BIẾN CHỨNG DA LIỄU Ở MỘT SỐ BỆNH
NHIỄM TRÙNG HUYẾT DO VI KHUẨN (细菌性败血症) CÓ THỂ XUẤT HIỆN NHỮNG LOẠI BAN DA NÀO?
Tài liệu tham khảo
Khi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, thường trước tiên chúng gây viêm ở một bộ phận nào đó, ví dụ như nhọt, viêm mô dưới da (mụn đinh, áp-xe), viêm phổi, viêm não… Trong quá trình này, có thể có một lượng nhỏ vi khuẩn xâm nhập vào máu. Nếu thể trạng cơ thể khỏe mạnh, các vi khuẩn này sẽ bị các loại kháng thể, tế bào thực bào và bạch cầu trong máu tiêu diệt. Ngược lại, nếu số lượng vi khuẩn xâm nhập vào mạch máu quá nhiều, hoặc vi khuẩn có độc tính mạnh, hoặc người bệnh bị suy giảm đề kháng do lao lực, suy dinh dưỡng, chấn thương nặng hay mắc bệnh lý khác…, thì vi khuẩn sẽ sinh sôi ồ ạt và theo dòng máu lan rộng khắp cơ thể, gây ra nhiễm khuẩn huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm độc huyết… Lúc này, bệnh nhân sẽ có triệu chứng sốt cao, rét run, đau đầu cùng các dấu hiệu nhiễm độc nặng, nhiệt độ cơ thể thường vượt quá 40℃. Đồng thời, vi khuẩn có thể xâm nhập vào nhiều cơ quan khác nhau dẫn đến viêm, mưng mủ. Khi chúng lan đến da, bệnh nhân có thể xuất hiện nhiều loại ban da.
Do tác nhân gây bệnh khác nhau, ban da trong nhiễm trùng huyết (thường gọi là “bại huyết”) có thể có các dạng sau:
1/ Nhiễm trùng huyết do tụ cầu vàng (tụ cầu khuẩn) Phần lớn bệnh nhân xuất hiện ban da dạng hồng ban lan tỏa hoặc ban sởi (dạng sởi), kèm cảm giác ngứa hoặc nóng rát.
2/ Nhiễm trùng huyết do liên cầu khuẩn Thường liên quan đến viêm phúc mạc, viêm tai giữa, bệnh ban đỏ (scarlatina) hoặc sốt hậu sản.
3/ Nhiễm trùng huyết do lậu cầu (lậu cầu khuẩn)Xuất phát từ tình trạng lậu cầu lan tỏa, ban da có tính chất đặc trưng riêng.
4/ Nhiễm trùng huyết do trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) Thường xảy ra ở người bị bỏng nặng hoặc suy giảm miễn dịch. Ban da có thể là những dát màu hồng như ban hoa hồng, mụn nước, bọng nước lớn, viêm mô tế bào hoại tử hoặc loét hoại tử ở cẳng chân…
BAN DA TRONG BỆNH VIÊM MÀNG NÃO DỊCH TỄ (流行性脑膜炎) CÓ ĐẶC ĐIỂM GÌ?
Tài liệu tham khảo
Viêm não – tủy – màng não dịch tễ (gọi tắt là “viêm màng não dịch tễ” hay “viêm não mô cầu”) do não mô cầu (Neisseria meningitidis) gây ra. Bệnh có ba thể lâm sàng: viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết màng não mô cầu cấp, và nhiễm khuẩn huyết màng não mô cầu mạn tính. Cả ba thể đều có biểu hiện đặc trưng trên da, thường là dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán.
1/ Viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết cấp Tổn thương da thường đa dạng (đa hình thái), nhưng điển hình là các nốt xuất huyết (mảng tụ máu), đây cũng là cơ sở giúp chẩn đoán sớm. Trước khi xuất hiện vết xuất huyết, có thể thấy ban đỏ nhỏ thoáng qua. Các nốt xuất huyết rất nhỏ, màu xám bẩn, hình dạng không đều, trung tâm có thể hơi gồ lên, có thể có mụn nước hoặc mụn mủ nhỏ màu xám trắng. Thương tổn tập trung chủ yếu ở tứ chi hoặc thân mình, thường không đối xứng. Niêm mạc miệng cũng hay bị tổn thương. Ở thể tối cấp (bùng phát), trong thời gian ngắn, da và niêm mạc toàn thân có thể xuất hiện dày đặc các vết xuất huyết, liên tục lan rộng và nhanh chóng hợp lại thành mảng, thậm chí hoại tử, được gọi là hội chứng Waterhouse-Friderichsen.
2/ Nhiễm khuẩn huyết mạn tính Bệnh có thể kéo dài nhiều tuần đến nhiều tháng, với các cơn rét run tái phát, sốt cao, đau khớp. Hơn 90% bệnh nhân có ban da, gồm ban đỏ, sẩn, hạch nhỏ có trung tâm xuất huyết, sờ vào đau. Vị trí hay gặp nhất là thân mình, mặt duỗi của tay chân. Ngoài ra, còn có thể gặp ban xuất huyết lớn, xuất huyết điểm, mụn mủ và ban dạng hồng ban nút.
3/ Các biểu hiện khác Hiếm gặp hơn là các ban dạng mề đay, đỏ da tương tự như bệnh sởi hoặc ban đỏ dạng sốt phát ban, mảng nổi mụn nước… xuất hiện thoáng qua.
KHỐI U DI CĂN DA (皮肤转移性肿瘤)
Tài liệu tham khảo
Khối u di căn da là tình trạng khối u ác tính ở tạng (nội tạng) đã di căn rộng, trong đó một phần biểu hiện trên da. Tỷ lệ di căn da của các loại ung thư thấp hơn di căn đến các cơ quan nội tạng khác (chỉ khoảng 5% – 10%), nhưng bất kỳ khối u ở nội tạng nào cũng có thể di căn xa đến da qua đường máu hoặc bạch huyết. Vì thế, trên lâm sàng cũng không phải là hiếm gặp.
Các vị trí di căn da thường gặp nhất là vùng trước ngực, bụng, đầu – cổ. Trong đó, da bụng và da đầu thường là vị trí đầu tiên biểu hiện sang thương di căn ở nhiều loại ung thư tạng. Mối liên quan giữa vị trí di căn da và khối u nguyên phát cũng đáng chú ý, ví dụ: Da đầu dễ bị di căn từ ung thư phổi, dạ dày, vú, gan. Mặt dễ bị di căn từ ung thư khoang miệng.Vùng ngực hay bị di căn từ ung thư vú và ung thư phổi. Ung thư đại tràng thường di căn da bụng hoặc vùng hội âm, mu trên xương mu…
Biểu hiện lâm sàng thường thấy nhất của ung thư di căn da là u cục hoặc hạch nhỏ ở da hoặc dưới da, màu sắc có thể giống da bình thường, hoặc đỏ, đỏ nhạt, đỏ tím…, sờ vào thấy cứng hoặc dai. Chúng có thể dính vào tổ chức dưới da, nhưng ít bị loét bề mặt.
Khối u di căn ở da thường xuất hiện sau khi khối u nguyên phát đã được chẩn đoán, và đa số lúc này bệnh đã ở giai đoạn muộn. Do đó, bất kỳ khối u/bướu nào xuất hiện trên da ở người đã có chẩn đoán ung thư đều phải được theo dõi sát. Đặc biệt, ở những bệnh nhân mà da là nơi biểu hiện di căn đầu tiên (không có triệu chứng gì khác trước đó), càng cần cảnh giác.
Chẩn đoán ung thư di căn da dựa trên chọc hút tế bào bằng kim nhỏ hoặc sinh thiết phẫu thuật để xác định giải phẫu bệnh. Về điều trị, trước hết phải xử trí khối u nguyên phát. Với sang thương di căn tại da, tùy tình trạng cụ thể có thể phẫu thuật, xạ trị, áp lạnh hoặc laser.
TỔN THƯƠNG DA Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ (肿瘤患者的皮肤病变)
- Bệnh nhân ung thư dễ mắc những bệnh da liễu nào?
Những tổn thương da ở bệnh nhân ung thư, ngoài các tổn thương ác tính nguyên phát tại da (như u hắc tố ác tính) hoặc u ăn lan trực tiếp (như sarcom mô mềm) gây loét, sưng đỏ tại chỗ, thì nhiều khối u nội tạng cũng có thể gây tổn thương da “gián tiếp”. Đặc điểm chung của các tổn thương này là chúng có thể biến mất khi khối u được loại trừ hoặc khống chế, và tái xuất hiện khi khối u tái phát. Đông y có câu “Hữu chư vu nội, tất hình chư vu ngoại” là có bệnh bên trong, tất biểu hiện ra bên ngoài, các tổn thương da đặc hiệu này nhiều khi là dấu hiệu hữu ích, giúp đánh giá tiên lượng và gợi ý chẩn đoán. Trên lâm sàng, các bệnh da thường gặp ở bệnh nhân ung thư gồm:
- Hắc sừng hóa gai đen (Acanthosis nigricans)
- Các dạng ban đỏ (ví dụ ban vòng ly tâm, ban vòng lan tỏa, ban đa dạng, hội chứng Sweet, hồng bì…)
- Viêm da cơ
- Bệnh vảy cá mắc phải
- Các bệnh da bóng nước (viêm da dạng herpes, pemphigus dạng bóng nước, pemphigus bất thường…)
- Bệnh Bowen
- Viêm tĩnh mạch huyết khối di chuyển
- Đa lông mắc phải
- Hoại tử mỡ dưới da dạng nốt
- Tăng sắc tố khuếch tán kèm hội chứng Cushing
- Bệnh cốt mạc dày thứ phát
- Dày sừng tiết bã
- Bệnh Paget ngoài tuyến vú…
Ngoài ra, do bệnh nhân ung thư phải điều trị hóa – xạ trị, cũng có thể phát sinh một số biến đổi da không đặc hiệu, như rụng tóc, viêm da, phát ban, mề đay, hoại tử tổ chức cục bộ, viêm tĩnh mạch, tăng sắc tố, tăng lông ở nữ, mụn trứng cá, tăng sắc tố vùng kín…
- Bệnh nhân ung thư phòng và điều trị bệnh da như thế nào?
Có ba nguyên nhân chính khiến bệnh nhân ung thư dễ phát sinh các bệnh về da:
- Da bị khối u xâm lấn hoặc di căn.
- Tổn thương da không đặc hiệu do khối u ác tính nội tạng gây ra.
- Tác dụng phụ của thuốc chống ung thư (hóa trị) gây tổn thương da.
Căn cứ theo nguyên nhân, việc điều trị cũng khác nhau:
- Đối với ung thư di căn da hoặc khối u nguyên phát ở da:
Giải pháp tốt nhất là xử trí triệt để khối u nguyên phát (phối hợp hóa trị, phẫu thuật cắt bỏ, xạ trị, áp lạnh, laser…) và có thể hỗ trợ thêm bằng thuốc đắp ngoài (theo y học cổ truyền) để kháng viêm, rút mủ. Nếu kiểm soát hoặc loại bỏ được khối u chính, tổn thương da cũng có thể giảm hoặc khỏi.
- Đối với các bệnh da không đặc hiệu (như gai đen ác tính, ban đỏ, bệnh bóng nước, ngứa da…):
Cần hết sức chú ý, tốt nhất nên phối hợp với bác sĩ điều trị ung thư để làm các xét nghiệm tầm soát, loại trừ nguy cơ xuất hiện khối u nội tạng mới hoặc tái phát, di căn của ổ nguyên phát. Về điều trị da, có thể kết hợp biện pháp tại chỗ và toàn thân.
- Tổn thương da do thuốc chống ung thư:
Đây là dạng bệnh da do iatrogenic (y sinh), ví dụ: rụng tóc, viêm da, nổi mụn nước, tăng sắc tố… Thường khi ngừng hoặc thay thuốc, tổn thương da có xu hướng thuyên giảm, nên bệnh nhân không cần quá lo lắng. Có thể chủ động phòng ngừa để giảm bớt mức độ tổn thương, chẳng hạn trong thời gian hóa trị:
- Cắt tóc ngắn, chải nhẹ, gội nhẹ, không uốn nhuộm.
- Kết hợp uống các loại thuốc Đông y bảo vệ trong hóa – xạ trị (như “Tam Nguyên xung chế”…) để giảm rụng tóc.
- Tránh nắng gắt thời gian dài, giảm tình trạng tăng sắc tố.
- Ăn uống thanh đạm, đủ dinh dưỡng (thêm đậu, rau củ…) để giảm nguy cơ phát sinh một số bệnh da.
- Phân biệt bệnh da tiền ung thư và ung thư da như thế nào?
Muốn phân biệt bệnh da giai đoạn tiền ung thư với ung thư da, trước hết cần hiểu đặc điểm lâm sàng của ung thư da, nhất là giai đoạn sớm.
- Ung thư da giai đoạn đầu thường biểu hiện dưới dạng các dát đỏ hoặc sẩn hơi nhô cao trên bề mặt da, kèm vảy da hoặc vảy tiết. Triệu chứng có thể giống với bệnh vảy nến, chàm, viêm… nên dễ nhầm lẫn. Khi sang thương tiến triển, có thể xuất hiện những dấu hiệu đặc trưng hơn, như nốt sẩn bóng, trong mờ, chảy máu, kèm giãn mao mạch; hoặc mảng sẹo nhẵn, dạng sợi, không thấy rõ giãn mạch, loét hay gờ cao; hoặc trong tổn thương có những chấm đen nhỏ, nhập lại với nhau.
- Một số đặc điểm nói trên rất giống với các bệnh tiền ung thư như dày sừng quang hóa hoặc u sừng dạng hốm (keratoacanthoma):
- Dày sừng quang hóa (actinic keratosis): thường biểu hiện là mảng da sần sùi, màu đỏ nhô lên, bề mặt có vảy dính. Khi bóc vảy, mảng đỏ bên dưới thường không gồ cao rõ. Điều này khá giống với carcinôm tế bào vảy tại chỗ (cũng có mảng đỏ viền rõ, hơi nhô lên, vảy tiết rõ hơn, tổn thương chắc hơn).
- U sừng dạng hốm (keratoacanthoma): thường xuất hiện ở vùng da phơi nắng, đột ngột phát triển thành cục u đỏ, nhẵn bóng trong 2–3 tuần, trung tâm có nút sừng, xung quanh có thể thấy giãn mạch. Cách phân biệt với carcinôm tế bào vảy ở giai đoạn sớm là: carcinôm tế bào vảy thường không nhẵn bóng, bờ u có tính bán trong suốt.
Vì sự khác biệt giữa bệnh da tiền ung thư và ung thư da giai đoạn sớm rất mong manh, tốt nhất khi nghi ngờ một tổn thương có thể là ung thư da, nên làm xét nghiệm giải phẫu bệnh (sinh thiết) để xác nhận chẩn đoán.
BẠCH CẦU Ở DA (皮肤白血病)
郭卜乐 – Đường dây nóng Tâm lý Trung Quốc (http://www.zgxl.net)
Tài liệu tham khảo
Bệnh bạch cầu (Leukemia) đặc trưng bởi sự tăng sinh tiến triển, mất kiểm soát của bạch cầu và các tế bào non (tế bào bạch cầu bệnh lý) trong tủy xương hoặc cơ quan tạo máu khác. Tuy nhiên, bệnh không chỉ khu trú ở tủy xương hay hệ thống tạo máu; nó còn có thể ảnh hưởng đến tim, phổi, lách, hệ tiết niệu, sinh dục, thần kinh trung ương… Khi tổn thương lan tới da, được gọi chung là bạch cầu ở da (leukemia cutis).
Về mặt lâm sàng, trường hợp bạch cầu da nguyên phát thật sự nghĩa là chỉ có tổn thương ở da mà không có bất thường ở máu ngoại vi, hạch bạch huyết hay tạng (phổi, gan, lách…) nào khác.
Tổn thương da trong bệnh bạch cầu có hai loại: đặc hiệu và không đặc hiệu.
- Tổn thương đặc hiệu:
Có thể ở dạng sẩn, cục, u lớn, hoặc dạng viêm da tróc vảy lan tỏa; màu da có thể vàng, nâu, đỏ, tím hay xanh lam; tổn thương có thể xuất hiện khắp cơ thể, môi và lợi cũng hay bị ảnh hưởng. Tổn thương ở mặt thường bị loét.
- Tổn thương không đặc hiệu:
Thường đa hình thái, hay gặp gồm mề đay (nổi mẩn), mụn nước bọng, ban đỏ đa dạng; có thể thấy ban hoại tử dạng sẩn, ban chàm hoặc zona, thậm chí hồng bì lan tỏa, tổn thương xuất huyết hay loét. Ngứa rất thường gặp, đặc biệt trong bệnh bạch cầu thể lympho. Hai loại tổn thương đặc hiệu và không đặc hiệu có thể đơn độc hoặc đồng thời tồn tại. Riêng nhóm không đặc hiệu thường chỉ gợi ý khả năng có bạch cầu.
Chẩn đoán bạch cầu da dựa trên tiền sử, triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm máu ngoại vi, tủy xương hoặc hạch bạch huyết. Điều trị phải phân biệt rõ type bạch cầu, tùy theo diễn tiến mà chọn liệu pháp phù hợp, tuyệt đối không dùng thuốc tùy tiện.
HỘI CHỨNG SỐC NHIỄM ĐỘC (Toxic Shock Syndrome, TSS)
郭卜乐 – Đường dây nóng Tâm lý Trung Quốc (http://www.zgxl.net)
Tài liệu tham khảo
- Thay đổi bệnh lý quan trọng
a) Rải rác trong lớp thượng bì có các tế bào sừng bị hoại tử, đôi khi tập trung thành cụm.
b) Phù bọt (spongiosis) khu trú kèm xâm nhập bạch cầu đa nhân trung tính.
- Thay đổi bệnh lý thường gặp
a) Lớp sừng có hiện tượng sừng hóa kiểu lưới (basket-weave).
b) Trong thượng bì có các tế bào sừng hoại tử rải rác, đôi khi tụ thành đám.
c) Phù bọt dạng ổ kèm xâm nhập bạch cầu đa nhân trung tính.
d) Một số ca xuất hiện bọng nước lớn dưới thượng bì; nếu có ban xuất huyết (purpura), có thể thấy hồng cầu thoát mạch.
e) Ở lớp bì nông, quanh mạch máu và trong mô đệm, có hiện tượng xâm nhập tế bào hỗn hợp gồm bạch cầu đa nhân trung tính và bạch cầu ưa eosin (ưa acid).
- Chẩn đoán mô bệnh học phân biệt
- Chốc mụn mủ (Impetigo): Mụn mủ hình thành ở phần trên của thượng bì, trong bọng mủ có thể có một ít tế bào gai (tế bào keratin) bị tách rời. Nhuộm Gram cho thấy tụ cầu dương tính trong bọng.
Đặc điểm lâm sàng
- a) Thường gặp ở phụ nữ trẻ khỏe mạnh, phần lớn khởi phát dữ dội vào ngày thứ 2 – 4 của kỳ kinh nguyệt.
b) Do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) gây ra; hiện nay cho rằng liên quan đến việc sử dụng băng vệ sinh siêu thấm trong kỳ kinh.
c) Một số ít trường hợp có biểu hiện tiền triệu như mệt mỏi toàn thân, sốt, đau cơ; sau đó xuất hiện huyết áp thấp, sốt cao, kèm ban da lan rộng, tương tự bệnh ban đỏ (scarlatina).
d) Tổn thương niêm mạc bao gồm: sưng đỏ âm hộ, viêm kết mạc, viêm họng; nhiều cơ quan nội tạng cũng có thể bị tổn thương.
e) Cấy máu ngoại vi, dịch mũi, họng, âm đạo có thể phân lập được tụ cầu vàng coagulase dương tính (phân nhóm theo tiêu phage nhóm A).
Chẩn đoán lâm sàng phân biệt
- Ban đỏ (Scarlatina / Bệnh ban)
- Hội chứng da phỏng rộp do tụ cầu (Staphylococcal Scalded Skin Syndrome, SSSS)
- Bệnh da đen – nhiệt (Leishmaniasis cutis) và các bệnh da nhiễm trùng khác
BỆNH DA ĐEN – NHIỆT (LEISHMANIASIS CUTIS)
郭卜乐 – Đường dây nóng Tâm lý Trung Quốc (http://www.zgxl.net)
Tài liệu tham khảo
- Khái niệm
Bệnh da đen – nhiệt (leishmaniasis cutis) do ký sinh trùng Leishmania donovani (còn gọi là thể Leishmania – Donovan, LD thể) gây ra. Đây là tổn thương da mạn tính trong bệnh đen nhiệt (Kala-azar/ Leishmaniasis). Phần lớn trường hợp là thứ phát sau bệnh đen nhiệt thể nội tạng, một số ít nguyên phát tại da. Ký sinh trùng xâm lấn hệ lưới – bạch huyết của da, tạo nên tổn thương sẩn, cộm, hồng ban.
- Đặc điểm lâm sàng
- Nguyên nhân: Thường do Leishmania donovani, đa phần bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh đen nhiệt thể nội tạng.
- Đối tượng: Hay gặp ở người trưởng thành, nam nhiều hơn nữ.
- Tổn thương da:
- Dát giảm sắc tố, dát tăng sắc tố (hay gặp ở thân mình).
- Ban đỏ, mảng (ở mặt, thân, tứ chi).
- Sẩn, cục (phân bố đối xứng thành cụm ở đầu, mặt, thân, bìu…).
- Đôi khi có tổn thương dạng mề đay sắc tố, dạng u nhú, vàng u (xanthoma)…
- Triệu chứng cơ năng: Thường không có hoặc rất nhẹ.
- Triệu chứng toàn thân: Hay kèm gan, lách, hạch bạch huyết to, có thể mệt mỏi, sốt…
- Tiến triển: Phát triển rất chậm.
- Mô bệnh học
a) Thượng bì teo mỏng.
b) Trong bì, có xâm nhập bởi tế bào dạng lympho, đại thực bào, mô bào, tế bào khổng lồ đa nhân và tương bào.
c) Bên trong các mô bào có thể tìm thấy thể LD (Leishmania – Donovan), đôi khi thấy cả ngoài tế bào.
d) Thể ký sinh không có màng bọc riêng, đường kính khoảng 2 – 5 μm, hình tròn hoặc bầu dục.
f) Nhuộm Giemsa: thấy một nhân tròn to và một nhân phụ hình que nhỏ (thường gọi là blepharoplast), bắt màu đỏ đậm.
g) Các thể sang thương khác nhau về lâm sàng nhưng mô bệnh học thay đổi không nhiều.
- Xét nghiệm
- Phết từ thương tổn da, tủy xương, hạch, gan lách chọc dò, nhuộm Giemsa tìm thể LD. Nuôi cấy có thể thấy thể có roi của ký sinh trùng Leishmania.
- Phản ứng kết hợp bổ thể, ELISA, điện di miễn dịch khuếch tán cũng có giá trị trong chẩn đoán bệnh đen nhiệt.
- Chẩn đoán phân biệt
- Bệnh phong
- Lang ben (pityriasis versicolor)
- Lupus ban đỏ
- Phòng ngừa và điều trị
- Điều trị triệt để cho bệnh nhân, loại bỏ nguồn lây. Tiêu diệt chó nhiễm bệnh và muỗi cát (sandfly).
- Natri antimony gluconate (chứa antimon hóa trị 5):
- Là thuốc hàng đầu, 1 ml dung dịch có 100 mg antimon 5+.
- Liều cho người lớn: 6 ml/lần/ngày, tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, đợt 8 ngày. Ngừng 10 – 20 ngày, có thể lặp lại đợt 2.
- Trẻ em: tổng liều khoảng 120 – 240 mg/kg, mỗi ngày tiêm 1 lần, chia 6 lần.
- Pentamidin: Dùng khi thất bại với thuốc antimon. Liều 3 – 5 mg/kg/lần, pha dung dịch 4% tiêm bắp hoặc pha dung dịch glucose 25% tiêm tĩnh mạch. Mỗi đợt 10 – 20 mũi.
- Rifampicin: Người lớn 600 mg/ngày, trẻ em 15 – 20 mg/kg/ngày, dùng liên tục 12 tuần.
- Một số thuốc có thể hữu ích cho bệnh da đen nhiệt:
- Emetin (từ ipeca): Bơm vào sang thương; mỗi 1 cm² sang thương dùng 0,4 ml (20 mg), 2 lần/tháng.
- Kali antimonyl tartrat (rượu thuốc antimon) 1% 10 ml, tiêm tĩnh mạch, cách ngày, 5 lần/đợt.
- Thuốc kháng nấm: Ketoconazole, amphotericin B, itraconazole.
- Điều trị tại chỗ: Áp lạnh bằng nitơ lỏng, hoặc dùng nhiệt 42℃ trong 2 – 3 phút, 2 – 3 lần/tuần, tổng 10 – 15 lần, áp dụng với tổn thương khu trú.
BỆNH NANG SÁN LỢN Ở DA (皮肤猪囊虫病, cysticercosis cutis)
郭卜乐 – Đường dây nóng Tâm lý Trung Quốc (http://www.zgxl.net)
Tài liệu tham khảo
- Định nghĩa
Bệnh nang sán lợn ở da (cysticercosis cutis) do ấu trùng sán dây lợn (Cysticercus cellulosae) ký sinh tại da, não, mắt… Heo là vật chủ trung gian tự nhiên của sán dây lợn; con người vừa có thể là vật chủ trung gian, vừa là vật chủ cuối cùng duy nhất của loài ký sinh trùng này.
- Đặc điểm lâm sàng
- Nguyên nhân: Có tiền sử ăn thịt lợn không được nấu chín (ở vùng dịch tễ).
- Đối tượng: Thường gặp ở thanh niên, trẻ em ít hơn, nam nhiều hơn nữ.
- Vị trí: Hay gặp ở đầu, thân mình, ít hơn ở tứ chi.
- Tổn thương da: Cục dưới da tròn, chắc, không đau, đường kính 0,5 – 2 cm, di động tốt.
- Triệu chứng toàn thân: Ấu trùng có thể xâm nhập não và cơ quan khác, gây các triệu chứng tương ứng, thậm chí đột tử.
- Tiến triển và tiên lượng: Bệnh kéo dài, các cục dưới da có thể tồn tại suốt đời, đôi khi tự thoái triển.
- Mô bệnh học: Ở lớp mô dưới da hoặc giữa các sợi cơ, có bao xơ do mô liên kết tăng sinh, bên trong chứa dịch trong và nang sán, kích cỡ 1 – 1,5 mm.
- Xét nghiệm: Đôi khi tìm thấy trứng sán hoặc đốt sán trong phân.
- Chẩn đoán phân biệt
- U sợi thần kinh (neurofibroma)
- U bã (sebaceous cyst)
- Phòng ngừa và điều trị
- Tăng cường giáo dục, ăn chín uống sôi.
- Kiểm soát nguồn thịt heo, cấm bán heo nhiễm nang sán.
- Bệnh nhân nhiễm sán dây cần được tẩy sán để loại bỏ nguồn lây.
- Tổn thương ít có thể phẫu thuật cắt bỏ.
- Tiêm cồn nguyên chất, dung dịch thủy ngân 1:1000 hoặc emetin 0,5 – 1 ml vào nang để diệt ấu trùng.
- Uống thuốc diệt sán: niclosamide (灭绦灵) 1 g, sau 1 giờ lặp lại 1 g. Có thể kết hợp chloroquine hoặc mebendazole.
VIÊM DA DO ẤU TRÙNG GIUN MÓC (钩虫皮炎, hookworm dermatitis)
郭卜乐 – Đường dây nóng Tâm lý Trung Quốc (http://www.zgxl.net)
Tài liệu tham khảo
- Định nghĩa
Viêm da do ấu trùng giun móc (hookworm dermatitis) xảy ra khi ấu trùng giun móc (từ đất) xâm nhập qua da.
- Chẩn đoán chủ yếu
- Nguyên nhân: Thường có tiền sử đi chân đất, tiếp xúc bùn đất hay phân, khiến ấu trùng giun móc xâm nhập da.
- Mùa hay gặp: Mùa hè – thu, thời tiết nóng ẩm.
- Đối tượng: Nông dân.
- Vị trí: Kẽ ngón chân / tay, cẳng chân, cẳng tay…, thấy đường ấu trùng chui.
- Tổn thương da: Ban đỏ hoặc sẩn đỏ phù nề, sau chuyển thành mụn nước vàng trong.
- Triệu chứng cơ năng: Ngứa châm chích, rát bỏng.
- Triệu chứng toàn thân: Có thể ho, hen, sốt…
- Xét nghiệm: Tìm thấy trứng giun móc trong phân.
- Phòng ngừa và điều trị
- Tổng kiểm tra, điều trị diệt ký sinh. Quản lý phân, nâng cao biện pháp bảo hộ cá nhân.
- Liệu pháp nhiệt: Ngâm vùng da bệnh vào nước nóng ~53℃ để diệt ấu trùng, giảm ngứa.
- Bôi ngoài da: Hồ lỏng kẽm 1% (calamine), nếu có bội nhiễm dùng dung dịch xanh Gentian hoặc mỡ kháng sinh (erythromycin…).
- Nếu triệu chứng toàn thân nặng, có thể dùng kháng histamin hoặc corticoid.
- Trường hợp tìm thấy trứng giun móc trong phân, cần tẩy giun tích cực.
NỐT NHỆN VÀ LÒNG BÀN TAY GAN (蜘蛛痣和肝掌)
郭卜乐 – Đường dây nóng Tâm lý Trung Quốc (http://www.zgxl.net)
Tài liệu tham khảo
- Nốt nhện (Spider Nevus)
- Thường xuất hiện ở bệnh nhân gan (viêm gan, xơ gan). Nguyên nhân chủ yếu do gan mất khả năng bất hoạt estrogen, khiến estrogen tích tụ nhiều trong cơ thể, gây giãn các tiểu động mạch.
- Nốt nhện là kết quả giãn mạch ở da, có hình dạng giống con nhện; dùng đầu bút ấn vào “thân nhện” thì các “chân nhện” biến mất.
- Kích thước có thể nhỏ như hạt gạo, lớn đến 2 – 3 cm; số lượng từ 1 – 2 cái cho đến hàng trăm. Vị trí thường ở ngực, cổ, cánh tay, mu bàn tay…
- Khoảng 1% bệnh nhân viêm gan cấp có nốt nhện; tỷ lệ này ở viêm gan mạn có thể đến 54%. Số lượng nốt nhện thường tỷ lệ thuận với mức độ suy giảm chức năng gan. Khi gan cải thiện, nốt nhện từ đỏ tươi dần chuyển nâu đen rồi biến mất.
- Lòng bàn tay gan (Palmar Erythema)
- Cơ chế tương tự nốt nhện, cũng do estrogen tích tụ.
- Hay gặp ở bệnh nhân viêm gan mạn, xơ gan.
- Chủ yếu ở mô trũng và mô cao (ô mô cái và mô út) của lòng bàn tay, đôi khi ở gốc ngón tay, tạo thành các dát hồng (hợp hoặc rời nhau), ấn vào thì nhạt đi, lâu dần có thể biến sang tím nâu.
- Nếu quan sát kỹ, có thể thấy nhiều chấm giãn mao mạch li ti nối nhau thành đám. Khi chức năng gan cải thiện, các dát này mờ hoặc biến mất.
Ngoài ra, mất cân bằng bất hoạt estrogen cũng có thể gây giãn mao mạch ở nhiều nơi, rối loạn kinh nguyệt, teo tinh hoàn, nữ hóa tuyến vú ở nam. Bệnh gan kéo dài có thể gây tăng sắc tố da, tạo khuôn mặt sạm (mặt “đen gan”).
Ly Nguyễn Nghị dịch