KHÁI QUÁT VỀ HỆ HÔ HẤP
KHÁI QUÁT
Hệ hô hấp là hệ thống cơ quan đảm nhiệm việc đưa không khí vào cơ thể, trao đổi khí giữa phổi và máu, sau đó thải carbon dioxide ra ngoài. Hoạt động này bảo đảm oxy được cung cấp cho các mô, đồng thời duy trì sự ổn định của môi trường bên trong cơ thể.
Hệ hô hấp gồm mũi, hầu, thanh quản, khí quản, phế quản, các tiểu phế quản và phổi. Căn cứ vào vị trí, đường hô hấp thường được chia thành đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới.
Đường hô hấp trên gồm mũi, khoang mũi, các xoang cạnh mũi, hầu và phần trên của thanh quản. Đường hô hấp dưới bắt đầu từ phần dưới thanh quản, tiếp nối với khí quản, phế quản, tiểu phế quản và các phế nang trong phổi.
CẤU TẠO CĂN BẢN
Mũi và khoang mũi
Mũi là cửa ngõ chủ yếu của hệ hô hấp. Không khí đi qua khoang mũi được làm ấm, làm ẩm và lọc bớt bụi, phấn hoa cùng các vật chất lạ trước khi xuống đường hô hấp dưới.
Các lông mũi và lớp chất nhầy có vai trò giữ lại những hạt bụi tương đối lớn. Niêm mạc mũi có nhiều mạch máu giúp điều chỉnh nhiệt độ không khí, giảm kích thích đối với khí quản và phổi.
Hầu và thanh quản
Hầu là đoạn đường chung của hệ hô hấp và hệ tiêu hóa. Không khí từ mũi đi qua hầu rồi vào thanh quản.
Thanh quản vừa dẫn khí, vừa tham gia phát âm và bảo vệ đường thở. Khi nuốt, nắp thanh quản đóng lại để hạn chế thức ăn và dịch lọt vào khí quản.
Khí quản và phế quản
Khí quản là một ống dẫn khí được nâng đỡ bởi các vòng sụn, giúp đường thở không bị xẹp trong quá trình hô hấp. Khí quản chia thành phế quản chính bên phải và bên trái, sau đó tiếp tục phân nhánh thành các phế quản nhỏ hơn.
Phế quản càng đi sâu vào phổi càng phân chia nhỏ, cuối cùng tạo thành các tiểu phế quản. Những đường thở có đường kính nhỏ dễ bị ảnh hưởng bởi viêm, co thắt, chất nhầy và các yếu tố gây tắc nghẽn.
Phế nang
Phế nang là những túi khí nhỏ nằm ở tận cùng của hệ thống tiểu phế quản. Thành phế nang rất mỏng và được bao quanh bởi mạng lưới mao mạch dày đặc. Đây là vị trí diễn ra sự trao đổi oxy và carbon dioxide giữa không khí với máu.
Oxy từ phế nang đi qua màng phế nang – mao mạch vào máu, gắn với hemoglobin trong hồng cầu rồi được đưa đến các mô. Carbon dioxide từ máu đi theo chiều ngược lại vào phế nang và được thải ra khi thở ra. Viện Tim, Phổi và Máu Quốc gia Hoa Kỳ
Tế bào phế nang
Tế bào phế nang loại I có hình dẹt, bao phủ phần lớn diện tích bề mặt phế nang và trực tiếp tham gia tạo nên hàng rào trao đổi khí.
Tế bào phế nang loại II có khả năng tiết chất hoạt diện phổi. Chất này làm giảm sức căng bề mặt, giúp phế nang dễ giãn nở khi hít vào và hạn chế xẹp khi thở ra.
Màng phổi
Phổi được bao bọc bởi hai lá màng phổi. Giữa hai lá là một khoang chứa lượng nhỏ dịch, có tác dụng giảm ma sát khi phổi co giãn theo nhịp thở.
CƠ CHẾ HÔ HẤP
Hít vào
Khi hít vào, cơ hoành co và hạ xuống, các cơ liên sườn giúp lồng ngực mở rộng. Áp lực trong lồng ngực giảm, làm không khí từ bên ngoài đi qua đường thở vào đến phế nang.
Thở ra
Khi thở ra trong trạng thái nghỉ, cơ hoành và các cơ hô hấp giãn, lồng ngực thu nhỏ, phổi co lại và đẩy không khí chứa carbon dioxide ra ngoài.
Khi vận động mạnh hoặc mắc bệnh hô hấp, cơ thể phải huy động thêm các cơ hô hấp phụ để hỗ trợ việc hít vào và thở ra.
Trao đổi khí
Trao đổi khí diễn ra qua màng phế nang – mao mạch. Hiệu quả của quá trình này phụ thuộc vào độ thông thoáng của đường thở, khả năng giãn nở của phổi, diện tích phế nang còn hoạt động, lưu lượng máu qua phổi và độ dày của màng trao đổi khí.
Khi phế nang chứa dịch, thành phế nang bị viêm hoặc xơ hóa, đường thở bị tắc nghẽn hay tuần hoàn phổi bị rối loạn, sự trao đổi khí sẽ suy giảm, dẫn đến thiếu oxy và khó thở.
CƠ CHẾ BẢO VỆ CỦA HỆ HÔ HẤP
Hệ hô hấp thường xuyên tiếp xúc với bụi, vi sinh vật, chất gây dị ứng, khói và khí độc từ môi trường. Để hạn chế tổn thương, cơ thể có nhiều tầng bảo vệ phối hợp với nhau.
Hàng rào mũi – họng
Lông mũi, chất nhầy, phản xạ hắt hơi và cấu tạo uốn khúc của khoang mũi giúp giữ lại một phần bụi và vật chất lạ trước khi chúng đi sâu vào phổi.
Hệ thống lông chuyển – chất nhầy
Niêm mạc khí quản và phế quản được phủ bởi chất nhầy cùng các tế bào có lông chuyển. Bụi, vi khuẩn và những hạt nhỏ bị giữ trong lớp chất nhầy, sau đó được lông chuyển đưa dần lên phía họng để tống ra ngoài hoặc nuốt xuống.
Khói thuốc, không khí ô nhiễm, nhiễm trùng và một số bệnh di truyền có thể làm tổn thương lông chuyển, khiến đờm và chất bẩn tích tụ trong đường thở.
Phản xạ ho
Ho là phản xạ bảo vệ giúp đẩy chất tiết, dị vật và các yếu tố kích thích ra khỏi khí quản, phế quản. Tuy nhiên, ho kéo dài không phải là một bệnh riêng biệt mà là dấu hiệu cần tìm nguyên nhân.
Đại thực bào phế nang
Phế nang không được phủ bởi lớp chất nhầy dày vì điều này sẽ cản trở trao đổi khí. Thay vào đó, đại thực bào phế nang nhận diện, bao vây và tiêu hóa nhiều loại bụi, vi sinh vật cùng vật chất lạ đã đi sâu vào phổi.
Hàng rào miễn dịch
Dịch tiết đường hô hấp chứa nhiều thành phần tham gia bảo vệ tại chỗ. Các tế bào miễn dịch trong niêm mạc, phế nang và tuần hoàn phối hợp nhận diện, loại bỏ tác nhân gây bệnh và điều hòa phản ứng viêm.
NHỮNG YẾU TỐ LÀM TỔN THƯƠNG PHỔI
Khói thuốc lá
Khói thuốc lá chủ động và thụ động đều có thể làm tổn thương niêm mạc đường thở, suy giảm hoạt động của lông chuyển, tăng tiết chất nhầy và thúc đẩy viêm mạn tính. Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư phổi và nhiều bệnh hô hấp khác.
Ô nhiễm không khí
Bụi mịn, khí thải giao thông, khói từ hoạt động công nghiệp và nhiên liệu đốt trong nhà có thể làm tăng nguy cơ viêm đường hô hấp, hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và ung thư phổi.
Bụi và hóa chất nghề nghiệp
Tiếp xúc kéo dài với silica, amiăng, bụi than, khói hàn, dung môi, hơi hóa chất và các chất kích thích tại nơi làm việc có thể dẫn đến bệnh phổi nghề nghiệp, xơ phổi hoặc ung thư.
Vi sinh vật gây bệnh
Vi khuẩn, virus, nấm và một số ký sinh trùng có thể gây viêm đường hô hấp trên, viêm phế quản, viêm phổi, lao phổi và nhiều bệnh khác. Mức độ bệnh phụ thuộc vào độc lực của tác nhân, lượng tiếp xúc và sức đề kháng của cơ thể.
Yếu tố dị ứng
Phấn hoa, mạt bụi nhà, nấm mốc, lông động vật và một số chất nghề nghiệp có thể kích hoạt phản ứng dị ứng, gây viêm mũi, hen phế quản hoặc viêm phổi quá mẫn.
Những yếu tố quan trọng có thể phòng tránh gồm khói thuốc, ô nhiễm trong nhà và ngoài trời, nấm mốc, bụi cùng hóa chất nghề nghiệp. Tổ chức Y tế Thế giới
NHẬN THỨC THEO TRUNG Y
Trong Trung y, hoạt động hô hấp chủ yếu thuộc công năng của Phế 肺, nhưng không tách rời Tỳ 脾, Thận 腎, Tâm 心 và Can 肝.
Phế chủ khí, tư hô hấp
Phế chủ một thân chi khí và trực tiếp đảm nhiệm việc hít thanh khí của tự nhiên vào cơ thể, đồng thời thải trọc khí ra ngoài. Hơi thở đều đặn, tiếng nói rõ ràng và sức vận động ổn định đều có quan hệ với Phế khí.
Khi Phế khí suy yếu hoặc tuyên giáng thất thường, người bệnh có thể xuất hiện ho, khó thở, hụt hơi, tiếng nói nhỏ, ngực đầy hoặc nhiều đờm.
Phế chủ tuyên phát và túc giáng
Tuyên phát là công năng đưa Phế khí và tân dịch phân bố ra phần ngoài cơ thể, giúp da lông được nuôi dưỡng và vệ khí lưu hành.
Túc giáng là công năng đưa Phế khí đi xuống, làm cho hô hấp thông thuận, tân dịch được phân bố và đường thủy được điều hòa.
Nếu Phế mất tuyên phát, có thể xuất hiện nghẹt mũi, sợ gió, không ra mồ hôi hoặc ho. Nếu Phế mất túc giáng, khí nghịch đi lên sẽ gây ho, suyễn, tức ngực và khó thở.
Phế chủ thông điều thủy đạo
Phế tham gia phân bố và vận hành thủy dịch. Nhờ công năng tuyên phát và túc giáng, tân dịch được đưa ra da lông, xuống Thận và Bàng quang, giúp thủy dịch điều hòa.
Khi Phế khí không thông, thủy dịch có thể đình lại thành đàm ẩm, biểu hiện bằng ho nhiều đờm, ngực tức, thở khò khè hoặc phù.
Phế triều bách mạch
Huyết từ toàn thân trở về Tâm rồi qua Phế để trao đổi thanh trọc. Vì vậy, hoạt động của Phế khí có quan hệ mật thiết với sự vận hành của huyết mạch.
Khi Phế khí suy hoặc khí trệ huyết ứ kéo dài, người bệnh có thể xuất hiện môi tím, lưỡi tím, đau tức ngực và đầu chi lạnh.
Phế chủ bì mao
Bì mao gồm da, lông và phần biểu của cơ thể. Phế khí tuyên phát giúp vệ khí lưu hành bên ngoài, điều tiết đóng mở tấu lý và bảo vệ cơ thể trước ngoại tà.
Người Phế khí hư thường dễ cảm mạo, sợ gió, ra mồ hôi tự nhiên và dễ mắc bệnh đường hô hấp khi thời tiết thay đổi.
Phế khai khiếu ra mũi
Mũi là cửa ngõ của Phế. Phế khí thông lợi thì khứu giác tương đối nhạy, hô hấp qua mũi thông suốt. Khi phong hàn, phong nhiệt hoặc đàm thấp phạm Phế, có thể xuất hiện nghẹt mũi, chảy nước mũi hoặc giảm ngửi.
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHẾ VÀ CÁC TẠNG
Phế và Tỳ
Tỳ vận hóa thức ăn, tạo ra thủy cốc tinh vi để sinh khí huyết; Phế tiếp nhận tinh khí do Tỳ đưa lên và kết hợp với thanh khí của tự nhiên để tạo thành tông khí.
Tỳ hư dễ sinh thấp, thấp tụ lại thành đàm rồi đưa lên Phế. Vì vậy, Trung y có nhận định: “Tỳ là nguồn sinh đàm, Phế là nơi chứa đàm.”
Trong bệnh hô hấp kéo dài có nhiều đờm, ngoài điều trị Phế thường phải chú ý kiện Tỳ, hóa thấp.
Phế và Thận
Phế chủ hô khí, Thận chủ nạp khí. Phế đưa khí đi xuống, Thận tiếp nhận và giữ khí ở phần dưới, giúp hô hấp có chiều sâu và ổn định.
Khi Thận không nạp khí, người bệnh thường khó thở khi gắng sức, hít vào ngắn, thở ra dài, động một chút đã suyễn, kèm đau lưng, mỏi gối hoặc tiểu đêm.
Bệnh hô hấp mạn tính kéo dài thường từ Phế ảnh hưởng đến Thận. Vì vậy, điều trị không chỉ tuyên Phế, bình suyễn mà còn có thể phải bổ Thận, nạp khí.
Phế và Tâm
Tâm chủ huyết mạch, Phế chủ khí. Khí thúc đẩy huyết vận hành, huyết lại chuyên chở khí và nuôi dưỡng các tạng phủ.
Phế bệnh kéo dài làm khí huyết vận hành không thông, có thể ảnh hưởng đến Tâm, gây hồi hộp, môi tím, phù và khó thở. Ngược lại, Tâm dương suy làm huyết hành không thuận cũng có thể gây ứ huyết ở Phế.
Phế và Can
Can chủ sơ tiết, giúp khí cơ toàn thân điều đạt. Nếu Can khí uất kết, khí có thể nghịch lên phạm Phế, gây ho, ngực sườn đầy tức hoặc khó thở tăng khi căng thẳng.
Trong một số trường hợp hen hoặc ho liên quan rõ đến cảm xúc, ngoài điều Phế còn cần sơ Can, lý khí.
NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH THEO TRUNG Y
Ngoại tà xâm phạm
Phong hàn, phong nhiệt, táo tà, thấp tà và thử tà có thể theo mũi miệng hoặc bì mao xâm nhập, làm Phế mất tuyên giáng. Biểu hiện thường gặp gồm ho, nghẹt mũi, đau họng, sợ lạnh, phát sốt và đau đầu.
Đàm thấp nội sinh
Ăn uống không điều độ, Tỳ hư hoặc dùng nhiều thức ăn béo ngọt, lạnh sống có thể làm thủy thấp đình tụ thành đàm. Đàm theo khí đi lên Phế, gây ho nhiều đờm, ngực tức và thở khò khè.
Táo nhiệt thương Phế
Khí hậu khô, sốt kéo dài, hút thuốc hoặc tiếp xúc với nhiệt độc có thể làm tổn thương Phế âm. Người bệnh thường ho khan, ít đờm, họng khô, miệng khát hoặc đờm lẫn máu.
Phế khí hư
Bệnh kéo dài, lao lực, cơ thể suy yếu hoặc cảm mạo tái phát có thể làm Phế khí suy. Biểu hiện gồm hụt hơi, tiếng nói nhỏ, dễ ra mồ hôi, dễ cảm lạnh và mệt tăng khi vận động.
Phế Thận lưỡng hư
Ho suyễn kéo dài làm Phế khí hao tổn, lâu ngày ảnh hưởng đến Thận. Khi Thận không nạp khí, khó thở thường tăng khi vận động, hít vào khó, kèm mỏi lưng, chân yếu và tiểu đêm.
Huyết ứ trở Phế
Bệnh phổi mạn tính kéo dài làm khí trệ, khí trệ dẫn đến huyết ứ. Biểu hiện có thể gồm đau tức ngực cố định, môi lưỡi tím, đầu chi lạnh và khó thở dai dẳng.
NGUYÊN TẮC BẢO VỆ HỆ HÔ HẤP
Tránh hút thuốc và hạn chế tiếp xúc với khói thuốc thụ động.
Giảm tiếp xúc với bụi, nấm mốc, khí thải và hóa chất. Khi làm việc trong môi trường có nguy cơ, cần sử dụng phương tiện bảo hộ hô hấp phù hợp.
Duy trì vận động vừa sức để hỗ trợ chức năng tim phổi. Người đang mắc bệnh hô hấp nên lựa chọn cường độ vận động theo khả năng và hướng dẫn chuyên môn.
Giữ không gian sống thông thoáng, xử lý nấm mốc và hạn chế đốt nhiên liệu gây nhiều khói trong phòng kín.
Ăn uống điều độ, bảo đảm đủ dinh dưỡng, tránh lạm dụng thức ăn quá béo ngọt nếu cơ thể có biểu hiện đàm thấp.
Giữ ấm phù hợp khi thời tiết thay đổi, nhưng không nên mặc quá kín làm cơ thể nóng bức và ra nhiều mồ hôi.
Tiêm chủng và khám sức khỏe theo khuyến nghị, nhất là đối với người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính và người có nguy cơ nghề nghiệp.
KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM?
Cần đi khám khi ho kéo dài, ho ra máu, đau ngực, khó thở, thở khò khè tái phát, sốt kéo dài, sút cân không rõ nguyên nhân hoặc nhiễm trùng hô hấp thường xuyên.
Khó thở xuất hiện đột ngột, tím môi, đau ngực dữ dội, rối loạn ý thức hoặc không nói được thành câu là những dấu hiệu cần được cấp cứu.
Nói tóm lại, hệ hô hấp không chỉ thực hiện việc đưa không khí ra vào phổi mà còn tham gia trao đổi khí, điều hòa cân bằng acid – base và bảo vệ cơ thể trước các yếu tố từ môi trường. Theo Trung y, Phế giữ vai trò chủ đạo nhưng công năng hô hấp còn có quan hệ mật thiết với Tỳ, Thận, Tâm và Can. Muốn bảo vệ Phế cần đồng thời giữ đường thở thông thuận, tránh tà độc từ môi trường, điều hòa Tỳ Vị, bảo dưỡng Thận khí và duy trì khí huyết lưu thông.
Trường Xuân biên soạn
XƠ PHỔI VÔ CĂN 特發性肺纖維化
KHÁI QUÁT
Xơ phổi vô căn, tiếng Anh là Idiopathic Pulmonary Fibrosis, viết tắt là IPF, là một bệnh phổi kẽ mạn tính trong đó mô quanh phế nang dần trở nên dày, cứng và hình thành sẹo xơ không hồi phục. Từ “vô căn” có nghĩa là chưa xác định được nguyên nhân trực tiếp gây bệnh sau khi đã loại trừ những nguyên nhân xơ phổi khác.
Mô xơ làm phổi giảm khả năng giãn nở, cản trở sự khuếch tán oxy từ phế nang vào máu. Khi bệnh tiến triển, người bệnh ngày càng khó thở, trước hết khi hoạt động, sau đó có thể khó thở ngay cả lúc nghỉ.
Diễn biến của bệnh khác nhau ở từng người. Có trường hợp tiến triển tương đối chậm trong nhiều năm, nhưng cũng có trường hợp suy giảm nhanh hoặc xuất hiện đợt cấp đột ngột. Tổn thương xơ đã hình thành thường không thể phục hồi hoàn toàn; mục tiêu điều trị hiện nay là làm chậm sự tiến triển, giảm triệu chứng, duy trì khả năng vận động và cải thiện chất lượng sống. Viện Tim, Phổi và Máu Quốc gia Hoa Kỳ
ĐẶC ĐIỂM BỆNH
Xơ phổi vô căn thuộc nhóm viêm phổi kẽ vô căn mạn tính. Bệnh thường gặp ở người trung niên và cao tuổi, nguy cơ tăng theo tuổi và thường được chẩn đoán sau 60 tuổi.
Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến mô kẽ và cấu trúc nâng đỡ quanh phế nang. Quá trình sửa chữa tổn thương trở nên bất thường, làm nguyên bào sợi tăng sinh, collagen cùng chất nền ngoại bào tích tụ, khiến mô phổi dày và cứng.
Xơ phổi vô căn không đồng nghĩa với tất cả các loại xơ phổi. Xơ phổi còn có thể liên quan đến bệnh mô liên kết, bụi nghề nghiệp, thuốc, xạ trị, viêm phổi quá mẫn, bệnh tự miễn hoặc những nguyên nhân khác. Chỉ khi đã đánh giá và loại trừ các nguyên nhân phù hợp mới có thể xác lập chẩn đoán vô căn.
YẾU TỐ NGUY CƠ
Tuổi cao
Nguy cơ mắc bệnh tăng theo tuổi. Bệnh ít gặp ở người trẻ và thường xuất hiện ở người trung niên hoặc cao tuổi.
Hút thuốc
Người đang hút thuốc hoặc từng hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Khói thuốc cũng có thể làm suy giảm thêm chức năng hô hấp ở người đã mắc bệnh.
Yếu tố di truyền
Một số trường hợp có tính chất gia đình. Người có nhiều thành viên cùng huyết thống mắc xơ phổi cần thông báo với bác sĩ để được đánh giá phù hợp.
Tiếp xúc môi trường và nghề nghiệp
Tiếp xúc kéo dài với bụi kim loại, bụi gỗ, silica, bụi khoáng, nấm mốc hoặc một số chất ô nhiễm có thể liên quan đến nguy cơ bệnh phổi kẽ. Tuy nhiên, nếu xác định rõ nguyên nhân nghề nghiệp hoặc môi trường thì bệnh không còn được xếp thuần túy vào xơ phổi vô căn.
Trào ngược dạ dày – thực quản
Trào ngược thường gặp ở người xơ phổi vô căn. Mối quan hệ nhân quả giữa trào ngược và quá trình xơ hóa vẫn còn được nghiên cứu, vì vậy không nên tự dùng thuốc chống trào ngược chỉ với mục đích điều trị xơ phổi.
BỆNH SINH THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Quan niệm hiện nay không xem xơ phổi vô căn đơn thuần là một bệnh viêm. Cơ chế trung tâm được cho là tổn thương lặp lại ở biểu mô phế nang trên cơ địa nhạy cảm, sau đó xuất hiện quá trình sửa chữa bất thường.
Tế bào biểu mô bị tổn thương giải phóng nhiều tín hiệu thúc đẩy nguyên bào sợi hoạt động. Các tế bào này tăng sinh, chuyển thành nguyên bào sợi cơ và sản xuất quá mức collagen cùng chất nền ngoại bào.
Mô xơ tích tụ làm thành phế nang dày lên, cấu trúc phổi bị biến dạng, các phế nang bình thường dần bị phá hủy. Ở giai đoạn muộn có thể hình thành những khoang khí nhỏ có thành xơ dày, tạo hình ảnh “phổi tổ ong” trên chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao.
TRIỆU CHỨNG
Triệu chứng thường gặp: Khó thở tăng dần, ban đầu xuất hiện khi đi nhanh, leo cầu thang hoặc làm việc nặng, về sau có thể xảy ra khi hoạt động nhẹ hoặc lúc nghỉ; ho khan kéo dài, thường thành từng cơn và khó kiểm soát; mệt mỏi, giảm khả năng vận động; thở nhanh, nông; ăn kém, sút cân không chủ ý; đau nhức cơ hoặc khớp; đầu ngón tay, ngón chân có thể to tròn thành hình dùi trống.
Khi nghe phổi, bác sĩ có thể phát hiện ran nổ nhỏ, rõ hơn ở hai đáy phổi, thường được mô tả gần giống tiếng bóc dải khóa dán.
Giai đoạn sớm, triệu chứng có thể nhẹ và dễ nhầm với tuổi cao, thiếu vận động, bệnh tim hoặc các bệnh hô hấp khác. Ho khan và khó thở khi gắng sức kéo dài cần được kiểm tra, không nên xem là biểu hiện tất yếu của tuổi già.
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán xơ phổi vô căn cần có sự phối hợp giữa bác sĩ hô hấp, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và bác sĩ giải phẫu bệnh khi cần thiết.
Khai thác bệnh sử
Bác sĩ cần tìm hiểu quá trình xuất hiện khó thở và ho; tiền sử hút thuốc; nghề nghiệp; tiếp xúc với bụi, hóa chất, nấm mốc hoặc động vật; thuốc đang sử dụng; tiền sử xạ trị; bệnh tự miễn và tiền sử gia đình.
Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao
Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao, viết tắt là HRCT, giữ vai trò quan trọng. Hình ảnh điển hình có thể gồm tổn thương lưới, giãn phế quản do co kéo và phổi tổ ong, thường phân bố ở vùng ngoại vi, sát màng phổi và ưu thế ở đáy phổi.
Thăm dò chức năng hô hấp
Kết quả thường cho thấy rối loạn thông khí hạn chế, dung tích phổi giảm và khả năng khuếch tán khí qua màng phế nang – mao mạch suy giảm.
Đo oxy và nghiệm pháp đi bộ
Độ bão hòa oxy được theo dõi lúc nghỉ và khi vận động. Nghiệm pháp đi bộ trong sáu phút giúp đánh giá khả năng gắng sức và mức độ tụt oxy khi hoạt động.
Xét nghiệm máu
Xét nghiệm được thực hiện để tìm dấu hiệu bệnh mô liên kết hoặc bệnh tự miễn, qua đó loại trừ những nguyên nhân khác của bệnh phổi kẽ.
Nội soi, rửa phế quản – phế nang và sinh thiết phổi
Không phải người bệnh nào cũng cần thực hiện. Những phương pháp này được cân nhắc khi hình ảnh và dữ liệu lâm sàng chưa đủ để xác lập chẩn đoán hoặc cần loại trừ bệnh khác.
BIẾN CHỨNG
Suy hô hấp
Phổi xơ cứng không thể đưa đủ oxy vào máu, dẫn đến thiếu oxy mạn tính. Giai đoạn tiến triển có thể xuất hiện suy hô hấp.
Đợt cấp xơ phổi vô căn
Đây là tình trạng khó thở đột ngột nặng lên trong vài ngày đến vài tuần, kèm tổn thương phổi mới. Đợt cấp có thể xuất hiện mà không tìm được nguyên nhân rõ ràng và có nguy cơ đe dọa tính mạng.
Tăng áp động mạch phổi
Tổn thương mạch máu và thiếu oxy kéo dài làm áp lực trong tuần hoàn phổi tăng. Tim phải phải làm việc nặng hơn để đưa máu qua phổi.
Suy tim phải
Tăng áp động mạch phổi kéo dài có thể làm thất phải phì đại, giãn và suy, biểu hiện bằng phù chân, gan to, tĩnh mạch cổ nổi và khó thở tăng.
Nhiễm trùng hô hấp
Chức năng phổi suy giảm làm người bệnh khó chịu đựng được các đợt nhiễm trùng. Viêm phổi có thể khiến tình trạng hô hấp xấu đi nhanh chóng.
Ung thư phổi
Người mắc xơ phổi vô căn có nguy cơ ung thư phổi cao hơn người không mắc bệnh. Các nốt hoặc khối bất thường mới xuất hiện cần được đánh giá cẩn thận.
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Thuốc chống xơ hóa
Nintedanib và pirfenidone có thể làm chậm tốc độ suy giảm chức năng phổi ở một số người bệnh. Thuốc không xóa được mô sẹo đã hình thành và không chữa khỏi hoàn toàn bệnh.
Việc lựa chọn thuốc phải do bác sĩ chuyên khoa quyết định sau khi đánh giá chức năng gan, bệnh kèm theo, nguy cơ tương tác và khả năng dung nạp. Người bệnh cần được theo dõi tác dụng không mong muốn trong quá trình sử dụng.
Oxy liệu pháp
Oxy được chỉ định khi độ bão hòa oxy giảm lúc nghỉ, khi vận động hoặc trong khi ngủ. Oxy có thể giúp giảm gánh nặng thiếu oxy, hỗ trợ vận động và bảo vệ các cơ quan; liều cùng thời gian sử dụng phải căn cứ vào đánh giá chuyên môn.
Phục hồi chức năng phổi
Chương trình phục hồi chức năng phổi có thể gồm tập vận động có giám sát, huấn luyện cách thở, hướng dẫn tiết kiệm năng lượng, tư vấn dinh dưỡng và hỗ trợ tâm lý.
Ghép phổi
Ghép phổi có thể được cân nhắc ở người bệnh phù hợp khi bệnh tiến triển. Việc đánh giá ghép phổi nên được đề cập sớm, vì quá trình xét tuyển và chuẩn bị có thể kéo dài. Hướng dẫn điều trị của NHLBI
Điều trị bệnh kèm theo
Cần phát hiện và xử trí phù hợp các tình trạng như tăng áp động mạch phổi, ngưng thở khi ngủ, bệnh tim mạch, trào ngược, suy dinh dưỡng, lo âu và trầm cảm.
NHẬN THỨC THEO TRUNG Y
Trung y không có tên bệnh hoàn toàn tương ứng với xơ phổi vô căn. Căn cứ vào ho khan, khó thở, ngực tức, môi tím, sút cân và bệnh kéo dài, có thể quy bệnh vào phạm vi các chứng phế nuy 肺痿, phế tý 肺痹, khái thấu 咳嗽 và suyễn chứng 喘證.
Phế nuy nhấn mạnh tình trạng Phế khí, Phế âm suy tổn, tân dịch không phân bố, phế diệp mất sự nhu dưỡng. Phế tý nhấn mạnh tà khí, đàm trọc và huyết ứ làm trở ngại Phế lạc, khiến khí huyết không thông.
Trong xơ phổi, hư và thực thường cùng tồn tại. Phế, Tỳ, Thận hư là căn bản; đàm, nhiệt, táo và huyết ứ là ngọn. Bệnh kéo dài làm Phế lạc bế trở, khí không tuyên giáng, tân dịch không phân bố và huyết không vận hành thông thuận.
BỆNH NGUYÊN BỆNH CƠ THEO TRUNG Y
Phế khí âm lưỡng hư
Bệnh kéo dài làm Phế khí hao tổn, đồng thời ho khan và hư nhiệt làm Phế âm suy giảm. Phế mất tuyên giáng gây ho, khó thở; âm dịch không đủ làm họng khô, đờm ít và da khô.
Tỳ hư sinh đàm
Tỳ mất kiện vận làm thủy thấp đình tụ, ngưng lại thành đàm. Đàm theo khí đi lên Phế, làm Phế khí không thông, gây ngực tức, ho, khó thở và mệt mỏi.
Phế Thận lưỡng hư
Phế chủ hô khí, Thận chủ nạp khí. Bệnh kéo dài từ Phế ảnh hưởng đến Thận, làm Thận không nạp khí. Người bệnh khó hít sâu, hoạt động nhẹ cũng suyễn, kèm đau lưng, mỏi gối và tiểu đêm.
Khí trệ huyết ứ, Phế lạc bế trở
Phế khí hư làm huyết vận hành không đủ lực; đàm trọc và bệnh kéo dài cũng làm Phế lạc trở trệ. Huyết ứ khiến ngực đau, môi lưỡi tím, đầu chi tím lạnh và khó thở dai dẳng.
Táo nhiệt thương Phế
Táo nhiệt làm hao tổn Phế âm và tân dịch, gây ho khan, họng khô, đờm ít khó khạc, miệng khát và lưỡi đỏ khô.
Nói tóm lại, bệnh lấy Phế hư làm căn bản, lâu ngày liên lụy Tỳ và Thận; đàm, táo và huyết ứ kết lại trong Phế lạc, khiến Phế mất tuyên giáng. Giai đoạn càng muộn, khí hư, âm hư và huyết ứ thường càng rõ.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
THỂ PHẾ KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ
Triệu chứng: Ho khan kéo dài, đờm ít hoặc không có đờm, khó thở khi vận động, hụt hơi, tiếng nói nhỏ, mệt mỏi, họng khô, miệng khát, ra mồ hôi tự nhiên hoặc mồ hôi trộm; lưỡi đỏ nhạt hoặc đỏ khô, ít rêu, mạch tế nhược hoặc tế sác.
Phép trị: Ích khí dưỡng âm, nhuận Phế chỉ khái.
Phương thang: Sinh mạch tán hợp Thang Bách hợp cố kim gia giảm.
Phương dược: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Sinh địa hoàng, Thục địa hoàng, Bách hợp, Bối mẫu, Đương quy, Bạch thược, Cát cánh, Sinh cam thảo.
Gia giảm: Khó thở rõ gia Hoàng kỳ, Ngũ vị tử; ho khan nhiều gia Tử uyển, Khoản đông hoa; họng khô gia Sa sâm, Ngọc trúc; ngực đau, môi tím gia Đan sâm, Xích thược.
Phân tích: Nhân sâm hoặc Đảng sâm bổ Phế khí; Mạch môn dưỡng âm, sinh tân; Ngũ vị tử liễm Phế, giữ khí; Bách hợp, Sinh địa hoàng và Thục địa hoàng dưỡng Phế Thận chi âm; Bối mẫu hóa đàm; Đương quy, Bạch thược dưỡng huyết; Cát cánh tuyên Phế.
THỂ TỲ PHẾ KHÍ HƯ, ĐÀM THẤP TRỞ PHẾ
Triệu chứng: Ho, đờm trắng hoặc trong, ngực đầy, khó thở, mệt mỏi, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng, tay chân nặng nề; sắc mặt nhợt, tiếng nói yếu; lưỡi nhạt bệu, có dấu răng, rêu trắng nhớt, mạch nhu hoặc tế nhược.
Phép trị: Kiện Tỳ ích Phế, táo thấp hóa đàm.
Phương thang: Sâm linh bạch truật tán hợp Nhị trần thang gia giảm.
Phương dược: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Bạch biển đậu, Ý dĩ nhân, Trần bì, Bán hạ chế, Cát cánh, Sa nhân, Cam thảo.
Gia giảm: Khó thở nhiều gia Hoàng kỳ, Ngũ vị tử; đờm nhiều gia Tử tô tử, Lai phục tử; ngực tức gia Qua lâu bì, Chỉ xác; ăn kém gia Kê nội kim, Mạch nha.
Phân tích: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh và Sơn dược kiện Tỳ ích khí; Ý dĩ nhân và Bạch biển đậu thẩm thấp; Bán hạ, Trần bì táo thấp hóa đàm; Cát cánh tuyên thông Phế khí; Sa nhân giúp Tỳ Vị vận hóa trở lại.
THỂ PHẾ THẬN KHÍ HƯ
Triệu chứng: Khó thở kéo dài, hít vào ngắn và khó, hoạt động nhẹ cũng suyễn, ho yếu, tiếng nói nhỏ, mệt mỏi, đau lưng, mỏi gối, tiểu đêm, sợ lạnh hoặc chân tay lạnh; lưỡi nhạt, có thể hơi tím, mạch trầm tế vô lực.
Phép trị: Bổ Phế ích Thận, nạp khí bình suyễn.
Phương thang: Thang Nhân sâm hồ đào gia giảm; trường hợp Thận dương hư rõ có thể căn cứ tình trạng phối hợp Kim quỹ thận khí hoàn.
Phương dược: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Hồ đào nhục, Ngũ vị tử, Thục địa hoàng, Sơn thù du, Sơn dược, Phục linh, Đỗ trọng, Bổ cốt chỉ.
Gia giảm: Sợ lạnh, chân tay lạnh gia Phụ tử chế, Nhục quế với liều lượng phù hợp; phù chân gia Trạch tả, Xa tiền tử; môi tím, ngực tức gia Đan sâm, Hồng hoa; mồ hôi nhiều gia Hoàng kỳ, Long cốt, Mẫu lệ.
Phân tích: Nhân sâm bổ Phế khí; Hồ đào nhục và Bổ cốt chỉ ôn Thận, nạp khí; Thục địa hoàng, Sơn thù du và Sơn dược bổ Thận, cố bản; Ngũ vị tử liễm Phế, giữ khí; Đỗ trọng bổ Can Thận.
THỂ KHÍ HƯ HUYẾT Ứ, PHẾ LẠC BẾ TRỞ
Triệu chứng: Khó thở dai dẳng, ngực tức hoặc đau cố định, ho khan, môi và đầu chi tím, sắc mặt tối, móng tay tím, vận động làm triệu chứng tăng; lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch sáp hoặc trầm tế.
Phép trị: Ích khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc, tuyên Phế bình suyễn.
Phương thang: Thang Bổ dương hoàn ngũ gia giảm.
Phương dược: Hoàng kỳ, Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long.
Gia giảm: Ngực đau rõ gia Đan sâm, Uất kim; khó thở nhiều gia Ngũ vị tử, Tử tô tử; đàm nhiều gia Qua lâu, Bán hạ chế; Phế âm hư gia Mạch môn, Sa sâm.
Phân tích: Hoàng kỳ đại bổ nguyên khí, giúp huyết vận hành; Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân và Hồng hoa hoạt huyết hóa ứ; Địa long thông kinh lạc và hỗ trợ bình suyễn.
THỂ ÂM HƯ PHẾ TÁO
Triệu chứng: Ho khan thành từng cơn, đờm ít và dính, khó khạc, họng khô, tiếng khàn, ngực nóng, lòng bàn tay bàn chân nóng, chiều tối có thể sốt nhẹ hoặc ra mồ hôi trộm; lưỡi đỏ khô, ít rêu, mạch tế sác.
Phép trị: Dưỡng âm nhuận Phế, thanh nhiệt, hóa đàm.
Phương thang: Thang Sa sâm mạch môn gia giảm.
Phương dược: Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc, Thiên hoa phấn, Bạch biển đậu, Tang diệp, Cam thảo.
Gia giảm: Ho nhiều gia Tử uyển, Khoản đông hoa; đờm dính khó khạc gia Qua lâu nhân, Bối mẫu; hư nhiệt rõ gia Địa cốt bì, Tri mẫu; khát nhiều gia Thiên môn đông, Sinh địa hoàng.
Phân tích: Sa sâm, Mạch môn và Ngọc trúc dưỡng Phế âm, sinh tân; Thiên hoa phấn thanh nhiệt, sinh tân; Tang diệp thanh nhuận Phế táo; Bạch biển đậu giúp Tỳ vận hóa; Cam thảo điều hòa toàn phương.
VAI TRÒ CỦA TRUNG Y TRONG XƠ PHỔI VÔ CĂN
Điều trị Trung y có thể được sử dụng với mục đích hỗ trợ giảm ho, hóa đàm, cải thiện mệt mỏi, điều hòa tiêu hóa và nâng đỡ thể trạng. Tuy nhiên, chưa thể xem phương thang Trung y là biện pháp làm mất mô xơ đã hình thành hoặc thay thế thuốc chống xơ hóa.
Người bệnh đang dùng nintedanib, pirfenidone, thuốc chống đông hoặc nhiều thuốc điều trị bệnh nền phải thông báo đầy đủ với bác sĩ và thầy thuốc Trung y. Một số dược liệu hoạt huyết, bổ dưỡng hoặc có ảnh hưởng đến gan có thể tương tác với thuốc hiện dùng.
Không tự sử dụng các phương bổ khí, ôn dương hoặc hoạt huyết kéo dài. Biện chứng thay đổi theo giai đoạn bệnh, mức độ thiếu oxy, tình trạng đàm, tiêu hóa và các bệnh phối hợp.
ĐIỀU DƯỠNG
Ngừng hút thuốc và tránh khói thuốc thụ động.
Hạn chế tiếp xúc với bụi, nấm mốc, khói, hơi hóa chất và những chất có thể kích thích đường hô hấp.
Tham gia phục hồi chức năng phổi và vận động theo khả năng. Không cố tập khi khó thở tăng, đau ngực, chóng mặt hoặc độ bão hòa oxy giảm.
Dùng oxy đúng lưu lượng và thời gian đã được chỉ định. Không tự giảm hoặc tăng lưu lượng oxy.
Ăn thành nhiều bữa nhỏ nếu ăn no làm khó thở. Bảo đảm đủ chất đạm và năng lượng, nhưng tránh để tăng cân quá mức làm gánh nặng hô hấp tăng.
Giữ ấm phù hợp, phòng nhiễm trùng đường hô hấp và tiêm chủng theo khuyến nghị của bác sĩ.
Theo Trung y, người Tỳ hư đàm thấp nên hạn chế thức ăn nhiều dầu mỡ, quá ngọt và khó tiêu; người Phế âm hư, ho khan, họng khô nên tránh lạm dụng thực phẩm cay nóng, rượu và thuốc có tính táo liệt.
Theo dõi cân nặng, mức độ khó thở, khả năng vận động và độ bão hòa oxy nếu được hướng dẫn. Sự thay đổi nhanh của những chỉ số này cần được báo cho bác sĩ.
DẤU HIỆU CẦN XỬ TRÍ KHẨN CẤP
Dấu hiệu nguy hiểm: Khó thở đột ngột tăng rõ; không thể nói trọn câu; tím môi hoặc đầu chi; đau ngực; ho ra máu; lú lẫn; ngất; sốt kèm khó thở tăng; độ bão hòa oxy thấp hơn ngưỡng bác sĩ đã quy định hoặc không cải thiện khi dùng oxy theo chỉ dẫn.
Đây có thể là biểu hiện của đợt cấp xơ phổi, nhiễm trùng, tràn khí màng phổi, thuyên tắc phổi hoặc suy hô hấp. Người bệnh cần được cấp cứu, không nên tự điều trị bằng phương thang tại nhà.
Nói tóm lại, xơ phổi vô căn là bệnh phổi kẽ mạn tính tiến triển, làm mô phổi dày, cứng và suy giảm khả năng trao đổi khí. Theo Trung y, bệnh lấy Phế khí, Phế âm suy tổn làm căn bản, lâu ngày liên lụy Tỳ và Thận; đàm trọc, táo nhiệt cùng huyết ứ làm Phế lạc bế trở. Điều trị cần phối hợp chặt chẽ giữa chuyên khoa hô hấp, thuốc chống xơ hóa khi có chỉ định, oxy liệu pháp, phục hồi chức năng phổi và Trung y hỗ trợ theo biện chứng.
Trường Xuân biên soạn
TÂM PHẾ MẠN 慢性肺源性心臟病
KHÁI QUÁT
Tâm phế mạn, còn gọi là bệnh tim phổi mạn tính, là tình trạng cấu trúc và chức năng của thất phải bị thay đổi do bệnh phổi, bệnh đường thở, bệnh mạch máu phổi hoặc thiếu oxy kéo dài làm tăng sức cản tuần hoàn phổi và tăng áp động mạch phổi.
Bình thường, thất phải đưa máu vào động mạch phổi để thực hiện trao đổi khí. Khi áp lực trong động mạch phổi tăng kéo dài, thất phải phải co bóp mạnh hơn để thắng sức cản. Ban đầu, cơ thất phải dày lên để thích nghi; về sau, khả năng bù trừ suy giảm, buồng tim giãn và xuất hiện suy tim phải.
Tâm phế mạn không phải là bệnh tim nguyên phát. Căn nguyên bắt đầu từ bệnh phổi hoặc tuần hoàn phổi, sau đó mới ảnh hưởng đến tim phải. Bệnh tiến triển chậm nhưng thường nặng lên sau mỗi đợt nhiễm trùng hô hấp hoặc đợt cấp của bệnh phổi nền.
NGUYÊN NHÂN
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là nguyên nhân thường gặp của tâm phế mạn. Tắc nghẽn đường thở, khí phế thũng và thiếu oxy kéo dài làm các mạch máu nhỏ trong phổi co lại, tái cấu trúc và tăng sức cản.
Bệnh phổi kẽ và xơ phổi
Xơ hóa làm phổi cứng, phá hủy các đơn vị trao đổi khí và làm giảm mạng lưới mao mạch phổi. Những biến đổi này gây thiếu oxy và tăng áp lực tuần hoàn phổi.
Giãn phế quản và bệnh phổi nhiễm trùng mạn tính
Giãn phế quản, lao phổi để lại di chứng, viêm phế quản mạn và các bệnh nhiễm trùng kéo dài có thể phá hủy cấu trúc phổi, làm giảm diện tích trao đổi khí và tăng áp động mạch phổi.
Bệnh thành ngực và thần kinh – cơ
Gù vẹo cột sống nặng, biến dạng lồng ngực, bệnh thần kinh – cơ và những tình trạng làm giảm thông khí lâu ngày có thể gây thiếu oxy mạn tính, từ đó ảnh hưởng đến tuần hoàn phổi và tim phải.
Rối loạn hô hấp khi ngủ
Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ và hội chứng giảm thông khí do béo phì có thể gây những đợt thiếu oxy lặp lại, góp phần làm tăng áp động mạch phổi.
Bệnh mạch máu phổi
Thuyên tắc phổi tái phát hoặc tăng áp phổi do huyết khối mạn tính làm giảm diện tích lòng mạch phổi, tăng sức cản mà thất phải phải vượt qua.
Những nguyên nhân khác
Cắt bỏ một phần lớn mô phổi, một số bệnh mô liên kết, bệnh phổi nghề nghiệp và các bệnh phổi bẩm sinh hoặc di truyền cũng có thể dẫn đến tâm phế mạn.
CƠ CHẾ PHÁT SINH
Thiếu oxy gây co mạch phổi
Khi phế nang thiếu oxy, các tiểu động mạch phổi tại khu vực đó co lại để hướng máu đến phần phổi thông khí tốt hơn. Đây là phản ứng có lợi khi chỉ xảy ra khu trú và trong thời gian ngắn.
Nếu thiếu oxy lan rộng và kéo dài, phần lớn mạch máu phổi cùng co lại, làm sức cản tuần hoàn phổi tăng. Thất phải phải tạo áp lực lớn hơn để đưa máu qua phổi.
Tái cấu trúc mạch máu phổi
Thiếu oxy mạn tính thúc đẩy thành tiểu động mạch phổi dày lên, cơ trơn tăng sinh và lòng mạch hẹp lại. Những biến đổi cấu trúc này làm tăng áp phổi trở nên dai dẳng.
Giảm diện tích giường mạch phổi
Khí phế thũng, xơ phổi, huyết khối và tổn thương nhu mô phổi làm mất một phần mạng lưới mao mạch. Máu phải đi qua phần mạch còn lại, khiến sức cản và áp lực tăng.
Tăng độ quánh của máu
Thiếu oxy kéo dài có thể kích thích cơ thể tăng sản xuất hồng cầu. Khi số lượng hồng cầu tăng quá mức, máu trở nên đặc hơn và làm gánh nặng tuần hoàn tăng.
Biến đổi thất phải
Giai đoạn đầu, thất phải phì đại để thích nghi với áp lực cao. Khi tình trạng này vượt quá khả năng bù trừ, thất phải giãn, lực co bóp giảm và máu ứ lại trong hệ tĩnh mạch toàn thân.
TRIỆU CHỨNG
Giai đoạn còn bù
Triệu chứng thường liên quan chủ yếu đến bệnh phổi nền: Ho kéo dài, khạc đờm, thở khò khè, khó thở khi gắng sức, mệt mỏi, giảm khả năng vận động, tức ngực; có thể tím môi hoặc đầu chi khi thiếu oxy rõ.
Giai đoạn suy tim phải
Triệu chứng thường gặp: Khó thở tăng, mệt rõ, hồi hộp, đánh trống ngực, nặng chân, phù hai mắt cá và cẳng chân, tĩnh mạch cổ nổi, bụng đầy, ăn nhanh no, chán ăn, đau tức vùng gan, tăng cân do giữ nước hoặc cổ trướng.
Trường hợp nặng có thể xuất hiện tiểu ít, tím tái, lạnh đầu chi, chóng mặt, ngất, rối loạn nhịp tim, suy kiệt, lú lẫn hoặc buồn ngủ do thiếu oxy và tích tụ carbon dioxide.
Tâm phế mạn thường có ít biểu hiện đặc hiệu cho đến khi thất phải bắt đầu suy. Khó thở, phù chân, tĩnh mạch cổ nổi và đầy bụng là những dấu hiệu quan trọng của suy tim phải. Cleveland Clinic
ĐỢT CẤP CỦA TÂM PHẾ MẠN
Tâm phế mạn có thể đột ngột nặng lên khi xuất hiện nhiễm trùng đường hô hấp, viêm phổi, đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, rối loạn nhịp tim, thuyên tắc phổi, dùng thuốc an thần không phù hợp, điều trị oxy sai cách hoặc lao lực quá mức.
Triệu chứng đợt cấp: Ho và đờm tăng; đờm đổi màu; sốt; khó thở tăng nhanh; tím tái rõ; phù tăng; tiểu ít; tim đập nhanh hoặc không đều; đau ngực; lơ mơ, ngủ gà hoặc kích động.
Mỗi đợt cấp có thể làm chức năng tim và phổi suy giảm thêm. Vì vậy, kiểm soát bệnh phổi nền và phòng nhiễm trùng có ý nghĩa quan trọng.
CHẨN ĐOÁN
Khám lâm sàng
Bác sĩ đánh giá mức độ khó thở, tím tái, phù, tĩnh mạch cổ, gan, nhịp tim, tiếng tim và các âm bất thường tại phổi.
Đo độ bão hòa oxy và khí máu động mạch
Độ bão hòa oxy giúp nhận biết tình trạng thiếu oxy. Khí máu động mạch đánh giá chính xác hơn nồng độ oxy, carbon dioxide và rối loạn thăng bằng acid – base.
Điện tâm đồ
Điện tâm đồ có thể phát hiện dấu hiệu gánh nặng tim phải, phì đại thất phải, trục tim lệch phải hoặc rối loạn nhịp.
Siêu âm tim
Siêu âm giúp đánh giá kích thước và chức năng thất phải, van ba lá, áp lực động mạch phổi ước tính, đồng thời loại trừ những nguyên nhân tim trái.
Chụp X-quang và cắt lớp vi tính lồng ngực
Các phương pháp này giúp đánh giá bệnh phổi nền, kích thước tim, động mạch phổi, khí phế thũng, xơ phổi, giãn phế quản hoặc huyết khối.
Thăm dò chức năng hô hấp
Xét nghiệm giúp xác định kiểu rối loạn thông khí, mức độ tắc nghẽn hoặc hạn chế và khả năng khuếch tán khí của phổi.
Thông tim phải
Thông tim phải là phương pháp đo trực tiếp áp lực trong động mạch phổi và các buồng tim phải. Xét nghiệm này được thực hiện khi cần xác định chính xác tăng áp phổi, nguyên nhân và hướng điều trị.
Xét nghiệm khác
Công thức máu, chức năng gan thận, điện giải, peptide lợi niệu, xét nghiệm đờm và các kiểm tra liên quan được chỉ định căn cứ vào tình trạng từng người.
BIẾN CHỨNG
Các biến chứng có thể gặp: Suy tim phải, suy hô hấp, tăng carbon dioxide máu, rối loạn nhịp tim, huyết khối tĩnh mạch, thuyên tắc phổi, tổn thương gan do sung huyết, suy thận, tràn dịch màng phổi, cổ trướng, suy dinh dưỡng và rối loạn ý thức.
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Điều trị bệnh phổi nền
Đây là phần căn bản của điều trị. Người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen, giãn phế quản, xơ phổi, ngưng thở khi ngủ hoặc bệnh phổi nghề nghiệp cần được điều trị theo đúng nguyên nhân.
Oxy liệu pháp
Oxy được chỉ định khi có thiếu oxy máu. Sử dụng oxy đúng mức có thể giảm co mạch phổi do thiếu oxy và giảm gánh nặng cho tim phải.
Người có nguy cơ giữ carbon dioxide không được tự ý tăng lưu lượng oxy. Liều oxy và mục tiêu độ bão hòa phải do bác sĩ xác định.
Thuốc lợi tiểu
Thuốc lợi tiểu có thể được sử dụng để giảm phù và ứ dịch khi suy tim phải. Tuy nhiên, dùng quá mức có thể làm giảm thể tích tuần hoàn, hạ huyết áp, rối loạn điện giải và ảnh hưởng đến khả năng bơm máu của thất phải.
Điều trị nhiễm trùng
Khi có nhiễm trùng hô hấp, người bệnh cần được đánh giá sớm. Kháng sinh chỉ được dùng khi có chỉ định phù hợp.
Thuốc điều trị tăng áp phổi
Không phải mọi thuốc giãn mạch điều trị tăng áp động mạch phổi đều phù hợp với tăng áp phổi do bệnh phổi. Dùng không đúng có thể làm rối loạn tương quan thông khí – tưới máu và khiến thiếu oxy nặng hơn. Việc lựa chọn thuốc phải do chuyên khoa tăng áp phổi quyết định.
Điều trị bệnh kèm theo
Rối loạn nhịp, huyết khối, thiếu máu, đa hồng cầu, ngưng thở khi ngủ, suy dinh dưỡng và bệnh thận cần được phát hiện và xử trí đồng thời.
NHẬN THỨC THEO TRUNG Y
Tâm phế mạn không có tên bệnh hoàn toàn tương ứng trong y thư cổ. Căn cứ vào ho, đờm, khó thở, ngực đầy, hồi hộp, tím tái, phù và bệnh kéo dài, có thể quy vào phạm vi các chứng phế trướng 肺脹, suyễn chứng 喘證, đàm ẩm 痰飲, tâm quý 心悸 và thủy thũng 水腫.
Bệnh khởi đầu phần nhiều ở Phế. Phế khí bị tổn thương lâu ngày làm tuyên phát và túc giáng thất thường, tân dịch không được phân bố, tụ lại thành đàm. Bệnh kéo dài ảnh hưởng đến Tỳ, khiến nguồn sinh đàm càng nhiều; tiếp tục ảnh hưởng đến Thận, làm Thận không nạp khí và không chủ được thủy.
Phế khí hư không thể thúc đẩy huyết hành; đàm trọc ngăn trở khí cơ; thiếu oxy kéo dài làm huyết mạch không thông, dần hình thành huyết ứ. Khi Tâm dương suy yếu, huyết vận hành càng khó, thủy thấp tràn ra bì phu gây phù.
Nói tóm lại, bệnh lấy Phế, Tỳ, Thận hư làm bản; đàm trọc, thủy ẩm và huyết ứ làm tiêu. Giai đoạn ổn định thường thiên về khí hư, đàm ứ; giai đoạn mất bù thường xuất hiện dương hư, thủy phiếm, huyết ứ và đôi khi có đàm mê tâm khiếu.
BỆNH NGUYÊN BỆNH CƠ THEO TRUNG Y
Phế khí hư
Ho suyễn kéo dài làm Phế khí hao tổn. Phế mất tuyên giáng gây ho, khó thở, hụt hơi và tiếng nói nhỏ.
Tỳ hư sinh đàm
Tỳ không vận hóa được thủy thấp, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc trở Phế khiến ngực đầy, ho nhiều đờm và khó thở tăng.
Thận hư không nạp khí
Bệnh lâu ngày từ Phế ảnh hưởng đến Thận. Thận không nạp khí khiến người bệnh hít vào khó, hoạt động nhẹ cũng suyễn, kèm đau lưng, chân yếu và tiểu đêm.
Khí hư huyết ứ
Khí là động lực vận hành huyết. Phế khí, Tâm khí suy yếu làm huyết hành chậm, hình thành huyết ứ, biểu hiện bằng môi lưỡi tím, ngực đau và đầu chi lạnh.
Dương hư thủy phiếm
Tỳ dương và Thận dương suy làm thủy dịch không được vận hóa, tràn ra da thịt gây phù; thủy khí thượng nghịch lấn Phế làm khó thở, lấn Tâm gây hồi hộp.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
THỂ PHẾ TỲ KHÍ HƯ, ĐÀM TRỌC TRỞ PHẾ
Triệu chứng: Ho kéo dài, đờm trắng hoặc trong, khó thở khi vận động, ngực đầy, hụt hơi, tiếng nói nhỏ, người mệt mỏi, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng; lưỡi nhạt bệu, có dấu răng, rêu trắng nhớt, mạch nhu hoặc tế nhược.
Phép trị: Bổ Phế kiện Tỳ, táo thấp hóa đàm, giáng khí bình suyễn.
Phương thang: Sâm linh bạch truật tán hợp Nhị trần thang gia giảm.
Phương dược: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Bạch biển đậu, Ý dĩ nhân, Bán hạ chế, Trần bì, Cát cánh, Sa nhân, Cam thảo.
Gia giảm: Khó thở nhiều gia Hoàng kỳ, Ngũ vị tử; đờm nhiều gia Tử tô tử, Lai phục tử; ngực đầy gia Qua lâu bì, Chỉ xác; ho nhiều gia Tử uyển, Khoản đông hoa.
Phân tích: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh và Sơn dược kiện Tỳ ích khí; Ý dĩ nhân và Bạch biển đậu hóa thấp; Bán hạ, Trần bì hóa đàm lý khí; Cát cánh tuyên Phế; Sa nhân giúp trung tiêu vận hóa.
THỂ ĐÀM NHIỆT ỦNG PHẾ
Triệu chứng: Ho suyễn tăng, thở gấp, ngực đầy, đờm vàng đặc khó khạc, có thể sốt, miệng khát, bứt rứt, tiểu vàng, đại tiện táo; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế bình suyễn.
Phương thang: Thang Thanh kim hóa đàm gia giảm.
Phương dược: Hoàng cầm, Chi tử, Tang bạch bì, Tri mẫu, Qua lâu nhân, Bối mẫu, Mạch môn, Quất hồng, Phục linh, Cát cánh, Cam thảo.
Gia giảm: Sốt và nhiễm độc rõ gia Kim ngân hoa, Liên kiều, Ngư tinh thảo; đờm nhiều khó khạc gia Trúc lịch, Thiên trúc hoàng; khó thở rõ gia Đình lịch tử, Tử tô tử; ngực đau, môi tím gia Đan sâm, Xích thược.
Lưu ý: Sốt, đờm đổi màu và khó thở tăng có thể là nhiễm trùng hoặc đợt cấp. Người bệnh cần được khám, không dùng phương thang để trì hoãn kháng sinh hay điều trị hô hấp khi đã có chỉ định.
THỂ PHẾ THẬN KHÍ HƯ
Triệu chứng: Khó thở kéo dài, hít vào khó, hoạt động nhẹ cũng suyễn, ho yếu, tiếng nói nhỏ, mệt mỏi, đau lưng, mỏi gối, tiểu đêm, có thể ra mồ hôi tự nhiên; lưỡi nhạt, mạch trầm tế vô lực.
Phép trị: Bổ Phế ích Thận, nạp khí bình suyễn.
Phương thang: Thang Nhân sâm hồ đào gia giảm.
Phương dược: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Hồ đào nhục, Ngũ vị tử, Thục địa hoàng, Sơn thù du, Sơn dược, Bổ cốt chỉ, Đỗ trọng.
Gia giảm: Khí hư rõ gia Hoàng kỳ; sợ lạnh, chân tay lạnh gia Nhục quế, Phụ tử chế khi có chỉ định; đờm nhiều gia Bán hạ chế, Trần bì; môi tím gia Đan sâm, Hồng hoa.
THỂ KHÍ HƯ HUYẾT Ứ
Triệu chứng: Khó thở, hồi hộp, ngực tức hoặc đau cố định, môi và đầu chi tím, sắc mặt tối, tĩnh mạch cổ nổi, phù nhẹ; lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch trầm sáp hoặc kết đại.
Phép trị: Ích khí hoạt huyết, hóa ứ thông mạch.
Phương thang: Thang Bổ dương hoàn ngũ gia giảm.
Phương dược: Hoàng kỳ, Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long.
Gia giảm: Ngực đau rõ gia Đan sâm, Uất kim; hồi hộp gia Quế chi, Chích cam thảo; đờm nhiều gia Qua lâu, Bán hạ chế; phù gia Phục linh bì, Trạch tả.
Lưu ý: Người đang sử dụng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng tiểu cầu không được tự dùng các vị hoạt huyết như Đào nhân, Hồng hoa, Đan sâm và Xích thược.
THỂ TỲ THẬN DƯƠNG HƯ, THỦY ẨM PHIẾM TRÀN
Triệu chứng: Khó thở, hồi hộp, phù hai chân rõ, bụng đầy hoặc cổ trướng, tiểu ít, sợ lạnh, chân tay lạnh, mệt mỏi, ăn kém, nằm xuống khó thở hơn; lưỡi nhạt bệu hoặc tím nhạt, rêu trắng trơn, mạch trầm tế hoặc trầm trì vô lực.
Phép trị: Ôn dương kiện Tỳ, lợi thủy, bình suyễn.
Phương thang: Chân vũ thang hợp Ngũ linh tán gia giảm.
Phương dược: Phụ tử chế, Bạch truật, Phục linh, Bạch thược, Sinh khương, Trạch tả, Trư linh, Quế chi.
Gia giảm: Phù nhiều gia Đại phúc bì, Phục linh bì, Xa tiền tử; khó thở rõ gia Đình lịch tử, Tử tô tử; môi tím, lưỡi tím gia Đan sâm, Ích mẫu; Tâm dương suy, hồi hộp rõ gia Nhân sâm, Quế chi.
Lưu ý: Phụ tử là vị thuốc có độc tính và phải được chế biến, định liều đúng. Không tự mua hoặc tự sắc dùng. Phù tăng, tiểu ít và khó thở khi nằm có thể là suy tim mất bù, cần được khám sớm.
THỂ ĐÀM MÊ TÂM KHIẾU
Triệu chứng: Khó thở nặng, đờm nhiều, tím tái, lơ mơ, ngủ gà, nói không rõ, có thể bứt rứt hoặc rối loạn ý thức; lưỡi tím tối, rêu dày nhớt, mạch hoạt sác hoặc vi nhược.
Phép trị: Khai khiếu, hóa đàm, tỉnh thần.
Đây là tình trạng nguy cấp, có thể liên quan đến thiếu oxy hoặc tăng carbon dioxide máu. Người bệnh phải được cấp cứu ngay. Không chờ sắc thuốc hoặc tự điều trị tại nhà.
VAI TRÒ CỦA TRUNG Y
Trung y có thể hỗ trợ điều hòa ho, đờm, khó thở, mệt mỏi, ăn kém và phù nhẹ trong giai đoạn ổn định. Điều trị cần căn cứ vào hư thực, hàn nhiệt, đàm, ứ và tình trạng thủy dịch.
Trung y không thay thế oxy liệu pháp, thuốc giãn phế quản, thuốc lợi tiểu, kháng sinh, điều trị tăng áp phổi hoặc các biện pháp cấp cứu.
Người bệnh thường sử dụng nhiều thuốc tim mạch và hô hấp. Vì vậy, mọi phương thang phải được kiểm tra khả năng tương tác, đặc biệt với thuốc chống đông, thuốc lợi tiểu, digoxin, thuốc điều trị rối loạn nhịp và thuốc ảnh hưởng đến kali máu.
CHĂM SÓC VÀ PHÒNG NGỪA
Ngừng hút thuốc và tránh khói thuốc thụ động.
Điều trị đều đặn bệnh phổi nền, không tự ngừng thuốc khi triệu chứng tạm ổn.
Dùng oxy đúng chỉ định, đúng lưu lượng và đúng thời gian. Không tự ý thay đổi mục tiêu độ bão hòa oxy.
Giữ ấm phù hợp, hạn chế tiếp xúc với người đang mắc bệnh hô hấp và tiêm chủng theo hướng dẫn.
Ăn giảm muối khi có phù hoặc suy tim theo mức bác sĩ khuyến nghị. Không tự hạn chế nước quá mức nếu chưa được hướng dẫn.
Theo dõi cân nặng hằng ngày khi có suy tim. Tăng cân nhanh trong vài ngày có thể phản ánh tình trạng giữ nước.
Vận động và phục hồi chức năng phổi theo khả năng. Tránh nằm bất động kéo dài nhưng cũng không gắng sức khi đang khó thở, đau ngực hoặc chóng mặt.
Giữ đại tiện thông thuận. Táo bón và rặn mạnh làm tăng áp lực trong lồng ngực, có thể gây bất lợi cho người suy tim và tăng áp phổi.
Theo Trung y, người Tỳ hư đàm thấp nên hạn chế thức ăn quá béo, quá ngọt và lạnh sống; người dương hư phù nhiều nên tránh dùng tùy tiện các món quá mặn; người đàm nhiệt nên ăn thanh đạm và tránh rượu, thực phẩm cay nóng.
DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Dấu hiệu nguy hiểm: Khó thở tăng nhanh; không nói được trọn câu; tím môi hoặc đầu chi; đau ngực; ngất; ho ra máu; tim đập rất nhanh hoặc không đều; phù tăng nhanh; tiểu rất ít; lơ mơ, ngủ gà, kích động hoặc rối loạn ý thức; độ bão hòa oxy thấp hơn mức bác sĩ đã quy định.
Những biểu hiện này có thể liên quan đến suy hô hấp, suy tim mất bù, thuyên tắc phổi, rối loạn nhịp hoặc nhiễm trùng nặng. Người bệnh cần được cấp cứu.
Nói tóm lại, tâm phế mạn hình thành khi bệnh phổi và thiếu oxy kéo dài làm tăng áp động mạch phổi, khiến thất phải phì đại, giãn và cuối cùng suy. Theo Trung y, bệnh lấy Phế, Tỳ, Thận hư làm bản; đàm trọc, huyết ứ và thủy ẩm làm tiêu. Điều trị cần phối hợp giữa kiểm soát bệnh phổi nền, cải thiện thiếu oxy, bảo vệ tim phải và biện chứng luận trị. Khi xuất hiện khó thở tăng, phù nhiều, tiểu ít hoặc rối loạn ý thức, phải ưu tiên xử trí cấp cứu.
Trường Xuân biên soạn.
XẸP PHỔI 肺不張
KHÁI QUÁT
Xẹp phổi là tình trạng một phần hoặc toàn bộ phổi không giãn nở đầy đủ, làm các phế nang mất khí và giảm thể tích. Khi số lượng phế nang tham gia trao đổi khí giảm, lượng oxy đi vào máu có thể suy giảm.
Xẹp phổi có thể xuất hiện ở trẻ sơ sinh, sau phẫu thuật, khi đường thở bị tắc nghẽn, khi phổi bị chèn ép từ bên ngoài hoặc khi mô phổi bị xơ hóa, co kéo.
Trong cách sử dụng hiện nay, thuật ngữ xẹp phổi thường chỉ tình trạng phế nang xẹp và nhu mô phổi giảm thể tích. Tình trạng này khác với tràn khí màng phổi, mặc dù tràn khí màng phổi có thể chèn ép và làm phổi xẹp.
Xẹp phổi không phải lúc nào cũng nguy hiểm. Một vùng phổi nhỏ bị xẹp có thể không gây triệu chứng và có khả năng giãn nở trở lại khi nguyên nhân được giải quyết. Tuy nhiên, xẹp phổi diện rộng hoặc xảy ra nhanh có thể gây thiếu oxy, suy hô hấp và nhiễm trùng phổi.
PHÂN LOẠI
Xẹp phổi do tắc nghẽn
Xẹp phổi do tắc nghẽn, còn gọi là xẹp phổi hấp thu, xảy ra khi phế quản hoặc tiểu phế quản bị bít kín. Không khí không thể đi vào phần phổi phía sau chỗ tắc; lượng khí còn lại trong phế nang dần được hấp thu vào máu, làm phế nang xẹp xuống.
Nguyên nhân thường gặp: Nút nhầy, đờm đặc, dị vật đường thở, khối u trong phế quản, cục máu đông hoặc phù nề niêm mạc làm bít tắc đường dẫn khí.
Xẹp phổi do chèn ép
Xẹp phổi do chèn ép xảy ra khi mô phổi bị ép từ bên ngoài, khiến phế nang không thể nở ra.
Nguyên nhân thường gặp: Tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, tràn máu màng phổi, khối u trong lồng ngực, tim to, bụng chướng nhiều, cổ trướng hoặc cơ hoành bị đẩy lên cao.
Xẹp phổi do giảm thông khí
Tình trạng này xuất hiện khi người bệnh thở nông, không hít sâu hoặc phản xạ ho bị suy giảm. Phế nang không được mở rộng đều đặn nên dần xẹp xuống.
Nguyên nhân thường gặp: Gây mê toàn thân, dùng thuốc an thần hoặc opioid, đau sau phẫu thuật ngực và bụng, chấn thương lồng ngực, bất động kéo dài, yếu cơ hô hấp, bệnh thần kinh – cơ và béo phì.
Xẹp phổi do co kéo
Xơ hóa hoặc sẹo trong nhu mô phổi co rút, kéo các phế nang và đường thở nhỏ biến dạng, làm vùng phổi đó không thể giãn nở bình thường.
Nguyên nhân thường gặp: Xơ phổi, lao phổi cũ, bệnh phổi kẽ và một số tổn thương viêm mạn tính để lại sẹo.
Xẹp vi thể do thiếu chất hoạt diện
Chất hoạt diện phổi giúp giảm sức căng bề mặt và giữ cho phế nang không xẹp khi thở ra. Trẻ sinh non có thể thiếu chất này do phổi chưa trưởng thành. Rối loạn chất hoạt diện cũng có thể gặp trong hội chứng suy hô hấp cấp.
XẸP PHỔI Ở TRẺ SƠ SINH
Ở trẻ sơ sinh, nhất là trẻ sinh non, phổi có thể không giãn nở đầy đủ sau khi sinh. Nguyên nhân gồm phổi chưa trưởng thành, thiếu chất hoạt diện, trung tâm hô hấp chưa hoàn thiện, ngạt trong tử cung, tổn thương trong quá trình sinh hoặc đường thở bị bít bởi dịch và chất tiết.
Trẻ có thể thở nhanh, thở rên, cánh mũi phập phồng, co lõm lồng ngực, bú kém và tím tái. Đây là tình trạng cần được đánh giá và điều trị tại cơ sở y tế, không áp dụng phương pháp dân gian hoặc tự dùng thuốc.
XẸP PHỔI SAU PHẪU THUẬT
Phẫu thuật là một trong những hoàn cảnh thường gặp dẫn đến xẹp phổi. Thuốc gây mê làm giảm hô hấp sâu và phản xạ ho; đau vết mổ khiến người bệnh ngại hít sâu; nằm lâu làm chất tiết ứ đọng; thuốc giảm đau opioid có thể ức chế hô hấp.
Nguy cơ cao hơn ở người phẫu thuật ngực hoặc bụng trên, người cao tuổi, người béo phì, người hút thuốc và người đã có bệnh phổi mạn tính.
Vận động sớm, kiểm soát đau phù hợp, thay đổi tư thế, tập thở sâu và làm sạch chất tiết đường thở có thể giúp giảm nguy cơ xẹp phổi sau phẫu thuật.
TRIỆU CHỨNG
Triệu chứng thường gặp: Khó thở, thở nhanh, ho, đau hoặc tức ngực, nhịp tim nhanh, giảm độ bão hòa oxy; trường hợp nặng có thể tím môi, tím đầu chi, bứt rứt, lú lẫn hoặc suy hô hấp.
Một vùng xẹp nhỏ hoặc hình thành từ từ có thể không gây biểu hiện rõ. Triệu chứng phụ thuộc vào diện tích phổi bị ảnh hưởng, tốc độ xuất hiện và bệnh nguyên.
Xẹp phổi do nút nhầy có thể kèm ho yếu, khạc đờm khó và giảm âm thở tại vùng tổn thương.
Xẹp phổi do dị vật thường xuất hiện đột ngột, kèm sặc, ho dữ dội, thở rít hoặc khò khè khu trú.
Xẹp phổi do tràn khí màng phổi có thể gây đau ngực đột ngột và khó thở. Tràn khí màng phổi áp lực có thể làm huyết áp hạ, tím tái và đe dọa tính mạng.
Xẹp phổi kèm nhiễm trùng có thể gây sốt, ho đờm vàng xanh, đau ngực khi hít sâu và tình trạng toàn thân suy giảm.
CHẨN ĐOÁN
Khám lâm sàng
Bác sĩ đánh giá nhịp thở, độ bão hòa oxy, sự cân đối của lồng ngực và âm thở hai bên. Vùng phổi bị xẹp có thể giảm âm thở và giảm độ giãn nở.
Chụp X-quang lồng ngực
X-quang có thể cho thấy vùng phổi mờ, dấu hiệu giảm thể tích, cơ hoành nâng cao, các khe liên thùy bị kéo lệch hoặc trung thất lệch về phía tổn thương trong một số trường hợp.
Chụp cắt lớp vi tính
Chụp cắt lớp vi tính giúp xác định chính xác vị trí, mức độ xẹp và tìm nguyên nhân như khối u, nút nhầy, dị vật, tràn dịch hoặc tổn thương xơ hóa.
Nội soi phế quản
Nội soi được chỉ định khi nghi ngờ dị vật, nút nhầy hoặc khối u bít phế quản. Phương pháp này vừa giúp chẩn đoán, vừa có thể lấy dị vật hoặc hút bỏ chất tiết gây tắc.
Đo độ bão hòa oxy và khí máu động mạch
Các xét nghiệm này giúp đánh giá mức độ thiếu oxy và suy hô hấp khi xẹp phổi diện rộng hoặc người bệnh có biểu hiện nặng.
BIẾN CHỨNG
Thiếu oxy máu
Phần phổi bị xẹp vẫn có thể nhận máu nhưng không được thông khí đầy đủ. Máu đi qua vùng này không nhận đủ oxy, làm độ bão hòa oxy toàn thân giảm.
Viêm phổi
Chất tiết bị ứ lại phía sau vị trí tắc nghẽn tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển. Xẹp phổi kéo dài vì vậy có thể dẫn đến viêm phổi.
Suy hô hấp
Xẹp một vùng phổi lớn, xẹp cả một thùy hoặc cả phổi có thể gây suy hô hấp, nhất là ở trẻ nhỏ, người cao tuổi và người đã có bệnh tim phổi.
Giãn phế quản
Xẹp phổi kéo dài hoặc tái phát tại cùng một vị trí có thể làm cấu trúc phế quản biến đổi và hình thành giãn phế quản.
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân. Mục tiêu là mở lại phế nang, khôi phục thông khí và xử lý yếu tố làm phổi xẹp.
Làm sạch đường thở
Người bệnh có thể được hướng dẫn ho có kiểm soát, tập thở sâu, thay đổi tư thế, vỗ rung hoặc dẫn lưu tư thế để đưa chất tiết ra ngoài.
Trong một số trường hợp, nhân viên y tế phải hút đờm hoặc nội soi phế quản để lấy nút nhầy và dị vật.
Điều trị tắc nghẽn
Dị vật đường thở cần được lấy ra sớm. Khối u gây tắc có thể cần phẫu thuật, nội soi can thiệp, xạ trị, hóa trị hoặc phương pháp phù hợp khác.
Giải phóng chèn ép
Tràn khí màng phổi hoặc tràn dịch màng phổi lượng nhiều có thể cần dẫn lưu. Khối u, cổ trướng hoặc những nguyên nhân chèn ép khác phải được điều trị theo bệnh nguyên.
Hỗ trợ hô hấp
Oxy được sử dụng khi có thiếu oxy. Trường hợp nặng có thể cần thông khí áp lực dương, đặt nội khí quản hoặc thở máy.
Điều trị nhiễm trùng
Kháng sinh được sử dụng khi có bằng chứng hoặc nghi ngờ hợp lý về nhiễm khuẩn. Xẹp phổi đơn thuần không phải là chỉ định tự động dùng kháng sinh.
Phục hồi sau phẫu thuật
Các biện pháp thường dùng gồm kiểm soát đau, vận động sớm, thay đổi tư thế, hít thở sâu, ho đúng kỹ thuật và sử dụng dụng cụ tập hít vào khi được nhân viên y tế hướng dẫn. Tổng quan điều trị xẹp phổi của MSD Manual
NHẬN THỨC THEO TRUNG Y
Trung y không có tên bệnh hoàn toàn tương ứng với xẹp phổi. Căn cứ vào các biểu hiện ho, đờm, khó thở, ngực đau hoặc đầy tức, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi các chứng khái thấu 咳嗽, suyễn chứng 喘證, phế trướng 肺脹, hung tý 胸痹 và đàm ẩm 痰飲.
Phế chủ khí, tư hô hấp, có công năng tuyên phát và túc giáng. Khi đàm trọc, nhiệt tà, huyết ứ hoặc ngoại lực làm trở ngại Phế lạc, Phế khí không thể tuyên giáng, dẫn đến ho, ngực tức và khó thở.
Đối với xẹp phổi sau phẫu thuật, chính khí suy yếu, đau làm khí cơ không thông, nằm lâu khiến khí huyết vận hành chậm, đờm không được bài xuất. Vì vậy, bệnh thường có sự phối hợp của Phế khí hư, đàm trọc và huyết ứ.
Xẹp phổi do dị vật, khối u, tràn khí, tràn dịch hoặc tắc nghẽn cơ học không thể chỉ căn cứ vào biện chứng dùng thuốc. Trước hết phải giải quyết nguyên nhân bằng phương pháp y học hiện đại; Trung y chỉ được xem xét trong giai đoạn hỗ trợ phục hồi.
BỆNH NGUYÊN BỆNH CƠ THEO TRUNG Y
Đàm thấp trở Phế
Tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, thấp tụ thành đàm. Đàm bít đường thở làm Phế khí không thông, biểu hiện bằng ho nhiều đờm, ngực đầy và khó thở.
Đàm nhiệt ủng Phế
Đàm uất lâu ngày hóa nhiệt hoặc nhiệt tà nung nấu tân dịch thành đàm. Đàm nhiệt trở Phế gây ho, đờm vàng đặc, khó thở, sốt và ngực đau.
Khí trệ huyết ứ
Sau phẫu thuật, chấn thương hoặc bệnh kéo dài, khí cơ không thông và huyết hành chậm. Huyết ứ làm Phế lạc bế trở, gây đau ngực cố định, môi tím và khó thở.
Phế Tỳ khí hư
Bệnh lâu ngày hoặc cơ thể suy yếu làm Phế khí không đủ sức tuyên phát, Tỳ khí không đủ sức vận hóa. Đờm dễ hình thành, phản xạ ho yếu và chất tiết khó được đẩy ra ngoài.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
THỂ ĐÀM THẤP TRỞ PHẾ
Triệu chứng: Ho, đờm trắng nhiều hoặc đặc dính, khạc khó, ngực đầy, khó thở, người nặng nề, ăn kém, buồn nôn; lưỡi nhạt hoặc bệu, rêu trắng nhớt, mạch hoạt.
Phép trị: Táo thấp hóa đàm, lý khí tuyên Phế.
Phương thang: Nhị trần thang hợp Tam tử dưỡng thân thang gia giảm.
Phương dược: Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Cam thảo, Tử tô tử, Bạch giới tử, Lai phục tử.
Gia giảm: Đờm đặc khó khạc gia Qua lâu, Cát cánh; ngực đầy gia Chỉ xác, Hậu phác; khí hư gia Đảng sâm, Hoàng kỳ; khó thở gia Hạnh nhân, Tử uyển.
Phân tích: Bán hạ chế, Trần bì táo thấp hóa đàm; Phục linh kiện Tỳ, thẩm thấp; Tử tô tử giáng khí hóa đàm; Bạch giới tử ôn hóa đàm ở phần sâu; Lai phục tử tiêu tích, giáng khí; Cam thảo điều hòa toàn phương.
THỂ ĐÀM NHIỆT ỦNG PHẾ
Triệu chứng: Ho, đờm vàng đặc hoặc có mùi, khạc khó, khó thở, ngực đau hoặc đầy tức, có thể sốt, miệng khát, tiểu vàng; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế thông lạc.
Phương thang: Thang Thanh kim hóa đàm gia giảm.
Phương dược: Hoàng cầm, Chi tử, Tang bạch bì, Tri mẫu, Qua lâu nhân, Bối mẫu, Mạch môn, Quất hồng, Phục linh, Cát cánh, Cam thảo.
Gia giảm: Sốt cao gia Kim ngân hoa, Liên kiều, Ngư tinh thảo; đờm nhiều khó khạc gia Trúc lịch, Thiên trúc hoàng; ngực đau gia Uất kim, Xích thược; khó thở gia Đình lịch tử, Tử tô tử.
Lưu ý: Sốt, đờm mủ và khó thở tăng có thể là viêm phổi phía sau vùng tắc nghẽn. Người bệnh cần được khám và dùng kháng sinh khi có chỉ định.
THỂ KHÍ TRỆ HUYẾT Ứ
Triệu chứng: Đau ngực ở vị trí tương đối cố định, đau tăng khi hít sâu hoặc ho, khó thở, sắc mặt tối, môi tím; có thể gặp sau phẫu thuật hoặc chấn thương; lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch sáp.
Phép trị: Hành khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc.
Phương thang: Huyết phủ trục ứ thang gia giảm.
Phương dược: Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy, Sinh địa hoàng, Xích thược, Xuyên khung, Sài hồ, Chỉ xác, Cát cánh, Ngưu tất, Cam thảo.
Gia giảm: Khí hư rõ gia Hoàng kỳ, Đảng sâm; đàm nhiều gia Qua lâu, Bán hạ chế; đau rõ gia Đan sâm, Uất kim; ho gia Tử uyển, Hạnh nhân.
Lưu ý: Không tự dùng các vị hoạt huyết khi mới phẫu thuật, đang chảy máu hoặc đang sử dụng thuốc chống đông và thuốc kháng tiểu cầu.
THỂ PHẾ TỲ KHÍ HƯ
Triệu chứng: Ho yếu, đờm nhiều nhưng khạc không có sức, khó thở khi vận động, tiếng nói nhỏ, mệt mỏi, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng, dễ ra mồ hôi; lưỡi nhạt bệu, mạch tế nhược.
Phép trị: Bổ Phế kiện Tỳ, ích khí hóa đàm.
Phương thang: Thang Bổ phế hợp Sâm linh bạch truật tán gia giảm.
Phương dược: Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Ngũ vị tử, Tử uyển, Tang bạch bì, Cát cánh, Cam thảo.
Gia giảm: Đờm nhiều gia Bán hạ chế, Trần bì; ho yếu gia Khoản đông hoa, Hạnh nhân; ăn kém gia Sa nhân, Kê nội kim; hụt hơi rõ gia Nhân sâm khi phù hợp.
VAI TRÒ CỦA TRUNG Y
Trung y có thể hỗ trợ hóa đàm, điều hòa ho, cải thiện tình trạng ăn kém, mệt mỏi và nâng đỡ thể trạng trong giai đoạn ổn định hoặc phục hồi.
Trung y không thể thay thế việc lấy dị vật, hút nút nhầy, dẫn lưu khí hoặc dịch màng phổi, điều trị khối u và hỗ trợ hô hấp. Những nguyên nhân cơ học cần được giải quyết sớm để phần phổi bị xẹp có cơ hội giãn nở trở lại.
Không cho người đang khó thở nặng uống thuốc sắc, vì có nguy cơ sặc. Không thực hiện xông hơi nóng hoặc vỗ lưng tùy tiện khi chưa xác định nguyên nhân xẹp phổi.
PHỤC HỒI VÀ PHÒNG NGỪA
Tập thở sâu
Người bệnh sau phẫu thuật có thể được hướng dẫn hít vào chậm và sâu, giữ hơi trong thời gian ngắn rồi thở ra từ từ. Cách tập cụ thể cần phù hợp với loại phẫu thuật và tình trạng tim phổi.
Ho có kiểm soát
Ho đúng kỹ thuật giúp đưa chất tiết ra khỏi đường thở. Người có vết mổ bụng hoặc ngực có thể dùng gối mềm đỡ vùng mổ khi ho theo hướng dẫn của nhân viên y tế.
Vận động sớm
Ngồi dậy, thay đổi tư thế và đi lại sớm khi được phép giúp phổi giãn nở tốt hơn và hạn chế ứ đọng đờm.
Dụng cụ tập hít vào
Dụng cụ tập hít vào có thể giúp người bệnh chủ động hít sâu sau phẫu thuật. Cần được hướng dẫn đúng cách, không chỉ thổi hoặc hít một cách máy móc.
Kiểm soát đau
Giảm đau phù hợp giúp người bệnh hít sâu, ho và vận động tốt hơn. Không nên vì sợ đau mà nằm bất động và thở nông kéo dài.
Bổ sung nước phù hợp
Uống đủ nước có thể giúp chất tiết bớt đặc, nhưng lượng nước phải căn cứ vào tình trạng tim, thận và chỉ dẫn của bác sĩ.
Ngừng hút thuốc
Ngừng hút thuốc trước phẫu thuật và duy trì lâu dài giúp cải thiện hoạt động của lông chuyển, giảm chất tiết và hạn chế biến chứng hô hấp.
DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Dấu hiệu nguy hiểm: Khó thở đột ngột hoặc tăng nhanh; đau ngực dữ dội; tím môi; thở rít; sặc và nghi hít phải dị vật; ho ra máu; lơ mơ; nhịp tim nhanh; độ bão hòa oxy giảm rõ.
Trẻ em đột ngột ho sặc, không nói hoặc khóc được, tím tái hay mất ý thức có thể bị tắc nghẽn đường thở do dị vật và cần được cấp cứu ngay.
Nói tóm lại, xẹp phổi là tình trạng phế nang không giãn nở đầy đủ, thường do tắc nghẽn đường thở, chèn ép từ bên ngoài, giảm thông khí, thiếu chất hoạt diện hoặc xơ hóa co kéo. Theo Trung y, bệnh có quan hệ với Phế mất tuyên giáng, đàm trọc, huyết ứ và chính khí suy. Tuy nhiên, nguyên nhân cơ học phải được xử lý bằng phương pháp y học hiện đại; biện chứng Trung y chỉ giữ vai trò hỗ trợ trong giai đoạn thích hợp.
Trường Xuân biên soạn
UNG THƯ PHỔI 肺癌
KHÁI QUÁT
Ung thư phổi là bệnh ác tính hình thành khi các tế bào bất thường trong phổi tăng sinh mất kiểm soát, xâm lấn mô lân cận và có khả năng lan đến hạch bạch huyết hoặc các cơ quan khác.
Bệnh thường khởi phát âm thầm. Giai đoạn đầu có thể không có triệu chứng hoặc chỉ biểu hiện bằng ho nhẹ, mệt mỏi và giảm sức vận động. Vì vậy, nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi khối u đã tiến triển.
Ung thư phổi hiện được chia thành hai nhóm chính: ung thư phổi không tế bào nhỏ và ung thư phổi tế bào nhỏ. Việc lựa chọn phương pháp điều trị phải căn cứ vào loại mô bệnh học, giai đoạn, đặc điểm phân tử của khối u, chức năng tim phổi và thể trạng người bệnh.
PHÂN LOẠI
Ung thư phổi không tế bào nhỏ
Ung thư phổi không tế bào nhỏ là nhóm thường gặp nhất, chiếm khoảng 85% trường hợp. Nhóm này gồm ba loại chính:
Ung thư biểu mô tuyến: Thường xuất hiện ở vùng ngoại vi của phổi; có thể gặp ở người hút thuốc, từng hút thuốc và cả người chưa bao giờ hút thuốc.
Ung thư biểu mô tế bào vảy: Có quan hệ mật thiết với hút thuốc, thường phát sinh ở các phế quản lớn gần trung tâm phổi.
Ung thư biểu mô tế bào lớn: Ít gặp hơn, tế bào có độ biệt hóa thấp và có thể phát triển nhanh.
Ung thư phổi tế bào nhỏ
Ung thư phổi tế bào nhỏ thường có quan hệ chặt chẽ với hút thuốc. Khối u phát triển nhanh, dễ xâm lấn và di căn sớm. Khi được phát hiện, bệnh thường đã lan ngoài vị trí nguyên phát.
Loại ung thư này thường đáp ứng ban đầu với hóa trị và xạ trị, nhưng nguy cơ tái phát tương đối cao.
PHÂN LOẠI THEO VỊ TRÍ
Ung thư phổi trung tâm
Khối u phát sinh ở phế quản lớn gần rốn phổi. U có thể làm thành phế quản dày, lòng phế quản hẹp hoặc tắc, dẫn đến viêm phổi tái diễn, xẹp phổi, ho, khò khè và ho ra máu.
Ung thư phổi ngoại vi
Khối u xuất hiện ở các phế quản nhỏ hoặc phần nhu mô gần màng phổi. Giai đoạn đầu có thể ít triệu chứng. Khi u xâm phạm màng phổi hoặc thành ngực, người bệnh có thể đau ngực.
U đỉnh phổi
U nằm ở đỉnh phổi có thể xâm lấn thành ngực, xương sườn, đám rối thần kinh cánh tay và chuỗi thần kinh giao cảm.
Triệu chứng có thể gồm đau vai lan xuống cánh tay, yếu hoặc teo cơ bàn tay. Khi chuỗi thần kinh giao cảm bị ảnh hưởng, người bệnh có thể sụp mi, co đồng tử và giảm tiết mồ hôi ở một bên mặt, gọi là hội chứng Horner.
YẾU TỐ NGUY CƠ
Hút thuốc lá
Hút thuốc là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất. Nguy cơ tăng theo số lượng thuốc hút, thời gian hút và tuổi bắt đầu hút. Thuốc lào, xì gà và các dạng thuốc lá đốt cháy khác cũng gây hại.
Ngừng hút thuốc làm nguy cơ giảm dần theo thời gian, dù không trở về ngay mức của người chưa từng hút. Người đã được chẩn đoán ung thư phổi vẫn có lợi khi bỏ thuốc vì điều này giúp giảm biến chứng điều trị và bảo vệ phần phổi còn lại.
Khói thuốc thụ động
Người không hút thuốc nhưng thường xuyên hít khói thuốc của người khác cũng có nguy cơ ung thư phổi cao hơn.
Radon
Radon là khí phóng xạ tự nhiên không màu, không mùi và có thể tích tụ trong nhà hoặc nơi làm việc. Tiếp xúc kéo dài làm tăng nguy cơ ung thư phổi, nhất là khi kết hợp với hút thuốc.
Yếu tố nghề nghiệp
Tiếp xúc lâu dài với amiăng, silica, khí thải diesel, arsenic, nickel, chromium, cadmium, bụi mỏ và một số chất phóng xạ làm nguy cơ mắc bệnh tăng.
Ô nhiễm không khí
Bụi mịn và các chất ô nhiễm từ giao thông, công nghiệp, đốt nhiên liệu trong nhà có liên quan đến ung thư phổi.
Bệnh phổi mạn tính
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, xơ phổi và một số tổn thương sẹo mạn tính có thể làm nguy cơ ung thư phổi tăng.
Yếu tố di truyền
Người có thân nhân gần mắc ung thư phổi có thể mang nguy cơ cao hơn, nhưng phần lớn trường hợp là kết quả phối hợp giữa cơ địa và các yếu tố môi trường.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thuốc lá vẫn là yếu tố nguy cơ chủ yếu; ô nhiễm không khí và phơi nhiễm nghề nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng. Tổ chức Y tế Thế giới
TRIỆU CHỨNG
Triệu chứng tại phổi: Ho mới xuất hiện và kéo dài; tính chất cơn ho thay đổi ở người vốn ho mạn tính; ho ra máu hoặc đờm lẫn máu; khó thở; thở khò khè; đau hoặc tức ngực; khàn tiếng; viêm phổi hoặc xẹp phổi tái diễn tại cùng một vị trí.
Triệu chứng toàn thân: Mệt mỏi, chán ăn, sút cân không rõ nguyên nhân, suy nhược, sốt nhẹ kéo dài hoặc giảm khả năng vận động.
Triệu chứng do xâm lấn lân cận: Khó nuốt khi u chèn ép thực quản; khàn tiếng khi dây thần kinh thanh quản quặt ngược bị ảnh hưởng; nấc hoặc khó thở khi thần kinh hoành bị tổn thương; tràn dịch màng phổi khi u xâm lấn màng phổi.
Hội chứng tĩnh mạch chủ trên: Phù mặt và cổ, căng các tĩnh mạch vùng cổ và ngực, đau đầu, chóng mặt, khó thở. Đây là biến chứng cần được đánh giá sớm.
Triệu chứng do di căn: Đau xương hoặc gãy xương bệnh lý khi di căn xương; đau đầu, nôn, co giật, yếu liệt hoặc thay đổi hành vi khi di căn não; đau vùng gan, vàng da khi di căn gan; mệt mỏi và rối loạn nội tiết khi tuyến thượng thận hoặc các cơ quan khác bị ảnh hưởng.
HỘI CHỨNG CẬN UNG THƯ
Một số khối u tiết hormone hoặc các chất có hoạt tính sinh học, gây triệu chứng ở xa vị trí ung thư. Đây gọi là hội chứng cận ung thư.
Biểu hiện có thể gồm: Hạ natri máu, tăng calci máu, hội chứng Cushing, yếu cơ, rối loạn thần kinh, ngón tay dùi trống và bệnh xương khớp phì đại.
Hội chứng cận ung thư đôi khi xuất hiện trước các triệu chứng trực tiếp của khối u. Phát hiện và điều trị ung thư có thể làm một số biểu hiện này cải thiện.
DẤU HIỆU CẦN ĐẶC BIỆT LƯU Ý
Những biểu hiện cần được kiểm tra: Ho kéo dài hoặc thay đổi tính chất; ho ra máu dù chỉ một lần; đau ngực không rõ nguyên nhân; khó thở tăng dần; khàn tiếng kéo dài; viêm phổi tái diễn cùng một vị trí; sút cân, chán ăn hoặc mệt mỏi không giải thích được.
Các triệu chứng này không đồng nghĩa chắc chắn là ung thư phổi, nhưng cần được đánh giá để tìm nguyên nhân.
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán hình ảnh
X-quang lồng ngực có thể phát hiện khối mờ, xẹp phổi hoặc tràn dịch, nhưng không loại trừ được ung thư khi kết quả bình thường.
Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực cho hình ảnh chi tiết hơn về vị trí, kích thước, đặc điểm khối u, hạch và mối quan hệ với các cấu trúc xung quanh.
Chụp PET-CT có thể giúp đánh giá hoạt động chuyển hóa và mức độ lan rộng của bệnh trong những trường hợp phù hợp.
Lấy mẫu mô
Chẩn đoán xác định cần dựa vào tế bào hoặc mô bệnh học. Mẫu bệnh phẩm có thể được lấy bằng nội soi phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn hình ảnh, chọc hút hạch qua siêu âm nội soi phế quản, lấy dịch màng phổi hoặc phẫu thuật.
Xét nghiệm đờm đôi khi phát hiện được tế bào ung thư, nhưng kết quả âm tính không loại trừ bệnh.
Xét nghiệm dấu ấn phân tử
Ở ung thư phổi không tế bào nhỏ, nhất là ung thư biểu mô tuyến hoặc bệnh giai đoạn tiến triển, mô u có thể được kiểm tra các biến đổi gene và dấu ấn miễn dịch.
Kết quả giúp xác định khả năng sử dụng thuốc nhắm trúng đích hoặc liệu pháp miễn dịch. Các dấu ấn cần xét nghiệm thay đổi theo loại u và hướng dẫn chuyên môn tại từng thời điểm.
Đánh giá giai đoạn
Giai đoạn phản ánh kích thước và mức độ xâm lấn của u, tình trạng hạch cùng sự hiện diện của di căn xa.
Ung thư phổi không tế bào nhỏ thường được chia từ giai đoạn I đến IV. Ung thư phổi tế bào nhỏ có thể được mô tả theo hệ thống giai đoạn giới hạn và lan rộng, đồng thời cũng có thể đánh giá theo hệ thống TNM.
ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Phẫu thuật
Phẫu thuật thường được cân nhắc ở ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn sớm khi khối u còn khả năng cắt bỏ và chức năng tim phổi cho phép.
Phạm vi phẫu thuật có thể là cắt một phần nhỏ nhu mô, cắt phân thùy, cắt thùy hoặc cắt toàn bộ một bên phổi tùy vị trí và mức độ bệnh.
Xạ trị
Xạ trị có thể được dùng với mục đích triệt căn, phối hợp với hóa trị, điều trị sau hoặc trước phẫu thuật, hoặc giảm nhẹ các triệu chứng như đau xương, chèn ép, ho ra máu và di căn não.
Hóa trị
Hóa trị sử dụng thuốc tác động toàn thân để tiêu diệt hoặc kìm hãm tế bào ung thư. Thuốc có thể được dùng trước phẫu thuật, sau phẫu thuật, phối hợp xạ trị hoặc điều trị bệnh giai đoạn tiến triển.
Điều trị nhắm trúng đích
Khi khối u có biến đổi phân tử phù hợp, thuốc nhắm trúng đích có thể tác động vào con đường tăng trưởng đặc hiệu của tế bào ung thư.
Không nên sử dụng thuốc nhắm trúng đích chỉ căn cứ vào loại mô học; cần có xét nghiệm xác nhận dấu ấn phù hợp.
Liệu pháp miễn dịch
Liệu pháp miễn dịch giúp hệ miễn dịch nhận biết và tấn công tế bào ung thư. Thuốc có thể được dùng đơn độc hoặc phối hợp với hóa trị, xạ trị hay phẫu thuật tùy loại và giai đoạn bệnh.
Điều trị giảm nhẹ và chăm sóc hỗ trợ
Chăm sóc giảm nhẹ không đồng nghĩa với ngừng điều trị. Phương pháp này giúp kiểm soát đau, khó thở, ho, mệt mỏi, mất ngủ, chán ăn, lo âu và các khó khăn về tinh thần.
Chăm sóc hỗ trợ nên được thực hiện song song với điều trị ung thư khi người bệnh có triệu chứng, không nhất thiết chờ đến giai đoạn cuối.
Các phương pháp điều trị được lựa chọn căn cứ vào loại ung thư và giai đoạn bệnh; ung thư không tế bào nhỏ giai đoạn tiến triển có thể được điều trị bằng hóa trị, thuốc nhắm trúng đích, miễn dịch hoặc sự phối hợp phù hợp. Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ
TẦM SOÁT UNG THƯ PHỔI
Chụp cắt lớp vi tính liều thấp có thể giúp phát hiện sớm ung thư phổi ở người có nguy cơ cao do tuổi và tiền sử hút thuốc. Tầm soát không dành cho tất cả mọi người và cũng có nguy cơ phát hiện giả, chẩn đoán quá mức hoặc dẫn đến các thủ thuật không cần thiết.
X-quang phổi thông thường và xét nghiệm tế bào đờm không được xem là phương pháp tầm soát có hiệu quả tương đương chụp cắt lớp vi tính liều thấp.
Người có tiền sử hút thuốc đáng kể nên trao đổi với bác sĩ về tiêu chuẩn tầm soát đang áp dụng tại quốc gia mình. Thông tin tầm soát của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ
NHẬN THỨC THEO TRUNG Y
Trung y không có tên bệnh hoàn toàn tương ứng với ung thư phổi. Căn cứ vào ho, đờm, ho ra máu, đau ngực, khó thở, sốt, khàn tiếng, sút cân và khối tích tụ trong Phế, bệnh có thể được xem xét trong phạm vi các chứng phế tích 肺積, tức bôn 息賁, khái thấu 咳嗽, khái huyết 咳血, hung thống 胸痛 và suyễn chứng 喘證.
Bệnh hình thành trên nền chính khí suy yếu, công năng của Phế, Tỳ và Thận mất điều hòa. Đàm trọc, nhiệt độc, khí trệ và huyết ứ kết tụ ở Phế lạc, lâu ngày hình thành khối.
Trong giai đoạn đầu và giữa, tà thực có thể tương đối rõ, thường biểu hiện bằng đàm, độc, ứ và khí trệ. Khi bệnh kéo dài hoặc sau phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, khí huyết và tân dịch hao tổn, chính hư ngày càng nổi bật.
Nói tóm lại, bệnh lấy chính khí hư làm bản, đàm độc và huyết ứ làm tiêu. Điều trị Trung y cần đồng thời chú ý phù chính và khu tà, nhưng mức độ công bổ phải căn cứ vào thể trạng, giai đoạn bệnh và phương pháp điều trị ung thư đang sử dụng.
BỆNH NGUYÊN BỆNH CƠ THEO TRUNG Y
Phế Tỳ khí hư, đàm trọc nội sinh
Tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, thấp tụ thành đàm; Phế khí suy không thể tuyên phát và túc giáng. Đàm trọc lưu lại trong Phế, lâu ngày cùng khí trệ và độc tà kết tụ.
Khí trệ huyết ứ
Tình chí uất kết, bệnh kéo dài và đàm trọc cản trở làm khí cơ không thông. Khí trệ khiến huyết hành chậm, huyết ứ ngăn trở Phế lạc và góp phần hình thành khối.
Đàm nhiệt độc kết
Hút thuốc, tà nhiệt và đàm uất lâu ngày có thể hóa nhiệt. Đàm, nhiệt và độc kết lại, làm tổn thương Phế lạc, gây ho nhiều, đờm vàng, ho ra máu và đau ngực.
Khí âm lưỡng hư
Bệnh kéo dài, sốt, ho, hóa trị và xạ trị có thể làm khí cùng âm dịch hao tổn. Người bệnh mệt mỏi, ho khan, họng khô, hụt hơi và sút cân.
Phế Thận lưỡng hư
Bệnh lâu ngày từ Phế ảnh hưởng đến Thận. Thận không nạp khí, khiến khó thở tăng khi vận động; tinh huyết suy làm cơ thể yếu, lưng gối mỏi.
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
THỂ PHẾ TỲ KHÍ HƯ, ĐÀM THẤP KẾT TỤ
Triệu chứng: Ho kéo dài, đờm trắng hoặc trong, ngực đầy, khó thở, mệt mỏi, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng, sắc mặt nhợt; lưỡi nhạt bệu, rêu trắng nhớt, mạch nhu hoặc tế nhược.
Phép trị: Kiện Tỳ ích Phế, hóa đàm tán kết.
Phương thang: Lục quân tử thang gia giảm.
Phương dược: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Bán hạ chế, Trần bì.
Gia giảm: Đờm nhiều gia Qua lâu, Bối mẫu, Tử tô tử; ngực đầy gia Chỉ xác, Hậu phác; khí hư rõ gia Hoàng kỳ; ăn kém gia Sa nhân, Kê nội kim.
Phân tích: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh và Cam thảo kiện Tỳ ích khí; Bán hạ chế, Trần bì hóa đàm lý khí. Khi Tỳ vận hóa trở lại, nguồn sinh đàm giảm và Phế khí có điều kiện tuyên giáng.
THỂ ĐÀM NHIỆT ĐỘC KẾT
Triệu chứng: Ho nhiều, đờm vàng đặc hoặc lẫn máu, ngực đau, khó thở, miệng khát, có thể sốt nhẹ kéo dài, đại tiện táo, tiểu vàng; lưỡi đỏ hoặc tím đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh nhiệt giải độc, hóa đàm, tán kết.
Phương thang: Thang Thanh kim hóa đàm gia giảm.
Phương dược: Hoàng cầm, Chi tử, Tang bạch bì, Tri mẫu, Qua lâu nhân, Bối mẫu, Mạch môn, Quất hồng, Phục linh, Cát cánh, Cam thảo.
Gia giảm: Nhiệt độc rõ gia Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên; đờm lẫn máu gia Bạch mao căn, Tiên hạc thảo, Ngẫu tiết; ngực đau gia Uất kim, Xích thược; táo bón gia Qua lâu nhân, Hỏa ma nhân.
Lưu ý: Ho ra máu phải được đánh giá y tế. Không tự dùng thuốc cầm máu hoặc thanh nhiệt để trì hoãn kiểm tra khối u và vị trí chảy máu.
THỂ KHÍ TRỆ HUYẾT Ứ
Triệu chứng: Đau ngực ở vị trí tương đối cố định, đau như châm chích hoặc tăng về đêm; ho, khó thở, sắc mặt tối, môi tím; có thể sờ thấy hạch; lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết, mạch huyền sáp.
Phép trị: Hành khí hoạt huyết, hóa ứ tán kết.
Phương thang: Huyết phủ trục ứ thang gia giảm.
Phương dược: Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy, Sinh địa hoàng, Xích thược, Xuyên khung, Sài hồ, Chỉ xác, Cát cánh, Ngưu tất, Cam thảo.
Gia giảm: Đau rõ gia Diên hồ sách, Uất kim; khối tích rõ có thể gia Tam lăng, Nga truật khi thể trạng cho phép; khí hư gia Hoàng kỳ, Đảng sâm; đàm nhiều gia Qua lâu, Bán hạ chế.
Lưu ý: Các vị hoạt huyết phá ứ có thể làm tăng nguy cơ chảy máu và tương tác với thuốc chống đông, thuốc kháng tiểu cầu hoặc quá trình phẫu thuật. Không tự sử dụng.
THỂ PHẾ ÂM HƯ
Triệu chứng: Ho khan, đờm ít và dính, đôi khi lẫn máu, họng khô, tiếng khàn, miệng khát, lòng bàn tay bàn chân nóng, chiều tối sốt nhẹ, ra mồ hôi trộm, gầy sút; lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Phép trị: Dưỡng âm nhuận Phế, thanh nhiệt, chỉ khái.
Phương thang: Thang Sa sâm mạch môn gia giảm.
Phương dược: Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc, Thiên hoa phấn, Tang diệp, Bạch biển đậu, Cam thảo.
Gia giảm: Ho nhiều gia Tử uyển, Khoản đông hoa; đờm dính gia Qua lâu nhân, Bối mẫu; ho ra máu gia Bạch mao căn, Ngẫu tiết; hư nhiệt rõ gia Địa cốt bì, Tri mẫu.
THỂ KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ
Triệu chứng: Mệt mỏi rõ, hụt hơi, tiếng nói nhỏ, ho khan, khó thở, họng khô, miệng khát, ăn kém, ra mồ hôi tự nhiên hoặc mồ hôi trộm; lưỡi đỏ nhạt hoặc đỏ khô, mạch tế nhược.
Phép trị: Ích khí dưỡng âm, sinh tân, nhuận Phế.
Phương thang: Sinh mạch tán gia giảm.
Phương dược: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử.
Gia giảm: Phế âm hư rõ gia Sa sâm, Bách hợp, Ngọc trúc; Tỳ khí hư gia Bạch truật, Phục linh, Sơn dược; mất ngủ gia Toan táo nhân, Dạ giao đằng; ho gia Tử uyển, Khoản đông hoa.
THỂ PHẾ THẬN LƯỠNG HƯ
Triệu chứng: Khó thở kéo dài, hít vào khó, vận động nhẹ cũng suyễn, ho yếu, tiếng nói nhỏ, đau lưng, mỏi gối, tiểu đêm, người suy nhược; lưỡi nhạt hoặc đỏ ít rêu tùy thiên về khí hư hay âm hư, mạch trầm tế.
Phép trị: Bổ Phế ích Thận, nạp khí, nâng đỡ chính khí.
Phương thang: Thang Nhân sâm hồ đào gia giảm; nếu Thận âm hư rõ có thể căn cứ tình trạng dùng Mạch vị địa hoàng hoàn gia giảm.
Phương dược: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Hồ đào nhục, Ngũ vị tử, Thục địa hoàng, Sơn thù du, Sơn dược, Mạch môn, Phục linh.
TRUNG Y TRONG CÁC GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ
Trước phẫu thuật
Mục tiêu là điều chỉnh ho, đờm, ăn ngủ và nâng đỡ thể trạng. Không dùng tùy tiện thuốc hoạt huyết mạnh hoặc dược liệu ảnh hưởng đông máu trước mổ.
Sau phẫu thuật
Trung y có thể hỗ trợ phục hồi khí huyết, tiêu hóa và hô hấp sau khi tình trạng đã ổn định. Phương thang cần căn cứ vào vết mổ, nguy cơ chảy máu, thuốc giảm đau và khả năng ăn uống.
Trong hóa trị
Có thể tập trung vào kiện Tỳ hòa Vị, ích khí dưỡng huyết và giảm các biểu hiện như mệt mỏi, ăn kém, buồn nôn. Tuy nhiên, sốt, giảm bạch cầu, chảy máu hoặc tiêu chảy nặng phải được xử trí theo chuyên khoa.
Trong xạ trị vùng ngực
Nếu xuất hiện họng khô, ho khan, miệng khát và táo nhiệt, pháp dưỡng âm nhuận Phế có thể được cân nhắc. Khó thở, sốt hoặc ho tăng sau xạ trị cần loại trừ viêm phổi do xạ trị và nhiễm trùng.
Trong điều trị nhắm trúng đích hoặc miễn dịch
Không mặc nhiên xem phát ban, tiêu chảy, ho hay mệt là biểu hiện “thải độc”. Đây có thể là tác dụng phụ cần được bác sĩ ung thư đánh giá, đặc biệt khi nghi ngờ viêm phổi do thuốc hoặc phản ứng miễn dịch.
VAI TRÒ VÀ GIỚI HẠN CỦA TRUNG Y
Trung y có thể được dùng để hỗ trợ giảm một số triệu chứng, điều hòa tiêu hóa, giấc ngủ, thể lực và chất lượng sống khi được phối hợp đúng cách.
Trung y không thay thế phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, thuốc nhắm trúng đích hoặc liệu pháp miễn dịch. Không có phương thang nào được phép tuyên bố chắc chắn làm tan khối u hoặc chữa khỏi mọi trường hợp ung thư phổi.
Người bệnh phải thông báo toàn bộ dược liệu và thực phẩm bổ sung đang dùng cho bác sĩ ung thư. Một số vị thuốc có thể tương tác với thuốc điều trị, ảnh hưởng chức năng gan thận, đông máu hoặc đáp ứng miễn dịch.
CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU DƯỠNG
Ngừng hoàn toàn thuốc lá và tránh khói thuốc thụ động.
Ăn thành nhiều bữa nhỏ nếu khó thở hoặc nhanh no. Chọn thức ăn dễ tiêu, đủ năng lượng và chất đạm; không kiêng khem quá mức làm suy dinh dưỡng.
Duy trì vận động vừa sức theo hướng dẫn. Người sau phẫu thuật hoặc đang điều trị nên tham gia phục hồi chức năng khi phù hợp.
Giữ vệ sinh răng miệng, theo dõi nhiệt độ, cân nặng, lượng ăn và mức độ khó thở.
Không tự dùng thuốc bổ khi men gan, chức năng thận hoặc công thức máu bất thường.
Theo Trung y, người đàm thấp nên hạn chế thức ăn quá béo ngọt; người âm hư, ho khan nên tránh rượu và thức ăn cay nóng; người Tỳ Vị hư yếu nên dùng thức ăn mềm, ấm và dễ tiêu. Việc lựa chọn vẫn cần căn cứ vào tình trạng dinh dưỡng thực tế.
DẤU HIỆU CẦN XỬ TRÍ KHẨN CẤP
Dấu hiệu nguy hiểm: Ho ra nhiều máu; khó thở tăng nhanh; đau ngực dữ dội; tím môi; sốt trong thời gian hóa trị; lơ mơ; co giật; yếu liệt; phù mặt cổ kèm khó thở; đau đầu dữ dội hoặc nôn liên tục.
Những biểu hiện này có thể liên quan đến xuất huyết đường thở, nhiễm trùng nặng, thuyên tắc phổi, tràn dịch, hội chứng tĩnh mạch chủ trên hoặc di căn não. Người bệnh cần được cấp cứu.
Nói tóm lại, ung thư phổi là bệnh ác tính có nhiều loại và đặc điểm sinh học khác nhau. Chẩn đoán phải dựa vào mô bệnh học, giai đoạn và xét nghiệm phân tử khi cần thiết. Theo Trung y, bệnh lấy chính khí suy làm bản, đàm độc và huyết ứ làm tiêu; Phế, Tỳ và Thận đều có thể bị ảnh hưởng. Trung y chỉ nên giữ vai trò phối hợp, giúp điều chỉnh triệu chứng và nâng đỡ người bệnh trong kế hoạch điều trị ung thư toàn diện.
Trường Xuân biên soạn
DẤU BA LÕM 三凹徵
KHÁI QUÁT
Dấu ba lõm là hiện tượng ba vùng mô mềm của lồng ngực bị hút lõm vào rõ rệt khi người bệnh hít vào, bao gồm hố trên xương ức, hai hố trên xương đòn và các khoang liên sườn.
Dấu hiệu này cho thấy người bệnh đang phải dùng sức nhiều để đưa không khí vào phổi, thường do đường hô hấp trên hoặc đường thở lớn bị hẹp, tắc nghẽn. Đây không phải là một bệnh riêng biệt mà là dấu hiệu của khó thở khi hít vào.
Dấu ba lõm có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi nhưng dễ nhận thấy và diễn biến nhanh hơn ở trẻ nhỏ vì đường thở hẹp, thành ngực mềm và sức dự trữ hô hấp còn hạn chế.
Khi dấu ba lõm xuất hiện rõ, nhất là kèm tiếng thở rít, tím môi, khó nói hoặc rối loạn ý thức, người bệnh cần được đánh giá cấp cứu.
CƠ CHẾ HÌNH THÀNH
Khi hít vào bình thường, cơ hoành co và hạ xuống, cơ liên sườn làm lồng ngực mở rộng. Áp lực trong khoang ngực giảm, giúp không khí đi qua đường thở vào phổi.
Khi đường thở bị hẹp hoặc tắc, không khí không thể đi vào phổi thuận lợi. Cơ thể phải co mạnh cơ hoành, cơ liên sườn và các cơ hô hấp phụ để tạo áp lực âm lớn hơn trong lồng ngực.
Do áp lực âm tăng cao nhưng lượng không khí vào phổi vẫn bị hạn chế, các phần mô mềm ở hố trên xương ức, hố trên xương đòn và khoang liên sườn bị hút vào trong theo mỗi nhịp hít vào, tạo thành dấu ba lõm.
Dấu lõm càng sâu, nhịp thở càng nhanh và người bệnh càng mệt thì tình trạng cản trở hô hấp thường càng nghiêm trọng.
VỊ TRÍ CỦA BA LÕM
Lõm trên xương ức
Vùng lõm xuất hiện ở hõm giữa cổ, ngay phía trên đầu trên của xương ức. Đây còn gọi là co kéo hõm ức.
Lõm trên xương đòn
Hai hố nằm ngay phía trên xương đòn bị hút xuống theo nhịp hít vào.
Lõm khoang liên sườn
Các mô mềm giữa những xương sườn bị kéo vào trong. Ở trẻ nhỏ còn có thể thấy lõm dưới bờ sườn hoặc dưới mũi ức.
Dấu ba lõm khác với sự di động bình thường của lồng ngực. Đây là biểu hiện cơ thể đang phải tăng công hô hấp để chống lại sự cản trở của đường thở.
TRIỆU CHỨNG ĐI KÈM
Triệu chứng thường gặp: Khó hít vào; thở nhanh; tiếng thở rít, rõ hơn khi hít vào; cánh mũi phập phồng; cổ và vai gồng lên khi thở; ho khàn hoặc ho ông ổng; giọng nói thay đổi; người bệnh bứt rứt, lo sợ hoặc không thể nằm yên.
Triệu chứng nặng: Không nói được trọn câu; trẻ không thể khóc, bú hoặc uống; chảy nhiều nước dãi; nuốt khó; tím môi và đầu chi; da tái hoặc lạnh; thở yếu dần; lơ mơ, ngủ gà hoặc mất ý thức.
Khi người bệnh đang co kéo dữ dội nhưng sau đó dấu lõm giảm đồng thời trở nên lơ mơ, thở yếu hoặc yên lặng bất thường, không nên cho rằng bệnh đã đỡ. Đây có thể là dấu hiệu cơ hô hấp kiệt sức và suy hô hấp sắp xảy ra.
NGUYÊN NHÂN
Dị vật đường thở
Thức ăn, đồ chơi nhỏ, hạt, xương hoặc vật lạ có thể mắc ở thanh quản, khí quản hay phế quản. Người bệnh thường khởi phát đột ngột sau một cơn sặc, ho dữ dội, không nói được hoặc xuất hiện tiếng thở bất thường.
Viêm thanh quản – khí quản cấp
Bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, phần lớn do virus. Trẻ có thể ho ông ổng, khàn tiếng, sốt và thở rít. Trường hợp nặng xuất hiện co kéo lồng ngực và dấu ba lõm.
Viêm nắp thanh quản
Người bệnh thường sốt, đau họng dữ dội, nuốt khó, chảy nước dãi, thở rít và thích ngồi cúi người về phía trước. Đây là tình trạng nguy hiểm vì đường thở có thể tắc nhanh.
Không nên tự ép người bệnh nằm xuống hoặc cố dùng dụng cụ kiểm tra sâu trong họng khi nghi viêm nắp thanh quản, vì kích thích có thể làm tắc nghẽn nặng hơn.
Phù nề thanh quản do dị ứng
Phản ứng dị ứng nặng có thể gây phù môi, lưỡi, họng và thanh quản, dẫn đến khó thở, thở rít và dấu ba lõm. Người bệnh có thể đồng thời nổi mề đay, chóng mặt, nôn hoặc tụt huyết áp.
Áp-xe và nhiễm trùng vùng cổ họng
Áp-xe quanh amidan, áp-xe sau họng và các nhiễm trùng sâu vùng cổ có thể làm hẹp đường thở, gây sốt, đau họng, nuốt khó, giọng nói bất thường và khó thở.
Chấn thương và bỏng đường thở
Chấn thương cổ, hít khói nóng, hơi hóa chất hoặc bỏng vùng mặt có thể làm thanh quản phù nề. Tắc nghẽn có thể tiến triển trong thời gian ngắn dù lúc đầu người bệnh còn nói chuyện được.
Khối u và chèn ép đường thở
Khối u thanh quản, khí quản, tuyến giáp hoặc trung thất có thể chèn ép đường thở. Triệu chứng thường tiến triển từ từ, gồm khàn tiếng, thở rít, khó thở khi nằm và cuối cùng xuất hiện dấu co kéo.
Hẹp thanh quản hoặc khí quản
Sẹo sau đặt nội khí quản, dị tật bẩm sinh, liệt dây thanh hoặc bệnh lý cấu trúc có thể làm đường thở hẹp mạn tính.
Bệnh đường hô hấp dưới
Viêm tiểu phế quản, viêm phổi nặng và cơn hen nặng cũng có thể làm trẻ thở gắng sức, co kéo các khoang liên sườn và dưới bờ sườn. Tuy nhiên, tiếng khò khè khi thở ra thường nổi bật hơn tiếng thở rít khi hít vào.
PHÂN BIỆT THỞ RÍT VÀ KHÒ KHÈ
Thở rít
Thở rít là âm thanh cao, thô, thường rõ khi hít vào. Âm thanh này gợi ý đường thở trên, thanh quản hoặc khí quản bị hẹp.
Khò khè
Khò khè là tiếng âm nhạc cao, thường rõ hơn khi thở ra, liên quan đến sự hẹp của các phế quản nhỏ, thường gặp trong hen và viêm tiểu phế quản.
Cả thở rít và khò khè đều có thể đi kèm co kéo lồng ngực. Việc phân biệt giúp định hướng vị trí tắc nghẽn nhưng không thay thế đánh giá y tế.
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NẶNG
Dấu hiệu nhẹ hơn: Co kéo chỉ xuất hiện khi khóc hoặc vận động; người bệnh còn tỉnh táo, nói hoặc bú được; màu da bình thường; không có tiếng thở rít khi nghỉ.
Dấu hiệu nặng: Co kéo rõ khi nghỉ; thở rít liên tục; thở nhanh; cánh mũi phập phồng; không nói, ăn hoặc uống được; tím tái; chảy nước dãi; ngồi cúi ra trước để thở; lơ mơ hoặc kiệt sức.
Dấu ba lõm cùng tiếng thở rít, tím tái, giảm ý thức hoặc khó nói là biểu hiện của suy hô hấp nặng và cần ưu tiên bảo đảm đường thở. MSD Manual
CHẨN ĐOÁN
Đánh giá ban đầu tập trung vào mức độ thông thoáng của đường thở, nhịp thở, nhịp tim, độ bão hòa oxy, màu da và trạng thái ý thức.
Khi người bệnh suy hô hấp nặng, việc bảo đảm đường thở được ưu tiên trước các xét nghiệm chi tiết.
Sau khi tình trạng ổn định, bác sĩ có thể thực hiện soi thanh quản, nội soi phế quản, chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính, xét nghiệm máu hoặc các kiểm tra khác để tìm nguyên nhân.
Không phải trường hợp nào cũng được khám họng ngay. Nếu nghi viêm nắp thanh quản hoặc tắc nghẽn nặng, việc kích thích vùng họng chỉ được tiến hành ở nơi có đầy đủ nhân lực và phương tiện kiểm soát đường thở.
XỬ TRÍ
Giữ người bệnh ở tư thế dễ thở
Cho người bệnh ngồi thẳng hoặc giữ tư thế họ tự lựa chọn để thở. Không ép nằm nếu tư thế nằm làm khó thở tăng.
Giữ bình tĩnh
Khóc, hoảng sợ và kích động làm nhu cầu oxy tăng, đồng thời có thể khiến tắc nghẽn đường thở trên nặng hơn. Đối với trẻ nhỏ, nên để trẻ ở bên người chăm sóc và tránh thao tác không cần thiết.
Không cho ăn uống
Người đang khó thở rõ, chảy nước dãi hoặc nuốt khó không nên được cho ăn, uống hoặc uống thuốc vì có nguy cơ sặc.
Không tự kiểm tra sâu trong họng
Không dùng ngón tay, thìa hoặc vật khác đưa sâu vào miệng khi không nhìn thấy dị vật rõ ràng. Thao tác này có thể đẩy dị vật sâu hơn hoặc làm đường thở phù nề, co thắt.
Xử trí dị vật
Nếu người bệnh sặc nhưng vẫn ho và nói được, khuyến khích họ tiếp tục ho, đồng thời theo dõi sát.
Nếu tắc nghẽn hoàn toàn, không thể nói, ho hoặc thở, cần thực hiện sơ cứu hóc dị vật phù hợp với độ tuổi và gọi cấp cứu. Người chăm sóc nên được học kỹ thuật này qua lớp sơ cứu chính thức.
Điều trị tại bệnh viện
Căn cứ vào nguyên nhân, người bệnh có thể cần oxy, khí dung, corticosteroid, adrenaline, kháng sinh, thuốc điều trị phản vệ, lấy dị vật qua nội soi, đặt nội khí quản hoặc mở đường thở cấp cứu.
Dấu co kéo ở cổ, giữa các xương sườn hoặc dưới bờ sườn là biểu hiện trẻ đang phải gắng sức để thở và cần được đánh giá khẩn cấp. Hướng dẫn hô hấp trẻ em của NHS
NHẬN THỨC THEO TRUNG Y
Trung y không có tên gọi hoàn toàn tương ứng với dấu ba lõm. Căn cứ vào thở rít, khó hít vào, cổ họng bế tắc và suyễn gấp, có thể xem xét trong phạm vi các chứng hầu phong 喉風, hầu tý 喉痹, cấp hầu âm 急喉瘖 và suyễn chứng 喘證.
Phế chủ khí, tư hô hấp, khai khiếu ra mũi và liên hệ với hầu họng. Khi phong, đàm, nhiệt độc hoặc ngoại vật làm bế tắc hầu môn, Phế khí không thể tuyên giáng, khí đạo bất lợi, người bệnh xuất hiện thở rít, hít vào khó và lồng ngực co kéo.
Bệnh có thể liên quan đến phong nhiệt độc thịnh làm hầu họng sưng; đàm trọc bế trở làm khí đạo không thông; hoặc chính khí suy, Phế Thận không tiếp nạp được khí. Tuy nhiên, khi đã xuất hiện dấu ba lõm, trọng điểm không còn là phân thể dùng thuốc mà là bảo đảm đường thở.
BỆNH NGUYÊN BỆNH CƠ THEO TRUNG Y
Phong nhiệt độc thịnh
Phong nhiệt hoặc nhiệt độc kết tại hầu họng làm khí huyết uất trệ, vùng hầu sưng đau, thanh môn hẹp, Phế khí mất tuyên thông.
Triệu chứng thường gặp: Sốt, đau họng, khàn tiếng, họng đỏ sưng, thở rít, khát nước, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch phù sác hoặc sác.
Đàm trọc bế trở
Tỳ mất vận hóa sinh đàm; đàm theo khí đi lên, kết tại hầu hoặc trở ngại Phế khí.
Triệu chứng thường gặp: Tiếng thở có đờm, ngực đầy, ho khạc khó, cổ họng như có vật cản, rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt.
Phế khí bế tắc
Dị vật, phù nề hoặc tà khí làm đường thở đột ngột bế tắc. Phế khí không thể tuyên giáng nên hơi thở cấp bách, vai nhô, cổ gắng sức và xuất hiện dấu ba lõm.
Chính khí suy thoát
Khó thở kéo dài làm Phế khí hao kiệt. Khi chính khí không đủ sức duy trì hô hấp, người bệnh thở yếu, mồ hôi lạnh, đầu chi lạnh, thần trí mơ hồ và mạch vi muốn tuyệt.
Đây là nguy chứng, phải hồi sức cấp cứu ngay.
VAI TRÒ CỦA TRUNG Y
Khi dấu ba lõm đang hiện rõ, không được chờ sắc thuốc, châm cứu, cạo gió, xông hơi hoặc áp dụng mẹo dân gian. Những biện pháp này có thể làm chậm việc khai thông đường thở.
Sau khi đường thở đã được bảo đảm và nguyên nhân được xác định, Trung y có thể được cân nhắc để hỗ trợ điều chỉnh ho, đờm, Phế khí hư hoặc quá trình phục hồi. Việc sử dụng phải căn cứ vào bệnh nguyên, tuổi và tình trạng hô hấp.
Không tự dùng thuốc có tính an thần hoặc các phương thuốc làm người bệnh buồn ngủ, vì chúng có thể che lấp dấu hiệu suy hô hấp và làm giảm khả năng bảo vệ đường thở.
DẤU HIỆU PHẢI GỌI CẤP CỨU
Dấu hiệu nguy hiểm: Dấu ba lõm xuất hiện khi đang nghỉ; tiếng thở rít liên tục; không nói, khóc, bú hoặc uống được; chảy nhiều nước dãi; tím môi; thở ngắt quãng; người bệnh rất kích động rồi đột ngột lơ mơ; sặc dị vật; sưng môi, lưỡi hoặc họng; đau họng dữ dội kèm khó nuốt và khó thở.
Nếu người bệnh mất ý thức và không thở bình thường, cần gọi cấp cứu, bắt đầu hồi sức tim phổi theo hướng dẫn và sử dụng máy khử rung tự động nếu có.
Nói tóm lại, dấu ba lõm là biểu hiện của sự tăng công hô hấp, thường do tắc nghẽn hoặc hẹp đường thở. Ba vị trí lõm gồm hố trên xương ức, hố trên xương đòn và các khoang liên sườn. Theo Trung y, dấu hiệu này phản ánh khí đạo bế trở, Phế mất tuyên giáng, có thể liên quan đến phong nhiệt, đàm trọc hoặc ngoại vật. Tuy nhiên, đây trước hết là dấu hiệu cấp cứu; khai thông đường thở và duy trì oxy phải được ưu tiên tuyệt đối.
Trường Xuân biên soạn
NGHE PHỔI VÀ CÁC ÂM PHỔI BẤT THƯỜNG
KHÁI QUÁT
Nghe phổi là một phần quan trọng của khám hệ hô hấp. Bằng ống nghe, người khám đánh giá âm thanh do luồng không khí di chuyển qua khí quản, phế quản và nhu mô phổi, từ đó nhận biết sự thay đổi của đường thở, phế nang và màng phổi.
Nghe phổi có thể giúp định hướng vị trí và tính chất tổn thương, nhưng không đủ để xác định bệnh chỉ bằng một âm thanh riêng lẻ. Kết quả phải được đối chiếu với triệu chứng, bệnh sử, khám toàn thân, độ bão hòa oxy, xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh.
Một loại âm bất thường có thể xuất hiện trong nhiều bệnh khác nhau. Ngược lại, người mắc bệnh phổi nghiêm trọng đôi khi vẫn không có âm phổi điển hình. Vì vậy, không nên căn cứ riêng vào “có ran” hoặc “không có ran” để kết luận.
ĐIỀU KIỆN NGHE PHỔI
Không gian khám
Phòng khám cần tương đối yên tĩnh và có nhiệt độ phù hợp. Nếu phòng quá lạnh, người bệnh có thể run cơ, tạo ra tạp âm dễ nhầm với tiếng cọ màng phổi hoặc ran.
Tư thế người bệnh
Người lớn thường được nghe phổi ở tư thế ngồi. Khi không thể ngồi, có thể khám ở tư thế nằm nhưng cần chú ý ảnh hưởng của tư thế đối với sự phân bố âm thở.
Trẻ nhỏ nên được người chăm sóc giữ ở tư thế ổn định, sao cho hai bên lồng ngực tương đối cân đối. Trẻ khóc nhiều làm âm hô hấp thay đổi, nhưng đôi khi nhịp hít sâu sau khi khóc lại giúp bộc lộ một số âm bất thường.
Đặt ống nghe
Mặt nghe phải tiếp xúc trực tiếp và kín với da. Không nên nghe qua quần áo vì sự cọ xát giữa vải và da có thể tạo tạp âm.
Nghe đối xứng
Cần so sánh lần lượt các vị trí tương ứng ở hai bên lồng ngực, từ trên xuống dưới, phía trước, bên và phía sau. Không nên nghe hết một bên rồi mới chuyển sang bên còn lại vì khó so sánh chính xác.
Cách thở
Người bệnh thường được yêu cầu thở sâu vừa phải bằng miệng. Thở quá nhanh hoặc quá sâu trong thời gian dài có thể gây chóng mặt. Khi có biểu hiện khó chịu, cần cho người bệnh nghỉ rồi tiếp tục.
NHỮNG VỊ TRÍ CẦN CHÚ Ý
Phía trước cần nghe vùng trên và dưới xương đòn, các khoang liên sườn và vùng đáy phổi.
Hai bên ngực cần chú ý vùng nách vì thùy giữa phổi phải và phần lưỡi của phổi trái được nghe rõ hơn tại đây.
Phía sau cần nghe vùng trên xương bả vai, giữa hai xương bả vai, hai bên cột sống và vùng dưới xương bả vai đến đáy phổi.
Các tổn thương viêm phổi và ứ dịch có thể xuất hiện rõ ở vùng đáy và phần sau của phổi. Tuy nhiên, mọi vùng phổi đều phải được so sánh có hệ thống.
ÂM THỞ BÌNH THƯỜNG
Âm thở phế nang
Đây là âm thở nghe được trên phần lớn nhu mô phổi bình thường. Âm tương đối êm, có cao độ thấp; thì hít vào nghe rõ và dài hơn thì thở ra, giữa hai thì không có khoảng nghỉ rõ.
Âm thở phế quản – phế nang
Âm này thường nghe ở vùng cạnh xương ức phía trước và giữa hai xương bả vai phía sau. Cường độ và đặc điểm nằm giữa âm thở phế nang với âm thở phế quản.
Âm thở phế quản
Bình thường, âm thở phế quản nghe rõ trên khí quản và thanh quản. Âm có cường độ lớn, cao hơn âm phế nang; thì thở ra thường rõ và dài.
Nếu âm thở phế quản xuất hiện ở vùng ngoại vi của phổi, có thể gợi ý nhu mô phổi đông đặc nhưng phế quản dẫn khí vẫn còn thông, chẳng hạn trong viêm phổi thùy.
THAY ĐỔI CƯỜNG ĐỘ ÂM THỞ
Âm thở giảm
Nguyên nhân có thể gồm: Thành ngực dày, béo phì, tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, khí phế thũng, tắc phế quản, xẹp phổi, thở nông hoặc thông khí suy giảm.
Âm thở mất gần hoàn toàn ở một bên, kèm đau ngực và khó thở đột ngột, có thể gợi ý tràn khí màng phổi hoặc tắc nghẽn phế quản lớn và cần được đánh giá khẩn cấp.
Âm thở tăng
Âm thở có thể nghe rõ hơn khi người bệnh thở nhanh, thành ngực mỏng hoặc phần phổi còn lại phải tăng thông khí để bù cho vùng phổi bị tổn thương.
CÁC ÂM PHỔI BẤT THƯỜNG
Âm phổi bất thường, còn gọi là âm thở phụ, gồm các âm không hiện diện trong hô hấp bình thường. Những nhóm chính gồm ran nổ, ran rít, ran ngáy, tiếng thở rít và tiếng cọ màng phổi.
RAN NỔ
Ran nổ là những âm ngắn, không liên tục, nghe như những tiếng lách tách hoặc nổ nhỏ. Ran thường rõ trong thì hít vào.
Cơ chế hình thành có thể liên quan đến các đường thở nhỏ và phế nang đang xẹp đột ngột mở ra khi hít vào, hoặc luồng khí đi qua vùng có dịch tiết.
Ran nổ được chia thành ran nổ nhỏ mịn và ran nổ thô.
Ran nổ nhỏ mịn
Đặc điểm: Âm ngắn, nhỏ, cao, thường xuất hiện vào cuối thì hít vào; có thể giống tiếng vò nhẹ tóc sát tai hoặc mở dải khóa dán.
Ý nghĩa: Có thể gặp trong xơ phổi, phù phổi, viêm phổi, bệnh phổi kẽ và một số trường hợp xẹp phổi.
Ran nổ nhỏ mịn ở hai đáy phổi, không mất sau ho, đặc biệt khi đi kèm khó thở gắng sức, có thể gợi ý bệnh phổi kẽ hoặc ứ dịch tại phổi.
Ran nổ thô
Đặc điểm: Âm to hơn, trầm hơn và kéo dài hơn ran mịn; có thể xuất hiện trong cả hít vào và thở ra.
Ý nghĩa: Thường liên quan đến chất tiết trong các đường thở lớn và vừa, có thể gặp trong viêm phế quản, viêm phổi, giãn phế quản và phù phổi.
Ran thay đổi sau ho
Nếu ran giảm hoặc thay đổi vị trí sau khi ho, âm thanh có thể liên quan nhiều hơn đến chất tiết trong đường thở.
Nếu ran nhỏ mịn cố định, không thay đổi sau ho, cần nghĩ đến sự mở của các tiểu phế quản, phế nang bị xẹp hoặc tổn thương mô kẽ.
Ran nổ là âm ngắt quãng, thường nghe trong thì hít vào; có thể gặp khi đường thở hoặc phế nang mở trở lại và trong các tình trạng phế nang chứa dịch. MSD Manual
RAN RÍT
Ran rít là âm liên tục, có tính nhạc, cao và gần giống tiếng huýt sáo. Âm thường rõ hơn trong thì thở ra, khi đường thở trong lồng ngực trở nên hẹp hơn.
Cơ chế hình thành
Luồng khí đi qua phế quản hoặc tiểu phế quản bị hẹp do co thắt cơ trơn, phù nề niêm mạc, chất tiết hoặc khối chèn ép làm thành đường thở rung và tạo âm.
Ran rít lan tỏa
Ran rít nghe ở nhiều vùng phổi thường gặp trong hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm phế quản co thắt hoặc phản ứng dị ứng.
Ran rít khu trú
Ran rít chỉ xuất hiện tại một vùng có thể gợi ý dị vật, khối u, nút nhầy hoặc hẹp phế quản khu trú.
Lồng ngực yên lặng
Trong cơn hen rất nặng, ran rít có thể giảm hoặc biến mất vì luồng khí quá yếu, không đủ tạo âm. Nếu người bệnh vẫn khó thở dữ dội nhưng âm phổi trở nên rất nhỏ hoặc gần như yên lặng, đây là dấu hiệu nguy hiểm của tắc nghẽn nghiêm trọng và suy hô hấp.
RAN NGÁY
Ran ngáy là âm liên tục, trầm và thô, gần giống tiếng ngáy. Âm thường liên quan đến chất tiết hoặc sự hẹp của khí quản và các phế quản lớn.
Ran ngáy có thể nghe trong cả thì hít vào và thở ra, thường thay đổi hoặc giảm sau khi người bệnh ho và khạc đờm.
Bệnh thường gặp: Viêm phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản và tình trạng ứ đọng nhiều chất tiết trong đường thở.
Trong thuật ngữ hiện đại, ranh giới giữa ran ngáy và ran rít trầm đôi khi không hoàn toàn thống nhất. Vì vậy, mô tả cao độ, tính liên tục, vị trí và sự thay đổi sau ho có giá trị hơn chỉ ghi một tên gọi.
TIẾNG THỞ RÍT
Tiếng thở rít là âm cao, thô, thường nghe rõ mà không cần ống nghe và nổi bật trong thì hít vào. Âm gợi ý hẹp hoặc tắc đường thở trên, thanh quản hoặc khí quản.
Nguyên nhân có thể gồm: Dị vật, viêm thanh quản – khí quản, viêm nắp thanh quản, phù thanh quản do dị ứng, liệt dây thanh, hẹp khí quản hoặc khối u.
Tiếng thở rít kèm dấu ba lõm, tím tái, nuốt khó, chảy nước dãi hoặc giảm ý thức là dấu hiệu cấp cứu.
TIẾNG CỌ MÀNG PHỔI
Tiếng cọ màng phổi là âm thô ráp, gần giống hai miếng da hoặc giấy nhám cọ vào nhau. Âm có thể nghe trong cả thì hít vào và thở ra.
Cơ chế hình thành
Bình thường, hai lá màng phổi trượt lên nhau gần như không tạo âm. Khi màng phổi bị viêm và bề mặt trở nên thô ráp, chuyển động hô hấp làm hai lá cọ vào nhau.
Bệnh thường gặp: Viêm màng phổi, viêm phổi sát màng phổi, nhồi máu phổi và một số khối u màng phổi.
Tiếng cọ thường đi kèm đau ngực kiểu màng phổi, tức là đau tăng khi hít sâu, ho hoặc thay đổi tư thế.
TIẾNG LÉP BÉP DƯỚI DA
Đây không phải là âm trong phổi mà là cảm giác và tiếng lạo xạo khi ấn lên vùng da có khí tích tụ bên dưới. Khí dưới da có thể xuất hiện sau tràn khí màng phổi, chấn thương, phẫu thuật hoặc tổn thương đường thở.
Phát hiện khí dưới da kèm đau ngực hoặc khó thở cần được đánh giá sớm.
CÁC DẤU HIỆU TRUYỀN ÂM
Tiếng vang phế quản
Khi người bệnh nói, tiếng nói bình thường truyền qua phổi tương đối mờ. Nếu nhu mô phổi đông đặc, tiếng nói có thể truyền rõ và lớn hơn.
Tiếng ngực thầm
Người bệnh thì thầm một cụm từ; nếu âm được nghe rõ bất thường qua thành ngực, có thể gợi ý đông đặc phổi.
Tiếng dê kêu
Khi người bệnh phát âm kéo dài, âm nghe qua ống nghe bị biến đổi thành âm cao, có tính mũi. Dấu hiệu này có thể xuất hiện ở bờ trên của tràn dịch màng phổi hoặc vùng phổi đông đặc.
Những dấu hiệu truyền âm chỉ giúp định hướng và phải được đối chiếu với chẩn đoán hình ảnh.
NGHE PHỔI Ở TRẺ EM
Ống nghe nên có mặt nghe phù hợp với kích thước lồng ngực của trẻ. Người chăm sóc giữ trẻ ngồi thẳng hoặc ở tư thế cân đối để hai bên phổi có thể so sánh.
Nên nghe khi trẻ yên, nhưng cũng có thể tận dụng nhịp hít sâu sau khi trẻ khóc hoặc ho. Không nên kết luận từ một nhịp thở đơn lẻ.
Ở trẻ nhỏ, âm thở bình thường thường vang và rõ hơn người lớn do thành ngực mỏng. Cần tránh nhầm tiếng từ mũi họng truyền xuống với ran trong phổi.
Trẻ thở nhanh, co lõm lồng ngực, cánh mũi phập phồng, thở rít, tím tái hoặc bú kém cần được đánh giá khẩn cấp, bất kể có nghe thấy ran hay không.
Ý NGHĨA LÂM SÀNG CỦA VỊ TRÍ VÀ THỜI ĐIỂM
Âm khu trú một bên
Ran rít, ran nổ hoặc giảm âm thở chỉ ở một vùng có thể gợi ý tổn thương khu trú như dị vật, viêm phổi, xẹp phổi, khối u hoặc tràn dịch.
Âm lan tỏa hai bên
Ran rít lan tỏa thường liên quan đến hẹp đường thở diện rộng. Ran nổ hai đáy phổi có thể gặp trong phù phổi hoặc bệnh phổi kẽ.
Âm đầu thì hít vào
Ran nổ xuất hiện sớm trong thì hít vào thường liên quan nhiều hơn đến đường thở lớn hoặc trung bình và có thể thay đổi sau ho.
Âm cuối thì hít vào
Ran mịn cuối thì hít vào thường liên quan đến sự mở muộn của các đường thở nhỏ hoặc phế nang, có thể gặp trong xơ phổi và phù phổi.
Sự thay đổi theo tư thế và sau ho
Âm thay đổi sau ho thường gợi ý chất tiết có thể di chuyển. Âm thay đổi theo tư thế có thể liên quan đến sự phân bố dịch, đờm hoặc mức độ thông khí.
GIỚI HẠN CỦA NGHE PHỔI
Nghe phổi có thể bình thường trong giai đoạn sớm của nhiều bệnh. Thuyên tắc phổi, khối u nhỏ, ung thư phổi ngoại vi và một số bệnh phổi kẽ không phải lúc nào cũng tạo âm bất thường.
Ran rít không đồng nghĩa chắc chắn với hen. Ran nổ không đồng nghĩa chắc chắn với viêm phổi. Giảm âm thở cũng không đủ để phân biệt tràn khí, tràn dịch, khí phế thũng và tắc nghẽn phế quản.
Việc giải thích phải căn cứ đồng thời vào triệu chứng, nhịp thở, độ bão hòa oxy, sốt, đau ngực, đờm, tiền sử bệnh và kết quả xét nghiệm.
NHẬN THỨC THEO TRUNG Y
Trong Trung y, nghe tiếng nói, tiếng ho, hơi thở và âm thanh của đờm thuộc văn chẩn 聞診, một trong bốn phương pháp vọng, văn, vấn, thiết.
Y gia không chỉ nghe âm thanh mà còn xét tiếng mạnh hay yếu, trong hay đục, hơi thở sâu hay nông, ho hữu lực hay vô lực, đờm dễ hay khó khạc, rồi phối hợp với sắc mặt, lưỡi, mạch và các triệu chứng toàn thân.
Không thể quy trực tiếp một loại ran phổi thành một thể bệnh Trung y. Cùng một tiếng khò khè có thể do phong hàn, đàm nhiệt, đàm thấp hoặc Phế Thận hư. Cùng một loại ran nổ có thể gặp trong thủy ẩm, đàm nhiệt, huyết ứ hoặc Phế âm hư.
TIẾNG HO VÀ HƠI THỞ THEO TRUNG Y
Tiếng ho to, rõ và hữu lực
Thường thiên về thực chứng, có thể liên quan đến ngoại tà phạm Phế, đàm nhiệt hoặc đàm trọc trở Phế.
Tiếng ho nhỏ, yếu và vô lực
Thường thiên về hư chứng, có thể liên quan đến Phế khí hư, Tỳ Phế khí hư hoặc Phế Thận lưỡng hư.
Ho khan, tiếng ngắn, đờm ít
Thường gợi ý táo tà thương Phế hoặc Phế âm hư, nhưng vẫn phải loại trừ các nguyên nhân hiện đại như bệnh phổi kẽ, khối u và tác dụng phụ của thuốc.
Hơi thở thô, nhanh và hữu lực
Thường thiên về tà thực, đàm nhiệt hoặc nhiệt tà ủng Phế.
Hơi thở yếu, ngắn, hoạt động nhẹ cũng hụt hơi
Thường thiên về Phế khí hư hoặc Phế Thận khí hư.
Khó thở, hít vào ngắn và khó
Thường liên quan đến Thận không nạp khí, nhất là khi kèm đau lưng, mỏi gối và tiểu đêm.
GỢI Ý BIỆN CHỨNG TỪ ÂM PHỔI
Ran rít và khò khè do đàm thấp
Triệu chứng phối hợp: Khò khè, ngực đầy, đờm trắng nhiều, người nặng nề, buồn nôn, lưỡi nhạt, rêu trắng nhớt, mạch hoạt.
Phép trị: Táo thấp hóa đàm, giáng khí bình suyễn.
Phương thang: Nhị trần thang hợp Tam tử dưỡng thân thang gia giảm.
Phương dược: Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Cam thảo, Tử tô tử, Bạch giới tử, Lai phục tử.
Ran rít do đàm nhiệt
Triệu chứng phối hợp: Khò khè, thở gấp, ho đờm vàng đặc, ngực đầy, miệng khát, có thể sốt; lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế bình suyễn.
Phương thang: Định suyễn thang gia giảm.
Phương dược: Bạch quả, Ma hoàng, Tô tử, Cam thảo, Khoản đông hoa, Tang bạch bì, Hoàng cầm, Bán hạ chế, Hạnh nhân.
Lưu ý: Ma hoàng có thể ảnh hưởng nhịp tim, huyết áp và tương tác với thuốc. Không tự sử dụng, nhất là ở người tăng huyết áp, bệnh tim hoặc cường giáp.
Ran ngáy, đờm nhiều
Triệu chứng phối hợp: Ho đờm nhiều, tiếng đờm trong họng, ngực đầy, khạc đờm xong thấy dễ chịu hơn, rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt.
Phép trị: Hóa đàm, lý khí, tuyên thông Phế khí.
Phương thang: Nhị trần thang gia giảm.
Phương dược: Bán hạ chế, Trần bì, Phục linh, Cam thảo.
Gia giảm: Đờm đặc khó khạc gia Qua lâu, Cát cánh; đờm lạnh trong loãng gia Can khương, Tế tân khi phù hợp; đờm vàng gia Hoàng cầm, Bối mẫu.
Ran nổ kèm đàm nhiệt
Triệu chứng phối hợp: Ho, đờm vàng, sốt, đau ngực, khó thở, miệng khát; lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác.
Phép trị: Thanh nhiệt giải độc, hóa đàm, tuyên Phế.
Phương thang: Thang Thanh kim hóa đàm gia giảm.
Phương dược: Hoàng cầm, Chi tử, Tang bạch bì, Tri mẫu, Qua lâu nhân, Bối mẫu, Mạch môn, Quất hồng, Phục linh, Cát cánh, Cam thảo.
Lưu ý: Ran nổ kèm sốt và khó thở có thể là viêm phổi. Phương thang không thay thế kháng sinh hoặc điều trị tại bệnh viện khi đã có chỉ định.
Ran nổ nhỏ mịn kèm Phế âm hư
Triệu chứng phối hợp: Ho khan, đờm ít dính, họng khô, khó thở khi vận động, chiều tối nóng, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Phép trị: Dưỡng âm nhuận Phế, thanh nhiệt, chỉ khái.
Phương thang: Thang Sa sâm mạch môn gia giảm.
Phương dược: Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc, Thiên hoa phấn, Tang diệp, Bạch biển đậu, Cam thảo.
Lưu ý: Ran nhỏ mịn cố định ở hai đáy phổi có thể gặp trong xơ phổi. Cần chụp cắt lớp và thăm dò chức năng hô hấp, không chỉ điều trị theo Phế âm hư.
Âm thở yếu kèm Phế khí hư
Triệu chứng phối hợp: Hụt hơi, tiếng nói nhỏ, ho yếu, khạc đờm không có sức, mệt mỏi, dễ ra mồ hôi và dễ cảm lạnh; lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Phép trị: Bổ Phế ích khí, cố biểu.
Phương thang: Ngọc bình phong tán hợp Thang Bổ phế gia giảm.
Phương dược: Hoàng kỳ, Bạch truật, Phòng phong, Đảng sâm, Ngũ vị tử, Tử uyển, Tang bạch bì.
VAI TRÒ VÀ GIỚI HẠN CỦA TRUNG Y
Âm phổi chỉ là một phần của biểu hiện bệnh, không phải căn cứ duy nhất để kê phương. Biện chứng phải phối hợp tiếng ho, tính chất đờm, mức độ khó thở, lưỡi, mạch, thể trạng và chẩn đoán y học hiện đại.
Không nên nghe có ran rồi tự kết luận là “đàm” và dùng thuốc hóa đàm. Ran nổ có thể do phù phổi, viêm phổi, xơ phổi hoặc xẹp phổi; mỗi nguyên nhân cần phương pháp xử trí khác nhau.
Trường hợp thở rít, lồng ngực yên lặng, giảm âm thở đột ngột một bên, tím tái hoặc suy hô hấp phải được xử trí cấp cứu, không chờ biện chứng dùng thuốc.
DẤU HIỆU CẦN KHÁM KHẨN CẤP
Dấu hiệu nguy hiểm: Khó thở đột ngột hoặc tăng nhanh; tiếng thở rít; dấu ba lõm; không nói được trọn câu; tím môi; đau ngực; ho ra máu; lơ mơ; âm thở một bên giảm rõ; cơn hen nặng nhưng tiếng khò khè đột ngột giảm và lồng ngực gần như yên lặng.
Nói tóm lại, nghe phổi giúp phát hiện những thay đổi của đường thở, phế nang và màng phổi. Ran nổ thường là âm ngắt quãng; ran rít và ran ngáy là âm liên tục; tiếng thở rít gợi ý tắc nghẽn đường thở trên; tiếng cọ màng phổi phản ánh hai lá màng phổi viêm cọ vào nhau. Theo Trung y, các âm này thuộc phạm vi văn chẩn nhưng phải được phối hợp với toàn bộ chứng trạng. Không thể căn cứ vào một âm phổi riêng lẻ để xác định thể bệnh hoặc phương thang.
Trường Xuân biên soạn