Chứng viêm khớp tăng sinh cũng gọi là chứng viêm khớp cốt tính, phì đại tính hoặc viêm khớp thoái hoá, chứng trạng chủ yếu trong lâm sàng là hưu tức thống* , sưng khớp, hoạt động của khớp bị hạn chế và khớp bị biến dạng, bệnh thường gặp ở người lớn tuổi hoặc người lao động nặng. Đặc trưng của bệnh là khớp xương mềm phát sinh thoái hoá nguyên phát hoặc kế phát, đồng thời hình thành môi ở rìa xương. Bệnh lý biến hoá chủ yếu là nhuyễn cốt biến tính và bệnh biến của xương mềm dưới xương. Viêm khớp tăng sinh có thể chia thành hai loại: Nguyên phát và kế phát. Ở đây chúng ta giới thiệu trọng điểm nguyên phát tính. Chứng viêm khớp tăng sinh thường phát ở những khớp chịu sức nặng lớn và hoạt động nhiều như xương sống cổ, xương sống lưng, khớp gối và khớp hông. Viêm khớp tăng sinh có các đặc điểm lâm sàng tương tự như chứng tý của đông y, trên lâm sàng trị liệu đông y thường điều trị theo chứng tý.
Tham khảo tài liệu:
Trung y nhìn nhận viêm khớp tăng sinh như thế nào?
Y học cổ truyền cho rằng bệnh này phần lớn do chính khí trong cơ thể hư, phong – thấp – hàn tà xâm nhập, bít tắc khí huyết, lưu đọng kinh lạc, khớp; hoặc do tuổi cao thể hư, can thận không đủ, lao tổn mạn tính, gân mạch khớp không được nuôi dưỡng; hoặc tà lưu lại kinh lạc lâu ngày, ảnh hưởng sự vận hành khí huyết, gây khí trệ huyết ứ tích lại ở khớp v.v.
(1) Phong – thấp – hàn tà xâm nhập: Thể chất vốn hư, tấu lý không kín, dễ bị ngoại tà xâm nhập; hoặc người thể trạng vốn khá nhưng sống lâu ngày nơi giá lạnh ẩm thấp, bị phong – thấp – hàn tà xâm nhập cơ thể, bít cản khí huyết, ứ đọng ở kinh lạc, khớp, ảnh hưởng chức năng sinh lý bình thường, từ đó phát bệnh.
(2) Huyết ứ bít tắc kinh lạc: Tý chứng kéo dài, khí huyết vận hành không thuận, khí trệ huyết đọng, sinh ứ; hoặc bệnh lâu, khí huyết kinh lạc bị tà trệ, sinh huyết ứ; ứ huyết đọng ở khớp, xương, làm gân xương, khớp không được nuôi dưỡng, khởi phát bệnh.
(3) Can thận không đủ: Bệnh lâu ngày, thể hư, hoặc tuổi cao thể yếu, hoặc bệnh mạn tính làm can thận hư tổn, hoặc lâu ngày dùng các thuốc ôn táo, tổn thương âm can thận. Can chủ gân, thận chủ xương; can thận đầy đủ thì gân xương cứng cáp, khớp trơn tru, vận động linh hoạt. Ngược lại, can thận hư khiến gân xương kém nuôi dưỡng, cơ thể suy yếu mà sinh bệnh. Hơn nữa, do lao tổn mạn tính kéo dài, làm khí huyết mất hòa, kinh mạch càng bế tắc, gân xương càng thiếu nuôi dưỡng, thương tổn gân xương lại ảnh hưởng can thận, gây bệnh. Trong bệnh này, lâu ngày can thận âm hư, âm tổn đến dương, dẫn đến dương hư, âm dương lưỡng hư, dương không đủ hóa sinh, càng dễ bị ngoại tà xâm nhập, khiến bệnh nặng thêm.
Tây y nhận thức nguyên nhân và bệnh lý viêm khớp tăng sinh như thế nào?
(1) Nguyên nhân
Viêm khớp tăng sinh chỉ tình trạng tổn thương khớp do lão hóa theo tuổi, không kèm bệnh khác. Hiện chưa rõ hoàn toàn nguyên nhân, có thể gồm các yếu tố sau:1) Tuổi già lão hóa.2) Rối loạn nội tiết. 3) Thiếu dinh dưỡng thần kinh. 4) Khớp bị cọ xát, mài mòn cục bộ. 5) Bệnh xương khớp bẩm sinh hoặc do phát triển bất thường. 6) Co thắt cơ xung quanh khớp, thay đổi huyết động học cục bộ…Những yếu tố trên đều liên quan sự hình thành bệnh.
(2) Bệnh lý
1) Thoái hóa và phá vỡ sụn: Đa số ý kiến cho rằng biến đổi ban đầu ở khớp xương là thiếu protein glycan và collagen trong nền sụn, sau đó lớp sụn nông giảm số lượng tế bào, khiến sụn khớp rời rạc, không chịu được lực, dễ gãy. Về sinh hóa, sụn ở người già giảm nước, tăng tỉ lệ chondroitin sulfate 6 so với chondroitin sulfate 4, kèm theo một số men thúc đẩy sụn rã. Những men này có nguồn từ chính sụn, hoặc từ hoạt dịch và tế bào trong dịch khớp, hiện chưa rõ hoàn toàn.
2) Tăng áp lực trong xương: Harrison nghiên cứu thay đổi huyết động trong xương, phát hiện ở người viêm khớp háng, mạch máu động – tĩnh mạch trong chỏm xương đùi bị tắc. Phillips dùng tĩnh mạch đồ (venography) thấy tĩnh mạch hồi lưu kém, xoang xương giãn, kèm sung huyết động mạch; tăng áp lực nội tủy này gây đau. Mặt khác, Trueea cho rằng phân bố áp lực không đều trong xương khiến một số vùng chịu quá nhiều lực, còn chỗ khác lại thiếu lực, dễ làm sụn thoái hóa.
3) Xơ cứng xương dưới sụn: Làm sụn khớp mất khả năng biến dạng khi chịu lực, nhất là không chịu được lực ngang, dễ xảy ra lực cắt khiến sụn bị nứt ngang. Chưa rõ vì sao xương dưới sụn xơ cứng, có thể do hệ cơ – xương – khớp thiếu động lực cần thiết, khiến xương và sụn mất lực kích thích dạng “xung” (pulsatile).
4) Thay đổi cơ học: Để duy trì cân bằng lực, khớp háng phải chịu lực gấp 3–4 lần trọng lượng cơ thể, đó là hợp lực thẳng đứng của trọng lượng và cơ dạng háng. Bất kỳ yếu tố nào làm diện tích tiếp xúc khớp giảm thì tải trọng trên mỗi đơn vị diện tích tăng lên.
Những yếu tố bệnh lý trên làm thoái hóa sụn khớp: giai đoạn đầu sụn bị vàng, thô, mất độ bóng; tiếp đó sụn mềm, mỏng, loét, mảng sụn bong ra có thể thành thể rời trong khớp; xương dưới sụn lộ ra, xơ cứng, bờ sụn mọc gai xương (cốt lồi), màng hoạt dịch viêm, xung huyết, phù nề, phì đại. Cột sống kém ổn định, đĩa đệm thắt lưng thoái hóa, thậm chí thoát vị; cũng có thể gây hẹp ngách bên hay ống sống, chèn ép kích thích rễ thần kinh hoặc đuôi ngựa.
Viêm khớp tăng sinh có đặc điểm lâm sàng gì?
Bệnh thường gặp ở tuổi trung niên trở lên, phụ nữ lớn tuổi nhiều hơn nam giới, có các đặc điểm:
1/ Tăng theo tuổi: Theo giáo sư Trần Thuận Lạc và cộng sự khảo sát 13451 công nhân cho thấy: tỉ lệ mắc viêm xương khớp có triệu chứng là 2,2%, còn dạng không triệu chứng (chỉ thấy trên X-quang) là 53%. Điều này chứng tỏ hình ảnh gai xương trên phim chưa chắc kèm triệu chứng lâm sàng. Trong đó, nhóm tuổi 30~39 mắc 11%, 40~49 mắc 17,4%, 50~59 mắc 62%. Giáo sư Tằng Khánh Dư và cộng sự phân tích 551 ca viêm xương khớp, tỉ lệ nam:nữ = 1:1,6.
2/Thường gặp ở khớp gối, khớp háng, cột sống lưng… rồi mới đến cột sống cổ, bàn chân, bàn tay. Ở nam giới hay gặp khớp trục (cột sống), ở nữ thường gặp khớp gối.
3/ Đặc điểm đau: Đau liên quan vận động, phần lớn là đau âm ỉ từ nhẹ đến vừa. Lúc nghỉ ngơi, đau giảm hoặc hết; khi hoạt động, đau tăng; duy trì hoạt động một thời gian, đau giảm rõ, nhưng vẫn còn; nếu hoạt động quá nặng, đau nặng thêm. Tóm lại, đau kiểu “nhẹ — nặng — nhẹ — nặng”. Đa số trường hợp không triệu chứng, có thể đột nhiên phát dưới yếu tố khởi phát như lao lực, xúc động, chấn thương, sốt, nhiễm lạnh… gây đau hoặc sưng một hay nhiều khớp. Nếu loại bỏ yếu tố, xử lý triệu chứng thì đau nhanh hết.
4/ Thường có tiếng kêu trong khớp (khi cử động), hiện tượng khớp ‘khóa’ (khớp bị kẹt không cử động tiếp), sưng khớp. Có thể có cứng khớp buổi sáng, đỡ hơn khi vận động; thường chỉ vài phút, hiếm khi quá 30 phút. Nặng có tràn dịch khớp, teo cơ…
5/ Phim X-quang thấy xương khớp có hiện tượng gai xương, loãng xương, mặt khớp không đều, khe khớp hẹp, dây chằng vôi hóa… Có khi thấy du li thể trong khớp (thể rời).
Kết quả xét nghiệm viêm khớp tăng sinh ra sao?
Bệnh nhân có các chỉ số: máu lắng (tốc độ lắng máu), yếu tố dạng thấp, mucoprotein, xét nghiệm thường quy máu – nước tiểu… đều trong giới hạn bình thường. Dịch khớp (hoạt dịch) kiểm tra màu sắc, độ trong, test đông tụ mucin vẫn bình thường, số bạch cầu 200~2000/mm^3, không thấy vi khuẩn hay tinh thể, có thể thấy mảnh vụn sụn và sợi, số lượng mảnh vụn sụn có thể ước đoán mức độ thoái hóa.
Phim X-quang cho thấy: mặt khớp không đều, khe khớp hẹp, xơ cứng xương dưới sụn, bờ khớp có gai xương (hình dạng môi), xương xung quanh có hiện tượng khuyết hình nang… Ở cột sống, ngoài thay đổi trên, còn có “hạch Schmorl” (khối sụn nhân đĩa đệm lồi lên thân đốt), cần phân biệt với u cột sống. Khe đĩa đệm hẹp rõ trên phim nghiêng; để biết rõ thoát vị đĩa đệm hay không, cần chụp có cản quang.
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp tăng sinh là gì?
Khi chẩn đoán viêm khớp tăng sinh, cần phân biệt với các bệnh sau:
Y học cổ truyền biện chứng luận trị viêm khớp tăng sinh ra sao?
Y học cổ truyền chia viêm khớp tăng sinh thành ba thể:
(2) Ứ huyết bế tắc
Chủ chứng: Đau khớp chi thể kiểu châm chích, vị trí cố định, vùng đau cảm giác cứng đơ, cũng có thể xuất hiện đau cố định vùng lưng – thắt lưng, hoặc đau hai khớp gối, đi lại khó khăn, hai chi dưới có thể tê bì, gặp lạnh bệnh càng nặng, lưỡi tím sẫm, rêu trắng hoặc khô, mạch Tế Sáp.
Phân tích chủ chứng: Bệnh lâu ngày, thể hư, nhiễm ngoại tà lâu, kinh mạch – khí huyết bị tắc nghẽn lâu dài, tạo nên ứ huyết, ứ trệ ở khớp, cản trở gân mạch, nên khớp đau châm chích, vị trí cố định; ứ huyết là tà hữu hình nên có cảm giác cứng đơ cục bộ; Gặp lạnh thì huyết ứ càng ngưng kết, đau tăng; ứ huyết ở kinh mạch, huyết mới không sinh, kinh mạch thiếu nuôi dưỡng nên chi dưới tê bì; lưỡi tím sẫm, mạch Sáp đều do ứ huyết.
Phép trị: Hoạt huyết hóa ứ, thông lạc giảm đau.
Phương dược: Thân Thống Trục Ứ Thang gia giảm.
Đào nhân 12g, Hồng hoa 12g, Đương quy 12g, Ngũ linh chi 9g, Địa long 15g, Xuyên khung 9g, Một dược 9g, Hương phụ 9g, Khương hoạt 9g, Tần giao 12g, Ngưu tất 18g, Cam thảo 6g.
Giải phương: Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy hoạt huyết hóa ứ; Ngũ linh chi, Địa long khử ứ thông lạc; Xuyên khung, Một dược, Hương phụ lý khí hoạt huyết, giảm đau; Khương hoạt, Tần giao trừ phong, trục thấp; Ngưu tất mạnh gân xương, hoạt huyết thông lạc; Cam thảo điều hòa các vị. Toàn phương có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, thông lạc chỉ thống. Nếu thấy tý thống nặng, đau lâu, có thể thêm Toàn yết 5g, Ngô công 3 con, Phong phòng 6g, Tằm tang (Tương/Thuyền) 9g để hoạt huyết hóa ứ, truy tà thông lạc; kèm biểu hiện lưng gối yếu, thêm Đỗ trọng 18g, Xuyên tục đoạn 18g để mạnh lưng bổ thận.
(3) Can thận bất túc
Chủ chứng: Lưng gối mỏi yếu, đau ở xương – khớp, co duỗi khó, teo cơ, tê mỏi tứ chi, vận động lao lực nặng sẽ tăng đau, tái phát nhiều lần, có thể kèm mặt tái nhợt, sợ lạnh tứ chi lạnh, hoặc chóng mặt ù tai, gân mạch căng cứng, lưỡi nhạt rêu trắng, hoặc lưỡi đỏ rêu mỏng, mạch Trầm Nhược hoặc Trầm Sác.
Phân tích chủ chứng: Lưng là phủ của thận, gối là phủ của gân, can chủ gân. Bệnh lâu, khí huyết suy yếu, can thận bất túc, gân mạch khớp thiếu nuôi dưỡng nên lưng gối mỏi yếu. Thận chủ xương sinh tủy, thận âm không đủ, xương khớp thiếu nuôi, xương khớp đau. Gân mạch thiếu nuôi dễ gây teo cơ, chi tê bì. Tà lưu lâu, cản trở hoạt động khớp, nên co duỗi khó. Thận âm hư, tủy hải trống rỗng, gây chóng mặt ù tai; hư lâu, can thận âm hư, dương mất chỗ nương, dẫn đến thận dương hư, biểu hiện sắc mặt kém, sợ lạnh tứ chi lạnh. Lao lực hao khí thương âm, nên gặp lao động thì đau tăng, tái phát. Nếu thiên về can thận âm hư có thể lưỡi đỏ, mạch Trầm Sác; nếu thận dương hư thì lưỡi nhợt đỏ, mạch Trầm Nhược.
Phép trị: Tư dưỡng can thận, thư gân hoạt lạc.
Phương dược: Lục Vị Địa Hoàng Thang gia vị.
Thục địa 12g, Phục linh 15g, Hoài sơn 15g, Sơn thù du 12g, Đan bì 9g, Trạch tả 9g, Đương quy 12g, Bạch thược 12g, Tang ký sinh 12g, Đỗ trọng 12g, Bổ cốt chỉ 15g, Kê huyết đằng 15g.
Giải phương: Dùng Lục Vị Địa Hoàng Thang để tư dưỡng âm can thận; Đương quy, Bạch thược bổ huyết dưỡng can; Tang ký sinh, Đỗ trọng mạnh gân xương; Bổ cốt chỉ ôn bổ thận dương, mong cầu “tìm âm trong dương”; Kê huyết đằng dưỡng huyết thông lạc. Nếu thiên về thận dương hư, có thể dùng Kim Quỹ Thận Khí Thang, hoặc bài trên gia thêm Dâm dương hoắc 18g, Cẩu tích (Kim mao cẩu tích) 15g, Ba kích 12g, Quế tâm 9g…, nhằm ôn bổ thận dương, cường gân xương. Toàn phương có công năng tư dưỡng can thận, ôn thận trợ dương, thư can hoạt lạc.
Các thuốc đông y thành phẩm chữa viêm khớp tăng sinh
Các phương thuốc dân gian – đơn phương kinh nghiệm trị viêm khớp tăng sinh
Tây y điều trị viêm khớp tăng sinh như thế nào?
Tây y không có thuốc đặc hiệu ngưng tiến triển bệnh, nhưng tổng hợp nhiều biện pháp có thể giảm đau, bảo vệ chức năng khớp khá hiệu quả. Ngoài khớp háng, nhìn chung bệnh không gây tàn phế. Trước hết, người bệnh cần hiểu về bệnh, biết cách bảo vệ khớp, tránh đè nặng quá mức, người béo nên giảm cân, chỉnh tư thế sai, tập luyện thích hợp để làm chậm quá trình thoái hóa khớp…
Thường dùng thuốc giảm đau chống viêm không steroid (NSAIDs) để giảm đau. Các thuốc này đều có tác dụng phụ trên tiêu hóa (buồn nôn, nôn, nóng rát thượng vị, loét xuất huyết…), nên uống trong bữa ăn hoặc thêm thuốc kháng acid sẽ giảm kích ứng. Người loét dạ dày tá tràng hoạt động thì cấm dùng.
Ngoài ra, với đau dai dẳng, khớp không vững hoặc mất vận động rõ, có thể cân nhắc phẫu thuật. Khớp háng và gối có thể thay khớp nhân tạo.
Có những cao dán ngoài gì để chữa viêm khớp tăng sinh?
1/ Cốt Thích Cao (骨刺膏)
– Thành phần và cách bào chế: Uy linh tiên 30g, Huyết kiệt 15g, Mã tiền tử sống 240g, Xuyên thảo ô sống 60g, Ngũ gia bì 30g, Khương hoàng 30g, Mộc qua 12g, Ngưu tất 15g, Hồng hoa 9g, Đào nhân sống 60g, Hương phụ sống 60g, Tam lăng 30g, Khương độc hoạt 30g, Tạo giác, Kê nội kim, Nhũ hương, Một dược, Khởi tử (茜草?) đều 15g, Tam thất 6g, Xuyên khung 12g, Xuyên sơn giáp 30g, Linh chi 9g, Phòng kỷ 9g, Liêu tế tân 30g, Thấu cốt thảo 15g, Tần giao 30g, Tử vĩ đằng (紫葳) 30g, Bạch giới tử 9g, Xích thược 15g, Mộc miết tử 60g, Nga truật 30g, Lộ lộ thông 9g, Băng phiến 60g, Xạ hương 1g, Quảng đan 750g (mùa hè thêm 10g, mùa đông bớt 10g), dầu vừng 1500g.
Chia dược liệu thành 3 nhóm: Nhóm 1 (Xạ hương, Huyết kiệt, Băng phiến, Tam thất), Nhóm 2 (Mã tiền tử sống, Xuyên thảo ô sống, Hương phụ sống, Xuyên sơn giáp sống), Nhóm 3 là tất cả dược còn lại. Trước tiên nghiền mịn nhóm 1, cất kín. Ngâm nhóm 2 trong dầu 1 tuần, rồi đun lửa nhỏ, đến khi bã đen xám thì vớt ra, cho nhóm 3 vào dầu, lửa nhỏ nấu đến khi thử dầu nhỏ giọt thấy đọng hình hạt, thêm Quảng đan, khuấy liên tục. Đến khi dầu chuyển đỏ đậm, khói mịt mù, nhanh tay nhấc nồi ra khỏi bếp, tiếp tục khuấy để tránh dầu sát nồi quá nóng gây mất tác dụng. Chờ dầu hạ xuống khoảng 60℃, bỏ nhóm 1 vào, khuấy đến khi nguội hẳn đông lại thành cao, gọi là “Cốt Thích Cao” là Cao gai xương..
Công hiệu: Tiêu gai xương, giảm đau.
Chủ trị: Viêm xương khớp.
Cách dùng: Trải cao dán lên vải tương đối dày (dày khoảng 0,2cm), khi dùng hơ nóng rồi bóc ra, rắc ít bột Băng phiến, dán vào chỗ đau. Mỗi miếng có thể dán 5~7 ngày, dán 5~10 miếng là 1 liệu trình.
(2) Thanh Bì Cao (青皮膏)
Thành phần dược liệu & cách chế (药物组成及制法): Thanh bì, Đương quy, Xuyên khung, Huyết kiệt hoa, Xuyên sơn giáp, Địa long, Hải mã, Một dược, Nhũ hương, Đỗ trọng, Phòng phong, Ma hoàng, Mộc qua, Ngưu tất, Mộc hương, Xuyên tiêu mỗi thứ 9g; Mã tiền tử 15g; dầu vừng 500ml; Chì đỏ (漳丹) 250g. Các dược liệu bỏ vào dầu vừng đun đến cạn bã, bỏ bã, cho Chì đỏ vào nấu, khuấy thành cao.
Công hiệu: Hoạt huyết truy phong.
Chủ trị: Các thể viêm xương khớp.
Cách dùng: Lấy lượng vừa đủ, phết lên vải, dán vào chỗ đau.
Điều trị viêm khớp tăng sinh có những phương pháp tắm thuốc nào?
(1) Cốt chuế Tẩy Tễ (骨赘洗剂)
Thành phần dược liệu: Sơn tra sống 25g, Ngũ vị tử 25g, Xuyên tiêu 25g, Xích thược 15g, Hồng hoa 15g, Xuyên thảo ô sống 20g, Cam toại 10g, Viễn hoa 10g, Thấu cốt thảo 20g, Thương truật 15g, giấm gạo 500ml.
Công hiệu: Làm mềm, tán kết, trừ đàm giảm đau, thư cân hoạt lạc, trừ thấp tán hàn.
Chủ trị: Viêm xương khớp.
Cách dùng: Cắt nhỏ dược liệu, bọc trong túi vải, ngâm 2000ml nước 20 phút, đun sôi ~25 phút, rồi đổ giấm vào. Đợi nước thuốc nguội đến nhiệt độ thích hợp, ngâm/rửa vùng đau, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 45 phút.
(2) Khứ phong hoạt huyết tẩy phương (祛风活血洗方)
Thành phần dược liệu: Khương hoạt 9g, Độc hoạt 9g, Quế chi 9g, Đương quy 12g, Kinh giới 9g, Phòng phong 9g, Tần giao 9g, Lộ lộ thông 9g, Hồng hoa Xuyên 9g.
Công hiệu: Khu phong trừ thấp, thông tý.
Chủ trị: Viêm xương khớp.
Cách dùng: Sắc dược để xông rửa vùng đau, ngày 2~3 lần, mỗi thang dùng 2~3 ngày.
Điều trị viêm khớp tăng sinh có những phương pháp đắp thuốc (thuốc chườm) nào?
(1) Tăng Sinh Nhiệt Phu Phấn (增生热敷粉)
Thành phần: Hồng hoa 6g, Quy vĩ (đuôi Đương quy) 12g, Đào nhân 6g, Nam tinh sống 12g, Bán hạ sống 12g, Xuyên ô sống 9g, Thảo ô sống 9g, Bạch giới tử 3g, Tế tân 4,5g, Tiểu nha tạo (Xà sàng tử?) 4,5g, Khương hoạt 9g, Độc hoạt 9g, Băng phiến 3g, Chương não 15g, Tùng hương 6g.
Công hiệu: Làm mềm, tán kết, ôn kinh tán hàn, hoạt huyết giảm đau.
Chủ trị: Viêm xương khớp.
Cách dùng: Tán bột mịn, trộn rượu trắng cho ẩm, sao lửa nhỏ cho nóng, đầu tiên chườm vùng đau nửa giờ, nguội lại thêm rượu, sao nóng rồi chườm tiếp. Mỗi thang chườm 7~8 giờ, ngày 1 lần, mỗi thang bã còn dùng lại 2~3 lần.
(2) Thiết Mạt Nhiệt Phu Phương (铁末热敷方): Dùng mạt thép 1500g, giấm 100ml. Đổ giấm vào mạt thép, trộn đều, bọc vải, dùng tay xoa túi vải để mạt thép nóng lên, bọc thêm khăn, chườm vùng đau, mỗi lần 6 giờ, ngày 1 lần, 7 ngày liên tục. Mỗi lần đều thay mạt thép mới, tùy diện tích đau và số đốt sống cột sống tăng sinh mà gia giảm lượng. Chủ trị viêm cột sống tăng sinh.
Phương pháp châm cứu chữa viêm khớp tăng sinh
(1) Liệu pháp châm
Liệu pháp ①
a. Chọn huyệt: Huyệt Giáp tích hai bên cột sống và Đại chùy, Thân trụ, Mệnh môn, Yêu dương quan; phối Phong trì, Bách lao, Thận du, Đại trường du, Hoàn khiêu, Trật biên, Khúc trì, Liệt khuyết, Ủy trung, Côn lôn, Dương lăng tuyền.
b. Thủ pháp: Trường hợp nhẹ, bình bổ bình tả, kích thích vừa. Trường hợp nặng, kích thích mạnh, thiên về tả. Giữ kim 15~30 phút, ngày 1 lần hoặc cách ngày 1 lần, 10 lần 1 liệu trình, giữa liệu trình nghỉ 5~7 ngày.
Chủ trị: Viêm cột sống trong bệnh xương khớp.
Liệu pháp ②
a. Chọn huyệt: Chính huyệt gồm Yêu du, Chí thất, Thận du, Dương quan; phối Kiên tĩnh, Hoàn khiêu, Túc tam lý, Phong thị, Nhân trung.
b. Thủ pháp: Bình bổ bình tả.
Chủ trị: Gai xương thắt lưng.
Liệu pháp ③
a. Chọn huyệt: Độc tỵ, Nội tất nhãn; phối Hạc đính, Huyết hải, Túc tam lý, Âm lăng tuyền, Dương lăng tuyền và A thị huyệt.
b. Thủ pháp: Bình bổ bình tả, kích thích yếu hoặc vừa, giữ kim 15~20 phút, mỗi lần chọn 2~3 huyệt phối, mỗi tuần 3 lần, 10 lần 1 liệu trình, cách 10 ngày vào liệu trình tiếp.
Chủ trị: Viêm khớp gối tăng sinh.
(2) Phương pháp cứu
① Cứu ấm bằng điếu ngải
a. Chọn huyệt: Thận du, Đại trường du, Yêu nhãn, Mệnh môn, Dưới đốt sống 10, Yêu dương quan.
b. Cách làm: Dùng ngải điếu hơ ấm 5~10 phút, hoặc mỗi huyệt 3~5 mồi ngải, ngày hoặc cách ngày 1 lần, mỗi lần chọn 2~3 huyệt.
Chủ trị: Viêm cột sống phì đại.
② Cứu cách gừng bằng mồi ngải
a. Chọn huyệt: Chính huyệt là các đốt sống bị bệnh và điểm đau quanh đó, Đại chùy, Đại trữ, Dương lăng tuyền, Huyền chung, Khúc trì; phối Phong trì, Mệnh môn, Thận du, Túc tam lý, Tam âm giao, Phong thị, Hợp cốc.
b. Cách làm: Mỗi lần chọn 2~4 huyệt, mỗi huyệt cứu 5~7 mồi, mồi ngải to cỡ hạt đậu hoặc hạt táo, thường cứu ngay vùng tổn thương, ngày hoặc cách ngày 1 lần, 7~10 lần là 1 liệu trình, nghỉ 3~5 ngày sang liệu trình tiếp.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh.
③ Cứu ấm nhẹ nhàng
a. Chọn huyệt: Chính huyệt là Thận du, Ủy trung, Chí thất, Yêu dương quan; nếu thận dương hư thì thêm Mệnh môn, Quan nguyên; nếu thận âm hư thì thêm Thái khê; đau nặng thêm A thị huyệt.
b. Cách làm: Mỗi ngày cứu mồi ngải 1~2 lần, mỗi lần 5~10 mồi, hoặc dùng điếu ngải hơ 3~10 phút.
Chủ trị: Thoái hóa đốt sống thắt lưng.
(3) Phương pháp “tân châm”
① Châm tai (耳针)
a. Chọn huyệt: Khu vực thắt lưng, điểm đau lưng, Thần môn, vùng vỏ não dưới (thùy não?).
b. Cách làm: Kích thích vừa, lưu kim 20 phút, ngày hoặc cách ngày 1 lần.
Chủ trị: Viêm cột sống tăng sinh.
② Thủy châm (水针)
a. Chọn huyệt: A thị huyệt.
b. Cách làm: Dùng 10% Glucose 10~20ml hoặc vitamin B6 100mg tiêm vào A thị huyệt, hoặc 0,5~1ml dịch tiêm Đương quy 5% tiêm vào A thị huyệt.
Chủ trị: Viêm xương khớp, thích hợp cho các khớp khác nhau.
Phương pháp xoa bóp (tuina) trị viêm khớp tăng sinh
Xoa bóp (1)
1) Chọn huyệt: Vùng tổn thương và xung quanh, phối Yêu dương quan, Đại trường du, Ủy trung.
2) Thao tác:
a. Bệnh nhân nằm sấp, người chữa dùng thủ pháp lăn dọc lưng – thắt lưng, hai bên huyệt Giáp tích, cơ cạnh sống, đến khi cơ bắp hơi thả lỏng thì phối hợp vận động bị động “ưỡn lưng”. Nếu chi dưới tê đau thì ấn xoa các điểm đau, chỗ co cứng cơ.
b. Bệnh nhân nằm nghiêng, kỹ thuật viên đứng đối diện thực hiện vặn chéo thắt lưng (yêu bộ tà ban).
c. Bệnh nhân ngồi, thân trên gập về trước, hai tay tựa lên đùi, người chữa đứng bên trái, dùng chà xát vùng đốt sống thắt lưng và hai bên, đến khi ấm nóng là được.
d. Chườm nóng ẩm vùng đau, cách này thích hợp viêm cột sống tăng sinh.
Xoa bóp (2)
1) Chọn huyệt: Vùng khớp háng, mông, kèm Hoàn khiêu, Thử khanh.
2) Thao tác:
a. Bệnh nhân nằm sấp, người chữa dùng lăn ở mông, kết hợp vận động bị động duỗi ra sau, dạng ra ngoài của khớp háng.
b. Bệnh nhân nằm nghiêng, phối hợp vận động bị động gập duỗi khớp háng.
c. Bệnh nhân nằm ngửa, dùng lăn vùng bẹn (háng) và cơ khép, đồng thời vận động bị động khớp háng dang, xoay trong, xoay ngoài, sau đó ấn vùng Thử khanh (?), xoa nóng chỗ đau, kèm chườm nóng ẩm. Dùng cho viêm khớp háng tăng sinh.
Xoa bóp (3)
1) Chọn huyệt: Quanh xương bánh chè khớp gối bên bị, chủ yếu Độc tỵ, Hạc đính, Tất nhãn, Dương lăng tuyền, Lương khâu, Phục thố, Ủy trung, Thừa sơn, Phong thị…
2) Thao tác:
a. Bệnh nhân nằm ngửa, trước hết lăn cơ tứ đầu đùi, chú trọng vùng trên bánh chè, khoảng 5 phút, chọn Hạc đính, Lương khâu, Huyết hải, Phục thố.
b. Dùng ấn xoa và gảy, xen kẽ ở dây chằng bánh chè, dây chằng bên trong – ngoài, chú trọng Độc tỵ, Tất nhãn trong – ngoài, Hạc đính, Dương lăng tuyền, Lương khâu.
c. Nắm nâng xương bánh chè, Ủy trung và Thừa sơn.
d. Bệnh nhân nằm sấp, lăn phía sau đùi và bắp chân khoảng 5 phút, tập trung vùng hố khoeo, huyệt Ủy trung.
e. Trở lại nằm ngửa, làm động tác lắc gối gập, phối hợp co – duỗi, xoay trong – xoay ngoài khớp gối dạng bị động, cuối cùng xoa nóng quanh gối kết thúc.
Ngoài ra, có thể dùng thủ pháp sau:
a. Nắm nâng cơ tứ đầu đùi, 20 lần.
b. Đẩy xoa bánh chè 20 lần.
c. Gập duỗi gối quá mức 3~5 lần (kéo duỗi).
d. Nghiêng sang bên, ấn ép rồi gập duỗi khớp gối.
e. Gập duỗi, xoay gối 3~5 lần.
f. Ôm gối xát 60 lần.
g. Ấn điểm đau kết hợp gảy 1~2 phút.
Phương pháp này thích hợp viêm khớp gối tăng sinh. Bệnh này cũng có thể tự xoa bóp, khi đau gối thì dùng ngón tay cái ấn xoa điểm đau 3~5 phút. Nếu cứng khớp, có thể ngồi co – duỗi và xoay khớp gối chủ động mỗi ngày 1~2 lần, có tác dụng phòng và chữa nhất định.
Chú ý:
a. Buổi sáng nên tập động tác khớp thắt lưng, hông, gối…, vận động thích hợp.
b. Viêm cột sống tăng sinh nên nằm giường cứng.
c. Giữ ấm cục bộ, tránh đồ lạnh.
d. Khi khớp gối sưng đau nặng, nên nghỉ ngơi.
e. 10 lần là 1 liệu trình.
Những loại rượu thuốc chữa viêm khớp tăng sinh
Những món ăn – bài thuốc (dược thiện) chữa viêm khớp tăng sinh
Ngoài những cách trên, còn phương pháp nào chữa viêm khớp tăng sinh?
Lương y Nguyễn Nghị dịch