Tài liệu tham khảo:
Sốt thấp khớp là một bệnh toàn thân với biểu hiện sốt và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, chủ yếu ảnh hưởng đến tim và khớp, đồng thời gây tổn thương da và mô não. Bệnh này có xu hướng tái phát. Nếu không phòng ngừa và điều trị triệt để, bệnh thấp tim có thể phát triển do tim bị tổn thương nhiều lần. Bệnh này thường xuất hiện sau tình trạng viêm họng cấp tính. Điều trị kháng khuẩn thích hợp có thể ngăn ngừa bệnh thấp khớp.
Sốt thấp khớp thường xảy ra ở những vùng lạnh và mùa lạnh (như mùa đông và mùa xuân), nhưng có thể xảy ra trên khắp cả nước. Hiện nay người ta tin rằng môi trường đông đúc và điều kiện vệ sinh kém là những yếu tố quan trọng gây ra căn bệnh này. Sốt thấp khớp thường gặp nhất ở trẻ em từ 6 đến 15 tuổi, hiếm gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi và cực kỳ hiếm gặp ở trẻ em dưới 2 tuổi. Một số ít người mắc bệnh ở nhóm tuổi 40-49 và 50-59, và tỷ lệ mắc bệnh gần như bằng nhau giữa nam và nữ.
Hiện nay, bệnh sốt thấp khớp chủ yếu được cho là phản ứng dị ứng miễn dịch do nhiễm liên cầu khuẩn (chủ yếu là đường hô hấp trên) gây ra và có thể chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn đầu là nhiễm liên cầu khuẩn, giai đoạn thứ hai là thời gian ủ bệnh không triệu chứng, thường kéo dài 10-14 ngày và giai đoạn thứ ba biểu hiện lâm sàng là sốt thấp khớp hoạt động.
Biểu hiện lâm sàng của bệnh thấp khớp rất đa dạng, trong đó viêm đa khớp là một trong những biểu hiện chính của bệnh này. Các khớp thường bị ảnh hưởng nhất là đầu gối, mắt cá chân, khuỷu tay và cổ tay. Tình trạng đỏ, sưng và đau ở các khớp bị ảnh hưởng thường lan từ khớp này sang khớp khác. Trong những trường hợp nghiêm trọng, bệnh nhân có thể phải nằm liệt giường và không muốn cử động các khớp bị ảnh hưởng. Nếu không được điều trị, các triệu chứng ở một khớp sẽ chỉ kéo dài từ 1 đến 5 ngày và tất cả các triệu chứng ở khớp thường sẽ biến mất trong vòng 2 đến 4 tuần. Không giống như viêm khớp dạng thấp, sốt thấp khớp không gây biến dạng khớp vĩnh viễn.
Biểu hiện quan trọng nhất của bệnh thấp khớp là viêm cơ tim, có thể phát triển thành bệnh van tim. 50% bệnh nhân mắc bệnh thấp khớp lần đầu sẽ bị viêm tim, và cơ tim, nội tâm mạc hoặc màng ngoài tim thường bị tổn thương cùng lúc. Cần nghi ngờ viêm cơ tim khi tình trạng sốt không tương xứng với nhịp tim nhanh. Khi cơn sốt và đau khớp đã thuyên giảm, nhịp mạch vượt quá 100 nhịp/phút khi ngủ, cho thấy cơ tim bị ảnh hưởng. Lúc này, tiếng tim có thể thay đổi. Nếu nhịp tim nhanh và khó thở hoặc tăng cân không rõ nguyên nhân (có thể là phù nề), thì đây thường là biểu hiện của suy tim và là biểu hiện của viêm cơ tim nặng. Tiếng thổi tim thường xuất hiện trong viêm van tim do thấp khớp, nhưng cần phân biệt với tiếng thổi tim do sốt hoặc thiếu máu trong cơn sốt thấp khớp. Viêm màng ngoài tim cấp tính rất hiếm gặp và thường xảy ra ở bệnh viêm tim cấp tính nặng. Bất kỳ ai bị sốt thấp khớp cấp tính kèm theo bệnh ở ngực đều nên được nghi ngờ bị viêm màng ngoài tim. Có thể xác nhận tình trạng viêm màng ngoài tim bằng cách nghe thấy tiếng ma sát màng ngoài tim ở vùng trước tim.
Bệnh múa giật là do bệnh thấp khớp xâm lấn vào mô não. Đây là một trong những biểu hiện chính của bệnh thấp khớp và phổ biến ở bé gái hơn bé trai. Những biểu hiện đặc trưng của bệnh bao gồm sự bất ổn về mặt cảm xúc, yếu cơ và những chuyển động không có mục đích. Bệnh múa giật phát triển chậm, bắt đầu khi trẻ vốn bình thường trở nên lo lắng, hay quên và vụng về. Khi đã xác định được chẩn đoán, cha mẹ và giáo viên nên thông cảm, không nên trách móc quá nhiều và có biện pháp điều trị tích cực để trẻ sớm hồi phục. Nếu tình trạng của trẻ nghiêm trọng, cần đặt một tấm nệm trên giường và thực hiện nhiều biện pháp phòng ngừa khác để tránh trẻ ngã khỏi giường hoặc ghế. Thời gian trung bình của chứng múa giật là 3 tháng, nhưng cũng có thể kéo dài tới 6 tháng, một năm hoặc lâu hơn. Phần lớn bệnh nhân có thể trở lại bình thường mà không để lại di chứng gì.
Ban đỏ dạng vòng cũng là một trong những biểu hiện chính của bệnh thấp khớp cấp, với tỷ lệ mắc bệnh là 10-15%. Đó là bề mặt da hơi nổi lên màu hồng hoặc đỏ nhạt với các cạnh ban đỏ rõ ràng và một vùng nhợt nhạt ở giữa. Nó có hình tròn và có nhiều kích thước và hình dạng khác nhau. Bệnh thường được thấy ở mặt trong của thân và các chi. Mặc dù các nốt dưới da là một trong những biểu hiện chính của bệnh thấp khớp cấp tính, nhưng chúng tương đối hiếm gặp, với tỷ lệ mắc bệnh dưới 10% ở những bệnh nhân bị thấp khớp. Các nốt dưới da là những khối u cứng, di chuyển tự do, không đau, thường xuất hiện ở các khớp nhô ra của chi trên và chi dưới, nhưng cũng có thể xuất hiện trên da đầu và dọc theo cột sống. Thường kéo dài trong vài tuần. Sốt do thấp khớp có thể cao trong vài ngày đầu và thường tự thuyên giảm hoặc chuyển sang sốt nhẹ mà không cần dùng thuốc. Đôi khi cơn sốt vẫn ở mức thấp trong suốt quá trình mắc bệnh. Những người bị sốt thấp khớp thường cảm thấy yếu và da xanh xao, một số người thậm chí còn bị chảy máu mũi.
Xét nghiệm máu: Hình ảnh máu cho thấy thiếu máu nhẹ hoặc trung bình, số lượng bạch cầu thường là 10.000 đến 20.000/mm3, bạch cầu trung tính, tốc độ lắng hồng cầu (ESR) thường tăng, mucin huyết thanh tăng (bình thường dưới 4 mg%), antistreptolysin “O” (anti-“O”) tăng, giá trị bình thường là <500 đơn vị. Nếu tất cả các xét nghiệm trên đều bất thường thì khả năng mắc bệnh thấp khớp cấp là rất cao, tuy nhiên cần xem xét kết hợp với các biểu hiện lâm sàng.
Trong giai đoạn cấp tính, bạn nên nghỉ ngơi trên giường. Penicillin là lựa chọn đầu tiên để loại trừ nhiễm trùng liên cầu khuẩn, liều dùng 800.000 đến 1,6 triệu đơn vị mỗi ngày, chia thành hai lần tiêm bắp, thường dùng trong 10 đến 14 ngày. Aspirin và các thuốc khác dùng để điều trị chống thấp khớp, người lớn 3-6 gam/ngày, trẻ em 0,08-0,1 gam/kg thể trọng/ngày, chia làm 3-4 lần, dùng liên tục trong 2-4 tuần. Nếu chảy máu mũi hoặc chảy máu, nên ngừng thuốc. Nếu bị viêm cơ tim do thấp khớp hoặc các thuốc chống thấp khớp khác không hiệu quả, có thể sử dụng phương pháp điều trị bằng hormone, thường là prednisone. Người lớn uống 30 đến 60 mg mỗi ngày, trẻ em uống 1 đến 2 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày, chia làm 3 đến 4 lần. Liều dùng có thể giảm dần sau 7 đến 10 ngày và có thể ngừng thuốc dần dần trong vòng 2 đến 4 tuần. Tiêm bắp penicillin tác dụng kéo dài hàng tháng là cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa bệnh thấp khớp tái phát. Cần tiếp tục phòng ngừa ít nhất 5 năm sau cơn thấp khớp cấp. Nếu có bằng chứng về bệnh thấp tim, hãy tiếp tục phòng ngừa trong thời kỳ tăng trưởng. Vì bệnh thấp khớp cấp tái phát tương đối hiếm ở người lớn nên khuyến cáo những người trên 20 tuổi, đặc biệt là những người không còn bệnh thấp khớp tim, không cần điều trị dự phòng lâu dài.
Sốt thấp khớp là một bệnh dị ứng thứ phát do nhiễm liên cầu khuẩn. Các khớp và tim là những nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất. Sốt thấp khớp kéo dài và tình trạng tổn thương cơ tim tái phát có thể dẫn đến bệnh thấp tim. Tuy nhiên, phần lớn các chứng “thấp khớp” mà mọi người thường nói đến trong cuộc sống hàng ngày thực chất là do ảnh hưởng của gió, lạnh, ẩm, khiến các tác nhân gây bệnh lưu lại ở da, khớp, gây ra các triệu chứng như đau nhức chân tay, nặng nề, tê bì. Nó hoàn toàn khác với bệnh sốt thấp khớp được đề cập ở trên. Giai đoạn cấp tính của bệnh thấp khớp có thể biểu hiện năm triệu chứng chính: sốt, viêm khớp di chuyển, viêm cơ tim, ban đỏ hình khuyên không đều trên da hoặc các nốt dưới da và các cử động cơ giống như múa giật. Các triệu chứng ở giai đoạn mãn tính tương đối nhẹ, bao gồm đau khớp, sốt nhẹ và bệnh van tim phát triển từ tổn thương tim. Phải mất khoảng hai năm kể từ khi nhiễm trùng ban đầu đến khi phát triển bệnh van tim. Một khi đã hình thành, đây sẽ là tổn thương vĩnh viễn. Trong những trường hợp nhẹ, có thể không có triệu chứng; Trong trường hợp nặng, sau khi làm việc có thể xuất hiện tình trạng khó thở, mệt mỏi, hồi hộp, tức ngực, khó thở, tím tái, phù nề…, cuối cùng có thể dẫn đến suy tim.
Hướng dẫn sức khỏe:
Sốt thấp khớp là gì?
Sốt thấp khớp là bệnh viêm toàn thân cấp tính hoặc mạn tính tái phát ở mô liên kết do nhiễm trùng đường hô hấp trên do liên cầu khuẩn tan máu nhóm A. Bệnh này ảnh hưởng đáng kể nhất đến tim và khớp, thường để lại tổn thương van tim đáng kể và hình thành bệnh van tim thấp khớp mãn tính. Do bệnh này thường có những cơn cấp tính tái phát và sốt chỉ xảy ra ở một giai đoạn nhất định của bệnh nên một số người cho rằng thuật ngữ thấp khớp nên được sử dụng cho toàn bộ quá trình của bệnh và sốt thấp khớp rõ ràng hơn khi biểu thị giai đoạn hoạt động của các cơn cấp tính.
Bệnh sốt thấp khớp xảy ra như thế nào?
Sốt thấp khớp xảy ra ở khắp mọi nơi trên đất nước tôi (Trung quốc), nhưng phổ biến hơn ở miền Bắc. Trong những năm gần đây, do điều kiện sống của người dân không ngừng được cải thiện, việc sử dụng kháng sinh rộng rãi và tỷ lệ nhiễm liên cầu khuẩn giảm nên tỷ lệ mắc bệnh thấp khớp đã có xu hướng giảm rõ rệt. Sau khi nhiễm liên cầu khuẩn lẻ tẻ, tỷ lệ mắc bệnh thấp khớp là khoảng 0,3%. Khi nhiễm trùng liên cầu khuẩn phổ biến ở những đơn vị tập thể như trại lính, tỷ lệ mắc bệnh có thể lên tới 3%. Bệnh này thường xảy ra vào mùa đông và mùa xuân. Bệnh thấp khớp cấp lần đầu thường gặp ở trẻ em từ 5 đến 15 tuổi và cực kỳ hiếm gặp ở trẻ sơ sinh dưới 3 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh giảm dần theo tuổi tác.
Nguyên nhân gây ra bệnh sốtthấp khớp là gì?
Nguyên nhân chính xác gây ra bệnh sốt thấp khớp vẫn chưa được hiểu rõ. Tuy nhiên, xét về mặt lâm sàng, dịch tễ và miễn dịch, có thể chứng minh rằng liên cầu khuẩn tan máu nhóm A có liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ mắc bệnh thấp khớp cấp. Lý do như sau:
(1) Mùa dịch và khu vực phân bố của bệnh thấp khớp cấp thường liên quan đến dịch và khu vực phân bố của các bệnh do liên cầu khuẩn tan máu gây ra như viêm amidan cấp, sốt ban đỏ. Một đợt dịch nhiễm trùng liên cầu khuẩn thường dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh thấp khớp. Cả hai đều rất nhất quán về mặt dịch tễ học.
(2) Thường có tiền sử nhiễm trùng đường hô hấp trên do liên cầu khuẩn tan máu nhóm A từ 1 đến 4 tuần trước khi khởi phát sốt thấp khớp hoặc tái phát. Viêm nội tâm mạc, viêm khớp, múa giật, v.v. thường là hậu quả thứ phát của bệnh sốt ban đỏ và viêm amidan.
(3) Khi sốt thấp khớp xảy ra, có thể lấy liên cầu khuẩn tan máu nhóm A từ dịch tỵ hầu của bệnh nhân. Nhiều kháng thể liên cầu khuẩn trong huyết thanh, chẳng hạn như kháng thể anti-streptolysin O và kháng thể anti-streptococcal kinase, tăng lên. Trong giai đoạn tiềm ẩn của bệnh thấp khớp, các nuôi cấy chuyển sang âm tính và nồng độ kháng thể giảm.
(4) Penicillin làm giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tái phát của bệnh thấp khớp sau khi phòng ngừa và điều trị nhiễm trùng liên cầu khuẩn.
Về mặt nghiên cứu nguyên nhân, mối quan hệ giữa nhiễm trùng do virus và bệnh thấp khớp cấp đã được ghi nhận. Về mặt lâm sàng, khoảng một phần ba số bệnh nhân mắc bệnh tim thấp khớp không có tiền sử hoặc bằng chứng nhiễm trùng liên cầu khuẩn. Ở trẻ em bị sốt thấp khớp, những bệnh nhân chỉ có biểu hiện múa giật cũng có thể không có bằng chứng nhiễm trùng liên cầu khuẩn. Do đó, một số người tin rằng bệnh thấp khớp cấp không điển hình có thể do virus gây ra (thường là virus Coxsackie B). Cũng có khả năng nhiễm virus khiến cơ thể dễ bị nhiễm liên cầu khuẩn, hoặc nhiễm virus và nhiễm liên cầu khuẩn có thể cùng gây bệnh.
Địa lý và môi trường có ảnh hưởng như thế nào đến bệnh sốt thấp khớp?
Sốt thấp khớp thường xảy ra ở môi trường lạnh, tối, ẩm ướt và đông đúc, và thường phổ biến hơn ở những khu vực có điều kiện kinh tế xã hội kém. Nguyên nhân là do thiếu hụt dinh dưỡng khiến sức đề kháng của cơ thể suy giảm, làm tăng đáng kể nguy cơ nhiễm trùng liên cầu khuẩn. Sốt thấp khớp xảy ra ở khắp mọi nơi trên đất nước tôi, nhưng phổ biến hơn ở miền Bắc. Chỉ đứng sau miền Đông và miền Trung, và ít phổ biến hơn ở miền Nam. Nghĩa là, bệnh thấp khớp cấp phổ biến hơn ở các vùng ôn đới so với các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Mùa và khí hậu có ảnh hưởng như thế nào đến bệnh sốt thấp khớp?
Thời tiết lạnh hoặc thay đổi khí hậu đột ngột có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh thấp khớp. Bệnh thường xảy ra vào mùa đông lạnh và đầu mùa xuân, tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất là từ tháng 6 đến tháng 11. Y học cổ truyền Trung Quốc cũng cho rằng, khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết lạnh nóng xen kẽ có thể khiến các tác nhân gây bệnh bên ngoài dễ xâm nhập vào cơ thể, xâm nhập vào kinh mạch, lưu lại ở các khớp, gây ứ trệ khí huyết, dẫn đến viêm khớp dạng thấp.
Y học cổ truyền Trung Quốc hiểu bệnh sốt thấp khớp như thế nào?
Y học cổ truyền Trung Quốc cho rằng nguyên nhân gây ra căn bệnh này là do ngoại tà, thể trạng yếu hoặc năng lượng dương quá mức và tiếp xúc nhiều lần với ngoại tà.
(1) Bị các tác nhân gây bệnh bên ngoài tác động, như đã nêu trong Tố vấn (Tố vấn Tí luận thiên): “Phong hàn thấp tam khí tạp chí, hợp nhi vi tí dã” Gió, lạnh và ẩm kết hợp lại với nhau và tạo thành chứng tí. Khi khí hậu thiên nhiên bất thường, nóng lạnh không đều hoặc khi môi trường sống ẩm ướt, các tác nhân gây bệnh bên ngoài sẽ xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh. Mặc dù ba loại tà khí này chiếm ưu thế hơn những loại khác, nhưng chúng thường kết hợp với nhau để gây ra bệnh tật, và phong thường là nguyên nhân đầu tiên gây ra bệnh. Bởi vì phong là tà khí dương, dễ thay đổi, dễ di chuyển, chạy qua các kinh mạch, chảy vào các khớp xương, cản trở khí huyết, từ đó gây ra các triệu chứng như đau khớp, đỏ, sưng, sốt.
(2) Người bệnh thể chất yếu, bị phong tà tấn công. Ví dụ, chương về đột quỵ và thấp khớp trong Kim quỹ yếu lược có ghi: “Mạch thốn khẩu trầm và nhược. Mạch trầm chủ cốt (xương), trong khi mạch nhược chủ gân. Mạch trầm liên quan đến thận, trong khi mạch yếu liên quan đến gan. Mồ hôi chảy ra nước… do đó có tên là thấp khớp”. Người ta còn nói rằng: “Đau khớp và không thể cúi hay duỗi người đều do uống rượu và đổ mồ hôi khi có gió”. Lịch tiết là chỉ các khớp xương, có nghĩa là đau khớp xương là do gan thận hư, vệ dương yếu, tấu lý không kiên cố. Phong tà, ẩm thấp lợi dụng thời cơ xâm nhập, xâm nhập vào các cơ quan nội tạng, tích tụ ở gân, mạch, lưu lại ở các khớp xương gây nên bệnh này.
(3) Người trẻ tuổi khí lực mạnh mẽ, dương khí chiếm ưu thế. Có nhiệt bên trong và chúng bị ảnh hưởng bởi phong hàn thấp. Nhiệt bị tà khí bên ngoài giữ lại và chảy vào các cơ quan nội tạng, cơ và khớp, gây ra chứng đau khớp do nhiệt (nhiệt tí).
Ở giai đoạn cấp tính của bệnh này, nhiệt độc thường chiếm ưu thế hoặc thấp nhiệt là triệu chứng chính. Nguyên nhân là do tà khí bên ngoài xâm nhập vào cơ thể và chuyển thành nhiệt, hoặc nhiệt là do tà khí tích tụ. Nếu nhiệt tà tồn tại lâu ngày sẽ làm tổn hại Khí, tiêu hao Âm, khi đó sẽ xuất hiện triệu chứng Khí hư Âm hư (Khí âm lưỡng hư). Sự phát triển của các yếu tố gây bệnh thường diễn ra từ ngoài vào trong, từ nông vào sâu, từ kinh lạc vào nội tạng. Nếu các yếu tố gây bệnh tích tụ trong da, gân và tĩnh mạch, các nốt sần (kết tiết) dưới da sẽ xuất hiện. Nếu các khớp kinh lạc bị xâm lấn, các khớp sẽ bị đau và không thể uốn cong hoặc duỗi ra được. Nó xâm nhập vào máu và làm tổn thương các mạch máu bên dưới, do đó xuất hiện ban đỏ dưới da. Nếu bệnh tiếp tục phát triển và tấn công các cơ quan nội tạng, những thay đổi ở tim sẽ xảy ra. Ví dụ, trong sách (Tố vấn Tí luận thiên)viết: “Mạch ti bất dĩ, phục cảm vu tà, nội xá vu tâm” Khi mạch đã tê bại (tí) không ngừng, lại cảm thụ bệnh tà, tà khí trú ngụ trong tim, ám chỉ tổn thương tim. Y học cổ truyền Trung Quốc không chỉ thừa nhận rằng bệnh thấp khớp gây tổn thương cho tim mà còn quan sát thấy tổn thương ở hệ thần kinh. Ví dụ, trong {Lạc cấp thiên kim yếu phương – Tặc phong đệ tam} có ghi: “Lịch tiết phong trứ nhân, cửu bất trị giả, linh nhân cốt tiết sa điệt, biến thành điên bệnh, bất khả bất tri” Nếu một người bị sốt thấp khớp và không được điều trị trong thời gian dài, người đó có thể bị bong gân, gãy xương khớp và có thể mắc bệnh động kinh. Đây là điều bạn không thể không biết. Điều này phù hợp với bệnh não thấp khớp, còn chứng múa giật và động kinh thấp khớp được thấy trên lâm sàng cũng thuộc về thể loại này.
Sự khởi phát của bệnh sốt thấp khớp có liên quan đến dinh dưỡng không?
Thiếu hụt dinh dưỡng thường liên quan đến nghèo đói. Một số người cho biết tỷ lệ mắc bệnh thấp khớp là 4:1 giữa người nghèo và người giàu. Tuy nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng cụ thể hoặc thiếu một chất dinh dưỡng nào đó có liên quan đến bệnh thấp khớp. Người ta thường cho rằng mối quan hệ giữa dinh dưỡng và bệnh thấp khớp chủ yếu là do thiếu hụt dinh dưỡng gây ra tình trạng suy nhược cơ thể, giảm khả năng chống chọi và phòng ngừa bệnh tật của cơ thể, dễ bị nhiễm trùng liên cầu khuẩn tái phát, dẫn đến tăng tỷ lệ mắc bệnh thấp khớp.
Bệnh sốt thấp khớp cấp thường gặp ở nam giới hay phụ nữ?
Nam giới và phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh thấp khớp gần như ngang nhau. Tỷ lệ mắc bệnh múa giật và bệnh thấp tim cao hơn ở phụ nữ. Xét về các loại bệnh van tim, hẹp van hai lá phổ biến hơn ở phụ nữ trưởng thành, trong khi trào ngược động mạch chủ phổ biến hơn ở nam giới.
Bệnh sốt thấp khớp có phải do liên cầu khuẩn tan máu nhóm A gây ra trực tiếp không?
Mặc dù phong thấp nhiệt có liên quan chặt chẽ đến nhiễm liên cầu khuẩn tan máu nhóm A, nhưng nó không phải do nhiễm trực tiếp liên cầu khuẩn gây ra. Bởi vì sốt thấp khớp không xảy ra cùng lúc với nhiễm trùng liên cầu khuẩn mà xảy ra khoảng 1 đến 4 tuần sau khi nhiễm trùng. Không tìm thấy liên cầu khuẩn tan máu trong nuôi cấy máu hoặc mô tổn thương của bệnh nhân sốt thấp khớp. Hiện nay, người ta thường cho rằng bệnh thấp khớp là hậu quả của phản ứng dị ứng của cơ thể bệnh nhân với liên cầu khuẩn tan máu. Sau khi nhiễm liên cầu khuẩn, độc tố và chất chuyển hóa của nó trở thành kháng nguyên và cơ thể con người sản sinh ra kháng thể tương ứng. Kháng nguyên và kháng thể kết hợp trong mô liên kết, gây viêm. Trong những năm gần đây, người ta phát hiện ra rằng liên cầu khuẩn tan máu có chứa kháng nguyên chéo tương tự như kháng nguyên trong cơ tim và van tim của con người. Một số người có phản ứng đặc biệt sản sinh ra kháng thể sau khi nhiễm liên cầu khuẩn, kháng thể này không chỉ tác động lên liên cầu khuẩn mà còn tác động lên cơ tim và van tim của con người, gây ra phản ứng viêm và sốt thấp khớp.
Bạn có bị sốt thấp khớp khi bị nhiễm liên cầu khuẩn không?
Khi một người bị nhiễm liên cầu khuẩn, không phải ai cũng bị sốt thấp khớp. Nhiễm trùng liên cầu khuẩn có thể gây ra bệnh thấp khớp phải là nhiễm trùng đường hô hấp trên. Mặc dù vậy, tỷ lệ mắc bệnh thấp khớp cấp tính sau nhiễm trùng đường hô hấp trên do liên cầu khuẩn chỉ là 0,3% ở các trường hợp lẻ tẻ và 3% ở các vùng lưu hành bệnh. Nhiễm trùng liên cầu khuẩn ở da, chẳng hạn như chốc lở, không gây ra bệnh thấp khớp. Nguyên nhân có thể là do các loại vi khuẩn khác nhau hoặc một số thành phần trong da có thể ức chế hoạt động tan máu của liên cầu khuẩn và kháng nguyên liên cầu khuẩn. Nhiễm trùng da sâu như viêm mô tế bào và bệnh ban đỏ sẽ không gây ra bệnh thấp khớp. Nguyên nhân của hiện tượng này vẫn chưa được hiểu rõ. Ngoài ra, nhiễm trùng liên cầu khuẩn phải kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. Trong vòng 9 ngày sau khi nhiễm trùng đường hô hấp trên do liên cầu khuẩn, penicillin (Thanh môi tố) có thể ngăn ngừa sự xuất hiện của bệnh thấp khớp cấp tính. Việc sử dụng sulfonamid (Quảng an) có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn liên cầu nhưng không thể ngăn ngừa sự xuất hiện của bệnh thấp khớp cấp tính.
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh thấp khớp cấp tính là gì?
Chẩn đoán sốt thấp khớp cấp tính tương đối dễ đối với các trường hợp có triệu chứng lâm sàng điển hình, nhưng khó đối với các trường hợp nhẹ và không điển hình. Nguyên nhân là do hiện nay chưa có phương pháp kiểm tra cụ thể. Về mặt lâm sàng, chúng tôi chỉ có thể phân tích các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm một cách toàn diện. Tiêu chuẩn sửa đổi năm 1965 của Jones hiện đang được sử dụng.
Để ứng phó với tình trạng sốt thấp khớp phổ biến ở nước ngoài trong những năm gần đây, Hội Tim mạch Hoa Kỳ đã sửa đổi tiêu chuẩn Jones vào năm 1992. Tiêu chuẩn sửa đổi mới chủ yếu nhằm mục đích chẩn đoán sốt thấp khớp ban đầu. Tiêu chuẩn sửa đổi mới nhất cũng bổ sung thêm những nội dung sau, cụ thể là ba trường hợp sau đây không cần thực hiện nghiêm ngặt tiêu chuẩn chẩn đoán, cụ thể: ① Người bị múa giật; ② Viêm tim tiềm ẩn hoặc phát triển chậm; ③ Người có tiền sử bệnh thấp khớp hoặc bệnh thấp tim hiện tại có nguy cơ cao tái phát sốt thấp khớp khi tái nhiễm liên cầu khuẩn beta tan máu nhóm A.
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh sốt thấp khớp là gì?
Tiêu chuẩn Jones nêu trên, được sửa đổi vào năm 1992, đã tiến xa hơn so với các tiêu chuẩn sửa đổi trước đó và đặc biệt phù hợp với những bệnh nhân mới mắc bệnh thấp khớp cấp và mắc bệnh thấp khớp cấp trong một số trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, không có chỉ số chẩn đoán nào khác được đề xuất cho một số trường hợp sốt thấp khớp nhẹ, tái phát không điển hình trong những năm gần đây, rất khó chẩn đoán. Trước đây, một số học giả nước ngoài đã đề xuất xây dựng tiêu chuẩn chẩn đoán “Khả năng phong thấp nhiệt” làbệnh thấp khớp cấp có thể xảy ra, nhưng vẫn chưa có lời giải thích cụ thể nào được đưa ra. Dựa trên nhiều năm kinh nghiệm làm việc lâm sàng của tác giả, phương án phán đoán “Khả năng phong thấp nhiệt ” “có thể mắc bệnh thấp khớp cấp” sau đây đã đạt được kết quả tốt trong việc giảm thiểu chẩn đoán sai. Những điểm chính như sau:
Tiêu chuẩn “có khả năng mắc bệnh thấp khớp cấp”: chủ yếu dành cho các trường hợp không điển hình, nhẹ và tái phát. Nếu bệnh nhân có một trong những triệu chứng sau và loại trừ các bệnh khác (đặc biệt là viêm nội tâm mạc nhiễm trùng bán cấp, lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, lao, v.v.), có thể đưa ra chẩn đoán “có thể bị sốt thấp khớp”.
(1) Bệnh nhân mắc bệnh van tim thấp khớp có bất kỳ tình trạng nào sau đây
① Rối loạn chức năng tim tiến triển hoặc suy tim kháng trị xảy ra trong thời gian ngắn mà không có lý do nào khác hoặc bệnh nhân không dung nạp thuốc dương địa hoàng (digitalis). ② Đánh trống ngực tiến triển và tình trạng khó thở ngày càng nặng hơn, kèm theo sốt, đau khớp hoặc chảy máu cam. ③ Mới khởi phát nhịp tim nhanh, loạn nhịp tim, tiếng tim đầu tiên yếu đi, hoặc tiếng thổi tim thay đổi rõ rệt, hoặc xuất hiện tiếng thổi tim mới, hoặc tim to dần; Các tình huống trên đi kèm với sự xuất hiện của các chỉ số miễn dịch đáng kể hoặc các phản ứng giai đoạn cấp tính. ④ Mới xuất hiện tình trạng hồi hộp và khó thở, kèm theo những thay đổi đáng kể trên điện tâm đồ, siêu âm tim hoặc chụp X-quang; hoặc kèm theo sự xuất hiện của các chỉ số miễn dịch đáng kể hoặc các phản ứng giai đoạn cấp tính. ⑤ Triệu chứng tim mới xuất hiện, cải thiện sau khi điều trị chống thấp khớp.
(2) Sau khi nhiễm liên cầu khuẩn đường hô hấp trên, một trong các tình trạng sau đây xảy ra:
① Viêm khớp di chuyển và viêm khớp nhiều lần kèm theo hồi hộp, thở nhanh, tình trạng bệnh nặng dần. ② Đau khớp di chuyển nhiều lần kèm theo sốt, hồi hộp, khó thở và phản ứng giai đoạn cấp tính, không hiệu quả sau 2 tuần điều trị bằng penicillin. ③ Các triệu chứng tim mạch ngày càng nặng hơn kèm theo xuất hiện các chất phản ứng giai đoạn cấp tính và các chỉ số miễn dịch đáng kể; hoặc kèm theo những thay đổi đáng kể trên điện tâm đồ, siêu âm tim hoặc chụp X-quang.
Cần nhấn mạnh rằng khi áp dụng các tiêu chuẩn trên, cần kết hợp với tình trạng lâm sàng, đặc biệt là tình trạng cụ thể của bệnh nhân để phân tích toàn diện, chẩn đoán phân biệt các bệnh nghi ngờ trước khi có thể chẩn đoán bệnh thấp khớp cấp.
Các phương pháp và bước xác định tính hoạt động của bệnh thấp khớp là gì?
Cho đến nay, việc xác định hoạt động của bệnh thấp khớp vẫn là một vấn đề khó khăn.
Sau một thời gian điều trị, hoạt động của bệnh giảm đi hoặc ở một số thể lâm sàng đặc biệt như thể kéo dài, thể dưới lâm sàng, việc xác định hoạt động của bệnh thấp khớp không chỉ có ý nghĩa trong chẩn đoán mà còn có ý nghĩa trong hướng dẫn điều trị và đánh giá tiên lượng.
Các chỉ số truyền thống như tốc độ lắng hồng cầu và protein C phản ứng không đáp ứng được nhu cầu thực tế. Vì tốc độ lắng hồng cầu thường giảm nhanh xuống mức bình thường trong suy tim hoặc sau khi điều trị bằng hormone, và protein C phản ứng chỉ dương tính tạm thời trong giai đoạn đầu của bệnh, điều này cho thấy chúng có ý nghĩa hạn chế trong việc đánh giá hoạt động thấp khớp.
Sau đây là các bước và phương pháp phán đoán có thể được sử dụng:
① Có bị nhiễm trùng liên cầu khuẩn đường hô hấp trên trong thời gian gần đây không.
② Tìm hiểu chi tiết về tiền sử bệnh tật và tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng để phát hiện tình trạng viêm khớp nhẹ hoặc đau khớp.
③Theo dõi nhiệt độ cơ thể một cách có hệ thống để phát hiện sốt (đặc biệt là sốt nhẹ).
④ Kiểm tra xem có viêm cơ tim không, chú ý xem tiếng tim ban đầu, nhịp tim, nhịp điệu tim và bản chất tiếng thổi tim có thay đổi rõ rệt hay xuất hiện tiếng thổi bệnh lý mới không. Nếu tiếng thổi tâm thu lớn hơn độ II hoặc xuất hiện tiếng thổi tâm trương mới thì điều này có ý nghĩa quan trọng hơn.
⑤ Chú ý xem có tình trạng suy giảm chức năng tim trong thời gian ngắn hay suy tim không rõ nguyên nhân hay không.
⑥ Khi các chỉ số xét nghiệm như tốc độ lắng hồng cầu và protein C phản ứng âm tính, cần thực hiện các xét nghiệm khác. Điện di glycoprotein (hoặc mucin) α-1 hoặc α-2 có thể tăng cao. Trường hợp trước biểu thị mức độ hoạt động của bệnh tăng lên, trong khi trường hợp sau biểu thị mức độ hoạt động kéo dài, mãn tính hoặc bệnh vẫn đang trong giai đoạn phục hồi. Việc phát hiện CIC cũng có thể phản ánh chính xác hoạt động của bệnh thấp khớp; khi hoạt động thấp khớp xảy ra và không có bệnh miễn dịch nào khác cùng lúc, CIC có thể tiếp tục tăng. Nếu điều kiện cho phép, nên đo kháng thể chống cơ tim và xét nghiệm PCA. Kháng thể chống cơ tim có thể dương tính trong giai đoạn cấp tính hoặc mãn tính khi hoạt động thấp khớp tăng lên. Xét nghiệm PCA có độ đặc hiệu cao đối với sự hiện diện của phản ứng miễn dịch tế bào trong giai đoạn hoạt động của bệnh thấp khớp cấp.
⑦ Sau khi thực hiện các bước trên, nếu còn nghi ngờ lớn về hoạt động thấp khớp, có thể tiến hành điều trị chống thấp khớp trong hai tuần; Nếu tình trạng cải thiện, điều đó cho thấy sự hiện diện của hoạt động thấp khớp.
Những thay đổi bệnh lý của bệnh sốt thấp khớp là gì?
Biến đổi bệnh lý của bệnh sốt thấp khớp là tình trạng viêm của mô liên kết, đặc trưng bởi các thể thấp khớp (thể Aschoff). Quá trình bệnh được chia thành ba giai đoạn:
(1) Giai đoạn xuất tiết: Các sợi collagen trong mô liên kết sưng lên và tách ra, hình thành thoái hóa và hoại tử dạng nhầy và dạng tơ huyết, có sự thâm nhiễm tế bào viêm không đặc hiệu và xuất tiết thanh dịch. Các tổn thương có thể kéo dài từ 1 đến 2 tháng, sau đó hồi phục hoặc chuyển sang giai đoạn 2, 3.
(2) Giai đoạn tăng sinh: Mô liên kết tại chỗ tăng sinh tạo thành u hạt thấp khớp hoặc nốt thấp khớp, tức là các tế bào thấp khớp, tế bào lympho và tế bào plasma tập trung xung quanh các ổ hoại tử dạng tơ huyết. Các nốt thấp khớp là cơ sở bệnh lý để chẩn đoán bệnh sốt thấp khớp, nhưng liệu chúng có phải là đặc điểm của hoạt động sốt thấp khớp hay không vẫn còn gây tranh cãi. Giai đoạn này có thể kéo dài từ 3 đến 4 tháng.
(3) Giai đoạn cứng lại: Các tế bào thâm nhiễm giảm đi, mô xơ tăng sinh và hình thành sẹo trong mô hạt.
Do bệnh này hay tái phát nên ba giai đoạn tổn thương trên thường tồn tại xen kẽ nhau. Các tổn thương ở mỗi giai đoạn cũng có mức độ khác nhau ở các cơ quan bị tổn thương. Nếu dịch tiết là đặc điểm chính ở khớp và màng ngoài tim, có thể xảy ra tình trạng viêm khớp và viêm màng ngoài tim. Sau đó, dịch tiết có thể được hấp thu hoàn toàn và không xảy ra biến dạng khớp sau thời gian viêm khớp hoạt động. Trong một số trường hợp, khi dịch tiết màng ngoài tim không được hấp thu hoàn toàn, nó có thể trở nên có tổ chức và gây ra tình trạng dính một phần. Ở cơ tim và nội tâm mạc (bao gồm cả van tim), tổn thương chủ yếu là tăng sinh, mô sẹo hình thành sau. Tổn thương tăng sinh và dính van tim thường có thể dẫn đến bệnh van tim thấp khớp mãn tính, có ý nghĩa lâm sàng quan trọng.
Biểu hiện lâm sàng của bệnh sốt thấp khớp cấp tính là gì?
Biểu hiện lâm sàng của bệnh sốt thấp khớp cấp rất phức tạp nhưng vẫn có những quy luật nhất định. Một số biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh thấp khớp cấp tính và có ý nghĩa quyết định trong chẩn đoán. Chúng được gọi là các biểu hiện chính hoặc dấu hiệu chính, bao gồm viêm cơ tim, viêm khớp, múa giật, các nốt dưới da và ban đỏ hình khuyên. Mặc dù các biểu hiện khác cũng thường xảy ra nhưng chúng không đặc hiệu và chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong chẩn đoán. Chúng được gọi là biểu hiện thứ phát hoặc triệu chứng thứ phát, bao gồm đau khớp, sốt, bệnh tim thấp khớp và tiền sử bệnh lý. Một số xét nghiệm trong phòng thí nghiệm, chẳng hạn như khoảng PR kéo dài trên điện tâm đồ, sự hiện diện của các chất phản ứng cấp tính trong máu, bao gồm tăng tốc độ lắng hồng cầu và protein C phản ứng dương tính, cũng có thể là biểu hiện thứ phát.
Sốt thấp khớp cấp tính có thể được chia thành ba giai đoạn theo thứ tự khởi phát:
(1) Giai đoạn tiền triệu của nhiễm trùng liên cầu khuẩn: biểu hiện bằng các nhiễm trùng đường hô hấp trên như viêm amidan, viêm họng.
(2) Thời gian ủ bệnh: Có thời gian ủ bệnh, thuyên giảm và ngủ đông giữa nhiễm trùng đường hô hấp trên và cơn thấp khớp cấp tính, kéo dài khoảng 1 đến 4 tuần. Bệnh nhân ở giai đoạn này không có triệu chứng lâm sàng.
(3) Giai đoạn cấp tính của bệnh thấp khớp: Hầu hết các trường hợp đều khởi phát cấp tính, nhưng cũng có thể diễn biến chậm, thậm chí không có triệu chứng và tiến triển âm thầm. Các triệu chứng phổ biến bao gồm sốt, đổ mồ hôi quá nhiều, mệt mỏi, chán ăn, sụt cân và các triệu chứng của các cơ quan bị tổn thương. Nếu bị viêm tim, có thể xuất hiện tình trạng hồi hộp, khó thở, tức ngực, thậm chí là xanh xao, lo lắng và cáu kỉnh. Khi bị viêm khớp, bạn có thể bị đỏ và sưng khớp, đau di chuyển và khó vận động. Tổn thương da chủ yếu biểu hiện dưới dạng các nốt sần dưới da và ban đỏ hình khuyên. Trẻ em thường có các triệu chứng như chảy máu mũi và đau bụng.
Các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để chẩn đoán bệnh sốt thấp khớp là gì và giá trị lâm sàng của chúng là gì?
(1) Xét nghiệm máu thường quy: Trong giai đoạn cấp tính, số lượng bạch cầu tăng nhẹ đến trung bình, số lượng bạch cầu trung tính tăng nhẹ. Có thể bị thiếu máu nhẹ.
(2) Tốc độ lắng hồng cầu (ESR): Ngoại trừ chứng múa giật và suy tim, ESR đều tăng tốc. Tốc độ lắng hồng cầu tăng nhanh đáng kể, thường tỷ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của cơn đau.
(3) Protein C phản ứng (CRP): Protein C phản ứng thường dương tính trong vòng 2 tuần sau khi khởi phát bệnh thấp khớp cấp tính và trở thành âm tính sau 1 tháng. Protein C phản ứng tỉ lệ thuận với mức độ nghiêm trọng của bệnh. Nó biến mất trong thời kỳ tiềm ẩn của bệnh thấp khớp, và sự xuất hiện trở lại của nó là dấu hiệu tái phát của bệnh thấp khớp. Xét nghiệm này và tốc độ lắng hồng cầu không phải là chỉ số cụ thể để chẩn đoán bệnh thấp khớp cấp tính, nhưng chúng có thể giúp xác định xem bệnh có đang hoạt động hay không.
(4) Mucin (MPT): Có thể thấy mucin tăng lên khi hoạt động thấp khớp xảy ra.
(5) Huyết thanh kháng liên cầu khuẩn tan huyết O (ASO): Xét nghiệm này có thể chứng minh sự hiện diện của nhiễm trùng tiên phong liên cầu khuẩn và là phản ứng đại diện. Nhưng xét nghiệm anti-O dương tính không chỉ ra bạn có bị sốt thấp khớp hay không.
(6) Immunoglobulin: Trong giai đoạn hoạt động của bệnh thấp khớp, nồng độ immunoglobulin G, M và A (IgG, IgM, IgA) trong máu có thể tăng lên và trở lại bình thường trong giai đoạn phục hồi.
Bệnh sốt thấp khớp cấp tính diễn biến như thế nào và tiên lượng ra sao?
Quá trình của bệnh thấp khớp cấp tính thường kéo dài trong vài tuần đến vài tháng, thường là 2 đến 5 tuần. Quá trình của bệnh có thể được chia thành bốn loại:
(1) Quá trình cấp tính đơn giản: Cơ thể con người có sức đề kháng tốt, kết hợp với điều trị hiệu quả, có thể kiểm soát kịp thời bệnh thấp khớp cấp mới phát, không tái phát hoặc di chứng bệnh van tim.
(2) Các đợt tái phát: Bệnh tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, sau đó là giai đoạn không hoạt động và tái phát sau đó. Vào thời điểm đó, bệnh tim dần trở nên trầm trọng hơn.
(3) Quá trình bùng phát cấp tính: Sức đề kháng của cơ thể người kém hoặc các yếu tố gây bệnh mạnh, bệnh nhân sẽ biểu hiện các triệu chứng như sốt cao, viêm cơ tim nặng, suy tim. Bệnh này phổ biến hơn ở trẻ em và có tiên lượng nghiêm trọng.
(4) Diễn biến tiềm ẩn: Triệu chứng của bệnh thấp khớp cấp không rõ ràng, tiến triển âm thầm, dần dần dẫn đến bệnh van tim.
Sốt thấp khớp cấp tính có xu hướng tái phát và tiên lượng xấu, điều này liên quan chặt chẽ đến việc bệnh nhân có được điều trị kịp thời và hợp lý hay không và có áp dụng các biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa tái phát hay không. Đối với đợt tấn công đầu tiên, việc điều trị tích cực và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả sau khi bệnh khởi phát thường có thể ngăn ngừa bệnh phát triển thêm và giúp bệnh nhân phục hồi. Bệnh nhân bị viêm tim nặng có tiên lượng xấu. Nếu bệnh thấp khớp tái phát, tổn thương tim sẽ dần trở nên trầm trọng hơn và có thể phát triển thành bệnh van tim thấp khớp mãn tính.
Nguyên tắc điều trị bệnh thấp khớp cấp tính là gì?
Nguyên tắc điều trị như sau:
(1) Điều trị chung chủ yếu dựa trên phục hồi lâm sàng.
(2) Sử dụng kháng sinh để kiểm soát việc điều trị nhiễm trùng liên cầu khuẩn.
(3) Điều trị bằng aspirin và hormone để ức chế hoạt động thấp khớp.
(4) Ngăn ngừa tái phát.
Phương pháp điều trị chung cho bệnh sốt thấp khớp cấp tính là gì?
Trong giai đoạn cấp tính của bệnh sốt thấp khớp cấp tính, cần nghỉ ngơi yên tĩnh và tăng cường chăm sóc, chẳng hạn như giữ ấm, tránh lạnh và ẩm. Đối với những người bị viêm cơ tim, ngay cả khi các triệu chứng lâm sàng biến mất và kết quả xét nghiệm trở lại bình thường, cho thấy hoạt động thấp khớp đã được kiểm soát, họ vẫn cần tiếp tục chú ý nghỉ ngơi và tăng dần hoạt động. Nếu không có dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy tim bị tổn thương, bạn có thể ra khỏi giường và đi lại sau khi các triệu chứng lâm sàng biến mất và các xét nghiệm trở lại bình thường. Chế độ ăn nên giàu protein, thực phẩm dễ tiêu hóa và có thể bổ sung thêm vitamin B và C.
Làm thế nào để kiểm soát nhiễm trùng liên cầu khuẩn trong bệnh thấp khớp cấp tính?
Trong giai đoạn cấp tính của bệnh thấp khớp cấp, cần phải dùng thuốc kháng sinh bất kể có xác nhận nhiễm trùng liên cầu khuẩn ở họng hay không. Penicillin là lựa chọn đầu tay, liều lượng 800.000 đến 1,2 triệu đơn vị mỗi ngày, chia thành 2 đến 3 lần tiêm bắp, thường dùng trong 10 đến 14 ngày. Đối với những người bị dị ứng với penicillin, có thể dùng thay thế bằng erythromycin 200-250 mg uống, 4 lần/ngày, trong 10 ngày. Kháng sinh Sulfonamide không được khuyến cáo sử dụng để kiểm soát nhiễm trùng liên cầu khuẩn.
Sử dụng chế phẩm axit salicylic để chống thấp khớp như thế nào?
Sử dụng thuốc chống thấp khớp kịp thời và hợp lý là một phần quan trọng trong điều trị bệnh thấp khớp. Liều lượng thuốc phải đủ và liệu trình điều trị phải đủ để ngăn chặn hoạt động của bệnh thấp khớp. Chế phẩm axit salicylic là loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất trong thực hành lâm sàng và có tác dụng hạ sốt, giảm đau và chống viêm đối với bệnh thấp khớp. Trong vòng 24 đến 48 giờ sau khi dùng thuốc này, bệnh nhân bị sốt thấp khớp cấp tính sẽ thấy thân nhiệt giảm, giảm sưng và đau khớp, cải thiện khả năng vận động, nhịp tim chậm hơn và tốc độ lắng hồng cầu giảm. Bệnh nhân sẽ cảm thấy các triệu chứng của mình được cải thiện đáng kể. Do đó, loại thuốc này là lựa chọn hàng đầu để điều trị bệnh thấp khớp. Tuy nhiên, vì không thể loại bỏ được những thay đổi bệnh lý nên nó không có tác dụng phòng ngừa rõ ràng đối với sự hình thành các bệnh van tim.
(1) Axit acetylsalicylic (aspirin): loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất. Người lớn: 6-8 g/ngày; trẻ em: 0,1-0,15 g/kg thể trọng/ngày, uống chia 3-4 lần.
(2) Natri salicylat: Người lớn 6-8g/ngày. Trẻ em: 0,1-0,15 g/kg thể trọng/ngày, uống chia làm 3-4 lần.
Sau khi các triệu chứng lâm sàng được kiểm soát hoặc khi xảy ra phản ứng ngộ độc nhẹ, chẳng hạn như ù tai, có thể giảm liều từ 1/3 đến 1/2 tùy theo tình trạng bệnh và duy trì trong 6 đến 8 tuần.
Các chế phẩm axit salicylic thường gây ra các triệu chứng kích ứng dạ dày như buồn nôn và nôn, chán ăn, đau bụng trên và chảy máu dạ dày. Vì vậy, nên uống sau bữa ăn. Nếu cần thiết, có thể thêm thuốc kháng axit như nhôm hydroxit và magnesi trisilicat. Bạn cũng có thể uống một lượng nhỏ sữa hoặc sữa bột cùng lúc để bảo vệ niêm mạc dạ dày. Tuy nhiên, không nên sử dụng natri bicarbonate vì nó có thể làm giảm sự hấp thu các chế phẩm axit salicylic ở đường tiêu hóa và làm tăng bài tiết qua thận, còn các ion natri có thể gây ra và làm trầm trọng thêm các triệu chứng của suy tim sung huyết. Khi sử dụng chế phẩm axit salicylic với liều lượng quá cao, có thể xảy ra các tác dụng độc hại như ù tai, điếc, chóng mặt, nôn mửa, tăng thở (nhiễm toan), chảy máu (thời gian prothrombin kéo dài) và lú lẫn. Trẻ em có nguy cơ mắc bệnh thấp khớp cao hơn nên các chế phẩm có chứa axit salicylic được sử dụng rộng rãi. Ngoài ra, trẻ em không thể phản ứng kịp thời với các triệu chứng ngộ độc nên dễ xảy ra ngộ độc axit salicylic cấp tính và cần thận trọng khi sử dụng. Các chế phẩm axit salicylic đôi khi có thể gây phát ban dị ứng, phù mạch và thiếu máu bất sản. Chống chỉ định ở những bệnh nhân đang bị loét hoặc có tiền sử chảy máu gần đây.
Mặc dù viên nén aspirin bao tan trong ruột không gây kích ứng dạ dày nhưng khả năng hấp thụ dạng bào chế này ở ruột vẫn chưa chắc chắn và khó kiểm soát liều dùng. Cần thận trọng khi sử dụng trên lâm sàng.
Thuốc không steroid có tác dụng chống thấp khớp như thế nào và cách sử dụng ra sao?
Các chế phẩm không chứa steroid là một thế lực mới nổi lên trong 30 năm qua và sự đa dạng của chúng rất bắt mắt. Sự xuất hiện của chúng đã phá vỡ thế độc quyền của aspirin trong lĩnh vực chống thấp khớp trong một trăm năm. Mặc dù những loại thuốc này không hiệu quả bằng corticosteroid trong việc ức chế viêm, nhưng chúng có rất ít tác dụng phụ và hiện đang được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Thuốc này chủ yếu được sử dụng cho những người không dung nạp được chế phẩm axit salicylic.
(1) Phenylbutazone: 0,1-0,2 g, ngày 3 lần, uống. Nếu không thấy hiệu quả sau 1 tuần sử dụng, nên ngừng thuốc. Dễ gây ra tình trạng giảm bạch cầu hạt. Số lượng bạch cầu cần được theo dõi chặt chẽ trong quá trình dùng thuốc. Nếu dưới 4×109/L (4000/mm3), phải ngừng thuốc ngay lập tức. Ngoài ra, thuốc còn có thể gây phù nề nên cần thận trọng khi dùng cho những bệnh nhân có chức năng tim kém.
(2) Hydroxyphenylbutazone: 0,1g, ngày 3 lần, uống. So với phenylbutazone, thuốc này ít gây kích ứng đường tiêu hóa hơn.
(3) Chlorfenapyr (thuốc chống thấp khớp): 0,2-0,4g, ngày 3 lần, uống. Có ít tác dụng phụ hơn, bao gồm buồn nôn và nôn, chán ăn, chóng mặt và đau đầu, đôi khi là phát ban dị ứng và tổn thương thận.
(4) Indomethacin: 75-125 mg, uống 3 lần/ngày. Có nhiều tác dụng phụ. Các triệu chứng bao gồm chóng mặt, nhức đầu, chán ăn, buồn nôn và nôn, rối loạn tâm thần, v.v. Bệnh nhân có tiền sử loét nên thận trọng khi sử dụng. Để giảm tác dụng phụ ở đường tiêu hóa, có thể dùng thuốc cùng với thức ăn.
Indomethacin đã được bào chế thành thuốc đạn, mỗi liều 50 mg, có thể đặt vào hậu môn. Thuốc không chỉ được hấp thu nhanh, có tác dụng hạ sốt, giảm đau tốt mà còn tránh gây kích ứng đường tiêu hóa.
(5) Clorphenamin clorid: 0,25g, ngày 3 đến 4 lần, uống. Tác dụng chống viêm của nó lớn hơn indomethacin, nhưng lại gây kích ứng mạnh cho đường tiêu hóa nên không được khuyến khích dùng cho những bệnh nhân bị loét.
(6) Fluphenazine: 100-200 mg, 3 lần/ngày, uống. Tác dụng chống viêm mạnh hơn aspirin. Tác dụng phụ chủ yếu là phản ứng đường tiêu hóa, như buồn nôn, nôn, chán ăn, v.v.
(7) Ibuprofen: 0,4g, ngày 3 đến 4 lần, uống, liều tối đa hàng ngày có thể đạt 2,4g. Tác dụng chống viêm tương tự như indomethacin, với ưu điểm là được dung nạp tốt khi sử dụng lâu dài và hiếm khi gây ra tác dụng phụ. Nó đặc biệt có giá trị đối với những bệnh nhân cần dùng thuốc trong thời gian dài.
(8) Ketoprofen: 0,15-0,2 g, uống 3 lần/ngày. Thuốc này đặc biệt hiệu quả đối với bệnh viêm khớp do gút.
(9) Fenbid: 300-600 mg, ngày 2 lần, uống. Đây là viên nang giải phóng kéo dài ibuprofen. Uống một lần và tác dụng kéo dài trong 12 giờ. Thuốc này dễ sử dụng và hiệu quả ổn định hơn so với thuốc viên ibuprofen.
(10) Naproxen: 0,25g, uống 2 lần/ngày. Có thể cân nhắc sử dụng cho những bệnh nhân không thể dung nạp điều trị bằng indomethacin. Khi liều lượng quá lớn (hơn 10 gam mỗi ngày), thuốc không thể được ruột hấp thụ. Tác dụng phụ: Chủ yếu gây khó tiêu.
(11) Sulfonat: 0,1-0,2 g, ngày 2 lần, uống. Thuốc này hiệu quả hơn ibuprofen và có ít tác dụng phụ ở đường tiêu hóa hơn so với aspirin có cùng liều lượng.
Sử dụng hormone để kiểm soát hoạt động thấp khớp như thế nào?
Glucocorticoid (gọi tắt là hormone) có thể thay đổi phản ứng của cơ thể, ức chế quá trình tiết dịch viêm và làm giảm các thay đổi bệnh lý. Chúng tốt hơn các chế phẩm axit salicylic trong việc kiểm soát hoạt động thấp khớp, đặc biệt là viêm tim. Tuy nhiên, vẫn chưa có bằng chứng chắc chắn nào cho thấy liệu nó có thể ngăn ngừa được bệnh van tim mãn tính hay không.
(1) Prednisone: Người lớn 30-60 mg/ngày, trẻ em 1-2 mg/kg thể trọng/ngày, uống chia 3-4 lần. Sau khi các triệu chứng và dấu hiệu cơ bản đã biến mất, liều dùng có thể giảm dần 5 đến 10 mg sau mỗi 5 đến 7 ngày cho đến khi đạt liều duy trì 5 đến 10 mg mỗi ngày.
(2) Dexamethasone (flumethasone 0,75-1 mg. Đối với bệnh nhân nặng, 5-10 mg, 3-4 lần một ngày, tiêm bắp. Chuyển sang dùng đường uống sau khi kiểm soát được các triệu chứng.
(3) Hydrocortisone: Đối với bệnh nhân viêm cơ tim nặng, người lớn dùng 200-300 mg/ngày, trẻ em dùng 4-8 mg/kg thể trọng/ngày, truyền tĩnh mạch chậm.
Các loại thuốc trên sẽ có hiệu quả sớm hay muộn tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Nhìn chung, liều dùng sẽ giảm sau 4 đến 6 tuần và ngừng dùng trong vòng 12 tuần. Nếu bệnh thấp khớp vẫn chưa được kiểm soát, có thể sử dụng 2 đến 3 liệu trình điều trị. Để biết liều lượng, phương pháp giảm liều và liệu trình điều trị, vui lòng tham khảo Bảng 3.
Glucocorticoid có nhiều tác dụng phụ. Các tác dụng phụ chính bao gồm béo phì, rậm lông, mụn trứng cá, phù nề, tăng huyết áp, tiểu đường, hạ kali máu, gây ra hoặc làm trầm trọng thêm bệnh loét, đau đầu, mất ngủ, kích động, v.v. Dùng thuốc càng lâu thì các tác dụng phụ sẽ càng rõ ràng. Muối kali cần được bổ sung đầy đủ trong quá trình dùng thuốc. Kali clorua 1 đến 3 g uống mỗi ngày. Cần chú ý đến khả năng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát khác. Những người bị bệnh loét, tiểu đường hoặc tăng huyết áp nên thận trọng khi sử dụng.
Sau khi ngừng sử dụng hormone, một số ít bệnh nhân có thể gặp phải “hiện tượng hồi phục” như sốt nhẹ, đau khớp và tăng tốc độ lắng hồng cầu. Để phòng ngừa hoặc làm giảm hiện tượng tái phát, có thể bổ sung chế phẩm acid salicylic trước khi ngừng thuốc hoặc nhỏ hormon vỏ thượng thận 3 tuần trước khi ngừng thuốc, mỗi tuần 1 lần, mỗi lần 25 đơn vị hoặc tiêm bắp 25 đơn vị sau khi ngừng thuốc 3 ngày liên tiếp.
Bệnh thấp khớp có dễ tái phát không?
Bệnh sốt thấp khớp dễ tái phát. Nếu không được phòng ngừa, 60% số trường hợp sẽ tái phát trong vòng 10 năm. Trong số các trường hợp tái phát, hầu hết các lần tái phát xảy ra trong vòng 1 năm kể từ khi khởi phát ban đầu và tái phát cũng có thể xảy ra ở tuổi trưởng thành. Tổn thương ở tim sẽ ngày càng trầm trọng hơn sau mỗi lần tái phát. Nguyên nhân chính gây tái phát bệnh thấp khớp là do tái nhiễm liên cầu khuẩn, nhưng cũng có những yếu tố di truyền và thể chất. Thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tái phát có thể ngăn ngừa đáng kể sự tiến triển và xấu đi của bệnh thấp tim. Có người đã quan sát 158 bệnh nhân bị sốt thấp khớp trong vòng 3 đến 9 năm từ năm 1956 đến năm 1965. Tỷ lệ tái phát ở những người thực hiện đầy đủ biện pháp phòng ngừa là 1,2%, trong khi tỷ lệ tái phát ở những người không tuân thủ đầy đủ việc dùng thuốc phòng ngừa là 11,7%. Bất kể có viêm tim hay không, bất kỳ ai được chẩn đoán mắc bệnh thấp khớp cấp tính đều nên thực hiện các biện pháp phòng ngừa để ngăn ngừa tái phát.
Phải mất bao lâu để ngăn ngừa bệnh thấp khớp tái phát?
Không có giới hạn rõ ràng về thời gian cần thiết để ngăn ngừa bệnh thấp khớp tái phát. Trong thời gian phòng ngừa chung của bệnh thấp khớp cấp, đối với những người không bị viêm tim, thời gian dùng thuốc nên ít nhất là 5 năm sau cơn cuối cùng và tốt nhất là đến năm 18 tuổi. Đối với những bệnh nhân bị viêm tim không bị bệnh van tim sau khi điều trị, nên sử dụng thuốc phòng ngừa cho đến năm 20 tuổi. Đối với những người bị bệnh van tim do thấp khớp, nên thực hiện các biện pháp phòng ngừa cho đến ít nhất là năm 20 tuổi và nếu có thể, nên tiếp tục phòng ngừa trong suốt cuộc đời.
Làm thế nào để phòng ngừa bệnh thấp khớp?
Vì bệnh thấp khớp có liên quan chặt chẽ đến liên cầu khuẩn nên việc ngăn ngừa nhiễm trùng liên cầu khuẩn là một phần quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh thấp khớp. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm những khía cạnh sau.
(1) Tăng cường chăm sóc sức khỏe, giáo dục sức khỏe cho trẻ em, thanh thiếu niên, thực hiện rèn luyện thân thể, nâng cao thể lực, sức đề kháng với bệnh tật. Chú ý vệ sinh sinh hoạt, thực hiện các biện pháp phòng tránh rét, ẩm theo tình hình địa phương, chủ động phòng ngừa nhiễm khuẩn đường hô hấp trên.
(2) Các bệnh nhiễm trùng liên cầu khuẩn cấp tính như sốt ban đỏ, viêm amidan cấp, viêm họng, viêm tai giữa và viêm hạch bạch huyết cần được điều trị tích cực và triệt để để tránh khởi phát bệnh thấp khớp cấp. Penicillin là loại kháng sinh được lựa chọn.
(3) Làm sạch các tổn thương mãn tính. Amidan bị nhiễm trùng tái phát nên được phẫu thuật cắt bỏ sau 2 đến 4 tháng kể từ khi tình trạng thấp khớp dừng lại. Penicillin được sử dụng trước và sau phẫu thuật để ngăn ngừa nhiễm trùng. Các tổn thương do nhiễm trùng liên cầu khuẩn, chẳng hạn như viêm xoang và sâu răng nghiêm trọng, cũng cần được làm sạch hoàn toàn.
(4) Người bệnh đã từng bị thấp khớp cấp cần chủ động phòng ngừa nhiễm khuẩn liên cầu. Nếu nhiễm trùng tái phát, cần sử dụng đủ thuốc kháng sinh ngay từ đầu và kéo dài thời gian điều trị một cách hợp lý. Nhìn chung, có thể dùng 400.000 đến 800.000 đơn vị penicillin để tiêm bắp hai lần một ngày, trong một liệu trình từ 7 đến 10 ngày. Tiếp theo là 1,2 triệu đơn vị penicillin tác dụng kéo dài, tiêm bắp mỗi tháng một lần để ngăn ngừa tái nhiễm. Hoặc dùng erythromycin 250 mg, ngày 2 lần. Hoặc dùng sulfadiazine, 0,5g mỗi ngày cho những người cân nặng dưới 30kg và 1,0g mỗi ngày cho những người cân nặng trên 30kg. Các loại kháng sinh khác như midecamycin và spiramycin cũng có thể được sử dụng. Các chế phẩm y học cổ truyền như Kim liên tán, Xuyên tâm liên, Song hoàng liên tiêm, v.v. cũng có tác dụng tốt trong việc phòng ngừa và điều trị nhiễm trùng đường hô hấp trên do liên cầu khuẩn gây ra.
Bệnh nhân bị sốt thấp khớp có cần phải phẫu thuật cắt amidan không?
Phẫu thuật cắt amidan cho bệnh nhân sốt thấp khớp phải có chỉ định nhất định. Vì amidan có chức năng miễn dịch, đặc biệt là ở trẻ em, nên việc cắt bỏ amidan có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của chức năng miễn dịch bình thường. Mặc dù chức năng của các cơ quan miễn dịch khác dần hoàn thiện theo tuổi tác khi chúng ta bước vào tuổi dậy thì và trưởng thành, tầm quan trọng của amidan như một cơ quan miễn dịch giảm đi tương đối, nhưng rất khó để xác định ở độ tuổi nào thì chức năng của amidan trở nên không còn quan trọng nữa. Xét theo tình hình hiện tại, chỉ định cắt amidan nói chung là quá rộng và cần phải hạn chế. Phẫu thuật cần được thực hiện thận trọng, đặc biệt là ở trẻ nhỏ hoặc những người có hệ miễn dịch suy yếu. Phì đại amidan đơn giản không phải là dấu hiệu cần phải phẫu thuật cắt bỏ. Nếu amidan to ảnh hưởng đến chức năng hô hấp hoặc nuốt, khuyến cáo chỉ nên cắt bỏ một bên để bảo tồn chức năng miễn dịch. Tuy nhiên, amidan bị nhiễm trùng và viêm nhiều lần sẽ không còn chức năng miễn dịch nhiều do mô bị phá hủy và tăng sinh sẹo. Tình trạng dày lên và tắc nghẽn của thành hốc do viêm có thể thúc đẩy vi khuẩn sinh sôi bên trong hốc, trở thành cửa ngõ cho nhiễm trùng và phản ứng dị ứng. Để chúng ở đó sẽ gây hại nhiều hơn là có lợi và cần phải phẫu thuật để loại bỏ chúng.
Viêm khớp và sốt thấp khớp có giống nhau không?
Bất kể thời xưa hay nay, ở Trung Quốc hay nước ngoài, người ta đều quen liên hệ bệnh viêm khớp và bệnh thấp khớp với nhau, cho rằng viêm khớp là do bệnh thấp khớp gây ra, các khớp của người mắc bệnh thấp khớp chắc chắn bị bệnh. Trên thực tế, mặc dù hai bệnh này có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng chúng không phải là cùng một bệnh. Trước hết, ngoài bệnh thấp khớp, còn có gần một trăm nguyên nhân có thể gây ra bệnh viêm khớp. Viêm khớp có thể do các tác nhân gây bệnh đặc biệt gây ra, chẳng hạn như viêm khớp mủ và viêm khớp lao; do chấn thương, chẳng hạn như viêm khớp do chấn thương; do bệnh tự miễn, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp; do rối loạn chuyển hóa, chẳng hạn như viêm khớp do gút; do thoái hóa khớp hoặc thoái hóa như viêm xương khớp, v.v. Sốt thấp khớp chỉ gây ra viêm khớp dạng thấp khi nó xâm lấn vào các khớp. Mặc dù viêm khớp là triệu chứng phổ biến nhất của bệnh thấp khớp, nhưng 25% bệnh nhân thấp khớp không có triệu chứng đau khớp rõ ràng trên lâm sàng. Ngoài viêm khớp, các bệnh thấp khớp còn bao gồm viêm tim, đau dây thần kinh, viêm cơ, viêm thận, viêm phổi, v.v.
Làm thế nào để phân biệt sốt thấp khớp cấp tính với bệnh lupus ban đỏ hệ thống?
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống có biểu hiện lâm sàng như đau khớp, sốt, viêm tim, tăng tốc độ lắng hồng cầu, tương tự như sốt thấp khớp cấp tính. Tuy nhiên, bệnh lupus ban đỏ hệ thống có thể phân biệt với bệnh thấp khớp cấp vì bệnh nhân có ban đỏ hình cánh bướm đối xứng trên mặt, kèm theo tổn thương nhiều cơ quan như gan, thận, đường tiêu hóa, giảm số lượng bạch cầu và có thể tìm thấy tế bào lupus trong máu hoặc tủy xương.
Bệnh thấp khớp và sốt thấp khớp có giống nhau không?
Một số người cho rằng bệnh thấp khớp là bệnh sốt thấp khớp. Chúng tôi tin rằng bệnh thấp khớp và sốt thấp khớp không hoàn toàn giống nhau. Sốt thấp khớp chỉ là một loại bệnh thấp khớp, có diễn biến mạn tính và tái phát. Trong quá trình này, chỉ khi các triệu chứng như viêm tim và viêm khớp xuất hiện, kèm theo sốt, nhiễm độc huyết, các nốt dưới da, ban đỏ hình khuyên và múa giật thì mới được gọi là sốt thấp khớp.
Ly Nguyễn Nghị dịch