Viêm tuyến tiền liệt là một bệnh thường gặp ở nam giới trưởng thành. Bệnh có thể do nhiễm khuẩn, tác nhân lây truyền qua đường tình dục hoặc không liên quan đến nhiễm trùng. Trường hợp mạn tính còn có thể biểu hiện dưới dạng hội chứng đau vùng chậu mạn tính, trong đó đau, rối loạn tiểu tiện và căng cơ sàn chậu giữ vai trò quan trọng.
Theo Trung y, bệnh có thể thuộc phạm vi Lâm chứng, Tinh trọc, Bạch trọc, Lao lâm, Thận hư, Thiếu phúc thống và các chứng thấp nhiệt hạ chú, khí trệ huyết ứ, Thận hư lạc trở.
I. NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Ăn nhiều thức ăn cay nóng, uống rượu, thấp tà bên ngoài hoặc nhiễm tà độc có thể làm thấp nhiệt tích lại ở hạ tiêu. Thấp nhiệt hun đốt Bàng quang và tinh thất, gây tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt, niệu đạo nóng rát, đau vùng hội âm và dịch tiết đục.
Lo nghĩ, căng thẳng hoặc uất ức kéo dài làm Can mất sơ tiết, khí cơ vùng hạ tiêu không thông. Khí trệ lâu ngày làm huyết hành không thuận, sinh đau cố định ở hội âm, bụng dưới, bẹn, tinh hoàn hoặc thắt lưng cùng.
Ngồi lâu, đi xe đạp trong thời gian dài, táo bón hoặc làm việc khiến vùng hội âm chịu áp lực liên tục có thể gây khí huyết ứ trệ và làm triệu chứng tăng.
Sinh hoạt quá độ, kích thích kéo dài, xuất tinh quá thường xuyên hoặc cố nhịn xuất tinh đều có thể làm tinh thất và vùng hạ tiêu bị sung huyết, khiến khí huyết vận hành không thuận.
Viêm kéo dài, tái phát nhiều lần hoặc dùng thuốc không thích hợp có thể làm Thận khí suy, tinh quan không vững, gây đau lưng, mỏi gối, di tinh, giảm ham muốn và mệt mỏi.
Bản hư thường là Thận khí, Thận âm hoặc Thận dương suy. Tiêu thực thường gồm thấp nhiệt, khí trệ, huyết ứ và đàm thấp. Trên lâm sàng, các thể này thường xen kẽ chứ không hoàn toàn tách biệt.
II. BIỂU HIỆN THƯỜNG GẶP
Triệu chứng đường tiểu: Tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt, cảm giác tiểu không hết, tia tiểu yếu, tiểu nhỏ giọt, nóng rát niệu đạo, nước tiểu đục hoặc có dịch trắng chảy ra ở cuối bãi tiểu hoặc khi đại tiện.
Triệu chứng đau: Đau hoặc tức ở hội âm, bụng dưới, vùng trên xương mu, thắt lưng cùng, bẹn, tinh hoàn, gốc dương vật hoặc quy đầu; đau có thể tăng khi ngồi lâu, sau xuất tinh hoặc khi căng thẳng.
Triệu chứng sinh dục: Đau khi xuất tinh, giảm ham muốn, rối loạn cương, xuất tinh sớm hoặc khó chịu sau quan hệ.
Triệu chứng toàn thân: Mệt mỏi, lo âu, mất ngủ, giảm tập trung, tinh thần căng thẳng; viêm cấp có thể kèm sốt, rét run và bí tiểu.
III. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ THEO TRUNG Y
Điều trị cần căn cứ giai đoạn và thể bệnh để áp dụng thanh nhiệt lợi thấp, giải độc, lý khí, hoạt huyết, thông lạc, bổ Thận, kiện Tỳ và điều hòa tinh thất.
Viêm cấp hoặc nghi nhiễm khuẩn phải ưu tiên đánh giá y khoa và điều trị nguyên nhân. Trung y có thể phối hợp hỗ trợ nhưng không thay thế kháng sinh khi đã xác định nhiễm khuẩn.
IV. THỂ THẤP NHIỆT HẠ CHÚ
Chủ chứng: Khởi phát tương đối cấp, đau trướng hoặc đau co rút vùng hội âm và bụng dưới, tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu buốt, niệu đạo nóng rát, nước tiểu vàng hoặc đục, có thể có dịch trắng đục, miệng đắng, khát, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ: Thấp nhiệt kết lại ở hạ tiêu, hun đốt Bàng quang và tinh thất, làm khí hóa không thông.
Phép trị: Thanh nhiệt lợi thấp, giải độc, lý khí, hoạt huyết.
Phương thang: Long đởm Tả Can thang gia giảm: Long đởm thảo 10 g, Hoàng bá 10 g, Chi tử 10 g, Xa tiền tử 10 g, Mộc thông 10 g, Xuyên luyện tử 10 g, Xích thược 10 g, Đan bì 10 g, Phục linh 10 g, Sinh cam thảo 6 g.
Gia giảm: Tiểu buốt rõ gia Biển súc, Cù mạch; dịch đục nhiều gia Tỳ giải, Thạch xương bồ; đau rõ gia Uất kim, Diên hồ sách; sốt, độc nhiệt rõ gia Bồ công anh, Bại tương thảo.
Chú ý: Mộc thông phải dùng đúng loại dược liệu an toàn, không dùng Quan mộc thông chứa acid aristolochic. Sốt cao, rét run, bí tiểu hoặc đau dữ dội cần đi viện ngay.
V. THỂ KHÍ TRỆ HUYẾT Ứ
Chủ chứng: Bệnh kéo dài, đau là biểu hiện chính, đau cố định hoặc căng tức vùng hội âm, bụng dưới, bẹn, tinh hoàn hoặc thắt lưng cùng, đau tăng khi ngồi lâu hoặc sau xuất tinh, tiểu không thông thoát, tâm trạng uất ức, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ: Khí cơ hạ tiêu không thông, huyết hành trì trệ, lạc mạch bị bế trở.
Phép trị: Lý khí hoạt huyết, hóa ứ, thông lạc chỉ thống.
Phương thang: Đan sâm 30 g, Xích thược 10 g, Hồng hoa 10 g, Vương bất lưu hành 10 g, Nhũ hương 10 g, Một dược 10 g, Thanh bì 10 g, Xuyên luyện tử 10 g, Tiểu hồi hương 10 g.
Gia giảm: Ngực sườn đầy tức gia Sài hồ, Hương phụ; đau khi xuất tinh gia Uất kim, Diên hồ sách; bụng dưới lạnh đau gia Ô dược, Lệ chi hạch; tê nặng vùng hội âm gia Kê huyết đằng, Địa long.
Chú ý: Người đang dùng aspirin, clopidogrel, warfarin hoặc thuốc chống đông khác cần thận trọng với Đan sâm, Hồng hoa, Nhũ hương và Một dược.
VI. THỂ THẬN ÂM HƯ KÈM THẤP NHIỆT
Chủ chứng: Bệnh mạn tính, đau lưng mỏi gối, miệng khô, nóng lòng bàn tay chân, tiểu vàng hoặc tiểu nhiều, di tinh, xuất tinh sớm, vùng hội âm âm ỉ khó chịu, lưỡi đỏ ít rêu hoặc rêu vàng mỏng, mạch tế sác.
Bệnh cơ: Thận âm hao tổn, hư nhiệt nội sinh; thấp nhiệt còn lưu lại ở hạ tiêu.
Phép trị: Tư bổ Can Thận, thanh hư nhiệt, lợi thấp thông lạc.
Phương thang: Tri bá Địa hoàng hoàn gia giảm: Hoàng bá 10 g, Tri mẫu 10 g, Sinh địa 10 g, Thục địa 10 g, Sơn dược 30 g, Sơn thù du 10 g, Phục linh 20 g, Trạch tả 10 g, Vương bất lưu hành 10 g, Đan bì 10 g, Xuyên luyện tử 10 g.
Gia giảm: Tiểu buốt gia Biển súc, Cù mạch; nóng trong rõ gia Địa cốt bì, Hạn liên thảo; đau khi xuất tinh gia Diên hồ sách, Uất kim; mất ngủ gia Toan táo nhân, Bá tử nhân.
Chú ý: Người ăn kém, đầy bụng, đại tiện lỏng và rêu lưỡi dày nhờn không nên dùng nhiều Thục địa và thuốc tư âm nê trệ.
VII. THỂ THẬN DƯƠNG HƯ
Chủ chứng: Bệnh kéo dài, đau lưng mỏi gối, sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt mỏi, tiểu trong dài hoặc tiểu đêm, giảm ham muốn, rối loạn cương, tinh dịch loãng, đau âm ỉ vùng hội âm, lưỡi nhạt to, rêu trắng, mạch trầm nhược.
Bệnh cơ: Thận dương suy, tinh thất mất ôn dưỡng, khí hóa Bàng quang giảm, huyết hành vùng hạ tiêu chậm.
Phép trị: Ôn bổ Thận dương, trợ khí hóa, thông lạc.
Phương thang: Hữu quy hoàn hoặc Kim quỹ Thận khí hoàn gia giảm; có thể phối Tiên linh tỳ, Thỏ ty tử, Đỗ trọng, Tục đoạn, Ô dược và Ngưu tất tùy chứng.
Chú ý: Không tự dùng Chế Phụ tử. Phụ tử có thể gây rối loạn nhịp tim và ngộ độc nghiêm trọng. Người có bệnh tim mạch, tăng huyết áp hoặc suy thận cần đặc biệt thận trọng.
VIII. THỂ TỲ THẬN KHÍ HƯ
Chủ chứng: Mệt mỏi, ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng, tiểu nhiều, tiểu nhỏ giọt, đau lưng nhẹ, giảm ham muốn, dịch tiết trắng đục tái diễn, sắc mặt nhợt, lưỡi nhạt có dấu răng, mạch hư nhược.
Bệnh cơ: Tỳ khí không vận hóa, Thận khí không cố nhiếp, thấp trọc lưu lại ở hạ tiêu.
Phép trị: Kiện Tỳ ích khí, bổ Thận, hóa thấp.
Phương thang: Sâm linh Bạch truật tán hợp Thủy lục Nhị tiên đan gia giảm: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Ý dĩ nhân, Khiếm thực, Kim anh tử, Liên tử, Tỳ giải và Cam thảo.
Chú ý: Dịch niệu đạo trắng đục không đồng nghĩa với tinh dịch. Nếu kèm tiểu buốt, quan hệ không bảo vệ hoặc bạn tình có triệu chứng, cần xét nghiệm tác nhân lây truyền qua đường tình dục.
IX. VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT CẤP
Chủ chứng: Sốt, rét run, đau dữ dội vùng hội âm hoặc bụng dưới, tiểu buốt, tiểu gấp, tiểu khó, có thể bí tiểu, người mệt lả, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch sác hữu lực.
Theo Trung y, bệnh thuộc thấp nhiệt độc thịnh, nhiệt lâm hoặc nhiệt độc nhập lý.
Phép trị hỗ trợ: Thanh nhiệt giải độc, lợi thấp thông lâm.
Chú ý: Viêm tuyến tiền liệt cấp là bệnh cần điều trị y khoa khẩn trương. Không xoa bóp tuyến tiền liệt trong giai đoạn cấp vì có nguy cơ làm vi khuẩn lan vào máu. Không tự dùng thuốc sắc để trì hoãn kháng sinh.
X. VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT MẠN TÍNH VÀ HỘI CHỨNG ĐAU VÙNG CHẬU
Không phải mọi trường hợp mạn tính đều do vi khuẩn. Nhiều người có đau vùng chậu, tiểu tiện khó chịu và rối loạn chức năng tình dục nhưng xét nghiệm không phát hiện vi khuẩn.
Theo Trung y, nhóm này thường liên quan đến Can uất khí trệ, huyết ứ, thấp trọc, Thận hư và kinh lạc không thông.
Điều trị cần phối hợp thuốc, thư giãn cơ sàn chậu, điều chỉnh ngồi lâu, giảm căng thẳng, vận động và chăm sóc giấc ngủ.
Chú ý: Không nên dùng kháng sinh kéo dài khi không có bằng chứng nhiễm khuẩn. Không quy mọi đau vùng chậu cho “viêm” vì có thể còn liên quan đến cơ sàn chậu, bàng quang, ruột hoặc thần kinh.
XI. VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT DO CHLAMYDIA, LẬU CẦU HOẶC TRICHOMONAS
Biểu hiện có thể gồm dịch niệu đạo, tiểu buốt, ngứa niệu đạo, đau tầng sinh môn, đau khi xuất tinh và quan hệ tình dục có nguy cơ.
Theo Trung y, có thể thuộc thấp nhiệt độc thịnh ở hạ tiêu.
Chú ý: Đây là bệnh nhiễm trùng cần xét nghiệm và dùng thuốc đặc hiệu theo hướng dẫn hiện hành. Bạn tình cũng cần được đánh giá và điều trị khi có chỉ định. Không tự áp dụng các liều tetracycline, erythromycin, metronidazole, penicillin hoặc ceftriaxone trong tài liệu cũ.
XII. VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT DO NẤM
Bệnh hiếm gặp, thường xuất hiện ở người suy giảm miễn dịch, đái tháo đường không kiểm soát, dùng kháng sinh kéo dài hoặc có can thiệp đường tiết niệu.
Theo Trung y, bệnh thường thuộc thấp nhiệt độc kết.
Chú ý: Không tự dùng kali iodide, thuốc tím gentian, bicarbonat hoặc thuốc chống nấm theo liều cũ. Cần xác định đúng tác nhân bằng xét nghiệm trước khi điều trị.
XIII. VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT HẠT
Viêm tuyến tiền liệt hạt tương đối hiếm, có thể làm tuyến tiền liệt to, cứng và gây tắc nghẽn tiểu tiện. Hình ảnh và khám lâm sàng đôi khi giống ung thư tuyến tiền liệt.
Chú ý: Chẩn đoán thường cần đánh giá chuyên khoa, hình ảnh và đôi khi sinh thiết. Trung y không thể thay thế việc loại trừ ung thư hoặc điều trị tắc nghẽn đường tiểu.
XIV. CHÂM CỨU HỖ TRỢ
Châm cứu có thể hỗ trợ giảm đau, điều hòa tiểu tiện và thư giãn cơ vùng chậu trong trường hợp mạn tính.
Huyệt thường dùng: Nhâm-3 Trung cực, Nhâm-4 Quan nguyên, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-28 Bàng quang du, Bàng quang-32 Thứ liêu, Tỳ-6 Tam âm giao, Vị-36 Túc tam lý, Can-3 Thái xung, Thận-3 Thái khê.
Chú ý: Không châm trực tiếp vào tuyến tiền liệt. Không châm vùng tầng sinh môn khi có nhiễm trùng, áp xe hoặc tổn thương da.
XV. XOA BÓP TUYẾN TIỀN LIỆT
Tài liệu cũ thường khuyên xoa bóp tuyến tiền liệt định kỳ. Hiện nay không nên tự thực hiện tại nhà.
Không xoa bóp trong viêm cấp, sốt, nghi áp xe, tiểu máu, ung thư tuyến tiền liệt hoặc đau dữ dội.
Nếu cần thiết, thủ thuật chỉ nên được thực hiện bởi người có chuyên môn sau khi đã xác định rõ chỉ định.
XVI. CHƯỜM ẤM VÀ NGÂM ẤM
Tắm ngồi hoặc chườm ấm vừa phải có thể giúp thư giãn cơ vùng chậu và giảm đau ở một số trường hợp mạn tính không nhiễm trùng.
Chú ý: Không dùng nước quá nóng; không áp dụng khi đang sốt, viêm cấp, vùng da tổn thương hoặc giảm cảm giác. Không coi chườm ấm là phương pháp điều trị nhiễm khuẩn.
XVII. ĂN UỐNG VÀ SINH HOẠT
Uống đủ nước nhưng không cố uống quá nhiều nếu có bệnh tim hoặc thận.
Hạn chế rượu, bia, thức ăn cay nóng và đồ uống làm kích thích bàng quang nếu nhận thấy triệu chứng tăng.
Tránh ngồi liên tục quá lâu; nên đứng dậy và vận động nhẹ định kỳ.
Hạn chế đạp xe đường dài khi đang đau vùng hội âm; có thể điều chỉnh yên xe phù hợp.
Tránh táo bón và rặn mạnh khi đại tiện.
Sinh hoạt tình dục điều độ, không cố nhịn xuất tinh và không hoạt động khi đang đau hoặc nhiễm trùng cấp.
Giữ ấm vùng bụng dưới và hội âm nhưng không chườm quá nóng.
Duy trì vận động nhẹ và luyện thư giãn.
XVIII. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN ÁP DỤNG
Không tự dùng kháng sinh.
Không dùng kháng sinh kéo dài khi chưa xác định nhiễm khuẩn.
Không tự tiêm thuốc vào niệu đạo, tầng sinh môn hoặc tuyến tiền liệt.
Không tự xoa bóp tuyến tiền liệt.
Không xoa bóp tuyến tiền liệt khi đang sốt hoặc viêm cấp.
Không dùng Phụ tử để tự điều trị.
Không ngâm nước quá nóng.
Không trì hoãn xét nghiệm bệnh lây truyền qua đường tình dục khi có nguy cơ.
Không coi mọi trường hợp đau vùng chậu là do vi khuẩn.
XIX. DẤU HIỆU CẦN KHÁM SỚM
Tiểu buốt hoặc tiểu gấp kéo dài, đau vùng hội âm tái diễn, đau khi xuất tinh, dịch niệu đạo, tiểu máu, tiểu khó tăng dần, đau tinh hoàn, quan hệ tình dục có nguy cơ hoặc triệu chứng kéo dài ảnh hưởng sinh hoạt.
XX. DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Sốt cao và rét run, bí tiểu, đau dữ dội vùng hội âm hoặc bụng dưới, nôn, lơ mơ, huyết áp tụt, tiểu máu nhiều, tinh hoàn sưng đau cấp tính hoặc nghi nhiễm trùng lan rộng.
Nói tóm lại, viêm tuyến tiền liệt theo Trung y thường liên quan đến thấp nhiệt hạ chú, khí trệ huyết ứ và Thận hư. Giai đoạn cấp phần nhiều thiên về thấp nhiệt độc thịnh; bệnh mạn tính thường có khí trệ, huyết ứ, thấp trọc và Thận hư xen lẫn. Điều trị cần phân rõ nhiễm khuẩn và không nhiễm khuẩn, phối hợp biện chứng Trung y với xét nghiệm, điều trị nguyên nhân, thư giãn cơ vùng chậu và điều chỉnh sinh hoạt. Trung y có thể hỗ trợ giảm đau và cải thiện thể trạng, nhưng không thay thế điều trị kháng khuẩn hoặc can thiệp tiết niệu khi đã có chỉ định.
Trường Xuân biên soạn