Tư liệu tham khảo:
Y học cổ truyền điều trị chứng đau đầu do chấn động não cấp tính như thế nào?
Đau đầu do chấn động não cấp tính có tiền sử chấn thương sọ não rõ rệt, sau đó là hôn mê hoặc lú lẫn tạm thời ở các mức độ khác nhau sau chấn thương, kéo dài vài giây hoặc vài phút và hiếm khi vượt quá 30 phút. Sau khi tỉnh dậy bệnh nhân đau đầu kịch liệt, tính chất đau phần lớn là đau trướng, đau âm ỉ, thường kèm theo các chứng trạng như chóng mặt, ù tai, sợ ánh sáng, nôn mửa …, vài ngày sau khi bị thương, cơn đau đầu trở nên rõ ràng và cải thiện dần trong vòng 1 đến 2 tuần. Có hiện tượng mất trí nhớ gần, tức là người đó không thể nhớ được tình hình lúc bị thương và những gì đã xảy ra sau khi bị thương, nhưng lại có thể nhớ lại rất rõ ràng những sự việc đã xảy ra trong quá khứ xa hơn.
Theo biện chứng luận trị của y học cổ truyền Trung Quốc, đối với những người bất tỉnh sau chấn động, hãy sử dụng phương pháp hồi sức và uống thuốc hoàn Tô hợp hương kịp thời; Đối với những người bị chóng mặt, buồn nôn và nôn, hãy sử dụng phương pháp giáng trọc, dùng thang Sài hồ Tế tân gồm: Sài hồ 10g, Tế tân 6g, Bạc hà 6g, Quy vĩ 15g, Địa miết trùng 4.5g, Đan sâm 30g, chế Bán hạ 10g, Xuyên khung 10g, Trạch lan diệp 10g, Hoàng liên 6g. Nếu chứng trạng chủ yếu là co giật, đau đầu vựng đầu, điều trị dùng phép tức phong (熄风法) là phép dập phong, xử phương: Thang Thiên ma quyết minh. Thiên ma 10g, Thạch quyết minh 15g, Câu đằng 12g, Tang ký sinh 15g, Bạch cương tàm 12g, Tiêu sơn chi 10g, Can sinh địa 15g, Xuyên ngưu tất 6g, Mẫu lệ 30g, Cam thảo 6g. Nếu đau đầu kịch liệt, gia Mạn kinh tử 10g, Bạch chỉ 6g, Cao bản 10g; Đầu vựng rõ rệt, gia Dương sơn giác phiến 12g, Bạch thược sống 10g; Đêm ngủ không yên giấc, gia Toan táo nhân 10g, Dạ giao đằng 12g, Hợp hoan hoa 10g; Tính tình vội vã bất an gia Cao lương bắc 15g, Từ thạch 20g; Kèm theo lợm giọng buồn nôn, gia Khương bán hạ 10g, Hoàng liên sao nước gừng 15g, Đạm trúc diệp 10g.
Châm cứu đối với bệnh nhân hôn mê có thể dùng các huyệt như Nhân trung, Thập tuyên, Dũng tuyền kích thích mạnh sau đó có thể lưu kim từ 15~30 phút, đợi đến khi đau đầu giảm nhẹ thì lại vê kim để kích thích.
Đông y điều trị di chứng chấn động não như thế nào?
Hầu hết bệnh nhân để lại di chứng sau chấn động đều có triệu chứng điển hình nhất là đau đầu, tính chất của cơn đau là đau trướng, đau âm ỉ, đau thắt hoặc đau dạng mạch đập. Đau đầu tăng nặng có thể do các yếu tố như làm việc trí não, đọc sách, bị chấn động, ngửi mùi đặc biệt, không khí ô nhiễm, đông đúc và ồn ào, căng thẳng về tinh thần v.v., và thường đi kèm với chứng mất ngủ, giảm trí nhớ, mất tập trung, cáu kỉnh, dễ kích động, phản ứng chậm với ngoại giới, đến các chứng trạng như đầu óc tối tăm, chóng mặt, nhiều mồ hôi, suy nhược, trống ngực, thở gấp, buồn nôn, v.v.
Y học cổ truyền Trung Quốc cho rằng căn bệnh này là tổn thương lạc mạch ở não bộ, Lâm sàng biện chứng trước tiên cần nắm vững một từ là chữ “ứ” (瘀). Trong đó ứ huyết ở lạc mạch của nào dẫn đến chứng đau đầu có các đặc điểm như điểm đau cố định, đau như bị vật nhọn đâm vào, đau không lúc nào ngừng, đầu hôn ám trướng tức, lúc nhẹ lúc nặng, nặng thì bệnh nhân hôn mê nhắm mắt, bất tỉnh nhân sự; Chất lưỡi tím tối hoặc cạnh lưỡi có điểm ứ, dùng phương “Thông não ứ thang”gia giảm thành phần: Tô mộc 15g, Lưu ký nô 10g, Xương bồ 10g, Hi thiêm thảo 15g, Kê huyết đằng 30g, Trạch lan 10g, Xích thược 10g, Xuyên khung 6g.
Bệnh nhân tuỷ hải trống rỗng có các chứng trạng như đau đầu kèm theo vựng đầu, hay quên, ánh mắt đờ đẫn si ngốc, phản ứng trì độn (chậm), bệnh lâu ngày cốt cách yếu nhược, thiên về tàn phế bất dụng. Sử dụng phương pháp: Điền tinh vinh não, dùng Đại bổ nguyên tiễn gia giảm. Thành phần: Tử hà xa 10g, Long nhãn nhục 15g, Tang thầm 30g, Thục địa 18g, Thái tử sâm 15g, Đan sâm 15g, Xích, Bạch thược mỗi vị 9g, Uất kim 12g, Xương bồ 9g, Viễn chí 9g, Phục linh 9g, Bồ hoàng sống 12g.
Đàm trọc che lấp khiến thần trí ngốc trệ, không thể nói năng, điên giản (癫痫) động kinh, nôn không muốn ăn, rêu lưỡi dày nhờn, mạch huyền hoạt. Điều trị dùng phép hoá đàm khai khiếu, ôn hoá hàn đàm dùng thang Nhị trần; Thanh nhiệt hoá đàm dùng Bối mẫu, Trúc nhự, Trúc lịch, Bạch phàn; Trọng trấn khứ ứ dùng: Mông thạch, Thiết lạc, Chu sa, Từ thạch; Hoá đàm khai khiếu dùng Thạch xương bồ, Viễn chí, Bạch phàn; Tức phong hoá đàm dùng Thiên ma, Đảm nam tinh, Thiên trúc hoàng, Linh dương giác…
Bệnh nhân loại hình dương kháng phong động miệng mắt bị méo, lệch, tay chân run rẩy, đau đầu, đầu vựng (头晕) 为头昏、头胀、头重脚轻、脑内摇晃、眼花等的感觉là cảm giác đầu óc không rõ ràng, đầu trướng tức, đầu nặng chân nhẹ, đầu não không ổn định, hoa mắt, lợm giọng nôn ói, mặt hồng, mắt đỏ, điều trị nên Bình can tiềm dương, tức (dập tắt) phong, thông lạc mạch, dùng phương thang Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm. Thiên ma 12g, Câu đằng 30g, Thạch quyết minh 15g, Trân châu mẫu 30g, Bạch cương tàm 6g, Hoài ngưu tất 20g, Huyền sâm 12g, Cúc hoa 30g. Tỳ vị hư nhược phân dễ lỏng nát có thể gia Sa nhân 6~8g Sinh khương 3 lát.
Khí huyết suy yếu gây đầu vựng, tê chân tay, liệt tay chân tàn phế không thể sử dụng, sắc mặt không tươi, mất ngủ, thường xuyên mộng mị, chán ăn, mệt mỏi, lưỡi nhạt rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế. Điều trị nên bồi bổ dùng thang Quy tỳ gia giảm. Thành phần gồm: Đảng sâm 15g, Bạch truật 15g, Hoàng kỳ 10g, Đương quy 10g, Phục thần 15g, Viễn chí 15g, Long nhãn nhục 10g, A giao (nấu chảy) 12g, Liên tử 15g, Hạnh nhân 15g, chích Cam thảo 6g.
Châm cứu: Dùng các huyệt như Thái dương, Ngoại quan phối Phong trì, Tứ độc, ấn đường, Hợp cốc phối Thượng tinh, Liệt khuyết, Á môn, Hậu khê phối Côn luân, Khúc trì, Dũng tuyền, Á môn phối Túc tam lý, Hợp cốc, nấc cụt không ngừng, gia Trung quản, mất ngủ nghiêm trọng, gia Thần môn, Tam âm giao. Dùng kiêm hai phép bổ tả, mỗi ngày 1 lần.
Thôi nã (Massage): Người bệnh ở tư thế ngồi, bác sĩ đứng phía sau người bệnh, một tay giữ trán, tay còn lại di chuyển qua lại từ chân tóc trước ra sau xương chẩm ở phía sau đầu từ 3 đến 5 lần. Sau đó, bấm huyệt Phong trì, Não không, dùng ngón cái của cả hai tay xoa luân phiên các cơ ức đòn chũm hai bên cổ trước khi ấn từ trên xuống dưới từ 7 đến 10 lần. Bác sĩ đứng trước mặt bệnh nhân, dùng ngón cái của cả hai tay ấn huyệt Ấn đường, ấn huyệt Tinh minh, ấn Ngênh hương, Thừa tương; sau đó dùng một phần góc của ngón tay cái để ấn huyệt Giác Tôn, lần lượt thay đổi, từ phía trước tai hướng về phía sau tai khoảng 15 lần, sau đó dùng lòng bàn tay đẩy thẳng từ trước tai ra sau tai khoảng 15 lần, sau đó dùng cườm của cả hai tay ấn vào chẩm, dùng lòng bàn tay vỗ vào Á môn 3 lần, sau đó chườm nóng ẩm lên đỉnh đầu để kết thúc quá trình điều trị.
Trường Xuân dịch