Khái thuyết
Phụ nữ có những đặc điểm sinh lý như kinh nguyệt, mang thai, sản dục (sinh con và nuôi con), nên cũng có những biểu hiện bệnh lý như kinh nguyệt, đái hạ (huyết trắng), thai tiền (khi mang thai), sản hậu (sau khi sanh). Vì thế, khi lâm sàng biện chứng luận trị, cần chú ý các đặc điểm vừa nêu.
Kinh nguyệt, thai dựng và sản dục của phụ nữ chủ yếu chịu sự chi phối của hai mạch Xung và Nhâm. Mạch xung còn gọi là huyết hải, mạch nhâm chủ về bào thai, huyết hải (mạch xung) tràn đầy (sung doanh), mạch nhâm thông suốt đầy đặn (thông thịnh), tất phải nhờ đến sự cung ứng của khí huyết, đặc biệt là kinh nguyệt, hoài thai, sản dục đều phải sử dụng đến huyết, vì thế có thuyết cho rằng huyết là căn bản của phụ nữ. Khí huyết có nguồn gốc từ tạng phủ, có tương quan mật thiết với các tạng như Thận, Can, Tỳ và Vị. Nếu các nhân tố gây bệnh xâm nhiễu như lục nhân ngoại tà và các cảm xúc (thất tình), dẫn đến công năng của thận, can, tỳ, vị và hai mạch xung nhâm mất điều hoà, có thể dẫn đến các phương diện bệnh chứng của kinh nguyệt, thai dựng và sản dục. Trên một phương diện khác, tình trạng không bình thường của kinh nguyệt, thai, sản, cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng điều hoà của khí huyết, hai mạch xung nhâm và công năng của tạng phủ. Vì thế, khi lâm sàng biện chứng luận trị cần phải nắm được sự quan hệ giữa khí huyết với thận, can, tỳ, vị, nhắm đúng vào biến hoá bệnh lý của hàn, nhiệt, hư, thực, kết hợp với đặc điểm của kinh nguyệt, thai sản kỳ để tiến hành điều trị một cách xác đáng.
Điều trị bệnh của kinh nguyệt nên chú ý đến đặc điểm biến hoá của khí huyết trước khi hành kinh, đang khi hành kinh và sau khi hành kinh, đồng thời liên hệ với tình trạng hàn nhiệt, hư thực của các tạng phủ thận, can , tỳ, vị, để từ đó sử dụng các trị pháp bổ tả, ôn, thanh khác nhau. Bệnh đái hạ thường dùng các
trị pháp như thanh lợi thấp nhiệt, bồi bổ tỳ thận là những trị pháp chủ yếu. Điều trị bệnh trong thời kỳ mang thai thì nên chú ý đến hai phương diện sau: Một là căn cứ theo nhận thức thai khí thiên vượng, nên chú trọng trị pháp “Thai tiền nghi lương” (胎前 宜凉) trong thời kỳ mang thai nên sử dụng những vị thuốc có tính mát; Trên phương diện khác, vì sức khoẻ của mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi, vì thế, nên tuỳ thời chú ý bồi bổ khí huyết cho cơ thể người mẹ để tạo thuận lợi cho việc phát triển của thai nhi. Tóm lại, khi đang mang thai thường không nên dùng các vị thuốc cay, nóng, khô khan, mãnh liệt, cấm dùng độc dược, thuốc phá huyết, thuốc tả hạ, thuốc hoạt khiếu để tránh gây tổn thương cho thai; Trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng thì phải tuân thủ nghiêm ngặt cách dùng và liều lượng. Đặc điểm bệnh lý của phụ nữ sau sinh là hư tổn nhiều, ứ nhiều (đa hư, đa ứ), trên phương diện điều trị nên chú ý phù trì chính khí, lại phải chú ý khứ ứ sinh tân, đồng thời căn cứ lý thuyết “Sản hậu nghi ôn” (产后宜溫) sau khi sanh nên ấm áp, cẩn thận khi dùng thuốc lạnh, mát để tránh tổn thương chính khí và lưu ứ.
Ngoài ra căn cứ theo quy luật sinh trưởng phát dục của phái nữ, cho rằng trong thời kỳ thiếu nữ, thận khí chưa sung mãn, hai mạch xung nhâm chưa thông, vì thế khi điều trị bệnh trong thời kỳ này nên chú trọng đến tạng thận; Trong thời kỳ tuổi trung niên, với các hoạt động như kinh nguyệt, mang thai, sanh con, nuôi con gây tổn háo huyết dịch, từ đó can khí dễ động, vì vậy điều trị bệnh trong giai đoạn này nên chú trọng vào tạng can; Sau thời kỳ mãn kinh, thận khí đã suy, khí huyết đều hư, tất cả chỉ còn nhờ vào ẩm thực tư dưỡng cơ thể, nên khi điều trị bệnh trong giai đoạn này nên chú trọng vào tỳ vị. Liên quan đến việc đề xướng lập gia đình đúng tuổi quy định, thực hiện kế hoạch sinh sản, giúp đề phòng và giảm thiểu bệnh phụ khoa đều là những việc trọng yếu trên lâm sàng không thể xem thường.
Ly Trường Xuân