng ảnh hưởng lẫn nhau, hình thành tâm can huyết hư.
Tâm huyết hư, tâm thiếu nuôi dưỡng, gây hồi hộp, hay quên. Tâm thần không yên gây mất ngủ, nhiều mộng.
Huyết không thể nuôi dưỡng phần trên, gây chóng mặt, ù tai, sắc mặt trắng nhợt thiếu vẻ tươi nhuận.
Can huyết bất túc, mắt thiếu nuôi dưỡng, gây hai mắt khô rít, nhìn mờ. Cân mạch và móng không được huyết nhu dưỡng, nên móng kém nhuận, tứ chi tê bì, run, co rút.
Phụ nữ lấy huyết làm cơ sở. Can huyết bất túc khiến nguồn kinh huyết thiếu, nên kinh ít, màu nhạt, chất loãng, thậm chí bế kinh.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược là dấu hiệu huyết hư.
CHỨNG CAN HỎA PHẠM PHẾ 肝火犯肺证
Can hỏa phạm phế là chứng hậu do khí hỏa của kinh can nghịch lên, xâm phạm phế.
Nguyên nhân thường do uất giận làm tổn thương can hoặc nhiệt tà ở kinh can nghịch lên phạm phế.
Biểu hiện lâm sàng
Ngực sườn nóng rát, đau; nóng nảy, dễ cáu giận, chóng mặt, mắt đỏ, nóng bứt rứt, miệng đắng.
Ho từng cơn, đàm dính, ít, màu vàng; nặng hơn có thể ho ra máu. Lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch huyền sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là ngực sườn nóng rát, đau, nóng nảy, dễ cáu giận, mắt đỏ, miệng đắng và ho.
Can có tính thăng phát, phế chủ túc giáng. Thăng giáng phối hợp giúp khí cơ điều hòa. Nếu can khí thăng phát quá mức, khí hỏa nghịch lên, theo kinh xâm phạm phế, sẽ hình thành can hỏa phạm phế.
Khí hỏa của kinh can uất bên trong, nhiệt ứ, khí trệ, gây ngực sườn nóng rát, đau. Can mất tính nhu hòa nên nóng nảy, dễ cáu giận.
Can hỏa bốc lên gây chóng mặt, mắt đỏ. Khí hỏa uất bên trong gây ngực nóng bứt rứt. Nhiệt hun đốt đởm khí, khiến đởm khí nghịch lên, gây miệng đắng.
Khí hỏa theo kinh phạm phế, phế bị hỏa nung đốt, không thể thực hiện chức năng thanh túc, khí nghịch lên gây ho.
Tân dịch bị hỏa nung đốt, cô đặc thành đàm, nên đàm vàng, dính, lượng ít. Hỏa làm tổn thương phế lạc, huyết thoát ra, gây ho ra máu.
Lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch huyền sác là dấu hiệu thực hỏa thịnh ở kinh can.
CHỨNG CAN TỲ BẤT ĐIỀU 肝脾不调证
Can tỳ bất điều là chứng hậu do can mất sơ tiết, tỳ mất kiện vận.
Nguyên nhân thường do tình chí không được thỏa nguyện, uất giận làm tổn thương can, hoặc ăn uống không điều độ, lao lực làm tổn thương tỳ.
Biểu hiện lâm sàng
Ngực sườn trướng đầy, đau di chuyển, hay thở dài, tinh thần uất ức hoặc nóng nảy, dễ cáu giận.
Ăn kém, bụng trướng, đại tiện lỏng nhưng không thông khoái, bụng sôi, trung tiện; hoặc đau bụng muốn đi ngoài, sau đi ngoài thì đau giảm.
Rêu lưỡi trắng hoặc nhớt, mạch huyền.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là ngực sườn trướng đầy, đau di chuyển, dễ cáu giận, ăn kém, bụng trướng và đại tiện lỏng.
Can chủ sơ tiết, giúp chức năng vận hóa của tỳ. Tỳ kiện vận, khí cơ thông thuận, cũng giúp can khí sơ tiết. Khi phát bệnh, hai tạng có thể ảnh hưởng lẫn nhau, hình thành can tỳ bất điều.
Can mất sơ tiết, kinh khí uất trệ, gây ngực sườn trướng đầy, đau di chuyển. Thở dài giúp khí uất được giải tỏa, cảm giác trướng tức giảm, nên người bệnh hay thở dài.
Khí cơ uất kết, không thông, gây tinh thần uất ức. Can mất điều đạt khiến nóng nảy, dễ cáu giận.
Tỳ mất kiện vận, khí cơ uất trệ, gây ăn kém, bụng trướng. Khí trệ, thấp trở khiến đại tiện lỏng nhưng không thông khoái, bụng sôi, trung tiện.
Khí trệ trong bụng gây đau bụng. Sau đi ngoài, khí trệ được thông phần nào nên đau giảm.
Biểu hiện hàn nhiệt của chứng này thường không rõ, vì vậy rêu lưỡi vẫn trắng. Nếu thấp tà thịnh bên trong, rêu có thể nhớt. Mạch huyền biểu hiện can mất nhu hòa.
CHỨNG CAN VỊ BẤT HÒA 肝胃不和证
Can vị bất hòa là chứng hậu do can mất sơ tiết, vị mất hòa giáng.
Nguyên nhân thường do tình chí không được thỏa nguyện, khí uất hóa hỏa hoặc hàn tà xâm phạm can vị.
Biểu hiện lâm sàng
Vùng thượng vị và sườn trướng tức, đau, ợ hơi, nấc, cồn cào, ợ chua, bứt rứt, dễ cáu giận. Lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch huyền hoặc huyền sác.
Có thể đau ở đỉnh đầu, gặp lạnh đau tăng, được ấm đau giảm, nôn ra nước dãi hoặc bọt loãng, sợ lạnh, tay chân lạnh. Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm huyền khẩn.
Phân tích chứng hậu
Trên lâm sàng thường gặp hai dạng biểu hiện.
Dạng can uất hóa hỏa, hoành nghịch phạm vị: điểm chủ yếu để biện chứng là vùng thượng vị và sườn trướng đau, ợ chua, cồn cào, lưỡi đỏ, rêu vàng.
Dạng hàn tà xâm phạm can vị: điểm chủ yếu để biện chứng là đau đỉnh đầu, nôn ra nước dãi hoặc bọt loãng, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn ướt.
Can chủ thăng phát, vị chủ giáng. Hai tạng phủ phối hợp mật thiết để điều hòa sự thăng giáng của khí cơ. Khi can khí hoặc vị khí rối loạn, có thể hình thành can vị bất hòa.
Can uất hóa hỏa, hoành nghịch phạm vị, làm khí ở can vị đình trệ, gây vùng thượng vị và sườn trướng tức, đau.
Vị mất hòa giáng, khí nghịch lên, gây ợ hơi, nấc. Khí hỏa uất ở can vị gây cồn cào, ợ chua. Can mất điều đạt khiến nóng nảy, dễ cáu giận.
Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác đều là dấu hiệu khí uất hóa hỏa.
Nếu hàn tà xâm phạm can vị, âm hàn theo kinh can đi lên đỉnh đầu, ngăn trở kinh khí, gây đau đỉnh đầu.
Hàn có tính ngưng trệ; được ấm thì lưu thông, gặp lạnh thì ngưng kết, nên đau đầu tăng khi gặp lạnh và giảm khi được ấm.
Vị bị bệnh, trung dương tổn thương, thủy dịch không được chuyển hóa, khí nghịch lên, gây nôn ra nước dãi hoặc bọt loãng.
Dương khí bị tổn thương, không thể sưởi ấm da thịt, gây sợ lạnh, tay chân lạnh.
Lưỡi nhạt, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm huyền khẩn là dấu hiệu hàn tà thịnh bên trong.
CHỨNG CAN THẬN ÂM HƯ 肝肾阴虚证
Can thận âm hư là chứng hậu do âm dịch của cả can và thận hao thiếu.
Nguyên nhân thường do bệnh kéo dài, điều dưỡng không thích hợp, sinh hoạt tình dục không điều độ hoặc tình chí làm tổn thương bên trong.
Biểu hiện lâm sàng
Chóng mặt, hoa mắt, ù tai, hay quên, mất ngủ, nhiều mộng, miệng họng khô, thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu.
Đau sườn, ngũ tâm phiền nhiệt, gò má đỏ, đạo hãn; nam giới di tinh, phụ nữ kinh ít. Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là đau sườn, thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu, ù tai, di tinh cùng xuất hiện với biểu hiện âm hư nội nhiệt.
Âm dịch của can và thận nuôi dưỡng lẫn nhau. Can âm đầy đủ có thể tàng xuống thận; thận âm sung túc có thể đi lên nuôi dưỡng can mộc. Vì vậy có câu “肝肾同源” — can thận đồng nguyên.
Trong bệnh lý, hai tạng thường ảnh hưởng lẫn nhau; khi suy giảm có thể cùng suy giảm, hình thành can thận âm hư.
Thận âm hao thiếu, thủy không hàm dưỡng mộc, can dương thượng cang, gây chóng mặt, hoa mắt. Thận tinh âm hao tổn, não tủy thiếu nuôi dưỡng, gây ù tai, hay quên.
Hư nhiệt quấy nhiễu bên trong, tâm thần không yên, gây mất ngủ, nhiều mộng. Tân dịch không thể đưa lên làm nhuận, gây miệng họng khô.
Cân mạch thiếu nuôi dưỡng khiến thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu. Can âm bất túc, can mạch thiếu nuôi dưỡng, gây vùng sườn đau âm ỉ.
Âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt hun đốt bên trong, gây ngũ tâm phiền nhiệt. Hư hỏa bốc lên khiến hai gò má đỏ.
Hư nhiệt bức dinh âm, gây ra mồ hôi khi ngủ; quấy nhiễu tinh thất, gây mộng tinh.
Xung nhâm có liên hệ mật thiết với can thận. Can thận âm hao tổn khiến xung nhâm không đầy đủ, nên kinh ít.
Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác là dấu hiệu âm hư nội nhiệt.
CHỨNG TỲ THẬN DƯƠNG HƯ 脾肾阳虚证
Tỳ thận dương hư là chứng hậu do dương khí của cả tỳ và thận hao thiếu.
Nguyên nhân thường do bệnh kéo dài, tiêu chảy lâu ngày hoặc thủy tà đình lưu lâu ngày, làm dương khí của hai tạng suy yếu.
Biểu hiện lâm sàng
Sắc mặt trắng bệch, sợ lạnh, tay chân lạnh, thắt lưng, đầu gối hoặc bụng dưới lạnh đau.
Tiêu chảy, kiết lỵ kéo dài; hoặc tiêu chảy lúc gần sáng, đi ngoài ra thức ăn chưa tiêu.
Có thể tiểu tiện khó, mặt và tứ chi phù, nặng hơn thì bụng trướng như trống. Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm tế.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là thắt lưng, đầu gối hoặc bụng dưới lạnh đau, tiêu chảy kéo dài, phù, cùng với biểu hiện hàn.
Thận là gốc của tiên thiên, tỳ là gốc của hậu thiên. Trong sinh lý, dương khí của tỳ và thận hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau.
Tỳ chủ vận hóa, phân bố chất tinh vi và chuyển hóa thủy thấp, cần sự ôn ấm của mệnh môn hỏa. Thận chủ thủy, ôn dưỡng tạng phủ, cần chất tinh vi do tỳ cung cấp.
Nếu thận dương bất túc, không thể ôn dưỡng tỳ dương, tỳ dương cũng suy giảm. Hoặc tỳ dương hư lâu ngày, dần ảnh hưởng đến thận dương, khiến thận dương bất túc.
Vì vậy, tỳ dương hư hoặc thận dương hư đều có thể phát triển thành tỳ thận dương hư trong những điều kiện nhất định.
Tỳ dương hư không thể vận hóa thủy cốc, khí huyết sinh hóa không đủ, nên sắc mặt trắng bệch.
Dương hư không thể sưởi ấm cơ thể, gây sợ lạnh, tay chân lạnh. Dương hư sinh nội hàn, kinh mạch ngưng trệ, gây bụng dưới, thắt lưng và đầu gối lạnh đau.
Tỳ thận dương hư, thức ăn không được tiêu hóa và vận hóa đầy đủ, gây tiêu chảy không dứt, đi ngoài ra thức ăn chưa tiêu hoặc tiêu chảy lúc gần sáng.
Dương hư không thể vận hóa thủy thấp. Thủy thấp tràn ra da thịt gây mặt và tứ chi phù; đình lưu trong bụng khiến bụng trướng như trống; tụ bên trong, khí hóa không thông, gây tiểu tiện khó.
Lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn ướt, mạch trầm tế là dấu hiệu dương hư, thủy hàn tích tụ bên trong.
CHỨNG TỲ PHẾ KHÍ HƯ 脾肺气虚证
Tỳ phế khí hư là chứng hậu suy yếu do khí của cả tỳ và phế bất túc.
Nguyên nhân thường do ho, khó thở kéo dài, phế hư ảnh hưởng đến tỳ; hoặc ăn uống thất điều, lao lực làm tổn thương tỳ, tỳ hư ảnh hưởng đến phế.
Biểu hiện lâm sàng
Ho kéo dài không dứt, hơi thở ngắn, khó thở, đàm nhiều, loãng, trắng; ăn kém, bụng trướng, đại tiện lỏng.
Tiếng nói nhỏ, ngại nói, mệt mỏi, thiếu sức, sắc mặt trắng nhợt. Nặng hơn có thể mặt và chân phù. Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là ho, khó thở, ăn ít, bụng trướng, đại tiện lỏng cùng xuất hiện với biểu hiện khí hư.
Tỳ là nguồn sinh khí, phế là nơi chủ trì khí.
Ho kéo dài làm phế hư, phế mất tuyên phát, túc giáng, khí không thể phân bố tân dịch, thủy tụ thành thấp. Thấp làm tỳ khí bị khốn trở, khiến tỳ mất kiện vận.
Hoặc ăn uống không điều độ làm tổn thương tỳ khí, thấp trọc sinh bên trong, tỳ không thể phân bố chất tinh vi, khiến phế cũng suy yếu.
Phế khí bị tổn thương gây ho kéo dài, hơi thở ngắn, khó thở. Khí hư không thể phân bố tân dịch, thấp tụ sinh đàm, nên đàm nhiều, loãng, trắng.
Tỳ mất kiện vận gây ăn kém, bụng trướng, khó chịu. Thấp trọc đi xuống gây đại tiện lỏng.
Tiếng nói nhỏ, ngại nói, mệt mỏi, thiếu sức là biểu hiện khí hư. Da thịt thiếu nuôi dưỡng khiến sắc mặt trắng nhợt. Thủy thấp tràn lan có thể gây mặt và tứ chi phù.
Lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế nhược đều là dấu hiệu khí hư.
CHỨNG PHẾ THẬN ÂM HƯ 肺肾阴虚证
Phế thận âm hư là chứng hậu do âm dịch của cả phế và thận bất túc.
Nguyên nhân thường do ho kéo dài làm tổn thương phế âm, phế hư ảnh hưởng đến thận; hoặc thận âm hao thiếu, thận hư ảnh hưởng đến phế.
Biểu hiện lâm sàng
Ho, đàm ít, có thể đàm lẫn máu hoặc ho ra máu; miệng họng khô, tiếng nói khàn, thân thể gầy sút, thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu.
Gò má đỏ, đạo hãn, cốt chưng, triều nhiệt; nam giới di tinh, phụ nữ kinh nguyệt không đều. Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Cốt chưng là cảm giác nóng âm ỉ như từ trong xương lan ra. Triều nhiệt là nóng sốt xuất hiện theo từng thời điểm.
Phân tích chứng hậu
Điểm chủ yếu để biện chứng là ho kéo dài, đàm lẫn máu, thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu, di tinh cùng xuất hiện với biểu hiện âm hư.
Âm dịch của phế và thận nuôi dưỡng lẫn nhau. Phế phân bố tân dịch để nuôi thận; thận tinh đi lên để dưỡng phế. Quan hệ này được gọi là “金水相生” — kim thủy tương sinh.
Trong bệnh lý, dù bệnh khởi đầu ở phế hay thận, quá trình phát triển đều có thể dẫn đến phế thận âm hư.
Âm hư khiến phế táo, chức năng thanh túc rối loạn, gây ho, đàm ít. Nhiệt nung đốt phế lạc, làm lạc mạch tổn thương, huyết thoát ra, nên đàm lẫn máu hoặc ho ra máu.
Tân dịch không thể đưa lên làm nhuận, gây miệng họng khô.
Họng thuộc hệ phế, kinh thận đi qua họng. Phế thận âm hao thiếu, họng không được nuôi dưỡng, lại bị hư hỏa hun đốt, gây tiếng nói khàn.
Cơ nhục thiếu nuôi dưỡng khiến thân thể dần gầy sút. Hư hỏa bốc lên làm gò má đỏ. Hư nhiệt bức tân dịch thoát ra ngoài gây đạo hãn. Âm hư sinh nội nhiệt, gây cốt chưng, triều nhiệt.
Thắt lưng là phủ của thận. Thận âm hao thiếu, không thể nhu dưỡng, gây thắt lưng và đầu gối ê mỏi, yếu.
Nhiệt quấy nhiễu tinh thất, thận mất chức năng phong tàng, gây di tinh.
Thận thủy bất túc, âm huyết hao thiếu, có thể gây kinh ít. Hỏa làm tổn thương các lạc mạch bên trong, có thể gây băng huyết. Những biểu hiện này đều thuộc phạm vi kinh nguyệt không đều.
Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác là dấu hiệu âm hư nội nhiệt.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT BỐN: BIỆN CHỨNG KINH LẠC 经络辨证
Biện chứng kinh lạc là phương pháp lấy học thuyết kinh lạc làm cơ sở lý luận, phân tích và tổng hợp các triệu chứng, dấu hiệu của người bệnh để nhận định bệnh thuộc kinh nào, tạng nào, phủ nào. Từ đó tiếp tục xác định nguyên nhân gây bệnh, tính chất bệnh biến và cơ chế bệnh lý. Đây là một bộ phận quan trọng của chẩn đoán học Trung y.
Kinh lạc là đường vận hành của kinh khí, đồng thời là con đường phát sinh và truyền biến của bệnh. Kinh lạc phân bố khắp cơ thể, vận hành khí huyết toàn thân, liên hệ tạng phủ với tứ chi và các khớp, nối liền trên dưới, trong ngoài, giúp các bộ phận phối hợp với nhau để thực hiện những hoạt động sinh lý.
Theo học thuyết kinh lạc, khi ngoại tà xâm nhập cơ thể, làm kinh khí rối loạn, tà khí có thể theo kinh lạc dần truyền vào tạng phủ. Ngược lại, khi nội tạng phát sinh bệnh biến, bệnh cũng có thể theo kinh lạc biểu hiện ra ngoài cơ thể.
Tại những vùng kinh mạch đi qua trên cơ thể, đặc biệt ở các huyệt vị là nơi kinh khí tụ hội, có thể xuất hiện những phản ứng bất thường như tê bì, ê mỏi, căng tức, đau; thay đổi mức độ nhạy cảm với kích thích nóng lạnh; thay đổi màu sắc da; bong vảy hoặc xuất hiện nốt, khối kết.
Thiên “Tạng khí pháp thời luận” trong sách Tố Vấn viết:
“肝病者,两胁下痛,引少腹;……肺病者,喘咳逆气,肩背痛。”
Người mắc bệnh ở can có thể đau dưới hai bên sườn, đau lan đến bụng dưới; người mắc bệnh ở phế có thể khó thở, ho, khí nghịch, đau vai lưng.
Vùng dưới sườn, bụng dưới và vai lưng là những vùng có liên hệ với đường kinh của các tạng tương ứng. Do hệ thống kinh lạc có thể phản ánh một số chứng hậu theo quy luật, trên lâm sàng có thể căn cứ vào những biểu hiện này, vận dụng biện chứng kinh lạc để tiếp tục nhận định tính chất bệnh biến và xu hướng phát triển của bệnh.
Biện chứng kinh lạc và biện chứng tạng phủ bổ sung cho nhau, không thể tách rời hoàn toàn.
Biện chứng tạng phủ chú trọng giải thích các triệu chứng do chức năng tạng phủ rối loạn. Biện chứng kinh lạc chủ yếu phân tích những phản ứng bất thường tại các vùng kinh mạch đi qua; phần trình bày bệnh chứng của tạng phủ tương ứng thường giản lược hơn.
Vì vậy, biện chứng kinh lạc là sự bổ sung cho biện chứng tạng phủ, có ý nghĩa đối với các chuyên khoa lâm sàng, đặc biệt trong châm cứu, xoa bóp và khí công.
Trường Xuân biên soạn
BỆNH CHỨNG CỦA MƯỜI HAI KINH MẠCH 十二经脉病证
Mười hai kinh mạch gồm ba kinh âm và ba kinh dương ở tay, ba kinh âm và ba kinh dương ở chân. Biểu hiện bệnh lý của các kinh có ba đặc điểm.
Khi kinh mạch bị tà xâm phạm, kinh khí vận hành không thuận, bệnh chứng thường xuất hiện tại những vùng kinh đi qua. Chẳng hạn, bệnh ở kinh bàng quang có thể gây đau vùng thắt lưng, lưng, khoeo chân và gót chân.
Bệnh chứng còn liên quan đến đặc tính của kinh mạch và sự rối loạn chức năng của tạng phủ tương ứng. Chẳng hạn, kinh phế đứng đầu trong thứ tự lưu hành của mười hai kinh, phế dễ bị ngoại tà xâm phạm, khiến khí cơ bế trở, gây ngực đầy tức, ho, khó thở và khí nghịch, đều là biểu hiện phế mất tuyên phát, túc giáng.
Một kinh bị bệnh thường có thể ảnh hưởng đến kinh khác. Chẳng hạn, bệnh ở kinh tỳ có thể gây đau vùng thượng vị, nôn sau ăn, là những biểu hiện liên quan đến vị.
Như vậy, bệnh chứng của mười hai kinh có những quy luật nhất định. Nắm được các quy luật và đặc điểm ấy giúp suy xét nguyên nhân, bệnh cơ và nhận định bệnh, từ đó hướng dẫn lâm sàng.
BỆNH CHỨNG KINH THỦ THÁI ÂM PHẾ 手太阴肺经病证
Bệnh chứng kinh thủ thái âm phế là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh phế đi qua và những biểu hiện do chức năng của phế rối loạn.
Phế chủ khí, đảm nhiệm hô hấp, liên hệ với họng, thuộc kinh thái âm. Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Dần là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh phế.
Biểu hiện lâm sàng
Phế trướng, ho, khó thở, ngực đầy tức; đau vùng khuyết bồn, tức hõm trên xương đòn; vai lưng đau hoặc lạnh; hơi thở yếu, rùng mình, lúc lạnh lúc nóng, tự ra mồ hôi.
Có thể đau mặt trong phía trước của cánh tay và cẳng tay, lòng bàn tay nóng, tiểu nhiều lần hoặc nước tiểu đổi màu.
Phân tích chứng hậu
Kinh phế đi từ vùng vị, lên qua cơ hoành rồi thuộc phế. Phế hợp với da lông. Khi phần cơ biểu bị tà xâm phạm, tà có thể truyền vào phế, làm phế mất tuyên phát, túc giáng, gây ngực tức, trướng đầy, ho, khó thở và khí nghịch.
Khuyết bồn là vùng nhiều kinh mạch đi qua, nằm gần phế. Phế khí không thông có thể gây đau tại đây.
Kinh phế đi qua cánh tay và cẳng tay. Kinh khí không thuận có thể gây đau vai lưng, mặt trong phía trước cánh tay và cẳng tay, kèm lòng bàn tay nóng.
Tà lưu ở cơ biểu, vệ khí bị uất bế, gây sợ lạnh, phát sốt. Tấu lý không vững khiến mồ hôi tự ra.
Ngoại tà vào lý hóa nhiệt hoặc kinh phế có nhiệt có thể gây phiền khát, họng khô.
Theo quan hệ ngũ hành, phế kim là mẹ của thận thủy. Phế khí bị tổn thương, chức năng thông điều thủy đạo rối loạn, có thể kèm tiểu nhiều lần hoặc nước tiểu đổi màu.
BỆNH CHỨNG KINH THỦ DƯƠNG MINH ĐẠI TRƯỜNG 手阳明大肠经病证
Bệnh chứng kinh thủ dương minh đại trường là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh đại trường đi qua và những biểu hiện do chức năng đại trường rối loạn.
Đại trường mang tính táo hóa. Trong mô tả kinh điển, kinh này chủ những bệnh liên quan đến tân dịch. Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Mão là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh đại trường.
Biểu hiện lâm sàng
Đau răng, cổ sưng, họng sưng đau, chảy máu mũi, mắt vàng, miệng khô.
Đau phía trước vai và cánh tay; ngón cái, ngón trỏ đau, vận động khó khăn.
Phân tích chứng hậu
Nhánh của kinh đại trường từ khuyết bồn đi lên cổ, xuyên qua má, vào răng, vì vậy khi bị bệnh có thể gây đau răng, cổ sưng, họng sưng đau.
Biệt lạc của kinh đại trường liên hệ với mắt. Tà nhiệt thịnh có thể gây mắt vàng, miệng khô. Nhiệt thịnh bức huyết đi sai đường, gây chảy máu mũi.
Tà ngăn trở kinh mạch, khí huyết không thông, gây đau phía trước vai và cánh tay, đau ngón cái, ngón trỏ và hạn chế vận động.
BỆNH CHỨNG KINH TÚC DƯƠNG MINH VỊ 足阳明胃经病证
Bệnh chứng kinh túc dương minh vị là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh vị đi qua và những biểu hiện do chức năng của vị rối loạn.
Tỳ và vị liên hệ mật thiết. Xét theo ngũ hành, cả hai đều thuộc thổ; xét theo biểu lý, tỳ thuộc âm, vị thuộc dương; xét theo chức năng, tỳ chủ vận hóa, vị chủ thu nạp và làm nhừ thức ăn.
Kinh túc dương minh vị nhiều khí, nhiều huyết. Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Thìn là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh vị.
Biểu hiện lâm sàng
Sốt cao, ra mồ hôi, đau đầu, cổ sưng, họng sưng đau, đau răng; có thể miệng méo, chảy nước mũi đục hoặc chảy máu mũi.
Có thể dễ kinh sợ, kích động cuồng loạn; mau tiêu, chóng đói, vùng thượng vị và bụng trướng đầy.
Có thể vùng gối sưng đau; đau vùng ngực, vú, bẹn, mặt trước ngoài chi dưới, mu bàn chân và các ngón chân thuộc đường kinh; ngón chân vận động khó khăn.
Phân tích chứng hậu
Kinh vị nhiều khí, nhiều huyết. Khi bị tà xâm phạm, bệnh dễ theo dương hóa nhiệt, xuất hiện lý thực nhiệt chứng.
Lý nhiệt thịnh gây sốt cao. Tà nhiệt bức tân dịch ra ngoài gây ra mồ hôi.
Vị hỏa theo kinh bốc lên gây đau đầu, cổ sưng, họng sưng đau, đau răng, môi miệng lở loét. Nếu phong tà xâm phạm có thể thấy miệng méo, chảy nước mũi đục.
Nhiệt thịnh bức huyết đi sai đường gây chảy máu mũi. Nhiệt quấy nhiễu thần minh gây dễ kinh sợ, cuồng loạn, kích động.
Vị hỏa thịnh khiến mau tiêu, chóng đói. Bệnh ở vị ảnh hưởng đến tỳ, khí ở trung tiêu bị ngăn trở, gây vùng thượng vị và bụng trướng đầy.
Kinh vị bị tà xâm phạm, kinh khí không thuận, khiến những vùng kinh đi qua như ngực, vú, bẹn, chi dưới, mu bàn chân và ngón chân bị đau, vận động hạn chế.
BỆNH CHỨNG KINH TÚC THÁI ÂM TỲ 足太阴脾经病证
Bệnh chứng kinh túc thái âm tỳ là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh tỳ đi qua và những biểu hiện do chức năng của tỳ rối loạn.
Tỳ giúp vị phân bố tân dịch, cung cấp nguồn nuôi dưỡng cho mười hai kinh mạch. Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Tỵ là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh tỳ.
Biểu hiện lâm sàng
Gốc lưỡi cứng, ăn vào thì nôn, đau vùng thượng vị, bụng trướng, hay ợ hơi. Sau đại tiện hoặc trung tiện, cảm giác trướng tức giảm, người dễ chịu hơn. Toàn thân nặng nề.
Có thể đau gốc lưỡi, cơ thể vận động khó khăn, ăn không vào, tâm phiền, vùng dưới tâm đau cấp, đại tiện lỏng, trưng hà, tiêu chảy, thủy dịch bế trở, vàng da, không thể nằm yên.
Mặt trong đùi và gối có thể sưng, lạnh; ngón chân cái vận động khó khăn.
Phân tích chứng hậu
Kinh tỳ liên hệ với gốc lưỡi. Khi kinh khí rối loạn, có thể gây gốc lưỡi cứng.
Tỳ mất vận hóa khiến ăn vào thì nôn, đau vùng thượng vị, bụng trướng. Khí trệ ảnh hưởng đến vị gây ợ hơi.
Sau đại tiện hoặc trung tiện, khí được thông, nên bụng trướng và ợ hơi giảm hoặc tạm thời hết.
Tỳ chủ cơ nhục. Thấp tà khốn trở bên trong khiến toàn thân nặng nề.
Tỳ không kiện vận, cân mạch thiếu nuôi dưỡng, có thể gây đau gốc lưỡi, tứ chi và các khớp vận động khó khăn.
Kinh túc thái âm đi lên qua cơ hoành, liên hệ với tâm, nên có thể xuất hiện tâm phiền, vùng dưới tâm đau cấp.
Kinh tỳ có hàn gây đại tiện lỏng. Khí huyết uất trệ có thể hình thành trưng hà.
Tỳ không thể vận hóa và chế ước thủy dịch, có thể gây tiêu chảy, thủy dịch đình lưu, tiểu tiện không thông, vàng da hoặc khó nằm yên.
Kinh tỳ bắt đầu ở ngón chân cái, đi lên mặt trong cẳng chân, gối và đùi. Vì vậy, bệnh có thể gây sưng, lạnh tại những vùng này và khiến ngón chân cái vận động khó khăn.
BỆNH CHỨNG KINH THỦ THIẾU ÂM TÂM 手少阴心经病证
Bệnh chứng kinh thủ thiếu âm tâm là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh tâm đi qua và những biểu hiện do chức năng của tâm rối loạn.
Khí của mười hai kinh đều có liên hệ với tâm, chất tinh vi của mười hai kinh đều góp phần nuôi dưỡng tâm. Vì vậy, tâm được xem là gốc của sự sống, nơi cư ngụ của thần, chủ của huyết và đầu mối của mạch.
Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Ngọ là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh tâm.
Biểu hiện lâm sàng
Vùng tim ngực bứt rứt, đầy tức, đau; họng khô, khát muốn uống, mắt vàng, đau sườn.
Mặt trong phía sau của cánh tay và cẳng tay đau, lạnh; lòng bàn tay nóng.
Phân tích chứng hậu
Tâm thuộc hỏa, nên bệnh ở kinh tâm thường có biểu hiện nhiệt.
Tâm hỏa thịnh bên trong gây vùng tim ngực bứt rứt, đầy tức, đau.
Nhánh của kinh tâm từ tâm hệ đi lên dọc vùng họng. Tâm hỏa bốc lên, tâm âm hao tổn, gây họng khô, khát muốn uống.
Kinh thủ thiếu âm liên hệ với mục hệ, tức hệ thống liên kết của mắt, đồng thời đi ra vùng sườn, nên có thể xuất hiện mắt vàng, đau sườn.
Kinh tâm đi dọc mặt trong cánh tay, cẳng tay và vào lòng bàn tay, vì vậy có thể gây đau mặt trong phía sau cánh tay, cẳng tay và nóng lòng bàn tay.
BỆNH CHỨNG KINH THỦ THÁI DƯƠNG TIỂU TRƯỜNG 手太阳小肠经病证
Bệnh chứng kinh thủ thái dương tiểu trường là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh tiểu trường đi qua và những biểu hiện do chức năng tiểu trường rối loạn.
Tiểu trường được gọi là “受盛之官,化物所出” — cơ quan tiếp nhận, chứa đựng và thực hiện việc hóa vật. Tiểu trường có quan hệ biểu lý với tâm, thuộc kinh thái dương.
Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Mùi là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh tiểu trường.
Biểu hiện lâm sàng
Điếc tai, mắt vàng, họng đau; vai đau như bị kéo rời, cánh tay đau như bị gãy.
Đau cổ gáy, vai, cánh tay, khuỷu và mặt ngoài phía sau cẳng tay.
Phân tích chứng hậu
Kinh tiểu trường thuộc dương, bệnh thường có biểu hiện nhiệt.
Nhánh của kinh từ khuyết bồn đi lên cổ, qua má, đến đuôi mắt rồi vào tai, nên khi bị bệnh có thể gây điếc tai, mắt vàng, họng đau.
Kinh thủ thái dương đi dọc mặt ngoài phía sau cánh tay, lên vùng khớp vai, vòng quanh xương bả vai và giao nhau ở vai. Vì vậy, bệnh có thể gây vai đau như bị kéo rời, cánh tay đau như bị gãy.
Nhiệt tà xâm phạm kinh tiểu trường có thể gây đau vai, khuỷu và mặt ngoài phía sau cánh tay, cẳng tay.
BỆNH CHỨNG KINH TÚC THÁI DƯƠNG BÀNG QUANG 足太阳膀胱经病证
Bệnh chứng kinh túc thái dương bàng quang là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh bàng quang đi qua và những biểu hiện do chức năng bàng quang rối loạn.
Bàng quang được gọi là “州都之官” — cơ quan chứa giữ tân dịch, thuộc kinh thái dương.
Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Thân là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh bàng quang.
Biểu hiện lâm sàng
Phát sốt, sợ gió lạnh, nghẹt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, cổ gáy và lưng cứng đau.
Mắt đau như muốn bật ra, cổ gáy đau như bị kéo giật, thắt lưng đau như bị gãy, khoeo chân căng đau như bị thắt chặt, bắp chân đau như bị xé.
Có thể xuất hiện điên, giản, cuồng chứng, sốt rét hoặc trĩ.
Đau vùng thắt lưng, cột sống, khoeo chân, bắp chân, gót chân và ngón chân út, kèm vận động khó khăn.
Phân tích chứng hậu
Kinh bàng quang đi ở vùng lưng, dễ bị ngoại tà xâm phạm. Tà lưu ở cơ biểu, vệ dương bị uất trệ, gây phát sốt, sợ gió lạnh, nghẹt mũi, chảy nước mũi.
Kinh đi lên trán, giao ở đỉnh đầu, vào liên hệ với não, nên khi bị bệnh có thể gây đau đầu, cổ gáy và lưng.
Kinh bắt đầu ở khóe mắt trong, có nhánh từ đầu đi xuống gáy, đến thắt lưng, qua vùng hông, hợp ở khoeo chân rồi đi vào bắp chân. Vì vậy, bệnh có thể gây mắt đau như muốn bật ra, cổ gáy đau như bị kéo giật, thắt lưng đau như bị gãy, khoeo chân căng đau như bị thắt chặt, bắp chân đau như bị xé.
Những vùng kinh đi qua đều có thể đau, các khớp vận động không thuận, ngón chân út vận động khó khăn.
Theo mô tả bệnh chứng cổ truyền, tà nhiệt thịnh có thể đi kèm điên, giản, cuồng chứng hoặc sốt rét. Nhiệt tụ ở hậu môn, khí huyết ứ trệ, có thể hình thành trĩ.
BỆNH CHỨNG KINH TÚC THIẾU ÂM THẬN 足少阴肾经病证
Bệnh chứng kinh túc thiếu âm thận là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh thận đi qua và những biểu hiện do chức năng của thận rối loạn.
Thận tàng tinh, chủ thủy, bên trong chứa nguyên dương, thuộc kinh thiếu âm.
Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Dậu là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh thận.
Biểu hiện lâm sàng
Sắc mặt đen sạm như màu gỗ sơn đen, chóng mặt, hoa mắt; hơi thở ngắn, gấp, khó thở, ho, khạc máu.
Có cảm giác đói nhưng không muốn ăn, đau vùng tim ngực, thắt lưng, cột sống và chi dưới yếu, có thể mềm yếu, lạnh; lòng bàn chân nóng đau.
Tâm phiền, dễ kinh sợ, hay sợ hãi, miệng nóng, lưỡi khô, họng sưng.
Phân tích chứng hậu
Thận thuộc âm nhưng bên trong chứa nguyên dương, ví như trong thủy có hỏa. Thận là gốc của ngũ tạng, bệnh ở thận dễ ảnh hưởng đến các tạng phủ khác, nên có thể xuất hiện chứng hậu hàn nhiệt lẫn lộn, hư thực cùng tồn tại.
Thận chủ thủy, thủy ứng với màu đen. Thận tinh hao tổn, không thể nuôi dưỡng phần trên, có thể gây sắc mặt đen sạm, chóng mặt, hoa mắt.
Theo quan hệ kim thủy tương sinh, thận là con của phế. Thận hư có thể ảnh hưởng ngược đến phế, gây ho, khạc máu hoặc hơi thở gấp, khó thở.
Thận âm bất túc, hư hỏa đi lên phạm vị, gây cảm giác đói nhưng không muốn ăn.
Tâm thận bất giao có thể gây tâm phiền, dễ kinh sợ, hay sợ hãi và đau vùng tim ngực.
Tà ngăn trở kinh thận có thể gây thắt lưng, cột sống và chi dưới yếu, mềm yếu hoặc lạnh, kèm lòng bàn chân nóng đau.
BỆNH CHỨNG KINH THỦ QUYẾT ÂM TÂM BÀO 手厥阴心包经病证
Bệnh chứng kinh thủ quyết âm tâm bào là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh tâm bào đi qua và những biểu hiện do chức năng tâm bào lạc rối loạn.
Tâm bào lạc được ví như thành quách bảo vệ tâm, thuộc tướng hỏa, thay tâm thực hiện một số chức năng, thuộc kinh quyết âm.
Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Tuất là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh tâm bào.
Biểu hiện lâm sàng
Lòng bàn tay nóng, cánh tay và khuỷu co rút, nách sưng; nặng hơn thì ngực sườn căng đầy.
Tâm phiền, hồi hộp, đau vùng tim, cười không ngừng, mặt đỏ, mắt vàng.
Phân tích chứng hậu
Tâm bào nằm bên ngoài tâm, bên trong chứa tướng hỏa. Bệnh thường có biểu hiện nhiệt và có thể ảnh hưởng đến tâm.
Kinh thủ quyết âm bắt đầu trong ngực, đi qua ngực, ra vùng sườn rồi đến lòng bàn tay. Bệnh ở những vùng kinh đi qua có thể gây lòng bàn tay nóng, cánh tay và khuỷu co rút, nách sưng, ngực sườn căng đầy.
Khí huyết vận hành không thuận gây hồi hộp, đau vùng tim.
Tâm thần không yên gây tâm phiền, nặng hơn có thể cười không ngừng.
Hỏa bốc lên có thể gây mặt đỏ, mắt vàng.
BỆNH CHỨNG KINH THỦ THIẾU DƯƠNG TAM TIÊU 手少阳三焦经病证
Bệnh chứng kinh thủ thiếu dương tam tiêu là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh tam tiêu đi qua và những biểu hiện do chức năng tam tiêu rối loạn.
Tam tiêu là đường vận hành liên quan đến sự sinh hóa, phân bố chất tinh vi của thủy cốc và chuyển hóa thủy dịch, đồng thời chủ trì khí hóa toàn thân, thuộc kinh thủ thiếu dương.
Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Hợi là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh tam tiêu.
Biểu hiện lâm sàng
Điếc tai, đau vùng tim sườn, đau đuôi mắt, đau má và sau tai, họng sưng đau, ra mồ hôi.
Đau vai, khuỷu và cẳng tay; ngón áp út vận động khó khăn.
Phân tích chứng hậu
Kinh tam tiêu đi lên cổ, liên hệ với vùng sau tai. Khi kinh bị tà xâm phạm, nhiệt tà quấy nhiễu phía trên, có thể gây điếc tai.
Tam tiêu phân bố khí để ôn dưỡng cơ nhục và làm đầy phần da. Chức năng này bị rối loạn có thể biểu hiện ra mồ hôi.
Kinh tam tiêu chủ những bệnh liên quan đến khí. Khí cơ uất trở khiến vùng tim sườn khó chịu, đau.
Đau vai, khuỷu, cẳng tay và hạn chế vận động ngón áp út đều có liên quan đến kinh khí không thuận tại những vùng kinh đi qua.
BỆNH CHỨNG KINH TÚC THIẾU DƯƠNG ĐỞM 足少阳胆经病证
Bệnh chứng kinh túc thiếu dương đởm là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh đởm đi qua và những biểu hiện do chức năng của đởm rối loạn.
Đởm được gọi là “中精之府” — phủ chứa tinh dịch thanh khiết. Cổ thư còn có câu “十一脏取决于胆” — mười một tạng phủ đều có liên hệ với chức năng quyết đoán của đởm. Đởm thuộc kinh túc thiếu dương.
Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Tý là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh đởm.
Biểu hiện lâm sàng
Miệng đắng, hay thở dài, đau vùng tim sườn, khó xoay trở. Nặng hơn, sắc mặt hơi tối như phủ bụi, da thiếu nhuận, mặt ngoài bàn chân nóng.
Đau đầu, đau vùng hàm, khuyết bồn sưng đau, nách sưng; có thể xuất hiện những khối hạch vùng cổ và nách, cổ gọi là mã đao hiệp anh.
Ra mồ hôi, rét run trong cơn sốt rét.
Đau vùng ngực, sườn, hông, mặt ngoài đùi, gối và cẳng chân, vùng trên mắt cá ngoài, phía trước mắt cá ngoài và các khớp liên quan. Các ngón chân thuộc đường kinh, đặc biệt ngón thứ tư, có thể vận động khó khăn.
Phân tích chứng hậu
Kinh đởm có vai trò như đầu mối điều hòa sự ra vào của khí cơ. Tà lưu ở đây làm khí cơ rối loạn, đởm khí nghịch lên, gây miệng đắng.
Đởm khí uất, không được thư thái, nên hay thở dài.
Kinh biệt túc thiếu dương liên hệ với tâm và đi trong vùng sườn, nên bệnh có thể gây đau vùng tim sườn, khó xoay trở.
Kinh biệt phân bố lên mặt. Bệnh ở đởm có thể khiến sắc mặt hơi tối như phủ bụi, da thiếu nhuận.
Thiếu dương thuộc bán biểu bán lý. Trong cách giải thích cổ truyền, khi dương thịnh thì ra mồ hôi, khi tà làm vệ khí bị trở thì rét run, có thể biểu hiện thành cơn sốt rét.
Những triệu chứng khác chủ yếu liên quan đến kinh khí không thuận tại các vùng kinh đởm đi qua.
BỆNH CHỨNG KINH TÚC QUYẾT ÂM CAN 足厥阴肝经病证
Bệnh chứng kinh túc quyết âm can là những chứng hậu xuất hiện tại vùng kinh can đi qua và những biểu hiện do chức năng của can rối loạn.
Can chủ tàng huyết, chủ sơ tiết, thuộc kinh túc quyết âm.
Theo thuyết lưu chú cổ truyền, giờ Sửu là thời điểm khí huyết lưu hành thịnh ở kinh can.
Biểu hiện lâm sàng
Đau thắt lưng, không thể cúi ngửa, sắc mặt tối sạm, họng khô, ngực đầy tức, tiêu chảy, nôn ói.
Có thể đái dầm hoặc tiểu khó, bí tiểu; sán khí hoặc đau bụng dưới ở phụ nữ.
Sán khí là tên gọi cổ truyền của một nhóm bệnh có biểu hiện đau, trướng hoặc khối sa ở vùng bẹn, bụng dưới và bộ phận sinh dục.
Phân tích chứng hậu
Các nhánh và biệt lạc của kinh túc quyết âm có liên hệ với kinh thái dương, thiếu dương ở vùng thắt lưng và phần dưới cơ thể, nên khi bị bệnh có thể gây đau thắt lưng, không thể cúi ngửa.
Can huyết bất túc, không thể nuôi dưỡng đầu mặt, khiến sắc mặt tối sạm.
Kinh can đi phía sau họng, lên vùng nối họng với mũi, tiếp tục lên trán; một nhánh từ mục hệ đi xuống trong má. Vì vậy, bệnh có thể gây họng khô.
Kinh can đi lên liên hệ với vị, xuyên qua cơ hoành; phía dưới đi qua bộ phận sinh dục và đến bụng dưới. Khi bị bệnh, có thể xuất hiện ngực đầy tức, nôn ói, tiêu chảy, đái dầm, tiểu khó hoặc bí tiểu, sán khí và đau bụng dưới ở phụ nữ.
GHI CHÚ HIỆU ĐÍNH
Bản chữ Hán có một số lỗi chép hoặc nhận dạng chữ, nhất là tên kinh, tên vùng cơ thể và ngón tay, ngón chân. Bản dịch đã sửa những chỗ rõ nghĩa; những câu mô tả lượng khí huyết không nhất quán được lược bỏ. Các giờ lưu chú được trình bày theo học thuyết cổ truyền, không hiểu là khí huyết toàn thân chỉ lưu hành ở một tạng trong giờ đó.
Trường Xuân biên soạn
BỆNH CHỨNG CỦA KỲ KINH BÁT MẠCH 奇经八脉病证
Kỳ kinh bát mạch là tám mạch nằm ngoài mười hai chính kinh. Ngoài sự liên hệ trực tiếp giữa đường đi của từng mạch với các cơ quan trong cơ thể, tám mạch này còn thông qua mười hai kinh mạch để liên hệ gián tiếp với ngũ tạng lục phủ.
Trong đó, bốn mạch xung, nhâm, đốc và đới có quan hệ đặc biệt mật thiết với hoạt động sinh lý và bệnh lý của cơ thể.
Kỳ kinh bát mạch có chức năng liên kết mười hai kinh mạch, điều hòa âm dương, khí huyết.
Mạch đốc thống lĩnh phần dương của toàn thân. Mạch nhâm đảm nhiệm phần âm của toàn thân. Mạch xung là nơi hội tụ trọng yếu của các kinh mạch, có liên hệ với vùng khí xung. Mạch đới vòng quanh thắt lưng như dây đai, có chức năng ràng buộc các mạch.
Mạch dương kiểu là biệt mạch của kinh túc thái dương, chủ phần dương ở hai bên cơ thể. Mạch âm kiểu là biệt mạch của kinh túc thiếu âm, chủ phần âm ở hai bên cơ thể.
Mạch dương duy bắt đầu ở nơi các kinh dương hội tụ; mạch âm duy bắt đầu ở nơi các kinh âm giao nhau. Hai mạch có chức năng liên kết, duy trì sự phối hợp âm dương toàn thân.
Khi tạng phủ hoặc kinh lạc bị bệnh, bệnh biến có thể biểu hiện thông qua kỳ kinh bát mạch.
BỆNH CHỨNG MẠCH ĐỐC 督脉病证
Bệnh chứng mạch đốc là những chứng hậu xuất hiện tại vùng mạch đốc đi qua và những biểu hiện do chức năng của các tạng phủ liên quan bị rối loạn.
Mạch đốc bắt đầu ở vùng hội âm, đi dọc lưng, thuộc phần sau cơ thể, thống lĩnh các mạch dương nên còn gọi là “阳脉之海” — biển của các mạch dương.
Nhánh của mạch đốc hội với mạch quyết âm ở đỉnh đầu. Mạch đốc chủ phần dương phía sau cơ thể.
Biểu hiện lâm sàng
Đau vùng thắt lưng, xương cùng, cột sống và lưng; cổ gáy, lưng cứng đờ; đầu nặng, chóng mặt.
Theo cách gọi bệnh chứng cổ truyền, người lớn có thể mắc điên chứng, trẻ em có thể mắc phong giản, biểu hiện bằng những cơn co giật.
Phân tích chứng hậu
Mạch đốc bắt đầu ở vùng hội âm, đi trong cột sống, lên huyệt Phong phủ, vào não, lên đỉnh đầu rồi đi dọc trán.
Tà ngăn trở mạch đốc, kinh khí không thuận, gây đau vùng thắt lưng, xương cùng, cột sống và lưng, cổ gáy cứng đau.
Mạch đốc thiếu nuôi dưỡng, não tủy không đầy đủ, có thể gây chóng mặt, đầu nặng.
Nếu âm dương và khí cơ rối loạn, có thể xuất hiện điên chứng ở người lớn hoặc phong giản ở trẻ em.
BỆNH CHỨNG MẠCH NHÂM 任脉病证
Bệnh chứng mạch nhâm là những chứng hậu xuất hiện tại vùng mạch nhâm đi qua và những biểu hiện do chức năng của các tạng phủ liên quan bị rối loạn.
Mạch nhâm bắt đầu ở phía dưới vùng Trung cực, đi dọc bụng ở phía trước cơ thể. Mạch nhâm cùng với mạch xung chủ phần âm phía trước cơ thể, còn được gọi là “阴脉之海” — biển của các mạch âm.
Mạch nhâm còn có chức năng liên quan đến bào thai.
Biểu hiện lâm sàng
Đau vùng dưới rốn, bụng dưới và bộ phận sinh dục.
Nam giới có thể xuất hiện các loại sán chứng, cổ thư gọi là thất sán. Phụ nữ có thể mắc bệnh đới hạ hoặc trưng hà.
Phân tích chứng hậu
Mạch nhâm chủ âm. Hàn tà ngưng ở mạch, làm huyết vận hành không thuận, gây đau vùng dưới rốn, bụng dưới và bộ phận sinh dục.
Mạch nhâm chủ phần âm phía trước cơ thể. Âm hàn ngưng trệ, khí huyết ứ trở có thể gây sán chứng ở nam giới; ở phụ nữ có thể gây đới hạ, trưng hà và tích tụ.
Đới hạ là tình trạng khí hư bất thường. Trưng hà, tích tụ là những tên gọi cổ truyền của các dạng khối tích trong bụng.
BỆNH CHỨNG MẠCH XUNG 冲脉病证
Bệnh chứng mạch xung là những chứng hậu xuất hiện tại vùng mạch xung đi qua và những biểu hiện do chức năng của các tạng phủ liên quan bị rối loạn.
Mạch xung xuất hiện ở vùng khí nhai, cùng kinh thiếu âm đi lên hai bên rốn. Mạch có chức năng tổng lĩnh, điều hòa khí huyết của mười hai kinh, nên còn gọi là “血海” — huyết hải, và “经脉之海” — biển của các kinh mạch.
Mạch xung cùng với mạch nhâm chủ phần âm phía trước cơ thể.
Biểu hiện lâm sàng
Khí nghịch, cảm giác co thắt, căng tức bên trong; hoặc cảm giác khí từ bụng dưới xung lên ngực và họng, kèm nôn ói, ho.
Nam giới có thể liệt dương; phụ nữ có thể bế kinh, khó có thai hoặc ra máu khi mang thai, cổ gọi là thai lậu.
Phân tích chứng hậu
Mạch xung là biển của các kinh mạch. Khi khí của mạch xung rối loạn, cùng khí của kinh túc dương minh nghịch lên, khí không thể giáng, có thể gây cảm giác khí từ bụng dưới xung lên ngực, họng, kèm nôn ói và ho.
Mạch xung là huyết hải, cùng mạch nhâm tham gia chức năng sinh dục. Xung nhâm mất điều hòa hoặc khí huyết không đầy đủ có thể gây liệt dương ở nam giới, bế kinh và khó có thai ở phụ nữ.
BỆNH CHỨNG MẠCH ĐỚI 带脉病证
Bệnh chứng mạch đới là những chứng hậu xuất hiện tại vùng mạch đới đi qua và những biểu hiện do chức năng của các tạng phủ liên quan bị rối loạn.
Mạch đới bắt đầu ở vùng sườn dưới, vòng quanh thắt lưng như một dây đai, có chức năng ràng buộc mười hai kinh mạch và các kỳ kinh khác.
Biểu hiện lâm sàng
Thắt lưng ê mỏi, chân đau, bụng trướng đầy; khí hư đỏ hoặc trắng, hoặc khí hư loãng.
Có thể âm đĩnh, tức sa tử cung hoặc khối sa ra vùng âm đạo; hoặc ra máu khi mang thai.
Phân tích chứng hậu
Mạch đới vòng quanh thắt lưng, ràng buộc các mạch.
Theo lý luận cổ truyền, hai mạch xung nhâm cùng kinh dương minh liên hệ tại tông cân, hội ở vùng khí nhai, chịu sự ràng buộc của mạch đới và liên hệ với mạch đốc.
Khí huyết của mạch xung đi lên nuôi dưỡng tâm phế cần sự điều phối của mạch đới. Khí trong cơ thể lưu hành lên xuống cũng cần chức năng ràng buộc, giữ gìn của mạch này.
Kinh khí của mạch đới không thuận gây thắt lưng ê mỏi, chân đau.
Trung khí không vận hành, thủy thấp khốn trở mạch đới, gây bụng trướng đầy, khí hư loãng, lượng nhiều.
Khí của mạch đới suy yếu, chức năng nâng giữ và duy trì bào thai không vững, có thể xuất hiện âm đĩnh hoặc ra máu khi mang thai.
BỆNH CHỨNG MẠCH DƯƠNG KIỂU VÀ ÂM KIỂU 阳跷、阴跷脉病证
Bệnh chứng mạch dương kiểu và âm kiểu là những chứng hậu xuất hiện tại vùng hai mạch đi qua và những biểu hiện do chức năng của các tạng phủ liên quan bị rối loạn.
Mạch âm kiểu chủ phần âm ở hai bên cơ thể, mạch dương kiểu chủ phần dương ở hai bên cơ thể.
Hai mạch đều bắt đầu ở vùng gót chân, có ở cả hai bên, đi lên đến khóe mắt trong, có chức năng nhu dưỡng mắt và điều hòa sự nhắm, mở mắt.
Biểu hiện lâm sàng
Mạch dương kiểu bị bệnh có thể biểu hiện “阴缓而阳急” — phần âm chùng giãn, phần dương co căng.
Mạch âm kiểu bị bệnh có thể biểu hiện “阳缓而阴急” — phần dương chùng giãn, phần âm co căng.
Dương khí quá cang có thể gây kích động, chạy đi không kiểm soát, mắt không nhắm, mất ngủ.
Âm hàn thiên thịnh có thể gây chân lạnh.
Phân tích chứng hậu
Mạch dương kiểu đi ở mặt ngoài chi dưới, mạch âm kiểu đi ở mặt trong chi dưới. Hai mạch phối hợp điều hòa các khớp, giúp động tác của tứ chi linh hoạt.
Khi một phần bị bệnh, kinh mạch tại đó có thể co căng, trong khi phần đối ứng tương đối chùng giãn.
Cả hai mạch đều đi đến khóe mắt trong. Mạch dương kiểu bị bệnh, dương khí thiên cang, có thể gây khóe mắt trong đỏ đau, mất ngủ hoặc kích động, chạy đi không kiểm soát.
Mạch âm kiểu bị bệnh, âm hàn thiên thịnh, có thể gây chi dưới lạnh.
BỆNH CHỨNG MẠCH DƯƠNG DUY VÀ ÂM DUY 阳维、阴维脉病证
Bệnh chứng mạch dương duy và âm duy là những chứng hậu xuất hiện tại vùng hai mạch đi qua và những biểu hiện do chức năng của các tạng phủ liên quan bị rối loạn.
Mạch dương duy bắt đầu ở nơi các kinh dương hội tụ, liên kết ba kinh dương. Mạch âm duy bắt đầu ở nơi các kinh âm giao nhau, liên kết ba kinh âm.
Biểu hiện lâm sàng
“阳维为病苦寒热,阴维为病苦心痛。”
Mạch dương duy bị bệnh chủ yếu biểu hiện bằng lạnh và nóng; mạch âm duy bị bệnh chủ yếu biểu hiện bằng đau vùng tim.
Nếu âm dương không được liên kết, duy trì hài hòa, có thể xuất hiện tinh thần lơ đãng, khó tự chủ, mệt mỏi, thiếu sức.
Phân tích chứng hậu
Các mạch dương được mạch đốc thống lĩnh, các mạch âm được mạch nhâm đảm nhiệm. Những nơi các kinh âm, kinh dương phân bố và hội tụ còn cần có mạch liên kết, điều phối. Hai mạch duy có chức năng duy trì sự phối hợp ấy.
Mạch dương duy bắt đầu ở nơi các kinh dương hội tụ, liên kết các kinh dương, từ vùng mắt cá ngoài đi lên, có liên hệ với vệ phận. Khi bị tà xâm phạm, có thể xuất hiện phát sốt, sợ lạnh.
Mạch âm duy bắt đầu ở nơi các kinh âm giao nhau, liên kết các kinh âm, từ vùng mắt cá trong đi lên, có liên hệ với dinh phận. Khi bị tà xâm phạm, có thể xuất hiện đau vùng tim.
Nếu hai mạch không thể duy trì sự phối hợp, âm dương mất điều hòa, dương khí hao tổn sẽ gây mệt mỏi, thiếu sức; tinh khí hao thiếu có thể khiến tinh thần lơ đãng, khó tự chủ.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT NĂM: BIỆN CHỨNG LỤC KINH 六经辨证
Biện chứng lục kinh được trình bày trong sách Thương hàn luận, là phương pháp biện chứng luận trị bệnh ngoại cảm do Trương Trọng Cảnh, y gia thời Đông Hán, xây dựng trên cơ sở thiên “Nhiệt luận” trong sách Tố Vấn cùng các thiên liên quan, kết hợp với đặc điểm truyền biến của bệnh thương hàn.
Phương pháp này lấy sáu kinh: thái dương, dương minh, thiếu dương, thái âm, thiếu âm và quyết âm làm cương lĩnh, quy nạp các chứng hậu xuất hiện trong quá trình diễn biến của bệnh ngoại cảm thành sáu loại.
Ba loại thuộc tam dương bệnh gồm thái dương bệnh, dương minh bệnh và thiếu dương bệnh. Ba loại thuộc tam âm bệnh gồm thái âm bệnh, thiếu âm bệnh và quyết âm bệnh.
Mỗi loại được phân tích theo sự thịnh suy của tà khí và chính khí, vị trí bệnh biến, xu hướng tiến triển hoặc lui giảm của bệnh, cùng sự truyền biến giữa các chứng, nhằm làm rõ đặc điểm bệnh lý ở từng giai đoạn của bệnh ngoại cảm.
Theo cách khái quát của đoạn này, khi sức chống bệnh còn mạnh, phản ứng bệnh biểu hiện cang thịnh, thường thuộc tam dương bệnh chứng; khi sức chống bệnh suy giảm, biểu hiện thiên về hư suy, thường thuộc tam âm bệnh chứng.
Lục kinh bệnh chứng phản ánh những biến đổi bệnh lý của kinh lạc và tạng phủ. Trong đó, tam dương bệnh chứng chủ yếu lấy bệnh biến của lục phủ làm cơ sở; tam âm bệnh chứng chủ yếu lấy bệnh biến của ngũ tạng làm cơ sở. Vì vậy, lục kinh bệnh chứng có thể khái quát phần lớn bệnh biến của tạng phủ và mười hai kinh mạch.
Việc vận dụng biện chứng lục kinh không chỉ giới hạn trong chẩn đoán và điều trị bệnh ngoại cảm, mà còn có ý nghĩa hướng dẫn đối với biện chứng luận trị các bệnh nội thương, tạp bệnh.
Trường Xuân biên soạn
PHÂN LOẠI LỤC KINH BỆNH CHỨNG 六经病证的分类
Lục kinh bệnh chứng là những chứng hậu phát sinh khi ngoại tà xâm phạm cơ thể, tác động đến sáu kinh, làm rối loạn chức năng của tạng phủ, kinh lạc và hoạt động khí hóa có liên quan.
Kinh lạc và tạng phủ là một chỉnh thể không thể tách rời. Vì vậy, bệnh biến ở một kinh có thể ảnh hưởng đến kinh khác; giữa sáu kinh có thể xảy ra sự truyền biến.
Quy luật truyền biến thường gặp là từ biểu vào lý, từ kinh lạc vào tạng phủ, từ kinh dương vào kinh âm. Mức độ của tà khí, thể chất mạnh yếu và việc điều trị có thích hợp hay không đều là những yếu tố chủ yếu quyết định sự truyền biến.
Nếu thể chất người bệnh suy yếu hoặc điều trị không thích hợp, bệnh dù đang thuộc dương chứng cũng có thể chuyển vào tam âm. Ngược lại, nếu chăm sóc tốt, điều trị thích hợp, chính khí phục hồi, bệnh dù thuộc âm chứng cũng có thể chuyển ra tam dương.
Vì vậy, căn cứ vào những chứng hậu xuất hiện trên lâm sàng, vận dụng biện chứng lục kinh để xác định kinh nào bị bệnh, làm rõ nguyên nhân và bệnh cơ, xác lập trị pháp và lựa chọn phương thuốc tương ứng, chính là ý nghĩa của việc phân loại lục kinh bệnh chứng.
THÁI DƯƠNG BỆNH CHỨNG 太阳病证
Thái dương bệnh chứng là những chứng hậu do tà từ ngoài xâm nhập hoặc bệnh phát từ bên trong, khiến kinh mạch thái dương và các tạng phủ tương ứng rối loạn chức năng.
Thái dương là kinh có dương khí thịnh, chủ phần biểu toàn thân, thống nhiếp dinh vệ, được xem như hàng rào bảo vệ cơ thể. Thái dương bao gồm kinh túc thái dương bàng quang và kinh thủ thái dương tiểu trường.
Ngoại tà xâm phạm cơ thể thường khởi đầu ở thái dương. Vệ khí chống tà, chính tà giao tranh, làm kinh khí thái dương không thuận, dinh vệ mất điều hòa mà phát bệnh.
Bệnh phát từ bên trong có thể xuất hiện khi bệnh chuyển từ âm sang dương hoặc từ lý ra biểu trong những điều kiện nhất định.
Do thể chất người bệnh và sự truyền biến của tà khí khác nhau, thái dương kinh chứng được chia thành thái dương trúng phong và thái dương thương hàn.
THÁI DƯƠNG KINH CHỨNG 太阳经证
Thái dương kinh chứng là những chứng hậu do ngoại tà xâm phạm kinh thái dương, tà còn ở cơ biểu, làm kinh khí vận hành không thuận.
THÁI DƯƠNG TRÚNG PHONG CHỨNG 太阳中风证
Thái dương trúng phong là chứng hậu do phong tà xâm phạm cơ biểu, vệ khí không vững, dinh âm không được giữ bên trong mà thoát ra ngoài.
Trên lâm sàng còn gọi là biểu hư chứng. “Trúng phong” trong tên chứng này chỉ phong tà xâm phạm phần biểu.
Biểu hiện lâm sàng
Phát sốt, ra mồ hôi, sợ gió, đau đầu, mạch phù hoãn. Có thể nghẹt mũi kèm tiếng thở qua mũi và nôn khan.
Phân tích chứng hậu
Thái dương chủ biểu, thống nhiếp dinh vệ. Phong hàn xâm phạm cơ biểu, trong đó phong tà là chủ yếu, làm tấu lý sơ hở, nên người bệnh sợ gió.
Vệ thuộc dương, có chức năng bảo vệ bên ngoài. Vệ bị tà xâm phạm, vệ dương phù ở ngoài, gây phát sốt.
Vệ khí mất chức năng cố biểu và điều hòa sự đóng mở của tấu lý, khiến dinh âm không được giữ bên trong, mồ hôi tự ra.
Mồ hôi ra, tấu lý sơ hở, dinh âm hao giảm, nên mạch phù hoãn.
Phong tà uất trở, ảnh hưởng đến phế và vị, có thể gây nghẹt mũi, tiếng thở qua mũi và nôn khan.
Chứng này có đặc điểm ra mồ hôi, mạch phù hoãn, nên gọi là biểu hư. Đây là cách gọi tương đối khi đối chiếu với biểu thực của thái dương thương hàn, không có nghĩa là một hư chứng tuyệt đối.
THÁI DƯƠNG THƯƠNG HÀN CHỨNG 太阳伤寒证
Thái dương thương hàn là chứng hậu do hàn tà xâm phạm phần biểu, kinh khí thái dương không thuận, vệ dương bị bó buộc, dinh âm uất trệ.
Biểu hiện lâm sàng
Phát sốt, sợ lạnh, đầu và cổ gáy cứng đau, thân thể đau, không có mồ hôi, khó thở, mạch phù khẩn.
Phân tích chứng hậu
Hàn tà xâm phạm phần biểu, vệ dương chống tà nhưng không thể thực hiện bình thường chức năng ôn dưỡng cơ nhục và tấu lý, nên xuất hiện sợ lạnh.
Vệ dương bị tà ngăn trở, chính tà giao tranh ở phần biểu, gây phát sốt. Vì vậy, trên lâm sàng thường thấy sợ lạnh và phát sốt cùng xuất hiện.
Phong hàn xâm phạm, tấu lý bế kín, nên không có mồ hôi.
Kinh khí thái dương không thuận gây đầu và cổ gáy cứng đau.
Chính khí hướng ra ngoài chống tà, trong khi hàn tà bó buộc phần biểu, nên mạch phù khẩn.
Ngoại tà bó buộc, cơ biểu không được tuyên thông, ảnh hưởng đến phế, làm phế khí không thuận, gây khó thở.
Do không có mồ hôi, chứng này được gọi là biểu thực chứng.
THÁI DƯƠNG PHỦ CHỨNG 太阳腑证
Thái dương phủ chứng là những chứng hậu do tà ở kinh thái dương không được giải, truyền vào phủ.
THÁI DƯƠNG SÚC THỦY CHỨNG 太阳蓄水证
Thái dương súc thủy là chứng hậu do ngoại tà chưa giải, truyền vào phủ bàng quang, làm chức năng khí hóa rối loạn, thủy đạo không thông, khiến thủy dịch tích tụ.
Biểu hiện lâm sàng
Tiểu tiện khó, bụng dưới trướng đầy, phát sốt, phiền khát, khát muốn uống nước nhưng uống vào thì nôn. Mạch phù hoặc phù sác.
Phân tích chứng hậu
Bàng quang chứa giữ tân dịch, nhờ khí hóa để vận hành thủy dịch.
Khí hóa của bàng quang không thuận khiến tân dịch không được phân bố lên trên, đồng thời thủy dịch không được bài xuất bình thường, nên phiền khát và tiểu tiện khó.
Thủy khí nghịch lên, đình tụ ở vị, vị không thể tiếp nhận nước uống, nên uống nước vào thì nôn.
Đặc điểm chủ yếu của chứng này là tiểu tiện khó, phiền khát muốn uống, nhưng uống vào thì nôn.
THÁI DƯƠNG SÚC HUYẾT CHỨNG 太阳蓄血证
Thái dương súc huyết là chứng hậu do ngoại tà vào lý hóa nhiệt, theo kinh đi sâu xuống hạ tiêu, tà nhiệt và huyết ứ kết lại ở vùng bụng dưới, thuộc khu vực liên hệ với phủ bàng quang.
Biểu hiện lâm sàng
Bụng dưới co thắt, căng cứng, đầy và đau; hành vi như cuồng hoặc phát cuồng.
Tiểu tiện có thể vẫn thông hoặc bị trở ngại. Có thể đại tiện phân đen. Lưỡi tím hoặc có ban ứ, mạch trầm sáp hoặc trầm kết.
Phân tích chứng hậu
Ngoại tà xâm phạm thái dương rồi vào lý hóa nhiệt. Dinh huyết bị nhiệt nung đốt, nhiệt và huyết ứ kết ở hạ tiêu, gây bụng dưới co thắt, nặng hơn thì căng cứng, đầy và đau.
Tâm chủ huyết mạch, tàng thần. Tà nhiệt quấy nhiễu tâm thần gây hành vi như cuồng hoặc phát cuồng.
Nếu huyết ứ chưa ảnh hưởng rõ đến khí hóa của bàng quang, tiểu tiện có thể vẫn thông. Nếu ứ trệ nặng, ảnh hưởng khí hóa, có thể tiểu khó, tiểu buốt.
Huyết ứ lưu ở vị trường có thể gây phân đen.
Uất nhiệt và huyết ứ ngăn trở mạch, khiến mạch trầm sáp hoặc trầm kết.
Chứng này thường được mô tả ở phụ nữ. Ngoài những biểu hiện trên, có thể kèm kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh hoặc bế kinh, do ứ nhiệt ngăn trở bào cung.
DƯƠNG MINH BỆNH CHỨNG 阳明病证
Dương minh bệnh chứng là những chứng hậu do thái dương bệnh chưa giải, tà ngày càng thịnh rồi truyền vào dương minh; hoặc bệnh phát ngay ở dương minh, khiến tà nhiệt thịnh, làm hao tân dịch và hình thành thực chứng.
Đây thường là giai đoạn bệnh ngoại cảm phát triển mạnh. Đặc điểm cơ bản là thân nóng, ra mồ hôi, không sợ lạnh mà ngược lại sợ nóng.
Vị trí bệnh chủ yếu ở vị trường; tính chất thuộc lý, nhiệt, thực.
Tùy tà nhiệt có kết hợp với chất tích trệ trong ruột hay không, bệnh được chia thành dương minh kinh chứng và dương minh phủ chứng.
DƯƠNG MINH KINH CHỨNG 阳明经证
Dương minh kinh chứng là chứng hậu do tà nhiệt lan khắp cơ thể, tràn đầy kinh dương minh, nhưng chưa có phân khô kết trong ruột. Còn gọi là dương minh nhiệt chứng.
Biểu hiện lâm sàng
Sốt cao, ra nhiều mồ hôi, khát nhiều, muốn uống nhiều nước, mạch hồng đại.
Có thể tay chân lạnh, thở gấp, thở mạnh, tâm phiền, nói sảng. Chất lưỡi đỏ, rêu vàng, có thể nhớt.
Phân tích chứng hậu
Đặc điểm lâm sàng là đại nhiệt, đại hãn, đại khát và mạch hồng đại, tức nóng sốt cao, mồ hôi nhiều, khát nhiều và mạch hồng đại.
Tà vào dương minh, táo nhiệt cang thịnh, tràn đầy kinh mạch, gây sốt cao.
Tà nhiệt hun đốt, bức tân dịch thoát ra ngoài, gây ra nhiều mồ hôi.
Nhiệt thịnh làm hao tổn tân dịch, nên khát nhiều, muốn uống nhiều nước.
Dương minh là kinh nhiều khí, nhiều huyết. Nhiệt thịnh tác động vào kinh, khí huyết vận hành mạnh, nên mạch hồng đại.
Nhiệt quấy nhiễu tâm thần gây tâm phiền, nói sảng.
Tà nhiệt quá thịnh, âm dương không tiếp nối thuận, dương khí nhất thời không thể đến tứ chi, có thể gây tay chân lạnh. Đây là ý nghĩa của câu “热甚厥亦甚” — nhiệt càng thịnh, biểu hiện quyết lạnh cũng có thể càng rõ.
Chất lưỡi đỏ, rêu vàng là dấu hiệu nhiệt thịnh ở dương minh.
DƯƠNG MINH PHỦ CHỨNG 阳明腑证
Dương minh phủ chứng là chứng hậu do tà nhiệt ở kinh dương minh chưa giải, truyền vào phủ; hoặc nhiệt phát từ bên trong, kết hợp với chất cặn bã trong ruột, làm đường ruột bế tắc.
Còn gọi là dương minh phủ thực chứng, có đặc điểm “痞、满、燥、实” — bĩ, mãn, táo, thực: đầy tức, trướng đầy, khô táo và tích kết hữu hình.
Biểu hiện lâm sàng
Triều nhiệt vào buổi chiều, lòng bàn tay và bàn chân ra mồ hôi, vùng rốn và bụng trướng đầy, đau, đại tiện táo bón, trong bụng chuyển động, trung tiện nhiều.
Nặng hơn thì nói sảng, cuồng loạn, mất ngủ.
Rêu lưỡi thường dày, vàng, khô; bờ và đầu lưỡi có gai nổi, thậm chí rêu cháy đen, khô nứt. Mạch trầm trì hữu lực hoặc hoạt sác.
Phân tích chứng hậu
Chứng này nặng hơn dương minh kinh chứng, thường là bước phát triển tiếp theo của kinh chứng.
Nhiệt ở dương minh phủ thực thường biểu hiện bằng nhật bộ triều nhiệt, tức nóng sốt tăng vào khoảng cuối buổi chiều, theo đoạn tham khảo là từ ba đến năm giờ.
Tứ chi nhận khí từ dương minh. Thực nhiệt trong phủ lan ra kinh, khiến lòng bàn tay và bàn chân ra mồ hôi.
Dương minh bệnh có sốt cao, ra nhiều mồ hôi; hoặc phát hãn không thích hợp làm tân dịch thoát ra ngoài, khiến ruột khô. Nhiệt kết với chất cặn bã, làm đường ruột không thông, gây vùng rốn và bụng trướng đầy, đau, đại tiện táo bón.
Phân khô kết trong ruột, khí bị ngăn trở rồi thoát xuống dưới, nên trong bụng chuyển động, trung tiện nhiều.
Tà nhiệt thịnh, hun đốt và quấy nhiễu tâm thần, gây nói sảng, cuồng loạn, mất ngủ.
Nhiệt kết bên trong, tân dịch hao tổn, nên rêu lưỡi vàng khô, có gai nổi hoặc cháy đen, khô nứt.
Táo nhiệt kết ở ruột, khí huyết trong mạch bị ngăn trở, đồng thời tà nhiệt thúc bách, nên mạch trầm trì hữu lực hoặc hoạt sác.
THIẾU DƯƠNG BỆNH CHỨNG 少阳病证
Thiếu dương bệnh chứng là những chứng hậu do ngoại tà xâm phạm, chính tà giao tranh ở khoảng bán biểu bán lý, làm đầu mối chuyển vận của thiếu dương không thuận.
Xét về vị trí, bệnh đã rời phần biểu của thái dương nhưng chưa vào phần lý của dương minh, nằm ở bán biểu bán lý. Theo cách phân loại trong đoạn này, bệnh thuộc nhiệt chứng ở bán biểu bán lý.
Bệnh có thể do thái dương chưa giải rồi truyền vào, tà trực tiếp xâm phạm thiếu dương, hoặc tam âm bệnh có dương khí phục hồi rồi chuyển sang thiếu dương.
Biểu hiện lâm sàng
Lúc lạnh lúc nóng, ngực sườn đầy tức khó chịu, lặng lẽ không muốn ăn uống, tâm phiền, hay buồn nôn hoặc nôn, miệng đắng, họng khô, hoa mắt.
Rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền.
Phân tích chứng hậu
Triệu chứng chủ yếu là lúc lạnh lúc nóng, ngực sườn đầy tức, tâm phiền, miệng đắng và buồn nôn.
Tà phạm thiếu dương, chính tà giao tranh ở bán biểu bán lý, gây lạnh nóng luân phiên.
Thiếu dương bị bệnh, đởm hỏa bốc lên, làm hao tân dịch, gây miệng đắng, họng khô.
Ngực sườn là vùng kinh thiếu dương đi qua. Tà nhiệt uất ở thiếu dương, kinh mạch bị ngăn trở, khí huyết không hòa, gây ngực sườn đầy tức khó chịu.
Can đởm sơ tiết không thuận, ảnh hưởng đến vị, khiến vị mất hòa giáng, gây nôn và không muốn ăn uống.
Khí của thiếu dương uất, khí hỏa nghịch lên, gây tâm phiền. Can đởm bị bệnh, khí cơ uất trệ, nên mạch huyền.
THÁI ÂM BỆNH CHỨNG 太阴病证
Thái âm bệnh chứng là những chứng hậu do tà phạm thái âm, khiến chức năng tỳ vị suy yếu. “Thái âm” trong phần này chủ yếu chỉ bệnh ở tỳ, có liên quan đến vị.
Bệnh có thể do tam dương được điều trị không thích hợp, làm tổn thương tỳ dương; hoặc tỳ khí vốn hư, hàn tà trực tiếp xâm nhập mà phát bệnh.
Biểu hiện lâm sàng
Bụng đầy, nôn, ăn không vào, tự tiêu chảy, không khát, từng lúc đau bụng.
Có thể rêu lưỡi trắng nhớt, mạch trầm hoãn nhược.
Phân tích chứng hậu
Bệnh cơ chủ yếu là tỳ vị hư hàn, hàn thấp tụ bên trong.
Tỳ thổ hư hàn, trung dương bất túc, tỳ mất kiện vận, hàn thấp sinh bên trong. Thấp ngăn trở khí cơ gây bụng đầy.
Hàn tà ngăn trở bên trong, khí huyết vận hành không thuận, gây đau bụng từng cơn.
Trung dương không chấn hưng, hàn thấp đi xuống, gây tiêu chảy, đại tiện lỏng; nặng hơn thì đi ngoài ra thức ăn chưa tiêu.
Khí hóa ở hạ tiêu chưa bị tổn thương rõ, tân dịch vẫn có thể đưa lên trên, nên người bệnh không khát.
Hàn thấp lan ở thái âm, nên rêu lưỡi trắng nhớt, mạch trầm hoãn nhược.
THIẾU ÂM BỆNH CHỨNG 少阴病证
Thiếu âm bệnh chứng là nhóm chứng hậu biểu hiện sự suy yếu toàn thân, liên quan đến bệnh biến của tâm và thận.
Trong quá trình phát triển của lục kinh bệnh, thiếu âm có thể là giai đoạn nguy hiểm. Khi bệnh đến thiếu âm, chức năng tâm thận suy giảm, sức chống bệnh yếu đi.
Tùy điều kiện, bệnh có thể theo âm hóa hàn hoặc theo dương hóa nhiệt, vì vậy trên lâm sàng có hai dạng: thiếu âm hàn hóa và thiếu âm nhiệt hóa.
THIẾU ÂM HÀN HÓA CHỨNG 少阴寒化证
Thiếu âm hàn hóa là chứng hậu do tâm thận mất điều hòa thủy hỏa, bệnh tà theo âm hóa hàn, âm hàn thịnh bên trong, dương khí suy yếu.
Biểu hiện lâm sàng
Không phát sốt, sợ lạnh, mạch vi tế, chỉ muốn ngủ, tứ chi lạnh ngắt, tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu, nôn, không ăn được hoặc ăn vào thì nôn.
Có thể mạch rất yếu, gần như mất, nhưng ngược lại không sợ lạnh, thậm chí mặt đỏ.
Phân tích chứng hậu
Dương hư không thể sưởi ấm, nên sợ lạnh, mệt mỏi muốn nằm, tứ chi lạnh ngắt.
Dương khí suy yếu, thần khí thiếu nuôi dưỡng, gây trạng thái “但欲寐” — chỉ muốn ngủ, tinh thần suy mệt.
Dương suy, hàn thịnh, không đủ sức thúc đẩy huyết vận hành, nên mạch vi tế.
Thận dương hư, không thể ôn dưỡng và hỗ trợ tỳ dương vận hóa, gây tiêu chảy ra thức ăn chưa tiêu.
Nếu âm hàn quá thịnh, đẩy phần dương khí còn lại lên trên, có thể xuất hiện mặt đỏ do dương phù ở trên, gọi là “戴阳” — đới dương. Đây là biểu hiện giả nhiệt trên nền chân hàn.
THIẾU ÂM NHIỆT HÓA CHỨNG 少阴热化证
Thiếu âm nhiệt hóa là chứng hậu do tà ở thiếu âm theo hỏa hóa nhiệt, làm tổn thương âm, khiến âm hư, dương tương đối cang thịnh.
Biểu hiện lâm sàng
Tâm phiền, mất ngủ, miệng họng khô, tiểu ít và sẫm màu, lưỡi đỏ, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu
Tà vào thiếu âm, theo dương hóa nhiệt. Nhiệt nung đốt chân âm, khiến thận âm hao thiếu, tâm hỏa cang thịnh, tâm thận bất giao, gây tâm phiền, mất ngủ.
Tà nhiệt làm tổn thương tân dịch, tân dịch không thể đưa lên làm nhuận, gây miệng họng khô.
Tâm hỏa truyền xuống tiểu trường, gây tiểu ít và sẫm màu.
Âm bị nhiệt làm tổn thương, dinh âm hao tổn bên trong, nên lưỡi đỏ, mạch tế sác.
QUYẾT ÂM BỆNH CHỨNG 厥阴病证
Quyết âm bệnh chứng là những chứng hậu xuất hiện khi bệnh đến quyết âm, chức năng điều hòa âm dương rối loạn, biểu hiện bằng hàn nhiệt thác tạp và quyết nhiệt thắng phục.
Hàn nhiệt thác tạp là hàn và nhiệt cùng tồn tại. Quyết nhiệt thắng phục là sự luân phiên, biến đổi giữa trạng thái tay chân quyết lạnh và phát nhiệt.
Đây thường được xem là giai đoạn muộn trong quá trình phát triển của lục kinh bệnh.
Bệnh có thể phát sinh do hàn tà trực tiếp xâm nhập quyết âm ở người vốn chính khí bất túc; do thiếu âm bệnh phát triển rồi truyền vào quyết âm; hoặc do thiếu dương bệnh bị điều trị sai hay không được điều trị thích hợp, làm dương khí tổn thương nặng, bệnh chuyển sang quyết âm.
Biểu hiện lâm sàng
Khát nhiều, cảm giác khí xung lên vùng tim, trong ngực nóng đau, đói nhưng không muốn ăn, ăn vào thì nôn ra giun đũa.
Phân tích chứng hậu
Dạng chứng được mô tả ở đây thuộc trên nhiệt dưới hàn, vị nhiệt và trường hàn, thể hiện đặc điểm hàn nhiệt thác tạp của quyết âm bệnh.
Phần trên có nhiệt, người bệnh cảm thấy khí nóng từ bụng xung lên vùng thượng vị, thậm chí lên ngực, từng lúc nóng rát, đau. Theo bệnh cơ cổ truyền, đây là can khí kèm tà nhiệt nghịch lên.
Nhiệt làm hao tân dịch, gây khát, uống nhiều.
Phần dưới có hàn, chủ yếu liên quan đến đường ruột; chức năng thu nạp, tiêu hóa của vị trường cũng bị ảnh hưởng, nên người bệnh không muốn ăn.
Theo cách giải thích cổ truyền, giun đũa ưa ấm, tránh lạnh. Khi ruột có hàn, giun có thể di chuyển ngược lên vị hoặc đường mật, dẫn đến nôn ra giun.
Những biểu hiện này cho thấy tính chất hàn nhiệt cùng tồn tại trong dạng quyết âm bệnh được trình bày.
Trường Xuân biên soạn
SỰ TRUYỀN BIẾN CỦA LỤC KINH BỆNH 六经病的传变
Truyền biến là những biểu hiện mang tính giai đoạn trong quá trình phát triển của bệnh, đồng thời phản ánh sự rối loạn trong quan hệ giữa tạng phủ và kinh lạc, khiến bệnh chuyển tiếp từ nơi này sang nơi khác.
Thông thường, “truyền” chỉ sự phát triển của bệnh theo một xu hướng nhất định; “biến” chỉ sự thay đổi tính chất bệnh trong những điều kiện đặc biệt.
Lục kinh bệnh chứng phản ánh những biến đổi bệnh lý của tạng phủ và kinh lạc. Cơ thể là một chỉnh thể, tạng phủ và kinh lạc liên hệ mật thiết, nên bệnh ở một kinh thường có thể ảnh hưởng đến kinh khác, từ đó xuất hiện hợp bệnh, tính bệnh hoặc truyền kinh.
HỢP BỆNH 合病
Hợp bệnh là hai hoặc ba kinh đồng thời phát bệnh, xuất hiện những chứng hậu tương ứng, không phân biệt kinh nào phát bệnh trước hay sau.
Chẳng hạn, thái dương bệnh chứng và dương minh bệnh chứng đồng thời xuất hiện thì gọi là thái dương dương minh hợp bệnh. Cả ba kinh dương cùng bị bệnh thì gọi là tam dương hợp bệnh.
TÍNH BỆNH 并病
Tính bệnh là bệnh ở một kinh chưa được điều trị dứt hoặc chứng hậu của kinh ấy chưa hết, lại xuất hiện thêm chứng hậu của kinh khác.
Khác với hợp bệnh, tính bệnh có sự phát bệnh trước sau, nhưng chứng của kinh phát bệnh trước vẫn còn tồn tại.
Chẳng hạn, thiếu dương bệnh chưa khỏi, bệnh tiếp tục phát triển và ảnh hưởng đến dương minh, thì gọi là thiếu dương dương minh tính bệnh.
TRUYỀN KINH 传经
Truyền kinh là quá trình tà bệnh từ ngoài xâm nhập, dần truyền vào trong, khiến chứng hậu của kinh này chuyển thành chứng hậu của kinh khác.
Bệnh có truyền kinh hay không phụ thuộc chủ yếu vào thể chất mạnh yếu, mức độ cảm nhiễm tà khí và việc điều trị có thích hợp hay không.
Nếu tà thịnh, chính suy, bệnh có thể tiếp tục truyền biến. Nếu chính khí mạnh lên, tà khí lui, bệnh có thể chuyển sang hồi phục.
Người thể chất khỏe, bệnh biến thường biểu hiện ở tam dương; người thể chất suy yếu, bệnh dễ chuyển vào tam âm.
Phát hãn hoặc công hạ không thích hợp cũng có thể làm bệnh chuyển vào dương minh, hoặc không qua thiếu dương, dương minh mà chuyển thẳng vào tam âm.
Tuy nhiên, tam âm bệnh không nhất thiết đều do bệnh từ kinh dương truyền vào. Có trường hợp ngoại tà trực tiếp xâm phạm tam âm ngay từ đầu.
Các hình thức truyền kinh thường được trình bày như sau.
TUẦN KINH TRUYỀN 循经传
Tuần kinh truyền là bệnh truyền theo thứ tự của sáu kinh.
Theo một cách trình bày, thái dương bệnh không khỏi thì truyền vào dương minh; dương minh không khỏi thì truyền vào thiếu dương. Tam dương bệnh không giải thì truyền vào tam âm, trước đến thái âm, tiếp đến thiếu âm, sau cùng đến quyết âm.
Một cách trình bày khác cho rằng thứ tự truyền là thái dương, thiếu dương, dương minh, thái âm, quyết âm rồi thiếu âm.
Đây là những cách khái quát về truyền biến; khi nhận định bệnh vẫn phải căn cứ vào chứng hậu thực tế.
VIỆT KINH TRUYỀN 越经传
Việt kinh truyền là bệnh không theo thứ tự truyền kinh đã nêu, mà bỏ qua một hoặc hai kinh để truyền sang kinh khác.
Chẳng hạn, theo cách xếp thái dương, thiếu dương rồi dương minh, bệnh ở thái dương không truyền qua thiếu dương mà chuyển thẳng vào dương minh; hoặc không qua thiếu dương, dương minh mà chuyển thẳng vào thái âm.
Nguyên nhân thường do tà khí mạnh, chính khí bất túc.
BIỂU LÝ TRUYỀN 表里传
Biểu lý truyền là bệnh truyền giữa hai kinh có quan hệ biểu lý.
Chẳng hạn, thái dương truyền vào thiếu âm, thiếu dương truyền vào quyết âm, dương minh truyền vào thái âm.
Trong những trường hợp được mô tả ở đây, tà thịnh, chính hư, bệnh từ thực chuyển sang hư, tình trạng bệnh nặng thêm.
Biểu lý truyền nhấn mạnh quan hệ biểu lý giữa hai kinh, nên ý nghĩa khác với việt kinh truyền.
TRỰC TRÚNG 直中
Trực trúng là ngay khi khởi bệnh, tà không truyền từ kinh dương vào mà trực tiếp xâm phạm kinh âm, khiến người bệnh biểu hiện tam âm chứng hậu ngay từ đầu.
ÂM BỆNH CHUYỂN DƯƠNG 阴病转阳
Những hình thức trên chủ yếu mô tả bệnh từ ngoài truyền vào trong, từ dương chuyển sang âm.
Ngoài ra, còn có trường hợp tà ở lý chuyển ra biểu, bệnh từ âm chuyển sang dương.
Âm bệnh chuyển dương là bệnh vốn thuộc tam âm, sau đó chuyển thành tam dương chứng. Khi đi kèm sự phục hồi của chính khí, đây có thể là dấu hiệu bệnh đang chuyển theo hướng hồi phục.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT SÁU: BIỆN CHỨNG VỆ KHÍ DINH HUYẾT 卫气营血辨证
Biện chứng vệ khí dinh huyết là phương pháp biện chứng luận trị bệnh ôn nhiệt ngoại cảm do Diệp Thiên Sĩ, y gia đời Thanh, khởi xướng.
Tà khí ôn nhiệt trong bốn mùa xâm phạm cơ thể có thể làm rối loạn chức năng sinh lý của vệ, khí, dinh và huyết, phá vỡ trạng thái cân bằng động của cơ thể, từ đó phát sinh bệnh ôn nhiệt.
Phương pháp này phát triển trên cơ sở biện chứng lục kinh của bệnh thương hàn, đồng thời bổ sung những mặt còn hạn chế của biện chứng lục kinh, làm phong phú nội dung biện chứng bệnh ngoại cảm.
Vệ, khí, dinh, huyết tương ứng với bốn nhóm chứng hậu: vệ phận chứng, khí phận chứng, dinh phận chứng và huyết phận chứng.
Khi tà ôn nhiệt xâm nhập cơ thể, bệnh thường bắt đầu ở vệ phận. Tà ở vệ phận uất lại không giải thì truyền vào khí phận. Tà ở khí phận không được giải, chính khí suy yếu, tân dịch hao tổn, tà có thể thừa hư đi vào dinh huyết. Nhiệt ở dinh phận tiếp tục làm tổn thương huyết và hao âm, có thể ảnh hưởng đến huyết phận.
PHÂN LOẠI CHỨNG HẬU VỆ KHÍ DINH HUYẾT
Theo phương pháp này, bệnh ôn nhiệt được chia thành bốn nhóm chứng hậu: vệ phận, khí phận, dinh phận và huyết phận.
Bốn nhóm biểu thị bốn tầng bệnh biến từ biểu vào lý sau khi tà ôn nhiệt xâm phạm cơ thể.
Vệ phận chủ phần da lông, là tầng nông nhất, thường tương ứng với giai đoạn đầu của bệnh ôn nhiệt. Khí phận liên quan đến cơ nhục và các tạng phủ, sâu hơn vệ phận. Dinh và huyết đều thuộc lý; dinh phận tương đối nông, huyết phận sâu hơn.
CHỨNG HẬU VỆ PHẬN 卫分证候
Vệ phận chứng là chứng hậu do tà ôn nhiệt xâm phạm cơ biểu, khiến chức năng phế vệ rối loạn. Bệnh biến chủ yếu liên quan đến phế và vệ khí.
Biểu hiện lâm sàng
Phát sốt cùng với sợ gió lạnh, trong đó sốt rõ hơn, sợ gió lạnh nhẹ hơn.
Có thể khát nước, đau đầu, ho, họng sưng đau. Bờ và đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch phù sác.
Phân tích chứng hậu
Phong ôn phạm biểu, vệ khí bị uất trở rồi chống tà, gây phát sốt, hơi sợ gió lạnh.
Phong ôn làm tổn thương phế, gây ho, họng sưng đau.
Phong nhiệt quấy nhiễu phía trên khiến bờ và đầu lưỡi đỏ.
Tà còn ở biểu nên mạch phù, rêu lưỡi mỏng; có nhiệt đi kèm nên mạch sác.
CHỨNG HẬU KHÍ PHẬN 气分证候
Khí phận chứng là lý nhiệt chứng do tà ôn nhiệt truyền vào tạng phủ, chính khí còn mạnh, tà khí thịnh, chính tà giao tranh dữ dội, dương nhiệt cang thịnh.
Đây thường là thời kỳ tà ôn nhiệt phát triển mạnh sau khi từ biểu vào lý, từ nông vào sâu.
Tùy tạng phủ và vị trí bị bệnh, khí phận chứng có nhiều dạng. Thường gặp nhiệt ủng ở phế, nhiệt nhiễu hung cách, nhiệt ở phế vị và nhiệt bức đại trường.
Biểu hiện lâm sàng
Phát sốt, không sợ lạnh mà ngược lại sợ nóng; lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác. Thường kèm tâm phiền, khát nước, mặt đỏ.
Nếu kèm ho, khó thở, đau ngực, khạc đàm vàng đặc thì thuộc nhiệt ủng ở phế.
Nếu kèm tâm phiền, bứt rứt khó chịu, đứng ngồi không yên thì thuộc nhiệt nhiễu hung cách, tức nhiệt quấy nhiễu vùng ngực và cơ hoành.
Nếu kèm tự ra mồ hôi, thở gấp, bứt rứt, khát nhiều, mạch sác, rêu vàng khô thì thuộc nhiệt ở phế vị.
Nếu kèm ngực đầy tức, phiền khát, tiêu chảy, nói sảng thì thuộc nhiệt bức đại trường.
Phân tích chứng hậu
Tà ôn nhiệt vào khí phận, chính tà giao tranh dữ dội, dương nhiệt cang thịnh, gây phát sốt, nước tiểu sẫm màu, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.
Tà không còn ở biểu nên không sợ lạnh mà ngược lại sợ nóng.
Nhiệt thịnh làm hao tân dịch gây khát nước. Nhiệt quấy nhiễu tâm thần gây tâm phiền.
Nhiệt ủng ở phế, khí cơ không thuận, gây ho, khó thở, đau ngực. Phế nhiệt nung đốt tân dịch thành đàm, nên đàm vàng đặc.
Nhiệt quấy nhiễu vùng ngực và cơ hoành, uất lại không được giải tỏa, gây bứt rứt, khó chịu, đứng ngồi không yên.
Nhiệt ở phế hun đốt bên trong, gây tự ra mồ hôi, thở gấp. Nhiệt ở vị làm hao tân dịch, gây bứt rứt, khát nhiều, mạch sác, rêu vàng khô.
Nhiệt ở phế vị dồn xuống đại trường, khiến nhiệt trong ruột quá thịnh. Nếu nhiệt kết với phân khô, phần dịch lỏng có thể chảy vòng qua khối phân mà đi ra ngoài, gọi là nhiệt kết bàng lưu. Khi đó có thể xuất hiện ngực đầy tức, phiền khát, đại tiện lỏng và nói sảng.
CHỨNG HẬU DINH PHẬN 营分证候
Dinh phận chứng là chứng hậu thuộc giai đoạn tà ôn nhiệt đi sâu vào bên trong, bệnh tương đối nặng.
Dinh vận hành trong mạch, bên trong thông với tâm. Vì vậy, đặc điểm bệnh biến của dinh phận là dinh âm bị tổn thương và tâm thần bị quấy nhiễu.
Biểu hiện lâm sàng
Thân nóng, tăng rõ về đêm, khát không nhiều, tâm phiền, mất ngủ.
Nặng hơn có thể thần trí mê mờ, nói sảng. Ban chẩn xuất hiện lờ mờ. Chất lưỡi đỏ sẫm, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu
Tà nhiệt vào dinh, nung đốt dinh âm, làm hao tổn chân âm, khiến thân nóng rõ, sờ thấy nóng, tăng về đêm; miệng khô nhưng khát không nhiều, mạch tế sác.
Nhiệt ở dinh phận hun đốt bên trong khiến chất lưỡi đỏ sẫm.
Nếu nhiệt lan vào huyết lạc, có thể thấy ban chẩn lờ mờ.
Tâm thần bị quấy nhiễu gây tâm phiền, mất ngủ; nặng hơn thì thần trí mê mờ, nói sảng.
CHỨNG HẬU HUYẾT PHẬN 血分证候
Huyết phận chứng là chứng hậu thuộc giai đoạn tà ôn nhiệt đi sâu vào âm phận, làm tổn thương tinh huyết và tân dịch, bệnh có thể nguy kịch.
Đây là tầng sâu nhất trong hệ thống vệ khí dinh huyết. Biến đổi bệnh lý điển hình là nhiệt thịnh động huyết và tâm thần rối loạn. Bệnh biến chủ yếu liên quan đến tâm, can và thận.
Trên lâm sàng thường gặp huyết nhiệt vọng hành và huyết nhiệt thương âm.
CHỨNG HUYẾT NHIỆT VỌNG HÀNH 血热妄行证
Huyết nhiệt vọng hành là chứng xuất huyết do nhiệt vào huyết phận, làm tổn thương huyết lạc, khiến huyết đi sai đường.
Biểu hiện lâm sàng
Trên nền dinh phận chứng, xuất hiện thêm nóng bứt rứt, kích động, thần trí mê loạn, cuồng loạn, nói sảng.
Ban chẩn nổi rõ, màu tím hoặc tím đen. Có thể nôn ra máu, chảy máu mũi, đại tiện ra máu, tiểu ra máu.
Chất lưỡi đỏ sẫm đậm hoặc tím, mạch tế sác.
Phân tích chứng hậu
Tà nhiệt vào huyết phận, bệnh nặng hơn so với nhiệt ở dinh phận.
Huyết nhiệt quấy nhiễu tâm gây kích động, cuồng loạn. Nhiệt ở huyết phận quá thịnh, bức huyết đi sai đường, gây các biểu hiện xuất huyết.
Nhiệt quá thịnh có thể gây thần trí mê mờ, nói sảng, ban chẩn tím đen.
Nhiệt thịnh trong huyết khiến chất lưỡi đỏ sẫm đậm hoặc tím.
Thực nhiệt làm tổn thương âm, hao huyết, nên mạch tế sác.
Điểm phân biệt chủ yếu giữa nhiệt nhập dinh phận và huyết nhiệt vọng hành nằm ở ban chẩn và chất lưỡi.
Nhiệt nhập dinh phận: ban chẩn còn lờ mờ, chất lưỡi đỏ sẫm, bệnh tương đối nông hơn.
Huyết nhiệt vọng hành: ban chẩn nổi rõ, màu tím hoặc tím đen, chất lưỡi đỏ sẫm đậm hoặc tím, bệnh sâu và nặng hơn.
CHỨNG HUYẾT NHIỆT THƯƠNG ÂM 血热伤阴证
Huyết nhiệt thương âm là chứng hậu do nhiệt ở huyết phận làm hao tổn âm dịch, dẫn đến âm hư nội nhiệt.
Biểu hiện lâm sàng
Sốt nhẹ kéo dài, chiều tối nóng, sáng dịu mát, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng họng khô, tinh thần mệt mỏi, nghe kém hoặc điếc tai, tâm phiền, mất ngủ.
Lưỡi ít tân dịch, mạch hư tế sác.
Phân tích chứng hậu
Tà nhiệt lưu lâu ở huyết phận, nung đốt và làm hao âm dịch. Âm hư khiến dương nhiệt quấy nhiễu bên trong, gây sốt nhẹ, chiều tối nóng, sáng dịu mát và ngũ tâm phiền nhiệt.
Âm tinh hao tổn, không thể nuôi dưỡng thanh khiếu, gây miệng khô, lưỡi khô, lưỡi ít tân dịch, nghe kém hoặc điếc tai.
Âm tinh hao thiếu, thần mất nuôi dưỡng, nên tinh thần mệt mỏi.
Tinh huyết bất túc khiến mạch hư tế. Âm hư nội nhiệt khiến mạch sác.
PHÂN BIỆT CHỨNG HẬU VỆ KHÍ DINH HUYẾT
Vệ phận chứng: phát sốt, hơi sợ gió lạnh, khát nước, đau đầu, ho, họng sưng đau. Bờ và đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng, mạch phù sác.
Khí phận chứng: phát sốt, không sợ lạnh mà sợ nóng, khát nhiều. Có thể ho, khó thở, đàm vàng; hoặc tâm phiền, bứt rứt; hoặc sốt cao, ra nhiều mồ hôi. Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.
Dinh phận chứng: thân nóng tăng về đêm, khát không nhiều, tâm phiền, mất ngủ; nặng hơn thì thần trí mê mờ, nói sảng, ban chẩn lờ mờ. Chất lưỡi đỏ sẫm, mạch tế sác.
Huyết nhiệt vọng hành: nóng bứt rứt, cuồng loạn, nói sảng, ban chẩn nổi rõ; có thể nôn ra máu, chảy máu mũi, đại tiện ra máu, tiểu ra máu. Chất lưỡi đỏ sẫm đậm hoặc tím, mạch tế sác.
Huyết nhiệt thương âm: sốt nhẹ, chiều tối nóng, sáng dịu mát, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô, tinh thần mệt mỏi, nghe kém, tâm phiền, mất ngủ. Thân lưỡi gầy nhỏ, ít tân dịch, mạch hư tế sác.
QUY LUẬT TRUYỀN BIẾN CỦA CHỨNG HẬU VỆ KHÍ DINH HUYẾT
Trong quá trình bệnh ôn nhiệt ngoại cảm, sự truyền biến của chứng hậu vệ khí dinh huyết được trình bày theo hai hình thức: thuận truyền và nghịch truyền.
THUẬN TRUYỀN 顺传
Bệnh ôn nhiệt ngoại cảm thường bắt đầu ở vệ phận, sau đó lần lượt truyền vào khí phận, dinh phận và huyết phận.
Đây là quá trình từ nông vào sâu, từ biểu vào lý, theo thứ tự vệ, khí, dinh, huyết, biểu thị tà khí ngày càng đi sâu và bệnh tình dần nặng thêm.
NGHỊCH TRUYỀN 逆传
Theo cách phân loại của đoạn này, nghịch truyền là bệnh không truyền theo thứ tự trên, gồm hai dạng.
Dạng không theo thứ tự truyền: ngay từ đầu có thể không xuất hiện vệ phận chứng mà trực tiếp biểu hiện khí phận, dinh phận hoặc huyết phận chứng.
Dạng truyền biến nhanh, bệnh nặng: nhiệt lan rộng, không chỉ khí phận và dinh phận có nhiệt mà huyết phận cũng bị nung đốt, có thể xuất hiện khí dinh đồng bệnh hoặc khí huyết lưỡng phần, tức nhiệt đồng thời thịnh ở khí phận và huyết phận.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT BẢY: BIỆN CHỨNG TAM TIÊU 三焦辨证
Biện chứng tam tiêu là một trong những cương lĩnh biện chứng bệnh ôn nhiệt ngoại cảm, do Ngô Cúc Thông, y gia đời Thanh, đề xướng.
Phương pháp này căn cứ vào quan niệm về vị trí tam tiêu trong Nội kinh, phân chia các cơ quan thuộc thân mình thành ba phần: thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu.
Từ họng đến vùng ngực, cơ hoành thuộc thượng tiêu; vùng thượng vị và bụng thuộc trung tiêu; bụng dưới và hai khiếu trước sau thuộc hạ tiêu.
Biện chứng tam tiêu được tổng kết trên cơ sở biện chứng lục kinh trong Thương hàn luận và biện chứng vệ khí dinh huyết của Diệp Thiên Sĩ, kết hợp với đặc điểm truyền biến của ôn bệnh.
PHÂN LOẠI TAM TIÊU BỆNH CHỨNG
Những biến đổi bệnh lý và biểu hiện lâm sàng của các tạng phủ thuộc tam tiêu phản ánh những giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển của ôn bệnh.
Thượng tiêu chủ yếu gồm bệnh biến của phế thuộc thủ thái âm và tâm bào thuộc thủ quyết âm, thường gặp trong giai đoạn đầu của bệnh ôn nhiệt.
Trung tiêu chủ yếu gồm bệnh biến của dương minh ở tay, chân và tỳ thuộc túc thái âm. Tỳ vị cùng thuộc trung tiêu; dương minh chủ táo, thái âm chủ thấp.
Tà vào dương minh, theo táo hóa, thường biểu hiện lý nhiệt táo thực chứng. Tà vào thái âm, theo thấp hóa, thường biểu hiện thấp ôn bệnh chứng. Trong đó, bệnh biến ở vị thuộc túc dương minh thường gặp khi bệnh phát triển đến thời kỳ cực thịnh.
Hạ tiêu chủ yếu gồm bệnh biến của thận thuộc túc thiếu âm và can thuộc túc quyết âm, thường biểu hiện can thận âm hư, gặp ở giai đoạn cuối của ôn bệnh.
THƯỢNG TIÊU BỆNH CHỨNG 上焦病证
Thượng tiêu bệnh chứng là những chứng hậu do tà ôn nhiệt từ miệng mũi xâm nhập cơ thể, tác động trước đến phế vệ.
Sau khi ôn tà phạm phế, bệnh có hai xu hướng truyền biến.
Thuận truyền là tà từ thượng tiêu truyền xuống trung tiêu, xuất hiện chứng hậu liên quan đến vị thuộc túc dương minh.
Nghịch truyền là tà từ phế truyền vào tâm bào thuộc thủ quyết âm, hình thành chứng nghịch truyền tâm bào.
Biểu hiện lâm sàng
Hơi sợ gió lạnh, thân nóng, tự ra mồ hôi, khát hoặc không khát, ho, nóng sốt tăng vào buổi chiều.
Mạch phù sác hoặc hai bộ thốn nổi rõ, lớn hơn các bộ khác.
Nếu tà vào tâm bào, có thể lưỡi cứng, nói khó, tứ chi lạnh, thần trí mê mờ, nói sảng.
Phân tích chứng hậu
Tà phạm thượng tiêu. Phế hợp với da lông, chủ phần biểu, nên xuất hiện sợ gió lạnh.
Chức năng khí hóa của phế rối loạn, khí bị uất trở, gây thân nóng. Phế khí không tuyên phát gây ho.
Theo cách giải thích của đoạn này, tà uất có thể khiến nóng sốt tăng vào buổi chiều.
Tà ôn nhiệt còn ở biểu nên mạch phù sác. Bệnh ở thượng tiêu có thể biểu hiện hai bộ thốn lớn nổi rõ.
Ôn tà nghịch truyền tâm bào. Lưỡi là khiếu của tâm, nên có thể lưỡi cứng, nói khó.
Tâm dương bị uất bên trong, không thông đạt ra tứ chi, gây tay chân lạnh.
Nhiệt quấy nhiễu tâm thần khiến thần trí mê mờ, nói sảng.
TRUNG TIÊU BỆNH CHỨNG 中焦病证
Trung tiêu bệnh chứng là những chứng hậu ở tỳ vị do ôn bệnh từ thượng tiêu thuận truyền xuống trung tiêu.
Nếu tà theo táo hóa, có thể biểu hiện nhiệt thịnh chưa kết với chất hữu hình, hoặc nhiệt kết với chất tích trệ hữu hình, khiến dương minh mất nhuận, táo nhiệt làm tổn thương âm.
Nếu tà theo thấp hóa, thấp uất trở tỳ vị, khí cơ thăng giáng không thuận, sẽ biểu hiện thấp ôn bệnh chứng.
Vì vậy, trung tiêu bệnh chứng được phân biệt thành vị táo thương âm và thấp nhiệt ở kinh tỳ.
CHỨNG VỊ TÁO THƯƠNG ÂM 胃燥伤阴证
Vị táo thương âm là chứng hậu do bệnh vào trung tiêu, tà theo táo hóa, hình thành táo nhiệt ở dương minh.
Biểu hiện lâm sàng
Thân nóng, mặt đỏ, bụng đầy, đại tiện táo bón, miệng họng khô, môi nứt, lưỡi khô.
Rêu lưỡi vàng hoặc khô cháy, mạch trầm sáp.
Phân tích chứng hậu
Dương nhiệt bốc lên gây thân nóng, mặt đỏ.
Táo nhiệt thịnh bên trong, làm hao tổn tân dịch, vị không được nhuận dưỡng, gây bụng đầy, đại tiện táo bón, miệng họng khô, môi nứt, rêu lưỡi vàng hoặc khô cháy.
Khí cơ không thông, tân dịch khó được phân bố, nên mạch trầm sáp.
Bệnh cơ và biểu hiện lâm sàng của chứng này cơ bản tương đồng với dương minh bệnh chứng trong biện chứng lục kinh. Tuy nhiên, bệnh ở đây do cảm nhiễm ôn tà, có thể truyền biến nhanh và làm hao tổn âm dịch rõ.
CHỨNG THẤP NHIỆT Ở KINH TỲ 脾经湿热证
Đây là chứng hậu do tà thấp ôn uất trở kinh thái âm tỳ.
Biểu hiện lâm sàng
Sắc mặt vàng nhạt, đầu nặng, thân thể đau, ra mồ hôi nhưng sốt không giảm.
Thân nóng không bộc lộ rõ ra ngoài, tiểu tiện khó, đại tiện không thông khoái hoặc lỏng.
Rêu lưỡi vàng, trơn nhớt, mạch tế nhu sác. Có thể xuất hiện bạch bồi ở ngực, bụng hoặc những vùng khác.
Bạch bồi là những nốt phỏng nhỏ, trong hoặc trắng, nổi trên da, được mô tả trong bệnh thấp ôn.
Phân tích chứng hậu
Thấp nhiệt ở thái âm, nhiệt bị thấp bao bọc, uất lại rồi hun đốt lên trên, khiến sắc mặt vàng nhạt, đầu nặng, thân thể đau.
Thấp nhiệt quấn quýt, khó giải, nên ra mồ hôi nhưng sốt không giảm.
Thấp nhiệt khốn trở trung tiêu, tỳ mất kiện vận, khí không thông thuận, gây tiểu tiện khó, đại tiện không thông khoái hoặc lỏng.
Thấp có tính dính trệ. Tà thấp nhiệt lưu ở khí phận không giải, hun đốt cơ biểu, gây thân nóng không bộc lộ rõ và xuất hiện bạch bồi.
Rêu lưỡi vàng, trơn nhớt, mạch tế nhu sác đều là dấu hiệu thấp nhiệt uất, hun đốt bên trong.
HẠ TIÊU BỆNH CHỨNG 下焦病证
Hạ tiêu bệnh chứng là những chứng hậu do ôn tà lưu lâu không lui, nung đốt âm tinh ở hạ tiêu, làm tổn thương can thận, dẫn đến can thận âm hư.
Biểu hiện lâm sàng
Thân nóng, mặt đỏ, lòng bàn tay và lòng bàn chân nóng rõ hơn mu bàn tay, mu bàn chân; miệng khô, lưỡi khô, tinh thần mệt mỏi, nghe kém hoặc điếc tai, mạch hư đại.
Có thể tay chân cử động nhẹ ngoài ý muốn, trong ngực hồi hộp, tim đập mạnh, tinh thần mệt mỏi, mạch hư, lưỡi đỏ sẫm ít rêu.
Nặng hơn có thể từng lúc xuất hiện tình trạng gần hư thoát.
Phân tích chứng hậu
Vào giai đoạn cuối của ôn bệnh, tà đi sâu xuống hạ tiêu, chân âm hao tổn, hư nhiệt quấy nhiễu bên trong, gây thân nóng, mặt đỏ, lòng bàn tay và lòng bàn chân nóng hơn mu tay, mu chân, miệng khô, lưỡi khô.
Âm tinh hao thiếu, thần không được nuôi dưỡng, gây tinh thần mệt mỏi. Âm tinh không thể nuôi dưỡng thanh khiếu, gây nghe kém hoặc điếc tai.
Can thuộc phong mộc, chủ cân, cần thận thủy hàm dưỡng.
Chân âm bị nung đốt, thủy hao, mộc không được nuôi dưỡng, cân thiếu nhu dưỡng, có thể gây tay chân cử động nhẹ ngoài ý muốn, nặng hơn thì co giật.
Âm hư, thủy hao, hư phong quấy nhiễu bên trong, có thể gây hồi hộp, cảm giác tim đập mạnh.
Mạch hư, lưỡi đỏ sẫm ít rêu, thậm chí xuất hiện tình trạng gần hư thoát, đều là biểu hiện âm tinh hao kiệt.
QUY LUẬT TRUYỀN BIẾN CỦA TAM TIÊU BỆNH CHỨNG
Các chứng hậu tam tiêu phản ánh ba giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển của ôn bệnh.
Thượng tiêu bệnh chứng thường gặp ở giai đoạn đầu. Trung tiêu bệnh chứng thường gặp ở thời kỳ bệnh phát triển cực thịnh. Hạ tiêu bệnh chứng thường gặp ở giai đoạn cuối.
Thuận truyền thường bắt đầu từ phế thuộc thủ thái âm ở thượng tiêu, truyền xuống trung tiêu rồi tiếp tục đến hạ tiêu.
Nếu tà khí nặng, sức chống bệnh yếu, tà từ phế vệ truyền vào tâm bào thuộc thủ quyết âm thì gọi là nghịch truyền.
Sự truyền biến phụ thuộc vào tính chất tà khí, thể chất và sức chống bệnh của cơ thể.
Nếu người bệnh thiên về âm hư, sức chống bệnh còn tương đối mạnh, tà cảm nhiễm thuộc ôn nhiệt, ôn độc, phong ôn, ôn dịch hoặc đông ôn, khi thuận truyền vào trung tiêu thường theo táo hóa, biểu hiện dương minh táo nhiệt. Khi truyền xuống hạ tiêu, thường biểu hiện can thận âm hư.
Nếu người bệnh thiên về dương hư, sức chống bệnh yếu, lại cảm nhiễm hàn thấp, khi truyền vào trung tiêu thường theo thấp hóa, biểu hiện thấp trở thái âm. Khi truyền xuống hạ tiêu, có thể hình thành chứng thấp lưu lâu làm tổn thương dương.
Riêng thử tà có thể kèm thấp hoặc nhiệt. Khi truyền vào trung tiêu, bệnh có thể theo táo hóa hoặc thấp hóa; khi truyền xuống hạ tiêu, có thể làm tổn thương âm hoặc dương, tùy tính chất tà đi kèm.
Quá trình truyền biến từ trên xuống dưới chỉ là quy luật khái quát, không cố định trong mọi trường hợp.
Có trường hợp bệnh ở thượng tiêu được điều trị rồi khỏi, không truyền tiếp. Có trường hợp từ thượng tiêu truyền thẳng xuống hạ tiêu, hoặc từ trung tiêu truyền vào can thận. Những hình thức này có nét tương tự tuần kinh truyền và việt kinh truyền trong lục kinh bệnh.
Có trường hợp ngay khi khởi bệnh đã xuất hiện chứng thái âm ở trung tiêu, hoặc xuất hiện chứng quyết âm, tương tự trực trúng trong lục kinh bệnh.
Ngoài ra, chứng hậu của hai tiêu có thể đồng thời xuất hiện, hoặc tà lan khắp cả tam tiêu, có nét tương tự hợp bệnh và tính bệnh trong biện chứng lục kinh.
Trường Xuân biên soạn
CHƯƠNG NĂM CHẨN ĐOÁN VÀ BỆNH ÁN
TIẾT MỘT: CHẨN ĐOÁN 诊断
Chẩn đoán, còn gọi là chẩn bệnh, là việc khái quát bệnh trạng của người bệnh trên lâm sàng, xác định tên bệnh và tên chứng thích hợp, phù hợp với tình trạng bệnh và phản ánh đúng bệnh cơ.
Chẩn đoán bao gồm hai phần: chẩn đoán chứng hậu và chẩn đoán bệnh.
Trường Xuân biên soạn
CHẨN ĐOÁN CHỨNG HẬU 证候诊断
Chẩn đoán chứng hậu, còn gọi là biện chứng, là việc xác định tên chứng hậu của người bệnh ở giai đoạn hiện tại.
Biện chứng luận trị là đặc điểm của Trung y, vì vậy chẩn đoán chứng hậu giữ vị trí quan trọng trong quá trình chẩn đoán. Chỉ khi chẩn đoán chính xác, biện chứng rõ ràng mới có cơ sở xác lập điều trị thích hợp. Do đó, chẩn đoán chứng hậu vừa là quá trình biện chứng, vừa là kết quả của quá trình ấy.
PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG 辨证的方法
Quá trình biện chứng thực chất là dưới sự hướng dẫn của quan niệm chỉnh thể, lấy các lý luận cơ bản về âm dương, ngũ hành, tạng phủ, kinh lạc, bệnh nhân và bệnh cơ làm căn cứ, tiến hành phân tích tổng hợp những tư liệu thu thập qua tứ chẩn.
Những tư liệu này gồm bệnh sử, triệu chứng, dấu hiệu và các yếu tố môi trường. Qua đó, thầy thuốc làm rõ mối liên hệ bên trong và quan hệ giữa các bệnh chứng, nhận thức bản chất của bệnh, rồi đưa ra nhận định thích hợp về chứng hậu.
Phân tích, tổng hợp, liên tưởng và phán đoán là những hình thức tư duy cơ bản trong chẩn đoán biện chứng.
Lấy chóng mặt làm ví dụ, y học cổ truyền có nhiều cách giải thích:
“诸风掉眩,皆属于肝” — các chứng phong gây run và chóng mặt đều có liên quan đến can.
Ngoài ra còn có những nhận định như chóng mặt có thể liên quan đến đàm, hỏa, phong hoặc hư; người béo bị chóng mặt thường được xét đến khí hư, có đàm; người gầy bị chóng mặt thường được xét đến huyết hư, có hỏa; phong dương quấy nhiễu phía trên cũng có thể gây chóng mặt.
Vì vậy, trước chứng chóng mặt, thầy thuốc cần cân nhắc các yếu tố can, phong, đàm, hỏa, huyết hư, khí hư và dương cang.
Tuy nhiên, chỉ dựa vào một triệu chứng chóng mặt rất khó xác định bản chất bệnh. Cần tứ chẩn hợp tham và khám xét kỹ.
Nếu thấy sắc mặt trắng nhợt, chất lưỡi nhạt, mạch trầm tế, khả năng huyết hư sẽ được chú ý nhiều hơn. Qua vấn chẩn, nếu có thêm mất ngủ, hồi hộp, kinh nguyệt ít, thì những dấu hiệu ấy có thể củng cố nhận định huyết hư.
Quá trình chẩn đoán chứng hậu thường được triển khai qua những bước sau.
TÌM HIỂU BỆNH SỬ
Nhiều bệnh có liên quan đến việc gặp nóng lạnh, ăn uống không điều độ hoặc tình chí bị tổn thương. Cần căn cứ tình hình cụ thể để hỏi rõ những yếu tố này trước tiên.
XÉT CHỨNG TÌM NGUYÊN NHÂN 审证求因
Căn cứ vào đặc điểm và tính chất của triệu chứng để suy xét nguyên nhân phát sinh.
Chẳng hạn, cổ thư có câu:
“诸躁狂越,皆属于火” — các biểu hiện kích động, cuồng loạn có liên quan đến hỏa.
“诸暴强直,皆属于风” — các biểu hiện đột ngột co cứng có liên quan đến phong.
Cần phân biệt nguyên nhân gây bệnh ban đầu với yếu tố đang trực tiếp gây ra chứng hậu hiện tại.
Trong chứng phong hàn thúc phế, phong hàn ngoại cảm vừa là yếu tố gây bệnh ban đầu, vừa là nguyên nhân trực tiếp của biểu hiện hiện tại.
Trong chứng đàm thấp trở phế, đàm thấp là yếu tố trực tiếp gây ra chứng hậu hiện tại, nhưng chưa chắc là nguyên nhân ban đầu. Nguyên nhân ban đầu có thể là phong hàn ngoại cảm, ăn uống lạnh làm tổn thương chức năng vận hóa hoặc những yếu tố khác.
Khi xét chứng đàm thấp trở phế, đàm thấp giữ vai trò chủ yếu vì đang trực tiếp tác động đến sự phát sinh và phát triển của chứng; nguyên nhân ban đầu được xem xét ở vị trí thứ yếu hơn.
XÁC ĐỊNH BỆNH VỊ
Xác định bệnh vị là nhận định nơi chủ yếu xảy ra bệnh biến.
Bệnh vị thường được biểu thị bằng các khái niệm biểu lý, tạng phủ, kinh mạch, khí huyết, dinh vệ và âm dương.
Đối với bệnh ngoại cảm, thường dùng biểu lý, lục kinh, vệ khí dinh huyết, tam tiêu và tạng phủ để xác định bệnh vị.
Đối với tạp bệnh, thường dùng tạng phủ, kinh mạch, khí huyết và âm dương.
Bệnh vị chủ yếu có thể ở một hoặc nhiều nơi. Nhiệt ủng ở phế có bệnh vị chủ yếu tại phế. Can hỏa phạm phế có bệnh vị liên quan đến cả can và phế.
Nếu đã nhận định huyết hư, vẫn cần kết hợp các triệu chứng khác để xác định rõ đó là can huyết hư, tâm huyết hư hay bệnh chứng phối hợp.
XÉT RÕ BỆNH CƠ
Yếu tố gây bệnh tác động đến một vị trí nhất định sẽ hình thành cơ chế bệnh lý tương ứng.
Căn cứ vào sự thay đổi của triệu chứng và mạch tượng để làm rõ bệnh cơ, đồng thời nhận định sự biến đổi của bệnh cơ trong quá trình bệnh.
PHÂN ĐỊNH BỆNH TÍNH
Trong khi làm rõ bệnh cơ, cần xác định tính chất của bệnh.
Chủ yếu vận dụng biện chứng bát cương để phân biệt hàn, nhiệt, hư, thực.
Chẳng hạn, khát thích uống lạnh, nước tiểu sẫm màu, đại tiện táo bón, bứt rứt, mạch sác thường gợi ý nhiệt.
Miệng nhạt, không khát hoặc thích uống ấm, nước tiểu trong, đại tiện lỏng, mạch trì thường gợi ý hàn.
PHÂN TÍCH BỆNH THẾ
Bệnh thế là xu hướng chuyển biến và phát triển của bệnh cơ.
Nhận định bệnh thế chủ yếu dựa vào sự thay đổi của triệu chứng và mạch tượng.
Chẳng hạn, trong dương chứng, nếu mạch đang mạnh dần trở nên điều hòa, đồng thời các triệu chứng giảm, có thể biểu thị tà khí đang lui, bệnh chuyển theo hướng hồi phục.
XÁC ĐỊNH TÊN CHỨNG
Tên chứng thường được xác lập bằng cách kết hợp nguyên nhân, bệnh vị và bệnh cơ, như tỳ hư thấp trệ hoặc phế nhiệt đàm ủng.
Vì chẩn đoán chứng hậu và chẩn đoán bệnh thường được thực hiện phối hợp, tên chứng và tên bệnh cũng thường được xác định trong cùng quá trình.
NHỮNG ĐIỂM CHỦ YẾU TRONG BIỆN CHỨNG 辨证的要点
TỨ CHẨN ĐẦY ĐỦ VÀ CHÍNH XÁC LÀ CƠ SỞ CỦA BIỆN CHỨNG
Theo nguyên tắc tứ chẩn hợp tham, không được chỉ dựa vào một triệu chứng hoặc một mạch tượng để vội vàng kết luận.
Cần phối hợp những tư liệu thu được từ vọng, văn, vấn và thiết làm căn cứ biện chứng, nhằm hạn chế sai lệch và chẩn đoán nhầm.
Ngay cả khi đã thực hiện đủ bốn phương pháp, vẫn phải xét xem từng phương pháp có được tiến hành kỹ, chính xác và không bỏ sót hay không. Nếu chỉ đủ về hình thức mà thiếu nội dung, cơ sở biện chứng vẫn chưa vững.
Độ chính xác của tứ chẩn trực tiếp ảnh hưởng đến độ chính xác của biện chứng.
Bệnh biểu hiện rất đa dạng. Người bệnh có thể kể không đầy đủ, diễn đạt không rõ do trạng thái tinh thần, hoặc che giấu, phóng đại bệnh tình. Thầy thuốc cần phân tích kỹ, đối chiếu các tư liệu để đạt nhận định chính xác.
Việc thực hiện tứ chẩn phải khách quan, không lấy suy đoán chủ quan hoặc ấn tượng mơ hồ làm căn cứ.
BIỆN CHỨNG XOAY QUANH CHỦ CHỨNG
Cần biết nắm chủ chứng. Chủ chứng có thể là một triệu chứng hoặc một nhóm triệu chứng giữ vai trò trung tâm trong bệnh.
Sau khi xác định chủ chứng, lấy đó làm trọng tâm, phối hợp các triệu chứng khác, mạch tượng và lưỡi tượng để phân biệt nguyên nhân, nhận định chứng hậu.
Chẳng hạn, người bệnh vừa phù vừa khó thở, kèm nhiều biểu hiện khác. Trước hết cần tìm hiểu phù và khó thở xuất hiện theo thứ tự nào để nhận định chủ thứ.
Nếu phù xuất hiện trước, khó thở xuất hiện sau, có thể lấy phù làm chủ chứng, rồi khám các biểu hiện đi kèm nhằm xác định bệnh chủ yếu ở phế, tỳ hay thận, đồng thời phân biệt hàn, nhiệt, hư, thực của chứng phù.
Nếu kèm sắc mặt trắng bệch, rêu lưỡi trắng ướt, tiểu ít, đại tiện lỏng, bụng trướng, không muốn ăn, từng lúc nôn ra nước dãi hoặc bọt loãng, tứ chi thiếu sức, mệt mỏi, mạch nhu hoãn, thì qua phân tích có thể nhận định bệnh chứng ở tỳ giữ vai trò chủ yếu, biểu hiện ở phế là thứ yếu.
Bệnh cơ có thể là tỳ dương không chấn hưng, vận hóa rối loạn, khiến thủy dịch tụ lại thành phù; thủy khí đi lên ảnh hưởng đến phế, gây khó thở.
Qua đó có thể thấy, nắm chủ chứng và biện chứng xoay quanh chủ chứng là một khâu quan trọng.
BIỆN CHỨNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA BỆNH
Bệnh là một quá trình liên tục biến đổi.
Cùng một bệnh, nhưng do thể chất và điều kiện khác nhau, diễn biến có thể khác nhau. Ngay ở một người, bệnh tình cũng thay đổi theo thời gian và tác động của điều trị.
Chẳng hạn, bệnh thương hàn lúc đầu biểu hiện biểu thực, nhưng sau điều trị sai có thể chuyển thành biểu hư hoặc những biến chứng khác.
Ôn bệnh cũng vậy: hôm nay bệnh ở khí phận, ngày sau có thể vào dinh hoặc huyết; cũng có thể tiếp tục lưu ở khí phận, hoặc nhiệt lui, bệnh giải.
Vì vậy, thầy thuốc phải nhận định chứng hậu trong sự biến đổi của bệnh, tìm hiểu kỹ nguyên nhân khởi bệnh, quá trình điều trị và hiệu quả, xét bệnh cơ hiện tại rồi suy đoán xu hướng phát triển.
Chỉ khi xem bệnh là quá trình động mới có thể biện chứng phù hợp. Chứng hậu chưa thay đổi thì kết quả biện chứng có thể giữ nguyên; chứng hậu đã thay đổi thì nhận định cũng phải được điều chỉnh tương ứng.
MỘT DẤU HIỆU RIÊNG BIỆT ĐÔI KHI LÀ ĐIỂM THEN CHỐT
Thông thường, các triệu chứng và kết quả khám xét hợp thành một chỉnh thể. Mỗi dấu hiệu là một bộ phận của chỉnh thể ấy, có quan hệ bổ sung cho những dấu hiệu khác.
Tuy nhiên, có người bệnh xuất hiện một vài dấu hiệu không phù hợp, thậm chí trái ngược với phần lớn biểu hiện còn lại, khiến việc biện chứng khó đi đến kết luận thống nhất.
Trong trường hợp này, có thể vận dụng bát cương để tìm dấu hiệu ở triệu chứng, lưỡi hoặc mạch thực sự phản ánh bệnh cơ chủ yếu.
Dù mang tính quyết định, dấu hiệu ấy vẫn phải được đặt trong toàn bộ chứng hậu, không được tách riêng để kết luận.
Biện chứng có thể căn cứ vào những biểu hiện thông thường, đồng thời cũng cần nhìn xuyên qua những biểu hiện bất thường. Trong các dấu hiệu trái ngược, phải tìm được căn cứ đủ sức phản ánh bản chất bệnh.
Bản tham khảo dẫn y án Dụ Gia Ngôn điều trị cho Từ Quốc Trân.
Người bệnh thân nóng, mắt đỏ, kích động dữ dội, mở rộng cửa, nằm dưới đất, trằn trọc không yên, còn muốn xuống giếng và đòi nước uống; mạch hồng đại. Nhìn bề ngoài, tất cả dường như đều là nhiệt tượng.
Nhưng Dụ Gia Ngôn chú ý hai điểm: người bệnh đòi nước, khi nước được đưa đến lại để xuống không uống; mạch tuy hồng đại nhưng khi ấn sâu thì vô lực.
Kết hợp hai dấu hiệu này với toàn bộ bệnh cảnh, ông nhận định đây là chân hàn giả nhiệt.
Y án minh họa việc tìm dấu hiệu then chốt để phân biệt bản chất bệnh với biểu hiện bên ngoài.
VẬN DỤNG TỔNG HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG 辨证的综合运用
Bát cương cần được vận dụng phối hợp với các phương pháp biện chứng khác.
Bát cương là tổng cương của biện chứng, đồng thời là cơ sở lý luận quan trọng của biện chứng luận trị. Bát cương giữ vai trò khái quát và định hướng cho các phương pháp biện chứng cụ thể.
Biện chứng lục dâm, dịch lệ trong bệnh nhân biện chứng, cùng với biện chứng lục kinh, vệ khí dinh huyết và tam tiêu, thường được vận dụng trong bệnh ngoại cảm.
Biện chứng khí huyết tân dịch, kinh lạc, tạng phủ và một phần của bệnh nhân biện chứng thường được vận dụng trong nội thương tạp bệnh.
Trên lâm sàng cần phối hợp linh hoạt theo tình hình cụ thể.
Chẳng hạn, khi biện chứng tạp bệnh có thể lấy tạng phủ biện chứng làm trung tâm. Nếu biểu hiện rối loạn khí huyết tân dịch nổi bật thì kết hợp khí huyết tân dịch biện chứng. Nếu triệu chứng liên quan rõ đến các vùng mười hai kinh mạch đi qua thì kết hợp kinh lạc biện chứng.
Vì xét chứng tìm nguyên nhân là một nguyên tắc của biện chứng luận trị, quá trình này cũng cần phối hợp với bệnh nhân biện chứng, tức biện chứng về các yếu tố gây bệnh.
Trường Xuân biên soạn
CHẨN ĐOÁN BỆNH 疾病诊断
Chẩn đoán bệnh còn gọi là chẩn đoán bệnh danh, gọi tắt là biện bệnh. Đây là việc căn cứ vào đặc điểm lâm sàng của từng bệnh để đưa ra chẩn đoán tương ứng, xác định tên bệnh mà người bệnh đang mắc.
Dù là bệnh ngoại cảm hay nội thương, mỗi bệnh đều có những quy luật riêng về phát sinh, phát triển, truyền biến và chuyển quy. Vì vậy, phân biệt các bệnh là việc cần thiết để nắm được bản chất, quy luật phát triển và đặc điểm chứng hậu ở từng giai đoạn.
Chẳng hạn, tiết tả và lỵ tật, phế nuy và phế ung đều cần được phân biệt kỹ trên lâm sàng.
XÁC ĐỊNH TÊN BỆNH
Tên bệnh trong Trung y có nhiều loại, tương đối phức tạp. Khi chẩn đoán cần sử dụng những bệnh danh thông dụng, không tùy tiện đặt tên mới.
Quy định cụ thể về tên bệnh được trình bày trong từng chuyên khoa lâm sàng.
CĂN CỨ CHẨN ĐOÁN BỆNH
Mỗi bệnh có những đặc điểm lâm sàng riêng. Thông thường, có thể căn cứ vào bệnh sử và đặc điểm biểu hiện lâm sàng để xác định bệnh danh tương ứng.
Chẳng hạn, lỵ tật có những đặc điểm chủ yếu là đi ngoài ra chất nhầy, máu hoặc chất trắng đỏ, kèm lý cấp hậu trọng, tức đau quặn, mót đi ngoài gấp, nhưng đi xong vẫn còn cảm giác mót và nặng tức ở hậu môn.
Triệu chứng toàn thân có thể có hoặc không. Bệnh thường liên quan đến ăn uống không sạch, hay gặp vào mùa hè và mùa thu, khởi phát và diễn biến tương đối cấp.
Khi phù hợp với những đặc điểm trên, có thể có cơ sở chẩn đoán lỵ tật. Nếu các biểu hiện không đầy đủ, mùa phát bệnh khác với thường gặp hoặc bệnh kéo dài, cần thận trọng và xem xét thêm khi xác định bệnh danh.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Một số bệnh dễ bị nhầm lẫn, vì vậy cần chú ý phân biệt.
Chẳng hạn, điên, cuồng và giản đều có biểu hiện bất thường về thần trí, nhưng mỗi bệnh có đặc điểm riêng. Có thể căn cứ vào biểu hiện lâm sàng, nguyên nhân và bệnh cơ để phân biệt.
Điên bệnh 癫病: đặc trưng là ít nói, thần trí trì độn, nói năng không mạch lạc, thiên về yên lặng, có thể cười vui bất thường.
Cuồng bệnh 狂病: đặc trưng là kích động, hành vi mất kiểm soát, đánh mắng, la hét, không yên, thiên về hoạt động và dễ giận dữ.
Giản bệnh 痫病: đặc trưng là đột ngột ngã xuống, bất tỉnh, tứ chi co giật, miệng sùi nước dãi hoặc bọt, có thể phát ra tiếng kêu bất thường trong cơn.
Trường Xuân biên soạn
QUAN HỆ GIỮA BIỆN BỆNH VÀ BIỆN CHỨNG 辨病与辨证的关系
Chứng và bệnh có quan hệ mật thiết, nhưng là hai khái niệm khác nhau.
Chứng, tức chứng hậu, là sự khái quát bệnh lý về nguyên nhân, bệnh vị, bệnh tính, bệnh cơ, bệnh thế và mức độ đấu tranh giữa chính khí với tà khí ở một giai đoạn nhất định của bệnh.
Bệnh là một quá trình bệnh lý phát sinh trong những điều kiện nhất định do các yếu tố gây bệnh, lấy sự đấu tranh giữa chính khí và tà khí làm hình thức cơ bản.
Một bệnh có thể biểu hiện những chứng khác nhau; cùng một chứng cũng có thể gặp trong nhiều bệnh. Vì vậy có những cách nói “同病异证” — đồng bệnh dị chứng, và “异病同证” — dị bệnh đồng chứng.
Chẳng hạn, bệnh cảm mạo có thể biểu hiện phong hàn chứng hoặc phong nhiệt chứng, cần vận dụng những trị pháp khác nhau. Đau đầu và chóng mặt tuy là hai bệnh khác nhau nhưng đều có thể xuất hiện huyết hư chứng.
Do đó, cần vừa biện chứng, vừa biện bệnh.
Biện chứng căn cứ vào những tư liệu thu được qua tứ chẩn, đồng thời xem xét các yếu tố gây bệnh bên trong, bên ngoài và bệnh vị, nhằm nhận định toàn diện, cụ thể tính chất đặc thù và mâu thuẫn chủ yếu của bệnh ở giai đoạn hiện tại.
Biện bệnh dựa vào kết quả biện chứng, đối chiếu với những bệnh có biểu hiện tương tự để phân biệt, lần lượt loại trừ các khả năng không phù hợp, cuối cùng xác định bệnh danh. Quá trình này đồng thời giúp định hướng việc biện chứng sâu hơn.
Sau khi xác định bệnh, thầy thuốc có thể nắm được khái quát quy luật diễn biến bệnh cơ. Trên cơ sở đó, tiếp tục biện chứng để nhận định xu hướng thuận nghịch và tiên lượng bệnh.
Sự phối hợp biện bệnh với biện chứng còn giúp gắn kết chặt chẽ hơn các nguyên tắc điều trị và phương thuốc, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, hạn chế sai lệch.
Theo cách trình bày này, nhận định bệnh được hình thành từ quá trình biện chứng. Mỗi bệnh có quy luật biến đổi riêng; quy luật ấy lại giúp định hướng biện chứng.
Biện chứng, biện bệnh rồi tiếp tục biện chứng là quá trình làm sâu sắc dần nhận thức và chẩn đoán bệnh.
Vì vậy, không nên chỉ dừng ở biện chứng. Cần vừa biện chứng, vừa biện bệnh, rồi từ kết quả biện bệnh tiếp tục biện chứng; hai phương pháp bổ sung cho nhau, không nên xem nhẹ bên nào.
Trường Xuân biên soạn
TIẾT HAI: BỆNH ÁN 病案
Bệnh án, thời cổ gọi là “诊籍” — chẩn tịch, “脉案” — mạch án hoặc “医案” — y án; về sau phát triển thành “病历” — bệnh lịch, là bản ghi chép trung thực quá trình thầy thuốc chẩn đoán và điều trị bệnh.
Bệnh án cần ghi lại đầy đủ, đúng thực tế tình trạng bệnh, tiền sử bệnh của người bệnh, tiền sử bệnh gia đình, quá trình chẩn đoán, điều trị và kết quả của bệnh.
Đây không chỉ là tư liệu phục vụ tái khám, chuyển khám và thảo luận bệnh án, mà còn là nguồn dữ liệu quan trọng cho thống kê bệnh tật và nghiên cứu lâm sàng. Khi phát sinh tranh chấp pháp lý, bệnh án còn có thể được sử dụng như hồ sơ gốc, cung cấp căn cứ quan trọng cho việc xem xét vụ việc.
Chính xác, có hệ thống và toàn diện là những yêu cầu cơ bản khi viết bệnh án.
Cần ghi chính xác những cảm giác bất thường và biểu hiện của người bệnh; trình bày có hệ thống diễn biến bệnh; ghi đầy đủ tư liệu lâm sàng cùng quá trình chẩn đoán, điều trị của thầy thuốc.
Những yêu cầu này giúp bảo đảm tính trung thực, đáng tin cậy và giá trị khoa học của bệnh án. Một bệnh án được ghi chép đúng có thể phát huy vai trò quan trọng trong khám chữa bệnh, giảng dạy và nghiên cứu.
Vì vậy, viết bệnh án đúng là kỹ năng cơ bản mà thầy thuốc cần nắm vững.
Trường Xuân biên soạn
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN BỆNH ÁN TRUNG Y 中医病案的沿革
Các y gia Trung Quốc từ thời cổ đã sớm ghi chép trung thực hoạt động chẩn đoán và điều trị trên lâm sàng.
Thiên “Biển Thước Thương Công liệt truyện” trong Sử ký ghi lại hai mươi lăm bệnh án của Thuần Vu Ý, danh y thời Tây Hán. Đây được xem là những bệnh án sớm nhất còn lưu truyền của y học Trung Quốc.
Đến đời Tống, đã xuất hiện sách chuyên về y án. Thương hàn cửu thập luận 伤寒九十论 của Hứa Thúc Vi được xem là chuyên thư bệnh án đầu tiên của Trung Quốc.
Trong thời Minh và Thanh, việc sưu tập, nghiên cứu bệnh án được coi trọng. Nhiều tác phẩm y án nổi tiếng vẫn được dùng để tham khảo, như Tiết thị y án 薛氏医案 của Tiết Kỷ, Thạch Sơn y án 石山医案 của Uông Cơ và Lâm chứng chỉ nam y án 临证指南医案 ghi lại kinh nghiệm lâm sàng của Diệp Quế.
Đặc biệt, Danh y loại án 名医类案 của Giang Quán đời Minh và Tục danh y loại án 续名医类案 của Ngụy Chi Tú đời Thanh đã sưu tập tổng cộng hơn tám nghìn y án, phân loại và bình chú, tạo ảnh hưởng lớn.
Trong giai đoạn này, hình thức trình bày bệnh án cũng được nghiên cứu. Hàn Mậu, Lý Đản, Ngô Côn và Dụ Xương đều đề xuất những cách ghi bệnh án riêng. Trong đó, “议病式” — nghị bệnh thức, tức mẫu trình bày và bàn luận bệnh tình của Dụ Xương, có ảnh hưởng nổi bật.
Đến thời cận đại, các tác phẩm như Toàn quốc danh y y án loại biên 全国名医医案类编 của Hà Liêm Thần và Thanh đại danh y y án tinh hoa 清代名医医案精华 của Tần Bá Vị có những đặc điểm mới: lời văn dễ hiểu, nội dung đầy đủ hơn.
Tuy các y gia trước đây đã nỗ lực nghiên cứu hình thức ghi bệnh án, do giới hạn của điều kiện lịch sử, bệnh án Trung y vẫn chưa có mẫu thống nhất. Theo nhận định của tài liệu, đến thời hiện đại, hình thức bệnh án Trung y mới có điều kiện được thống nhất và quy chuẩn hóa.
Trường Xuân biên soạn
NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CỦA BỆNH ÁN TRUNG Y 中医病案的内容与要求
NỘI DUNG
Nội dung chủ yếu của bệnh án cần lấy tứ chẩn, biện chứng, xác lập trị pháp và kê phương làm trọng tâm.
TỨ CHẨN 四诊
Ghi trung thực những tư liệu thu được qua tứ chẩn. Theo yêu cầu biện chứng, cần phân rõ chủ thứ, trình bày có hệ thống, có trọng tâm và ngắn gọn, tránh lẫn lộn, trùng lặp hoặc bỏ sót.
BIỆN CHỨNG 辨证
Tổng hợp, phân tích các tư liệu tứ chẩn để làm rõ nguyên nhân, bệnh cơ, tạng phủ và kinh lạc liên quan, tính chất âm dương, hư thực cùng những khả năng chuyển biến của bệnh.
Qua đó, trình bày bản chất bệnh lý một cách rõ ràng, xác đáng và đầy đủ. Tránh nhận định sơ sài, vội vàng hoặc bàn lý luận chung chung, không gắn với bệnh tình thực tế.
XÁC LẬP TRỊ PHÁP 立法
Trị pháp phải được xác lập từ kết quả biện chứng và gắn chặt với chứng hậu đã nhận định.
Chẳng hạn, người bệnh mắc lỵ tật, thuộc chứng hư hàn lỵ, thì trị pháp là ôn trung tán hàn, kiện tỳ hóa thấp.
Nếu ngoài bệnh chứng chủ yếu còn có chứng kiêm, cần căn cứ vào quan hệ tiêu bản, thứ tự trước sau và mức độ hoãn cấp để xác lập trị pháp.
Trị pháp phải phù hợp với biện chứng, không mâu thuẫn và không bỏ sót những vấn đề cần xử trí.
KÊ PHƯƠNG 处方
Căn cứ vào trị pháp để lựa chọn phương án điều trị, bao gồm dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp và các phương pháp khác.
Có thể dùng phương có sẵn rồi gia giảm, hoặc vận dụng phép phối ngũ để xây dựng phương mới.
Dù dùng cổ phương hay phương hiện đại, việc kê phương, dùng thuốc đều phải chính xác, dưới sự hướng dẫn của biện chứng và trị pháp.
Ngoài những nội dung trên, cần ghi đầy đủ, chính xác thông tin chung của người bệnh, kết quả khám xét bổ trợ, y lệnh, chữ ký thầy thuốc, ngày tháng và những thông tin liên quan khác.
YÊU CẦU
Viết bệnh án phải nghiêm túc, đúng thực tế, chính xác và kịp thời. Theo yêu cầu được nêu trong tài liệu, bệnh án nội trú cần hoàn thành trong vòng hai mươi bốn giờ sau khi nhập viện; bệnh án ngoại trú cần hoàn thành ngay trong buổi khám.
Mô tả triệu chứng phải cụ thể, đầy đủ; sử dụng thuật ngữ Trung y thích hợp, thể hiện quan niệm chỉnh thể và lý luận biện chứng luận trị.
Nội dung cần hoàn chỉnh, cô đọng, nổi bật trọng tâm, trình bày rõ ràng. Chú ý tính liên tục và có hệ thống của diễn biến bệnh qua các lần khám.
Lời văn cần thông suốt, ngắn gọn. Đối với bệnh án viết tay, tài liệu yêu cầu dùng bút mực, không tẩy sửa, cắt dán hoặc chắp vá nội dung.
Cuối bệnh án phải ký đầy đủ họ tên để xác nhận trách nhiệm.
Trường Xuân biên soạn
HÌNH THỨC GHI BỆNH ÁN TRUNG Y 中医病案的书写格式
BỆNH ÁN NGOẠI TRÚ 门诊病案
Do số lượng người bệnh ngoại trú thường nhiều, thời gian khám tương đối ngắn, bệnh án ngoại trú không nhất thiết phải trình bày quá dài. Tuy nhiên, các nội dung chủ yếu vẫn phải đầy đủ.
MẪU BỆNH ÁN NGOẠI TRÚ LẦN KHÁM ĐẦU
Họ tên: ………………………….. Giới tính: …………………………..
Tuổi: ………………………….. Nghề nghiệp: …………………………..
Đơn vị công tác: ………………………….. Thời gian khám: …………………………..
Vấn chẩn:
Lý do đến khám:
Bệnh sử:
Vọng chẩn, văn chẩn, thiết chẩn:
Phân tích biện chứng:
Chẩn đoán: Tên bệnh, ghi thể chứng trong ngoặc sau tên bệnh.
Trị pháp:
Phương thuốc: Ghi tên phương, các vị thuốc và liều lượng.
Y lệnh, lời dặn:
Thầy thuốc ký đầy đủ họ tên:
Ngày …….. tháng …….. năm ……..
BỆNH ÁN NỘI TRÚ 住院病案
NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CỦA BỆNH ÁN NỘI TRÚ
Số bệnh án nội trú: …………………………..
Họ tên: ………………………….. Giới tính: …………………………..
Tuổi: ………………………….. Tình trạng hôn nhân: …………………………..
Dân tộc: ………………………….. Quê quán: …………………………..
Nghề nghiệp: ………………………….. Đơn vị công tác: …………………………..
Địa chỉ nhà: ………………………….. Ngày nhập viện: …………………………..
Người cung cấp bệnh sử: ………………………….. Thời gian khai thác bệnh sử: …………………………..
Tiết khí khi phát bệnh: ………………………….. Họ tên thân nhân: …………………………..
Số điện thoại: …………………………..
VẤN CHẨN 问诊
Lý do đến khám hoặc nhập viện
Ghi ngắn gọn những triệu chứng chủ yếu khiến người bệnh khó chịu nhất, có thể là một hoặc vài triệu chứng. Nêu rõ vị trí, tính chất, đặc điểm và thời gian xuất hiện.
Bệnh sử hiện tại
Ghi tương đối chi tiết thời điểm khởi bệnh, yếu tố khởi phát, triệu chứng chủ yếu, triệu chứng đi kèm, quá trình điều trị và những kết quả xét nghiệm quan trọng.
Đồng thời, lấy chủ chứng làm trọng tâm, vận dụng nội dung thập vấn để tìm hiểu tình trạng chung của người bệnh.
Tiền sử bệnh
Tìm hiểu tình trạng sức khỏe trước đây và những bệnh đã mắc.
Tiền sử cá nhân
Tìm hiểu sở thích, thói quen, tính tình, những điều ưa thích hoặc không thích, điều kiện cư trú, điều kiện vệ sinh lao động và tình trạng tiêm chủng.
Đối với phụ nữ, cần hỏi thêm kinh nguyệt, tình trạng hôn nhân, mang thai và sinh đẻ.
Tiền sử gia đình
Tìm hiểu tình trạng sức khỏe của các thành viên trong gia đình và nguyên nhân tử vong của những người đã mất.
VỌNG CHẨN 望诊
Quan sát toàn thân
Thần: Ý thức có tỉnh táo hay không, trạng thái tinh thần như thế nào.
Sắc: Quan sát khí sắc, sắc mặt có bình thường hay không, có xuất hiện bệnh sắc như xanh, đỏ, vàng, trắng, đen; màu sắc tươi sáng, tối sạm hoặc khô, thiếu nhuận hay không.
Hình thái: Quan sát hình thể và động tác, vóc người cao thấp, béo gầy, khỏe yếu; lồng ngực rộng, dày hay hẹp; da nhuận hay khô.
Chú ý những biểu hiện như đầu cổ rũ, không giữ vững; da thô ráp, bong vảy như vảy cá; lưng gù, ngực nhô kiểu ức gà; run, liệt và phù.
Quan sát đầu mặt, tứ chi, dáng đi, tư thế ngồi và nằm có bình thường hay không.
Quan sát từng bộ phận
Lưỡi tượng cần được mô tả chi tiết.
Ghi tình trạng đầu mặt, tóc và lông, mắt, mũi, tai, môi miệng, răng, lợi, họng, cổ, ngực, bụng, lưng, da và móng tay, móng chân.
Đối với trẻ nhỏ, còn cần quan sát lạc mạch ở ngón tay trỏ.
Quan sát chất bài tiết
Đại tiện: Màu sắc, lượng và hình dạng phân.
Tiểu tiện: Màu sắc và lượng nước tiểu.
Chất nôn: Thành phần, màu sắc và lượng.
Đàm dãi: Tính chất, màu sắc và lượng.
VĂN CHẨN 闻诊
Nghe âm thanh
Nghe tiếng nói, tiếng thở, tiếng ho, tiếng nôn, tiếng bụng, tiếng khóc của trẻ, tiếng ợ hơi, tiếng nấc, tiếng thở rít hoặc khò khè, tiếng rên và những âm thanh khác.
Ngửi mùi
Chú ý mùi bất thường từ miệng, mũi và cơ thể; tìm hiểu mùi của phân, nước tiểu, kinh huyết và khí hư.
THIẾT CHẨN 切诊
Chẩn mạch
Ghi chi tiết mạch tượng ở hai tay, các bộ thốn, quan, xích và các mức phù, trung, trầm.
Nếu có sự khác biệt giữa hai bên, giữa các bộ hoặc giữa các mức ấn, phải ghi rõ.
Án chẩn
Khám nhiệt độ và độ ẩm của đầu mặt, da, tứ chi, ngực, bụng, thắt lưng và lưng.
Xác định có đau khi chạm, đau khi ấn hoặc không chịu được ấn hay không.
Khám bụng xem có tích tụ, khối kết hoặc vùng đầy cứng hay không.
Khám cổ, nách và bẹn để tìm hạch, khối sưng vùng trước cổ hoặc các khối bất thường khác.
Ghi nhận điểm đau khi ấn ở huyệt tai và huyệt trên cơ thể, tình trạng đập ở vùng hư lý, dấu lõm khi ấn phù và những dấu hiệu liên quan.
KHÁM CHUYÊN KHOA
Thực hiện và ghi lại những khám xét cần thiết của chuyên khoa tương ứng, như ngoại khoa hoặc ngũ quan khoa.
TÓM TẮT TỨ CHẨN
Tổng hợp ngắn gọn các tư liệu quan trọng thu được qua vọng, văn, vấn và thiết, làm nổi bật những dấu hiệu có giá trị chẩn đoán.
PHÂN TÍCH BIỆN CHỨNG
Phân tích các tư liệu tứ chẩn để xác định nguyên nhân, bệnh vị, bệnh tính, bệnh cơ và thể chứng.
CHẨN ĐOÁN
Tên bệnh Trung y, kèm thể chứng trong ngoặc.
Tên bệnh theo y học hiện đại.
KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc điều trị và trị pháp.
Phương thuốc cùng các phương pháp điều trị khác như châm cứu, xoa bóp và các phép điều trị bên ngoài.
Điều dưỡng và chăm sóc.
Thầy thuốc thực tập: …………………………..
Thầy thuốc phụ trách nội trú, ký đầy đủ họ tên: …………………………..
Thầy thuốc điều trị chính: …………………………..
Ngày …….. tháng …….. năm ……..
Trường Xuân biên soạn
NHỮNG ĐIỀU CẦN CHÚ Ý KHI VIẾT BỆNH ÁN TRUNG Y 中医病案书写的注意事项
CHỮ KÝ CỦA THẦY THUỐC
Phải ký đầy đủ họ tên, không được qua loa, nhằm xác nhận trách nhiệm và thuận tiện cho việc tra cứu.
Nếu bệnh án do thầy thuốc thực tập ghi, phải có đầy đủ họ tên và chữ ký của cả người thực tập lẫn thầy thuốc hướng dẫn.
ĐIỀU TRỊ
Cần ghi rõ, chi tiết phương pháp điều trị đã sử dụng và nội dung thực hiện cụ thể.
Nếu dùng xoa bóp, châm cứu, phẫu thuật hoặc các phương pháp khác, phải ghi liệu trình, vị trí điều trị, thủ pháp và thời gian thực hiện.
Nếu điều trị bằng thuốc, phải ghi rõ trị pháp, tên phương, các vị thuốc và liều lượng, dạng thuốc, cách dùng.
KHÁM VÀ CHẨN ĐOÁN THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Kết hợp các nội dung chẩn đoán học của y học hiện đại, thực hiện khám nhìn, sờ, gõ và nghe. Chủ yếu ghi các dấu hiệu bất thường phát hiện được, đặc biệt những dấu hiệu có giá trị chẩn đoán phân biệt.
Nếu xác định nhiều bệnh, cần ghi đầy đủ từng bệnh, bệnh chủ yếu ghi trước.
NGÀY GIỜ GHI BỆNH ÁN
Sau khi hoàn thành bệnh án, phải ghi rõ ngày, tháng, năm theo dương lịch; khi cần, ghi thêm giờ.
Trường Xuân biên soạn
10/4/2026 Forest Lake Brisbane.Au